Những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam và bí mật về sự can thiệp của Trung Quốc (VOA)

Những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam và bí mật về sự can thiệp của Trung Quốc

30/04/2022

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai gặp mặt Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger trong cuộc gặp được gọi là “lịch sử” tại Bắc Kinh ngày 9/7/1971.

Hơn mt thp k tìm kiếm qua nhng tài liu gii mt và các cuc phng vn vi nhng người trong cuc, nhà s hc George J. Veith phát hin ra điu mà ông gi là bí mt ln cui cùng ca Chiến tranh Vit Nam

Lần đầu tiên ông Veith, người có bằng tiến sỹ về sử học, biết về ‘bí mật’ này là qua một nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa và cũng là bạn của ông, Nguyễn Xuân Phong, người từng là Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm Paris của chính phủ VNCH trước khi tới Mỹ và làm việc tại Đại học Texas Tech đầu những năm 2000.

“Ông (Phong) nói rằng ông có một ‘bí mật lớn’ mà ông chưa nói với ai,” ông Veith, một cựu Đại úy Lục quân Hoa Kỳ, nói và cho biết ông Phong đã giữ kín bí mật đó trong hơn 30 năm. “Ông ấy chỉ nói rằng khi còn ở trong trại cải tạo (của Bắc Việt), những người Cộng sản đã đánh đập ông để tìm ra những gì ông ấy biết nhưng ông không nói.”

Qua một cuộc điện thoại cách đây nhiều năm, ông Phong cho ông Veith biết rằng “phía Trung Quốc muốn đưa hai sư đoàn nhảy dù vào Biên Hòa để chặn cuộc Nam tiến của quân Bắc Việt” trong những ngày tháng cuối của cuộc chiến tranh.

Theo phát hiện của nhà sử học từng viết 4 cuốn sách về đề tài Chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc, một đồng minh lâu năm của miền Bắc Việt Nam, có thể đã tìm cách tạo ra một miền Nam trung lập vào năm 1975 nhằm ngăn cản Hà Nội giành được chiến thắng mà họ đã tìm kiếm từ lâu.

“Điều này thực sự là sốc vì Trung Quốc, cùng với Liên Xô, đã hỗ trợ Hà Nội trong suốt những năm tháng đó rồi đột nhiên thay đổi,” ông Veith nói với VOA về sự phát hiện khiến ông “bàng hoàng.”

Phát hiện này được ông Veith tiết lộ trong cuốn “Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams,” (Tuốt gươm ở miền đất xa lạ: Những giấc mơ tan vỡ của miền Nam Việt Nam) trong đó cung cấp nhiều chuyện hậu trường chưa được biết tới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, tập trung vào sự nghiệp chính trị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như thăng trầm của chính quyền dưới thời ông. Đây là cuốn sách mới nhất và cũng là cuốn sách thứ 4 của ông Veith về Chiến tranh Việt Nam, ra mắt vào năm ngoái. Trước đó, ông cho ra mắt cuốn “Black Friday: The Fall of South Vietnam 1973-75” (Tháng Tư đen: Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam 1973-75) sau hai cuốn về việc tìm kiếm binh sỹ Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam.

‘Người đưa thư

Trong thời gian đàm phán ở Paris về Việt Nam từ 1968 đến 1975, ông Phong – từ địa vị thành viên đến trưởng phái đoàn rồi Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm – cho ông Veith biết rằng ông đã tiếp xúc với phía Trung Quốc nhằm để cứu vãn miền Nam Việt Nam.

Không lâu sau khi Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger có chuyến thăm lịch sử tới Bắc Kinh năm 1971, ông Phong được mời tới tham dự một tiệc chiêu đãi ở Sứ quán Miến Điện ở Paris. Tại đó, theo ông Veith kể trong chương cuối cùng của cuốn sách, ông Phong được giới thiệu với một quan chức Trung Quốc từ Văn phòng Thủ tướng Chu Ân Lai. Người này kết thúc cuộc thảo luận bằng câu hỏi: “Liệu Tổng thống Thiệu có biết ai là bạn ai là thù của ông ấy không?”

Theo ông Phong, phía Trung Quốc đã qua ông gửi nhiều thông điệp tới ông Thiệu để tìm cách có được một cuộc hội thoại trực tiếp nhưng vị tổng thống VNCH đã không đáp lời.

Ông Phong nói rằng khi trở lại Sài Gòn vào năm 1975, ông mang theo một thông điệp bí mật từ phía Trung Quốc. Ông ngay lập tức đi gặp Tổng thống Trần Văn Hương, người lên nắm quyền từ 21/4/1975 sau khi ông Thiệu từ chức, để thông báo rằng không có hy vọng cho các cuộc đàm phán khi ông còn đương nhiệm. Ông Phong không nhắc tới thông điệp từ phía Trung Quốc. Ngày hôm sau, ông Hương triệu tập cuộc họp để bắt đầu quá trình chuyển giao quyền lực cho Tướng Dương Văn Minh.

Sau đó vài ngày, ông Phong gặp mặt với người bạn thân của Tướng Minh, Tướng Trần Văn Đôn, và một đại diện của Chính phủ Giải phóng Lâm thời (PRG) để bàn thảo về việc thành lập một chính phủ liên minh. Tại cuộc gặp, có cả sự hiện diện của một quan chức PRG – do Bắc Việt hậu thuẫn – ông Phong nói rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới nhưng cố tình mơ hồ về ý nghĩa của điều này.

Trung Quốc, theo ông Phong, rất muốn PRG nắm quyền thông qua công thức liên minh của Pháp với Tướng Minh để ngăn chặn sự tiếp quản của Bắc Việt. Sau khi một liên minh được thành lập, ông Minh sẽ gửi lời kêu gọi trợ giúp và người Pháp sẽ trả lời rằng một lực lượng quốc tế sẽ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. Ban đầu, như ông Phong cho biết, sẽ là “hai sư đoàn nhảy dù của Trung Quốc vào Biên Hòa” và Bắc Kinh yêu cầu có 4 ngày để điều động quân của họ đưa đến căn cứ không quân này.

“Bắc Kinh không thể ra mặt và làm việc này một cách trực tiếp nhưng họ để mọi người thấy rằng họ… để cho người Pháp làm việc này!,” ông Phong giải thích về ý định của Bắc Kinh – được nhà sử học Veith ghi lại trong cuốn sách. “Bắc Kinh không thể ngang nhiên can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kêu gọi một số quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (với Pháp là mũi nhọn) để cho phép Bắc Kinh can thiệp.”

Vì sao Trung Quốc muốn can thiệp bằng quân sự để ngăn cản chiến thắng của quân Bắc Việt sau nhiều năm ủng hộ Hà Nội?

Theo giải thích của nhà sử học Mỹ, Trung Quốc muốn một miền Nam Việt Nam trung lập để không bị bao vây bởi một hiệp ước tiềm tàng giữa Moscow và Hà Nội. Điều này được Nayan Chanda của Far Eastern Economic Review khẳng định khi cho rằng Bắc Kinh đã “nhất quán tuân thủ chính sách duy trì bằng mọi cách theo ý của mình một Đông Dương bị chia cắt không có các cường quốc lớn.”

