Kết thúc ba ngày họp tại Karuizawa, Nhật Bản, hôm nay, 18/04/2023, các ngoại trưởng khối G7 đã thể hiện một mặt trận thống nhất, lên án các « hoạt động quân sự hóa » trên biển của Trung Quốc, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo những nước nào hỗ trợ Nga trong cuộc chiến xâm lược Ukraina.
Thứ tự các ưu tiên trong thông cáo cho thấy xung đột giữa Nga và Ukraina cũng như các tham vọng của Trung Quốc tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, đã ngự trị các cuộc tranh luận của khối G7 bắt đầu từ hôm Chủ Nhật 16/04.
Theo AFP, thông cáo mở đầu bằng việc cực lực lên án cuộc chiến xâm lược Ukraina của Nga là « một hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế », bao gồm cả Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đồng thời cảnh cáo những nước nào hỗ trợ Nga trong cuộc chiến chống Ukraina sẽ phải « trả giá đắt ».
Trong phần liên quan đến Trung Quốc (mục thứ 3), nhóm G7 bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông và biển Hoa Đông, phản đối mạnh mẽ mọi nỗ lực đơn phương thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hay cưỡng ép. Thông cáo ghi : « Trung Quốc không có một cơ sở pháp lý nào cho các yêu sách lãnh hải rộng lớn tại Biển Đông, và chúng tôi phản đối mọi hoạt động quân sự hóa tại khu vực ».
Văn bản của G7 nhấn mạnh đến tầm quan trọng, tính chất phổ quát và thống nhất của Công ước Luật Biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), một khuôn khổ pháp lý cho phép điều chỉnh các hoạt động trên biển và đại dương, và cũng là cơ sở hữu ích để giải quyết mọi tranh chấp một cách hòa bình mà ví dụ điển hình là phán quyết của Tòa án Trọng tài ngày 12/07/2016, trong vụ Philippines kiện Trung Quốc.
Liên quan đến Đài Loan, khối G7 nhấn mạnh, duy trì hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan là một « yếu tố không thể thiếu » cho sự thịnh vượng chung của cộng đồng quốc tế.
Thông cáo của G7 cũng bày tỏ « lo lắng » về việc « Trung Quốc liên tục mở rộng và nhanh chóng kho vũ khí hạt nhân » và cũng đề nghị Bắc Triều Tiên « ngừng » các cuộc thử hạt nhân mới và tên lửa đạn đạo.
Bắc Kinh đã có phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Uông Văn Bân hôm nay tố cáo khối G7 là đã « vu khống » và « bôi nhọ » Trung Quốc sau khi ra thông cáo chỉ trích các chính sách của Bắc Kinh.
Bên cạnh những hồ sơ nóng, thông cáo của G7 cũng đề cập đến nhiều vấn đề và khủng hoảng chính trị khác trên thế giới, từ Myanmar, Afghanistan, Trung Đông, Iran, Sudan…
Nhà đối lập Nga Vladimir Kara-Mourza, trong phiên tòa lúc bị tuyên án 25 năm tù, Matxcơva, ngày 17/04/2023.AFP – HANDOUT
Nhà cầm quyền Nga vừa ra một bản án được coi là ‘‘chưa từng có’’ đối với một nhà đối lập trong lịch sử Nga ‘‘kể từ thời Staline’’. Ông Vladimir Kara-Murza, 41 tuổi, người công khai chống lại cuộc xâm lược Ukraina, bị một toà án Nga hôm qua, 17/04/2023, trong một phiên xử kín, kết án 25 năm tù vì nhiều tội danh trong đó có các tội ‘‘phản bội’’, truyền bá ‘‘thông tin sai lạc’’ về quân đội Nga. Ngay lập tức nhiều nước phương Tây lên án Matxcơva.
Theo AFP, chính quyền Mỹ tố cáo Nga ‘‘gia tăng chiến dịch đàn áp’’, và đây là một bản án vì ‘‘động cơ chính trị’’. Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Châu Âu và nhiều nước phương Tây đồng loạt lên án và kêu gọi Nga ngay lập tức trả tự do cho nhà đối lập.
Nhà cầm quyền Nga khi đưa ra một bản án nặng nề như vậy, nhằm răn đe những ai có các hành động phản đối chính quyền, và hợp tác với nước ngoài, dù chỉ là tối thiểu.
Thông tín viên Anissa el Jabri tường trình từ Matxcơva :
‘‘Hoàn toàn không có âm thanh.Không ai nghe thấy được những lời cuối cùng của Vladimir Kara-Murza, ngoại trừ một vài hình ảnh chất lượng kém khi tòa tuyên án, hình ảnh một người đàn ông đứng trong lồng, tay bị còng, xung quanh là các cảnh sát che mặt. Vào lúc tuyên án, nhà đối lập Vladimir Kara-Murza đã kín đáo trao đổi một nụ cười với nữ luật sư duy nhất của ông, ở kế bên. Một luật sư khác đã rời đất nước đã đi Mỹ từ vài ngày qua, do bị đe dọa, theo lời kể của luật sư với RFI.
Đối với tất cả những người vẫn cố gắng chỉ trích nhà cầm quyền, và các chính sách của Matxcơva, thông điệp là rất rõ ràng: Hãy rời khỏi nước Nga, nếu không chính quý vị cũng sẽ phải ngồi sau song sắt trong một thời gian dài. Nhà đối lập Vladimir Kara-Murza, người gần gũi với phó thủ tướng Nga Boris Nemtsov, bị ám sát vào năm 2015, cũng là người tranh đấu từ lâu năm vì các biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Nga.
Vladimir Kara-Murza chắc chắn là một chính trị gia đối lập tiêu biểu và án tù dành cho ông cũng có ý nghĩa biểu tượng. Tuy nhiên, bản án này cũng chứa đựng một thông điệp khác mà các quan tòa muốn đưa ra. Đây là phán quyết đầu tiên ở Nga thực thi toàn bộ một điều khoản mới của bộ Luật Hình sự về tội phản quốc và phạm vi áp dụng luật được mở rộng. Kể từ giờ bất kỳ sự hỗ trợ nào, thậm chí là tối thiểu, cho một tổ chức nước ngoài, cũng được coi là đe dọa an ninh của Nga. Một lời cảnh cáo gửi đến các công dân Nga bình thường’’.
Luật sư của nhà đối lập cho biết thân chủ của bà đã quyết định kháng cáo. Nhà đối lập Kara-Mourza đã là một trong những người đầu tiên lên án cuộc xâm lăng của Nga, từ nước ngoài. Ông bị bắt hồi tháng 4/2022, sau khi quyết định trở về nước.
Ngoại trưởng Blinken thăm tu viện của Dòng Thánh Phaolô thành Chartres tại Hà Nội vào sáng 15/4
REUTERS
Trong lịch trình dày đặc và khá kín của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken thăm Việt Nam với chuyến thăm ba ngày (14-16/4/2023), ngay trong ngày thứ Bảy, 15 tháng Tư, theo thông báo chính thức từ Bộ Ngoại giao Mỹ, nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ sẽ đến thăm một cơ sở tôn giáo tại Hà Nội.
Các bức ảnh của phóng viên hãng tin Reuters đăng tải trong sáng 15/4 cho thấy, Ngoại trưởng Blinken và Đại sứ Marc Knapper đến thăm Nhà thờ tu viện Sainte Marie tại số 37 Hai Bà Trưng Phường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chuyến thăm này theo lịch dày đặc và bận rộn của phái đoàn Mỹ và xếp hàng thứ ba, sau khi trước đó, Ngoại trưởng Blinken có cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính vào lúc 8:15 sáng và dự lễ động thổ Tòa đại sứ mới của Hoa Kỳ ở Hà Nội vào lúc 9:25 sáng cùng ngày.
Vẫn theo lịch làm việc và kế hoạch của đoàn Mỹ, chuyến thăm tu viện St. Paul de Chartres của dòng các nữ tu Công giáo tại Hà Nội thậm chí còn diễn ra trước cả bữa trưa trao đổi làm việc (working lunch) giữa Ngoại trưởng Blinken với người đồng cấp, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Bùi Thanh Sơn.
“Một thông điệp mạnh ủng hộ tự do tôn giáo”
Từ Hà Nội, một giáo dân Công giáo, ông Josephe N.V.T., người xin được giới hạn trong giới thiệu danh tính, đưa ra cảm tưởng của mình, ông nói:
“Tu viện này có từ xưa, sau này còn lại bên cạnh Bệnh viện St. Paul Hà Nội.
“Nếu ở Sài Gòn thì tu viện tương tự nằm ở đường Tôn đức Thắng, thuộc phường Bến Nghé, ở Quận nhất.
“Như vậy là ông Ngoại trưởng có thể sẽ đến thăm một trong hai cơ sở của dòng nữ tu và chọn tại Hà Nội.
“Thực ra vì Bệnh viện St. Paul đã lấy hết cơ sở ở 72, phố Nguyễn Thái Học rồi, nên tu viện chuyển về Dòng Mến Thánh giá ở 31 Nhà Chung, Hà Nội
“Tôi cho rằng đây là một hành động có tính chất biểu trưng, gửi thông điệp mạnh về việc ủng hộ tự do tôn giáo.
“Bởi vì tu viện này thuộc dòng nữ tu và trước đặt xây cất ở Bệnh viện St. Paul Hà Nội bây giờ, nhưng nhà nước đã lấy hết đất, nên phải chuyển về Dòng Mến Thánh giá như đã nói.
