TUỔI GIÀ

TUỔI GIÀ

Lê Thanh Dũng dịch

Tuổi già mới là tuổi đẹp nhất trong đời, như mặt trời khi lên cao nhất là sáng nhất và nóng nhất, như hoa nở rộ đến tột cùng, là lúc hương sắc tỏa ra rực rỡ nhất.

Về già, không còn sục sôi như thời niên thiếu, không còn lãng mạn như hồi còn trẻ, nhưng ngộ ra nhiều điều về lẽ đời.

Về già, không còn nét cười của trẻ thơ và vẻ đẹp của tuổi thanh xuân nhưng chỉ đến khi về già ta mới hiểu rằng, đời người cho dù thành công hay thất bại, vui sướng hay khổ đau, thịnh hay suy, vinh hay nhục, tất cả đều như dòng suối tự nhiên, đến từ đâu sẽ chảy về đó. Đó là trăm sông về biển và tất cả là MỘT.

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng trên đời không có trắng đen rõ ràng, giữa đen và trắng có nhiều màu trung gian, cho nên cô đơn, thất vọng, buồn phiền, đau đớn là những thứ gia vị không thể thiếu trong cuộc sống. Tử tế với chúng tức là tử tế với đời.

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng không phải ai cũng thành công, không phải ai cũng danh giá, nhưng ai cũng có dấu chân của mình để lại trong đời. Nếu ta đã phấn đấu, đã theo đuổi, vậy thì được và mất có là gì !

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng tuổi già có sắc màu của tuổi già. Trẻ trung cho dù lộng lẫy nhưng sẽ phai mờ dần theo năm tháng. Chỉ có TÂM THẾ trẻ trung mới là màu sắc bất biến trong cuộc sống, và vì thế tuổi già không có nghĩa là suy tàn. Thất vọng, thờ ơ, chán đời mới thực sự là suy tàn.

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng, trên đời không có người đàn bà nào đúng như ý người đàn ông mong muốn, và cũng không có người đàn ông nào đúng như ý người đàn bà mong muốn. Chìa khóa của hạnh phúc gia đình là sự bao dung và hiểu nhau, là lòng biết ơn và sự tôn trọng.

Về già mới bắt đầu nhàn rỗi. Khi ta già, bọn trẻ đã đi làm. Chúng nó trở thành trụ cột của gia đình, ta được thong thả sống cuộc sống của mình.

Về già, ta có quyền hưởng hạnh phúc. Khi còn trẻ luôn nghĩ rằng khi việc làm ăn ổn định và bọn trẻ lớn lên là ta có thể hưởng phúc. Nay ta già thật rồi, cũng nên hưởng sự chăm sóc và yêu thương của con cháu. Hãy để bọn trẻ quây quần bên mình mà tận hưởng niềm vui gia đình. Ta được coi là thần tượng của gia đình, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Không có người già, gia đình mất đi một kho báu.

Về già, nhàn nhã hơn và không có gì vội vã.

Về già, không còn sự khôn lanh và xông xáo, nhưng sự chu đáo và tỉ mỉ khi suy xét mọi việc thì chắc chắn là hơn thời trẻ.

Ta chỉ muốn thụ hưởng phần thuộc về mình và thuận với lẽ tự nhiên trong một đời người bình thường để thực sự bước vào quãng đời tự do tự tại sung sướng của cõi nhân sinh.

Người già, được thời gian rửa tội. Chân chất mà Bền bỉ. Hiểu biết mà Vững vàng …

Người già, được tuổi tác tôn vinh. Minh triết mà Điềm đạm. Tỉnh táo mà Thong dong…

Lê Thanh Dũng dịch

From: Truong Le

KHI CHÚA THƯƠNG GỌI TÔI VỀ – Michael Le

KHI CHÚA THƯƠNG GỌI TÔI VỀ

Đến tận giờ, sau hơn 50 năm, tôi vẫn còn nhớ rõ tên, khuôn mặt và vóc dáng của bốn nữ tu Dòng Đa Minh phụ trách trường nội trú nơi tôi trải qua hai năm cuối tiểu học.

Đó là trường nội trú dành cho phần lớn là trẻ em cô nhi, con của những quân nhân tử trận. Có độ 60 em nội trú như thế, cả nam lẫn nữ. Ngoài ra, ban ngày còn có độ hơn 100 học sinh bán trú, là trẻ em địa phương.

Trường ở Gò Vấp, thuở đó còn là ngoại ô của Sài Gòn, còn nghèo và còn ‘thôn quê’ lắm. Đúng với cái tên Gò Vấp, vì cứ đi vài bước là vấp phải cái ‘ổ gà’ to như ‘ổ voi’. Những con đường đất bị cày nát vì nhiều xe nhà binh qua lại.

Sơ Nhất, nhưng có lẽ đó không phải là tên thật của Sơ, mà gọi thế chỉ vì Sơ là trưởng cộng đoàn 4 chị em.

Sơ Mãn, lúc đó lãnh nhiệm vụ như hiệu trưởng của trường. Sơ Mãn phụ trách hai lớp 4 và 5. Sơ là cô giáo tuyệt vời mà suốt đời tôi mang ơn. Sau này tôi giỏi Văn và Toán chính là nhờ Sơ.

Sơ Nhi, trẻ nhất, lúc đó còn nhỏ mà tôi đã thấy Sơ rất đẹp, cái đẹp thật thuần khiết và trong sáng. Sơ có nhiều tài khéo. Thủ công, ca hát, đàn, vẽ, múa… môn nào Sơ cũng giỏi.

Đặc biệt là Sơ Phượng, giám thị, người gần gũi gần như 24/24 đám học sinh nội trú chúng tôi. Sơ dạy chúng tôi giáo lý, dạy đọc kinh, cầu nguyện. Sơ ốm yếu và trông khắc khổ nhất nhà. Sơ nhỏ nhẹ, dịu dàng và tận tụy.

Tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ Sơ Phượng. Tôi mấy lần trốn giờ chơi, lẻn vô nhà nguyện một mình, quỳ nhắm mắt cầu nguyện quên cả thời gian, có lẽ cũng vì bị hấp dẫn bởi hình ảnh Sơ đắm mình trong cầu nguyện. Có lẽ chính Sơ Phượng là người đầu tiên nghĩ đến chuyện giới thiệu tôi đi tu.

Sơ Phượng, sau này ngẫm lại, tôi biết cũng ảnh hưởng rất nhiều đến Mạ tôi. Mạ tôi cũng tên Phượng, và nhiều lần trò chuyện với Sơ như phụ huynh của 5 đứa con gởi nội trú đương nhiên phải có nhiều dịp trao đổi với Sơ giám thị.

Năm lớp 6 tôi vào Chủng viện. Lần đầu tiên, và cũng là lần duy nhất cho đến tận nay, Mạ tôi viết thư riêng cho tôi. Lá thư dài tới 2 trang, làm tôi nhớ mãi. Mạ tôi báo tin Sơ Phượng qua đời rồi. Tôi đọc thấy sự xúc động của Mạ tôi.

Mạ, “bà Trung tá” lúc đó chỉ mới độ tuổi 30, mẹ của một bầy con 10 đứa, từng theo chồng thuyên chuyển công tác ở rất nhiều tỉnh thành suốt từ Trung vô Nam… Mạ tôi cũng từng trải lắm, người mẹ thời chiến mà, nhưng tôi hiểu là Mạ tôi rất có ấn tượng khi được quen biết chuyện trò nhiều lần với chị nữ tu Đa Minh khắc khổ và hiền dịu, cùng tên và cùng độ tuổi với mình.

Tôi nghĩ chính cái chết còn rất trẻ của Sơ Phượng đã làm Mạ tôi viết cho tôi lá thư hay đến thế. “Hà, nếu Chúa chọn con đi tu làm linh mục, thì Mạ vui mầng và sẵn lòng dâng con cho Chúa. Mạ tin Sơ Phượng ở trên thiên đàng cũng sẽ luôn dõi theo con, giúp đỡ con và cầu nguyện cho con!…”

Tôi rất biết ơn Ba Mạ tôi đã gởi chúng tôi vào trường nội trú nghèo đó, được sống, được ăn học cùng các bạn nghèo, được các Sơ dấn thân phục vụ người nghèo dạy dỗ trong 2 năm. Năm anh em chúng tôi là những học sinh duy nhất của trường cuối tuần được Ba Mạ đến đón bằng… xe hơi.

Gò Vấp bây giờ, sau nửa thế kỷ, đã trở nên một quận nội thành, đã sầm uất và giàu có khác hẳn ngày xưa. Bạn học của tôi ngày xưa giờ chắc đã có nhiều người thành đạt, giàu có, và sống nếp sống ‘văn minh’ hơn hẳn.

Sự phát triển và thịnh vượng của một vùng đất, luôn luôn được xây bằng bao giọt mồ hôi và cả xương máu. Nhưng lẫn trong mồ hôi và xương máu đó, chắc chắn không thể không kể đến cái nền chắc chắn của những tu sĩ dấn thân xây dựng chính ‘con người’, chính ‘tâm hồn’ của cả một thế hệ đang tới.

Sơ Nhất, Sơ Mãn, Sơ Phượng, Sơ Nhi… chắc đã qua đời hết rồi, khi thằng nhỏ học trò năm xưa là tôi giờ đã 61 tuổi! Suốt bao nhiêu năm qua, nhất là từ khi có mạng xã hội, tôi thỉnh thoảng cứ thèm gặp được ai đó biết gì về các Sơ, kể cho tôi nghe với.

Sơ Phượng đột ngột qua đời vì bạo bệnh khi tuổi còn trẻ, khi đang trong hành trình phục vụ đồng bào và quê hương mình. Tết năm nay nghe tin một anh em tu sĩ Đa Minh khác, linh mục Thanh, cũng đột ngột qua đời ở vùng đất Kontum xa xôi nghèo khó…

Cuộc đời của những anh em, chị em ấy thật đẹp! Tôi rất muốn hát cùng Sơ Phượng, cùng cha Thanh, bài thánh ca quen thuộc mà người Công giáo VN hay hát trong các tang lễ. Mạ tôi nay đã tuổi 90, đang trong nhà dưỡng lão bên Úc, chắc chắn cũng biết bài này. Mạ hát với con nghen, Mạ ơi:

“Khi Chúa thương gọi con về

Hồn con hân hoan, như trong một giấc mơ

Miệng con nức vui tiếng cười

Lưỡi con vang lời ca hát

Ngàn dân tung hô: con thật vinh phúc!”.