Thông đip t Trung Quc

Ông Phong, qua đời năm 2017, không phải là người duy nhất mang thông điệp của Trung Quốc tới chính thể VNCH. Theo ông Veith, một tướng hồi hưu người Pháp có tên Paul Vanuxem, người quen biết ông Thiệu và các sĩ quan cao cấp khác của quân đội VNCH từ sau Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, cũng mang một thông điệp tương tự như ông Phong. Ông Vanuxem đã thỉnh thoảng đến thăm ông Thiệu và trở lại Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh với tư cách là phóng viên tuần báp Carrefour của Pháp.

Trong cuốn sách phát hành năm 1976 về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ông Vanuxem, người mất năm 1997, nói rằng ông đã tới Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975 để nói chuyện với Tướng Minh, lúc đó là tổng thống. Theo sử gia Veith, ông Lý Quí Chung, bộ trưởng Bộ Thông tin trong chính phủ tồn tại hai ngày của Tổng thống Minh, khẳng định điều này khi cho biết rằng “ông Vanuxem nói rằng ông ấy muốn đưa ra một kế hoạch cho ông Minh để cứu vãn tình hình tuyệt vọng mà chính thể Sài Gòn đang đối mặt.” Ông Vanuxem nói với ông Minh, ngay sau khi ông Minh ghi âm lời tuyên bố đầu hàng sáng ngày 30/4, rằng: “Tôi đã sắp đặt việc này ở Paris. Tôi yêu cầu ông công khai xin trợ giúp từ Nước C (China – tức Trung Quốc) để bảo vệ ông.”

Ông Vanuxem yêu cầu ông Minh cầm cự trong 3 ngày nhưng ông Minh từ chối, theo ghi nhận của sử gia Veith. Ông Minh đã cười một cách cay đắng trước lời đề nghị của ông Vanuxem và nói rằng: “Theo Tây, theo Mỹ mãi chưa đủ sao mà bây giờ lại theo Tàu?”

“Tôi tiếp tục đào sâu và sau đó tôi tìm thêm ra nhiều thông tin được chính những người Cộng sản công bố, trong đó cũng nói về những điều tương tự,” ông Veith cho biết và nói rằng Hà Nội cũng biết được lời đề nghị của ông Vanuxem và cuối cùng thừa nhận về ý định can thiệp của Trung Quốc. “Sách Trắng Quốc phòng (của Việt Nam) xuất bản 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc, trong đó thừa nhận rằng ông Vanexum đã tới Dinh (Thống Nhất) và tìm cách thực hiện âm mưu nhằm ngăn chặn bước tiến của họ để giành chiến thắng trong cuộc chiến đó.”

Phía Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận cựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trên Firing Line tháng 9/1975, ông Kỳ nói rằng các đặc vụ Trung Quốc đã tới nhà ông ở Sài Gòn vào năm 1972 và yêu cầu ông lật đổ Tổng thống Thiệu cũng như “tuyên bố miền Nam Việt Nam trung lập, không theo Nga hay Mỹ.” Ông Kỳ, người đã đưa gia đình di tản sang Mỹ sau khi Sài Gòn sụp đổ, nói rằng nếu ông làm điều đó, “thì phía Trung Quốc sẽ hỗ trợ ông” bởi vì Bắc Kinh “đã gặp khó khăn ở biên giới phía bắc với người Nga” và “không muốn sườn phía nam của mình bị vệ tinh của Nga (tức Bắc Việt Nam) chiếm đóng.”

Với những khẳng định từ nhiều nguồn khác nhau, sử gia Veith tin rằng những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản chiến thắng của quân Bắc Việt bằng cách hậu thuẫn một chính phủ trung lập ở miền Nam Việt Nam, là có thật. Tuy nhiên điều này không thể được khẳng định hoàn toàn khi không có bằng chứng tài liệu hay sự chấp nhận chính thức từ chính phủ Trung Quốc hoặc Pháp.

Liệu Trung Quốc hay Pháp, mỗi nước vì lợi ích quốc gia, có thông đồng để tìm cách làm cho miền Nam Việt Nam trung lập cũng như ngăn chặn chiến thắng của Hà Nội hay không, sẽ vẫn là một khả năng bỏ ngỏ và sử gia Veith gọi đó là “bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.”

Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử (RFA)

 Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử

Hành trình vượt biên được nói nhiều, viết nhiều bởi những ngòi bút hải ngoại, nhưng bên cạnh cuộc vượt biên vĩ đại đó, những hình ảnh của cuộc di tản cũng không kém phần đau thương của người dân Việt Nam hầu như bị bỏ quên.

Tường An, thông tín viên RFA

2011.04.30

Nhà văn Tiểu Tử

Photo by Tường An/RFA

vtan04302010.mp3

00:00/00:00

Nhà văn Tiểu Tử – hiện đang định cư tại Pháp – là một trong số rất ít những nhà văn đã ghi lại những hình ảnh này để nhớ lại một giai đoạn bi thảm trong hành trình tìm tự do. Thông tín viên Tường An trò chuyện với nhà văn Tiểu Tử và giới thiệu một vài đoản văn của ông về cuộc di tản trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mời quý vị cùng nghe:

Với lối hành văn mộc mạc của người Nam Bộ, những truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử luôn luôn gây xúc động cho người đọc bằng những hình ảnh rất đơn giản trong cuộc sống hàng ngày: một chiếc nón lá, một tô cháo huyết, một cái quần rách, một bản vọng cổ. Những hình ảnh rất đời thường đó, qua giọng văn của ông đã biến thành những âm điệu quê hương khơi dậy nhiều dòng nước mắt.

Cuộc di tản kinh hoàng

Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm.

Trong tâm tư người Việt hải ngoại, cuộc vượt biên đánh dấu một đoạn đời không thể quên, tuy nhiên nhà văn Tiểu Tử muốn nhắc cho mọi người nhớ lại một một cuộc hành trình khác không kém phần bi thảm đã xảy ra trên chính quê hương của mình trước ngày 30 tháng 4 năm 75. Đó là cuộc di tản từ miền Trung vào miền Nam, từ làng này sang làng khác của người dân để trốn chiến tranh. Ông cho biết lý do ông chọn đề tài này:

“Mỗi một hình ảnh có một cái đau thương riêng của nó. Hình ảnh di tản là cái đầu tiên hết mà mình thấy, thành ra nó gây xúc động mạnh hơn cái hình ảnh của cuộc hành trình tị nạn. Mặc dù rằng hành trình tị nạn có nhiều cái ví dụ như chết ở dưới biển, bị Thái lan nó hãm hiếp rồi nó chặt đầu….này kia…Cái đó là cái mình thấy sau này. Tức là không phải cũng một lúc mà mình có ngần đấy hành trình tị nạn, nghĩa là, nó rời rạc.

Trong lúc đó, thì cuộc di tản nó ồ ạt, nó nhiều, nó đông và cùng một lúc. Thành ra những cái đau thương của cuộc di tản bị cái ồ ạt đó che lấp đi mình không thấy. Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm. Bởi vì, nó đông, cái số người đi di tản cũng một lúc, đông lắm.”

Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm.

Nhà văn Tiểu Tử

Xin mời quý thính giả cùng nghe 1 đoạn tả lại một hình ảnh trong cuộc di tản:

Giữa cầu thang, một bà già, bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chỉ tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng hình ảnh đó đã đeo theo nhà văn Tiểu Tử từ bao nhiêu năm, ông thắc mắc:

“Bà già đó sợ gì mà phải đi di tản? Con cháu bà đâu mà để bà đi một mình? Rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao? Còn cậu thanh niên đã làm một cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?… Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn tạp như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Những bàn tay nhân ái

Quá sợ cảnh tàn sát của cộng sản trong trận Tết Mậu Thân, người dân bỏ nhà cửa, ruộng đất gồng gánh theo đoàn quân di tản. Photo by Trần Khiêm.

Đàn bà, trẻ con luôn luôn là những mảnh đời lau sậy, yếu đuối  trong cơn lốc của chiến tranh, truyện của Tiểu Tử hầu như luôn có những bàn tay nhân ái đưa ra gánh vác những mảnh đời lau sậy này:

Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem.

Nhà văn Tiểu Tử

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu,  rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội. Họ bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xốc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Hình ảnh người Mẹ lúp xúp chạy theo đứa con sắp chết của mình trong tay một người xa lạ, Hình ảnh ấy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng khi viết lại câu chuyện này, nhà văn Tiểu Tử vẫn:

“Cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm!

Quê hương xa rồi

Mọi người đổ xô ra biển để theo tàu vào Đà Nẵng. Photo by Trần Khiêm.

Cái nón lá, hình ảnh mộc mạc, thân quen đến độ người ta không còn nhớ đến nó, không để ý đến nó. Nhưng trong giờ phút chia lìa, nó bỗng trở thành một cái gì gắn bó, một cái gì thân thuộc mà nếu rời xa, người ta tưởng chừng như xa cả quê hương:

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi. Yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà:

“Đó là cái nón lá! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ? Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Những cuộc chia tay xé lòng

Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm.

Ngòi bút của ông trải dài qua nhiều đoạn đời bi thảm của cuộc di tản, nhưng hình ảnh thương tâm nhất đã ở lại mãi trong tâm hồn ông là cảnh chia tay xé lòng của hai cha con trên một bến tàu, cuộc chia tay không có tiếng còi tàu hú dài, cũng không có cả một lời từ biệt mà cả cha lẫn con đều biết là sẽ không có ngày gặp lại, nhà văn Tiểu Tử chia sẻ:

“Cái hình ảnh làm tôi xúc động nhất có lẽ là cái hình ảnh mà thằng nhỏ mà Cha nó dẫn đi ra bến tàu. Cầu tàu kéo lên rồi Cha nó lạy lục những người trên tàu. Những người trên tàu thòng xuống cái sợi dây. Người Cha nắm được cái sợi dây cột ngang eo ếch của thằng con, rồi ra dấu cho ở trên kéo thằng con lên.

Thằng con không khóc, không giãy dụa. Nó nghiêng người nhìn xuống cái người đứng ở dưới, lúc đó tôi mới đoán ra cái người đứng ở dưới là Cha của nó. Người đứng ở dưới ra dấu “đi đi, đi đi”. Rồi tự nhiên tôi thấy ông già đó úp mặt vô hai tay khóc nức nở, tôi thấy tôi cũng ứa nước mắt.

Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Nhà văn Tiểu Tử

Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn teng dọc theo hông tàu, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: “Đi, đi! Đi, đi!”. Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Không biết thằng nhỏ đó –bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu? Cha con nó có gặp lại nhau không? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy.

Bên cạnh nghề chính là một kỷ sư hóa học. Nhà văn Tiểu Tử, với trên dưới 30 truyện ngắn ở hải ngoại đã cùng với Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Ngọc Tư đưa văn học miền Nam đến với người đọc bằng ngôn ngữ bình dị mà thắm thiết, lắt léo mà bao dung, đơn sơ nhưng chan hòa tình cảm.

LỜI TỬ SĨ

Van Pham

30-4 Lời nguyện cầu cho các Tử sĩ & Đồng bào hy sinh vì lý tưởng Tự Do, Dân Chủ & Nhân Quyền trên toàn cõi VN, trước 1975 & sau 1975 trong các trại Tù Cải tạo hay trên đường vượt biển tìm tự do…

***

LỜI TỬ SĨ

Mẹ chớ đắp cho con ngôi mộ mới

Để xương con rữa nát với thời gian

Làm phân bón cây nhân quyền sai trái

Cho ngày sau con cháu sống huy hoàng

Em chớ buồn nhìn mộ anh xiêu tán

Thấy bia anh đầy dấu đạn căm thù

Ngay cả núi sông giặc còn rao bán

Thì hồn nào yên được giấc ngàn thu!

Con hãy để xác ba hòa với đất

Ba chết rồi, cải táng được gì đâu!

Đồng đội ba biết bao người bỏ xác

Dưới truông hào, trên núi thẳm, rừng sâu

Chị hãy để cho em vào phiêu lãng

Cho em quên mối hận tháng Tư buồn

Hai mươi năm đất miền Nam tươi sáng

Chỉ một ngày mưa thấm lệ trào tuôn

Bạn hãy để cho tôi tròn tiết tháo

Sống anh hùng thì chết cũng quang vinh

Chớ xin xỏ bọn cường quyền vô đạo

Thêm tủi lòng người đã quyết hy sinh

Nếu bạn muốn tôi ngàn thu yên giấc

Xin hãy thay tôi dựng lại cờ vàng

Tôi không muốn được mồ tươm mả tất

Khi nước nhà mây vẫn trắng màu tang

TV Ở Ta & TV Ở Nga – Tưởng Năng Tiến

TV Ở Ta & TV Ở Nga

Tưởng Năng Tiến

Nước Việt không thiếu những thằng rách việc, và nhiều đứa đã bị vạch mặt chỉ tên: thằng đánh máythằng cơ chếthằng sứ quán …. Nước Nga, xem ra, cũng không khác mấy. Một trong những thằng rách việc ở xứ sở này vừa bị lộ diện, và bị ném đá tơi bời hoa lá:

  • VQuang Boabo: “Tuy mạnh yếu khác nhau xong phụ bếp thời nào cũng nguy hiểm.”
  • Huynh Nguyen: “Rất chán…tụi kg có chiên môn mà đu lên tàu làm phụ bếp!”
  • Phương Trần: “Mấy thằng phụ bếp là mấy thằng ăn hại – làm khổ người khác đặc biệt là anh em.”
  •  Nguyễn Lân Thắng: “Những thằng phụ bếp trên tàu là bọn có thể gây hoạ lớn, đừng coi thường.”
  • Vương Gia Văn: “Lịch sử và thực tiễn đã chứng minh có những thằng phụ bếp không chỉ gây hoạ cho 1 con tàu mà còn gây hoạ cho cả một dân tộc!

