Mừng sinh nhật 100 tuổi của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ, cựu giáo sư Sư Phạm Sài Gòn. Giáo sư Doãn Quốc Sỹ là một nhà giáo khả kính, một nhà văn nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975.
“… Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)…
Theo Lê Văn, đặc phái viên Việt Ngữ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, trong một cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng “Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến tranh và hòa bình” trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và “có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam”
Sau năm 1975, ông bị chính quyền Việt Nam giam cầm nhiều lần vì tội “viết văn chống phá cách mạng”, tổng cộng là 14 năm. Ông có tên trong danh sách những tên “biệt kích văn hóa”, bị bắt trong chiến dịch khởi động ngày 3 tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, cùng hàng trăm nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, nhân sĩ miền Nam bị xếp hạng “phản động”: Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hữu Hiệu, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Vĩnh Lộc, Trịnh Viết Thành, họa sĩ Chóe, Như Phong Lê Văn Tiến, linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đinh Bình Định, thượng tọa Thích Huyền Quang… Ông được phép di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1995. Hiện nay ông sống tại Houston, Texas từ khi sang định cư tại Hoa Kỳ.
Ông là tác giả của khoảng 25 cuốn sách. Chuyện ngụ ngôn của ông có tựa đề Con cá mắc cạn đã được dịch ra tiếng Anh (The Stranded Fish) và có trong sách Việt Nam: bạn đồng hành văn chương của một du khách (Vietnam: A traveler’s literary companion) do John Balaban và Nguyễn Quí Đức biên soạn.” (Wikipedia)
Sẽ đến thời chúng ta không còn viết sơ yếu lý lịch nhưng bắt đầu viết cáo phó cho mình. Tôi không chắc ai là người nói câu đó đầu tiên, nhưng nó hàm chứa một sự khôn ngoan.
Sơ yếu lý lịch và cáo phó khác nhau ở điểm nào? Sơ yếu nói lên những thành tựu của bạn, cáo phó thể hiện cách bạn muốn được tưởng nhớ và những điều tốt lành nuôi dưỡng nào bạn muốn để lại. Nhưng chính xác làm thế nào để viết được cáo phó sao cho nó đừng chỉ là một phiên bản kiểu khác của lý lịch? Tôi xin đưa ra gợi ý thế này.
Trong Do Thái giáo, có truyền thống là hằng năm, một người trưởng thành phải đưa ra một di chúc tâm linh. Ban đầu, nó là kiểu di chúc thông thường, tập trung vào việc mai táng, phân chia tài sản, cách xử lý những việc còn dang dở trong đời mình về mặt pháp lý và thực tế. Tuy nhiên, qua thời gian, nó biến đổi thành dạng di chúc tập trung hơn vào việc xem lại đời mình, nêu bật những gì quý báu nhất đời, những hối hận và xin lỗi thật tâm, những lời chúc phúc cho những người mà mình muốn có lời từ biệt thật đặc biệt. Di nguyện này được xem lại và viết lại hàng năm, cuối cùng là được đọc to trong tang lễ như là lời cuối cùng chúng ta muốn để lại cho người thân yêu.
Đây có lẽ là một việc làm rất hữu ích cho chúng ta, trừ việc di chúc này không phải viết ra để đưa cho luật sư, nhưng trong tinh thần cầu nguyện, gửi gắm cho một linh hướng, một cha giải tội đang giúp chúng ta. Vậy di chúc tâm linh này nói đến những chuyện gì?
Nếu bạn đang cần những ví dụ, thì tôi xin đưa ra tác phẩm và những bài viết của Richard Groves, đồng sáng lập Trung tâm Nghệ thuật Thiêng liêng của Đời sống. Trong hơn 30 năm ông làm việc trong lĩnh vực tâm linh cuối đời và cho chúng ta một vài hướng dẫn rất hữu ích về việc lập một di chúc tâm linh và đều đặn làm mới nó. Di chúc tâm linh tập trung vào ba điểm này.
Thứ nhất: Trong cuộc đời, Thiên Chúa muốn tôi làm gì? Tôi đã làm chưa? Tất cả chúng ta đều có một vài ý thức về ơn gọi, ý thức mình có một mục đích khi tồn tại trên đời, ý thức mình đã được giao nhiệm vụ để hoàn thành trong đời. Có lẽ chúng ta chỉ nhận thức thoáng qua về nó, nhưng với một mức độ nào đó, mỗi một chúng ta đều ý thức về một bổn phận và mục đích nào đó. Việc đầu tiên trong di chúc tâm linh là cố nắm bắt điều này. Thiên Chúa muốn tôi làm gì trong cuộc đời? Tôi đã làm tốt hay tệ việc đó?
