Tesla giảm giá khởi điểm Model Y xuống dưới mức xe trung bình của Hoa Kỳ

Theo báo Bloomberg  và Báo Xe Hơi điện EV

Một chiếc Tesla Model Y được trưng bày bên trong một cửa hàng Tesla tại trung tâm mua sắm Westfield Culver City ở California.

Nhiếp ảnh gia: Bing Guan/BloombergMột chiếc Tesla Model Y được trưng bày bên trong một cửa hàng Tesla tại trung tâm mua sắm Westfield Culver City ở California.

Tesla Inc.  hiện đang tính phí cho phiên bản rẻ nhất của Model Y SUV thấp hơn so với giá mà một chiếc xe mới thông thường được bán ở Mỹ, một ngưỡng mà model xe của  Elon Musk đã vượt qua một cách rực rỡ.

Với mức giá 46.990 đô la, Model Y cơ bản hiện có giá thấp hơn 759 đô la so với số tiền trung bình phải trả cho một chiếc ô tô hoặc xe tải ở Mỹ. Sự khác biệt giữa những con số này đã thay đổi hơn 20.000 đô la kể từ giữa năm ngoái.

Không có nhà sản xuất ô tô nào thực hiện việc giảm đáng kể như vậy đối với một chiếc xe phân khối lớn trong thời đại ô tô hiện đại. Model Y là mẫu xe điện bán chạy nhất ở Mỹ vào năm ngoái và là một trong những mẫu SUV hàng đầu của bất kỳ loại nào.

Trong khi Musk phủ nhận việc Tesla đang  bắt đầu cuộc chiến giá cả , thì các đồng nghiệp của ông lại nhìn nhận điều đó theo cách khác. Giám đốc điều hành của Ford Motor Co. Jim Farley, người sở hữu chiếc SUV Mustang Mach-E đã mất thị phần đáng kể vào tay Model Y trong quý trước – mặc dù có một số đợt giảm giá  – cho biết vào tuần trước rằng cuộc chiến giá cả đang ” nổ ra ở khắp mọi nơi .”

Thật vậy, Tesla đã giảm giá với ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ. Nhà sản xuất ô tô Pháp Renault SA tuần trước đã gọi việc cắt giảm của Tesla là một thách thức  và cho biết họ đang xem xét chiến lược giá của mình để đáp ứng. Ở Trung Quốc, các nhà sản xuất ô tô đã chạy theo Tesla với việc giảm giá mạnh , và ít nhất một nhà phân tích đã cảnh báo một số công ty có thể không tồn tại được .

Nhà phân tích Adam Jonas của Morgan Stanley cho biết tuần trước rằng việc cắt giảm của Musk tại Mỹ rất mạnh mẽ, chúng có thể khiến một số nhà sản xuất ô tô giảm tốc độ đầu tư chóng mặt vào xe điện, thay vì cạnh tranh với Tesla về giá trong một nền kinh tế không chắc chắn. Jonas cho biết: “Chúng tôi đang đặt câu hỏi liệu đây có phải là ‘thời điểm’ mà hội đồng quản trị của các công ty sản xuất truyền thống có thể xem xét việc quay ngược lại mức độ và thời gian của các kế hoạch R&D và vốn đầu tư cho xe điện của họ hay không?”

Báo chuyên nghành EV-Xe Điện nhận xét, “một khi Tesla giảm giá, chúng tôi gần như cần phải tìm hiểu về điều đó ngay lập tức, điều này thật thú vị vì công ty thường không đưa ra thông báo. Bạn phải làm quen với giá hiện tại của Tesla và thường xuyên kiểm tra trang web của hãng để nhận thấy những thay đổi, đôi khi là đáng kể.”

Tesla electric cars

Tesla cũng có xu hướng đưa ra một số giảm giá lớn khi nó thực sự giảm giá. Nếu nó muốn thu hút sự chú ý của giới truyền thông và thu hút người mua, có lẽ 13.000 đô la cho Model Y bán chạy nhất sẽ làm được điều đó. Khi các nhà sản xuất ô tô đối thủ chú ý, họ có thể quảng cáo giảm giá, nhưng nó thường không đáng kể hơn nhiều và một khi đại lý có khả năng điều chỉnh thị trường và các tiện ích bổ sung, khoản tiết kiệm có thể biến mất.

Cuối cùng, có vẻ như tỷ suất lợi nhuận của Tesla cao hơn nhiều so với phần còn lại của ngành nên nó có thể đủ khả năng giảm giá lớn, sau đó là giảm giá nhiều hơn nữa. Trong khi đó, một số nhà sản xuất ô tô lâu đời đang nói rõ rằng họ vẫn đang lỗ trên mỗi chiếc xe điện mà họ bán ra và các đại lý sẽ không nhận được lợi nhuận lớn từ việc bán xe điện trừ khi họ bổ sung các điều chỉnh thị trường. Vì những lý do này, có vẻ như trong nhiều trường hợp, các đối thủ của Tesla rất khó giảm giá xe điện.

 

Nga vẫn mất 500 binh sĩ mỗi ngày ở Ukraine ngay cả sau khi giảm 30% thương vong, tình báo Anh cho biết

Theo báo Thương Nhân Trong Cuộc – Business Insider

The funeral of 38 pro-Russian soldiers who were killed in the fighting, at a cemetery in Luhansk, Russian-controlled Ukraine, November 11, 2022. REUTERS/Alexander Ermochenko

Tang lễ tại một nghĩa trang ở Luhansk, Ukraine do Nga kiểm soát, ngày 11 tháng 11 năm 2022. @REUTERS/Alexander Ermochenko

  • Tình báo Anh cho biết thương vong hàng ngày của Nga có thể giảm 30% trong tháng 4 so với tháng 3.

Con số thương vong hàng ngày của Nga đã giảm khoảng 30% khi nước này chuyển sang thế phòng thủ nhiều hơn, nhưng vẫn có khả năng mất hơn 500 binh sĩ mỗi ngày ở Ukraine, theo tình báo mới của Anh.

Bộ Quốc phòng Anh cho biết trong một bản cập nhật tình báo hôm thứ Ba rằng tỷ lệ thương vong trung bình hàng ngày của Nga có thể giảm khoảng 30% trong tháng Tư, so với số liệu của tháng Ba.

Vào tháng 3, nước này ước tính mất khoảng 776 binh sĩ mỗi ngày, con số này đã giảm xuống còn 568 vào tháng 4.

Nga không công bố số liệu thương vong của riêng mình, nhưng MOD của Vương quốc Anh đã chỉ ra số liệu do Bộ Tổng tham mưu Lực lượng Vũ trang Ukraine công bố.

  • Nó diễn ra khi Nga đang “chuẩn bị cho các hoạt động tấn công đã được dự kiến ​​trước của Ukraine,”

MOD lưu ý rằng Nga đã phải chịu “thương vong đặc biệt nặng nề” từ tháng 1 đến tháng 3, vào thời điểm nước này phát động cuộc tấn công mới nhất nhằm chiếm thêm lãnh thổ Ukraine.

Nhưng Nga đã không đạt được bất kỳ lợi thế chiến trường đáng kể nào trong chiến dịch của mình, mặc dù chịu tổn thất nặng nề về thiết bị và nhân sự.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ Mark Milley  nói với Politico vào cuối tháng 2 rằng khoảng 1.200 binh sĩ gần đây đã thiệt mạng chỉ  trong một ngày giao tranh ở thành phố Bakhmut phía đông, một trong những chiến trường quan trọng trong cuộc chiến.