Chớ thằng chả làm gì mà “rách việc” dữ vậy – hả Trời? Hỏi thăm lòng vòng một hồi mới được nghe FB Minh Thoại giải thích, bằng … thơ: “Thằng phụ bếp bất cẩn/ Để hỏa hoạn xảy ra/ Làm soái hạm bốc cháy/ Rúng động toàn nước Nga.”

Thiệt là cái đồ hậu đậu. Làm hư bột hư đường hết trơn hết trọi. Chỉ vì “bất cẩn” chút xíu mà khiến cho nguyên cả một siêu cường, cùng với một siêu nhân, bị mất mặt (bầu cua) và mất bộn tiền. Từ đây, mụ nội thằng nào/con nào mà còn dám mua những vũ khí (thổ tả) của Nga nữa đây?

Tuy thế, cảnh tượng soái hạm Moskva bốc cháy đen thui lui rồi chìm dần xuống lòng Hắc Hải (vẫn) chưa thảm hại bằng cảnh hôi của ở Ukraine. Trang Hindustan News Hub vừa cho phổ biến hình ảnh lính Nga đang khệ nệ khiêng những cái TV (bự tổ trảng) cùng với lời bình luận:

“…  units of Putin’s troops remain cut off from supplies indefinitely and have been instructed to move to ‘self-sufficiency’ until further orders. That is, to take everything necessary from the local population … những đơn vị của quân Putin vẫn còn bị cắt đứt nguồn tiếp liệu vô thời hạn và được chỉ thị ‘tự túc’ cho đến khi có lệnh mới. Nói cách khác là tha hồ trộm cướp tất cả những gì cần thiết từ dân chúng địa phương…”

No ra bụt đói ra maBần cùng sinh đạo tặc! Cướp bóc, trộm cắp, hôi của nào có phải là chuyện lạ lùng hay mới mẻ chi trong lịch sử nhưng tới bây giờ mà còn hí hửng ôm một cái TV (to đùng) thì quả là chuyện rất khó coi và cũng vô cùng khó hiểu.

FB Nguyễn Duy ta thán: “Những món đồ cổ lỗ sỹ như vầy mà lính Nga vẫn còn đem về xài, chứng tỏ KT Nga không khá như vẫn tưởng, ở VN nó đã bị quăng đi từ 10 năm trước rồi.”

Sao “mười năm” được, cha nội? Phải lâu hơn nhiều chớ, nếu là TV đen trắng:

Tôi nhớ khi cha có ý định mua tivi thì gặp ngay cái lắc đầu của mẹ,“để tiền đó mua thêm con nghé mà nuôi hòng sinh lãi chứ xem tivi đâu ích lợi gì?” Không hiểu cha thuyết phục sao mà mẹ đồng ý để rồi vài tháng sau khi điện lưới về làng, cha lặn lội lên thị xã mua về chiếc tivi đen trắng mới toanh trước sự ngỡ ngàng của bà con lối xóm.

Chiếc tivi đầu tiên đó làm rộn rã chốn thôn quê mỗi khi đêm đến… Đời sống đi lên, công nghệ tiên tiến len lỏi và bủa vây lấy từng góc phố đến làng quê. Nhiều thế hệ tivi thông minh với những phương thức giải trí khác nhau ra đời thay thế cho cái cũ nặng nề, đơn điệu. Thế nhưng cái tivi đen trắng ngày xưa là mảng hoài niệm trong trẻo, là điểm hẹn xưa xa sinh động mà ký ức tôi vẫn hay chiếu đi, tua lại.” (Nguyễn Tiến Dũng. “Cái Tivi Đen Trắng Ngày Ấy.” Quảng Nam Online – 14/03/2015).

Thiệt tình! Có ai mà dè cái Tivi trắng đen (ngày ấy) nay vẫn còn là niềm ước mơ của mấy chú lính Putin.

Nước Nga nghèo dữ vậy sao?

Hổng dám nghèo đâu!

Phải nghe bạn Trần Trung Đạo xuýt xoa mới biết xứ sở này bảnh bao tới cỡ nào lận: “Các bạn đọc chữ oligarch (đại tài phiệt) rất nhiều trong thời gian qua, nhất là trong hai tháng qua khi Nga bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Cộng Hòa Ukraine … và khi nhắc đến Oligarch người ta sẽ nghĩ ngay đến tài phiệt Nga chứ không phải tài phiệt của quốc gia nào khác?”

Thiệt là quá đã và quá đáng!

Vấn đề là dân giầu hoàn toàn, và tuyệt đối, không có dính dáng chi đến chuyện chiến tranh cả – trừ việc họ kinh doanh vũ khí thì không kể. Từ Paris, phóng viên Jean-Marc Four (franceinfo – Radio France) tường thuật:

Un chercheur indépendant russe a étudié les listes de conscrits morts ou faits prisonniers ces dernières semaines. Et leur profil saute aux yeux. Inutile de chercher des fils d’oligarques russes dans les listes : vous n’en trouverez pas. Les conscrits envoyés au front viennent de familles pauvres et surtout de minorités ethniques ou religieuses.

Một nhà nghiên cứu độc lập đã xem xét kỹ các danh sách lính nghĩa vụ tử trận hoặc bị bắt thành tù binh trong vài tuần qua và thấy ngay một điểm chung rõ rệt: vô ích nếu đi tìm tên con trai của các tay tài phiệt Nga trong các danh sách này. Những lính Nga bị điều ra mặt trận toàn là con cái của các gia đình nghèo đói và chủ yếu thuộc các sắc dân thiểu số hoặc tôn giáo thiểu số.” (Translated by P.H.S).

Họ “nghèo đói” tới cỡ nào mà phải đi quơ đại một cái TV (vứt đi, không có người nhặt) làm chiến lợi phẩm như vậy chớ?

Xin xem qua đôi ba con số, theo một nguồn tin tương đối cập nhật (Christopher McLean. “Child Poverty In Russia.” The Borgen Project – 02/25/2021) và khả tín:

“Russia is one of the world’s largest exporters of oil. As such, those that control the oil industry generate great wealth.  However, this leaves many others to suffer in poverty. The nation has a high unemployment rate, but people who have obtained employment often suffer as well. The minimum wage in Russia is among the lowest of all developed countries. The monthly minimum wage in Russia is 12,310 rubles, which is the equivalent of $196

Nga là một trong những nước xuất khẩu dầu khí lớn nhất thế giới. Trong những nước đó, những người nắm quyền kiểm soát ngành công nghiệp dầu khí tạo ra được rất nhiều của cải. Tuy nhiên, nó cũng làm cho nhiều người lâm vào cảnh nghèo khó. Tỷ lệ thất nghiệp cao, nhưng những người có việc làm cũng thường xuyên gặp khó khăn. Lương tối thiểu ở Nga thuộc loại thấp nhất trong các nước đã phát triển. Lương tối thiểu ở Nga là 12.310 rúp, tương đương với 196 đôla.” (Translated by Phạm Nguyên Trường). 