=Michael Le=

Tâm hồn cao đẹp

Tâm hồn cao đẹp

Mạc Văn Trang

28-6-2022

Yêu nước, hy sinh chống ngoại xâm thì thấy ở nhiều dân tộc và trải nghiệm biết bao cảm xúc ở Việt Nam mình. Nhưng cách mà người Ukraine phản ứng trước cuộc xâm lăng ào ạt, vô cùng tàn bạo, khủng khiếp của quân Nga từ ngày 24/2/2022, có một cái gì đó thật đặc biệt. Cái trạng thái tâm lý xã hội Ukraine đặc biệt ấy hẳn là đề tài vô cùng lớn cho các nhà nghiên cứu Tâm lý- xã hội, Văn học, Nghệ thuật, sử học …Ở đây tôi chỉ xin nêu mấy cảm nhận ban sơ từ quan sát những tấm hình thấy được.

Khi xe tăng, máy bay, tên lửa, lính dù, bộ binh quân Nga ào ạt tấn công vào khắp lãnh thổ Ukraine, rất nhiều người dân bất ngờ, nhưng không thấy cảnh từng dòng người hoảng loạn, dẫm đạp lên nhau chạy thục mạng.

Gia đình Tổng thống, cựu tổng thống và các quan chức không bỏ chạy ra nước ngoài. Họ bình tĩnh cùng quân dân chiến đấu. Những dòng người đàn bà trẻ con di tản khỏi đất nước thì từng đoàn người đàn ông từ nước ngoài trở về bảo vệ đất nước. Không có những lời hô hào, hiệu triệu…, tất cả diễn ra một cách khẩn thiết, tự nhiên, bình tĩnh: Cựu Tổng thống, Hoa hậu, doanh nhân, võ sĩ lừng danh, cầu thủ, diễn viên, ca sĩ, giáo sư, sinh viên, công nhân, viên chức… xếp hàng nhận vũ khí ra chiến trường. Nhiều đôi cưới nhau trước khi ra trận.

Những người dân ở nhiều thành phố, không lo giữ nhà mình, lại kéo nhau ra tìm cách bảo vệ những tượng đài, những công trình văn hoá của thành phố.

Không thấy có phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” và đồng ca những bài hát “diệt quân thù” đầy khí thế, máu lửa, căm thù. Họ hòa nhạc giữa thành phố tan hoang, dưới bom đạn, dưới hầm trú ẩn, trong nhà ga xe điện… Họ đàn hát giữa chiến hào; họ nhảy múa, đàn hát trong hầm trú ẩn cho trẻ em bớt sợ hãi. Đó là những bản nhạc của Mozart, Beethoven, Chopin… và những bài dân ca thân thuộc.

Một cô gái trước khi rời ngôi nhà đổ nát đã mở đàn Piano đàn một bài tình ca rồi mới lặng lẽ từ biệt ngôi nhà thân yêu của mình.

Ở biên giới, nơi tiếp đón những phụ nữ, trẻ em đói, mệt, sợ hãi…, một nghệ sĩ đem đàn Piano ra đàn để làm dịu bớt nỗi đau buồn, căng thẳng, đem lại sự êm dịu cho tâm hồn những người đang đau khổ, sợ hãi.

Giữa chiến tranh ác liệt, những nhân viên sở thú ở thành phố, vẫn lo chăm nuôi các con thú, không rời xa chúng và tìm cách bảo vệ chúng. Một số thú quý hiếm được sơ tán… Nhiều con chó, mèo bị thương, bị lạc chủ được người lạ cứu chữa, chăm sóc.

Quân Nga vừa rút đi, bom đạn vẫn trút xuống thành phố tan hoang, nhưng người dân đã kéo nhau ra dọn dẹp quảng trường và trồng hoa, trước tiên ở nơi công cộng làm đẹp thành phố đã…

Trong tàn phá, đau thương, chết chóc vẫn hài hước! Người ta hỏi người phát ngôn của Bộ Quốc phòng: Tại sao trong lúc đưa tin chiến sự ác liệt, ông vẫn có thể hài hước? – Tôi muốn người dân bớt căng thẳng, sợ hãi, tiếng cười giúp người ta thêm sức mạnh.

Ở Thủ đô Kiev không thấy pano, áp phích, khẩu hiệu “Căm thù”, “Thắng lợi”, “Anh hùng”, “Hy sinh”… lại thấy cái biển quảng cáo hài hước “Ở đây bán xe tăng Nga”…

Khi con người biết hài hước một cách trí tuệ và có nhiều tiếng cười là một cuộc sống tươi trẻ, lạc quan, lành mạnh. Có lẽ với tâm hồn như vậy, người dân Ukraine đã chọn bầu Danh hài Volodymyr Oleksandrovych Zelensky làm Tổng thống của mình.

Hình như văn hào Ph. Đôxtôiepxki nói: Cái Đẹp sẽ cứu rỗi thế giới. Và M.Gorki còn nói thêm: Bẩm sinh con người là một nghệ sĩ. Chỉ có con người, vị chúa tể của muôn loài mới biết coi cái đẹp là phương tiện, là mục đích cũng là nội dung của cuộc sống. Cái đẹp sẽ giúp con người sống sang trọng và tinh tế, cao thượng và trong sáng.

Với một tâm hồn cao đẹp lạ thường thì dù phải trả giá đắt biết bao nhiêu người dân Ukraine cũng sẵn sàng chấp nhận để mãi mãi thoát khỏi ách thống trị của những kẻ như Putin. Cái Đẹp không thể sống chung với Quỷ dữ!

Viva Ukraine!

Dưới đây là một số hình ảnh sưu tầm trên mạng:

Không được bóp nghẹt hơi thở người dân

Không được bóp nghẹt hơi thở người dân

28-6-2022

Ảnh trên mạng

Tôi phản đối dự án xây nhà hát Opera của Sun Group bởi những lý do sau:

1. Không được lấp bất cứ một hồ, ao, đầm nào nữa của Hà Nội bởi thành phố này đã bị ngập lụt rất tồi tệ rồi. Chẳng phải những khu mới xây ở Hà Nội cũng ngập lụt sao? Đã xây một công trình trên mặt đất thì phải có một hệ thống thoát nước tương xứng thêm vào để khắc phục ngập lụt. Chính quyền Hà Nội cũng như ở TP.HCM chỉ lo một phía và vẫn tiếp tục sự sai trái ấy là không thể chấp nhận được.

2. Tôi cảm ơn Sun Group đã có ý định tốt đẹp xây dựng một nhà hát tầm cỡ, đại diện cho bộ mặt của thủ đô nhưng xin các vị cùng những người đứng đằng sau cái ý định này cất hộ cái “lòng tốt” ấy đi cho.

Giữa thời buổi nhiễu nhương, tham nhũng tràn lan khắp nước, tôi không tin vào ý định “tốt đẹp” của các vị. Sự “tốt đẹp” ấy tôi tìm mãi không thấy, tôi chỉ nhìn thấy âm mưu chiếm đoạt đất, đền bù cho dân rẻ mạt để kiếm lợi.

Giả sử ý định ấy là tốt thật thì cũng nên dừng lại tại thời điểm này khi mà lòng tin của người dân đang rất thấp. Sự nghi ngờ giữa ích lợi một dự án mang lại cho người dân và lợi ích của một tập đoàn kinh tế và những người đang chống lưng cho họ chắc chắn đang tồn tại rất lớn.

3. Tôi thà chịu thiệt thòi không được biết đến cái nhà hát Opera của Sun Group còn hơn là phải chứng kiến cái công trình ấy sẽ góp phần làm cho thủ đô thêm ngập lụt, tắc đường, ô nhiễm, chật chội bức bối. Chưa có nhà hát Opera tầm cỡ thì dân chúng tôi chưa chết, nhưng ngập lụt, tắc đường, hít thở khói xăng sẽ làm chúng tôi chết sớm hơn và nhà hát của các vị xây dựng cũng vắng người xem.

4. Thay vì công trình xây dựng nhà hát Opera, tôi đề nghị Sun Group hãy xây một hệ thống thoát nước cho Hà Nội. Khi Hà Nội không ngập lụt nữa, người dân thủ đô sẽ vui mừng ủng hộ các dự án bay bổng trên trời, với cái ý định lo cho phần hồn của dân của các vị.

Hơn nữa, chẳng phải các vị đã xây một toà nhà to tổ chảng mấy chục tầng ngay sát Hồ Tây rồi sao? Công trình chềnh ềnh ngay sát mặt hồ như vậy đã mang lại nhiều lợi nhuận, vậy các vị đã làm gì để đóng góp giải quyết những vấn đề đang tồn tại của Hà nội?

5. Một Hà Nội ô nhiễm, tắc đường, ngập lụt, các vị đã không đóng góp gì để giải quyết thì đừng làm một công trình lấy bớt đường đi của dân, lấp một cái đầm sen gây thêm ngập lụt và tạo ra sự bức bối về môi trường sống của người dân.

Xây dựng một công trình lớn tại nơi không khí ít ô nhiễm nhất thì khác nào bóp nghẹt thêm hơi thở của người dân?

Bạn nào đang đói văn hoá, muốn có nhà hát Opera để được chăm sóc phần hồn, để có thể bay bổng cùng Sun Group thì vui lòng viết số 1. Bạn nào lo không thở được do ô nhiễm, tắc đường và lo không biết bơi lội vào mùa mưa ở Hà Nội và phản đối công trình này thì vui lòng viết số 0. Xin cảm ơn các bạn!

P.S: Theo quyết định cũ thì Sun Group được giao nhiệm vụ lập quy hoạch, đến năm 2021 thành phố có quyết định mới, điều chỉnh nhiệm vụ quy hoạch và giao cho UBND quận Tây Hồ. Tôi tin rằng đấy chỉ là một cách né dư luận bởi bản quy hoạch 1/500 đang được công bố vẫn theo nội dung mà Sun Group đã đưa ra, trong ấy có nhiều phân khu thương mại, dịch vụ, shop house và trung tâm vui chơi giải trí.

Căn nhà nhỏ đơn sơ, vách đất bần cùng của hàn sỹ dị thường Hữu Loan.

Hữu Vũ, con trai Hữu Loan, ngồi bên hiên nhà của ba mình ở Nga Sơn, Thanh Hóa, sáng 25. 6. 2019

Nếu Nga chiến thắng ở Ukraine, Quốc gia nào lo ngại sẽ là mục tiêu tiếp theo của Nga sau Ukraine?