Bộ Quốc phòng Anh cho biết tổn thất chậm lại của Nga được giải thích là do nước này chuyển sang thế phòng thủ nhiều hơn trước các nỗ lực phản công dự kiến ​​​​của Ukraine.

Ukraine dự kiến ​​sẽ sớm phát động cuộc phản công của riêng mình, với sự hỗ trợ của vũ khí mới từ các đồng minh.

 

 

Đài Loan quan tâm đến đề xuất của Hoa Kỳ về việc lưu trữ các kho đạn dược chung quanh khu vực đảo

Theo Sentinel Á Châu

Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan Chiu Kuo-cheng, trong cuộc chất vấn quốc hội gần đây, đã xác nhận rằng Đài Loan và Hoa Kỳ đã mở các cuộc đàm phán về việc thiết lập một “kho dự trữ dự phòng” đạn dược của Hoa Kỳ trên đảo, một động thái sẽ nâng Đài Loan lên vị thế tương tự như các đồng minh lớn ngoài NATO.

Xác nhận của Chiu được đưa ra trong bối cảnh các cuộc chiến giả định bằng trò chơi gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Hoa Kỳ chứng minh rằng Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng cạn kiệt vũ khí chủ chốt – Tên lửa Chống Tàu Tầm xa (LRASM) – trong khi cố gắng ngăn chặn một cuộc tấn công của Trung Quốc xâm lược Đài Loan.

Nó cũng diễn ra trong bối cảnh lo ngại về cuộc chiến cường độ cao cho thấy lực lượng vũ trang Ukraine thiếu mạng lưới cơ sở lưu trữ đạn dược rộng khắp.

Mặc dù việc Đài Loan cho phép các cơ sở lưu trữ đạn dược của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc nổi giận, nhưng một nhân vật chính sách đối ngoại quan trọng của đảng đối lập lớn nhất của Đài Loan, Quốc dân đảng (KMT), đã thể hiện lập trường ủng hộ ý tưởng này, điều này đặc biệt đáng chú ý, vì Quốc dân Đảng là thân thiện với Trung Quốc hơn nhiều so với Đảng Dân chủ Tiến bộ (DDP) cầm quyền và thường tìm cách tránh khiêu khích Trung Quốc.

Alexander C. Huang, đại diện của Quốc dân đảng tại Mỹ, nói với Asia Sentinel: “Nếu Washington đang nghĩ đến việc tăng kho vũ khí ở Đài Loan, thì điều đó phản ánh cam kết an ninh cụ thể nhằm giúp Đài Loan tự vệ”. “Việc mua lại và sắp xếp có thể cần phải được thảo luận dựa trên khái niệm quốc phòng của Đài Loan và lợi ích chung.”

Việc xác nhận các cuộc đàm phán được đưa ra hai tháng sau khi nhật báo Nikkei của Nhật Bản đưa tin rằng các quan chức quốc phòng Nhật Bản đang cân nhắc kế hoạch xây dựng hàng chục kho vũ khí và đạn dược trên các hòn đảo xa xôi phía tây nam để chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng Đài Loan tiềm tàng. Nhật Bản có khoảng 1.400 cơ sở lưu trữ đạn dược trên toàn quốc, nhưng 70% nằm ở đảo chính Hokkaido, cực bắc của nước này, cách các đảo của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông hơn 2.000 km. Một đề xuất sẽ xây dựng gần 70 cơ sở lưu trữ đạn dược trong vòng 5 năm tới. Các kho mới sẽ được đặt tại Quần đảo Nansei, bao gồm Okinawa và kéo dài về phía Đài Loan từ mũi phía nam của đảo chính Kyushu ở cực nam của Nhật Bản.

Ryukyu Shimpo – Okinawa, Japanese newspaper, local news ...

Theo báo cáo của Nikkei, Nhật Bản sẽ gặp khó khăn trong việc trang bị cho lực lượng phòng vệ của mình trong một cuộc xung đột kéo dài, với các vùng Kyushu và Okinawa, gần Đài Loan nhất, nắm giữ ít hơn 10% kho dự trữ.

“Ukraine có thể là Đông Á của ngày mai,” Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cho biết vào tháng 1 sau cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Joe Biden, đồng thời gọi các mối quan ngại về an ninh ở châu Âu và Đông Á là “không thể tách rời”.

“Tình hình xung quanh Nhật Bản ngày càng trở nên nghiêm trọng với những nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, cũng như việc kích hoạt các hoạt động hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên,” ông nói thêm.

Trong khi đó, liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo dường như đang di chuyển để có được kho đạn dược gần sườn phía nam của Đài Loan hơn, như một thông báo của Hoa Kỳ đề xuất. và Philippines vào tháng Hai của bốn địa điểm mới mà tại đó nhân viên Hoa Kỳ sẽ có thể tiếp cận các cơ sở quân sự của Philippines theo Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Nâng cao (EDCA) hiện có.

EDCA, một hiệp ước quốc phòng song phương được ký kết vào năm 2014, trao cho Hoa Kỳ quyền kiểm soát hoạt động hoàn toàn đối với các địa điểm được liệt kê. Các phương tiện truyền thông đưa tin trích dẫn các nguồn tin quân sự giấu tên của Philippines cho thấy hai hoặc ba trong số các địa điểm mới sẽ nằm ở các tỉnh phía bắc Cagayan và Isabela, gần Đài Loan. 

“Có thể sẽ có một kho vũ khí, nhưng hiện tại các địa điểm EDCA cụ thể vẫn chưa được xác nhận từ phía Philippines và loại cơ sở trong địa điểm EDCA rõ ràng sẽ phải là chủ đề của một cuộc thảo luận khác giữa hai bên,” Rommel Ong, một chuẩn đô đốc Philippines đã nghỉ hưu và hiện là giáo sư tại Trường Chính phủ Ateneo, nói với Asia Sentinel.

Collin Koh, Nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng ở Singapore, chỉ ra rằng việc bố trí trước khí tài quân sự dọc Chuỗi đảo thứ nhất (bao gồm Nhật Bản, Đài Loan và Philippines) sẽ phù hợp với các mô hình xây dựng đang diễn ra. khả năng phục hồi của các lực lượng Hoa Kỳ  thông qua việc phân tán nhân lực và trang thiết bị. Mặc dù những địa điểm này sẽ nằm trong  mục tiêu của các lực lượng tấn công của PLA, đặc biệt là kho tên lửa, nhưng điều này giúp các lực lượng Hoa Kỳ phân tán các kho dự trữ quan trọng thay vì tập trung hết ở một chỗ.

“Các lực lượng có thể triển khai nhanh hơn trong chiến trường và tham gia các hoạt động chiến đấu nhanh hơn với các kho dự trữ đạn dược sẵn sàng, và tất nhiên, các kho dự trữ, tùy thuộc vào quy mô của chúng, sẽ rất quan trọng trong việc duy trì vũ lực trên chiến trường trong thời gian xung đột ở cường độ cao,”

Ông nói thêm: “Cuộc chiến ở Ukraine, nếu có, đã làm nổi bật rõ ràng kho dự trữ đạn dược có thể bị đốt cháy nhanh chóng như thế nào bởi các hoạt động chiến đấu cường độ cao và nhịp độ cao.

Trung Quốc và việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Theo South China Morning Post

China’s vice-commerce minister, Wang Shouwen, speaks at a press conference in Beijing on Sunday. Photo: Kyodo

China’s vice-commerce minister, Wang Shouwen, speaks at a press conference in Beijing on Sunday. Photo: Kyodo

Trung Quốc đang cố gắng đẩy nhanh việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong bối cảnh các nỗ lực mới của Mỹ đang đe dọa chuỗi công nghiệp của Trung Quốc.