Với đồng lương tối thiểu gần 200 U.S.D một tháng thì tuy chỉ bằng nửa mức lương trung bình của người dân Thái Lan nhưng cũng tương đương với công nhân Việt Nam/ Cao Miên (và nhỉnh hơn Miến Điện với Lào chút xíu) chớ nước Nga cũng không “khá” gì cho lắm. Điều kỳ diệu là ở tất cả những quốc gia vừa kể thì không vị lãnh tụ nào nắm được trọn quyền hành, và được tới 71 phần trăm dân chúng ủng hộ như trường hợp ở Nga.

Vladimir Putin thiệt là may mắn. Vấn đề là thằng em lại tưởng là mình hay (chớ không phải hên) nên còn ôm mộng “bá quyền” khiến cho lắm người giận dữ. Dù đã tu tại gia, và tu rất kỹ, cư sỹ Phạm Nguyên Trường vẫn nổi nóng như thường: “Nước Nga của Pushkin, Lev Tolstoy, Trekhov… sao lại sinh ra quái thai Putinler này?”

Ơ hay! Cái “quái thai Putinler” nào có phải là sản phẩm lạ lùng hay mới mẻ gì? Nước Nga cận đại đâu có thiếu chi cái loại của nợ này (Lenin, Stalin, Khruschev, Brezhnev…) và tất cả đều đã gây ra vô vàn tội ác!

Sao chúng lại có thể tác yêu tác quái như thế suốt từ thập niên này, sang thập niên khác được nhỉ?

Sao ư?

Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối/ Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương nên mới ra cớ sự thôi.  Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lý giải như thế đấy!

Tưởng Năng Tiến
4/2022

47 năm sau và tháng tư vẫn thế: Xảo trá, trâng tráo…(VOA)

47 năm sau và tháng tư vẫn thế: Xảo trá, trâng tráo…

13/04/2022

Một banner kỷ niệm 30 tháng Tư tại Việt Nam hồi 2010. Hình minh họa.

Đã là CAND thì từ người viết đến tòa soạn muốn viết sao cũng được, muốn nói gì cũng được và đặc biệt là không cần tri thức, không cần suy nghĩ?

Tờ Công an nhân dân (CAND) – cơ quan ngôn luận của Bộ Công an Việt Nam – vừa đăng “Tháng tư, nghĩ về những ‘giấc mộng tan vỡ’ nơi xứ người” (*). Nếu dành thời gian đọc bài viết vừa đề cập, có lẽ sẽ không ít người ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam tiếp tục thở dài vì 47 năm sau ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, cả nhận thức lẫn giọng điệu của “ta” qua hệ thống truyền thông chính thức vẫn thế: Vẫn xảo trá và trâng tráo!

***

Tháng tư, nghĩ về những ‘giấc mộng tan vỡ’ nơi xứ người” là một chuỗi nhiều mâu thuẫn khó tin đến mức tội nghiệp vừa vì ngụy biện, vừa vì kém cỏi!

Tại sao đã thừa nhận… cộng đồng người Việt định cư và hội nhập ổn định ở nước ngoài, mỗi khi thiên tai, địch họa đe dọa cuộc sống và vận mệnh của tổ quốc, lập tức muôn người như một, kết thành khối vững chắc, sẵn sàng cống hiến công sức, xả thân vì lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, vì vận mệnh của tổ quốc và cuộc sống của đồng bào mình,… mà còn mỉa mai… một số người lầm lạc, chĩa súng vào đồng bào, gây nên nhiều tội ác, lại chọn cho mình con đường rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình để tiếp tục mưu lợi cá nhân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc?

Nếu không có hàng trăm trại cải tạo sau 30/4/1975, không có tịch biên nhà cửa – sản nghiệp, không chia các thành phần trong xã hội thành “bốn nhóm, 21 đối tượng”, tước bỏ cả cơ hội học hành, nghề nghiệp của con cái những người thuộc “nhóm bốn”, lẫn sinh kế của nhiều giới tại miền Nam Việt Nam thì những người ở phía bên kia chiến tuyến, bao gồm cả cựu viên chức, cựu quân nhân và thường dân Việt Nam Cộng hòa có “rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của họ” không?

Đúng là “chiến tranh đã đi qua”, thậm chí đã “đi qua” rất lâu, chỉ vài năm nữa là tròn nửa thế kỷ nhưng vết thương chưa ‘liền da’ và quê hương chưa “hòa làm một” vì nhận thức và giọng điệu xấc xược, đểu cáng vẫn là chủ đạo như “Tháng tư, nghĩ về những ‘giấc mộng tan vỡ’ nơi xứ người”. Vì sao xứ sở mà “những người lầm lạc” định cư cho phép họ “sử dụng lá phiếu cử tri buộc một số vị dân biểu nơi họ cư trú lên tiếng tạo sức ép với chính quyền các nước” về đối sách với Việt Nam, còn những người Việt Nam đang sống trên quê hương của chính họ lại không được dùng “thủ đoạn” như vậy?

Vì sao xứ sở mà “những người lầm lạc” định cư cho phép họ “lợi dụng mạng Internet để lập ra nhiều trang mạng, diễn đàn lấy danh nghĩa yêu nước” để bày ra đủ loại hình ảnh, thông tin, ý kiến mà “ta” khẳng định là “bóp méo sự thật, tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, đường lối chính sách” nhưng “ta” lại ban hành Luật An ninh mạng, nghiêm cấm dân ta làm như vậy? Vì sao những “Nhân dân”, “Quân đội nhân dân”, “Công an nhân dân” chỉ cung cấp… “sự thật” nhưng chẳng có bao nhiêu người đếm xỉa? Cứ cho là “sự thật” bị “bóp méo” sao “ta” không “vo cho tròn”? Ví dụ vì sao CAND không công bố “sự thật” liên quan đến sự kiện ông Tô Lâm và thuộc cấp thưởng thức “bò dát vàng”?

***

Tháng tư, nghĩ về những ‘giấc mộng tan vỡ’ nơi xứ người” trên CAND đề cập đến cuộc sống của những Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), Tạ Phong Tần,… kèm một số thông tin nhặt nhạnh hoặc từ tâm sự của chính họ, hoặc từ mạng xã hội để cho rằng họ… “vỡ mộng” nơi xứ người và tiên đoán đó là… “đoạn đầu của con đường không tương lai của những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu vinh”!

Cần lưu ý, những Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), Tạ Phong Tần,… đều đã từng bị hệ thống chính trị, hệ thống công quyền, hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam cáo buộc là tội phạm “đặc biệt nguy hiểm” đã “xâm hại an ninh quốc gia”. Vì sao những Đài, Hà, Quỳnh, Hải, Tần đều đã bị phạt tù và đều xuất ngoại khi đang chấp hành hình phạt tù. Có gì quan trọng hơn sự nghiêm minh của công lý, sự đúng đắn của hệ thống tư pháp, thể diện của quốc gia? Tại sao đảng, nhà nước, chính phủ “ta” bấp chấp tất cả để giao họ cho “ngoại bang”. Cứ cho là họ… “cầu vinh” còn “ta”… “cầu” gì mà… bất chấp mọi thứ?