“Hiện vẫn chưa đòi lại được vì Nhà nước sử dụng cho Bệnh viện cho mục đích công ích.
Tu viện St. Paul de Chartres của dòng các nữ tu Công giáo tại Hà Nội được xây dựng trong thời Pháp thuộc tại Việt Nam vào năm 1883.
Theo một tường trình trên mạng công giáo quốc tế liên quan dòng Nữ tu toàn cầu, trong một cao điểm đấu tranh đòi lại đất đai và tài sản của giáo hội và dòng tu, các nữ tu thuộc tu viện St. Paul de Chatres hồi năm 2016 đã tiến hành nhiều hoạt động khiếu nại, thắp nến cầu nguyện, hiệp thương đòi giải quyết tranh chấp, chấm dứt các vi phạm tài sản của dòng và đã có kiến nghị tới các cấp, sở, ban ngành của chính quyền tại Hà Nội.
Theo nguồn này, vào ngày 26/8/2016, các nữ tu Thánh Paul de Chartres và những người ủng hộ giáo dân đã yêu cầu các quan chức Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trả lời về khiếu nại của họ về việc ai kiểm soát các khu đất lịch sử của tu viện của họ ở thủ đô Việt Nam.
Ngày 28/8 cùng năm, hơn một chục nữ tu, giáo dân đã có đơn gửi tới Ủy ban Nhân dân quận sở tại, Thành phố Hà Nội và cơ quan công an TP Hà Nội. Họ cũng đã gửi kiến nghị tới các lãnh đạo chính phủ, nhà nước Việt Nam khi đó là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và các cơ quan nhà nước khác.
Và trong một cuộc phản đối mạnh mẽ nhất, khoảng 50 nữ tu và giáo dân Công giáo đã tuần hành ôn hòa dưới ánh nến vào sáng sớm ngày 25/7/2016 tới địa điểm tranh chấp gần tu viện của họ, nơi nhóm tuần hành cùng cầu nguyện và hát thánh ca.
Sau đó, đoàn tuần hành đến trụ sở Ủy ban Nhân dân Quận, yêu cầu các quan chức quận sở tại đưa cho họ một biên bản cuộc gặp trước đó giữa hai bên. Trong cuộc họp đó, 30 nữ tu, trong đó có cả những người già ngồi xe lăn, và giáo dân đã yêu cầu chính quyền Quận đình chỉ việc xây dựng trên đất của họ.
Vẫn theo nguồn từ truyền thông Dòng Nữ tu toàn cầu nói trên, thì đến ngày 28/7, UBND Thành phố Hà Nội đã phải ra lệnh đình chỉ việc xây dựng công trình và yêu cầu Sở Tài nguyên Môi trường giải quyết khiếu nại của nữ tu theo pháp luật.
Ông Blinken gặp sơ Bề trên Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Hà Nội – Nữ tu Saint-Jean de Marie Trần Thị Anh. Ảnh: Reuters
“Chỗ nào lấy rồi thì khó đòi lại”
Ông Joseph N.V.T, nói thêm: “Mấy năm trước xảy ra vụ tranh chấp ở khu vực Bệnh viện Việt Nam – Cuba thuộc chỗ dòng Sainte Marie.
“Nhà thờ tu viện Sainte Marie thì nằm ở số 37 trên đường Hai Bà Trưng, Hà Nội, thì đã bị chiếm và xâm phạm trái phép, việc đó làm hư hỏng nghiêm trọng công trình tu viện, và với giáo dân và dòng tu, giáo hội, thì đã gây ra sự vị phạm pháp luật và xúc phạm tình cảm tôn giáo của người dân và giáo dân Việt Nam.
“Bây giờ họ (chính quyền) cởi mở hơn bằng cách cho cải tạo hoặc xây mới một số Nhà thờ ở một số nơi. Nhưng chỗ nào họ lấy rồi thì khó đòi lại được.
“Và Vatican cũng có giúp đỡ, tài trợ cho Giáo hội ở Việt Nam,” ông Joseph N.V.T chia sẻ.
Theo một số tổ chức theo dõi nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, tại Việt Nam đến nay xảy ra ít nhất hàng chục, hàng trăm vụ khiếu kiện lớn nhỏ trong đó các giáo hội thuộc các tôn giáo và cộng đồng tín ngưỡng khác nhau vẫn liên tục có đơn từ, khiếu nại đòi nhà nước, chính quyền các cấp giải quyết, trao trả lại đất đai, tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, mà trong số đó đa số các chủ thể khiếu nại đều có các giấy tờ, chứng từ, chứng nhận có giá trị và bằng chứng, làm rõ về chủ quyền của bên khiếu nại và đòi đất đai, tài sản của các nhà thờ, dòng tu, các nhà chùa và các cơ sở tín ngưỡng, thờ tự trong cả ba miền.
Tuy nhiên, việc giải quyết vẫn diễn ra vẫn theo các đánh giá này là còn chậm, thậm chí rất chậm và trong nhiều trường hợp còn chưa thỏa đáng, và chỉ giải quyết với số lượng chưa đáng kể, với nơi được “giải quyết”, thì đa số trường hợp chỉ được giải quyết một phần, hoặc những giải pháp thay thế, đền bù, nếu có hy hữu xảy ra, có thể không tương ứng với giá trị văn hóa, lịch sử, tôn giáo và kể cả về mặt giá cả thực tế về đất đai, bất động sản v.v… trên thị trường.
Trong khi đó, vẫn theo các tổ chức theo dõi nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng quốc tế và khu vực, vẫn có nhiều phản ánh từ khắp cả nước ở Việt Nam về việc nhiều cơ sở tôn giáo tín ngưỡng bị xâm phạm, hoặc đe dọa xâm phạm đối về mặt hoạt động và tài sản, đất đai, trong số đó các nơi nào mà việc thành lập, hoạt động, dù trong quá khứ từ trước, hay gần đây, mà nhà nước, chính quyền cho là chưa, hay không được công nhận chính thức, có thể bị yêu cầu chấm dứt hoạt động, với các cơ sở có thể bị xóa bỏ, tịch thu, thu lại, xung công, nhiều trường hợp có liên quan tới bắt bớ, trấn áp đã được đưa tin.
“Rõ ràng là một biểu tượng của tự do tôn giáo”
Tuy nhiên, nhà nước và chính quyền Việt Nam và các cơ quan báo chí, truyền thông của nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam, luôn khẳng định và tuyên bố nhà nước và chính quyền luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cả quyền tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo của công dân.
Họ cho rằng các tranh chấp diễn ra, nếu có chỉ là dân sự và các trường hợp nếu có xảy ra các vụ bắt giữ, xét xử, đều do các cá nhân, chủ thể là các đối tượng vi phạm pháp luật của nhà nước, trong đó có pháp luật hình sự; và nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế mà nhà nước Việt Nam đã ký kết như một thành viên, trong đó có các văn bản, điều ước, hiệp định quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc liên quan các quyền con người, trong đó có các quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh các quyền công dân khác trong xã hội dân sự và xã hội truyền thống.
Truyền thông chính thống của Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam cũng đưa tin cho hay chính quyền đã thường xuyên có các cuộc đối thoại “cởi mở”, “xây dựng”, “công khai” với các tổ chức quốc tế, khu vực, nước ngoài, quan tâm đến các vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, có nhiều cuộc đối thoại với các cộng đồng trong nước, trong đó có các giáo hội, giáo dân, Phật tử, tín đồ v.v… để đáp ứng các quyền liên quan. Riêng về quan hệ với một số tôn giáo quốc tế, nhà nước cũng đã có lộ trình thiết lập các trao đổi và bang giao chính thức mang tính xây dựng.
Trở lại chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đến tu việnSt. Paul de Chartres, dòng tu nữ, hôm 15/4/2023, một nhà quan sát chính trị và xã hội Việt Nam từ trong nước, cũng xin được không tiết lộ danh tính, cùng ngày đưa ra bình luận:
“Có 2 cơ sở ở Hà Nội mà ông Ngoại trưởng và đoàn Mỹ có thể lựa chọn lấy một để đến thăm thuộc tu viện Thánh Paul the Sartres.
“Nếu tiện hơn thì sẽ là cơ sở ở khu trục đường Nguyễn Thái Học – Trần Phú, cạnh đó vẫn có một khoảnh lớn không ai đụng tới và Vẫn đầy nữ tu sỹ.
“Rõ ràng việc lựa chọn tu viện này để thăm viếng là một biểu tượng của tự do tôn giáo, trong lúc riêng về Công giáo, nhà nước Việt Nam đang chuẩn bị lập quan hệ chính thức ở cấp đại sứ với Vatican,” nhà quan sát nêu quan điểm riêng của mình từ Hà Nội.
“Việt Nam không nên ảo tưởng rằng Mỹ sẽ bỏ qua các vấn đề về nhân quyền trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa đôi bên.”
Ông Blinken gặp một nữ tu tại Hà Nội
Reuters
Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải, chuyên gia về Khoa học Chính trị, nghiên cứu viên tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Khoa Nhân văn và Xã hội học, Đại học Queensland, Úc nhận định như vậy với RFA sau khi ông Blinken rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức hai ngày đến Việt Nam, từ 14 đến 16/4/2023.
Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Blinken đã gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội vào sáng ngày 15/4. Cả hai đã từng gặp gỡ chính thức vào hồi tháng 5/2022 tại thủ đô Washington D.C của Mỹ. Ông Blinken cũng có cuộc hội kiến với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Ngoại trưởng Mỹ cũng đã dự lễ động thổ để tiến hành xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỷ USD tại Hà Nội. Đây được nói là một trong những Đại sứ quán Mỹ lớn nhất trên Thế giới.