Thứ hai: Tôi cần phải nói lời xin lỗi với ai? Tôi có những điều gì hối tiếc? Cũng như người khác đã làm tổn thương ta, thì chúng ta cũng có thể làm tổn thương người khác. Trừ phi chết trẻ, tất cả chúng ta đều từng mắc sai lầm, từng làm tổn thương người khác và làm những việc mà mình hối tiếc. Một di chúc tâm linh là xác định việc này với một lòng thành thật tận cùng và hối hận sâu sắc. Chúng ta không bao giờ có tấm lòng cao cả, cao thượng, sùng tín và xứng đáng được tôn trọng hơn, khi chúng ta quỳ gối chân thành nhận ra điểm yếu của mình, xin lỗi và hỏi xem chúng ta cần làm gì để sửa chữa.
Thứ ba: Trước khi qua đời, tôi muốn chúc phúc và trao lại món quà nuôi dưỡng cụ thể cho ai? Chúng ta được gần giống Thiên Chúa (truyền năng lượng thần thiêng vào cuộc đời) những khi chúng ta ái mộ người khác, tán thành người khác, cho họ những gì chúng ta có thể làm để giúp cuộc đời họ tốt hơn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm việc này cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta đâu thể làm cho tất cả, nên chúng ta làm cho một số người, và là những người cụ thể. Trong di chúc tâm linh, chúng ta có dịp để nói lên những người mà chúng ta muốn chúc phúc nhất. Khi tiên tri Ê-li mất, người hầu cận ngài là tiên tri Ê-li-sê nài xin ông để lại cho mình “phần gấp đôi” thần trí của ông.
Khi chết, chúng ta phải để lại tinh thần của mình làm của nuôi dưỡng cho tất cả mọi người, nhưng có những người cụ thể mà chúng ta muốn để lại “phần gấp đôi.” Trong di chúc này, chúng ta nêu lên những người đó là ai.
Trong quyển sách đầy thách thức: Bốn điều quan trọng nhất (The Four Things That Matter Most), bác sĩ Ira Byock, người chăm sóc cho những người hấp hối, nói rằng có bốn điều chúng ta cần nói với những người thân yêu trước khi họ qua đời. “Xin tha thứ cho tôi”, “Tôi tha thứ cho bạn”, “Cám ơn”, và “Tôi yêu bạn”. Ông nói đúng, nhưng với những chuyện chẳng ngờ, những căng thẳng, tổn thương, đau lòng và thăng trầm trong tình cảm, kể cả với những người mà chúng ta yêu thương nhất, không phải lúc nào cũng dễ (và đôi khi là bất khả thi) nói ra những lời này cách rõ ràng nhất.
Một di chúc tâm linh cho chúng ta cơ hội để nói những lời này với tâm tư vượt lên những căng thẳng thường che mờ tình cảm giữa chúng ta, và ngăn chúng ta nói rõ những lời quan trọng này, để rồi ở tang lễ, sau những lời điếu văn, chúng ta sẽ không còn chuyện gì dang dở.
Nếu bạn để chính phủ (Cộng Sản) điều hành sa mạc Sahara, trong 5 năm chúng ta sẽ thiếu cát. – Milton Friedman
Bắt đầu từ thế kỷ 12, người Nhật “phát minh” ra một nghi thức tự tử (hara-kiri) mà ai ngó thấy cũng phải hết hồn. Họ đâm dao vào bụng trái, rồi rạch qua phải, xong thốc ngược mũi lên phần ngực. Chết là cái chắc!
Bởi vậy mới có thành ngữ “gan như Nhật.” Qua đến đầu thế kỷ 21, nhân loại mới được nghe nói tới một trường hợp tự tử cũng bằng dao nhưng ghê rợn hơn nhiều – theo bản tin (“Một Phụ Nữ Chết Ở Trụ Sở Công An Với Nhiều Vết Ðâm”) của báo Dân Trí:
“Ngày 13 Tháng Tư, công an thị trấn Long Hải tiếp nhận thông tin từ một gia đình ngụ trong thị trấn về việc bị mất trộm tài sản. Qua camera an ninh, chủ nhà nghi ngờ chị T. là người trộm tiền. Ðầu giờ chiều cùng ngày, công an thị trấn Long Hải đã mời chị T. đến trụ sở làm việc. Sau hơn hai giờ làm việc, công an cho gia đình bảo lãnh chị ra về.
Khoảng 30 phút sau chị T. quay lại trụ sở công an thị trấn Long Hải. Khi cán bộ công an thị trấn Long Hải đi ra khu vực phía sau thì phát hiện chị T. nằm dưới đất với con dao còn trên ngực. Chị T. được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong. Qua khám nghiệm tử thi, trên người chị T. có 12 vết đâm.”
Ngay cả giới hiệp sĩ đạo Nhật mà đọc bản tin dẫn thượng (chắc) cũng sợ teo chim. Sao lại có một phụ nữ Việt Nam gan dạ tới cỡ đó, hả Trời. Dám quyên sinh bằng một cái dao… rất cùn nên phải tự đâm vào mình tới 12 lần lận!