Tháng tư, nghĩ về những ‘giấc mộng tan vỡ’ nơi xứ người” ấu trĩ tới mức tự thóa mạ như thế này: Đối với chủ quyền quốc gia và nền độc lập dân tộc, lòng yêu nước mãnh liệt chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giang sơn cha ông để lại. Giá trị đó không thể là điểm tựa để dung túng, kích động tinh thần dân tộc cực đoan, đề cao bá quyền, đe dọa sử dụng bạo lực và bất chấp thủ đoạn gian dối, hèn hạ, bất chấp đạo lý và luật pháp của văn minh nhân loại, cốt tranh đoạt trắng trợn và phi pháp lãnh thổ của người khác. Ðiều này đã và phải tiếp tục trở thành yêu cầu của lương tri, của đạo đức không chỉ với Việt Nam mà với mọi quốc gia – dân tộc khác trên thế giới

Nếu điều vừa kể đúng là nhận thức của “ta”, tại sao “ta” bỏ “phiếu trắng” khi cộng đồng quốc tế muốn lên án Nga xâm lược Ukraine? Tại sao “ta” bỏ “phiếu trắng” khi cộng đồng quốc tế muốn nhấn mạnh yêu cầu phải bảo vệ thưởng dân? Tại sao “ta” bỏ “phiếu chống” khi cộng đồng quốc tế muốn loại bỏ Nga khỏi Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc? Nếu điều vừa kể chỉ là nhận thức của tờ CAND, tại sao CAND không góp ý với đảng, nhà nước, chính phủ mà nhắm vào “những người lầm lạc”?

Tháng tư, nghĩ về những ‘giấc mộng tan vỡ’ nơi xứ người” còn một số những điều ngớ ngẩn khác. Chẳng hạn khi kể về hoàn cảnh của Lê Thu Hà, CAND cho biết, cô sống ở “thị trấn Bad Naheim, bang Hawai, Đức”. Đức chỉ có Bad Nauheim, một thị trấn thuộc khu vực Wetteraukreis ở tiểu bang Hesse. Còn “Hawai” (viết đúng phải là Hawaii) là một trong 50 tiểu bang ở Mỹ. Đã là CAND thì từ người viết đến tòa soạn muốn viết sao cũng được, muốn nói gì cũng được và đặc biệt là không cần tri thức, không cần suy nghĩ?

Chú thích

(*) https://cand.com.vn/Chong-dien-bien-hoa-binh/thang-tu-nghi-ve-nhung-giac-mong-tan-vo-noi-xu-nguoi-i649860/

Phú Quốc xây tượng đài Hồ Chí Minh trị giá 353 tỷ đồng

 Đài Á Châu Tự Do

Phú Quốc xây tượng đài Hồ Chí Minh trị giá 353 tỷ đồng

Hôm 29/4/2022, tỉnh Kiên Giang tổ chức lễ động thổ khởi công xây dựng “Tượng đài Bác Hồ” tại thành phố Phú Quốc với tổng kinh phí đầu tư là 353 tỷ đồng bằng nguồn vốn Trung ương và ngân sách địa phương.

Hồi tháng 6 năm ngoái, Sở Văn hóa và Thể Thao tỉnh Kiên Giang từng cho biết dự án xây tượng đài và quảng trường của ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ cộng sản sẽ được khởi công vào dịp lễ 2-9-2021 và phấn đấu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2023.

Tuy nhiên, trước đó Chính phủ cho thành lập và quản lý “Quỹ vắc-xin phòng chống COVID-19”, huy động tiền bạc từ người dân và doanh nghiệp để mua sắm vắc-xin, thông tin xây tượng đài được đưa ra sau đã vấp phải phản ứng của người dân và cho đến nay công trình này mới được khởi công xây dựng.

#RFAVietnamese #tuongdaiHochiMinh

Thế hệ hậu chiến với nỗ lực bảo tồn và quảng bá sách thời Việt Nam Cộng Hoà

 Đài Á Châu Tự Do 

Tự nhận mình là “người miền bắc thuần tuý” do có bố mẹ là đảng viên Đảng Cộng Sản, và sinh trưởng ở vùng nông thôn bắc bộ sau khi chiến tranh đã kết thúc, nhưng ông Trịnh Hữu Long cho biết bản thân đã tìm ra lời giải cho việc hoà hợp, hoà giải giải dân tộc, và sách thời Việt Nam Cộng Hoà là một công cụ hữu hiệu.

Thế hệ hậu chiến với nỗ lực bảo tồn và quảng bá sách thời Việt Nam Cộng Hoà
RFA.ORG

Thế hệ hậu chiến với nỗ lực bảo tồn và quảng bá sách thời Việt Nam Cộng Hoà

Một tổ chức do người Việt Nam sinh ra thời hậu chiến đang

Cụm từ “ngụy quyền Sài Gòn” vẫn được báo chí chính thống Việt Nam sử dụng…

BBC News Tiếng Việt 

Cụm từ “ngụy quyền Sài Gòn” vẫn được báo chí chính thống Việt Nam sử dụng, trong các bài đánh dấu sự kiện 30/4/1975 năm nay.

Trong vài năm qua, thỉnh thoảng lại có ý kiến ở Việt Nam dè dặt cho rằng không nên gọi chính quyền Việt Nam Cộng hoà là ngụy quân, ngụy quyền như trước.

Tuy vậy, điểm qua báo chí tháng Tư 2022, người ta thấy chữ “ngụy quyền” vẫn được sử dụng chính thức tại Việt Nam.

Ví dụ, một bài của Thông tấn xã ngày 30/4/2022 viết: “ Trên chiến trường miền Nam, mặc dù ngụy quân, ngụy quyền và đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn chia rẽ nhân dân với bộ đội, du kích nhưng mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được củng cố, ngày càng gắn bó.”

Tạp chí Tuyên giáo hôm nay 30/4 viết: “Nhân dân các địa phương toàn miền Nam kiên cường bất, khuất suốt cuộc kháng chiến, khi cuộc tổng tiến công nổ ra, đã dũng cảm nổi dậy phối hợp cùng các lực lượng vũ trang đập tan bộ máy ngụy quyền, thiết lập chính quyền cách mạng, giải phóng quê hương.”

Báo Quân đội Nhân dân ngày 28/4 viết: “Như thế cần khẳng định rằng, chính quyền Việt Nam cộng hòa hoàn toàn là tay sai của Mỹ, thực hiện mưu đồ của Mỹ là biến Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới. Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cùng với quân Mỹ, quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chiến dịch thảm sát đồng bào miền Nam.”

Báo Tuổi Trẻ Thủ đô ngày 30/4 viết: “Vào lúc 11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập – sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.”

Báo Long An ngày 30/4 có bài viết: “Sự sụp đổ của Ngụy quyền Sài Gòn là tất yếu vì chính quyền đấy đi ngược lại lợi ích của nhân dân, lợi ích của quốc gia, dân tộc.”

Như vậy có thể thấy cụm từ “ngụy quyền Sài Gòn” vẫn là ngôn ngữ chính thức được sử dụng để chỉ các chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước đây.

ANH GIẢI PHÓNG TÔI HAY TÔI GIẢI PHÓNG ANH?!

Van Pham

ANH GIẢI PHÓNG TÔI HAY TÔI GIẢI PHÓNG ANH?!

