Mác và Ma

Mác và Ma

Trần Trung Đạo

19-8-2022

Hai phương pháp tuyên truyền căn bản dưới chế độ CS: (1) làm cho người dân nghe và (2) làm cho người dân ngu. Nói cho đúng theo thực tế ngày nay, nếu không làm cho người dân tin vào Mác thì để người dân tin vào Ma.

Trước hết là tin vào Mác.

Một câu nói của Lenin về thiếu nhi được trích dẫn quen thuộc: “Cho tôi bốn năm để dạy dỗ trẻ thơ và hạt giống tôi gieo sẽ không bao giờ bị nhổ bật gốc.” (Give me four years to teach the children and the seed I have sown will never be uprooted). Vài nguồn cho rằng Lenin nói “Cho tôi năm năm đầu của một trẻ thơ…” chứ không phải bốn năm. Dù cách nói khác nhau cũng cùng một ý là với kỹ thuật tuyên truyền CS chỉ cần bốn hay năm năm một đứa trẻ sẽ được cải hóa thành một người CS mãi mãi.

Lenin chủ trương cải hóa con người bằng cách nào?

Nước Nga chúng ta nghe trước đây là quê hương của những nhà văn, nhà thơ lớn như Leo Tolstoy, Alexander Pushkin, Fyodor Dostoevsky v.v.. . Nhưng trên thực tế là một nước có tỉ lệ mù chữ rất cao. Đầu thế kỷ 20, chỉ một phần ba dân số Nga biết chữ. Sau khi nắm lấy quyền lực tại Nga, mục tiêu hàng đầu của Lenin là làm cho người dân biết đọc và biết viết. Lenin biết nếu không xây dựng được một lực lượng sản xuất gồm những người biết viết biết đọc trung thành, quyền lực CS sẽ sớm tiêu vong. Mục đích thoạt nghe rất cao quý nhưng thâm ý lại rất ác độc.

Thành phần mù chữ đem lại cho đảng CS một lợi thế là những gì được đảng trồng cấy vào nhận thức họ sẽ là những kiến thức hoàn toàn mới. Nhận thức của họ và nhận thức của trẻ thơ là những tờ giấy trắng, đảng viết chữ gì sẽ in đậm chữ đó. Một trong những chữ đầu tiên là chữ Mác.

Chiến dịch chống mù chữ, được biết theo tiếng Nga là Likbez, được phát động khắp nước Nga và khắp Liên Bang Xô Viết từ 1922. Likbez là một trong những cơ quan tuyên truyền của đảng. Likbez ra chỉ tiêu cho người dân phải biết đọc, biết viết và biết đọc sách, đặc biệt là trong thế hệ trẻ.

Nhưng đọc sách gì?

Đương nhiên là sách có nội dung tuyên truyền do ban tuyên huấn trung ương đảng soạn thảo. Học trình của Likbez được nâng cấp theo thời gian. Đến khoảng năm 1926, một người được xem như thoát nạn mù chữ cũng là người đã sở hữu một nhận thức chính trị Mác-Lê căn bản đủ để trung thành với đảng CS. Sự thành công của chiến dịch xóa nạn mù chữ là tuyên truyền tư tưởng CS và động viên dân chúng để phục vụ cho mục đích của đảng (Peter Kenez, The Birth Of The Propaganda State, Cambridge University Press, 1985)

Dưới chế độ CS tại Việt Nam, chính sách tuyên truyền “trồng người” đó được rập khuôn một cách chi tiết. Các tác phẩm tuyên truyền của Liên Xô được dịch và phổ biến rộng rãi tại miền Bắc Việt Nam và những năm đầu sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam.

Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Sự Thật không chỉ thừa nhận mà còn hãnh diện về điều này:“Về phát hành, qua mạng lưới các hiệu sách nhân dân (phát triển tới huyện, thị) sách đã về tới tận cơ sở theo phương châm “bốn đúng” (đúng nhiệm vụ, đúng yêu cầu, đúng đối tượng, đúng thời gian) và thực hiện vừa phát hành vừa phổ biến sách đến bạn đọc. Nói tới phát hành không thể không nói tới việc xuất nhập khẩu sách báo. Công ty Xuất nhập khẩu sách báo Việt Nam XUNHASABA được thành lập từ năm 1957 đã góp phần không nhỏ vào việc tuyên truyền sách Việt Nam ra quốc tế và tiếp nhận vào Việt Nam những tác phẩm có giá trị của các nước, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa.” (Quá trình ra đời và phát triển của nền xuất bản cách mạng Việt Nam (P3: Thời kỳ 1954-1975), Nhà Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011)

Thật vậy, đọc nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc, nếu để ý sẽ thấy suốt nhật ký anh không trích dẫn hay nhắc tới một tác phẩm nào khác ngoài Thép Đã Tôi Thế Đấy và các diễn văn của Lê Duẩn.

Lenin nói một cách chắc chắn và tự tin như vậy nhưng tại sao Liên Xô lại sụp đổ?

Liên Xô sụp đổ do con người.

Dù giải thích theo một quan điểm tôn giáo nào, con người luôn ẩn chứa một phẩm chất thiêng liêng nhằm chống lại các độc tố phi nhân từ bên ngoài xâm nhập. Phẩm chất thiêng liêng đó có thể nhất thời bị đè nén, trấn áp, che khuất nhưng không mất hẳn đi. Nếu có cơ hội dù một giây, một phút phẩm chất thiêng liêng cũng vươn lên chống lại xích xiêng áp bức.

Tại Bắc Hàn, dù bị cai trị bởi ba đời dòng họ Kim khắc nghiệt không có một kẻ hở, mỗi năm hàng ngàn người vẫn tìm mọi cách thoát ra. Năm 2019 có 1047 người Bắc Hàn đã vượt thoát được vào Nam Hàn. Con số nhiều lần hơn thế đã bị bắt lại và đày ải trong trại tù ác độc ngoài tưởng tượng như Trại 14, Trại 22, bị chết đuối trên sông, trên biển vì vượt thoát không thành. Dù chịu đựng bao nhiêu, niềm khao khát tự do vẫn là một đặc tính bẩm sinh có trong mỗi con người từ lúc mới ra đời. Người dân Bắc Hàn tiếp tục tìm mọi cách ra đi.

Một câu hỏi thường được đặt ra, trong hàng loạt các biến cố làm sụp đổ chế độ CS Liên Xô, biến cố nào có tác dụng trực tiếp nhất?

Chiến lược chạy đua vũ trang của TT Ronald Reagan? Có nhưng không trực tiếp. Mọi yếu tố từ bên ngoài không thể nhanh chóng làm tan vỡ các cơ cấu bên trong, nhất là một chế độ đã được củng cố bằng tuyên truyền và bạo lực suốt 70 năm. Không ai cho rằng chính sách của TT Reagan là sai nhưng chỉ là buộc giới lãnh đạo LX phải lùi vào thế thủ qua các chính sách kế hoạch hóa nền kinh tế quốc gia nhằm đương đầu với Mỹ chứ chưa sụp đổ.

Chính sách cởi mở kinh tế và văn hóa của Mikhail Gorbachev? Cũng không phải. Hai chính sách “đổi mới” của Gorbachev đem lại một không khí mới trong nhiều lãnh vực nhưng chỉ mới bắt đầu từ tháng 2, 1986 và đã chứng tỏ rất ít thành công. Hai năm trước khi sụp đổ, Gorbachev đưa ra chính sách “tư hữu hóa” các doanh nghiệp nhưng cũng mới bắt đầu từ giới tiểu thương như nhà hàng, cửa tiệm. Những thay đổi của Gorbachev còn quá nhỏ chưa phải là yếu tố thúc đẩy sự sụp đổ của LX một cách nhanh chóng.

Sự xuất hiện của nhân vật Boris Yeltsin, ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSLX và sau đó từ bỏ đảng? Quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định. Như người viết đã trình bày trong bài Sáu Lý Do Giúp Chế Độ CS Tồn Tại, việc dọa từ chức của Boris Yeltsin làm Mikhail Gorbachev sửng sốt. Theo lời Gorbachev, ông gọi về Moscow và ra lịnh cho các phụ tá đến khẩn thiết với Yeltsin đừng tiết lộ nội dung lá thư ra ngoài vì quần chúng và thế giới sẽ biết sự rạn nứt trong nội bộ đảng CSLX. Hơn một tháng sau đó, trong phiên họp của ban chấp hành trung ương đảng CSLX, Boris Yeltsin mới chính thức từ chức nhưng sự từ chức của ông ta không tạo ra một lỗ hổng hay xáo trộn quyền lực đáng kể.

Vậy biến cố nào và yếu tố nào có tác động trực tiếp dẫn tới ngày tàn của LX?

Câu trả lời đúng là sức mạnh của người dân trong 15 nước gọi là “Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” thuộc Liên Bang Xô Viết. Năm 1991, con người tại các quốc gia này không còn mê muội như thế hệ cha mẹ, ông bà họ vào thời 1917. Một khi người dân từ chối chế độ, không sợ hãi đứng lên chống lại giới lãnh đạo bảo thủ, ngoan cố, cứng đầu, chế độ đó phải sụp đổ. Các yếu tố Reagan, Boris Yeltsin, dầu hỏa, suy thoái kinh tế v.v.. chỉ giúp cho tiến trình xảy ra nhanh hơn nhưng không phải quyết định. Sự chuyển hóa nhận thức trong con người mới là yếu tố quyết định.

Lấy một biến cố để chứng minh lý luận này: Biến cố tháng 8, 1991.

Hôm đó là ngày 19 tháng 8, 1991. Người dân thủ đô Moscow thức dậy nhìn ra đường thấy cả đoàn xe tăng đang chạy trước nhà. Mở radio và TV mới biết một chính phủ mới dưới danh nghĩa “Ủy Ban Khẩn Cấp Nhà Nước” vừa ra đời thay cho Mikhail Gorbachev “phải nghỉ việc vì lý do sức khỏe”.

Danh sách tám lãnh đạo CS nổi loạn đọc lên nghe lạnh người vì họ đang nắm quyền sinh sát của 287 triệu người dân thuộc 15 nước trong khối LX. Trong số họ có cả giám đốc KGB, Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc Phòng. Các tư lịnh quân đội báo cho các bệnh viện để chuẩn bị phương tiện cứu cấp vì sẽ có nhiều thương vong trong những ngày tới. Ba sư đoàn Hồng Quân đang được điều vào thủ đô để thực thi lệnh thiết quân luật.