“Trung Quốc sẵn sàng tham gia CPTPP và có khả năng thực hiện các nghĩa vụ liên quan”, ông Vương Thụ Văn (Wang Shouwen), Thứ trưởng Bộ Thương mại kiêm nhà đàm phán thương mại quốc tế của Trung Quốc, cho biết trong họp báo hôm 23.4.

“Chúng tôi hy vọng rằng tất cả 11 quốc gia thành viên có thể ủng hộ việc chúng tôi tham gia hiệp ước”, ông Vương nói thêm.

Các phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh đơn xin gia nhập CPTPP của Trung Quốc dường như đang gặp trục trặc.

Anh nộp đơn vào tháng 6.2021 và mới vào tháng trước đã đạt được thỏa thuận tham gia hiệp định thương mại gồm 11 thành viên. Tuy nhiên, quá trình đàm phán của Trung Quốc, nước nộp đơn sau Anh 3 tháng, dường như có rất ít tiến triển.

CPTPP có hiệu lực vào tháng 12.2018, bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Đây là thị trường rộng lớn mà Bắc Kinh rất muốn khai thác, đặc biệt là khi Mỹ đang thúc đẩy các nỗ lực đưa chuỗi cung ứng trở về nước.

Mỹ là một trong những nước đề xuất Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tiền thân của CPTPP. Tuy nhiên, Washington đã rút khỏi hiệp định này trong những ngày đầu nhiệm kỳ tổng thống của ông Donald Trump.

Thay vào đó, Mỹ đang thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và quan hệ đối tác thương mại “dân chủ”. Điều này sẽ làm giảm vai trò của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng quốc tế.

Trung Quốc đang lo ngại về việc các đơn đặt hàng ở nước ngoài giảm và bị cô lập trong thương mại quốc tế, với việc nhiều nhà máy chuyển đến Đông Nam Á để tiết kiệm tiền và vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ. Các chuyến vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc đến Mỹ đã giảm trong 8 tháng liên tiếp so với cùng kỳ năm ngoái.

Vì vậy, gia nhập CPTPP được Trung Quốc coi là một bước quan trọng trong việc đảo ngược môi trường không thuận lợi bên ngoài, phá vỡ các nỗ lực ngăn chặn của Mỹ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với nhiều đơn đặt hàng ở nước ngoài.

Ngoài việc đáp ứng các tiêu chí cao như quyền sở hữu và tiêu chuẩn lao động, Trung Quốc sẽ cần có sự chấp thuận của tất cả các nước thành viên nếu muốn gia nhập CPTPP.

Là nhà xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, Trung Quốc trong nhiều năm đã nỗ lực tạo ra Khu vực Thương mại Tự do châu Á – Thái Bình Dương. Khu vực này sẽ được hỗ trợ bởi “hai bánh xe” là CPTPP và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gồm 15 thành viên.

“Nếu Trung Quốc tham gia CPTPP, điều đó sẽ giúp hai bánh xe này tiến lên”, ông Vương nói, chỉ ra thị trường tiêu dùng khổng lồ và tiềm năng tiêu thụ của nước này.

“Điều đó sẽ có lợi cho hội nhập kinh tế khu vực và rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, an toàn và độ tin cậy của chuỗi cung ứng và công nghiệp trong khu vực”, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc nói thêm.

Phan Sinh Trần

 Xã hội không có công lý là xã hội cá lớn nuốt cá bé

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

Tranh đấu để thiết lập công lý là trách nhiệm của người trí thức Việt Nam đối với lịch sử. Tranh đấu để dân chủ pháp trị hóa Việt Nam là trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam đối với các thế hệ tương lai.

Bà con yên trí là tôi không hề nhân danh ai. Nhứt là tôi không tranh đấu bất cứ một cái gì cho bà con hết cả. Bà con chửi, tui rất hân hạnh lắng nghe.

Chuyện thần Thémis, thần Công lý, chắc ai cũng biết. Tượng người phụ nữ bịt mắt, tay cầm gươm, tay cầm cán cân trong thần thoại Hy lạp là Thần Công lý.

Thanh kiếm tượng trưng cho hình phạt (luật lệ). Cán cân tượng trưng cho tính quân bình giữa tội trạng và luật lệ. Bịt mắt thể hiện tính công bằng trong việc phân xử.

Mục tiêu của thần Thémis là thiết lập lại Công Lý. Vì vậy thần Thémis còn gọi là “Thần Công lý”.

Thần công lý – Ảnh minh họa

Thần Công lý ở các quốc gia “giẫy chết” là nguyên tắc “Pháp trị -Rule of Law” như ở Mỹ, hay “Quốc gia Pháp trị – Etat de Droit” ở châu Âu. Thần Thémis ở đây là nhánh tư pháp gồm hệ thống tòa án và các cơ quan thi hành luật.

Nhìn qua nước Mỹ thời gian gần đây đôi khi tôi tưởng thần Thémis bị… mù. Nhưng không phải. Công lý tuy chậm thực thi một chút nhưng công lý cuối cùng phải được thiết lập.

Ở Mỹ không có ai đứng trên luật hết cả, ngay cả tổng thống đương nhiệm. Nói chi tới cựu tổng thống.

Còn ở Việt Nam, vụ “đốt lò” ở Việt Nam, nhiều người nghĩ chắc ông Trọng là “thần Thémis”. Lầm chết! Ông Trọng không hề có mục tiêu thực thi hay thiết lập lại công lý, như thần Thémis. Ông Trọng đốt lò chỉ có mục tiêu duy nhứt là thanh lọc và củng cố sự lãnh đạo của đảng đối với nhà nước.

Theo tôi, cái khó của ông Trọng là cho vô lò hết đợt này tới đợt khác, đến khi ông Trọng về hưu, chuyện sẽ đâu vô đó. Tham nhũng vẫn hoàn tham nhũng.

Thay vì cố gắng đốt lò, củi xanh củi mục gì cũng đốt. Theo tôi, ông Trọng nên dành thì giờ quí báu còn lại để nghiên cứu một mô hình Quốc gia Pháp trị (Etat de Droit) hay Pháp trị (Rule of Law) phù hợp cho Việt Nam, kiểu Đài Loan hay Nam Hàn. Các xứ này nạn tham nhũng quyền lực bị phạt nặng. Họ bỏ tù quan chức từ trên xuống dưới, bỏ tù kể cả tổng thống.

Điều quan trọng cốt lõi của pháp luật là “công lý” phải được thiết lập. Xã hội không có công lý là xã hội cá lớn nuốt cá bé.

CƠN ĐÓI CỦA LINH HỒN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời!”.

Allen Gardiner, một nhà truyền giáo, trải qua nhiều gian khổ khi phục vụ tại đảo Picton, cực nam Nam Mỹ. Năm 1851, ở tuổi 57, ông qua đời. Thi thể ông được tìm thấy với cuốn nhật ký; trong đó, ghi lại những trải nghiệm về đói, khát và cô đơn. Dòng cuối cùng cho thấy sự vật lộn của bàn tay run rẩy khi ông cố sức để viết cho dễ đọc, “Tôi choáng ngợp với cảm giác về sự tốt lành của Thiên Chúa, điều duy nhất thoả mãn ‘cơn đói của linh hồn!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

‘Cơn đói của linh hồn’ Gardiner được gợi lại trong Tin Mừng hôm nay khi Chúa Giêsu nói, “Hãy ra công làm việc… vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời”. Vậy bạn đang nỗ lực làm việc cho của ăn nào? “Của ăn ha
y hư nát?”, “Của ăn tồn tại cho sự sống đời đời?”. Hay ngược lại?