Trong dịp này, ông Blinken đã đến thăm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Các nữ tu của dòng này đã nhiều lần biểu tình, khiếu nại với chính quyền để đòi lại các phần đất có đầy đủ giấy tờ của nhà dòng bị phía chính quyền và một số hộ dân lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đó.
Ý nghĩa của chuyến thăm
Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải cho rằng chuyến thăm lần này của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt kết quả như kỳ vọng của đôi bên. Ông rút ra năm ý nghĩa chính về quan hệ song phương Việt – Mỹ sau chuyến đi Hà Nội lần này của người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Thứ nhất là nó đánh dấu trở lại sự tiếp xúc thường xuyên giữa quan chức cấp cao giữa hai chính quyền của hai nước:
“Năm 2021 thì phó tổng thống Mỹ Harris và bộ trưởng quốc phòng đã đến thăm Việt Nam, nhưng mà phải đến gần hai năm nay rồi thì đây là chuyến thăm cấp cao nhất của chính quyền tổng thống Joe biden đến Việt Nam.
Những cuộc tiếp xúc song phương vào các dịp giữa các hội nghị khu vực, hội nghị thượng đỉnh của khu vực hoặc là hội nghị Thượng đỉnh Asean – Mỹ…, chúng ta không thể tính những cuộc gặp đó bởi vì nó không phải là chuyến thăm chính thức.”
Ý nghĩa thứ hai là nhấn mạnh hơn về khả năng nâng cấp mối quan hệ hai nước lên tầm Đối tác chiến lược:
“Kết quả thứ hai là cả hai bên đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn trong việc nâng cấp quan hệ.
Trong điện đàm với tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 29/3 thì tổng thống Joe biden và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đó chỉ nói là đề nghị giao cho các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể để nhằm thúc đẩy mối quan hệ trong thời gian tới, chứ không nói rõ là có nâng cấp mối quan hệ hay không.
Nhưng mà trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói rằng là quan hệ Việt – Mỹ có nhiều kết quả tích cực, là cơ sở để phát triển lên tầm cao mới. Tức là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng án chỉ là hai bên sẽ nâng cấp mối quan hệ.
Và trong họp báo kết thúc chuyến thăm thì Ngoại trưởng Blinken đã phát biểu hết sức khả quan về điều này. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng đối với nước Mỹ và chính quyền Tổng thống Joe biden thì quan hệ với Việt Nam là một trong những mối quan hệ năng động và quan trọng nhất. thì đó là kết quả thứ hai là khẳng định là hai nước sẽ tiến tới nâng cấp quan hệ vững chắc hơn.”
Kết quả thứ ba, theo ông Hải, là chuyến thăm càng khẳng định hơn là hai ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ và Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gặp mặt nhau trong năm nay:
“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì đã nói rằng giao cho các cơ quan chức năng thu xếp để tiến hành chuyển thăm đó vào thời gian thích hợp, còn Tổng thống Mỹ Joe Biden qua lời Ngoại trưởng Blinken nói rằng mong muốn sớm thăm Việt Nam.
Tóm lại là kết quả thứ ba là nó khẳng định chắc chắc chắn rằng trong năm nay sẽ có một hoặc hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo sang Hà Nội hoặc là Washington, còn thời gian cụ thể thế nào thì hiện tại chúng ta chưa thể biết bởi vì vẫn còn các đàm phán, còn có những việc phải bố trí về thời gian lịch trình.”
Ý nghĩa thứ thư là về mặt niềm tin. Tiến sỹ Hải cho rằng chuyến thăm này khẳng định cam kết về quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước:
“Nó thể hiện qua để động thổ xây dựng quần thể mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà theo phía Mỹ nói thì đây sẽ là một trong những quần thể sứ quán Mỹ lớn nhất trên thế giới.
Ngoài ra, Ngoại trưởng Mỹ đã nói lên và nhấn mạnh cam kết và lòng tin của phía Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ, và những cam kết đó nó sẽ thể hiện bằng những hành động cụ thể để từ đó trấn an cũng như củng cố lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.”
Ý nghĩa về nhân quyền
Ý nghĩa thứ năm và cũng là cuối cũng trong chuyến thăm mà tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải đúc kết được đó chính là về vấn đề nhân quyền. Ông nói:
“Mỹ vẫn thể hiện cam kết về vấn đề nhân quyền cho dù hai nước có tiến tới Đối tác chiến lược.
Mặc dù là mang tính biểu tượng thôi nhưng việc mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm tu viện như vậy thể hiện cam kết của phía Mỹ đối với vấn đề nhân quyền. Nói cách khác là nó truyền tín hiệu gián tiếp rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cho dù là nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược thì Mỹ vẫn quan tâm và xem xét đến vấn đề nhân quyền.
Và rõ ràng là trong cuộc gặp với thủ tướng Phạm Minh Chính thì Ngoại trưởng Blinken cũng đã đề cập đến vấn đề nhân quyền.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ trong vấn đề về nhân quyền với Việt Nam sẽ ý nhị hơn. Tức là cách tiếp cận mang tính xây dựng và mang tính đối thoại, không chỉ trích, phê phán quá mạnh mẽ. Điều này rất khác đối với quan hệ Mỹ và Trung Quốc.”
Tiến sỹ Hồng Hải khẳng định vấn đề nhân quyền sẽ luôn luôn đặt ra trong quá trình đàm phán nâng cấp mối quan hệ Việt – Mỹ, bởi vì nhân quyền là một trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính vì vậy, ông Hải nói:
“Đối với các nước như Việt Nam, khi quan hệ với Mỹ, thì không nên ảo tưởng rằng là Mỹ sẽ từ bỏ vấn đề nhân quyền.
Tuy nhiên, mặc dù nhân quyền là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng mà phía Mỹ khi triển khai thực hiện vấn đề nhân quyền thì họ luôn luôn dựa trên chiến lược của họ. Chính vì thế cho nên mức độ ưu tiên nó sẽ khác nhau.”
Hơn nữa, theo tiến sỹ Hồng Hải, trước đây, khi Mỹ là một siêu cường duy nhất thì lúc đó Mỹ có thể dùng những chính sách nhân quyền để gây áp lực cho các nước khác.
Tuy nhiên, hiện nay, trong một thế giới mà sự đa cực ngày càng rõ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn thì chính phủ Mỹ phải điều chỉnh cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền để nó phù hợp, mang tính xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và có sự cân nhắc, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.
Nếu may mắn thì nhiều năm sau, lịch sử Việt Nam sẽ dùng tấm ảnh này để đánh dấu một giai đoạn quái đản và đau thương của luật pháp và xã hội.
Đây là hai ngôi nhà của bà Đỗ Thị Yến và con gái ông Đỗ Quang Hạnh, nằm lọt thỏm giữa đại công trường xây dựng sân bay quốc tế Long Thành (tỉnh Đồng Nai). Ngoài hai ngôi nhà này, trong vùng lõi của đại công trường vẫn còn hơn chục hộ dân cố trụ lại vì chưa thỏa thuận được với chủ đầu tư về giá đền bù.
Ngôi nhà giữa đống đất vun đống từ dự án sân bay Long Thành, Đồng Nai. Hình: Zing
Con sâu cái kiến
Thỏa thuận được thì rời đi. Chưa thỏa thuận được thì ở lại. Chủ đầu tư phải tiếp tục thương lượng, thỏa thuận với những người dân đang thưa kiện cho đến khi nào đạt được kết quả là cả hai bên đồng tình với giá hoặc phương thức đền bù. Hoặc Nhà nước ra quyết định cưỡng chế, bắt buộc dân rời đi để nhường đất cho dự án.
Trong quá trình thực hiện dự án, nếu chưa có lệnh cưỡng chế của Nhà nước thì rời đi hay trụ lại đều là quyền của người dân.
Quyền này được pháp luật thừa nhận.
Do đó trên lý thuyết, người dân và phía chủ đầu tư đều ngang bằng nhau về vị trí pháp lý. Cho đến khi đạt được một trong hai kết quả như nêu trên, không bên nào được ép buộc bên nào.
Thế nhưng chỉ nhìn vào tấm ảnh kể trên cũng đủ thấy sự “mạnh, bạo” và uy hiếp công khai, thậm chí đe dọa của phía chủ đầu tư với người dân.
Đất san lấp mặt bằng được cố tình cào vun lên đến tận ngang nóc hai ngôi nhà, khiến chúng trở thành nằm dưới đáy vực.
Đấy là cảnh tượng không thể chấp nhận ở một đất nước tự hào xưng hiệu ngữ “Độc lập, tự do, hạnh phúc”, tự xưng là mọi việc giữa Nhà nước và công dân đều theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Mỗi ngày, chủ nhân của hai ngôi nhà bi tráng bất đắc dĩ phải đạp lên núi đất cao ngút vây bọc xung quanh, chính xác là trèo từ đáy vực lên mặt đất để đi làm kiếm tiền sinh nhai.
Như tổ tiên nói, trên trái đất làm gì có đường, người ta đi mãi mà thành đường. Những bàn chân giẫm lên núi đất hết ngày này qua ngày khác tạo thành con đường mòn, kiên nhẫn, đáng thương và đáng phục như chính cuộc đi kiện của người dân.