Nhưng đó cũng là lúc nhiều ngàn người dân Moscow hưởng ứng lời kêu gọi của Boris Yeltsin xuống đường phản đối “Ủy Ban Khẩn Cấp Nhà Nước”. Khác với các cuộc biểu tình bạo động đã từng diễn ra ở Prague 1968 hay trước đó ở Budapest 1956, biểu tình tháng 8 ở Moscow 1991 tương đối ít đổ máu. Nhiều đơn vị tăng đã đứng về phía Cộng Hòa Nga. Trong cùng ngày, các cuộc biểu tình lớn đã diễn ra tại các thành phố lớn và các nước Cộng Hòa thuộc Liên Bang Xô Viết. Khoảng 200,000 người đã biểu tình tại Leningrad và 400,000 biểu tình tại thủ đô Moldavia. Tại thủ đô Moscow, khoảng 200,000 người làm thành một hàng rào nhiều lớp chung quanh trụ sở quốc hội Nga để bảo vệ tổng thống vừa được bầu Boris Yeltsin.

Cuộc phiến loạn do “nhóm 8 người” chủ trương cuối cùng đã thất bại. Mikhail Gorbachev bay về Moscow ngày 22 tháng 8 nhưng chỉ để chứng kiến quyền lực của ông đang mờ dần khi ngôi sao Boris Yeltsin tỏa sáng hơn bao giờ hết. Chế độ CSLX sụp nhanh hơn sự tiên đoán của mọi người.

Người dân Liên Xô đã ý thức được rằng tính chính danh của một lãnh đạo được quyết định bằng lá phiếu chứ không phải bằng xe tăng.

Người dân Nga không sống chết vì cá nhân Boris Yeltsin mà sống chết vì quyền và trách nhiệm thiêng liêng của một công dân nước Cộng Hòa Liên Bang Nga vừa ra đời chỉ hơn hai tháng trước đó.

Khó tiên đoán và khó hình dung, nếu không có sức mạnh của những người dân bình thường tháng 8, 1991, cục diện thế giới ngày nay sẽ ra sao.

Tại Trung Cộng, sức mạnh của người dân Liên Xô qua biến cố tháng 8, 1991 và cuộc biểu tình Thiên An Môn là hai mối lo luôn ám ảnh Tập Cận Bình. Để tìm lối thoát, họ Tập chủ trương nhanh chóng “Hán hóa tôn giáo”.

Dưới thời kỳ Tập Cận Bình, ĐCSTQ đã thúc đẩy việc Hán hóa tôn giáo, hoặc hướng dẫn tất cả các tôn giáo hoạt động phù hợp với học thuyết của đảng vô thần. Các quy định mới có hiệu lực vào đầu năm 2020 yêu cầu các tôn giáo phải chấp nhận và truyền bá tư tưởng Mác và giá trị của ĐCSTQ. Các tổ chức tín ngưỡng hiện phải được văn phòng phụ trách tôn giáo của chính phủ chấp thuận trước khi tiến hành bất kỳ hoạt động nào. (Religion in China, Council on Foreign Relations, September 25, 2020)

Tại Việt Nam, ngoài Mác còn có Ma.

Ngoài việc đưa lý luận Mác-Lê vào giáo trình tôn giáo, CSVN còn đi xa hơn Trung Cộng một bước khi khuyến khích hay bao che những hành động ngu dân như cách làm tiền bẩn thỉu vừa qua của doanh nhân đội lốt tu sĩ Phật Giáo Trúc Thái Minh ở chùa Ba Vàng.

Các “doanh nhân” đội lốt tu sĩ Phật Giáo khai thác sự mê muội của quần chúng để thu hàng trăm tỷ đồng qua các chương trình “thỉnh vong giải nghiệp”. Họ lý giải rằng “Mọi bệnh tật và xui xẻo trong cuộc sống đều được lý giải là bởi oan hồn gây ra. Muốn thoát nạn thì buộc phải “trả nợ” cho vong từ vài triệu đến hàng chục triệu đồng thông qua hình thức công đức vào nhà chùa. Đáng nói, hoạt động này đã công khai diễn ra từ nhiều năm nay tại chùa Ba Vàng, một cơ sở thờ tự lớn và rất nổi tiếng ở phía Bắc.” (Xác minh chùa Ba Vàng ‘thỉnh vong báo oán, giải nghiệp’ thu tiền tỷ, Tuổi Trẻ, 20/03/2019)

Các sự kiện lợi dụng tôn giáo như thế không chỉ mới diễn ra mà đã diễn ra từ nhiều năm và ngày thêm trầm trọng. Tuy nhiên, nhà nước CS im lặng. Đoàn thể tôn giáo trực thuộc đảng gọi là “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” im lặng. Sự im lặng của đảng và “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” cho thấy không chỉ các doanh nhân đội lốt tu sĩ Phật Giáo mà chính đảng CS cũng chủ trương mê muội hóa người dân.

Dân chúng càng mê muội, đảng còn sống lâu. Lịch sử các đảng CS trên thế giới chứng minh đảng CS chỉ thành công tại các quốc gia lạc hậu, mê muội và đảng khai thác sự lạc hậu và mê muội để duy trì quyền lực.

Không một nước CS nào, kể cả Nga, trở thành CS theo tiến trình năm hình thái kinh tế xã hội như chủ nghĩa Mác Lê ngụy biện. Bộ máy tuyên truyền CS đề cao Nga như là một nước tư bản tiên tiến chín muồi cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thật ra, cho tới năm 1917 Nga vẫn là nước nghèo nhất Châu Âu và một quốc gia nặng về nông nghiệp có tỉ lệ 70 phần trăm dân số mù chữ. Giới quý tộc và học thức tập trung tại các thành phố lớn. Nga thua Nhật cả trên biển lẫn trên bộ mười hai năm trước đó. Lenin và phe Bolsheviks chỉ là những kẻ cơ hội, lợi dụng các bất ổn sau Cách Mạng Tháng Hai 1917 do Aleksandr Kerensky lãnh đạo lật đổ chế độ Nga Hoàng, để cướp chính quyền. Không có hay chỉ có rất nhỏ các phong trào công nhân đứng lên làm cách mạng trong biến cố gọi là “Cách Mạng tháng Mười” (Tháng 11 theo Dương Lịch). Tháng 8, 1917 Lenin còn trốn ở Phần Lan.

Nếu đảng CSVN thật sự muốn cấm hay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được phép cấm thì một trăm ông Trúc Thái Minh cũng không dám móc túi những người người buôn gánh bán bưng nghèo khó và các hiện tượng phản đạo đức và đi ngược với tinh thần Phật Giáo kia nếu chưa chấm dứt hẳn cũng giảm đi nhiều.

Nhìn cảnh những bà cụ già quỳ dâng ông Trúc Thái Minh những đồng tiền mà họ phải tần tảo suốt ngày mới kiếm được, một người còn chút lương tâm không khỏi đau lòng. Ăn cướp nào cũng đáng tội nhưng ăn cướp từ những người sống trong tuyệt vọng, trông chờ vào phép lạ không bao giờ đến là một đại tội giết người gián tiếp.

Trước 1975, lễ phóng sinh là một lễ mang tính biểu tượng. Những ngày Rằm tháng Bảy, Rằm tháng Giêng các chùa thường có lễ phóng sinh, thường là một con vài con bồ câu, một hay vài con cá. Các thầy, cái ni sư không đặt trọng tâm ở phóng sinh nhưng chỉ dùng cơ hội đó để giảng về tình thương, tha thứ, bao dung, quyền được sống của người và vật trong đạo Phật.

Ngày nay, “phóng sinh” trở thành một nghề kinh doanh kiếm tiền. Nhìn cảnh hàng trăm con chim bị cột thành những chùm chờ được thả ra và bắt lại ai cũng cảm thấy xót xa. Con người dưới chế độ độc tài cũng giống như chim, đang sống hôm nay nhưng có thể bị bắt nhốt ngày mai. Có người gọi hiện tượng chùa Ba Vàng là hình ảnh đạo Phật “thời mạt pháp”. Không phải. Họ không đại diện cho “pháp” để gọi là “mạt” mà chỉ có những tên cướp cạn mặc áo vàng.

Sau khi thành đạo, Đức Bổn Sư đi bộ hàng trăm cây số từ Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) đến bờ sông Hằng, thành phố Varanasi, thuộc xứ Benares. Từ đó ngài đi bộ tiếp hơn mười cây số nữa đến một nơi được gọi là Vườn Nai tức Vườn Lộc Uyển (Sarnath) xứ Isipatana. Tại thánh địa này, Đức Phật giảng kinh đầu tiên Chuyển Pháp Luân. Từ đêm huyền diệu đó, dòng suối từ bi bắt đầu chảy và hơn 2600 năm đã chảy qua bao nhiêu chặng đường, bao nhiêu rừng núi, bao nhiêu đất nước, bao nhiêu lục địa để đến hôm nay, Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là liều thuốc tinh thần giúp làm thay đổi nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhiều trăm triệu con người. Một vài vết nhơ trần thế chẳng thể làm mờ ánh đạo vàng.

Thế giới đang đổi thay từng giờ. Biên cương văn hóa giữa các quốc gia dần dần bị xóa bỏ. Con người dù khác màu da, quốc tịch vẫn có cơ hội đến gần nhau. Ánh sáng văn minh soi rọi vào những nơi trước đây hoàn toàn chìm trong tăm tối. Một điều các chế độ độc tài rất sợ nhưng không tránh được là sớm hay muộn người dân cũng sẽ ý thức được quyền sống và đứng lên đòi quyền sống của mình, và tại Việt Nam ngày đó sẽ không xa.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Võ Thị Thắng

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Võ Thị Thắng

Thay vì một vòng hoa, một nén nhang, hay đôi lời ai điếu, tôi xin mượn một câu thơ của Thâm Tâm (đưa người ta không đưa sang sông) để đưa Võ Thị Thắng về nơi an nghỉ cuối cùng. Hoa hòe, nhang khói, điếu văn … này nọ hẳn không thiếu trong tang lễ “trọng thể” dành cho chị – theo như tường trình của VOV:

“Đọc điếu văn tại lễ truy điệu, trong niềm tiếc thương sâu sắc, ông Hoàng Tuấn Anh, Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du Lịch, Trưởng Ban Lễ Tang xúc động ôn lại cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của bà Võ Thị Thắng, người con của Nam Bộ thành đồng với ‘nụ cười chiến thắng’ đã trở thành một trong những biểu tượng cao đẹp cho thế hệ anh hùng trong cuộc kháng chiến giành độc lập – tự do – thống nhất đất nước. Tinh thần Võ Thị Thắng là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo.”

Tôi sinh ra đời sau Võ Thị Thắng khá lâu nên không biết chi nhiều về “cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang” của chị. Do tìm hiểu thêm cũng biết được ba điều bốn chuyện, xin được chia sẻ với mọi người.