Lmdc Viet Nam *** Nếu Nga chiến thắng ở Ukraine, Quốc gia nào lo ngại sẽ là mục tiêu tiếp theo của Nga sau Ukraine?

– Estonia, Latvia, Lithuania là các quốc gia vùng Baltic nằm ở đông bắc Châu Âu. Gruzia (Georgia), quốc gia nhỏ bé chỉ hơn 3,7 triệu dân ở vùng Caucas.

Tổng dân số 3 nước Estonia, Latvia, Lithuania hiện chỉ khoảng hơn 6 triệu người. Estonia, Latvia có đường biên giới với Nga. Estonia, Latvia, Lithuania bị Liên Xô xâm chiếm vào tháng 6/1940 và sau khi Thế chiến lần hai kết thúc vào năm 1945 thì 3 quốc gia này thuộc Liên Xô cho đến khi liên bang này sụp đổ vào năm 1991.

Gruzia (Georgia) nằm ngay cửa ngõ giao thương quan trọng nơi lục địa Á – Âu gặp nhau. Gruzia có xung đột với Nga từ ngày 1 đến 12/8/2008 tại vùng nam Ossetia. Kết quả sau cuộc chiến, Nga đã chiếm được 2 vùng của Gruzia gồm Abkhazia và Tskhinvali và vẫn duy trì sự hiện diện quân sự tại đây cho đến nay. Hai vùng này chiếm khoảng 20% lãnh thổ của Gruzia.

Hiện chỉ có Estonia, Latvia, Lithuania là thành viên EU và Nato. Gruzia chưa là thành viên của cả EU và Nato. Gruzia cho đến nay là một đối tác quan trọng và đáng tin cậy của Nato.

Gruzia đã công bố nguyện vọng muốn gia nhập Nato từ năm 2008 với cuộc trưng cầu ý dân. Tại Hội nghị thượng đỉnh Nato tại Bucharest (Romania) năm 2008 thì Gruzia đã được hứa về một ghế trong Nato thế nhưng sau 14 năm thì điều này vẫn chưa xảy ra.

Chỉ 1 tuần trước khi Nga xâm lược Ukraine, Bộ trưởng Quốc phòng Gruzia đã khẳng định Nato là cách duy nhất để giúp quốc gia này giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ.

Trong những năm gần đây, Estonia, Latvia, Lithuania và Gruzia đã nhiều lần cảnh báo Putin luôn có tham vọng đưa vào những nước này vào tầm ảnh hưởng. Cụ thể các nước Baltic này cho rằng Nato phải đưa thêm quân và gửi thêm máy bay chiến đấu vào khu vực

Phải biết rằng Nga hiện có thành phố Kaliningrad, nằm ở vùng Baltic, là điểm nóng chiến lược ngay trong lòng Nato.

Kẹp giữa Lithuania và Ba Lan, Kaliningrad là căn cứ của Hạm đội Baltic của Nga, lực lượng hải quân gồm khoảng 80 tàu mặt nước và tàu ngầm, cùng máy bay ném bom và bộ binh.

Kaliningrad là một trong những cảng chính dẫn ra biển Baltic và có một kho vũ khí hạt nhân luôn được Nga nâng cấp trong thời gian gần đây.

Theo Federation of American Scientists (Hiệp hội các nhà khoa học Mỹ) thì Nga hiện có kho vũ khí hạt nhân gồm khoảng 6.000 đầu đạn.

TL – BBC

CHỈ CHỌN MỘT ĐIỀU TỐI CẦN

CHỈ CHỌN MỘT ĐIỀU TỐI CẦN

Tác giả:  Lm Minh Anh

“Ngài cương quyết lên đường đi Giêrusalem!”.

Quốc huy Úc có hình con đà điểu emu và kangaroo. Chúng được chọn vì có chung đặc điểm là ‘chỉ tiến về phía trước’. Bàn chân ba ngón của emu khiến nó ngã nếu lùi lại; và kangaroo cũng không thể lùi lại vì chiếc đuôi lớn ngăn cản! Ai chọn đi theo Chúa Giêsu, là như Ngài, ‘chỉ chọn một điều tối cần’, chính Chúa Cha và thánh ý Ngài. Chỉ tiến về phía trước, không bao giờ lùi lại!

Kính thưa Anh Chị em,

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay cho thấy Êlisê của Cựu Ước và Giêsu của Tân Ước “Chỉ tiến về phía trước, không bao giờ lùi lại!”. Không phải các Ngài chọn một điều tốt hay một điều không tốt; nhưng thú vị hơn, họ đã chọn ‘một’ giữa hai điều tốt! Bởi lẽ, một điều tốt đôi khi lại trở thành kẻ thù của những gì tốt nhất; và chúng ta cần phải nói “Không” với một lựa chọn tốt, để ‘chỉ chọn một điều tối cần!’.

Câu chuyện sách Các Vua hôm nay thật dễ thương! Chúa sai Êlia đi xức dầu Êlisê; đến nơi, Êlisê đang cày ruộng, Êlia trải áo trên Êlisê. Lập tức, Êlisê bỏ cày, chạy theo Êlia. Nhưng thật bất ngờ, ngay sau đó, Êlisê xin về chào cha mẹ; Êlia bảo, “Con cứ đi!”. Lạ thay, trình thuật không đề cập việc tốt lành Êlisê về hôn cha mẹ, nhưng cho biết Êlisê “bắt đôi bò làm thịt, chẻ cày làm củi, quay thịt cho dân ăn; đoạn đi theo phục vụ Êlia”. “Chẻ cày”, biểu tượng của việc bỏ mọi sự, kể cả nghề nghiệp! Êlisê đáp lại tiếng Chúa, chọn Chúa, như ‘chỉ chọn một điều tối cần!’. Để từ đó, ông có thể reo lên với Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, Chúa là phần gia nghiệp của con!”.

Với bài Tin Mừng, những người vốn có thể trở thành môn đệ Chúa Giêsu đã không làm được điều Êlisê làm. Đó là những người Samaria, họ đã nghe nói về Chúa Giêsu; họ nóng lòng muốn nghe Ngài. Thế nhưng, sự tự tôn đã kìm hãm họ, buộc họ từ chối Ngài. Tự tôn dân tộc là một điều tốt, nhưng tin nhận Chúa Giêsu là điều tốt hơn! Cũng thế, những người đến gặp Chúa Giêsu, “Dù Thầy đi đâu tôi cũng theo Thầy”; “Xin cho phép tôi về chôn cha tôi trước đã”; hoặc, “Tôi sẽ theo Thầy, nhưng cho tôi về từ giã gia đình”. Trước sự kêu gọi khẩn thiết của Nước Trời, ‘chỉ chọn một điều tối cần’ là Thiên Chúa, các mối bận tâm về xã hội và gia đình phải lùi lại, “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngó lại sau lưng, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa!”.

Và giờ đây, chúng ta cùng chiêm ngắm con người Chúa Giêsu! “Ngài cương quyết lên đường đi Giêrusalem!”. Với Luca, Giêrusalem là tâm điểm cuộc đời Chúa Giêsu; là trung tâm, mà từ đó, công trình cứu độ vĩ đại được thực hiện. Giêrusalem, nơi Ngài sẽ chết và sống lại; và ở đó, các môn đệ sẽ lập một cộng đồng mới để tiếp tục công việc của Thầy; tại đây, Tin Mừng sẽ toả lan khắp cùng thế giới! Ngài cương quyết lên Giêrusalem, vì ở đó, Ngài hoàn tất ý định của Cha! Ngài không chọn một thành nào khác, một Capharnaum, vốn được coi là ‘thành của Ngài’, nơi Ngài rất thành công; Ngài chọn Giêrusalem định mệnh, như ‘chỉ chọn một điều tối cần!’.

Anh Chị em,

“Ngài cương quyết lên đường đi Giêrusalem!”. Giêrusalem được xem như mục tiêu tối hậu mà Chúa Giêsu đã chọn! Ý cha hay ý mình; được lòng các môn đệ, hay phải huấn luyện họ; được dân chúng tung hô hay chấp nhận bị họ ruồng bỏ… Và dầu cho bao ngăn cản từ bên ngoài cũng như từ nội tâm, Chúa Giêsu vẫn ‘chỉ chọn một điều tối cần’ là ý Cha! Lên Giêrusalem, Chúa Giêsu nêu gương và thách thức chúng ta chọn lấy ‘Giêrusalem của chính mình’; và dẫu là ‘thung lũng của sự chết’, Giêrusalem vẫn là hành trình mang lại sự sống cho bạn và tôi cũng như cho người khác. Cám dỗ của chúng ta là đi theo những con đường dễ dàng, con đường mà Phaolô qua thư Galata hôm nay gọi là “đam mê xác thịt”. Tuy nhiên, Phaolô quả quyết, chính Thần Khí sẽ thúc giục chúng ta phục vụ nhau trong yêu thương; con đường yêu thương phục vụ sẽ đưa chúng ta đến ‘Giêrusalem của chính mình’, cũng là con đường Thiên Chúa muốn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con phân tâm với bất cứ điều gì, nhưng mỗi ngày, ‘chỉ chọn một điều tối cần’ là chính Chúa và những gì Chúa ưa thích!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) .

NGÀY NÀO MANG NỖI ĐAU, TÔI MỚI HIỂU NỔI ĐAU LÀ GÌ …

NGÀY NÀO MANG NỖI ĐAU, TÔI MỚI HIỂU NỔI ĐAU LÀ GÌ …

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Một người mẹ đã chia sẻ với tôi như thế này :

Con xin phép được tâm sự với cha như người con đang gặp biến cố cần lời động viên của cha mẹ. Con khóc nhiều 4 năm nay khi con trẻ từ 1 đứa bé học giỏi, biết phụ việc nhà, đi lễ học giáo lý  phụ việc nhà thờ , giúp lễ cho các cha, lại trở mặt là 1 đứa con hư vì nghiện game, mà đau là ở nhà ko chơi game, đi học học giỏi cô phân công kèm cho bạn học kém  học để tổ và lớp ko có học sinh yếu, kém. Những bạn học kém lại là con nhà giàu ăn chơi đua đòi , đi học sài điện thoại xịn , và con trai của con đã học theo thói hư : trốn học ngồi quán chơi game, ăn cắp tiền bạn bè, ông bà , cha mẹ để có tiền chơi game, và chính thức hư luôn từ năm 2020, con khuyên con nhắc nhở đủ mọi biện pháp nhưng giờ đành bất lực buông tay. Khi con trẻ còn nhỏ, con đi làm việc bác ái ở đâu, hay giúp 1 hoàn cảnh ốm đau bệnh tật nào con cũng phân tích và hướng dẫn con trẻ hãy biết thương người kém may mắn, biết tiết kiệm ko ăn bánh kẹo để dành tiền làm việc bác ái mùa chay … mỗi khi con trẻ làm gì sai con phân tích chỉ dạy, nếu tái phạm , 3, 4 lần con mới đánh đít hoặc tay vài roi răn đe, còn lại toàn là khuyên và phân tích chứ ko kiểu dạy con cái gì cũng đánh.