Sự can đảm quá cỡ thợ mộc của chị T. khiến cho blogger Hải Âu nghi ngại, và xem đây là một “chuyện quá hoang đường!” Thực ra, gần đây, có nhiều vụ tự tử còn “hoang đường” hơn nữa:
-Ngày 9 Tháng Hai, ông Nguyễn Thành Ngôn treo cổ bằng dây giầy tại đồn công an Yên Thành, Nghệ An.
-Ngày 3 Tháng Năm, ông Nguyễn Hữu Tấn dùng dao cắt cổ đứt lìa tại đồn công an Bình Minh, Vĩnh Long.
-Ngày 14 Tháng Sáu, ông Ngô Chí Tâm thắt cổ bằng dây thun quần tại đồn công an Thủ Ðức, Sài Gòn.
-Ngày 7 Tháng Bảy, ông Nguyễn Hồng Ðê thắt cổ bằng áo dài tay tại đồn công an Ninh Hải, Phan Rang.
Cùng với những phương cách quyên sinh hoang đường kể trên, người Việt còn có nhiều kiểu hy sinh rất lạ mắt và khó tin không kém:
-Ngày 12 Tháng Mười Hai, 1953, ông Bế Văn Ðàn hy sinh lấy vai làm giá súng.
-Ngày 1 Tháng Hai, 1954, ông Tô Vĩnh Diện hy sinh lấy thân chèn pháo.
-Ngày 13 Tháng Ba, 1954, ông Phan Ðình Giót hy sinh lấy thân mình lấp lỗ châu mai.
Ðó là chưa kể đến nhiều đợt hy sinh ở bình diện tập thể, chưa từng xảy ra ở một quốc gia nào khác – ngoài Việt Nam:
Sau cuộc Cải Cách Ruộng Ðất (1953-1956) tại miền Bắc, toàn thể nông dân ở đây đã “tự nguyện” mang hết đồng ruộng giao nộp lại cho nhà nước (bằng cách gia nhập hợp tác xã) để chính phủ thực hiện chính sách… đất đai là của toàn dân.
Trong cuộc Cải Tạo Công Thương Nghiệp, kéo dài nhiều đợt, ở miền Nam, không ít người dân ở vùng đất này cũng đã “tự nguyện” mang hết tài sản (nhà, xe, cơ sở thương mại) cho nhà nước dưới hình thức hiến tặng.
Ngoài ruộng đất, xe cộ, nhà cửa, cơ sở làm ăn…, đã có lúc dân Việt còn mang luôn vàng cho (không) chính quyền cách mạng nữa kìa. Ký giả Trà Phương, báo mạng VNExpress, số ra ngày 13 Tháng Mười, 2010, có bài tường thuật, kèm hình ảnh (ngó) vô cùng cảm động:
“Sau khi giành độc lập, đất nước gặp nhiều khó khăn về tài chính, ngày 4 Tháng Chín, 1945, Bác Hồ đã phát động Tuần Lễ Vàng kêu gọi mọi người ủng hộ ngân sách quốc gia. Trong tuần lễ này, giới công thương có đóng góp nhiều nhất.”
Dù với đủ kiểu và đủ cách hy sinh của người dân (về tính mạng cũng như tài sản) ròng rã hơn 70 năm qua, Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam – xem ra – vẫn nhất định không chịu phát triển. Quốc khố vẫn cứ trống trơn, cũng y như lúc vừa cướp được chính quyền, và nợ công thì đang chồng chất.
Theo TTXVN, đây là vấn đề đã được Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu lên lên trong hội nghị tổng kết ngành tài chính vào ngày 6 Tháng Giêng: “Nợ công trong năm năm qua tăng trung bình gấp ba lần tốc độ tăng trưởng… tốc độ tăng chi thường xuyên cao… thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ… nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ nền tài khóa quốc gia không thể tránh khỏi… Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị các cơ quan chức năng phải có cải cách đột phá trong tư duy ngân sách…”
Khuynh hướng tư duy “đột phá” đang được nhắc đến nhiều nhất là… huy động nguồn lực vàng trong dân! Nói nào ngay thì kiểu “tư duy” này cũng gần giống như chuyện bác Hồ phát động “tuần lễ vàng” hồi năm 1945 thôi, chớ cũng không được “đột phá” gì cho lắm.
Cái gì chớ vàng thì hiện nay người dân không thiếu, và còn có nhiều hơn hồi trước nữa kìa (đó là chưa kể đô la) nhưng e là họ thiếu niềm tin vào cái nhà nước hiện hành. Liên quan đến vấn đề huy động vàng trong dân, trong cuộc phỏng vấn do báo Dân Trí thực hiện, Tiến Sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính-ngân hàng, góp ý: “Hiện nay, chưa có thống kê rằng, loại vàng nào trong dân là nhiều, vàng miếng, vàng trang sức, nữ trang, để đưa ra lời khuyên cho các nhà hoạch định chính sách và giúp người dân hiểu được chủ trương. Tôi cho rằng, nếu chúng ta làm tốt chủ trương này, thì đây là cơ hội lớn để phát triển đất nước, gia tăng tài sản cho Ngân Hàng Nhà Nước, đồng thời, nó cũng là cơ hội kinh doanh, kiếm lời cho người dân.”