Theo vnexpress:

“Bà Thắng sinh ra tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Năm 9 tuổi, bà bắt đầu bước chân vào con đường cách mạng bằng việc tham gia đưa thư, mang cơm cho cán bộ trong hầm bí mật. Năm 13 tuổi, bà thi đậu vào trường công lập Gia Long Sài Gòn (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai); 16 tuổi là thành viên Mặt trận dân tộc giải phóng huyện Bến Lức – Long An và khi 17 tuổi, được tổ chức điều về Sài Gòn hoạt động trong phong trào thanh niên – sinh viên – học sinh…

Đất nước thống nhất, người phụ nữ với nụ cười chiến thắng năm nào bước sang chính trường khi tham gia công tác tại Thành đoàn, rồi ở Hội Liên hiệp phụ nữ TP HCM, sau đó được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, được trúng cử vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII và Khóa IX; Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X và XI, rồi Tổng cục trưởng Du lịch, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cu Ba.”

Phóng viên Nguyễn Thị Nhi, tạp chí Hướng Nghiệp, cũng cho biết thêm đôi nét về quá trình hoạt động cách mạng của Võ Thị Thắng:

“Chị được giao nhiệm vụ điều tra quy luật hoạt động của tên Trần Văn Đỗ và tổ chức ám sát hắn. Trần Văn Đỗ là Trưởng phường Phú Lâm, quận 6 Sài Gòn nhưng thực chất là tên mật vụ chỉ điểm có nhiều nợ máu với nhân dân. Ngày 27-7-1968, sau khi nắm tình hình địch, chị cải trang để đột nhập vào nhà tên Đỗ cùng với hai đồng chí yểm trợ vòng ngoài. Hôm đó khác với thường lệ, tên Đỗ đi ngủ sớm, chị tiến thẳng đến giường tên Đỗ lên đạn bắn hai lần nhưng cả hai phát súng đều không nổ…

Ngày 2-8-1968, chúng đưa chị ra tòa và kết án 20 năm tù khổ sai về tội chủ mưu giết người. Đứng trước tòa, khi nghe phán xét, chị Thắng cười và nói: ‘Tôi chỉ sợ chính quyền của các ông không tồn tại để thi hành bản án về tôi’. Một phóng viên nước ngoài đã chụp được nụ cười của chị Võ Thị Thắng trong giây phút đó. Bức ảnh với tên gọi ‘Nụ cười chiến thắng’ đã trở thành biểu tượng cho khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam.”

Nói cho chính xác thì tội danh của chị Võ Thị Thắng là “khủng bố,” chứ không phải là “chủ mưu giết người.” Ông Trần Văn Đỗ, may mắn, thoát chết nhưng nhiều người khác thì không.

Cùng với những loạt đạn pháo kích từ ngoại ô vào trung tâm thành phố, Lực Lượng Vũ Trang Nội Thành của chị Thắng và đồng đội đã gieo kinh hoàng cũng như tang tóc cho không ít người dân miền Nam – trong một thời gian không ngắn. Xin ghi lại vài ba trường hợp để rộng đường dư luận:

“Trưa 10.11.1971. Một tiếng nổ long trời tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản khiến ông Nguyễn Văn Bông – Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, người chuẩn bị nắm chức thủ tướng (ngụy) chết tại chỗ…

Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam – Phó ban An ninh T4 (tức khu vực Sài Gòn-Gia Định): ‘Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”. (Vũ Quang Hùng. “Tôi Ám Sát Người Sắp Làm Thủ Tướng Sài Gòn.”Dân Việt, 30 April 2011).

Giáo sư Nguyễn Văn Bông không phải là người “trí thức có uy tín” đầu tiên, hay duy nhất, bị cách mạng … trừ khử bằng chất nổ và lựu đạn. Hai năm trước đó, G.S. Lê Minh Trí cũng bị giết chết theo cùng một cách.

Một nạn nhân khác nữa là nhà báo Từ Chung. Cái chết của ông được cậu con trai 12 tuổi kể lại như sau, theo bản tin của nhật báo Chính Luận, số ra ngày 1 tháng 1 năm 1966:

“Cháu nghe thấy tiếng còi ô tô của bố cháu. Cháu chạy ra đứng phía trong cửa để chờ bố, cháu thấy bố cháu xuống xe rồi mở thùng xe đằng sau để lấy cái gì đó. Thế rồi có hai người đi gắn máy dừng lại, cháu nhìn rõ xe hiệu Goebel sơn màu xanh. Một người xuống xe tay cắp cặp da, mặc quần mầu xanh màu da trời, áo xanh lạt có sọc, trạc độ 26 tuổi. Người ấy mở cặp da lấy ra một khẩu súng và tiến lại gần bố nhắm bắn luôn mấy phát liền. Bố cháu gục xuống.”

Vẫn theo bản tin thượng dẫn:

“Từ Chung đỗ tú tài tại Hà Nội, vào Nam, ông được học bổng du học tại Thụy Sĩ năm năm và đậu bằng Tiến Sĩ Kinh Tế tại Fribourg năm 1961. Về nước, ông được Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Ðại Học Huế mời giảng dạy tại trường Luật, và sau đó được mời làm ủy viên trong Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế nhưng ông từ chối vì yêu nghề viết báo.”

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn đoán chắc (như bắp) là cả ba nhân vật thượng dẫn đều có chung tội danh: thuộc thành phần phản động. Với tội danh này thì không chỉ vài ba mà (có lẽ) phải đến năm bẩy triệu người Việt đã bỏ mạng vì bom đạn, mã tấu, hay cuốc xẻng.

Cái giá để tạo dựng cái Chính Quyền Cách Mạng hiện nay – rõ ràng – không rẻ nhưng thành quả thì rất đáng ngờ, và vô cùng đáng ngại! Nó cũng đáng ái ngại như cái cách mà truyền thông của Đảng và Nhà Nước Việt Nam xưng tụng “nụ cười chiến thắng” của chị Võ Thị Thắng từ nửa thế kỷ qua.

Trong một cuộc phỏng vấn dành do BBC, ông Hạ Đình Nguyên (nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Phối Hợp Hành Động Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, một tổ chức có liên hệ với các lực lượng chính trị, quân sự của miền Bắc Việt Nam, hoạt động ở Sài Gòn trước 1975) phát biểu: “Tôi thấy trong cuộc đời của chị Thắng, chị không mang tai tiếng gì. Vẫn là con người trong sạch.”

Là Ủy Viên Trung Ương Đảng, và cũng là Đại Biểu Quốc Hội liên tiếp ba khoá (IX, X và XI) rồi là Tổng Cục Trưởng Du Lịch mà “không mang tai tiếng gì” thì chị Võ Thị Thắng – rõ ràng – là một đảng viên nhưng … tốt!

Dưới bài phỏng vấn ông Hạ Đình Nguyên, đọc được trong trang FB của BBC, độc giả Lê Bích Đào cũng đã biểu đồng tình một cách ngắn gọn và thi vị: “Chị VTT là người sống trong sạch’ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Thiệt là quí hoá hết sức!

Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ thi ca của Thâm Tâm là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?

TẠI SAO TÔI KHÔNG SỐNG Ở NƯỚC NGOÀI?

TẠI SAO TÔI KHÔNG SỐNG Ở NƯỚC NGOÀI?

Mạc Văn Trang

Mấy bạn bè cứ hỏi, sao không sống ở nước ngoài?

Tính mỗi người một khác, riêng tôi sống với quê hương đất nước gắn bó cả đời quen rồi, không muốn rời bỏ đi. Tôi vẫn thường nói, đất nước mình đẹp lắm, bị tàn phá bao nhiêu mà vẫn còn đẹp; dân mình dẫu không ít thói xấu, tật hư mà sao thật dễ thương. Chuyện mỗi gia đình, mỗi người dân đều như một thiên Tiểu thuyết!

Nói như Phạm Đoan Trang: Tự do cho mỗi mình tôi thì dễ lắm…

Đã hai lần vợ chồng con Hồng làm thẻ tạm cư cho tôi ở BaLan, nhưng mỗi lần ở một năm rồi lại về.

Năm 2010 cô Thuận và tôi có thẻ, ở BaLan, rồi ở Pháp, đi khắp các nước châu Âu; ăn Tết, gói bánh chưng… được hơn một năm thì về. Rồi sau đó không sang đổi thẻ, bỏ thẻ hết hạn.

Năm 2017, tôi lại sang BaLan, con lại làm thẻ. Các con bảo, mẹ Thuận mất rồi, bố có một mình ở đây với chúng con. Vợ chồng con lớn ở BaLan, vợ chồng con thứ hai ở Pháp, chúng nó đều có nghề nghiệp tử tế, đời sống sung túc, nhà cửa đàng hoàng tại Thủ đô; bốn đứa cháu đều giỏi giang và yêu quý ông bà… Nhưng tôi cũng ở một năm rồi lại về.

Ở BaLan rất thú vị. ít xã hội có cuộc sống thanh bình, nhân ái như vậy; đặc biệt từ một nước thoát khỏi CNXH, mà xây dựng được một đời sống dân chủ, nhân quyền thật đẹp đẽ. Môi trường tự nhiên thì tuyệt vời, muông thú hoang sống tự do bên cạnh con người…

Tôi không cô đơn, sống hòa nhập với cộng đồng người Việt, được nhiều người quý mến; những buổi tôi nói chuyện về Tâm lý- giáo dục được anh chị em tham dự rất đông vui. Viết bài cho tờ báo Quê Hương được nhuận bút… Nghiên cứu viết về người Việt ở BaLan cũng rất thú vị. Tôi còn có hai cô bạn đồng nghiệp BaLan xinh đẹp, hay gặp nhau trao đổi về nghiên cứu tâm lý, xã hội học cũng vui…

Ở Wazawa, cộng đồng người Việt có đến hơn một vạn người, sinh hoạt của người Việt chả thiếu gì. Ở trung tâm buôn bán của người Việt, có đủ thứ chả khác chợ Đồng Xuân Hà Nội. Hàng hóa thì khỏi phải nói, các món ăn thì đủ cả: bánh cuốn, bánh rán, bánh dày, bánh giò,

bánh chưng, bún đậu mắm tôm, bún cá, bún mọc, phở gà, phở bò, xôi đậu xanh, xôi lạc, trứng vịt lộn, lòng lợn tiết canh…

Ở Warzawa mình ngại nhất là đi liên hoan: Mừng tân gia, mừng khai trương cửa hàng, đi ăn cưới, ăn giỗ, ăn mừng cháu thôi nôi, ăn các dịp Lễ, Tết; ăn nhân dịp gặp gỡ nhau… Mà bữa nào cũng thật nhiều món truyền thống Việt Nam, đúng nghĩa “mâm cao cỗ đầy”!. Mọi người cứ ưu tiên gắp cho mình, như để an ủi, bõ những ngày đói khổ ngày xưa!