Con tìm đến bác sĩ tâm lý để học cách dạy con, con tìm đến các Linh Mục và Sơ tâm sự để nhận lời khuyên cách dạy con, nhưng tất cả mọi cố gắng gần 5 năm nay đều đổ sông đổ biển cha ơi. Con suy sụp và nghĩ quẩn, có khi con thèm 1 giấc ngủ mãi không thức… Con xin phép chuyển những tin con viết cho con trẻ để cha đọc và hiểu cho nỗi khổ tâm của con. “nhìn cây biết trái ” và hãy “nhìn những việc họ làm đừng nghe những gì họ nói” .

Con mong có 1 phép mầu của Chúa xuống ơn cho con thời điểm này. Con buồn nhiều có khi chạy xe ngoài đường mà đầu óc lan man không tập trung nhém bị xe tông mấy lần, bác sĩ nói con hiện tượng  bị trầm cảm nặng rồi con không biết có đúng hay không, con chỉ biết là con buồn nhiều và thèm 1 giấc ngủ mãi không thức …

Đọc xong những dòng chia sẻ này, tôi lặng người và chỉ biết cầu nguyện.

Làm cha làm mẹ mà có con như thế này thì quả là đau khổ. Xin dâng gia đình này lên Chúa và xin Chúa hoán cải đứa trẻ để đứa trẻ trở nên người tốt.

Qua câu chuyện người mẹ đau khổ này, đến chuyện chẳng may của đôi vợ chồng nọ.

Cuộc sống quả là khó khăn, người thân phải đến bệnh viện chạy thận (1 tuần 3 lần) quả là điều không ai muốn.

Một cơn mưa chiều của Sài Gòn đã làm cho bao nhiêu người phải lúng túng trong đó có đôi vợ chồng đang dắt díu nhau vào viện để chạy thận.

Cơn mưa đang dịu, người chồng loay hoay đưa xe vào phía bên trong để chở vợ về. Và rồi người có trách nhiệm đã không vui. Câu chuyện còn nặng nề hơn nữa là người chồng đã được mời vào làm việc như là khiển trách chuyện đưa xe vào tận trong để đón vợ.

Dĩ nhiên nguyên tắc vẫn là nguyên tắc nhưng vẫn còn đó chút tình người. Vợ bị thận và giờ chuyển biến đến 2 con mắt bị lòa để rồi khả năng di chuyển thật là khó. Tiếc thay những người bảo vệ không đồng lòng và thông cảm cho phận người không may mắn nọ.

Đọc xong tự sự của người chồng, tôi lại chạnh lòng với hoàn cảnh của họ. Thật sự chả ai muốn rơi vào cảnh chẳng đặng đừng của bệnh tật, của hạn chế của sức người. Nỗi đau càng chồng thêm đớn vì như không một người thông cảm.

Nghe ngóng từ người thân và câu chuyện đôi vợ chồng dính mưa, nhiều để rồi đôi khi dân cũng khổ cùng với cơn mưa chiều dường như rất  vội như đè thêm gánh nặng của gia đình nọ và bao nhiêu người khác nữa. Cơn mưa đã làm cho nỗi đau cũng như khốn khó của nhiều người càng thêm khổ.

Vùng tôi đang ở dường như mưa không thèm ngó ngàng đến. Ở đây chúng tôi thèm một cơn mưa nhỏ chứ cũng chả dám xin cơn mưa dài. Đời sống người dân ở đây cùng khốn nay lại khốn. Ở cái vùng nghèo này phải nói rằng cây mì cây bắp cũng lỳ đòn lắm nhưng cũng không chịu được những cơn nắng dữ. Cái nghèo dường như nó mến dân ở vùng này như trầu yêu mến cau vậy.

Người đồng bào khổ đã đành, người Kinh ở vùng này cứ loay hoay mãi để tìm kế sinh nhai.

Sáng hôm nay, nghe những lời chân thật của những bạn Giáo Lý  Viên nhiệt tâm muốn ra giúp nhà thờ nhưng cuộc sống khó khăn đè nặng mà lòng tôi lại quặn đau. Có khi họ cũng muốn tham dự Thánh Lễ, có khi họ cũng muốn ra giúp Giáo Lý nhưng có những hoàn cảnh không có tiền để đổ xăng.

Vậy đó, ở đời mà! Ai ai cũng có nỗi đau riêng của người đó để rồi ngày nào mình mang nỗi đau mình mới hiểu nỗi đau là gì? Tôi cũng có những nỗi đau và ưu tư của riêng tôi chứ! Trong thân phận làm người, như ước mong của người chồng có vợ đang phải chạy thận ước ao: “Thánh Giá khi nào nở hoa!”

Vâng! Thánh Giá vẫn nở hoa cứu độ khi treo Con Người chịu chết trên đó để rồi những ai cùng hiệp thông với sự đau khổ với Người ở trên Thánh Giá cũng sẽ được phần phúc vinh quang với Ngài.

Xin Chúa cho mỗi chúng ta (cho kẻ mọn này) đủ sức để vác Thánh Giá mà Chúa trao ban cho đến hết cuộc đời cũng như xin cho mỗi chúng ta được phúc trường sinh với Đấng chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá.

Lm. Anmai, CSsR

 

Giữa Rắn & Người -­ Tưởng Năng Tiến

Giữa Rắn & Người -­ Tưởng Năng Tiến 

Báo Tiền Phong vừa ái ngại loan tin: “Đang ngủ, bé gái 4 tuổi bị rắn cạp nia bò vào nhà cắn tử vong… Trưa ngày 22/5, trao đổi trên báo Công an Nhân dân, ông Sô Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa (Phú Yên) cho biết, 5 ngày sau khi bị rắn cạp nia cắn, cháu Sô Thị Như N., dân tộc Chăm (SN 2018, trú ở buôn Ma Y, xã Phước Tân) đã tử vong rạng sáng 22/5.

Bác sĩ Phạm Văn Minh, Giám đốc Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Phú Yên cho biết, ngay sau khi tiếp nhận bệnh nhân vào lúc 2h30 sáng 16/5, các y bác sĩ khoa hồi sức cấp cứu tiến hành cho bệnh nhân thở máy. Tuy nhiên, cơ sở y tế này không có huyết thanh kháng nọc rắn cạp nia nên phải liên hệ một bệnh viện ở TP Hồ Chí Minh vẫn không có. Do diễn biến bệnh trạng thêm nặng nên sau 5 ngày cấp cứu tại bệnh viện, gia đình đã đưa cháu N. về nhà trong đêm 21/5, đến rạng sáng 22/5 thì nạn nhân tử vong…

Bỉnh bút Du Uyên (Trẻ Magazine, Dallas, TX) cảm thán:

Tôi đã rơi nước mắt khi đọc bản tin trên, vì tức (hộc máu). Không biết nếu sự việc xảy ra ở các nước khác, Bộ y tế VN, giám đốc phụ trách bệnh viện trên có bị gia đình em bé kiện trọc đầu hay không? Nhưng ở VN, vụ kiện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Không giám đốc bệnh viện VN nào bị khởi tố vì tưởng mấy ông giám đốc bệnh viện khác có loại dược liệu đó. Không ông Bộ trưởng y tế VN nào cúi đầu xin lỗi gia đình bệnh nhân chết vì rắn cắn cả – lỗi do con rắn mà.

Thì rõ ràng là thế (“lỗi do con rắn mà”) nhưng báo Tuổi Trẻ vẫn đặt vấn đề: “Bệnh nhi tử vong do rắn cắn: Vì sao bệnh viện không có huyết thanh?” Trưởng khoa bệnh nhiệt đới bệnh viện Chợ Rẫy, TS.BS Lê Quốc Hùng, cho biết: “Không có huyết thanh kháng nọc rắn cạp nia từ một năm nay. Loại huyết thanh này được nhập từ nước ngoài, cụ thể là Thái Lan. Hiện tại do ảnh hưởng của dịch COVID-19, huyết thanh kháng cạp nia chưa được sản xuất, Việt Nam chưa thể nhập được, do vậy không có thuốc để điều trị cho bệnh nhân.”

Hóa ra, ngoài chính phạm là con rắn cạp nia; còn có đồng phạm là con Covid 19 nữa đấy. Hai sinh vật nguy hiểm (chết người) này – tuy thế – vẫn có thể “khắc phục” được bằng tiền, nếu có! Gia đình nạn nhân, tiếc thay, không có. Họ vốn là người dân bản địa khốn khó (ở miền núi Sơn Hòa – Phú Yên) nên đành phải bó tay.

Họ nghèo, quá nghèo, và cũng không biết “thủ tục đầu tiên” của cư dân ở miền xuôi khi nhập viện. Hà Nội và Sài Gòn đều không có huyết thanh, chứ Bangkok thì thiếu (mẹ) gì và rẻ rề hà. Mà khoảng cách giữa Việt Nam với Thái Lan chỉ hơn một giờ bay thôi, trong khi bé N. nằm ở nhà thương đến …  ngày thứ năm mới lìa đời. Giá bố mẹ em có khả năng dấm dúi đôi ba cái phong bì thì đâu đến nỗi!

Ở hay! Ở đâu mà người nghèo không chết, chứ nào có riêng chi xứ Việt?

Đành thế nhưng vẫn có sự dị biệt đáng nói là ở nước ta thì dù có tiền (đôi khi) vẫn chết, nếu mua nhằm thuốc giả đang tràn lan trên thị trường – theo thông tin của giới truyền thông nhà nước:

Tuy cấp phép cho 838.100 hộp thuốc giả, và ký giấy cho nhập gần chục tấn chất tạo nạc (Salbutamol) độc hại nhưng ông Cường chỉ bị lãnh một bản án rất tượng trưng (bốn năm tù) khiến dư luận hết sức bất an.

Bỉnh bút Nguyễn Hoàng (Diễn Đàn Doanh Nghiệp) băn khoăn: “Liệu công lý có qua xa vời? Bởi khi và chỉ khi công lý được thực thi bằng lẽ phải và sự công bằng khiến người dân tin tưởng, thì khi đó công lý mới đích thực của dân do dân và vì dân. Công lý nào cho bệnh nhân ung thư dùng thuốc giả của VN Pharma!”