Nhân 47 năm ngày được chế độ mênh danh là “ngày giải phóng”. Chúng ta hãy nghe nhà văn miền Bắc Nguyễn Quang Lập kể lại chuyện cuộc sống của hoc sinh miền Bắc vào thời điểm ấy!!!!

*******

Sài Gòn giải phóng tôi….

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp.

Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn.

Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó.

Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Minh bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các nhà du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế.

Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à?

Thằng Minh tủm tỉm cười không nói gì, nó mở cassette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.

Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác.

Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn. Với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy.

Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

BÌNH AN GIỮA BÃO TỐ

BÌNH AN GIỮA BÃO TỐ

“Thầy đây, đừng sợ!”.

Một cụ già hấp hối thều thào với một người bạn, “Tôi như người đang chới với trong một chung cư yếu ớt, mục nát; gió đang làm nó chao đảo, và bão tố sắp xô nó đổ sập. Và tất cả những gì tôi có thể học được là, Chủ Nhà không có ý định sửa chữa! Thế nhưng, điều tôi cảm nhận là Chủ Nhà, Chúa của tôi, vẫn ở bên tôi, Ngài là ‘bình an giữa bão tố!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ngài là ‘bình an giữa bão tố!’”. Phút hấp hối của cụ già kia tựa như bối cảnh của Tin Mừng hôm nay. Như cụ già đã trải qua, các môn đệ Chúa Giêsu cũng trải qua những giờ phút hãi hùng trong đêm tối giữa biển khơi đang nổi giận. Thế nhưng, tuyệt vời thay! Thầy của họ, Chúa của họ, vẫn xuất hiện đúng lúc, để kịp trấn an họ dù chỉ vỏn vẹn mấy lời, “Thầy đây, đừng sợ!”.

Lênh đênh giữa biển trong đêm, các môn đệ khác nào những người mù lạc lõng giữa hư không, chẳng có gì bao quanh; họ cảm nhận một sự trơ trọi vô bờ! Giữa những phút bàng hoàng ấy, Chúa Giêsu đã đến gần; Ngài hô to, “Thầy đây!”. Thật an ủi! Trải nghiệm của những ngư phủ này cũng là trải nghiệm của mỗi người chúng ta. Giữa một thế giới quay cuồng, tranh đua và chen chúc; thế nhưng, không ít lần, chúng ta cảm thấy chung quanh mình trống không, lắm lúc mỗi người cảm thấy đơn độc và lạc lõng. Dĩ nhiên, đây không phải là một cảm giác quá sức đối với một số người, nhưng nó thường là một trải nghiệm mà nhiều người đã phải trải qua ở mức độ này hay mức độ khác. Tin Mừng hôm nay tiết lộ, Chúa Giêsu, ‘bình an giữa bão tố’, luôn ở với chúng ta bất kể chúng ta ở đâu, bất kể chúng ta đối mặt với hoàn cảnh nào!

Trải nghiệm trên biển giữa bóng tối có nhiều dạng. Có lẽ cuộc sống của bạn tràn ngập hoạt động, nhưng bạn vẫn cảm thấy đơn độc; hoặc cuộc sống của bạn là nơi mà bạn không có nhiều người chung quanh và luôn cảm thấy cô lập. Hoặc bên ngoài, bạn có vẻ tự tin, có tất cả; nhưng bên trong, bạn đang chiến đấu sâu sắc với một nỗi cô đơn nhất định. Hoặc đôi khi, dòng nước trong tâm hồn bạn bị khuấy động bởi những cảm xúc không kiểm soát, khi niềm kiêu hãnh hoặc những ước mơ phù phiếm hay nhục dục dậy sóng… Những lúc ấy, chúng ta mất phương hướng và dường như chèo chống mấy cũng vô ích! Vậy mà, dù cho hoàn cảnh xảy đến thế nào, Chúa Giêsu vẫn muốn đến với chúng ta như đã đến với các môn đệ, để nói, “Thầy đây, đừng sợ!”.

Không chỉ cho mỗi người, Lời Chúa hôm nay còn đưa ra một hình ảnh tuyệt vời về thực tại của Giáo Hội qua các thời đại. Giáo Hội, con thuyền phải vượt qua những cơn gió trái chiều và bão tố; đôi khi nó có nguy cơ bị lật úp. Điều đã cứu con thuyền không phải là lòng can đảm và phẩm chất của thuỷ thủ đoàn, nhưng là sự hiện diện của Chúa Phục Sinh, Ngài là ‘bình an giữa bão tố’. Bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay là một bằng chứng. Khi các tín hữu kêu trách lẫn nhau; giữa họ, có sự kỳ thị giữa người Hy Lạp và Do Thái. Nhờ lời cầu nguyện và khôn ngoan Thánh Thần ban cho, các phó tế đầu tiên ra đời; giông bão qua đi. Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!”.

Anh Chị em,

“Thầy đây, đừng sợ!”. Phận người mong manh, bao nhiêu điều khiến chúng ta đối mặt với sợ hãi; chiến tranh, thiên tai, đói khát, thất nghiệp, mất nước, vong thân, tệ nạn, cô đơn, ly dị… và cuối cùng là cái chết. Chúa Phục Sinh, nguồn bình an, nguồn sống và là nguồn hy vọng của nhân loại; nơi Ngài và chỉ trong Ngài, chúng ta tìm được sức mạnh đích thực để đối diện với mọi bất trắc của cuộc đời, kể cả cái chết, mà không sợ hãi. Bởi lẽ, ngay trong chính ‘huyệt mộ’ của cái chết, chúng ta vẫn gặp thấy Chúa của chúng ta ở đó. Nếu chúng ta tin và sống trọn niềm xác tín này, chúng ta là những người đang sống những lời của Chúa Giêsu, “Phúc cho ai không thấy mà tin!”. Ước mong sao, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục Sinh, Đấng là ‘bình an giữa bão tố’ của cuộc đời mình; để từ đó, niềm vui và bình an của chúng ta không bao giờ mai một; đồng thời, chúng ta cũng sẽ là nguồn bình an cho những ai đang gặp bão tố!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, có Chúa, con sẽ an toàn qua ‘bờ bên kia’; có Chúa, bến bờ xa xôi của con, dường như ngắn hơn một chút, vì Chúa là ‘bình an giữa bão tố’ của thuyền đời con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

Bây giờ một con đường thoát hiểm có hấp dẫn đối với Putin chăng?

Bây giờ một con đường thoát hiểm có hấp dẫn đối với Putin chăng?

06:32 | Posted by BVN1

Opinion by David IgnatiusWashington Post, April 24, 2022

Google Translate dịch, Trần Ngọc Cư biên tập

Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm thứ Hai đã chống chế với những người đến thăm Điện Kremlin rằng các đối thủ của ông đang cố gắng “giành chiến thắng trên chiến trường” và “hủy diệt nước Nga từ bên trong”. Lần đầu tiên, ông giản dị là không bị hoang tưởng.