Cứ thế, chừng hai tháng mình tăng trọng thành hơn 80 kg! Lần nào cũng vậy, về lại phải giảm cân…

Người già ở BaLan được nhiều ưu tiên: đi các phương tiện công cộng trong thành phố miễn phí; vào bảo tàng, vườn thú… vé đắt lắm, cũng miễn phí hết; chữa bệnh không mất tiền, mỗi người một giường mà do nhân viên y tế chăm sóc, con cháu chỉ được phép vào thăm…

Mình có đi thăm người bạn ở bệnh viện; một người ở trại dưỡng lão thấy rất ổn…

Nhưng mình cứ có một cảm giác lướng vướng trong tâm tư: Mình chả làm gì đóng góp cho đất nước người ta, giờ lại sang tận hưởng, nó làm sao ấy. Có lần đến chục ông bà già nhà mình rủ nhau đợi xe buýt, xe dừng, cả nhóm kéo lên, đã miễn phí, mà những người BaLan lại đứng lên nhường chỗ; thế rồi cả đám hồ hởi vào cửa miễn phí xem Triển lãm…

Thú thật mình cứ ngường ngượng làm sao ấy!

Đầu năm 2020, mình bảo Kim Chi, đến tháng 7 mình lại đi BaLan; Kim Chi bảo tháng 10 cũng đi Mỹ…

Thế rồi duyên số làm sao, hai đứa lấy nhau và mong ước sống cùng nhau, đi thăm hết đất nước mình, rồi cùng chết.

Nhưng vẫn muốn đi thăm các con ở Mỹ và châu Âu lần cuối nữa. Vậy đó, mà có mấy đứa hèn mạt, chuyên “suy bụng ta ra bụng người” bảo mình, viết bài chửi chế độ để kiếm mấy đồng đô la và mong được Mỹ nó cho cư trú (?).

18/8/2022

Có lẽ đã đến lúc Trump phải trả giá

Có lẽ đã đến lúc Trump phải trả giá

Bởi  AdminTD

 Song Chi

15-8-2022

Đối với những người bênh vực, ủng hộ cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump đến mức mù quáng mà chúng ta thường vẫn gọi là “cuồng” Trump, thì việc Trump làm ăn gian dối, lừa đảo, trốn thuế, vay nợ nước ngoài, nói láo hàng chục ngàn lần hay bị kiện tụng vì tội quấy rối tình dục, chơi gái rồi dùng tiền để bịt miệng v.v… họ vẫn cho là chuyện nhỏ.

Ngay cả chuyện Trump liên tục tung tin giả rằng cuộc bầu cử 2020 là gian lận, không chịu chuyển giao quyền lực một cách đàng hoàng, kích động để gây ra vụ bạo loạn ngày 6.1.2021, mà thật ra sau này cuộc điều tra của Quốc hội đã cho thấy đó là một âm mưu đảo chính bất thành chứ không phải một cuộc bạo loạn ngẫu nhiên… thì họ vẫn cứ bênh, vẫn cứ nói theo ngôn ngữ của Trump rằng tất cả chỉ là một cuộc “săn phù thủy”, là trò chính trị để hại Trump…

Nhưng tôi tin rằng nếu cuộc điều tra của FBI chứng minh rằng Trump đã phạm tội lưu trữ tài liệu mật, tối mật của chính phủ một cách sai trái, gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia của nước Mỹ, hay tệ hơn, lưu trữ tài liệu với mục đích thủ lợi từ đó, như bán cho một quốc gia khác, tức là phạm tội bội phản, làm gián điệp cho nước ngoài… thì không ai còn có lý do gì để mà tiếp tục bênh vực, ngưỡng mộ Trump nữa.

Dù sao, Trump cũng đã đạt được rất nhiều “thành tích”: là Tổng Thống Mỹ bị dính tới pháp luật nhiều nhất trong suốt cả cuộc đời, từ làm ăn kinh doanh cho tới chính trị, là Tổng thống Mỹ hai lần bị luận tội trong một nhiệm kỳ, là cựu Tổng thống Mỹ đầu tiên bị FBI lục soát nhà riêng, là Tổng thống và cựu TT Mỹ “được” báo chí, dư luận của nước Mỹ và thế giới nhắc tới nhiều nhất. Hồi còn làm TT thì không có ngày nào mà không có chuyện, không còn làm TT nữa vẫn cứ lên trang nhất báo chí đều đều. Và cuối cùng là Tổng thống Mỹ có số lượng fan cuồng và anti-fan nhiều nhất!

Trong tất cả các cường quốc dân chủ, chỉ có nước Mỹ mới có một Tổng thống như Trump, hay nói cách khác, mới có chuyện một người như Trump lại trở thành Tổng thống!

Nhìn lại cuộc bầu cử 2016, có nhiều lý do khác nhau để người Mỹ bầu cho Trump, một trong những lý do đó là họ chán ngán những chính trị gia chuyên nghiệp, ở trong hệ thống, kiểu như bà Hillary Clinton, họ muốn thay đổi, chọn một người ở bên ngoài và Trump là một “món lạ miệng”. Nhưng sau 4 năm tanh bành của Trump, thì rõ ràng tại sao phải chọn một chính trị gia chuyên nghiệp:

  1. Ngay cả làm bồi bàn cũng cần phải có kinh nghiệm, làm thế nào Tổng thống của một cường quốc hàng đầu thế giới lại có thể chọn một người hoàn toàn không có hiểu biết, kinh nghiệm trong lĩnh vực chính trị, đối nội đối ngoại để rồi biến 4 năm ở Nhà Trắng thành 4 năm thực tập làm Tổng thống?
  2. Khi đã là một chính trị gia từ lâu, người ta phải biết giữ mình không bị scandal, không bị vi phạm pháp luật, chứ không phải chọn một tay kinh doanh lừa đảo rồi sau đó cứ mỗi ngày lại khui ra một vụ vi phạm mới.

Đó là chưa kể một người cả đời kinh doanh thì đụng đâu cũng chỉ nghĩ tới tiền, nghĩ tới cách làm tiền, như Trump, từ tranh cử, thua cử, đi kiện, vợ mất, bị FBI xét nhà… cái gì cũng kêu gọi mọi người đóng góp, mọi mối quan hệ đồng minh hay với mọi tổ chức, định chế quốc tế đều chỉ được xét trên lợi hại về tiền bạc mà không hề nghĩ đến những cái lợi, cái hại vô hình lớn hơn rất nhiều, thậm chí quan hệ với kẻ thù như Nga, Trung Cộng, Iran… mà nếu dàn xếp, thương lượng được bằng tiền thì Trump cũng gật ngay thôi.

Có lẽ đã đến lúc Trump phải trả giá, ít nhất là một lần trong đời, cho những hành vi liên tục chà đạp lên luật pháp, Hiến pháp của mình, để các ông nghị bà nghị đảng Cộng hòa và những người ủng hộ Trump mới có thể rứt ra khỏi cái bóng ma ám của Trump mà hướng về phía trước, và nước Mỹ may ra mới bớt chia rẽ.

Hãng hàng không từ chối chở du khách Việt đến đảo Jeju, Nam Hàn

Hãng hàng không từ chối chở du khách Việt đến đảo Jeju, Nam Hàn

August 15, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Việc hàng loạt người đến đảo Jeju dưới danh nghĩa du lịch rồi trốn lại để nhập cảnh bất hợp pháp buộc chính quyền Nam Hàn phải siết chặt kiểm soát biên giới.

Theo báo VNExpress hôm 14 Tháng Tám, liên tục các đoàn khách Việt Nam bay từ Singapore đến đảo Jeju của Nam Hàn qua hãng hàng không Scoot Airlines đã bị huỷ vé vì không có thị thực (visa) nhập cảnh, mặc dù đảo Jeju vẫn có chính sách miễn thị thực cho du khách.

Đoàn khách Việt Nam tại phi trường Changi, Singapore, sau khi bị hủy vé đến đảo Jeju, Nam Hàn. (Hình: VNExpress)

Chị Nguyễn Thị Thu Hiền, 34 tuổi, ở Hà Nội, và nhóm bạn ba người bị hủy vé máy bay từ Singapore đến đảo Jeju do không có visa hôm 9 Tháng Tám, cho biết từng đến đảo này hồi năm 2018 theo diện miễn visa. Gần đây, chị Hiền tìm hiểu thấy chưa có thay đổi nào trong chính sách nên đã quyết định đặt vé cho nhóm bạn từ Singapore bay thẳng sang Jeju.

“Khi đến phi trường Changi, Singapore, làm thủ tục check-in, một nhân viên sau khi xem thông tin của chúng tôi đã yêu cầu làm việc với hãng hàng không. Đại diện Scoot Airlines sau đó nói rằng công dân Việt Nam, Thái Lan, Mông Cổ và một số nước khác sẽ không được vào đảo Jeju theo diện miễn visa nữa. Hãng sẽ hỗ trợ hoàn lại toàn bộ tiền vé, dù vé là loại không được hoàn trả,” chị Hiền cho biết.

Tương tự, trước đó hôm 11 Tháng Tám, anh Vũ Quốc Hưng, 31 tuổi, ở Sài Gòn, cùng đoàn khách 11 người từ Sài Gòn đi Jeju cũng bị từ chối cho nhập cảnh.

Theo anh Hưng, cả đoàn khởi hành lúc 2 giờ trưa cùng ngày từ Sài Gòn đến phi trường Changi, sau đó thăm viếng, mua sắm. Đến tối, khi làm thủ tục check-in tại phi trường, đại diện Scoot Airlines mới thông báo hủy vé. Chỉ mỗi anh Hưng do có visa là đủ điều kiện bay.

“Ban đầu hãng yêu cầu cam kết đi 11 về đủ 11 người, nếu thiếu một người sẽ phải đền bù $10,000 một người (khoảng 230 triệu đồng), tôi chấp nhận cam kết này vì khá tự tin vào quá trình thẩm định lý lịch của du khách. Nhưng cuối cùng, họ vẫn từ chối cho bay,” anh Hưng cho hay.

Bị từ chối bay vào lúc nửa đêm, không thuê được khách sạn tại Singapore, đoàn khách 11 người Việt Nam phải vật vờ, ăn ngủ tại phi trường suốt gần 24 tiếng.

Trong khi đó, nói với báo VNExpress, đại diện Tổng Cục Du Lịch Nam Hàn (KTO) tại Việt Nam, khẳng định đến nay, đảo Jeju vẫn duy trì chính sách miễn visa đối với khách Việt Nam.

Về việc hãng Scoot Airlines không cho bay, hoàn vé của khách “có thể là biện pháp giảm thiểu tổn thất riêng của họ, do có nhiều trường hợp bị từ chối nhập cảnh, chứ hoàn toàn không liên quan đến chính sách của Jeju. Đại diện KTO cho hay du khách cần tìm hiểu thông tin kỹ trước khi lên đường để tránh rắc rối.