Ông nội tiến sĩ này không biết từ hang hóc nào mới chui ra, hay chắc mới từ… trên trời rớt xuống nên không biết những chuyện cười (ra nước mắt) như sau, ở nước CHXHCNVN:
-Báo Một Thế Giới, 2 Tháng Tư, 2015: “Gửi tiết kiệm một chỉ vàng nhận lại một ổ bánh mì thịt”
-Báo Kiến Thức, 9 Tháng Ba, 2015: “Gửi tiết kiệm 20 năm mua được… 3 kg thịt”
-Báo Tuổi Trẻ, 10 Tháng Ba, 2015: “Gửi tiết kiệm 20 năm, một căn hộ còn ba tô phở”
-Ðài SBTN, 16 Tháng Năm, 2015: “Vietcombank khóa tài khoản nhà hoạt động theo lệnh công an”
-Báo Thanh Niên, 25 Tháng Tám, 2016: “Tiền ở ngân hàng lại ‘bốc hơi’ hàng loạt”
-Báo Ðiện Tử Ðài Tiếng Nói Việt Nam, 10 Tháng Năm, 2017: “Lào Cai: Hàng chục tỷ gửi tiết kiệm ‘bốc hơi’ chỉ còn 1 triệu đồng“
Dân Việt không ít kẻ đã gửi gắm niềm tin vào đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh và đang nhận lại nguyên một băng trộm cướp. Tuy thế, báo Dân Trí, số ra ngày 16 Tháng Bảy, lại vừa có bản tin (“Bộ Tài Chính Ðôn Ðốc Trả Nợ Tiền Vay Dân Sau Hai Cuộc Khảng Chiến”) đọc mà muốn trào nước mắt luôn: “Ðó là những khoản mà người cho vay và cơ quan nhận vay đều ý thức rằng sẽ được trả và phải hoàn trả. Cụ thể những khoản vay được nhà nước đảm bảo trả là những khoản: Công phiếu kháng chiến, phát hành trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952; Công trái quốc gia, phát hành năm 1951; Công trái Nam Bộ, phát hành năm 1947, 1958; Công phiếu nuôi quân phát hành năm 1964 và những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp huyện trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân đánh giặc…”
Trong tập thơ của mình, William Cowper viết, “Ôi tôi yêu mến Lời Ngài biết bao, lạy Chúa! Nó hướng dẫn tôi trên con đường bình yên; tôi gẫm suy về nó suốt ngày! Các mỏ đá quý của sự giàu sang toả sáng có là gì, sắc đẹp của tuổi trẻ có là gì, và tất cả niềm vui có là gì so với Lời Ngài! Mặc dù nhiều điều đã xuyên qua trái tim yếu ớt của tôi, nhiều điều đã khiến lòng tôi se lại, nước mắt tôi nhiều lần chảy ra; nhưng Lời Ngài đã cứu tôi khỏi sự khốn khổ đời đời. ‘Khuất phục trước Lời’; từ lâu, tôi không bị ảnh hưởng, không mất tinh thần!”.
Kính thưa Anh Chị em,
“‘Khuất phục trước Lời’; từ lâu, tôi không bị ảnh hưởng, không mất tinh thần!”. Ý tưởng của William Cowper được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu cho thấy một điều gì đó đáng tiếc vì người đương thời không nhận ra Gioan trong quyền năng của Êlia, nên họ đã không nhận ra Ngài trong phẩm tính của một vị Thiên Sai, Đấng Gioan loan báo; Ngài nói, “Êlia đã đến rồi mà họ không nhận ra!”. Tại sao? Bởi lẽ, họ không ‘khuất phục trước Lời’, lời Thánh Kinh đã được tiên báo!
Bài đọc Huấn Ca gợi nhớ Êlia như một “sứ giả” dọn đường cho Đấng Messia, chính Malachia, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước đã nói đến vị sứ giả này. Nhiều người không hiểu lời của Malachia và thậm chí không biết về nó; vì thế, các thầy thông giáo đã dùng lời này để gây nhầm lẫn cho nhiều người khi họ tuyên bố rằng, vì “Êlia” đã không đến, nên “Giêsu” rõ ràng không phải là Đấng Messia. Chúa Giêsu đã làm rõ điều này, rằng, “Êlia đã đến rồi mà họ không nhận ra!”; Ngài muốn nói về Gioan Tẩy Giả. Khi làm sáng tỏ điều này, Ngài cho thấy, các thầy thông giáo đã không chính xác trong nỗ lực giải thích Thánh Kinh, họ không ‘khuất phục trước Lời’ và chủ động lấy Lời để lừa dối người khác với những sai lầm của họ.