Nam Bộ đang ở những ngày cuối cùng của mùa khô năm 2023. Chỉ vài tuần nữa là mùa mưa bắt đầu. Mưa xuống, toàn bộ núi đất sẽ chảy nhão ra thành những dòng thác bùn đỏ ào ào tràn xuống hai ngôi nhà đáy vực, thậm chí vùi lấp nó toàn bộ. Khi mùa mưa bắt đầu, sẽ không có con người nào có thể ở lại trong hai ngôi nhà đó, cho dù nhẫn nại đến đâu.
Đó có thể là lý do khiến những người thực hiện dự án điềm nhiên xúc đất đổ quanh hai ngôi nhà này. Không cần nói nhiều, phần thắng chắc chắn sẽ thuộc về họ.
Gần 30 năm “treo” chờ siêu dự án
Trước kia, nơi đây có tên là xã Suối Trầu, thuộc huyện Long Thành. Xã rộng khoảng 1.400 ha, gồm ba ấp, hơn 2.000 hộ dân với gần 6.000 nhân khẩu. Mấy con đường chính trong xã trải nhựa khá bằng phẳng và thẳng thớm, nhà dân bám theo đường đều đặn đẹp mắt, phía sau nhà ai cũng là vườn và rẫy rộng lớn trồng cao su, tiêu, điều…- những loại cây công nghiệp không cần chăm sóc nhiều nhưng lợi nhuận cao. Tuy thời tiết khô nóng nhưng vẫn tràn ngập màu xanh trên vùng đất đỏ. Nhà dân xen giữa vườn rẫy, nhiều chỗ được quy hoạch chăm chút tươm tất, cây cối xanh tươi xòe tán che mát trước hiên sau nhà.
Cho mãi tới sau năm 1975, Suối Trầu mới có di dân đến khai hoang lập ấp. Trong ký ức người dân Suối Trầu, hồi đó nơi đây là vùng rừng thiêng nước độc, bom đạn sót lại từ thời chiến tranh rải rác khắp nơi. Người dân vừa chặt cây khai hoang, vừa dọn phá bom mìn để có đất sạch trồng trọt. “Bom đạn nằm trên mặt đất thì gom lại thành đống rồi đốt bỏ. Hồi đó cách vài ngày lại nghe tiếng bom mìn nổ đì đùng”- dân Suối Trầu kể.
Cho đến tận 22 năm sau, vào năm 2021, tỉnh Đồng Nai vẫn phải kiến nghị xin 50 tỷ đồng để thực hiện dự án rà phá bom mìn giai đoạn 1. Đủ hiểu bom mìn thời chiến tranh ở mảnh đất này dày đặc đến mức nào và xương máu, mồ hôi của người dân đã đổ xuống nơi này ra sao.
Năm 1997, Thủ tướng Phan Văn Khai phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống sân bay toàn quốc, trong đó có sân bay Long Thành. Bảy năm sau, vào năm 2015, Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư sân bay Long Thành. Năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt quy hoạch dự án. Đến cuối năm 2017, Quốc hội thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… Năm 2020, Chính phủ phê duyệt dự án đầu tư giai đoạn 1. Đến đầu năm 2021, sân bay Long Thành mới được khởi công giai đoạn một.
Nhưng người dân toàn vùng bị ảnh hưởng bởi dự án gồm năm xã của huyện Long Thành, trong đó xã Suối Trầu bị giải tỏa trắng và xóa tên trên bản đồ hành chính, thì đã bắt đầu cuộc sống khổ sở từ tận năm 1997.
Suốt mấy chục năm bị “treo” chờ siêu dự án, nhà dân hư mục cũng không được xây, sửa, bán. Vườn rẫy không dám đầu tư vì không biết sẽ phải phá bỏ, di dời vào lúc nào. Tách thửa cho con cũng không được, xin vay thì ngân hàng không duyệt. Nhiều người đang là chủ đất, chủ rẫy các loại cây công nghiệp dài hạn phải bỏ sang trồng khoai mì cho thu hoạch ngắn ngủn trong vài tháng, thu nhập giảm không phanh. Đường sá, các công trình công cộng đều bị bỏ phế, không tu bổ sửa chữa, mùa nắng ngập trời bụi đỏ, mùa mưa khắp nơi thành vũng bùn. Ngay cả chợ cũng không có. Muốn mua thực phẩm phải chạy sang xã khác cách bảy km hoặc mua tạm ở người bán rong. Cứ thế, suốt gần 30 năm người dân sống trong phập phồng vì không biết tái định cư ở đâu, sẽ được đền bù bao nhiêu, lo liệu cho cuộc sống như thế nào.
Dự án tái định cư cho dân bị giải tỏa mang tên Lộc An-Bình Sơn được quy hoạch ở hai xã Lộc An và Bình Sơn gần đó.
Mô hình sân bay Long Thành. Hình: Báo Chính phủ
Khu nhà lầu tái định cư rỗng tuếch
Tỉnh Đồng Nai hứa hẹn đây sẽ là khu đô thị hiện đại nhất khu vực.
Quả thực trên mặt bằng, khu tái định cư này được xây dựng khang trang, đường sá rộng rãi ngăn nắp thẳng thớm đẹp mắt. Thế nhưng hơn một năm sau khi người dân được đưa đến thì nhiều lời hứa của chủ đầu tư vẫn còn nằm trên tivi và đài báo. Đã có 3.000 nhân khẩu sinh sống nơi đây nhưng mới chỉ có duy nhất một trường mẫu giáo hoạt động. Trường cấp I, II… xây lên một tầng rồi bỏ dang dở. Học sinh phải đi học nhờ tại trường khác, lệch giờ với học sinh “chính chủ”, đeo khẩu trang ngồi trong lớp vì nơi này đang ngày ngày hứng bão bụi từ đại dự án xây dựng sân bay Long Thành. Không có chợ dân sinh, người dân muốn mua thực phẩm vẫn phải chạy đến chợ cũ cách đó 3-4 km hoặc xa hơn để mua.
Nhiều tờ báo ca ngợi khu tái định cư này là “khu biệt thự tiền tỷ”. Đúng, nhìn bên ngoài, nhà cửa rất khang trang, xây toàn tiền tỷ. Nhưng số tiền tỷ đó cũng là toàn bộ vốn liếng có được nhờ đền bù đất, và trong niềm vui khi lần đầu tiên có tiền tỷ trong tay, hầu hết người dân đã dốc hết vào ngôi nhà. Nói cách khác, khi còn Suối Trầu, tuy nhà cửa quê kiểng nhưng dân không bao giờ lo đói vì ai cũng có vườn có rẫy làm kế sinh nhai. Giờ chuyển làm dân thành thị, nhà lầu sáng choang nhưng mấy ngàn, mấy chục ngàn m2 đất trồng trọt đã được dùng để đổi lấy cái nhà trên mảnh đất thổ cư vài trăm mét đó thôi. Người nông dân sống nhờ vào đất đai giờ đã không còn cục đất chọi chim.
Bị bứt khỏi đất đai, người nông dân cũng lâm vào cảnh không nghề nghiệp. Mở quán tạp hóa, ăn uống, cà phê, cắt tóc… thì ế chỏng ế chơ vì loanh quanh chỉ thưa thớt dân tái định cư chứ không có khách vãng lai. Nhiều người đang còn tuổi lao động, vốn có thu nhập tốt khi còn ở nhà cũ nhưng giờ không còn vườn rẫy để trồng, đành phải sống nhờ vào con.
Nhưng con họ, ngoài một số người may mắn có công việc và thu nhập có thể chăm sóc cho cha mẹ thì hoàn cảnh cũng không khác gì. Cha mẹ là nông dân già, họ là nông dân trẻ. Nông dân trẻ có thể đi học nghề mới, nhưng việc dạy nghề cho nông dân chuyển đổi nghề nghiệp chưa bao giờ là điều mà các dự án tái định cư có thể tự hào. Họ dạy để hoàn tất dự án là chính, chứ không thực sự dạy được những nghề thiết thực và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ở ngay khu tái định cư này.
Thành thử, sau vài tháng hoan hỉ tột độ vì cầm tiền tỷ trong tay và thỏa mãn nhu cầu ở nhà lầu, cất biệt thự, nhiều người dân đã không còn cầm cự nổi, phải rao bán nhà, đất rẻ để lấy tiền đi ở nơi khác phù hợp hơn.
Khu phố hoa mỹ bề ngoài nhưng kỳ thực rỗng tuếch vì mất căn cơ, dân sống chắt bóp đến nỗi ngay cả điện thắp sáng cũng phải tiết kiệm. “Vào nhà nhìn mãi không ra người, điện đóm tắt hết cho đỡ tốn vì có làm gì ra tiền đâu”- một người dân bộc bạch trên báo Dân Trí. Họ tóm tắt cuộc sống tại khu tái định cư gọn trong một từ: “Vỡ mộng”.
Nhà nước luôn luôn yêu cầu các chủ đầu tư khi thực hiện giải tỏa di dời dân cho các dự án thì phải đảm bảo cuộc sống nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Nhưng thực tế luôn chứng minh lời hứa của chủ đầu tư khi bắt đầu xin dự án luôn theo gió bay đi cực kỳ nhanh chóng.
Khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn . Hình: VnExpress
Đất của mình bằng tô phở, đất về tay người thành kim cương
Quay lại với những ngôi nhà còn cố thủ ngay giữa đáy vực.