Đại diện hãng Scoot Airlines hiện chưa có câu trả lời chính thức về việc này. Nhưng nhân viên tại phi trường cho hay sẽ hoàn tiền 100% vé trong hai tuần. Khách để lại số điện thoại và địa chỉ email để hãng liên lạc.

Không riêng người Việt Nam, hồi đầu Tháng Tám, có 112 người Thái Lan đến Jeju bằng chuyến bay charter đã bị từ chối nhập cảnh, bởi bị nghi ngờ mục đích du lịch. Sau đó, 108 khách Thái Lan khác cũng bị từ chối với lý do tương tự.

Trước đó, 23 du khách Mông Cổ đi tour theo nhóm 156 người đã không trở về dù hết hạn thị thực, bị coi là nhập cư bất hợp pháp. Một trong những người này đã bị bắt tại cảng Jeju khi cố lên một chiếc thuyền đến thành phố Mokpo. Hai người khác bị phát hiện đang làm việc bất hợp pháp trên đảo.

Thông tin vé máy bay đã đặt thành công từ hãng Scoot Airlines của 7/11 người Việt Nam bay từ Singapore đến đảo Jeju. (Hình: VNExpress)

Theo báo Korea Times, Bộ Tư Pháp Nam Hàn có thể áp dụng yêu cầu khai báo Ủy Quyền Du Lịch Điện Tử Nam Hàn (K-ETA) trên đảo Jeju. Hiện K-ETA chỉ dành cho 107 nước trong danh sách được miễn visa đến Nam Hàn (tính đến 14 Tháng Tám).

Điều này có nghĩa những nước nằm trong diện yêu cầu phải có visa nhập cảnh Nam Hàn không thuộc diện phải điền K-ETA, vì đã trải qua các bước xét duyệt hồ sơ xin visa trước đó. (Tr.N) 

TIẾNG ĐỜI VÀ TIẾNG NGƯỜI-Quyên Di

 TIẾNG ĐỜI VÀ TIẾNG NGƯỜI

(Buổi đọc Kinh Thánh cho Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, hai ngày trước khi ông về nước Chúa.)

Giữa những xôn xao tiếng đời

Tiếng Người khi còn khi mất

Giữa những lo toan kiếp người

Tiếng Người hầu như chìm khuất.

Giữa những vinh quang sáng ngời

Tiếng Người chìm đâu chẳng thấy

Giữa những rộn ràng nói cười

Tiếng Người xa xôi lắm vậy.

Giữa những lo toan rối bời

Tiếng Người không còn có chỗ

Giữa những ưu tư thế thời

Tiếng Người làm sao nghe rõ.

Trong vắng im của tiếng đời

Tiếng Người vang vang rõ tỏ

Khi trí lòng không mù khơi

Tiếng Người ở trong tâm đó.

Cánh cửa mở ra vườn tươi

Nhưng lòng không bay theo gió

Lòng hướng về chốn Quê Trời

Tiếng Người chỉ đường dẫn lối.

Tiếng Người dịu ngọt, êm thay

Như nước suối nguồn mát mẻ

Dâng lên Người phút giây này

Hồn con không còn quạnh quẽ.

“Hãy đưa con về Quê Trời

Lạy Cha nhân hiền dấu ái.”

Tiếng Người vọng lại đáp lời:

“Nắm tay Cha đừng e ngại.”

Dắt con lên tầng mây cao

Gió mát nắng vàng hiện hữu

Giữa trời tinh tú xôn xao

Người đưa vào miền vĩnh cửu.

QD

Thức Ăn Nhanh Cho Tâm Hồn-TỈNH THỨC-Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

  Thức Ăn Nhanh Cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul)  

thứ hai, ngày 15 tháng 8 năm 2022.

TỈNH THỨC

Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn.

Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, 

để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay.

(Luca 12: 35-6)

Tỉnh thức là gì?

Tỉnh thức hoặc thức tỉnh là một trạng thái tâm linh bừng tỉnh, ý thức về chính mình và về những thực tại xung quanh. Tỉnh thức, tiếng anh là spritirual awakening (bừng tỉnh tâm linh, thức tỉnh tâm linh). Tỉnh thức là lời mời gọi hãy bừng tỉnh, hãy ý thức RÕ về chính những SUY NGHĨ, LỜI NÓI, HÀNH ĐỘNG của mình, và THẾ GIỚI XUNG QUANH để nâng mình lên cao hơn, thoát khỏi những đam mê, những tội lỗi kéo mình xuống. [Mặc dầu chúng ta, với những giới hạn thân phận con người, không có khả năng nhận thức đầy đủ về chính mình và thế giới xung quanh. Theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, bây giờ chúng ta chỉ thấy mọi sự lờ mờ, chưa sáng tỏ, đợi khi nào vào trong trời mới đất mới, mọi sự mới tỏ tường]. Tỉnh thức (awake) có nghĩa đen là thức dậy nhưng cũng có nghĩa bóng là tỉnh thức, đừng mê đắm vào điều gì đó quá mức. Nói cách cụ thể, tỉnh thức là thành công trong việc chống lại các sự cám dỗ tinh vi, không bị lạc trong những “mật ngọt” của cuộc sống, không bị thiếu ý thức kẻo rơi vào những thứ được giăng ra hầu mong ta sập bẫy.

Tỉnh thức bao gồm BA MỨC ĐỘ. Tỉnh thức trong SUY NGHĨ, LỜI NÓI, và HÀNH ĐỘNG. Tuy nhiên, ba mức độ này là một chuỗi tổng hợp liên kết chặt chẽ, không tách rời. Tỉnh thức trong suy nghĩ sẽ chi phối hướng dẫn lời nói. Một khi đã tỉnh thức trong suy nghĩ, lời nói rồi, thì sẽ tỉnh thức trong các hành động của mình.

Con người thời này, với công nghệ khoa học kỹ thuật số (như vi tính, điện thoại được trang bị với những ứng dụng tối tân…) đã, đang, sẽ chi phối cuộc sống của mỗi cá nhân, và làm cho họ quá bận rộn, nên dường như quên ý thức về cuộc sống xung quanh, và quên cả thân phận mau hư nát của chính mình. Nhiều người sống như là một cỗ máy sẽ hoạt động vĩnh cửu, không bao giờ chết, không bao giờ ngừng hoạt động. Họ dường như không bao giờ có cùng suy nghĩ như nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, hay có suy nghĩ mà không ý thức đủ, cuộc sống ở trần gian chỉ là quán trọ:

Con chim ở trọ cành tre,

Con cá ở trọ trong khe nước nguồn…

Môi xinh ở trọ người xinh,

Duyên dáng ở trọ đôi chân Thuý Kiều…

Tôi nay ở trọ trần gian

Mai sau về chốn xa xăm với Người.

Nhìn những người khác chết, họ chẳng mảy may suy nghĩ “nay người mai ta.” Họ không quan tâm rằng: 

Khi cánh cửa quan tài khép lại, 

là khép lại mọi ước hẹn.

Tôi nằm xuống sau một lần vào viễn du,

Đất hoang vu khép lại mọi hẹn hò,

Đứa con xưa trở lại nguồn.

Mặt trời còn đây, mặt trời còn lên, 

Đồng còn xanh, cỏ còn tươi.

… Mà hôm nay tôi phải ra đi!

Khi mỗi người chúng ta chết, 

là thế giới chấm dứt với ta. 

Thế giới chấm dứt với ta, 

khi ta diện kiến Thiên Chúa.

Sống mà không ý thức một mai mình sẽ chết là đang mê ngủ. Cơn mê ngủ này không có thuốc đặc trị nếu chính đương sự không bừng tỉnh. Một khi con người không bừng tỉnh, không tỉnh thức về số phận phải chết của mình thì họ cũng chẳng thể sống như một con người. Trong ngôn ngữ tiếng Anh có câu: Chỉ khi bạn học thế nào để chết, thì bạn mới học thế nào để sống (Once you learn how to die, you learn how to live). Khi bừng tỉnh:

Kiếp sống thoảng qua: một tiếng thở dài.

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi…

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. (x. Tv 90: 9, 10 và 12).

Tính thức với thái độ khôn ngoan là “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay” (Luca 12: 35-6).

Nếu đã ý thức thân phận con người phải chết, đó là quy luật không thay đổi. Giờ chết đến bất ngờ? Chuẩn bị. Chắc chắn sẽ chết. Vậy, câu hỏi đặt ra là chúng ta có đang “thắt lưng cho gọn, cầm đèn cháy sáng trong tay không?” Xin cho mỗi người chúng ta trong hoàn cảnh, trong bậc sống của mình, hãy thắp sáng đời mình.

Chuyện kể rằngVài thế kỷ trước, tại một ngôi làng miền núi ở châu Âu, một nhà quý tộc quyết định bí mật xây một nhà thờ để làm di sản cho người dân trong làng của ông. 

Ngày khánh thành, mọi người ngạc nhiên trước vẻ đẹp sắc sảo của ngôi thánh đường. Nhưng một người có cái gì đó không bình thường nên đã hỏi: “Hệ thống đèn, điện ở đâu? Nhà thờ được thắp sáng thế nào?”

Nhà quý tộc chỉ vào một số móc trên tường. Rồi, sau đó, ông trao cho mỗi gia đình một chiếc đèn, và dặn: “Mỗi khi đến đây, chính mỗi người treo đèn của mình lên vào cái móc gần chỗ mình ngồi nhất.”

Ông giải thích: “Mỗi khi bạn đến, khu vực bạn ngồi sẽ sáng. Nếu bạn không đến, khu vực đó sẽ tối. Bất cứ khi nào bạn không đến, một số nơi trong nhà thờ sẽ không có ánh sáng, bị tối tăm chiếm dụng. Và quan trọng hơn, bạn ‘giữ cho đèn tâm hồn luôn sáng’ không chỉ trong nhà thờ mà cả ngoài nhà thờ nữa.”

Cùng Suy Nghĩ và Hành Động: Tôi đã khi nào ngồi, nhắm mắt lại và tưởng tượng ra cảnh chính tôi đang nằm trong quan tài, và mọi người đang thăm viếng tôi không? Thử tưởng tượng xem mọi người đang nghĩ gì về tôi – người ra đi? Tôi có đang sống như một anh hùng và để rồi chết như một anh hùng không? Tôi có đang hành động, hay làm điều gì đó để nhắc nhở tôi phải sống như sẽ chết không?

Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM–Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn

HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM –

 Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn,                                                                                    

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa, nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà, hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn, bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay. 

       Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng ! Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao.  Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng ! Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa.