Nhìn chung quanh, bạn và tôi nhận ra rằng, có rất nhiều nguồn cung cấp ‘của ăn’ không đến từ Thiên Chúa và xem ra, chúng có vẻ hấp dẫn. Một số người nuôi dưỡng bản thân bằng tiền bạc; số khác, bằng thành công và danh tiếng; số khác nữa, bằng quyền lực và sự kiêu hãnh. Vậy mà, ‘của ăn’ thực sự thoả mãn ‘cơn đói của linh hồn’ chỉ có thể là ‘Của Ăn’ đến từ Thiên Chúa!

Chúa Giêsu coi trọng “của ăn hay hư nát”, nhu cầu thể chất; Ngài không chịu được cảnh hàng ngàn người phải đói giữa đồng vắng. Ngài cho kẻ đói ăn, chữa người bệnh lành; Ngài kêu gọi người giàu chia sẻ cho người nghèo. Tuy thế, Chúa Giêsu cũng tiết lộ cho chúng ta một chân trời khác, một chân trời không thuộc về thế giới này; Ngài muốn chúng ta đi đến cuối chân trời đó, ở đúng vị trí của Ngài, để có thể nhìn thấy vinh quang “Con Một của Chúa Cha”, cũng là “của ăn tồn tại cho sự sống đời đời”; ‘Của Ăn’ đó chính là Ngài! Ngài kêu gọi những kẻ kiếm tìm Ngài hãy để cho mình đói một cơn đói sâu xa hơn, cơn đói tinh thần, ‘cơn đói của linh hồn’ mà chỉ mình Ngài có thể thoả mãn. Đó là tin vào Ngài.

Têphanô trong bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay là người đã được Chúa Giêsu dẫn đến tận cuối chân trời đó. Kìa! Ông ngước mắt lên và nhìn thấy cũng đang thực sự đói con người; Ngài mong chờ tình yêu của chúng ta. Ước gì, bạn và tôi không ngừng tìm đến với Giêsu Thánh Thể, chuyên cần rước lấy Ngài; bởi lẽ, chỉ nơi Thánh Thể Giêsu, chúng ta mới thoả mãn ‘cơn đói của linh hồn’; và cũng chỉ nơi Giêsu Thánh Thể, ‘cơn đói của Thiên Chúa và của con người’ cùng được no thoả!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, nguồn no thoả cho ‘cơn đói của linh hồn’ con. Ước gì, mỗi khi con rước Chúa là mỗi lần thiên đàng chớm nở trong con; vì có Chúa, con có thiên đàng, no thoả tột cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 2)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tiếp theo phần 1

Trong khi các lực lượng bộ binh Mỹ chưa ghi nhận thành tích chiến thắng nào, thì  Mặt trận GPMN liên tục chiếm được nhiều vùng tại nông thôn và chính phủ VNCH cho biết là chỉ còn khả năng kiểm soát tại Sài Gòn và nhiều thành phố lớn khác.

Gây lo âu cho Johnson trong giai đoạn này không phải chỉ có tiền tuyến Việt mà còn hậu phương Mỹ. Mike Mansfield và Goerg McGovern, hai tiếng nói quan trọng thuộc đảng Dân chủ, đòi hỏi phải tìm một giải pháp đàm phán.

Ngay cả Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant và Thủ tướng Canada Lester Pearson cũng lên tiếng Mỹ phải giải thích mục tiêu theo đuổi chiến tranh, kết thúc không chiến và kêu gọi đàm phán.

Giới truyền thông Washington trước đây nhiệt tình ủng hộ cho Johnson, nay cũng chuyển hướng khi số lượng thương vong của binh sĩ Mỹ lên cao. New York Times, Boston Globe và Newsweeks đồng loạt nêu việc xem lại ý nghĩa tham chiến, nhưng không đòi hỏi triệt để là Mỹ phải rút quân.

Các phong trào phản chiến lần lượt ra đời cùng với lập luận là việc tham chiến không phản ảnh được ý nghĩa giá trị chiến lược hay dân chủ cho nước Mỹ.

Để đáp ứng tình thế  ngày càng sôi bỏng, trong một bài diễn văn đọc tại Đại học Johns Hopkins, Baltimore ngày 7 tháng 4, Johnson thông báo sẳn sàng thương thuyết với Hà Nội và đề ra một phương thức viện trợ kinh tế theo mô hình Great Society với ngân khoản 1 tỷ đô la cho các nước Đông Nam Á. Đến tháng 5, để bày tỏ thiện chí, Johnson ra lệnh ngưng oanh kích trong năm ngày để yêu cầu CSBV đàm phán.

Dù lòng thành tín muốn kết thúc chiến cuộc không thể nghi ngờ, nhưng thực ra, Johnson không có một chiến lược cụ thể cho tiến trình hay một tương nhượng cho đối phương. Giống như các bậc tiền nhiệm, Johnson chỉ đề cao việc tôn trọng quyền toàn vẹn lãnh thổ của VNCH và không chấp nhận sự hiện diện của MTGPMN tại miền Nam.

Ngược lại với mọi dự đoán của Johnson, tháng 5 năm 1965, để đáp trả, CSBV kiên quyết không chấp nhận hoà đàm, mà lý do chính là đang nhận được nhiều viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, vì tin là chiến thắng quân sự đã gần kề, nên cũng bác bỏ áp lực đàm phán của Liên Xô.

Để gây tiếng vang với công luận, Hà Nội cũng đề nghị bốn điểm đối nghịch: Mỹ rút quân khỏi miền Nam không điều kiện, chấm dứt oanh tạc miền Bắc, thành lập một chính phủ liên hiệp tại miền Nam với các thành phần yêu chuộng hoà bình và thống nhất đất nước.

Thái độ hiếu hoà của Johnson làm cho giới phản chiến dịu giọng, và đầu tháng 5, Quốc hội thuận chi 700 triệu đô la để yểm trợ cho các cuộc hành quân tại miền Nam.

Hầu hết chính giới tại Washington như Wheeler, McNamara, Rostow, Rush, Westmoreland và các tướng lãnh tại Ngũ Giác Đài cùng đi đến một nhận định chung là, đã đến lúc tình thế không thể đảo ngược; Mỹ phải quyết định táo bạo bằng cách mở rộng không kích, tăng cường quân số bộ binh và bổ sung nhiều chiến lược khác, cho dù phải chấp nhận nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn.

Chỉ có Taylor đành im lặng và tìm cách thích ứng trong khi Ball tiếp tục cảnh cáo thiệt hại của Mỹ càng trở nên khó lường đoán.

Tháng 6 năm 1965, việc leo thang thực sự bắt đầu khi Johnson ra lệnh gởi thêm 50.000 quân. Cuối năm 1965, quân số Mỹ lên đến 184.000; cuối năm 1967 là 485.000.

Việc tăng quân liên tục làm cho công luận và Quốc hội phản ứng mạnh. Vô số các khuyến nghị của chính giới và truyền thông hay công luận đều bị Johnson bác bỏ. Điển hình là Henry Cabot Lodge (1902-1985) đã lên tiếng: “Tại sao gởi một số lượng lớn quân đến Việt Nam mà không một lời giải thích?”

Trong năm 1967, cục diện chiến trường thay đổi khi tương quan lực lượng của hai phía không còn cân xứng, nghiêng hẳn về phía Mỹ và VNCH.