Khiêm tốn trước Lời Chúa là điều cần thiết nếu chúng ta muốn hiểu đúng không chỉ những lời Cựu Ước mà còn cả những lời của chính Chúa Giê su. Không khiêm nhượng trước Lời, tất cả chúng ta có thể dễ dàng hiểu sai những lời đẹp đẽ và thánh thiện, sâu sắc và chân thật; vì nhờ Lời, chúng ta đến gặp chính Thiên Chúa. Vì một khi để cho tính kiêu ngạo xâm nhập, chúng ta có thể thấy mình đang bắt chước các thầy thông giáo vốn hiểu sai Lời. Kết quả sẽ là một hình ảnh sai lệch về Thiên Chúa, và điều này là một trở ngại cho cuộc gặp gỡ cá nhân của chúng ta với Ngài. Vậy nếu có thể luôn khiêm tốn trước tất cả những gì Thiên Chúa mạc khải; nói cách khác, nếu ‘khuất phục trước Lời’, chúng ta sẽ dễ dàng mở lòng đón nhận những chân lý sâu xa và đẹp đẽ nhất mà Thiên Chúa muốn nói với linh hồn mình.
Anh Chị em,
“Êlia đã đến rồi mà họ không nhận ra!”. Các luật sĩ không đủ khiêm tốn để nhận ra Êlia trong Gioan; vì thế, họ không nhận ra Chúa Giêsu, Đấng Gioan dọn đường! Không nhận ra Chúa Giêsu Thiên Sai, họ vuột mất ơn cứu độ! Hôm nay, hãy suy gẫm, bạn thấy mình bối rối trước Lời Chúa; hãy cố gắng khiêm tốn mở rộng trái tim của bạn hơn nữa để đón nhận điều Chúa muốn nói. Hãy nhớ Lời Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu; vì thế, hãy lắng nghe Chúa Giêsu với một tâm trí và trái tim rộng mở khi biết ‘khuất phục trước Lời’ Ngài; hãy để cho quà tặng đức tin thanh khiết này trở thành người hướng dẫn bạn hầu bạn được dẫn dắt đến những chân lý sâu xa nhất của đức tin. Ý nghĩa biết bao Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, xin phục hồi chúng con; xin toả ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ!”.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, Lời Chúa là đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi. Xin cho con biết ‘khuất phục trước Lời’ để can đảm làm điều Chúa muốn!”, Amen.
Ngày 9/8/1945, Mỹ ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống Nagasaki, Liên Xô đơn phương tuyên bố huỷ bỏ hiệp ước không tấn công lẫn nhau với Nhật, đưa hơn 1,5 triệu quân vượt biên giới tiến đánh một triệu quân Quan Đông Nhật Bản. 3 giờ sáng ngày 10/8/1945, Chính phủ Nhật gửi cho Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Quốc bản đề nghị đầu hàng vô điều kiện. Sau đó, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Nhật Bản tự sát theo nghi lễ Seppuku.
Seppuku (tiếng Nhật: 切腹, Hán Việt: thiết phúc) có nghĩa là “mổ bụng”, là nghi thức tuẫn tiết mà người Nhật dùng để bảo vệ danh dự. Theo nghi thức này, một samurai sẽ tự mổ bụng mình nếu bị thất trận, thất hứa, hay không muốn bị nhục…
Không còn mấy ai tuân theo Seppuku vào thời đại kỹ thuật số này. Không ai yêu cầu giữ lời hứa bằng nghi thức Seppuku. Nhưng không có Seppuku không có nghĩa là không cần giữ danh dự, không cần giữ lời hứa.
Bởi coi nhẹ danh dự, nên mấy thập niên gần đây, đạo đức xã hội đang đi xuống, tinh thần kẻ sĩ quý tộc bị mối mọt sùng hà, lời hứa chẳng những không được giữ, mà sự dối trá lại gia tăng. Dối trá và thất hứa như những đợt lũ vô hồi ập tràn qua xã hội.
Dối trá không chỉ ở tầng lớp thiếu ăn, phải trộm gà cắp bánh mì, mà ở kẻ giàu vạn lạng vàng, cướp đoạt đất đai và tiền bạc qua dự án và trái phiếu. Dối trá không chỉ ở tầng lớp tiểu thương ngồi chợ, bất chấp người mua phải chịu hậu quả về hàng kém chất lượng, độc hại, mà còn lan sang cả thầy thuốc, nghệ sĩ rao bán thuốc giả, mặc thây con bệnh nan y đợi chờ sự diệu kỳ từ đống thuốc vô dụng. Dối trá không chỉ kẻ thiếu học đầu đường, mà còn ở tầng lớp giáo sư tiến sỹ vì tiền mà nhận bừa sáng chế phát minh về mình.