Người dân đã khai hoang và sinh sống trên mảnh đất này khi nó còn đầy rắn rết cọp beo và bom đạn. Bằng mồ hôi xương máu, họ biến đất hoang thành rẫy vườn trù phú, và sẽ ngày càng trù phú hơn nữa, đủ ôm ấp ước mơ cho nhiều thế hệ. Hầu hết người dân đều mong ước được đổi đời, được sống cuộc sống nhiều tiện ích, an ninh, an toàn ngay tại mảnh đất họ đang sống, ngay tại ngôi nhà họ đang sở hữu để có niềm an tâm lâu dài. An tâm thì mới đầu tư, mới gắn bó. Không ai muốn một ngày phải di dời, giải tỏa trong thế bị động.
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, “mà thực chất là trạng thái vô chủ, rất dễ bị một nhóm lạm dụng phục vụ cho lợi ích nhóm mình, thay vì mang lại lợi ích cho toàn dân” (Luật sư Nguyễn Tiến Lập, công ty Quang và cộng sự) đặt người dân vào tình trạng ở nhờ suốt đời, luôn lo lắng không biết nơi ở, đất đai của mình có bị giải tỏa hay không. Tuy khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” luôn ra rả, nhưng thực tế, người dân luôn luôn ở trong tình trạng vô cùng yếu thế trước chủ đầu tư.
Không thỏa thuận được với chủ đầu tư, người dân chỉ có thể đi kiện hoặc khiếu nại đòi hỏi quyền lợi.
Dai dẳng suốt hàng chục năm, khiếu nại tố cáo đông người và có nhiều diễn biến phức tạp nhất vẫn là các vụ liên quan đến giải tỏa, bồi thường.
Trong năm 2022, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận gần 3.500 lượt đơn khiếu nại tố cáo, trong đó hơn 96% liên quan đến đất đai. Đáng chú ý, có đến ngót 60% trong đó là đơn khiếu nại trùng lặp. Tuy theo pháp luật thì dạng đơn này không đủ điều kiện xử lý, nhưng về mặt xã hội, đó rõ ràng là chỉ dấu đáng lo ngại khi vụ kiện đã được giải quyết về hình thức nhưng vẫn không thể chiếm được đồng thuận của người dân. Nên họ mới không chấp nhận mà tiếp tục khiếu nại tố cáo vượt cấp.
Có những vụ khiếu kiện “bền vững” đến nỗi kéo dài từ đời cha mẹ đến đời con, và sắp là đời cháu.
Yếu tố khiến người dân bất bình đầu tiên là chênh lệch đến mức không chấp nhận được về giá trị bồi thường khi giải tỏa. Điển hình như ở Thủ Thiêm, gần 4.000 m2 đất của bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết được đền bù gần 570 triệu đồng; vườn cây ăn trái đền bù hơn ba triệu. “Một m2 đất mua được ba tô phở”- bà Tuyết nói.
Bà Nguyễn Ngọc Thanh mua căn nhà giá 50 cây vàng, sau đó chính quyền bấy giờ buộc bà di dời vì nhà trong quy hoạch, được đền bù 94 triệu đồng. Rồi họ sắp xếp cho bà một căn chung cư nhưng yêu cầu phải trả thêm 800 triệu đồng mới được vào ở.
Vấn đề là nhà của bà Thanh không nằm trong diện giải tỏa. Bà cũng không thể có chừng đó tiền để đổi một ngôi nhà khang trang dưới đất lấy một căn chung cư nhỏ hẹp trên cao mà thời gian sử dụng có hạn.
Sau khi giải tỏa trắng Thủ Thiêm với giá 18 triệu đồng/m2, nhưng chủ đầu tư bán đất ra với giá ba bốn trăm triệu đồng/m2 (thời điểm 2018).
Trừ tiền vốn đầu tư và giá trị đất tăng cao sau khi được đầu tư bài bản, thì giá cả như nói trên vẫn là không thể với tới với đại đa số cư dân Thủ Thiêm. Nói dễ hiểu, họ đã bị đuổi khỏi ngôi nhà mảnh đất sinh sống từ nhiều đời của mình, bị tước mất cơ hội làm ăn tốt hơn để những người giàu có hơn đến ở và (tiếp tục) làm giàu.
Nhu cầu chính đáng của người dân là được tái định cư tại chỗ, hay “nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”, đã bị phớt lờ tận cùng.
Cục chì của kẻ mạnh
Yếu tố thứ hai là thái độ hành xử của phía chủ đầu tư và chính quyền với người dân. Không ai đang sinh sống làm ăn ổn định mà muốn bị giải tỏa di dời. Cuộc sống bị đảo lộn triệt để. Lo lắng, tính toán cho cuộc sống mới đủ khiến chủ nhà đau đầu, lên tim.
Trong các bài bản về tái định cư, một nội dung được nhấn mạnh là lắng nghe và thuyết phục dân. Nhưng trên thực tế, rất ít dự án làm được việc này. Nhân viên làm công việc áp giá đền bù chỉ xem đó là việc làm công ăn lương, hơn nữa là công việc vất vả mà rất nhức đầu, nên chẳng mấy ai đặt mình vào hoàn cảnh của người dân để thấu hiểu và cảm thông. Chủ đầu tư thì (phần nhiều) chỉ nhìn thấy lợi nhuận. Chính quyền nói hay nói tốt, nhưng nói xong để đó, hoặc tệ hơn là nói một đằng làm một nẻo. Sự trùng trình chậm di dời do chưa được đền bù thỏa đáng của người dân hầu hết bị xem là tham lam, đòi hỏi quá đáng, gây hấn để đòi thêm tiền… Để nhanh chóng đạt được kết quả, kẻ mạnh ném… cục chì qua và ngày càng tăng trọng lượng.
Lẽ ra là cuộc thương thuyết trên cơ sở bình đẳng, thì cuối cùng hầu hết các dự án giải tỏa lớn đều biến thành cuộc chiến bất cân sức, với phần thiệt thòi thuộc về những người chủ đầu tiên của mảnh đất.
Và những sự bất đồng, bất bình cứ thế dần tăng lên, biến thành uất ức và căm phẫn.
Tự do là vấn đề cốt lõi của cơ chế, chính sách và là điều kiện tiên quyết cho trí thức phản biện
Bài bình luận của ông Phạm Quý Thọ- PGS,TS nguyên Trưởng Khoa Chính sách Công, Học Viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch- Đầu tư, Việt Nam 2023.04.18
Blogger Nguyễn Lân Thắng, một người phản biện xã hội vừa bị kết án tù sáu năm với tội danh “tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”
Facebook Nguyễn Lân Thắng
Chuyển đổi thị trường thực chất là tự do hoá nền kinh tế, dù khái niệm có thể bị “đánh tráo”, lộ trình thực hiện nhanh chậm thì quá trình này vẫn hoạt động thông qua cơ chế: nhiều tự do hơn, nhiều kiến thức hơn, nhiều khám phá sáng tạo hơn, và từ đó mà sự thịnh vượng cũng sẽ đi theo sau. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng gây “bất ngờ” cho giới lãnh đạo, trong đó nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp và con người trở nên “độc lập” hơn với Đảng – Nhà nước, vì thế “toàn trị” trở nên lung lay. Thể chế bất ổn kéo dài bởi quốc nạn tham nhũng, suy thoái đạo đức công vụ, xã hội mất phương hướng, người dân hoang mang và niềm tin vào chế độ giảm sút… Ngoài ra, khủng hoảng lý luận về việc Đảng Cộng sản lãnh đạo thị trường, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sa vào ý thức hệ giáo điều trì hoãn thể chế hoá, cụ thể hoá các quyền công dân theo Hiến pháp… khiến Đảng đang “loay hoay” đối phó không hiệu quả những tác động của những “bất ngờ”, và đặt ra tương lai khó lường tiếp tục cải cách… Trước “những vấn đề của đất nước” như vậy, phải chăng Đảng cần cơ chế cho trí thức phản biện?
Như đã trình bày, để sửa đổi Nghị quyết số 27 năm 2008 “về xây dựng đội ngũ trí thức…”, liên tiếp có các lãnh đạo cao nhất của Đảng – Nhà nước, ông tân Chủ tịch nước ngày 16/2 và ông Tổng bí thư Đảng CS ngày 24/3/2023, có các cuộc gặp với giới trí thức, văn nghệ sĩ của chế độ, bày tỏ “sự tôn trọng” họ và cam kết “có cơ chế phù hợp” để họ “tư vấn, phản biện” đối với “những vấn đề của đất nước.” Liệu có thể một cơ chế cho trí thức phản biện nếu xa rời tự do?
Xây dựng một cơ chế phù hợp cho trí thức phản biện chính sách chỉ có thể khả thi khi khái niệm “phản biện chính sách” được nhìn nhận từ quan điểm tự do. Trước hết, hãy nói về phản biện. Phản biện được hiểu là hình thức giao tiếp, ứng xử từ một lối suy nghĩ đa chiều, sâu sắc để đưa ra các lập luận thuyết phục đối với người nghe. Nội hàm phản biện bao gồm: tư duy phản biện; một quá trình suy nghĩ một cách cẩn thận về một chủ đề hoặc một ý kiến mà không cho phép những cảm giác hay ý kiến khác ảnh hưởng tới; một quan điểm nói rằng cái gì đó là không chính xác hay một ý kiến phản đối chống lại một quan điểm, một ý kiến hoặc một gợi ý khác; và một hành động nói hoặc chứng minh rằng một ý kiến, một quan điểm hay một, nhóm người là không đúng…
Nói một cách khái quát: phản biện tạo ra sự khác biệt. Phản biện chính sách là khái niệm được áp dụng trong lĩnh vực chính trị, nó có thể tạo ra khác biệt về quan điểm, cách tiếp cận xây dựng và thực thi chính sách. Phản biện chính sách công liên quan đến quyền lực công và nó trở nên “nhạy cảm” khi quyền lực công không được kiểm soát hiệu quả và thực chất. Nghĩa là, trong môi trường thiếu tự do, dân chủ phản biện chính sách là hành động có nhiều rủi ro, thậm chí dưới chế độ chuyên quyền, toàn trị thường bị cấm đoán, những người phản biện có thể bị coi là đối tượng chống đối, thế lực phản động… và, các hình thức trừng phạt được dựng lên, từ răn đe, đề phòng bởi các các biện pháp gây áp lực công việc, “khủng bố” tinh thần… đến rào cản pháp lý với những điều luật “mơ hồ” tuỳ biến có lợi cho hành pháp mang tính chính trị và khung hình phạt cao nhất có thể.