Ngoài hơn nửa triệu quân Mỹ đang hiện diện, QLVNCH có trên 660.000 quân, miền Nam còn có 50.000 binh sĩ Nam Hàn và một số lượng của các quốc gia thân hữu khác là Philippines (2061), Úc (50.000) và Tân Tây Lan (356) hợp tác.

Có mặt trên chiến trường miền Nam ước khoảng trên 200.000 binh sĩ miền Bắc và 80.000 quân MTGPMN. Nhưng dị biệt về binh pháp là vấn đề chính.

CSBV chủ yếu vẫn dựa vào du kích chiến của Mao Trạch Đông và lấy nông dân tại nông thôn làm cơ sở. Thực ra, CSBV cũng không thể thay đổi chiến lược này trong toàn diện, trong khi các tỉnh đồng bằng miền Tây Nam bộ có nhiều thuận lợi về địa hình và nhân sự; ngược lại, các tỉnh miền Đông và ven biển miền Trung là không thích hợp.

Dù thất thế về quân số và hoả lực, nhưng tinh thần chiến đấu của cán binh Cộng sản lên cao độ với nhiều lý do.

Nhìn chung, bất chấp số lượng thương vong rất lớn là sức mạnh tinh thần. CSBV tin là nhiều người Việt sẽ chiến đấu kiên cường hơn người Mỹ và sẳn sàng chết nhiều hơn người Mỹ.

Hai “trận chiến long trời lở đất” Điện Biên Phủ và Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 là bằng chứng không ai quan tâm các con số tổn thất.

Tướng Westmoreland từng nhận định, thành công trong trận Điện Biên Phủ không phải là một bài học chiến lược quý giá để cho các tướng lãnh các nước phương Tây noi theo, kể cả ông cũng cho việc sát quân là không phù hợp. Cho đến nay, chưa có nơi nào trên thế giới áp dụng  kinh nghiệm này.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa có tổn thất của phe thắng trận nào mà nặng nề và thảm khốc hơn phe thua trận như tại Việt Nam (1 triệu 1 cho CSBV so với 330 ngàn của VNCH).

Không nêu cao vai trò đấu tranh giai cấp để bảo vệ quyền lợi công nhân như các xã hội công nghiệp phương Tây; ngược lại, Bắc Việt tuyên truyền rằng Mỹ xâm lược tàn bạo, làm cho nhân dân miền Nam nghèo đói tận cùng và đang rên xiết, và trông chờ Giải phóng quân miền Bắc đến giải cứu. Lập luận này trở thành dụng cụ tuyên truyền hữu hiệu; tấm gương hào hùng chống thực dân Pháp  là một chứng minh lịch sử, đấu tranh giải phóng dân tộc bắt đầu có lý do để biện minh, nhất là khi không quân Mỹ ném bom gây ra hình ảnh bi thương cho đất nước.

Hơn thế, lập luận chống Mỹ xâm lăng có thể thuyết phục được cả các thành phần trước đây thuộc loại lưng chừng: nông dân và một phần thị dân như sinh viên và trí thức, nhất là tự do đấu tranh ngoại vận của thành phần “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, lên tiếng hỗ trợ gây được nhiều tiếng vang nhờ có các phong trào phản chiến tại phương Tây tiếp sức.

Các tài liệu về sau hé lộ rằng, có khoảng 310.000 quân Trung Quốc lo bảo vệ miền Bắc, nhưng không có một cuộc thảo luận công khai hay hình thức chống đối nào trong chính giới hay dân chúng về sự hiện diện này, vì CSBV kiểm soát tuyệt đối lĩnh vực truyền thông ngoại vận và quốc nội, đó một lợi thế của miền Bắc; trong khi miền Nam không có và còn thất bại nặng nề trong đấu tranh phát huy chính nghĩa quốc gia, từ nông thôn cho đến hải ngoại, khi so với  hơn 485.000 lính Mỹ đồn trú tại miền Nam.

Đối sách của Mỹ là một thất bại thảm hại mà việc sử dụng vũ khí hoá học là điển hình. Phá huỷ các căn cứ quân sự của MTGPMN bằng bom Napalm và hoá học cũng có nghĩa là hủy diệt môi trường sống cho nông dân.

Nhiều khu vực rộng lớn được Mỹ quy định thành khu oanh kích tự do (free fire zones)  trong khi một số khu rừng rậm tại một số tỉnh được chính quyền xem là Indian country, nghĩa là trong các cuộc hành quân truy tìm và tận diệt (search and destroy) các binh sĩ Mỹ và VNCH có quyền bắn tự do những gì còn lay động.

Các binh pháp của Mỹ đã thành công trong Đệ nhị Thế chiến và tại Triều Tiên được Tướng Westmoreland đem ra áp dụng đều không kết quả như mong đợi mà sự khác biệt ở đây là phân công  Mỹ-Việt:

Sau khi binh sĩ Mỹ truy lùng, diệt dịch và tái chiếm, QLVNCH đảm trách công việc bình định nông thôn. Đại sứ Taylor đã cảnh báo là các binh sĩ VNCH không có khả năng đấu tranh chính trị để gây thiện cảm với nông dân trong lâu dài. Đó là nhiệm vụ mà về sau lực lượng Cán bộ Xây dựng Nông thôn thành hình và đảm trách.

Cuộc chiến không còn để thu phục nhân tâm, mà thành tích chiến thắng chỉ dựa trên việc đếm xác đối phương, một thất bại về tâm lý chiến, nhưng Mỹ và VNCH cần đến các thống kê để phô trương trước truyền thông và công luận hơn bao giờ hết.

Hậu quả

Việc Mỹ hoá chiến tranh gây nhiều bất mãn cho chính giới. Cuối năm 1965,  McNamara cho là chiến thắng quân sự khó khả thi và phải tìm cách đàm phán. Năm 1967, ông kiên quyết phải chấm dứt không kích để tránh các nguy cơ lan rộng. Mâu thuẩn với Johnson và Westmoreland không thể hoà giải; cuối cùng, đến tháng 12 năm 1967, ông chấp nhận chức vụ mới là lãnh đạo Ngân hàng Thế giới và Clark M. Clifford thay ông làm Bộ trưởng Quốc phòng. Cũng trong tâm trạng này, George Ball và McGeorg Bundy rời khỏi nội các Johnson.

Ngoài khó khăn về nhân sự, Johnson cũng cố tìm cách để thương thuyết với Hà Nội, không phải chỉ trong các cuộc vận động chính thức, mà còn qua các sáng kiến tư nhân của các nhà ngoại giao tên tuổi từ các nước Anh, Pháp, Ý, Ba Lan và Liên Xô. Tất cả đều không đem lại kết quả vì bị Hà Nội cự tuyệt.

Nhìn chung, các chiến thuật đàm phán trong ngắn hạn của Hà Nội cũng như Mỹ không khác nhau.

Hà Nội, dù là ngỏ ý đàm phán, nhưng không có thái độ nghiêm chỉnh, mục tiêu là kéo dài cho đến khi nào Hoa Kỳ kiệt sức hoặc do các phản đối của dân chúng Mỹ đến độ phải quay lưng từ bỏ VNCH.

Ngoài ra, Hà Nội cũng muốn lo giữ thể diện là chính. Kinh nghiệm lịch sử đàm phán lại có một lý do khác: hai lần thất bại thương thuyết, một trong năm 1946, lúc cuối Đệ nhất Thế chiến, và một trong năm 1954, lúc cuối chiến tranh Đông Dương. Đó là lý do tại sao Hà Nội không muốn thất bại lần thứ ba.