PHÁP TRỊ VÀ NGOẠI LỆ
Nhưng tất cả sự dối trá ở các giai tầng nêu trên, đều có nguồn gốc sâu xa không từ ở hạ tầng cơ sở mà từ thượng tầng kiến trúc. Thượng bất chính, hạ tất loạn. Khi thầy dối thì trò tất dối. Khi quan gian thì dân phải đối phó bằng sự không thật. Thượng tầng kiến trúc dối trá thì toàn xã hội dối trá.
Giá mà những người có địa vị cao biết giữ danh dự, biết giữ lời hứa, thì đã không nhiều quan chức phải ngồi tù, đã không có nhiều lời hứa suông với những con số viển vông. Không thể chống sự dối trá bằng đức trị, mà phải ngăn cản sự dối trá bằng pháp trị. Chỉ có thể dùng pháp luật mới chống lại được sự dối trá. Trước hết là pháp trị thượng tầng kiến trúc.
Đã pháp trị thì không ai có thể ở ngoài vòng pháp luật, hay đứng trên pháp luật. Nhưng ở nước ta lại có trường hợp đặc biệt. Pháp trị và ngoại lệ loại trừ nhau. Đã có trường hợp đặc biệt thì không có pháp trị.
Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì không có trường hợp đặc biệt.
Có lẽ khôn vặt, láu cá,… là “bản sắc thực sự” của dân tộc ta, hay ít ra, đó cũng là tập quán trong tư duy của phần đông dân ta. Nói như vậy không phải để miệt thị, mà cốt để xới xuống tận đáy tâm thức lưu cữu của chúng ta, để rồi hy vọng có thể đổi thay.
Tâm thức của một dân tộc chứa đựng trong các khía cạnh văn hóa của dân tộc ấy, đặc biệt là trong ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ. Trong bài viết này tôi thử phân tích một vài câu ngạn ngữ nổi tiếng trong kho tàng dân gian để thấy được cái tâm thức đó. Câu ngạn ngữ đầu tiên mà tôi muốn nói đến chính là câu rất nổi tiếng “im lặng là vàng”.
Câu này mới nghe có vẻ “minh triết”, nhưng suy ngẫm một chút sẽ nhận ra cái chất cơ hội của nó. Tôi không biết câu này xuất phát từ đâu và “cái ngữ cảnh mà từ đó nó xuất hiện” là như thế nào, nhưng khi nó được trích dẫn độc lập như một câu độc nhất như trên thì nó hoàn toàn là một thứ ứng xử cơ hội.
Tôi từng có ít nhất hai “kinh nghiệm đau khổ” vì cái câu này. Lần thứ nhất là khi còn học phổ thông. Trong một lần họp lớp, chúng tôi, một nhóm nhỏ, quyết tâm phản đối cái gì đó. Để rồi khi giáo viên chủ nhiệm hỏi có ai phản đối không, tôi giơ tay, và chờ đợi đám bạn kia giơ tay. Nhưng hỡi ôi, chúng im thin thít, và chỉ còn mình tôi chịu trận. Bọn kia đã chọn im lặng.
Lần thứ hai cũng tương tự nhưng trong một cuộc họp ở công ty. Và cuối cùng cũng chỉ mình tôi phản đối. Và… chịu trận.
“Im lặng là vàng” nghĩa là bạn cho rằng bạn cứ im lặng và hưởng lợi từ sự lên tiếng của người khác. Một sự hưởng lợi rất an toàn và… đểu giả, nếu không đểu cũng hèn hạ.
“Khởi thủy là lời” và chung cuộc cũng là lời. Thế giới sẽ thế nào nếu không còn ai nói? Người ta chỉ không nói khi họ không có/còn gì để nói, hoặc không có trách nhiệm phải nói.
Cho nên, im lặng chẳng bao giờ là vàng. Đó là sự thối thác, sự hèn nhát, hay ít tệ hơn, sự vô trách nhiệm.
Câu ngạn ngữ thứ hai là một câu mà chất cơ hội của nó vô cùng trơ trẽn. Thật lạ khi nó lại phổ biến trong dân gian đến vậy, như một châm ngôn.
“Ăn giỗ đi trước, lội nước theo sau”.
Chắc chẳng cần phải phân tích phân tiếc làm gì cái câu này. Nó quá tệ, nó phản ảnh một tâm thức láu cá đến tồi bại.
Khi đọc câu này, bạn sẽ hiểu tại sao dân tộc ta lại hiếm khi có cái gì mới. Bởi cái mới là thứ đầy rủi ro (giống như lội nước vậy) nó đòi hỏi phải dám làm và dám thất bại đến cay đắng thì mới hy vọng thành công. Nếu không dám rủi ro làm gì có phát kiến.