Tri thức là nhân tố động lực phát triển thịnh vượng và, phản biện là một thuộc tính của trí thức cần có môi trường tự do. Bởi vậy, phản biện được coi là tiêu chí cần thiết để phân biệt những người làm việc trí óc thông thường, làm chuyên môn trong các lĩnh vực, các nghề chuyên sâu… Đội ngũ này có thể đông trong nền kinh tế trí thức, nhưng những trí thức phản biện không thể có nhiều, họ có số lượng và đặc điểm tuỳ thuộc vào môi trường ý thức hệ, chế độ chính trị, càng nhiều tự do, dân chủ thì họ càng đông và càng mạnh, hoặc ngược lại. Dưới chế độ toàn trị của Đảng CS Việt Nam quan niệm trí thức bị “đánh đồng” với lao động trí óc, trong đó số người do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam “quản lý” gồm 3,7 triệu hội viên, trong đó có khoảng 2,2 triệu hội viên ‘trí thức’ (theo cách gọi của Đảng, nhưng thực chất là lao động trí óc), chiếm gần 1/3 số lượng trong cả nước. Đây là tổ chức chịu sự lãnh đạo trực tiếp, là cánh tay nối dài “toàn trị” của Đảng CS đối với lao động trí óc. Cơ quan này giúp Đảng không chỉ loại trừ các tổ chức phản biện độc lập mà còn dễ dàng trấn áp các tiếng nói khác biệt từ “gốc” khi chỉ mới có các dấu hiệu.
Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Chẳng hạn, GS Chu Hảo bị kỷ luật đảng năm 2018, ông bị coi là “suy thoái tư tưởng chính trị” trên cương vị là Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức đã có một số phát biểu và cho xuất bản các cuốn có nội dung trái với hệ tưởng của Đảng CS, trong đó có “Đường về nô lệ” của nhà kinh tế đoạt giải Nobel F. Hayek… Và mới đây, cuối năm 2022 PGS. TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển thuộc Liên Hiệp hội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra bắt giam. Trong quyết định ông Giao bị khởi tố về tội “Trốn thuế”, nhưng dư luận cho rằng đó là cái cớ vì ông là “nhà phản biện nổi tiếng mạnh mẽ!”. Ranh giới phản biện và phạm tội thật mù mờ.
Sau hơn 30 năm Đổi mới mang lại thành tích kinh tế, nhưng môi trường tự do cho trí thức “sáng tạo” dường như “kém đi.” Như đã biết “Nhóm thứ sáu” tập hợp những trí thức của chế độ nhưng được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trọng dụng để nghe “tư vấn”. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp năm 1987 để “cởi trói” cho giới giới văn nghệ sĩ để họ cho ra đời nhiều tác phẩm văn hoá “xứng tầm” đổi mới. Tiêu biểu như các nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, các đạo diễn Lưu Quang Vũ, Trần Văn Thủy…. Họ được công chúng đón nhận. Họ đã “dấn thân”, mặc dù gây khó chịu cho không ít quan chức bảo thủ, nhưng không ai trong họ bị bỏ tù. Hiện nay, trái lại, nhiều nhà bất đồng chính kiến, nhà báo phản biện về “các vấn đề” nóng của đất nước đã bị đàn áp. Mới nhất, ngày 14/4/2023 Blogger nổi tiếng Nguyễn Lân Thắng, người có tiếng nói phản biện thẳng thắn, đã bị kết án nặng nề. Được biết, cộng đồng mạng lan truyền một bức thư của cha mẹ của Blogger này gửi tới Hội đồng xét xử, trong đó có đoạn: “… Lân Thắng là một trong hàng triệu nhân chứng sống cho tiến trình Đổi mới của Việt Nam…” Chính quyền đã không cho là thế, và vì vậy, danh sách các “nhân chứng sống” như Thắng có thể sẽ tiếp tục kéo dài!
Trở lại với các cuộc gặp của lãnh đạo với các “trí thức” của chế độ như nêu trên, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn họ “… làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tư vấn, phản biện trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật…” Tuy nhiên, có một ý kiến gây chú ý mang tính “phản biện” của ông Chủ tịch Hội Nhà văn đề đạt với Đảng hãy “đầu tư niềm tin, không gian sáng tạo” cho giới trí thức. Tất nhiên, ông Chủ tịch Hội Nhà văn là “người của Đảng” và, ông ấy đã không thể nói thẳng rằng họ cần có sự đảm bảo tự do cho hoạt động sáng tạo. Một cơ chế, chính sách “đặc biệt” cho trí thức phản biện cần sự cam kết từ Đảng được thể chế hoá về quyền tự do.
BÊN THUA CHẠY – BÊN THẮNG CŨNG CHẠY – THẾ LÀ SAO ?
Cựu tổng biên tập Báo Thanh Niên VC – Nguyễn Công Khế đã đưa vợ con sang Mỹ định cư an toàn
Nguyễn Đình Ngọc – Ngạc nhiên, trong mấy trăm ngàn gia đình Mỹ sinh sống trên vùng đất này lại xuất hiện người Việt Nam nhập cư thời gian gần đây. Số lượng chiếm khá đông, hầu hết nói giọng Bắc người Hải Phòng, Hà Nội. Cùng làn sóng xuất ngoại với các hình thức khác nhau, họ đã thành công khi tiền rừng bạc biển. Chỉ cần một dự án, một phi vụ, một chữ ký thì đô la sẽ có cách vào tài khoản của người có quyền.
Mỗi căn nhà giá trị từ nửa triệu đến 2 triệu đô la trở lên. Mua nhà xong là một chuyện, điều quan trọng là tiền đâu để đóng thuế? Nếu bạn thu nhập cao mấy trăm ngàn đô hàng năm thì chỉ là chuyện nhỏ dù tiền thuế địa trạch rất cao ( từ 20.000 Mỹ kim trở lên mỗi nhà /1 năm ) với khu vực tương tự.
Vào cổng khu phố sang trọng khách phải trình giấy tờ, hoặc bấm số bảo mật mới được. Cuối tuần, hàng loạt chiếc du thuyền trên mặt nước.
Là xứ tư bản, hưởng theo năng lực; nhiều người Mỹ giàu bằng tài năng công sức, lao động chân chính trong một số lãnh vực xứng đáng có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc đúng nghĩa.
Tuy nhiên, không phải ai cũng được như vậy. Mỹ không phải là thiên đường, vẫn còn một số Việt kiều lâu năm sống trong chung cư, không mua nổi cái nhà nhỏ với nhiều lý do riêng tư. Đó là sự thật.
Vậy mà với thành phần “Việt kiều bay” không hiểu họ giàu từ đâu dễ dàng, mua nhà trả đứt tiền mặt, vui vẻ với mức thuế tuy không làm một ngày nào trên đất Mỹ.
Đối tượng này bí mật đi qua đi về nhằm mục đích có lợi cho gia đình và bản thân trong tương lai.
Oái oăm thay, họ còn bắt tay với một số Việt kiều tại đây để rửa tiền dưới hình thức tinh vi. Các hệ thống kinh doanh ra đời bao gồm trung tâm thương mại, nhà hàng, hàng trăm tiệm Nails nguy nga như cung điện, có sự đầu tư quy mô trên 1/2 triệu đô la mục đích rửa tiền. Thực trạng nhiều địa điểm vắng hoe khách nhưng vẫn vô tư hoạt động để hợp thức hóa chuyển tiền.
Vấn đề quan trọng là tiền đâu ra mà một số “Việt kiều bay” mới đến đất Mỹ trong tình trạng tài chính triệu phú mà không ai biết. Một năm về bên vài tháng và rồi qua Mỹ trình diện để khỏi rắc rối nếu chưa có quốc tịch.
Khôn ngoan, một số cố tình giữ song tịch. Nhiều người vẫn làm việc tại Việt Nam, đang là đảng viên giữ chức vụ. Họ biết dọn đường cho con cháu qua Mỹ từ lâu. Con đến trường Mỹ, cha (mẹ) đi về Việt Nam hoạt động cho chính quyền hoặc kinh doanh cá nhân vì nơi ấy dễ kiếm tiền hơn.
Nghịch lý, trong khi ấy người ta khen chế độ, bắt người khác nghe, tin và sợ mình. Dân phải chịu cúi đầu im lặng dưới nguồn máy điều hành mà họ liên quan trực tiếp hay gián tiếp. Nhờ sức mạnh đồng tiền, người ta đã đạt giấc mơ Mỹ trong tầm tay.
Thật sự bất công cho những người không được may mắn phải chịu đựng thiệt thòi mọi hệ lụy, cùng tương lai không lối thoát sống với Trung cộng.