Lý do chọn giải pháp quân sự ưu tiên vì  viện trợ còn dồi dào và vẫn chờ tin vui chiến trường.

Còn Mỹ? Thái độ của Mỹ cũng không chân thành hơn. Trong cả hai trận tuyến đàm phán và chiến trường, tình hình chung là bế tắc.

Đến cuối tháng 9 năm 1967, Johnson quyết định chuyển hướng sang phương thức mới mang tên “San Antonio”, nghĩa là, Mỹ đề nghị ngưng ném bom và chấp nhận vai trò của MTGPMN trong việc tái thiết hậu chiến, nếu Hà Nội nghiêm chỉnh thương thuyết.

Thực ra, Mỹ ước tính rằng sẽ đánh bại MTGPMN cả về chính trị lẫn quân sự. Dù tôn trọng VNCH là một chính phủ độc lập về hình thức; Mỹ tìm cách để cho VNCH càng lệ thuộc nhiều hơn về mọi mặt.

Còn hai trận tuyến tại hậu phương Mỹ mà Johnson phải lo đối phó là Quốc Hội, truyền thông và công luận phản chiến.

Trước Quốc hội, Johnson phải tìm ngân sách bổ sung để tài trợ cho cuộc chiến được kéo dài. Trong năm 1967, kinh phí quốc phòng đã lên đến đỉnh là 20,3 tỷ đô la, tương đương với công chi cho chương trình Great Society.

Tình trạng khiếm hụt ngân sách khoảng 28 tỷ đô la bắt buộc Johnson phải lo tăng thuế và kiểm soát công chi nghiêm nhặt hơn. Johnson phải lo đương đầu là cán cân thanh toán bất quân bình, đồng đô la mất giá và lãi xuất tăng nhanh.

Cuối cùng, Johnson đạt được giải pháp thoả hiệp với Quốc hội, đồng ý tăng thuế và giảm chi cho chương trình Great Society khoảng 6 tỷ đô la.

Kết luận

Sau khi nhậm chức, Johnson tự hào là “bảo đảm vị trí của mình trong lịch sử Hoa Kỳ với tư cách là người thừa kế hàng đầu của Roosevelt“.

Trong chính sách đối nội, với Luật về Dân Quyền năm 1964 và Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, Johnson cải thiện được những sai lầm trong di sản của Roosevelt.

Ngược lại, các biện pháp để tạo ra một nhà nước lo phúc lợi cho dân chúng trong hoàn cảnh tham chiến tại Việt Nam là nghịch lý. Johnson cũng gặp thất bại qua biện pháp Medicare. Kết quả là cơ sở vững chắc của đảng Dân chủ tại miền Nam chạy theo đảng Cộng hòa.

Trong chính sách đối ngoại, Johnson quyết tâm tiếp nối truyền thống của Roosevelt khi cho cả hai tình hình thế giới trước đây và Việt Nam hiện nay là tương đồng. Khi Roosevelt lo đối đầu với Hitler thì phản ứng của Johnson trong việc CSBV xâm lăng miền Nam là khác hẳn. Thực ra, nhận định chung của Johnson là sai lầm: Việt Nam khác với Đức và đã kết thúc trong bi kịch khác.

Đến cuối năm 1967, chiến tranh Việt Nam còn kéo dài triền miên trong khi các giải pháp hoàn toàn lâm vào cảnh bế tắc. Chuyển biến quan trọng nhất là mặt trận truyền thông và công luận phản chiến đã không còn ủng hộ cho Mỹ tiếp tục tham chiến và việc kêu gọi rút quân trở nên khẩn thiết hơn.

Do hoạt động của các phong trào phản chiến lên cao điểm, năm 1968 trở thành một năm kinh hoàng cho Johnson khi mọi sinh hoạt công quyền bị tê liệt và khi CSBV đồng loạt tiến hành cuộc chiến Tết Mậu Thân toàn dân miền Nam phải sống trong đau thương.

Cả hai tác động chiến lược này đã đưa đến việc Mỹ ký kết Hiệp định Paris 1973 và sự sụp đổ của VNCH vào năm 1975.

Johnson ra đi vào ngày 22 tháng 1 năm 1973 nên không chứng kiến hồi kết cuộc của bi kịch Việt Nam.

______

Các diễn tiến từ năm 1968 xin xem tiếp các bài: Công luận và truyền thông phản chiến Mỹ làm miền Nam sụp đổ? Chiến cuộc Tết Mậu Thân,  Richard Nixon, Henry Kissinger và Sự Sụp Đổ Của Miền Nam

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tổng thống Lyndon B. Johnson công du Việt Nam bên cạnh Tướng William Westmoreland, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nguồn: Yoichi Okamoto

Bối cảnh

Lyndon Baines Johnson (1908-1973) xuất thân là một nhà giáo ở Texas, tham gia đảng Dân chủ và lần lượt đảm nhận chức vụ dân biểu quốc hội (1937- 1949), Thượng nghị sĩ (1949-1961) và Phó tổng thống từ năm (1961-1963).

Khác với Kennedy, Johnson không toả sáng được một phong cách trí thức hay quý tộc hay một tài năng nổi bật nào gây thu hút được chính giới tại Washington. Ngay trong tiểu bang Texas, Johnson cũng không đứng về thành phần bảo thủ nồng cốt của đảng Dân chủ. Vì tự nhận mang nhiều ảnh hưởng của Franklin Delano Roosevelt (1881- 1945) trong chính sách New Deal, nên trước công luận, ông luôn tự hào là một “New Dealer” trong thời đại mới.

Ngày 22 tháng 11 năm 1963 Tổng thống John F. Kennedy bị mưu sát tại Dallas là một cơ hội bất ngờ cho Johnson trong việc thăng tiến chính trị. Ngay trong ngày này, theo thủ tục khẩn cấp, Johnson tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ trên chuyến phi cơ Air Force One.

Sau khi nhậm chức tổng thống cho đến cuối năm 1964, ông quyết tâm tiếp tục thực hiện các chương trình cải cách xã hội của Kennedy.

Những thành công đáng kể nhất của Johnson là việc giảm thuế qua Johnson Tax Act và cải thiện được một phần nào tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, nhà hàng, khách sạn và điểm giao thông qua Civil Rights Act. Trong trận chiến chống nghèo đói (War on Poverty), Johnson được Quốc hội tài trợ 1 tỷ đô la để trợ cấp cho các nhà trẻ và trường học địa phương, đặc biệt giúp cho gia đình có lợi tức thấp; biện pháp này tạo thêm thanh danh cho ông.

Ngược lại, chính sách về vấn đề chiến tranh Việt Nam của hai bậc tiền nhiệm Kennedy và Eisenhower trở thành một di sản nặng nề cho Johnson.

Đến cuối năm 1963, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ làm việc bên cạnh Quân lực VNCH đã tăng lên đến 16.000 người.

Cũng trong thời gian này, đường mòn Hồ Chí Minh đã mở ra thành một trục lộ giao thông rộng lớn nên việc thâm nhập hàng ngàn binh sĩ và vận tải quân cụ cho miền Nam được an toàn và dễ dàng. Nhờ thế, Cộng sản Bắc Việt gia tăng hoạt động rõ rệt.

Các tướng lãnh tham gia đảo chánh năm 1963 xung đột nhau làm cho nội tình miền Nam bất đầu bất ổn. Tướng Dương văn Minh (1916-2001), người lãnh đạo quân đội, đã chủ trương ngấm ngầm đàm phán với Mặt trận GPMN. Khuynh hướng hiếu hoà này bị đa số tướng lãnh Việt và chính giới Mỹ phát hiện và phản đối.