Vụ VN Pharma, thực ra, chỉ là chuyện nhỏ (cỡ con thỏ là cùng) nếu so với vụ Việt Á – theo nhận định của nhiều vị thức giả:

  • Nhà bình luận thời sự Trương Nhân Tuấn :“Vụ Việt Á là một đại án giết người có tổ chức.”
  • Nhà thơ Thái Hạo: “Tôi cho rằng chính cách gọi tên là ‘Vụ án Việt Á’ đã gây hiểu lầm và hiểu sai về quy mô cũng như tính chất của vụ đại án này. Nó cần một cái tên gọi khác để phản ánh đúng về một liên minh ma quỷ mà trong đó công ty Việt Á chỉ một mắt xích, cái mắt xích dường như không hề có vai trò quyết định trong việc đạo diễn vở đại bi kịch này trên đất nước ta.”
  • T.S Phạm Quý Thọ: “Vì sao một doanh nghiệp ‘tép riu’ khiến cả guồng máy trục lợi và hệ thống quan chức suy thoái?”
  • Họa sỹ Đỗ Duy Ngọc: Trong vụ án đốn mạt này còn có ai nữa chưa bị lộ mặt. Kẻ gọi là “Trùm cuối” là ai? Nếu chủ trương không có vùng cấm, không có ngoại lệ thì xin đề nghị hãy làm đến tận hang ổ cuối cùng.
  • Nhà báo Nguyễn Vũ Bình: “Đại dịch cho thấy một hệ thống truyền thông dối trá, bịp bợm; một hệ thống tham nhũng thối nát từ trên xuống dưới, ăn không từ một thứ gì xuất hiện và liên quan đến đại dịch; sự vi phạm quyền con người trắng trợn dưới nhiều hình thức; hệ thống quan chức ngu dốt; cuối cùng là một hệ thống nhóm lợi ích siêu quyền lực đã tạo ra cả hệ thống chính sách để trục lợi, một sự lũng đoạn nhà nước quy mô khủng khiếp…”

Mức độ “khủng khiếp” này được một người cầm viết khác, Bùi Thanh Hiếu, ghi nhận như sau:

“Bao nhiêu người dân nghèo, người công nhân ở mọi miền đất nước phải móc tiền ra để trả cho cái gọi là xét nghiệm covid, cái thứ được làm không biết ở đâu, trong cái cơ sở chỉ vài chục mét vuông với giá cắt cổ, để rồi phần lớn số tiền đó vào tay bọn quan lại tham nhũng. Ăn như thế là ăn thẳng từ máu, nước mắt, mồ hôi của dân. Ăn đất, ăn dự án, ăn nọ kia , cướp của nhau chưa đủ. Giờ còn thẳng thừng cướp trực tiếp vào máu toàn nhân dân. Tội của bọn này còn đáng chết ngàn vạn lần tội của kẻ khác.”

Thực cũng khó mà kết luận (hay bình luận) ai “đáng chết” hơn ai. Những câu chữ thống thiết thượng dẫn chỉ khiến tôi nhớ đến đến lời của một nhân viên ở trại rắn Đồng Tâm – huyện Châu Thành – đọc được trên báo Tuổi Trẻ hôm 24 tháng 5 năm 2022:

“Từ ngày 1-5 đến nay, trại rắn này đã tiếp nhận 139 ca bị rắn lục đuôi đỏ và rắn hổ cắn. Trung bình mỗi ngày trại tiếp nhận từ 6-7 ca bị rắn cắn từ các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Long An… chuyển đến. Nguyên nhân do vào mùa mưa nên số ca bị rắn cắn tăng.”

Dù là đang vào mùa mưa (và dù là một xứ sở thuộc vùng khí hậu nhiệt đới) số người dân Việt chết vì rắn rít thật không đáng kể, chỉ vài ba mạng mỗi ngày. Đây là một con số nhỏ  – rất nhỏ – nếu so với số lượng tử vong gây ra bởi sự nhẫn tâm (hay nói chính xác hơn là ác tâm) của đám quan chức lãnh đạo ở đất nước này.

Tưởng Năng Tiến
6/2022

Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử – Phạm Tín An Ninh

Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử

June 24, 2022

Phạm Tín An Ninh

CALI TODAY NEWS – Đầu năm 2022, tôi bất ngờ đọc được bài viết “Níu Một Đời, Giữ Một Thời” của tác giả Ban Mai, một nhà văn trẻ trong nước. Cô đang là giáo sư giảng dạy về Khoa Học Công Nghệ và Hợp Tác Quốc Tế tại Trường Đại Học Qui Nhơn

Mở đầu bài viết, tác giả đã vẽ lại bức tranh đen tối, kinh hoàng sau ngày 30.4.75:

“…phần lớn người Miền Nam làm việc cho chính phủ Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Cuộc sống của nhiều gia đình đảo lộn. Vì sau khi đổi đời, họ bị thất nghiệp, nhiều người lâm vào cùng quẫn. Cảnh quan thành phố tiêu điều xơ xác, thiếu lúa gạo khiến dân phải ăn độn bo bo và mì sợi. Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức Miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thu tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương Miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên…

 Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật Miền Nam vô cùng gía trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…”

Và tác giả cho biết sự tình cờ được may mắn tiếp cận với dòng văn chương miền Nam:

“Mùa hạ năm 2010, tôi tình cờ đọc bài viết của nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu về tác phẩm “Những cơn mưa mùa Đông” của tác giả Lữ Quỳnh do nxb Thư Ấn Quán ở Mỹ xuất bản, thời gian này tôi đang tìm hiểu dòng văn chương Miền Nam nên liên hệ, ngay lập tức nhà văn Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh trả lời, tôi biết họ từ ngày ấy.

Bắt đầu từ đó, tôi tìm đọc dòng văn chương Miền Nam Việt Nam do nxb Thư Ấn Quán phát hành, vì ngày xưa trước năm 1975 tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì, tôi sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn, thuộc Miền Nam Việt Nam vì vậy tôi không muốn văn chương Miền Nam bị thất lạc và bôi xoá, tôi cần phải tìm hiểu và phổ biến lại cho thế hệ trẻ ở trong nước biết.

Thật may mắn, mùa thu năm 2011 nhà thơ Vũ Trọng Quang từ Sài Gòn photo cho tôi trọn bộ “Văn Miền Nam” (4 tập) và 2 tập “Thơ Miền Nam thời chiến” do Thư Ấn Quán phát hành năm 2009. Cuốn sách mới nhất tôi được Trần Hoài Thư tặng là cuốn “Những tạp chí Văn học Miền Nam” do ông sưu tầm và nhận định in năm 2018, ông đã sưu tầm được 15 tạp chí đã từng xuất bản ở Miền Nam Việt Nam gồm các tạp chí: Ý thức, Bách khoa, Văn, Sáng tạo, Khởi hành, Vấn đề, Trình bày, Thời tập, Hiện đại, Văn nghệ, Nghệ thuật, Mai, Văn học, Văn hóa nguyệt san, Tình thương.

Nhờ ông, tôi có được một cái nhìn khái quát về diện mạo nền văn chương Miền Nam Việt Nam mà hiện nay ở trong nước đã không còn nữa.

Nếu không có ông, làm sao tôi biết 462 tác giả trong 2 tập “Thơ Miền Nam trong thời chiến”, mà phần nhiều là những người lính cầm bút đã chết, đó là “những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rỏ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”

Cuối bài, tác giả có nhiều lạc quan về cái nhìn của một một số trí thức trẻ trong nước và kêu gọi sự tiếp tay của mọi người trong trách nhiệm “bảo tồn và chia sẻ Văn Học Miền Nam cho đời sau”.

“Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm Văn học Miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn: “Ta về như lá rơi về cội/Bếp lửa nhân quần ấm tối nay/Chút rượu hồng đây xin rưới xuống/Giải oan cho cuộc biển dâu này”. Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng Văn chương Miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ Văn học Miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam.”

Đọc bài viết của tác giả Ban Mai, tôi bỗng nghĩ ngay đến một người khác, mà diện mạo của ông trong lĩnh vực này lúc nào cũng sáng lên trong suy nghĩ và hy vọng của tôi: Nhà văn Đỗ Trường.

(nhà văn Đỗ Trường)

Đỗ Trường người Nam Định, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm năm 1980. Sau thời gian theo học Khoa Anh Ngữ tại Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, năm 1987 ông nghỉ học, đi buôn rồi theo lao động xuất khẩu sang CHDC Đức. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, ông ở lại và cùng cả gia đình định cư tại thành phố Leipzip, CHLB Đức. Tác phẩm đầu tay là tập truyện “Không Bao Giờ Thành Sẹo” do Vipen xuất bản 2013. Sau đó là “Về Miền Ký Ức” (tạp bút),“Đất Nước Với Những Đường Cong”, “Không Thể Sống Trong Im Lặng”, “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” (xuất bản năm 2019, là một tác phẩm đặc biệt nói về những khổ nạn mà chính quyền CS Việt nam đã hành xử đối với ông, vì những bài viết của ông), và mới nhất là “Men Còn Đọng Lại Đáy Vò”, viết về một số tác giả tiêu biểu, những người lính cầm bút miền Nam (Nhân Ảnh xuất bản năm 2022.) Ngoài ra, là một loạt các truyện ngắn, tùy bút, ký sự, biên khảo đựợc độc giả khắp nơi đón nhận khá nồng nhiệt.

Sự nghiệp văn chương chưa dày lắm, nhưng tên tuổi ông đã nổi bật cả trong lẫn ngoài nước, bởi các bài nghiên cứu khá tường tận, với những nhận định một cách khá công tâm, sâu sắc, tinh tế về nềnvăn học miền Nam, đặc biệt qua những tác giả vốn là những người lính cầm bút trong và sau cuộc chiến.

Lần đầu tiên tôi biết và đặc biệt lưu ý tới Đỗ Trường, cách nay hơn mười năm, khi đọc được bài viết “Những Giải Văn Học Không Có Thật”. Ông phê phán (có thể gọi là lên án) Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hà Nội đã trao giải thưởng cho tác phẩm Dị Hương của một tác giả trong nước:

“Ngắc ngứ mãi, rồi tôi cũng đọc xong truyện ngắn Dị Hương của Sương Nguyệt Minh. Quả thật, ngoài những pha làm tình mang dáng dấp từ truyện Đồi Thông Hai Mộ, Gia Long Nguyễn Ánh hiện lên đậm tính lục lâm thảo khấu với giọng văn kiếm hiệp phương Bắc. Còn lại tôi không tìm được điều gì khác tác giả muốn chuyển tải đến người đọc.”