                                                                                            

   Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều. Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người Viet Nam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

                                                                                            

Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp… Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn : Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt. Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau :

                                                                                             Austin

                                                                                        New Orlean

                                                                                            Houston

                                                                                        San Antonio

                                                                                              Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất. Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc, làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm.

                                                                            

Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

                                                                                  

                                           Kemah Houston

   HOUSTON SỬ LƯỢC 

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù ! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh ! Chỉ có tử chiến mà thôi !                                                          

                                                                                            

 Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu diệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

    Chuẩn bị phòng thủ

                                                                                         Alamo

Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio, thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị Tổng chỉ huy Nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn theo 30 dân quân để phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch !” Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn. Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

         Tử chiến thành Alamo

                                                                                            

 Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836 Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành. Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha. Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành !

Mỗi đêm, quân Mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.

                                                                           

Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đồng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng”.

                                                                                            

Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết.

                                                                            

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

                                                   Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 – 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

                                                            TEXAS TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP 

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người ! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành 

Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas 

gấp 6 lần !

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

                  Trận chiến cuối cùng

                                                                                  

Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo !”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận

                                                                   

Cuối cùng Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên. Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bàu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

          Cuộc đời của Sam Houston

 

           Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết. Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc – Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền Nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ.

                                                                                           

Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu ! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ?                                 Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài – Michael Faraday.

Võ Ngọc Ánh

Hắn chỉ còn nhớ tên, “định luật Faraday”, còn nhân loại nhớ đến ông là nhà khoa học.

BIA MỘ CHỈ CẦN GHI TÊN THẾ LÀ ĐỦ. NGƯỜI CÓ NIỀM TIN TÔN GIÁO THÌ NÊN HIỂU, KHÔNG CẦN GHI CHỨC VỤ ĐẠO VÀ ĐỜI.

“Trên thế giới hiếm có người chỉ hoàn toàn tự học, không qua trường lớp đại học nào mà thành nhà bác học thiên tài như Michael Faraday.

Ông sinh ra tại nước Anh trong một gia đình thợ rèn nghèo vào năm 1791. Cha ốm, mẹ làm nghề giặt thuê, nhà có 4 anh em nheo nhóc. Cả nhà ông phải sống bằng tiền từ thiện nhiều phen khi khó khăn. Do đó ông phải bỏ học rất sớm. Khi xin nghỉ học, thày giáo của ông rất tiếc và động viên học trò: ”Hãy dũng cảm lên! Phải bỏ học giữa chừng như vậy thật tiếc, nhưng em hãy vững lòng tin và nhớ tới gương hiếu học của người xưa. Hãy bền chí.

13 tuổi, Faraday phải tới hiệu sách Ribo ở London làm nghề đóng sách. Cậu tranh thủ đọc sách ngay từ những cuốn sách mà mình phải đóng bìa. Cậu may mắn được ông chủ tiệm động viên hãy đọc sách nhiều hơn. Và cậu mê mải đọc nhiều cuốn sách khoa học, trong số đó cậu thích đọc nhất là cuốn Mạn đàm về hóa học và phần về điện trong Đại Anh Bách khoa toàn thư.

Tối về nhà, Faraday giải trí bằng việc tự mày mò làm các thí nghiệm theo sách hướng dẫn, dù phải bỏ vài xu từ thu nhập ít ỏi của mình mỗi tuần đầu tư cho các thí nghiệm này. Cậu còn chế tạo được máy móc dùng để học về điện. Ban đầu thì tôi dùng những lọ thủy tinh nhỏ, nhưng về sau thì cậu dùng những ống bằng đồng và những dụng cụ thí nghiệm về điện khác.

Khoa học đã làm cho Faraday cảm thấy hạnh phúc và say sưa vô cùng. Cậu bỏ công ra 2 năm liền ghi chép các bài giảng của các bậc thày khi đi tham gia các buổi thuyết trình khoa học do Hội Triết học ở Anh tổ chức.

Một ngày nọ, ông chủ hiệu sách tặng Faraday một tấm vé đi nghe thuyết trình tại Học viện Hoàng gia Anh của giáo sư Humphry Davy.

Nghe xong, cậu ghi chép lại nội dung diễn thuyết, bổ sung những ý tưởng và kiến giải của mình và đóng thành một cuốn sách cẩn thận rồi đem tặng giáo sư Humphry Davy cùng bức thư tự tiến cử mình vào tháng 10 năm 1812.

Là một quý tộc và là khoa học gia, Davy rất xúc động khi nhận món quà này. Ông viết thư trả lời cho Faraday với nhiều lời khen ngợi cậu và sẵn sàng giúp đỡ. Ông hào phóng nhận cậu bé bỏ học là thợ đóng sách đó vào làm trợ lý cho mình tại Học viện Hoàng Gia Anh. Khi đó Faraday đã là một thanh niên 22 tuổi.

Về sau này, giáo sư Davy cho rằng phát hiện quan trọng nhất của ông không hẳn là các công bố khoa học, mà chính là việc ông tìm ra Michael Faraday.

Faraday vào Học viện Hoàng gia chỉ làm phụ việc như rửa chai lọ, lau bàn ghế, quét dọn… nhưng không lâu sau, ông đã nắm được nhiều kỹ thuật và trở thành trợ thủ đắc lực của Davy. Ông được cùng giáo sư Davy đi nghiên cứu và học hỏi tại châu Âu trong 18 tháng. Đó là cơ hội vàng cho ông học hỏi và làm quen với các nhà khoa học bậc thày hồi đó như Marie Ampère, Count Alessandro Volta, Gay Lussac. . . và được tham quan nhiều phòng thí nghiệm lớn. Sau này, Ampère và Faraday đã có một tình bạn keo sơn. Trong hành trình này, ông lao vào học hỏi, ghi chép, tìm tòi.

Từ trợ lý làm việc vặt, Faraday sau đó thành Trợ thủ phòng thí nghiệm kiêm quản lý viên tiêu bản khoáng vật, kiêm tổng quản thiết bị và dụng cụ thí nghiệm cho giáo sư Davy.

Cứ như vậy, ông dần trở thành nhà khoa học. Ông hoàn tất luận văn khoa học đầu tiên năm 25 tuổi, vào năm 1816, dưới sự hướng dẫn của Davy. Sau này ông nhớ lại: “Đây là lần đầu tiên tôi thử bàn về vấn đề hóa học, và sự sợ hãi của tôi lớn hơn sự tự tin. Hơn nữa, cả hai tâm trạng đó lại lớn hơn cả tri thức của tôi. Lúc bấy giờ, tôi không thể tưởng tượng được là mình có thể viết một bài luận văn khoa học mà trong đó có nhiều sáng kiến như vậy”.

Từ sự thành công của bản luận văn đầu tiên, Faraday tiếp tục dấn thân vào con đường nghiên cứu với nhiều bản luận văn khác. Hai năm 26 và 27 tuổi, ông viết 17 luận văn về hóa học. Từ đó, ông trở thành nhà khoa học thực thụ bằng năng lực và sự chăm chỉ, cần cù tự học của mình.

Michael Faraday là nhà hóa học và vật lý học có đóng góp vô cùng to lớn cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa học của nhân loại. Những khám phá của ông là về cảm ứng điện từ, động cơ điện, máy phát điện, máy biến áp, và các luật về điện phân…

33 tuổi, ông được bầu làm Hội viên Hội Khoa học Hoàng gia London và bắt đầu giảng dạy tại Học viện Hoàng gia Anh. Sau đó ông được phong giáo sư, được bầu là thành viên của Viện hàn lâm khoa học Paris.

Tuy nhiên Faraday là người vô cùng khiêm tốn. Năm 40 tuổi, sau khi ông phát hiện ra cảm ứng điện từ, ông được vinh dự mời giữ chức Chủ tịch Hội khoa học Hoàng gia Anh và ông đã lịch sự từ chối vì muốn chuyên tâm làm khoa học. Để thưởng cho ông, Nữ hoàng Victoria đã tặng ông ngôi nhà ở Hampton Court và phong chức Hầu tước, nhưng ông chỉ nhận nhà với sự biết ơn, và từ chối tước vị.

Ngoài thời gian dành cho khoa học, Faraday còn là người thầy xuất sắc. Ông có trách nhiệm cao và rất quan tâm đến phương pháp giảng dạy phải thực nghiệm để xây dựng hình tượng trực quan. Cho tới tận ngày nay, Học viện Hoàng gia Anh vẫn duy trì những nguyên tắc giảng dạy mà Faraday đã đề ra bằng kinh nghiệm và lòng tận tâm với công việc của ông.

Ông có một gia đình rất hạnh phúc và tràn đầy tình yêu thương. Và dù là một nhà khoa học, ông vẫn có đức Tin mãnh liệt vào tôn giáo. Ông đi nhà thờ cùng vợ hàng tuần với sự cần mẫn và sùng đạo. Năm 1860, khi đã già, Faraday được bầu làm trưởng lão của giáo hội, tham gia chủ trì nghi lễ và giảng đạo. Ông chính là bằng chứng sống cho thấy Khoa học và Tôn giáo đều là những vật báu của loài người.

Ngày 20/3/1862 là ngày cuối cùng đánh dấu công việc nghiên cứu của Michael Faraday. Trong cuốn sổ ghi kết quả nghiên cứu của ông có ghi rõ con số thí nghiệm cuối cùng của ông: 16.041.

5 năm sau, ông bị điếc và mất trí nhớ. Nhà bác học đã từ trần ngày 25/8/1867, thọ 76 tuổi tại nhà riêng ở Hampton Court, khi đang ngồi trên cái ghế bành thân quen. Ông được an táng tại công mộ High Gate. Trên bia chỉ khắc họ tên của ông mà thôi. Đó chính là ước nguyện của ông – được sống và chết như một người bình thường.

Ông đã cống hiến rất nhiều phát kiến khoa học vĩ đại cho nhân loại. Và cuộc đời của ông là cuộc đời sáng chói của một tấm gương miệt mài vì khoa học, giữ Đức Tin vào tôn giáo, sống tử tế với gia đình vợ con và bạn bè, khiêm cung và tận tụy.

Ông cũng cho thấy rằng nếu làm một người tốt, cần cù chịu khó và ham học hỏi thì có biết bao người sẵn sàng giúp đỡ mình. Từ những người như thày giáo của ông cho tới ông chủ hiệu sách nơi ông làm công và giáo sư Davy, những quý nhân đó đã phù trợ một cậu bé nghèo bỏ học đi làm công trở thành nhà khoa học vĩ đại của thế giới.

Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Hình đồng 20 bảng của Anh hiện in hình M Faraday – Twitter.”

Trần trọng Khiêm: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Trần trọng Khiêm 

 Những người Việt có số phận kỳ lạ: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Tác gỉa :Hà Đình Nguyên 

Hiện ở P.Long Bình, Q.9, TP.HCM có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm. Có lẽ ít ai biết đây chính là người đã đặt chân đến nước Mỹ cách đây hơn 170 năm.