Phải chăng đây là bi kịch cho một dân tộc chịu dưới tay của những người không có lòng tự trọng và biết làm người tử tế. Họ lợi dụng lòng tốt của nước Mỹ, con cháu hưởng nhiều quyền lợi xã hội, y tế cùng nền giáo dục miễn phí từ tiền thuế dân còng lưng đóng cho chính phủ.
Đất nước Hoa Kỳ đã tạo ra kẽ hỏng pháp luật để con cháu cộng sản hưởng lợi, trong khi cá nhân và gia đình không phục vụ cho quốc gia này ngày nào.
Suy cho cùng, sống không thật lòng, không trung thành Tổ Quốc nào là “Việt kiều bay ” thời đại.
Có lẽ người ta qua mặt được người dân yếu thế, u mê; nhưng không qua mặt được người hiểu biết sống lâu tại Mỹ.
Tất cả là góc tối phũ phàng. Người trong nước tôn sùng họ, nhưng nào có biết một khi hết thời hết nhiệm kỳ, họ đã có chỗ an toàn trú ẩn ấm thân, để lại phía sau một đất nước suy tàn.
Nếu ai từng đi qua những nơi người Việt mới nhập cư giàu hơn người Việt lưu vong vượt biển vượt biên lâu năm sẽ không khỏi ngậm ngùi tháng Tư buồn.
Thua trận chạy đã đành, nay thắng trận cũng chạy. Cuối cùng, dân chịu trận!..
***** Nguyễn Công Khế đã đưa vợ con sang Mỹ định cư an toàn. Nguyễn Công Khế sinh năm 1954 tại Quảng Nam, là nhà báo, đồng sáng lập báo Thanh Niên và Tổng Biên tập Báo Thanh Niên từ năm 1988. Ông từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, được huy chương vì sự nghiệp báo chí, hiện là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Truyền thông Thanh Niên.
Trước 1975 ông hoạt động trong phong trào sinh viên, học sinh tại Đà Nẵng và Sài Gòn chống chính quyền VNCH. Sau 1975 ông công tác tại Thành đoàn TP Hồ Chí Minh, sau đó chuyển sang công tác tại báo Phụ nữ Việt Nam. Năm 1986 ông cùng Huỳnh Tấn Mẫm sáng lập báo Thanh Niên – diễn đàn của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ông giữ vai trò phó Tổng biên tập. Từ 1988 đến nay ông làm Tổng biên tập báo này, được coi là tổng biên tập thâm niên nhất trong làng báo Việt Nam.
Ngoài công tác báo chí, ông hiện là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và tham gia nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ông là Trưởng ban Giám khảo nhiều cuộc thi như: Siêu mẫu Việt Nam, Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2008. Đồng thời, ông từng là thành viên Ban Giám khảo các cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2007, Hoa hậu Hoàn vũ 2008 và Hoa hậu Trái Đất 2011.
WASHINGTON, DC (NV) – Việt Nam và Trung Quốc nằm trong 10 quốc gia có dân di cư tới Mỹ nhiều nhất, theo phân tích dân số mới nhất, CNN đưa tin hôm Thứ Bảy, 15 Tháng Tư.
Đứng đầu danh sách là Mexico (trên 10 triệu người), Trung Quốc xếp thứ ba (gần 2.4 triệu), còn Việt Nam đứng thứ sáu (hơn 1.3 triệu), theo Viện Chính Sách Di Cư (MPI) phân tích dữ liệu Khảo Sát Cộng Đồng Hoa Kỳ 2021. MPI là viện nghiên cứu độc lập ở Washington, DC.
Lễ tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ ở Los Angeles, California. (Hình minh họa: Mark Ralston/AFP via Getty Images)
Mỹ hiện là nước có nhiều dân nhập cư hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới: Trên 45 triệu người, chiếm 13.6% dân số Mỹ, theo MPI.
Từ năm 1980 tới nay, người Mexico là nhóm dân nhập cư đông nhất ở Mỹ, theo MPI. Và tuyến đường Mexico-Mỹ hiện là hành lang di cư lớn nhất thế giới.
Nhưng hơn 10 năm qua, tổng số di dân Mexico sinh sống ở Mỹ giảm dần. Năm 2021, Mỹ có khoảng 10.7 triệu người Mexico, giảm gần 1 triệu so với 10 năm trước đó.
Trong khi đó, dân di cư từ những quốc gia khác, như Ấn Độ và Trung Quốc, lại tăng, theo MPI.
Có nhiều lý do dân ngoại quốc từ khắp thế giới di cư tới Mỹ, chuyên gia nói với CNN năm ngoái. Có người muốn tìm cơ hội kinh tế; có người chạy lánh bạo lực, bức hại hoặc thiên tai; có người đi đoàn tụ gia đình ở Mỹ.
Theo phân tích dữ liệu thống kê dân số từ MPI, 10 quốc gia có dân di cư tới Mỹ nhiều nhất đều thuộc Châu Mỹ La Tinh là Á Châu.
Mexico: 10.7 triệu
Ấn Độ: 2.71 triệu
Trung Quốc: 2.38 triệu
Philippines: 1.98 triệu
El Salvador: 1.42 triệu
Việt Nam: 1.34 triệu
Cuba: 1.28 triệu
Dominican Republic: 1.26 triệu
Guatemala: 1.11 triệu
Nam/Bắc Hàn: 1.01 triệu
Những con số này bao gồm cả người nhập cư Mỹ hợp pháp lẫn bất hợp pháp.
Theo báo cáo của Bộ Nội An năm 2021, sáu quốc gia có dân nhập cư lậu ở Mỹ nhiều nhất là Mexico, El Salvador, Guatemala, Ấn Độ, Honduras và Trung Quốc.
Tuy nhiên, phần lớn người nhập cư đang sống ở Mỹ hiện nay đều có giấy tờ hợp pháp. Theo ước tính mới nhất của Trung Tâm Nghiên Cứu Pew, Mỹ hiện có khoảng 10.5 triệu người nhập cư bất hợp pháp. Nghĩa là phần lớn dân nhập cư ở Mỹ hiện nay (77% trong số 45 triệu) là hợp pháp. (Th.Long)
Trước tình hình kinh tế xuống dốc thê thảm của đất nước: khi mà nhiều ngàn doanh nghiệp rút chạy khỏi thị trường( phá sản) kéo theo hàng trăm ngàn người thất nghiệp. Vấn nạn lỗ và lỗ ( do tài sản công vào túi riêng) của các doanh nghiệp nhà nước làm rỗng ruột ngân khố quốc gia . Thị trường chứng khoán lao dốc do nhà đầu tư mất niềm tin vào ” những báo cáo ma mị, những chiêu thức quái đản..” của các ông lớn đủ loại ngành nghề.. Bất động sản thì giá ảo, giá trên trời nên người dân cần thật thì không mua được, tình trạng đóng băng là tất yếu. Mà nếu BĐS đóng băng lâu đồng nghĩa ngân hàng cũng chết lâm sàng theo ( vì ngân hàng bơm tiền vào ông lớn BĐS rất nhiều).
Về chiến dịch đốt củi: Chỉ ba tháng đầu năm nay hơn bảy nghìn quan tham dính án tham nhũng, làm trái…lũ lượt vào trại chăn kiến…
Để giải quyết vấn nạn trên những người quản trị đất nước đang làm gì?
– Về phía đảng : TBT đã rất cố gắng làm thêm mấy nhiệm kỳ (dù tuổi đã cao) trong sự nghiệp xây dựng đảng và chống tham nhũng. Nhưng có lẽ khó thành công bởi chỉ có quan chức mới tham nhũng được ,mà chỉ có là đảng viên mới được làm quan chức, ( điều 4 hiến pháp) mà quan chức thì không có thời gian đi học chính qui nên chỉ học tại chức cho có bằng thôi. Trình độ thấp mà làm sẽ dẫn đến sai phạm và lại thành củi. Đến nỗi ông S.H chủ tịch QH phải thốt lên nếu bắt hết thì lấy ai làm việc. Có người thì quan ngại : đánh chuột nhưng sợ vỡ bình, nếu truy vấn tài sản bất minh của quan chức thì lo anh em tâm tư lắm… vậy là ủy ban KTTU của đảng cũng đành loanh quanh như gà mắc tóc.
– Thủ tướng thì xông xáo khắp mọi nơi nhắc nhở các địa phương tăng cường giải ngân đầu tư công, ra nghị quyết khuyến khích các quan chức dám đột phá, dám làm (nếu không thì về để người khác làm.?), mà nếu quan chức nào dám vượt rào,đột phá làm thì phạm ngay vào : nguyên tắc tập trung dân chủ. Tức là phải đưa ra bàn bạc và có sự thống nhất của tập thể. Mà muốn có sự thống nhất thì phải cài người của mình vào hệ thống dưới trướng mình..lôi cả họ vào làm quan , như vậy lại mắc lỗi phe nhóm sai tổ chức.. tất yếu sẽ thành củi. Do vậy lãnh đạo nào dám làm đây ? Thủ tướng đến thăm trường đại học tổng hợp, các trung tâm công nghệ cao kêu gọi những người làm khoa học hãy đóng góp cho đất nước nhưng những nhà khoa học nào không phải là đảng viên thì phải dưới quyền lãnh đạo của quan đảng.! vậy là lời khuyên của thủ tướng cũng khó thành.. do đó tình trạng gà mắc tóc lại diễn ra trong sự cố gắng của thủ tướng!