Để rồi ông nhận định thêm về “hiện tượng” đa số các cây bút trong nước lúc ấy:

“Trong khi viết về chiến tranh, các cây bút trong nước thật sự chưa có cái nhìn công bằng với những người quân, cán của VNCH. Họ vẫn hiện lên đầy rẫy ở các tác phẩm với những hình ảnh méo mó, với những tên gọi xếch mé. Gần đây nhất tôi mới thấy các cây viết trong nước ca ngợi một người lính VNCH, vì anh có công cùng với người lính Mỹ cất giữ cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm, để hôm nay chúng ta mang ra phát động tuyên truyền. Chúng ta hãy bình tâm đọc lại những vần thơ của nhà thơ Trần Trung Đạo, anh là một thuyền nhân. Cũng viết về người lính, nhưng anh không phân biệt đâu lính VNCH, hay là anh bộ độ…”

Sau này, qua nhiều bài giới thiệu, nhận định, phê bình về một số tác giả và tác phẩm miền Nam của ông, tôi dần dà có nhiều thiện cảm và đánh giá cao về khả năng văn chương, đặc biệt ý thức về một nền văn học mà cá nhân ông trước đây chưa từng biết qua, và chắc chắn khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã từng bị đầu độc đó là loại “văn chương phản động”, “văn chương đồi trụy” mà sau tháng 4 /1975 chính quyền Cộng Sản tìm mọi cách hủy diệt, nhưng không thể.

Ông nghiên cứu và viết khá nhiều về những tác giả, tác phẩm miền Nam. Một số tôi đã đọc được:

  • Trần Trung Đạo – Tiếng Vọng Từ Bên Kia Đại Dương
  • Luân Hoán – Người Kể Chuyện Bằng Thư
  • Vũ Hữu Định – Đường Đi Không Đến
  • Vũ Hoàng Chương – Lạc Loài Trong Cõi Nhân Sinh
  • Đinh Hùng – Con Đường Thi Ca Độc Đạo
  • Hòa Thượng Thích Như Điển – Chân Dung Một Nhà Văn
  • Du Tử Lê – Đời Lưu Vong Chưa Tận Tuyệt Với Linh Hồn
  • Phạm Tín An Ninh – Con Đường Giải Oan Cho Một Cuộc Bể Dâu
  • Cao Xuân Huy – Người Vẫn Không Thể Thoát Ra Khỏi Cuộc Chiến
  • Tô Thùy Yên – Tiếng Thơ Lầm Than Hào Kiệt Từ Một Thời Khủng Khiếp, Một Vận Phân Ly
  • Nguyễn Đức Sơn – Chập Chờn Trong Cõi Hư Vô
  • Thảo Trường – Những Mảng Ghép Của Chiến Tranh
  • Duyên Anh – Từ Cảm Xúc Cho Đến Tận Cùng Của Con Chữ
  • Trần Hoài Thư – Người Ngồi Vá Lại Những Linh Hồn…
  • Trần Hoài Thư Với Những Vần Thơ Lúc Nửa Đêm
  • Nguyễn Bắc Sơn – Một Đặc Phẩm Của Thi Ca Miền Nam
  • Phạm Ngọc Lư – Người Vẫn Giữ Lửa Cho Văn Học Miền Nam
  • Tùy Anh – Từ tháng Tư buồn đến nỗi đau biệt xứ
  • Phan Nhật Nam – Hè Vẫn Còn Đỏ Lửa
  • Nguyễn Tất Nhiên – Một Trường Thiên Kịch Bản Bi Ai
  • Cao Đăng Khánh – “Lửa Ngoài Giới Hạn” Chúng Không Tạ Từ
  • Nguyễn Nho Sa Mạc – Một Ngôi Sao Xẹt Qua Bầu Trời Thi Ca
  • Lữ Quỳnh – Chiếc Cán Cân Của Văn Học Miền Nam
  • Song Vũ – Người Vẫn Chưa Thể Bước Ra Khỏi Cuộc Chiến
  • Trạch Gầm – Một Giọng Thơ Độc Đáo
  • Cung Trầm Tưởng – Từ Chuyện Tình Lãng Mạn Đến Hồn Thơ (Thế Sự) Lưu Đày

Đặc biệt, trong bài “Văn Học Miền Nam – Một Góc Nhìn” được viết  ngày 16.11.2021, nhà văn Đỗ Trường đã có cái nhìn rất sâu sắc về Văn Học Miền Nam, đặc biệt hai khía cạnh Hiện Thực và Nhân Bản. Xin trích đoạn một số  tiêu biểu:

…tuy bị bức tử, song cũng như âm nhạc, sức sống của nền văn học ấy vẫn mãnh liệt lắm. Nó không chỉ âm thầm đi sâu vào lòng người ở ngay đó, mà còn sinh sôi nảy nở ngoài cương thổ, nơi có mấy triệu người Việt nữa kìa!

…có được sức sống lâu dài ấy, cũng bởi Văn học miền Nam chứa đựng những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Hai giá trị cơ bản của văn học này, dường như ta rất ít gặp ở những tác phẩm ngoài Bắc trong cùng giai đoạn chiến tranh 1954-1975, bởi tính tuyên truyền đã bóp nghẹt những giá trị ấy. Dù miền Bắc có rất nhiều nhà văn tài năng

…dù bị đánh tráo khái niệm, hay khoác cho một chiếc áo, một tên gọi mới, thì thực chất Văn học miền Nam không hề bị méo mó, đổi thay. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đi sâu vào cái giá trị hiện thực, và nhân đạo của Văn học miền Nam (trong chiến tranh) dưới ngòi bút của những nhà văn người lính mà thôi.

…Có thể nói, chiến tranh tuy tàn khốc, nhưng đã sản sinh ra một loạt các nhà văn, nhà thơ tài năng xuất thân từ những người lính: Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Thảo Trường, Tô Thùy Yên, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, Trần Dzạ Lữ… Những tác phẩm còn nguyên mùi khói thuốc, vang tiếng đạn bom của họ như một luồn gió mới làm thức tỉnh, và giải tỏa sự bế tắc của Văn thơ miền Nam đang gà gật lúc đó. Và những tác phẩm ấy gắn liền với hiện thực của xã hội, sự tàn khốc chiến tranh, cũng như thân phận người lính.

…Có thể nói, những nhà văn miền Nam (1954-1975) không chịu ảnh hưởng, chi phối bởi bất kể thế lực, đảng phái nào. Cái tôi, và tự do tư tưởng, sáng tạo của họ đã được coi trọng, phát triển. Với tư tưởng như vậy, nên nền Văn học miền Nam được hình thành bởi những giá trị hiện thực, và nhân đạo là điều hiển nhiên. Với tôi đó chính là một nền văn học đích thực.

…Nếu không có thơ văn đích thực, thì chúng ta và các thế hệ sau này chắc chắn sẽ không hiểu sự thật về bản chất của cuộc chiến này, cũng như tâm trạng người lính với những năm tháng tang thương đó. Văn học như một chiếc cầu nối lịch sử đến với con người vậy. Và chính những nhà văn người lính đã nối những nhịp cầu ấy. Thật vậy, giữa sự sống và chết rất mỏng manh nơi chiến trường, vậy mà ta vẫn thấy tính nhân bản của con người chợt hiện lên…Và cái tình người ấy, dường như xuyên suốt trang thơ của người lính.

Trong bài “Phạm Ngọc Lư -, Người Vẫn Giữ Lửa Cho Nền Văn Học Miền Nam”, (khi đang ngồi đọc Văn thơ miền Nam 1954-1975, tác giả chợt nhớ đến nhà thơ Phạm Ngọc Lư, sống trong nước, gốc giáo chức (theo lệnh động viên nhập ngũ vào khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nhưng chỉ một thời gian ngắn, được biệt phái trở lại ngành giáo dục), sau 1975  dù phải sống đời lang bạt khốn cùng, nhưng vẫn tiếp tục sáng tác những bài thơ (hành) đầy khí khái miền Nam, nhà văn Đỗ Trường đã viết:

“…Từ độ“đất trời dị biệt, gió mây bất đồng” thì nền Văn học miền Nam bị khai tử. Và tròn bốn mươi năm, tưởng chừng nó cũng đã chìm vào lãng quên. Nhưng nhìn lại, dường như dòng văn học ấy vẫn nảy nở, âm thầm chảy trong lòng đất Việt. Có thể nói, ngay sau biến cố 1975 dòng chảy đó tự chẻ ra như những nhánh sông luân lạc… rồi tìm về, tụ lại đó đây. Tuy chưa thể cháy lên, nhưng nó đã cùng với những nhà thơ, nhà văn hải ngoại làm ấm lại phần nào cho nền Văn học miền Nam.

Nếu được phép đi tìm những khuôn mặt cho Văn học miền Nam còn ở lại trong nước, chắc chắn thi sĩ tôi nghĩ đến trước nhất phải là Phạm Ngọc Lư. Tuy viết không nhiều, nhưng cốt cách Con Người cũng như hồn vía văn thơ của ông trong một cái xã hội dối trá lọc lừa, không phải ai cũng giữ được.”

Không chỉ viết về những tác giả, tác phẩm của Văn Học Miền Nam, nhà văn Đỗ Trường cũng đã viết về một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu miền Bắc. Ông ca ngợi tài năng, sự thành công và cả thái độ “phản tỉnh”của họ, nhưng cũng đã thẳng thắn phê phán những trường hợp sai lầm, tiêu cực:

-Trong bài “Vài Suy Nghĩ Về Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh Của Nguyên Ngọc” có một đoạn nhà văn Đỗ Trường viết:

“Đọc “Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh” của nhà văn Nguyên Ngọc, tuy rất khoái, nhưng tôi cảm thấy còn chút lăn tăn. Bởi, không chỉ Nguyên Ngọc, mà một số nhà văn trong nước vẫn còn luyến tiếc cái Trường viết văn Nguyễn Du. Một cái trường, dường như có tác dụng hợp thức hóa bằng cấp cho các bác vừa từ chiến trường trở về thì đúng hơn. Chứ các bác đã thừa biết, có cái trường quái nào đào tạo được nhà văn, nhà thơ đâu. Do vậy, không những giải tán cái trường này, mà các bác nên giải tán luôn cái Hội nhà văn, cái Văn Nghệ Quân Đội, cũng như các trường báo chí tuyên truyền, trường luật pháp cùng các đoàn, trường nghệ thuật quân đội đỡ gánh nặng thuế má của người dân

Tôi đồng ý với Nguyên Ngọc về sự đánh giá cao Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Tuy nhiên, cuốn sách này còn không ít những đoạn Bảo Ninh lên gân, và bốc phét hơi bị nghĩa lộ, chứ không toàn bích như Nguyên Ngọc đã viết

Cách nay vừa tròn hai mươi năm(1993), tôi có về Hà Nội, gặp được ông em họ vừa ở tù ra vì can tội là lính thám kích, quân đội VNCH. Tôi có đưa cho hắn cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh. Đọc xong, hắn bảo, ông Bảo Ninh viết hoàn toàn sai về người lính VNCH. Như câu chuyện bốn người lính thám kích bị bắt, tác giả viết một cách không đúng sự thật. Từ cách mô tả hành động đến thuật lại những mẩu đối thoại của những người lính thám kích này.