Suốt cả ngàn năm chúng ta chẳng làm được gì đã đành, nhưng cũng chẳng học được gì cho ra trò. Nho giáo cũng chỉ là thứ bề ngoài lớt phớt để thi cử làm quan. Cả dân tộc chẳng có ai có tư tưởng riêng, chẳng ai dám nói cái gì lệch khỏi cái đã ghi trong sách. Đến kiến trúc cũng không có lấy một cái gì mới, xây rập khuôn như Tàu, nhưng nhỏ và xấu hơn. Hội họa thì trống trơn. Từ vua đến dân chủ yếu thích tử vi, bói toán.
Tuyệt vời làm sao cho một nền văn hiến mấy ngàn năm.
Giảm dần và thay đổi cái tật láu cá của một dân tộc nên là chiến lược quốc gia, bắt đầu từ giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng sẽ là phương thuốc hiệu nghiệm. Rồi sau đó hẵn nói đến khai dân trí. Bởi cốt lõi của dân trí không ở tri thức/kiến thức, mà chính là phương thức tư duy. Khai dân trí chẳng là gì ngoài việc thay đổi thói quen tư duy thuần cảm tính, để tập dần thói quen tư duy có chiều sâu. Mọi thứ chỉ thay đổi khi thói quen tư duy thay đổi.
Tôi không bênh vực những tiếp viên hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn.
Tôi thực sự thương hại họ, vì “Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua”
Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện “ăn cắp”, khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học “ăn cắp”, giáo sư “ăn cắp” công trình trí tuệ của người khác, học sinh, sinh viên “ăn cắp” bảng điểm, “ăn cắp” bằng cấp bằng phong bì.
Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị lãnh đạo “ăn cắp” tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quĩ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ăn cắp đất của nông dân, họ ăn cắp tiền phạt giao thông, họ ăn cắp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình.
Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô ca sĩ, hoa hậu, người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe khủng , nhà khủng, tôi thương hại họ quá, họ cũng bị “ăn cắp” trinh tiết, bị “ăn cắp” phẩm giá, anh ạ.Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.
Khi về VN, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lô. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình. Những người công an trẻ đó cũng bị “ăn cắp” lương tâm?
Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt.
Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là “Bút Máu”.
Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị “ăn cắp” nhân tính mất rồi.
Trong xã hội, toàn là “ăn cắp”, vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, vì văn hóa “giả vờ” là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.
Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu nhưng “giả vờ” đó là công sức lao động tay chân và trí tuệ hay quà tặng của cô em “kết nghĩa”. Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm “con kết nghĩa ” của cô ta quá. Thế mà có những lãnh đạo, ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, UỶ Ban Diều Tra, Quan Tòa “Thiết Diện Vô Tư”, Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của “cô em kết nghĩa” đó!
Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà khủng, quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa…
Công chúa mặc áo đầm hồng ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ công chúa là một chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm.
Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
“Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì?
Hễ có phong bì thì nó “Thank you”
Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người VN như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi.
Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể “ăn cắp” lương tâm, phẩm giá và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một “CON NGƯỜI” không phải chỉ “giả vờ ” “làm người” đang sống.
Sáng 5.12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị T.Ư 6 khóa XIII. Trong cuộc họp Trưởng ban Nội chính T.Ư Phan Đình Trạc nhấn mạnh rằng: Nâng cao đời sống để cán bộ không còn tham nhũng chỉ giải quyết được một phần vì những người tham nhũng vừa qua đều là người giàu.
Ông nói đúng, bởi tham nhũng phải có quyền lực. Bản chất của tham nhũng, tiêu cực là lợi dụng quyền lực. Chỉ có cán bộ nhà nước mới có quyền lực và thời nay người giàu chính là các cán bộ. Chỉ cần một cái gật đầu, một chữ ký họ có thể thu về cả triệu đô la. Họ có sân sau, sân trước, tay chân bộ hạ mang về cho họ lợi tức khổng lồ. Doanh nghiệp sống nhờ cán bộ và quan chức làm giàu từ doanh nghiệp. Vẽ vời dự án, duyệt dự án cũng mang lại cho họ những món tiền ba đời ăn không hết. Mối quan hệ giữa đại gia với cán bộ là đường dây không thể tách rời. Không có thế lực chính trị hậu thuẫn, doanh nghiệp khó tồn tại và phát triển.
Đó là chưa kể họ tham nhũng từ ngân sách của nhà nước. Từ lớp cán bộ cấp thấp ở làng, xã, phường cho đến cấp cao đều có dính đến hối lộ và tham nhũng. Họ giàu, rất giàu nên tăng phúc lợi cho họ bằng cáchtăng lương là một việc làm vô ích.
Tăng bao nhiêu họ vẫn tham nhũng vì số tiền họ thu được từ chức vụ lớn gấp ngàn lần đồng lương của họ. Khi bị phạm tội họ dùng chính một ít đồng tiền đó để khắc phục hậu quả. Dính vụ nào đền vụ đấy. Nhưng trong thời gian đương chức họ làm cả trăm vụ. Điều tra vụ nào họ chỉ khắc phục vụ đó. Trong quá trình điều tra họ đã tẩu tán phần nhiều tài sản.