– Chủ tịch quốc hội luôn tâm tư tất cả luật phải đặt lợi ích của nhân dân, phải vì dân và phải là ý nguyện của người dân.. nhưng thử hỏi có bao nhiêu người dân thật sự trong 500 vị tại quốc hội ? do vậy luật có thực sự cho dân không?? Khi áp dụng vào cuộc sống của người dân thì hoặc là bất cập phải sửa, hoặc là tạo kẽ hở để người dân phải gánh chịu. Như vậy chính quốc hội cũng lại luẩn quẩn như gà mắc tóc.
– Về phía dân : Người dân lao động thì cắm mặt vào vì miếng cơm manh áo thường nhật, với chồng chất nỗi lo giá cả tăng cao,các loại thuế phí chỉ có tăng chứ không giảm.? Người tri thức trong dân cũng rất muốn góp ý kiến, phản ánh những cái sai,cái bất công của chính quyền nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống chung nhưng cái nơm an ninh mạng, điều luật 331 treo lơ lửng trên đầu có thế chụp xuống bất cứ lúc nào. Nhiều người chán nản buông xuôi, có người lấy tinh thần nhân vật AQ( Lỗ Tấn) làm nơi ẩn náu, thủ dâm riêng mình. Do vậy chính những thành phần trong dân cũng bị mắc tóc..
Nếu tình trạng GÀ MẮC TÓC cứ diễn ra lâu dài như vậy thì Đất Nước sẽ đi về đâu ?! khi mà giặc ngoại xâm đang rắp tâm thôn tính.?
Ps : Nỗi trăn trở của một người dân không có ý chống phá cá nhân, tổ chức nào, không chống phá nhà nước Việt Nam.
“Nicôđêmô, một đầu mục của người Do Thái; ông đến gặp Chúa Giêsu ban đêm”.
Một ngọn hải đăng thật cần thiết trong việc soi dẫn tàu thuyền ở các vịnh, bãi cạn hay các lối vào cảng. Một trong những hải đăng nổi tiếng nhất là ngọn “Hải Đăng Alexandria”; xây từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, tồn tại đến thế kỷ 15, ở Alexandria, Ai Cập; và là kỳ quan của thế giới cổ đại.
Kính thưa Anh Chị em,
Ai Cập có một hải đăng 18 thế kỷ tuổi; nhưng nhân loại có một hải đăng ‘vô cùng tuổi’, chiếu sáng thế giới cổ đại lẫn hiện đại, ‘Hải Đăng Giêsu’. ‘Hải Đăng’ ấy không chỉ soi rọi trên biển Hồng Trần mà còn dẫn con người vào cảng cực lạc Thiên Quốc. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cho thấy một người đến gần ‘Hải Đăng Giêsu’. Chi tiết thú vị của ‘cuộc tiếp cận’ ấy là vị khách đến vào ban đêm, một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa; và người ấy đã ‘đi ra trong ánh sáng’ sau khi gặp Ngài!
Tin Mừng Gioan là ‘Tin Mừng của những biểu tượng’. Nicôđêmô đến vào “ban đêm”, theo thánh Augustinô, vì lẽ ông chưa được sinh lại hoàn toàn và do đó, chưa sống trọn vẹn dưới ánh sáng đức tin; nói cách khác, chưa ‘đi ra trong ánh sáng’ Giêsu. Tiến trình đức tin của Nicôđêmô là tiến trình ‘đến với ánh sáng’; đúng hơn, tiến trình được tái sinh trong nước và Thánh Thần. Thoạt đầu, ông sợ hãi, hiểu biết của ông về Ngài còn rất ít; nhưng sau khi gặp Ngài, ông giác ngộ, trở nên mạnh mẽ. Về sau, ông mạnh dạn bênh vực Ngài; Ngài chết, ông công khai trợ táng. Nicôđêmô đã ‘đi ra trong ánh sáng’, ‘được sinh lại’ bởi nước và Thánh Thần; và ông theo Chúa Giêsu đến cùng.
Thật trùng hợp, Phêrô và Gioan trong bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay đi ra từ ngục tối và hân hoan bước đi trong quyền năng và sức mạnh của Đấng Phục Sinh; hai ngài đã ‘đi ra trong ánh sáng’ và Thánh Thần để can đảm bênh vực niềm tin vào Đấng các ngài cậy trông. Thánh Vịnh đáp ca tỏ bày niềm phấn khích, “Phúc cho tất cả những ai tin tưởng nơi Chúa”.
Nicôđêmô là một tấm gương tuyệt vời cho chúng ta trong thế giới hôm nay. Nhiều Kitô hữu cảm thấy việc sống đức tin một cách triệt để, đặc biệt trong môi trường làm việc, học đường và các cộng đồng… là một thách đố. Như Nicôđêmô, nhiều người cảm thấy dễ dàng hơn khi đến với Chúa Giêsu “ban đêm”; thế mà, dẫu đã đến với Ngài theo cách này, họ vẫn không bước ‘đi trong ánh sáng!’. Tại sao? Họ không muốn để mình được biến đổi; nói đúng hơn, được sinh lại bởi trên.
Anh Chị em,
‘Đi ra trong ánh sáng’ đồng nghĩa với việc sống trong ánh sáng, trong Thần Khí. ‘Đi ra trong ánh sáng’ là sống đời sống mới mà Chúa Phục Sinh mang lại. Thánh Phaolô nói, “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng”. Hãy để Thánh Linh đi vào bên trong bạn, dẫn dắt linh hồn bạn, dẫn đến nơi Ngài muốn. Thông thường, chúng ta chùn chân, sợ hãi, như Nicôđêmô trước đó; chúng ta không biết phải đi những bước tiếp theo, không biết phải làm gì để thực hiện những bước quan trọng này. Hãy học gương can đảm của Nicôđêmô! Như Nicôđêmô, chúng ta ý thức rằng, bước quan trọng là để Thánh Linh dẫn dắt, để Ngài sinh chúng ta một lần nữa; và với sự tự do của Thần Khí, chúng ta không biết nó sẽ kết thúc ở đâu, vì “gió muốn thổi đâu thì thổi”, nhưng tin chắc một điều, chúng ta đã ‘đi ra trong ánh sáng’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin dạy con luôn sống như con cái ánh sáng, hầu nhân loại biết rằng, “Hải Đăng Giêsu” đang sống, đang chiếu soi họ, chiếu soi thế giới!”, Amen.
Nhiều lần phóng thử nghiệm pháo trang bị AI của Trung Quốc đã đạt được độ chính xác chết người cao hơn các loại súng được sử dụng hiện nay. Ảnh: tài liệu
Trong nhiều thử nghiệm được tiến hành trong các điều kiện khác nhau vào tháng 7 năm ngoái, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng pháo dẫn đường bằng laser do AI cung cấp có thể bắn trúng các mục tiêu có kích thước bằng con người ở cách xa 16km (9,9 dặm).
Độ chính xác đạt được trong các cuộc thử nghiệm, vượt quá mong đợi, cao hơn nhiều so với bất kỳ loại súng lớn nào đang được sử dụng, theo các bức ảnh về các cuộc thử nghiệm cho thấy đạn bắn trúng các bảng mục tiêu trong hồng tâm.
Trưởng nhóm dự án, Giáo sư Wang Jiang, từ Viện Công nghệ Bắc Kinh, cho biết trong một bài báo đăng trên tạp chí Acta Armamentarii vào tháng 4: “Trí tuệ nhân tạo đang phát triển nhanh chóng. Ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu áp dụng công nghệ này vào các vấn đề lập kế hoạch quỹ đạo (cho phi đạn)”.
Đạn pháo truyền thống có thể hạ cánh cách mục tiêu 100 mét (328 feet) hoặc hơn. Đạn pháo dẫn đường, có thể điều chỉnh hướng bay trong khi bay, đang được quân đội Trung Quốc, Mỹ và các nước khác ứng dụng rộng rãi hơn .
Tuy nhiên, độ chính xác của chúng bị hạn chế do lượng dữ liệu thời gian thực khổng lồ phải được tính toán bằng các mô hình toán học truyền thống. Các biến số chuyến bay như gió, nhiệt độ và áp suất không khí có thể hạn chế độ chính xác của đạn pháo đến mức nó có thể trượt mục tiêu trong vài hoặc hàng chục mét.
Thay vì các phương pháp toán học truyền thống, AI mang lại tiềm năng cho tốc độ xử lý dữ liệu nhanh hơn, theo Wang, cũng như các cộng tác viên từ ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc và các chuyên gia từ phòng thí nghiệm chung Vành đai và Con đường giữa Trung Quốc và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất về các hệ thống không người lái thông minh. .
Khi một viên đạn thông minh được khởi chạy, nó phải nhanh chóng thu thập và phân tích nhiều loại dữ liệu môi trường để tinh chỉnh hướng đi của nó – các phép tính có thể tăng theo cấp số nhân với số lượng biến.
Con chip máy tính của quả đạn pháo phải đơn giản nhất có thể vì nó phải chịu được sức nóng và sốc cực lớn của hỏa lực pháo binh. Đối mặt với những yêu cầu như vậy, bộ xử lý thường phải loại bỏ dữ liệu thô có giá trị để hoàn thành các phép tính kịp thời, do đó ảnh hưởng đến độ chính xác tổng thể.
Nhưng với AI, ngay cả một con chip máy tính chậm chạp cũng có thể hoàn thành các phép tính cần thiết bằng cách sử dụng gần như tất cả dữ liệu có sẵn, theo nhóm của Wang.