Lính thám kích được chọn, hầu hết còn trẻ, gan dạ và có bản lãnh. Họ không thể nào quá hèn hạ, van xin như Bảo Ninh kể. Nếu có xin tha đi nữa, thì cách nói và những lời nói ấy, nhất định không phải của họ. Điều này hắn khẳng định không thể có. Người lính thám kích đã được giáo dục về nhân cách, ngay sau khi đã được tuyển chọn. Trong nhiệm vụ đặc biệt, những toán thám kích cần phải tránh nổ súng, tránh bị phát hiện, trừ trường hợp, tự vệ, bất khả kháng. Cho nên, không thể có trường hợp phát hiện, bắt ba cô gái, rồi dẫn đi nhởn nhơ như vậy, để nhóm của Kiên tóm được. Hơn nữa, trong trường hợp đã bị bắt, trước sự sống chết, không thằng nào ngu xuẩn, nói giọng trêu cợt: Ba nhỏ đó trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi… Mấy nhỏ la khóc quá trời..

Hắn cũng cho rằng, cuốn truyện còn nhiều cảnh tưởng tượng quá mức, như trường hợp, một đám lính, làm thịt con xà niêng, nhưng sau khi cạo lông mới phát hiện ra đó là một người đàn bà.

Tôi viết lại lời hắn theo trí nhớ của mình. Và còn nhiều lời nặng nề khác của hắn về Nỗi Buồn Chiến Tranh, nhưng tôi xin phép không chép ra đây. Hắn ra người thiên cổ đã lâu. Vài dòng như một chút tưởng niệm đến hắn và những người lính cả hai miền Nam-Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua.”

Trong bài “Hữu Loan – Tài Năng Và Sự Mâu Thuẫn Trong Tư Tưởng Cũng Như Thi Ca”, (viết nhân 10 năm ngày mất của thi sĩ Hữu Loan), nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra một vài chi tiết mà gần như hầu hết trong chúng ta chưa được biết về tác giả bài thơ nổi tiếng“Màu Tím Hoa Sim” này:

“Khó hiểu, và bất ngờ hơn nữa, trong cùng một thời điểm Hữu Loan viết bài ngợi ca: Chế Độ Ta, khác hẳn với sự châm biếm, đả kích ở bài: Cũng Những Thằng Nịnh Hót. Sự mâu thuẫn, nhức nhối này, làm cho người đọc một cảm giác “Cây gỗ vuông chành chạnh” Hữu Loan, dường như còn một khuôn mặt khác nữa:

“…Chế độ ta
Đến đâu
Mặt trời theo
Đến đấy
Chế độ ta
Đã dạy
Cho mặt trời
Công bình…

Chế độ ta
Không còn hành khất
Không còn người ăn sương
Nhân loại cần lao
Lớp lớp
Lên đường
Mặc áo muôn màu
Hát muôn thứ tiếng
Tay nắm tay thân mến
“Ta giữ hòa bình
Cho chế độ ta đây…”

Có thể nói, Hữu Loan có cái nhìn méo mó về Hà Nội và Saigon, cũng như cuộc di cư của hơn một triệu đồng bào miền Bắc (sau1954), khi ông viết bài Đêm vào tháng 5/1956. Qủa thực, dưới cái tư tưởng, quan điểm phiến diện như vậy của Hữu Loan, Hà Nội trước kia, và Saigon hôm nay (1956), hiện lên trong thơ như một thứ ung nhọt, giang mai cùng mã tấu. Sự đĩ điếm, bỉ ổi ấy, càng rõ nét hơn dưới phép so sánh của ông: “Đêm Hà Nội/ Ngày nay/ Như em nhỏ nằm tròn/ Ru trong nôi chế độ”. Cái khía cạnh, và sự ru ngủ này, trong thơ Hữu Loan, dường như ít được các nhà nghiên cứu, và phê bình nhắc đến:

“…Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Lõa lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả

Những đêm Sài Gòn
Ngày nay
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mưng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà-phê
100$ 1 con gái…”

Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn

Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên”

Sau 1954, những thi sĩ, nhà văn cùng thời như, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, hay Nguyễn Tuân… đều phải đảo bút, úp mặt quay lưng vì cuộc sống là điều dễ hiểu. Song với Hữu Loan một nhà thơ thẳng thắn, và can trường là một điều thật khó lý giải. Do vậy, cần lắm một sự nghiên cứu của các bậc tiền bối từ trong nước ra đến hải ngoại, để làm sáng tỏ một cách chân thật nhất về nhà thơ tài năng, đáng kính Hữu Loan.

Và một trong nhiều trường hợp thay đổi tư duy ngược lại: nhà thơ Đinh Thị Thu Vân (trong Hội Văn Nghệ Long An)

“…ngay từ những ngày đầu cầm bút Đinh Thị Thu Vân đã hồ hởi, reo vui: “Tháng Tư ơi xin đẹp mãi tâm hồn.”. Và Ba mươi tháng Tư đến, nhà thơ như cởi bỏ dĩ vãng, gột rửa được tâm hồn. Lời tự thú ấy đã được Đinh Thị Thu Vân viết thành thi phẩm: Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư, rất đồng điệu với khí thế hừng hực của những ngày sau 30-4-1975. Quả thực, nó chẳng khác gì một bản kiểm thảo trước chi bộ đảng đoàn vậy

“…Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư
Em giờ vẫn như thuở nào, sợ tay mình lấm đất
Sẽ không biết tự khuyên mình những lời nghiêm khắc nhất
Không một lần dám sống hy sinh
Và giữa dòng người cuộc sống gấp bon chen
Em đâu biết tin ai một điều gì tuyệt đối
Em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối
Còn nửa tim kia đành giữ lại… để nghi ngờ

—-

Sẽ… rất nhiều, anh hiểu phải không anh
Ngày tháng trước em là con ốc nhỏ
Con ốc đa nghi cuộn mình trong lớp vỏ
Sống vô tình mà ngỡ sống thông minh…”

Nếu “Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư” là lời tự thú, để rũ bỏ quá khứ, gột rửa tâm hồn, thì đến với “Saigon Đau” lại là sự tìm về dĩ vãng, trong cái tiếc nuối và nỗi đau mất mát của Đinh Thị Thu Vân. Có thể nói, “Saigon Đau” là bài thơ tiêu biểu, và rõ nét nhất cái mâu thuẫn tư tưởng trên những trang viết của Đinh Thị Thu Vân. Và nó cũng là một trong những bài thơ viết về thế sự xã hội hay nhất, mà tôi được đọc. Thật vậy, nỗi đau và sự luyến tiếc đó, dường như không phải của riêng nhà thơ, mà nó đưa đến, và nhận được sự đồng cảm của rất nhiều người. Vẫn những lời thơ tự sự, Saigon Đau như một mũi khoan xoáy vào lòng người đọc. Nhất là những kẻ buộc phải rời xa quê. Ta hãy đọc lại những trích đoạn có lời thơ dân dã, song rất đẹp dưới đây để thấy rõ, (và so sánh) cái mâu thuẫn tư tưởng, cũng như cái tôi, và chất trữ tình trong thơ thế sự xã hội của Đinh Thị Thu Vân:

“em yêu Sài Gòn, vì nơi đó có một người đau
một người mất những vàng son quá khứ…
Sài Gòn của anh
một thời Công Lý
một thời Tự Do
Sài Gòn của một thời Thương xá
em bước qua, ngơ ngẩn mắt quê mùa…
không có tình yêu, Sài Gòn như đất trống
như câu thơ lạc vận chẳng neo hồn!
không giữ lại dáng hình xưa được nữa
Sài Gòn đau ngơ ngác buổi em về
anh ở đâu những ngày cây lá đổ
có đợi chờ bàn tay nắm sẻ chia?…”

 

-Một vài nhận xét về Đỗ Trường từ những nhà văn thành danh trong và ngoài nước:

-Trong bài viết về tác phẩm “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” của tác giả Đỗ Trường, nhà thơ Trần Trung Đạo đã có nhận xét:

“Nhà văn Đỗ Trường cảm nhận giá trị văn chương và hoàn cảnh của tác phẩm bằng trái tim trong sáng hơn là tình cảm riêng tư, quen biết trước. Anh không viết theo cách “mặc áo thụng vái nhau”. Cảm xúc dâng lên sau khi đọc một bài thơ, một truyện ngắn anh bắt gặp đâu đó, và như thế anh ngồi xuống viết. Anh có thể không biết và cũng không quá cần phải biết ngay tác giả của bài thơ, bài văn mà anh đang phân tích là ai, tầm cỡ nào, còn sống hay đã chết, miền Nam hay miền Bắc, Cộng Sản hay Quốc Gia.

Trong không gian mênh mông không hố hầm ngăn cách của tâm hồn anh, họ là những con người có trái tim Việt Nam như anh và cùng rung môt nhịp xót xa hay hy vọng với anh.