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1842 (năm Minh Mạng thứ 23) ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao (Phú Thọ) có một chàng thanh niên 21 tuổi tên Trần Trọng Khiêm phạm trọng án. Số là người vợ mới cưới của anh bị tên xã trưởng ép bức, làm nhục rồi sát hại. Căm giận, Trần Trọng Khiêm quyết báo thù. Sau khi tương kế tựu kế giết chết tên vô lại, anh trốn xuống Phố Hiến (Hưng Yên) rồi xin vào làm việc trên một chiếc tàu buôn ngoại quốc, khởi đầu cho những chuyến phiêu lưu khắp năm châu bốn biển.

Suốt 12 năm (1842 – 1854), Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Á sang Âu: Hồng Kông, Anh, Hà Lan, Pháp… Nhờ trí thông minh, đi đến đâu anh cũng cố gắng học tiếng địa phương. Năm 1849, anh đặt chân đến thành phố New Orleans (Mỹ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, Trần Trọng Khiêm bấy giờ 28 tuổi, cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây. Trong gần 2 năm, Lê Kim sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Anh đã tham gia đoàn đào vàng do một người Canada tên Mark khởi xướng. Để tham gia đoàn này, tất cả thành viên phải góp tiền mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Lê Kim góp 200 USD vào thời điểm năm 1849. Do biết nhiều ngoại ngữ, anh được ủy nhiệm làm liên lạc cho thủ lĩnh Mark và làm phiên dịch cho những thành viên trong đoàn gồm tiếng Hà Lan, Trung, Pháp… (trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Mexico…). Anh nói với mọi người rằng anh còn biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt nhưng không cần dùng đến. Lê Kim cũng nói anh không phải người Hoa nhưng đất nước của anh nằm cạnh nước Tàu.

Lê Kim và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua dãy núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là Oh! Suzannah (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc…). Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng, nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm – họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ. Sốt rét và rắn độc cũng đã cướp đi quá nửa số thành viên trong đoàn.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người tháo vát, xông xáo lại biết nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được làm phóng viên tự do cho nhiều tờ báo như: Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Lê Kim hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng làm việc ở những mỏ khai thác vàng là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Nhiều bài báo của anh đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A.Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, anh đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, tướng Sutter bị bệnh tâm thần và sống lang thang ở các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không ai đoái hoài đến.

Khi gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 USD và chê trách thái độ của người dân San Francisco cũng như nước Mỹ đối với người khai phá ra vùng đất San Francisco.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng anh cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

“Người Minh Hương” cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương (người gốc Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh nên di dân sang Việt Nam – NV) đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai.

Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Mỹ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường.

Chưa đầy 10 năm sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, Lê Kim từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, trở thành một vị tướng giỏi. Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De La Grandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

 “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh.

Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”. 

(Dựa theo tài liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê 1912 – 1984).

From: TRUONG LE

Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

August 13, 2022

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Sự thể quân đội của ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, sau khi chiếm đoạt rồi sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine vào Liên Bang Nga hồi năm 2014 mà thế giới đành bất lực đứng ngó, đã dẫn đến việc các lực lượng Nga ngày nay đang ngang nhiên giày xéo và hủy diệt từng phần đất nước Ukraine, bất chấp Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu (EU) cùng với “loài người tiến bộ” trên thế giới lên tiếng phản ứng.

Người Duy Ngô Nhĩ tại Kashgar, khu tự trị Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Trung Quốc. Nhóm dân tộc Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi phải đối mặt với những hạn chế về văn hóa và tôn giáo của chính phủ Trung Quốc. (Hình minh họa: Kevin Frayer/Getty Images)

Trong tình thế này, nếu một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh Nga-Ukraine không đạt được thì hậu quả trông thấy sẽ là, cuối cùng, con gấu Nga sẽ nuốt chửng con cừu Ukraine dựa trên cán cân lực lượng quá chênh lệch giữa siêu cường quân sự Nga và quốc gia đang phát triển Ukraine, kẻ tuy thuộc dòng máu anh hùng cái thế nhưng lực lượng quân sự lại yếu kém hơn nhiều so với đối thủ.

Rồi chuyện nước Cộng Hòa Ukraine bị vĩnh viễn xóa sổ trên bản đồ thế giới, cũng giống như trường hợp của Tây Tạng, miền Nam Việt Nam – và kế tiếp có thể là Đài Loan – sẽ không còn là viễn tượng nữa mà sẽ trở thành sự thật. Và điều này có nghĩa là nếu, một lần nữa, phe Thiện lại để mất Ukraine vào tay phe Ác thì những quốc gia bị nước khác thôn tính đó sẽ chẳng bao giờ có cơ hội được phục hồi sự sống.

Những chiến thắng liên tiếp của phe Ác trước phe Thiện

Lịch sử nhân loại từ sau Thế Chiến Thứ Hai cho đến nay đầy dẫy những chuyện cái Ác hễ đã chiến thắng ở đâu thì cứ tồn tại mãi nơi đó.

Tại Châu Á, các lực lượng Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đã đánh chiếm lục địa Trung Hoa khỏi tay chính quyền Trung Hoa Dân Quốc dưới sự lãnh đạo của ông Tưởng Giới Thạch, tổng thống, từ năm 1949 tới nay. Thấy thế giới chẳng có phản ứng gì nhằm ngăn cản hoặc trừng phạt chế độ độc tài, đảng trị của Cộng Sản Trung Quốc trong hành động đặt ách cai trị lên dân chúng tại lục địa Trung Hoa, Cộng Sản Trung Quốc bèn đem quân xâm chiếm luôn vùng Tây Tạng tự trị hồi năm 1950 và sáp nhập phần đất này vào Hoa Lục.

Bắc Kinh hiện cũng đang cai trị vùng lãnh thổ Tân Cương (Xinjiang), với đa số dân chúng theo Hồi Giáo, dưới bàn tay sắt, và đang thi hành chính sách đồng hóa tàn bạo, nếu không nói là diệt chủng, để trừ khử cho bằng hết người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) bản xứ. Hồi năm 1989, Cộng Sản Trung Quốc cũng đã dập tắt một cách tàn nhẫn các cuộc biểu tình đòi tự do, dân chủ của giới trẻ tại Hoa Lục, khiến cả ngàn sinh viên, học sinh tham gia biểu tình bị tàn sát dưới mắt xích của xe tăng Giải Phóng Quân Trung Hoa.

Chế độ Cộng Sản tại Bắc Hàn, do Trung Quốc thiết lập từ thời Chiến Tranh Triều Tiên (1950-1953) đến nay, dù là một chế độ độc tài, gia đình trị, đảng trị, tàn bạo, và không hề tôn trọng nhân quyền, vẫn tồn tại từ ngày đó đến giờ. Sự thật thì Bắc Hàn đang ngày càng hùng mạnh hơn về quân sự nhờ thủ đắc thêm võ khí nguyên tử, để trở thành mối hiểm nguy trực tiếp cho Nam Hàn, Nhật Bản và ngay cả cho Hoa Kỳ.

Chế độ Cộng Sản tại Cuba, chiếm quyền trên đảo quốc này từ năm 1959 cho tới nay, vẫn còn là một chế độ độc tài, độc đảng và vi phạm nhân quyền trầm trọng mà thế giới vẫn cứ phải để yên. Chế độ Cộng Sản Việt Nam, nắm quyền cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam sau khi đánh bại đối thủ là nước Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1975 đến nay, vẫn là một chế độ độc tài, đảng trị, hà khắc và đầy tham nhũng, khiến dân chúng Việt Nam chán ghét tới mức rủ nhau bỏ nước ra đi qua các cuộc vượt biển tìm tự do trong suốt hai thập niên 1970 và 1980.

Chế độ Hồi Giáo chính thống tại Iran, nắm quyền từ năm 1979 cho tới nay, cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa của Hugo Chávez và Nicolás Maduro, cướp chính quyền từ 1999 tới nay, vẫn còn là những chế độ phi dân chủ và đàn áp nhân quyền bị dân chúng thù ghét mà thế giới đành bó tay và không có cách nào lật đổ được. Mới đây, nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đã ra mặt ủng hộ ông Putin trong cuộc xâm lăng tàn bạo và diệt chủng của quân Nga tại Ukraine. Chế độ độc tài, tàn bạo của Bashar al-Assad tại Syria, được nước Nga của ông Putin hà hơi, tiếp sức, vẫn sống mãi với thời gian để cỡi đầu, cỡi cổ dân chúng Syria từ khi đảng Ba’ath lên cầm quyền hồi năm 2000 cho tới nay.

Islami Oikya Jote, một đảng chính trị Hồi Giáo ở Dhaka, Bangladesh, trong cuộc biểu tình vào ngày 4 Tháng Sáu, 2021, để phản đối Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ và tưởng niệm 32 năm vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn, Trung Quốc. (Hình minh họa: Munir Uz Zaman/AFP via Getty Images)

Năm 2008, sáu năm trước khi nước Nga của ông Putin cướp lấy bán đảo Crimea khỏi tay Ukraine và hơn một thập niên trước khi nước Nga khởi sự cuộc chiến tranh diệt chủng và thôn tính nước Ukraine hiện nay, Moscow đã xúi giục người dân gốc Nga tại hai tỉnh Abkhazia và South Ossetia nổi lên tách ra khỏi nước Georgia và xin sáp nhập vào Liên Bang Nga. Các chế độ độc tài, đảng trị tại những quốc gia và vùng đất nói trên vẫ tồn tại mãi với thời gian sau khi giành được quyền cai trị.

Vì sao cái Ác hễ đã chiến thắng nơi đâu thì cứ tồn tại mãi ở đó?

Một khi đã bại trận và bị phe Ác thôn tính rồi, các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc phe Thiện chẳng bao giờ có khả năng khôi phục lại sự tồn tại hoặc vị thế cũ của mình trên trường quốc tế, cho dẫu phần còn lại của thế giới, được coi như thuộc phe Thiện, có đứng ngoài giậm chân thình thịch và la hét ỏm tỏi đến cách mấy đi nữa.