Tháng Giêng năm 1964, trong một cuộc đảo chánh không đổ máu, mà báo giới miền Nam gọi là chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh (1927-2013) lên nắm quyền và được Washington hỗ trợ đắc lực về chính trị và quân sự.

Hai khuôn mặt Mỹ mới bắt đầu xuất hiện trên chính trường Việt là Tướng Maxwell D. Taylor (1901- 1987), Đại sứ Mỹ tại Việt Nam và Tướng William C. Westmorland (1914-2005), Chỉ huy trưởng Viện trợ Quân sự (Chef of Military Assistance Command). Lực lượng cố vấn Mỹ tăng lên 23.000 người lúc cuối năm 1964.

Nội tình của miền Nam không khả quan khi Tướng Khánh tự quyền soạn thảo Hiến pháp mang danh Hiến chương Vũng Tàu ngày 16 tháng 8 năm 1964 và tự phong cùng lúc hai chức vụ Quốc trưởng và Thủ tướng. Dù được Đại sứ Taylor hỗ trợ, nhưng các phong trào chống đối của sinh viên và Phật giáo gia tăng.

Tình thế càng hỗn loạn là cơ hội cho CSBV đưa binh sĩ thâm nhập miền Nam nhiều hơn. Mức độ gia tăng đáng ngại làm cho cơ quan CIA phải lên tiếng báo động cho Đại sứ Taylor và Tổng thống Johnson biết là nên cấp thời giải quyết. Nhưng Johnson chần chờ mà lý do là chính trường Mỹ đang bắt đầu mùa tranh cử.

Barry Goldwater (1909-1998), đối thủ thuộc đảng Cộng hoà, tiểu bang Arizona, là một thành phần chống cộng cực đoan, không phải vì muốn trực diện chống Liên Xô với tinh thần đối kháng ý thức hệ mà quyết tâm chiến thắng Cộng sản Việt Nam trên chiến trường và bất chấp mọi hậu quả, kể cả việc sử dụng vũ khí nguyên tử.

Nhận ra khuyết điểm này của Goldwater, trước cử tri Johnson tỏ ra mềm dẻo khi đề ra một chính sách có nhiều ý thức trách nhiệm hơn. Ông hứa hẹn kiên quyết chống cộng, nhưng không thể phản ứng thái quá và vụng về như trong vụ Vịnh Bắc bộ xảy ra ngày 10 tháng 8 năm 1964 và cũng không bằng lòng việc gởi con em đến Việt Nam để chiến đấu, nơi mà giới trẻ địa phương phải tự lo bảo vệ cho chính mình.

Kết quả là ngày 3 tháng 11, Johnson thắng cử với tỷ lệ 61% hay 43, 1 triệu phiếu cử tri, trong khi Goldwater chỉ đạt được 38,5 % hay 27, 2 triệu phiếu cử tri.

Diễn biến

Ngay sau khi nhậm chức tổng thống, Johnson nhận thức rằng sẽ còn gặp nhiều trở ngại vì cục diện chiến tranh đang leo thang và chương trình cải cách xã hội (Great Society) khó được tiếp tục.

Nhìn chung, quan điểm của Johnson cũng giống như các bậc tiền nhiệm, chính sách ngăn chặn của Harry S. Truman (1884-1972) và thuyết Domino của Dwight D. Eisenhower (1890-1969) có giá trị thuyết phục nên cần theo đuổi. Khi CSBV xâm lăng và làm miền Nam sụp đổ, thì các nước trong vùng Đông Nam Á và Mỹ sẽ lâm nguy. Ngoại trưởng Dean Rusk (1909- 1994) và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara (1918-2009) cũng chia sẻ quan điểm này và ủng hộ chính sách phòng chống của Johnson.

Nhưng Johnson phải làm gì? Các giới am tường tình thế có nhiều đề xuất khác nhau. Theo Tướng Không quân Curtis LeMay (1906-1990), một giải pháp cực đoan nhất để sớm tận diệt CSBV là không quân Mỹ ném bom toàn diện và tối đa để đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá.

Một trong những ý kiến phản chiến quan trọng khác là Georg Ball (1909-1994), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Chứng kiến thảm bại của Pháp trong chiến tranh Đông Dương khi là nhân viên Toà Đại sứ Mỹ tại Paris, Ball cảnh báo Mỹ cần tránh các hậu quả mà Pháp đã gặp phải.

Trong một giác thư gởi cho Ngoại trưởng Rusk, Bộ truởng Quốc phòng McNamara và Cố vấn An ninh McGeorg Bundy (1919-1996), Ball cho rằng việc không kích Bắc Việt sẽ không giúp cho Miền Nam mạnh hơn hay làm cho Mặt trận GPMN yếu hơn, nhưng chắc chắn một điều là tình hình sẽ nghiêm trọng vì lòng căm thù Mỹ càng lên cao độ.

Tác hại ngoại giao khó lường đoán là uy tín của Mỹ đối với Đồng minh cũng vì thế sẽ suy giảm.

Hy vọng xây dựng cho VNCH thành một nước dân chủ, tự do và thịnh vượng, mà Eisenhower và Kennedy dày công theo đuổi, cũng chỉ thành vô vọng. Cho đến na,y tất cả sự sống còn của miền Nam lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ Mỹ.

Do đó, nếu để cho binh sĩ Mỹ càng tiến sâu vào rừng của Việt Nam để chiến đấu, thì chính giới Mỹ càng mất lối thoát trên chính trường. Diễn đạt theo lối người Việt, nghĩa là Mỹ đã leo lưng cọp và không còn biết tìm nơi nào an toàn để xuống lưng cọp. Để giữ thể diện, theo Ball, Mỹ phải triệt thoái là phương sách thích hợp.

Johnson phủ nhận cả hai giải pháp không kích toàn diện của LeMay và triệt thoái toàn bộ của Ball, vì không tin sẽ chấm dứt chiến cuộc, mà dung hoà bằng cách chia chiến lược tấn công CSBV qua hai giai đoạn.

Giai đoạn đầu là không kích trên các đoạn đường tiếp vận trong lãnh thổ Lào khoảng một tháng. Tùy theo mức độ phản ứng của CSBV, giai đoạn hai sẽ ném bom trên lãnh thổ Bắc Việt, khoảng sáu tháng và khi cần thiết sẽ bổ sung bằng cách gài mìn phong toả các hải cảng và đường vận chuyển biển. Các sự kết hợp này sẽ kết thúc chỉ khi nào tình hình miền Nam thực sự ổn định.

Tuy nhiên, cho đến tháng 12 năm 1964, Johnson vẫn chưa chính thức ra lệnh cho việc không kích trong giai đoạn hai. Thái độ chần chờ này gây cho Bộ Tư lệnh Liên quân nhiều bất bình.

Khác với ý kiến của các cố vấn và tướng lãnh, Johnson tỏ ra không kiên quyết đối đầu quân sự với Hà Nội. Lý do chủ yếu là nếu leo thang chiến tranh, phải gia tăng kinh phí quốc phòng và cắt giảm các tài trợ cho chương trình Great Sociey, một tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà Johnson cố tránh.

Johnson phải làm gì? Chờ đợi trong vô vọng hoặc theo chủ trương của Ball? Cho dù theo quyết định nào đi nữa, thì Johnson cũng sẽ phải chấp nhận các chỉ trích của các cố vấn và công luận việc VNCH và Đông Nam Á sẽ lâm nguy, trong khi đang mơ ước ưu tiên thực hiện dự án Great Society. Thay vào đó, cũng trong tiến trình này, Johnson cố tìm cách gây ảnh hưởng đến phía VNCH, một khó khăn mà các vị tổng thống tiền nhiệm đã không thực hiện được.