Quyết tâm của phương Tây đang trở nên cứng rắn trong cuộc chiến Ukraine. Trong nhiều tháng, chính quyền Biden đã cầu xin Putin tìm “lối thoát” khỏi cuộc đối đầu. Giờ đây, mục tiêu được tuyên bố công khai của Hoa Kỳ là giúp Ukraine đánh bại Nga và vô hiệu hóa cỗ máy chiến tranh của Putin để nó không còn đe dọa các nước láng giềng trong tương lai.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin, một người cẩn thận với lời nói của mình, đã tuyên bố rõ ràng hôm thứ Hai sau chuyến đi đến Kyiv để thúc đẩy sự kháng cự của Ukraine: “Chúng tôi muốn thấy Nga suy yếu đến mức không thể làm những điều mà họ đã làm trong việc xâm lược Ukraine. ” Austin đã lặp lại thông điệp đó hôm thứ Ba sau cuộc hội đàm với các đồng minh NATO ở Đức.

Đây là một chiến lược với khả năng mất còn rất cao –  những nỗ lực nhằm làm suy giảm sức mạnh một quốc gia khác bằng các biện pháp quân sự và kinh tế mà trước đây thường không có kết quả mấy – và tôi đã yêu cầu Nhà Trắng giải thích cặn kẽ các phát biểu trên. “Chúng tôi muốn Ukraine giành chiến thắng,” một phát ngôn viên của Hội đồng An ninh Quốc gia trả lời. “Chúng tôi dự định biến cuộc xâm lược này thành một thất bại chiến lược đối với Nga. Một trong những mục tiêu của chúng tôi là hạn chế khả năng Nga làm điều gì đó như thế này một lần nữa. “

Đánh giá của phương Tây khi họ siết chặt các đinh vít đã được Ngoại trưởng Antony Blinken tuyên bố thẳng thừng hôm thứ Hai: “Nga đang thất bại; Ukraine đang thành công ”. Điều đó chắc chắn đúng sau hai tháng chiến tranh đầu tiên, nhưng những ngày đẫm máu nhất của chiến dịch này có thể còn ở phía trước. Các câu hỏi đặt ra trong tương lai là liệu chiến lược gây áp lực có thành công trong việc làm tê liệt Putin hay không và với cái giá phải trả là bao nhiêu.

Quân đội Nga đã bị đánh trọng thương, cho đến nay. Đánh giá thiệt hại chính xác nhất mà tôi đã thấy đến từ Ben Wallace, Bộ trưởng Quốc phòng Anh. Ông cho biết trong một bài phát biểu hôm thứ Hai rằng 15.000 lính Nga đã bị giết, 2.000 xe bọc thép bị phá hủy và 60 máy bay trực thăng và máy bay chiến đấu bị bắn rơi. Wallace cho biết đội quân xâm lược khổng lồ của Nga gồm 120 tiểu đoàn đã bị tổn thất 25% sức mạnh chiến đấu. Đó là một đòn quật vào cơ thể nước Nga.

Một bức chân dung tổng hợp sơ sài về nhân mạng được thể hiện bằng những con số này đến từ Mediazone, một tập đoàn truyền thông độc lập của Nga. Các nhà nghiên cứu đã phân tích 1.744 báo cáo cụ thể về tổn thất nhân mạng của Nga. Họ nhận thấy những tổn thất nặng nề trong số lính tinh nhuệ như lính dù, lính thủy đánh bộ và lực lượng đặc biệt. Ít nhất 317 người chết được báo cáo là sĩ quan; 44 người có quân hàm từ trung tá trở lên. Những người lính đã ngã xuống với một đa số không tương xứng đến từ các vùng nghèo khó của Dagestan trên dãy núi Caucasus và Buryatia ở miền đông Siberia.

“Không bao giờ nữa” là câu thần chú của phương Tây trong cuộc chiến này, cũng giống như sau năm 1945. Để đánh bại Putin, Mỹ và các đồng minh NATO đang bơm vũ khí và đạn dược vào Ukraine với tốc độ đáng kinh ngạc. Nhưng chiến thuật thực sự quyết định sẽ là bóp nghẹt bộ máy chiến tranh của Nga thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế.

Sự bóp nghẹt kinh tế này chỉ mới bắt đầu, nhưng một quan chức chính quyền Biden đã mô tả một số hiệu quả ban đầu. Xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Nga đã giảm 80% so với một năm trước; các mặt hàng bị kiểm soát xuất khẩu đã giảm 99% giá trị. Tên lửa được dẫn chính xác dựa vào chip bán dẫn nước ngoài sẽ không được thay thế khi nguồn cung cấp cạn kiệt. Theo báo cáo của Ukraine, việc sản xuất xe tăng tại hai nhà máy của Nga đã dừng lại vì thiếu các bộ phận phụ tùng nước ngoài.

Một quan chức châu Âu nói với tôi rằng các nguồn thu nhập của Nga đang dần dần biến mất. Người mua đang tránh xa dầu của Nga trong các tàu chở dầu trên biển. Tình trạng chảy máu chất xám đang gia tăng. Theo báo cáo của một tập đoàn công nghệ Nga, 50.000 đến 70.000 chuyên gia máy tính đã rời khỏi nước, và 100.000 người nữa dự kiến sẽ rời khỏi đất nước vào tháng Tư. Quan chức này dự đoán rằng nền kinh tế Nga sẽ giảm 8,5% đến 15% trong năm nay.

Sức mạnh toàn cầu của Nga đang suy yếu theo nhiều cách khác. Các ứng cử viên của Matxcơva đã bị đánh bại trong tháng này trong cuộc bầu cử bốn cơ quan của Liên hợp quốc. Nga đã bị đình chỉ khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Liên minh Viễn thông Quốc tế đã từ chối các ứng cử viên Nga cho bốn nhóm nghiên cứu đánh giá các vấn đề truyền thông. Những giấc mơ về lãnh đạo công nghệ của Điện Kremlin đang chết dần trên các đồng bằng của Ukraine, cùng với những người lính của họ.

Đâu là những nguy cơ khi thương vong của Nga ngày càng tăng, sức ép kinh tế ngày càng thắt chặt, và Moscow dần mất đi sức mạnh xâm lược các nước láng giềng? Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov hôm thứ Hai cảnh báo rằng “Về bản chất, NATO sẽ gây chiến với Nga thông qua một nước ủy nhiệm” và ông ta nhắc đến nguy cơ xung đột hạt nhân. Ông nói: “Rủi ro này nghiêm trọng. Nó không nên bị đánh giá thấp.” Austin cho rằng luận điệu của Lavrov là “rất nguy hiểm và vô ích.”

Các siêu cường đôi khi thua  các cuộc chiến vì thiếu cân nhắc. Điều đó đã xảy ra với Hoa Kỳ ở Việt Nam và Afghanistan, và đó có thể là số phận của Nga ở Ukraine. Đoạn đường thoát hiểm chắc chắn phải trông hấp dẫn hơn đối với Putin bây giờ so với cách đây vài tháng.

D.I.

David Ignatius viết một chuyên mục đối ngoại hai lần một tuần cho tờ The Washington Post. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông là “The Paladin.”

Nguồn: https://www.washingtonpost.com/opinions/2022/04/26/revised-american-strategy-on-ukraine-seeks-to-weaken-russia/