Các sự kiện sau đây có thể giải thích sự trường tồn của cái Ác trên những vùng đất và lãnh thổ mà họ từng chiếm được, đặc biệt là trong thế giới ngày nay:

1-Chủ nghĩa vật chất (materialism) ngự trị thế gian: Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, với sự phát triển vượt bực của khoa học và kỹ thuật cùng với sự giàu có gia tăng của con người và của những quốc gia, chủ nghĩa vật chất đã phát triển song hành và đang tìm cách thay thế hai chủ nghĩa Tư Bản và Cộng Sản từng đối đầu nhau quyết liệt. Dựa trên nguyên tắc bất hủ “Cái gì lúc đầu không mua được bằng tiền thì cuối cùng cũng sẽ mua được bằng rất nhiều tiền,” chủ nghĩa vật chất liền xông lên ngự trị khắp thế gian sau khi đã thay thế hầu hết các giá trị tâm linh và tinh thần của con người, từ tôn giáo cho tới đức tính quân tử và tinh thần hiệp sĩ mà mãi cho tới hạ bán thế kỷ trước vẫn còn thấy tồn tại đó đây. Chính cái chủ nghĩa đầy tính thực tiễn này đang hỗ trợ và củng cố hết sức đắc lực cho chiếc ngai vàng của phe Ác, đồng thời hà hơi, tiếp sức cho cái Ác ngự trị lâu dài trên cõi thế gian ngày càng gian manh và gian ác này.

2-Thế giới đang thiếu vắng những tay “sen đầm quốc tế” cỡ siêu cường Mỹ từ sau Thế Chiến Thứ Hai (1945) cho đến lúc cuộc Chiến Tranh Iraq kết thúc (2011). Lẽ ra, sau khi Hoa Kỳ thôi không chịu đứng ra làm tay “sen đầm quốc tế” nữa, vai trò này phải do một tổ chức quốc tế lớn rộng như Liên Hiệp Quốc đảm đương, nhưng vì tổ chức quốc tế này chỉ có tính cách hữu danh, vô thực nên nó không thể can thiệp để chận đứng những cuộc xâm lược của nước này chống nước kia, mà cụ thể là cuộc xâm lược của quân Nga vào đất nước Ukraine đang diễn tiến hiện nay.

3-Chủ nghĩa thỏa hiệp (compromise) làm suy yếu sức chiến đấu chống cái Ác: Chủ nghĩa thỏa hiệp, qua các thể thức như “cho đi, lấy lại” (“give and take”), “dung hòa” (“finding a middle ground”, và “đánh đổi” (“trade off”), làm các cá nhân cũng như các quốc gia không chịu kiên nhẫn theo đuổi cuộc chiến đấu chống cái Ác cho đến khi đạt được chiến thắng sau cùng, dẫn đến tình trạng cái Ác cứ tồn tại mãi.

4-Con người ngày càng ham sống, sợ chết: Lúc con người ngày càng giàu có và ngày càng ham hưởng thụ các khoái lạc vật chất như hiện nay thì họ lại càng ham sống (để hưởng thụ mãi) và sợ chết (do chết đi thì uổng quá chừng), dẫn đến tình trạng thiếu các tay Kinh Kha dám liều mạng sống để lao vào chỗ chết mà diệt trừ cái Ác.

5-Tinh thần “quân tử” và “hiệp sĩ” xưa nay không còn nữa: Muốn diệt cái Ác để giúp đời và giúp người, cần phải có tinh thần của người “quân tử” thời xưa và các “hiệp sĩ” thời Trung Cổ mới thúc giục con người chấp nhận hy sinh, gian khổ để cứu người và giúp đời trên bước đường trừ gian, diệt bạo.

6-Đường lối lãnh đạo tập thể cản trở hành đông quyết liệt: Thế giới ngày nay hầu hết theo đường lối lãnh đạo tập thể qua các chính quyền hoặc tự do, dân chủ hoặc độc tài, đảng trị, dẫn đến tình trạng thiếu các hành động quyết liệt để trừ gian, diệt bạo, tức là loại trừ cái Ác ra khỏi cộng đồng nhân loại, điều mà các vua chúa và các vị tướng quân thuở xưa vẫn một mình hoàn thành sứ mạng. Giới lãnh đạo tập thể thường hay bị trói tay trong tình huống cần phải hành động nhanh chóng và dứt khoát để loại trừ kẻ Ác.

7-Tâm lý “liệng chuột sợ bể đồ” hoặc “chén kiểu ngại đổi chén sành”: Chính tâm lý này của một số dân tộc đang giàu sang, phú quý và có mức sống cao đã khiến cho họ ngần ngại phải lao đầu vào những cuộc chiến tranh với các đối thủ so ra kém phần giàu sang hơn họ. Ngược lại, tâm lý “cùi không sợ lở” tại những nước chỉ mới đủ sức phát triển về quân sự chứ chưa thể trở nên giàu có về kinh tế (cỡ Bắc Hàn) dễ khiến cho họ liều lĩnh hơn, cương quyết hơn và hiếu chiến hơn trong nỗ lực gây hấn với các nước khác hoặc làm điều ác.

8-Mô thức “toàn cầu hóa kinh tế” hiện nay đã ràng buộc đời sống vật chất và mức phồn thịnh của nước này vào nước kia: Việc “toàn cầu hóa kinh tế” dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong các nỗ lực trừng phạt kinh tế, chứ đừng nói gì đến đánh nhau, của phe Thiện chống phe Ác, rồi lại vô tình giúp giữ nguyên hiện trạng Ác thắng Thiện khắp nơi. Công cuộc trả đũa và trừng phạt các chế độ tàn ác chuyên vi phạm nhân quyền hoặc xâm lấn các nước khác, trong đó có cuộc cấm vận của thế giới chống Nga hiện nay và nỗ lực trừng phạt kinh tế Trung Quốc của Hoa Kỳ trước đây, xem ra chẳng hề dễ dàng gì.

9-Sự thiếu kiên nhẫn của các quốc gia thuộc phe Thiện trong nỗ lực cô lập hóa nhằm trừng phạt các quốc gia thuộc phe Ác: Tình trạng này lại có tác dụng “nối giáo cho giặc” khi, rốt cuộc, lại giúp các nước thuộc phe Ác củng cố thêm vị thế của họ và kéo dài tuổi thọ của các hành vi xâm lược hoặc vi phạm nhân quyền. Khi Hoa Lục mới được phe Cộng Sản “giải phóng,” ngoại trừ Liên Xô và các chư hầu của họ, hầu như không có quốc gia Tây phương nào ngoài Anh công nhận nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông cả. Ấy thế mà ngày nay, tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đều hớn hở và lấy làm vinh dự được thiết lập bang giao với Trung Quốc.

Cảnh một tòa nhà tại thị trấn Vasylkiv gần Kiev bị hỏa tiễn tàn phá trong cuộc tấn công của quân Nga vào Ukraine ngày 27 Tháng Hai, 2022. (Hình minh họa: Dimitar Dilkoff/AFP via Getty Images)

Sự thể này dẫn tới tình trạng đối thủ của cường quốc khổng lồ này, là Đài Loan, tuy được thế giới mặc nhiên công nhận là thuộc phe Thiện, ngày càng bị các nước trên thế giới về hùa với các nước khác mà cắt đứt quan hệ ngoại giao đang có đặng có thể công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Mỉa mai thay, chính siêu cường Hoa Kỳ, từng là kẻ tử thù của Mao Trạch Đông thời chiến tranh Quốc-Cộng trước và sau Thế Chiến Thứ Hai, đã gục ngã trước sức cám dỗ mê hồn của thị trường béo bở cả tỷ người tại Hoa Lục mà tham đó bỏ đăng, phản bội tình đồng minh thân thiết và lâu đời với Đài Loan mà đành đoạn đi công nhận Cộng Sản Trung Quốc.

Thay lời kết

Nghĩ cho cùng, chính lòng tham lam cộng với tâm lý nhà giàu ham sống, sợ chết của của con người thời đại đã dung dưỡng cho các chế độ tàn ác trên thế giới tồn tại qua thời gian, khác hẳn với ngày xưa, khi các cường quốc bạo ngược, cỡ Quốc Xã Đức, đã bị thế giới xúm lại đánh cho tan tác rồi diệt vong.

Phải chăng, trong các giai đoạn Bắc thuộc thời phong kiến Trung Quốc, và Pháp thuộc vào các thế kỷ 19 và 20, vì dân tộc Việt Nam còn nghèo và kém mở mang nên đã có thể sản sinh được nhiều vị anh hùng dân tộc biết hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để giải phóng đất nước Việt Nam khỏi ách nô lệ ngoại bang? Ngược lại, ngày nay, khi đời sống kinh tế của con người được cải thiện hơn và tâm lý ham sống, sợ chết ngày càng gia tăng, người ta chờ mãi vẫn chưa thấy vị anh hùng nào nổi lên giải phóng dân tộc mình khỏi xích xiềng Cộng Sản. (Vann Phan) [qd]

Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó

 Lê Hoàng Nam

“Hóa ra, vật nuôi cũng có những mong muốn cuối cùng trước khi chết, nhưng điều đó chỉ được biết bởi các bác sĩ thú y, những người đưa những con vật già và bệnh vào giấc ngủ ngàn thu. Người dùng Twitter Jesse Dietrich đã hỏi bác sĩ thú y đâu là phần khó nhất trong công việc của anh ta?

Bác sĩ chuyên khoa trả lời không chút do dự rằng việc tận mắt nhìn con vật tìm chủ trước khi chết là khó nhất đối với anh ta. Những con vật già yếu hay ốm yếu đưa mắt tìm chủ, ánh mắt đó thật đáng thương và khó quên.

Thực tế là 90% chủ của chúng không muốn ở trong phòng với một con vật sắp chết. Mọi người thường rời đi để không thấy thú cưng của mình ra đi. Nhưng họ không nhận ra rằng chính trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, con thú cưng của họ cần họ nhất.

Các bác sĩ thú y yêu cầu người chủ phải gần gũi với con vật cho đến phút cuối cùng. Không thể tránh khỏi việc các con vật chết trước bạn. Đừng quên rằng bạn là tất cả đối với cuộc đời của nó.

Có thể nó chỉ là một phần của bạn. Nhưng thú nuôi cũng là gia đình của bạn. Dù khó khăn đến đâu, đừng rời xa chúng trong giờ phút cuối cùng. Đừng để nó chết trong phòng với một người lạ ở một nơi mà nó không thích.

Các bác sĩ thú y rất đau lòng khi chứng kiến ​​cảnh vật nuôi không tìm được chủ trong những phút cuối đời. Nó không hiểu tại sao chủ của nó lại bỏ nó. Sau cùng, chúng cần sự an ủi của chủ nhân.

Các bác sĩ thú y làm mọi thứ có thể để đảm bảo rằng động vật không quá sợ hãi, nhưng họ hoàn toàn xa lạ với chúng. Cho nên đừng e ngại khi việc chứng kiến giây phút cuối cùng đó có thể gây đau đớn cho bạn. Hãy nghĩ về con vật cưng. Hãy chịu đựng nỗi đau này vì lợi ích của chúng. Hãy ở bên chúng cho đến giây phút cuối cùng.”

– Tricia Mo’orea

* Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó

― Josh Billings

A dog is the only thing on earth that loves you more than he loves himself.