Với nhà văn Đỗ Trường, giá trị của tác phẩm làm nên tên tuổi chứ không phải tên tuổi làm nên giá trị tác phẩm”

-Trong bài viết “Thân Phận Bút Mực Trong Con Chữ Đỗ Trường”, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có những nhận xét khá độc đáo:

“Đỗ Trường viết văn bí mật như người đi vào một thành phố bị chiếm. Chao ôi, những trang giấy trắng này đã bị sự dối trá chiếm đóng từ muôn nơi, trong đó có quê hương của ông tàn tạ những chân trời. Ông hân hoan trao sự thật lòng mình cho trang giấy như người vợ đêm tân hôn trao cho chồng sự trinh trắng cả tâm hồn và thể xác…”

-Đặc biệt và mãnh liệt hơn, trong bài viết ngày 28.8.2017, dưới cái tựa: “Đỗ Trường – Kẻ Không Khoan Nhượng Với “Bầy Sâu Đang Khiêng Nước Việt Đi Chôn”, được đăng trên RFA, nhà văn Võ Thị Hảo sau khi nhận định về tài năng và khí tiết của Đỗ Trường, đã kết luận như sau:

“Người Việt ở Đức và mọi nơi trên thế giới rất cần thêm những người viết mang nhân cách chính trực như Đỗ Trường. Ngay tại Đức quốc, ai ngờ lại quá hiếm hoi những người viết như vậy. Chúng ta cần biết bao những người dám nói và viết lên sự thật để tẩy rửa sự tanh tưởi của những cơ hội và nhạt đạo tâm hồn.

Không cần nổi danh, Đỗ Trường viết vậy là chỉ để tự cứu rỗi chính mình. Nhưng nhân cách viết da diết vì sự thật và cộng đồng ấy đã cần mẫn ngày ngày gắng gỏi cho một sự nghiệp lớn và vì thế anh thành danh ngoài mong muốn.

Bằng những gắng gỏi, góp gió thành bão của mỗi người, sẽ tới một ngày, Việt Nam…”

 

-LỜI KẾT:

Bài viết này, ngoài việc giới thiệu đến độc giả diện mạo đặc biệt đáng quí của một nhà văn sinh ra và lớn lên từ miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, cũng để thay cho lời cám ơn gởi đến nhà văn Đỗ Trường, người đã “chuyên chở văn học miền Nam, đặc biệt những người lính cầm bút miền Nam, vượt qua vũng lầy của cuộc chiến” do chế độ CS man rợ đã cố tình hủy diệt sau tháng 4.1975, để mang đến cho mọi người Việt Nam, đặc biệt những thế hệ hậu sinh trong nước, giá trị đích thực và vĩnh cữu của nó.

Bắc Âu, 23.6.2022

Phạm Tín An Ninh

Tại sao đến nông nỗi này?

Tại sao đến nông nỗi này?

24-6-2022

Đoàn Bảo Châu

Tôi nghĩ vấn đề là các vị có muốn làm không thôi, chứ quyền lực trong tay, làm gì mà không được? Vi khuẩn thì đủ các loại, biến thể lung tung mà kháng sinh thì nửa vời, có mà đốt lò từ năm này sang năm khác cũng không hết củi bởi một điều đơn giản là chính bộ máy này đang sản xuất ra củi.

Hãy nhìn ngay ở thủ đô, thử hỏi có cái vỉa hè nào tồn tại tử tế được quá ba năm không? Vậy có ai phải chịu trách nhiệm về những đồng tiền ngân sách bị phung phí ấy? Một sản phẩm bán cho khách hàng còn có bảo hành, vậy mấy cái công trình công cộng ấy chẳng lẽ không có?

Cây xanh đang yên ổn, tự nhiên chặt, rồi để trồng cây mới, giờ có mấy cây được trồng lên được tử tế, dưới cái nóng đến há mồm ở Hà Nội dân biết trú ở đâu? Một con sông có cái tên rất đẹp là Tô Lịch thì không khác gì một cái cống lộ thiên, thối um, dưới trời nóng đi qua phải nhịn thở.

Một hệ thống thoát nước ì trệ cả trăm năm, trong khi ấy thì các nhà cao tầng được xây lên, Hà Nội không biến thành Venice bất đắc dĩ mới là lạ. Hai đời thị trưởng Hà Nội nối đuôi nhau vào tù. Kẻ trước có liên quan tới dự án lọc nước con sông này, kẻ sau liên quan tới việc coi lỗ mũi của dân là tài nguyên, là cơ hội làm giàu.

Thị trưởng cần có tư cách cao quý, bởi thị trưởng là bộ mặt của một thành phố, nhưng không cao quý được thì cũng đừng bẩn thỉu đến vậy. Đâu phải cứ nhe răng hềnh hệch, chớp chớp mắt, xoa tay xoắn xuýt nhìn đàn anh, cấp trên như thể nhìn chúa trời là được chọn làm thị trưởng.

Trong nước, nội xâm đang hoành hành, đấy chính là nạn tham nhũng tràn lan khắp các tỉnh thành, khắp các bộ, ban ngành. Vấn đề là không có biện pháp quyết liệt và triệt để để chặn đứng nạn này, chỉ là hô hào chung chung, xử lý theo vụ việc.

Tôi nghĩ vấn đề là các vị có muốn làm không thôi, chứ quyền lực trong tay, làm gì mà không được? Vi khuẩn thì đủ các loại, biến thể lung tung mà kháng sinh thì nửa vời, có mà đốt lò từ năm này sang năm khác cũng không hết củi bởi một điều đơn giản là chính bộ máy này đang sản xuất ra củi.

Để khỏi phải đốt lò, bước đầu tiên là đừng sản xuất ra củi. Hãy bắt đầu bằng việc cấm đưa phong bì ở tất cả các ban ngành, kê biên tài sản, kiểm soát dòng tiền trong tài khoản ngân hàng của quan chức, không cho phép các quan chức các cấp viếng thăm nhà riêng của nhau.

Chống tham nhũng không khó, cái khó là có thực tâm muốn làm không và có ai có tâm, có tầm, có chí, có quyết tâm làm không. Nội xâm không xử lý được triệt để thì tương quan sức mạnh của ta với ngoại bang sẽ kém đi và chúng muốn làm gì mà chẳng được.

Để rơi vào thế yếu là một điều đáng xấu hổ và không nên tự hào với cái kiểu đối ngoại “mềm mại” nhưng thực chất là kiểu ứng xử bất đắc dĩ. Việc này y như một cô gái yếu đuối, khi bị thằng cướp thò tay vào ngực thì chỉ chiêm chiếp thốt lên: “iem quan ngại, iem quan ngại lắm anh ôi…!”

Nó cứ bóp rồi tay nó thò lung tung nữa thì điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Có vị nào nói không đòi được Hoàng Sa thì thế hệ con cháu sẽ đòi được. Thế hệ này mà để tham nhũng bòn rút tài nguyên đất nước, làm kiệt quệ sức dân thì thế hệ sau lấy đâu ra nền tảng và sức mạnh để đòi lại phần đã bị ngoại bang cướp? Rồi chính vị này bảo phải dạy sao cho thế hệ trẻ khi đứng chào cờ mà mắt rưng rưng lệ.

Câu này đúng, không hề sai. Một đất nước chỉ có thể hùng cường được khi người trẻ có lòng ái quốc tha thiết và mạnh mẽ nhưng làm sao có được điều ấy thì cần phải bàn tiếp.

Đúng là chúng có quyền tự hào về lịch sử chống ngoại xâm hào hùng nhưng chúng cũng không thể giữ mãi cái lòng tự hào ấy trong một thế giới biến chuyển với tốc độ chóng mặt, khi các nền văn hoá mạnh xâm nhập vào Việt Nam và chúng nhìn thấy cái hạn chế của một chính thể nhiều tham nhũng, mà một chính thể nhiều tham nhũng thì không thể xây dựng được một nền văn hoá có thể toả sáng long lanh trên quốc tế được.

Mọi thứ đều liên quan tới nhau. Chúng cần có những niềm tự hào mới về một quốc gia đang phát triển rực rỡ, không phải chỉ là những trận đá bóng mà ở nhiều lĩnh vực khác. Đất nước này “rừng vàng biển bạc”, câu ấy không hề sai.

Các địa phương có văn hoá riêng phong phú và đặc sắc nhưng du lịch, các sản vật không có chỗ đứng trên quốc tế là bởi phong thái làm ăn làng nhàng, luộm thuộm, ăn chặn, gây khó dễ, các doanh nghiệp phải đối phó với đủ các khó khăn.

Hãy nhìn ngay ở thủ đô, thử hỏi có cái vỉa hè nào tồn tại tử tế được quá ba năm không? Vậy có ai phải chịu trách nhiệm về những đồng tiền ngân sách bị phung phí ấy? Một sản phẩm bán cho khách hàng còn có bảo hành, vậy mấy cái công trình công cộng ấy chẳng lẽ không có?

Cây xanh đang yên ổn, tự nhiên chặt, rồi để trồng cây mới, giờ có mấy cây được trồng lên được tử tế, dưới cái nóng đến há mồm ở Hà Nội dân biết trú ở đâu? Một con sông có cái tên rất đẹp là Tô Lịch thì không khác gì một cái cống lộ thiên, thối um, dưới trời nóng đi qua phải nhịn thở.

Một hệ thống thoát nước ì trệ cả trăm năm, trong khi ấy thì các nhà cao tầng được xây lên, Hà Nội không biến thành Venice bất đắc dĩ mới là lạ. Hai đời thị trưởng Hà Nội nối đuôi nhau vào tù. Kẻ trước có liên quan tới dự án lọc nước con sông này, kẻ sau liên quan tới việc coi lỗ mũi của dân là tài nguyên, là cơ hội làm giàu.

Thị trưởng cần có tư cách cao quý, bởi thị trưởng là bộ mặt của một thành phố, nhưng không cao quý được thì cũng đừng bẩn thỉu đến vậy. Đâu phải cứ nhe răng hềnh hệch, chớp chớp mắt, xoa tay xoắn xuýt nhìn đàn anh, cấp trên như thể nhìn chúa trời là được chọn làm thị trưởng.

Điều đáng sợ nhất, khó thay đổi nhất là người dân cam phận, coi tất cả những điều ấy là tự nhiên, và lấy việc im miệng là phương châm sống yên bình của mình.

Hơn bao giờ hết, đất nước này cần những lãnh đạo có tâm, có tầm, quyết liệt và mạnh mẽ trong tư duy và hành động chứ không cần những lời phát biểu đèm đẹp, mơ màng, những ví von lơ lửng, lạc quan tếu như đang ngồi ở quán bia vỉa hè.

Hãy thay đổi trước khi quá muộn khi mà ngoại bang có thể lợi dụng sự yếu đuối của ta để lấn tới.

 

https://dantri.com.vn/xa-hoi/viet-nam-len-tieng-viec-trung-quoc-tap-tran-o-hoang-sa-20220623163434708.htm

Ngành sản xuất củi đốt lò của Việt Nam là vô địch (chú thích của BVN)

Đ.B.C.

Nguồn: FB Chau Doan