Kết án vài ba năm, chục năm trở về họ vẫn là những người giàu. Mà theo ý kiến của cụ Tổng, khắc phục được thì án giảm, nhẹ hều. Thiết nghĩ khi bị dính tội, hành động đầu tiên là phải kiểm kê tài sản và tịch biên. Nếu trong quá trình xét xử nhận thấy số tài sản có nguồn gốc rõ ràng, hợp lý thì sẽ trả lại, con ngược lại làm hồ sơ tịch biên gia sản do tham nhũng mà có. Kiểm kê tài sản của mỗi cá nhân cán bộ là việc cần làm và ai cũng phải bị kiểm tra.
Cách bốc thăm như hiện nay đang áp dụng chỉ là một trò hề. Làm cho có thôi. Chuyện này làm dễ ợt, khó khăn chi.
Thật ra, bàn chơi cho vui thế thôi.Với cách quản lý, điều hành như hiện nay; Với thể chế và cơ cấu cán bộ như hiện nay, không thể và không bao giờ diệt được tham nhũng.
Có lẽ nhiều người đã đọc qua câu chuyện này, nhưng xin được đăng lại như một nhắc nhở chúng ta nên học thuộc và thực tập thường xuyên….
****
Vô Thường Trời Tây Có Khác Trời Ta?
Một ông lão đã 76 tuổi, ở cùng vợ trong một căn hộ cho thuê ở thành phố San Francisco nước Mỹ. Ông chưa từng mặc qua quần áo hàng hiệu, kính mắt rất cũ kỹ, đồng hồ đeo tay cũng không hợp thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữa hâm nóng và bánh sandwich cà chua giá rẻ. Ông cũng không có ô tô riêng, ra ngoài thường đều đi bằng xe buýt, túi xách mà ông từng dùng để đi làm là túi vải.
Mặc khác, nếu bạn cùng ông đến một quán rượu nhỏ uống bia, ông nhất định sẽ cẩn thận kiểm tra đối chiếu hóa đơn; nếu bạn ở lại nhà ông ấy, trước khi ngủ ông ấy nhất định sẽ nhắc bạn tắt đèn.
Một ông già keo kiệt nghèo khó như vậy, bạn có biết trước 76 tuổi ông đã làm những việc gì chăng?
Ông đã từng cống hiến cho đại học Cornell 588 triệu đô la Mỹ, cho đại học California 125 triệu đô la Mỹ, cho đại học Stanford 60 triệu đô la Mỹ. Ông từng bỏ vốn 1 tỷ đô la cải tạo và xây mới 7 trường đại học ở New Ireland và hai trường đại học ở Northern Ireland. Ông từng thành lập quỹ từ thiện để phẫu thuật sứt môi hở hàm ếch cho trẻ em ở các nước đang phát triển… Cho đến nay, ông đã quyên được 4 tỷ đô la, còn 4 tỷ nữa đang chuẩn bị quyên góp.
Ông là người sáng lập tập đoàn được miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào phóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích được tiền – ông là Chuck Feeney.
Trước mắt, Chuck Feeney còn ba nguyện vọng: Một là trước năm 2016 quyên hết 4 tỷ đô la còn lại, nếu không chết không nhắm mắt. Hiện tại, từ số tiền kia mỗi năm đều có hơn 400 triệu đô la chảy về các nơi cần trên thế giới.
Ông đã dựng nên một tấm gương cho những người giàu có: “Trong khi hưởng thụ cuộc sống đồng thời quyên góp cho mọi người”. Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng nhiều từ ông mà đã thay đổi hành động của mình.
Sau khi việc thiện của Chuck Feeney bị tiết lộ ra, rất nhiều phóng viên muốn tiếp xúc với ông. Trong tâm ai cũng đều có một nghi vấn: Làm sao Chuck Feeney có thể dửng dưng trước gia tài hàng tỷ đô la kia chứ?
Đối với nghi vấn của mọi người, Chuck Feeney mỉm cười kể cho mọi người một câu chuyện: “Một con hồ ly thấy bồ đào trong vườn kết trái đầy, muốn vào trong ăn một chầu no bụng, nhưng giờ nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để thân thể gầy xuống, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn rời đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó đi ra, bụng vẫn giống như lúc đi vào.”
Kể xong câu chuyện, Chuck Feeney nói:
“Chỗ Thượng Đế ở không có ngân hàng, mỗi người đều là trần trụi sinh ra, cuối cùng cũng đơn độc ra đi, không ai có thể mang theo tài phú và danh tiếng mà bản thân đã đau khổ tìm kiếm cả đời.”
Truyền thông hỏi Chuck Feeney, vì sao ông lại quyên góp hết gia tài của mình?
Câu trả lời của ông đơn giản và ngoài dự đoán của mọi người! Ông nói: “Bởi vì tấm vải che tử thi không có túi.”