Cụ thể, Johnson đòi hỏi chính phủ VNCH phải cải cách thể chế chính trị, tạo nhiều điều kiện dân chủ hơn. Nhờ thế, may ra, miền Nam tạo được một chính quyền ổn định và đoàn kết hơn, làm cho công cuộc chiến đấu chống cộng có hiệu năng hơn. Để khuyến khích, Johnson chấp thuận cho Tướng Khánh tăng thêm 100.000 quân, đưa quân số Quân lực VNCH lên đến 660.000 quân nhằm tăng cường hoả lực chiến đấu.

Dù thoả thuận tăng quân, nhưng giới lãnh đạo VNCH không quan tâm nhiều đến các cải cách chính trị như Mỹ đòi hỏi. Khi mối quan hệ Mỹ-Việt lệ thuộc nhau càng sâu đậm thì chuyển biến càng phức tạp, cho dù nhìn chung, phía Mỹ luôn muốn gia tăng các hỗ trợ cho Việt Nam.

Tình hình an ninh của miền Nam biến chuyển tệ hại càng làm cho chính giới Mỹ lo âu nhiều hơn. Điển hình là trong đêm Giáng sinh năm 1964, Đội Biệt động thành đã tấn công khách sạn Brink ngay trung tâm thành phố, gây tử thương cho nhiều cố vấn Mỹ. Mấy ngày sau, tại Bình Giã, một địa điểm cách Sài Gòn 70 cây số về hướng Tây Nam, một trận đánh cấp tiểu đoàn diễn ra khốc liệt với kết quả 445 binh sĩ VNCH và 16 cố vấn Mỹ thương vong và phía Việt Cộng mất 132 sinh mạng.

Trước các thảm bại liên tiếp, chính giới Mỹ cho rằng không thể chờ đợi cho đến khi nào mà chính phủ VNCH được ổn định, trước mắt phải tiến hành việc không kích Bắc Việt, vì sẽ mang kết quả thiết thực: Khi CSBV không thể tiếp tục thâm nhập miền Nam, thì MTGPMN không nhận được yểm trợ, đương nhiên phải suy yếu.

Điểm quan trọng nhất trong chiến lược này là Mỹ không muốn có một chiến thắng cấp thời và toàn diện mà ưu tiên nhằm ngăn trở không để cho VNCH sụp đổ. McGeorg Bundy, Cố vấn An ninh, bi quan khi tiên đoán là miền Nam không sống quá một năm trong khi biện pháp ném bom bắt đầu đưa Johnson đi vào một cuộc phiêu lưu mới: Mỹ hoá cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng khi Johnson chưa kịp ra tay, thì MTGPMN lại phản ứng đầu tiên. Ngày 7 tháng 2 năm 1965 Việt Cộng đột kích một căn cứ không quân Mỹ tại Pleiku làm cho 8 cố vấn quân sự tử thương và 125 bị thương. Johnson ra lệnh phục thù mang tên chiến dịch Flamming Dart, 132 phi cơ của Thuỷ quân Lục chiến ném bom các căn cứ quân sự tại miền Bắc.

Ngày 10 tháng 2 năm 1965, MTGPMN tiếp tục tấn công một căn cứ quân sự Mỹ làm cho 20 binh sĩ Mỹ tử thương. Để phản ứng, Johnson ra tiếp một chiến dịch mới mang tên Rolling Thunder nhằm không kích miền Bắc vô thời hạn.

Điểm tác hại cho Johnson trong lúc này là không thông báo cho dân chúng biết đầy đủ về các diễn biến của tình hình, mà chỉ công bố là để trả thù trước các cuộc tấn công của Hà Nội, đặc biệt nhất là không đề cập đến yếu tố ném bom vô thời hạn.

Đến cuối tháng 2 năm 1965, cùng lúc với các viện trợ quân sự gia tăng, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ đã lên đến 23300. Dù tình hình an ninh xấu đi, buộc QLVNCH lâm vào thế thủ để bảo vệ các cơ sở hạ tầng, nhưng chiến dịch Rolling Thunder hứa hẹn mang lại nhiều sinh khí mới cho dân chúng miền Nam.

Từ tháng 12 năm 1964, Tướng Khánh liên lạc với MTGPMN và tìm một giải pháp đàm phán. Các tướng lãnh khác phản ứng mạnh và kết thúc bằng một cuộc đảo chính không đổ máu. Do sự thu xếp của Đại sứ Taylor, miền Nam thực sự có chuyển biến mới khi một chánh quyền dân sự thành hình vào ngày 18 tháng 2 năm 1965 và Tướng Khánh chấp thuận rời khỏi Việt Nam ngày 24 tháng 2 năm 1965 với chức danh Đại sứ lưu động.

Dù mang danh là Uỷ ban Hành pháp Trung ương và Uỷ Ban Lãnh đạo Quốc gia, nhưng tất cả thành phần lãnh đạo đều là các tướng lãnh: Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) và Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001). Chủ trương của chính quyền mới là kiên quyết không thoả hiệp với MTGPMN và hợp tác chặt chẽ với Mỹ để đưa cuộc chiến đến thành công.

Lại một lần nữa, các cuộc tấn công dồn dập của MTGPMN tại các căn cứ không quân Biên Hoà và Pleiku chứng tỏ khả năng phòng ngự của hai lực lượng Mỹ-Việt không tương xứng.

Tình thế đổi thay khiến cho Tướng Westmoreland phải khẩn cấp lên tiếng đòi gia tăng binh lực để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Yêu cầu này bị Đại sứ Taylor phản ứng kịch liệt với lý do là am tường tình thế Việt Nam toàn diện hơn Westmoreland, người chỉ chuyên về binh pháp.

Đại sứ Taylor lập luận rằng binh sĩ bộ binh Mỹ, cho dù trang bị vũ khí hiện đại và tinh thần chiến đấu cao độ, vẫn không phải là đối thủ tương xứng với các du kích quân tại khu vực rừng nhiệt đới. Kinh nghiệm Điện Biên Phủ cho thấy Pháp khi xưa đã thất bại, thì nay Mỹ không thể khá hơn. Điểm chủ yếu là binh sĩ Mỹ trong khi cận chiến không thể phân biệt được nông dân và Việt cộng.

Các ý kiến của Taylor không thuyết phục được Johnson. Do đó, ngày 8 tháng 3 năm 1965, Mỹ quyết định đưa hai tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến được trang bị với thiết giáp và pháo binh đến Đà Nẳng.

Được ưu thế tại Washington, Tướng Westmoreland càng đòi gởi quân nhiều và nhanh hơn. Đến cuối tháng 4, số lượng bộ binh Mỹ đổ bộ là 40.000. Theo nguyên tắc, các đơn vị này sẽ lập ra căn cứ quân sự và tổ chức các cuộc hành quân trong phạm vi 50 dặm chung quanh doanh trại.

Theo một tự sự sau này của Bùi Diễm (1923-2021), cựu Đại sứ VNCH tại Mỹ, cho biết, trong tiến trình quyết định gởi quân đến Đà Nẵng, Mỹ không tham khảo ý kiến của chính phủ VNCH; sau đó, để hợp pháp hoá việc hợp tác quân sự Mỹ-Việt, VNCH mới ra một tuyên bố công nhận việc đóng quân. Cho đến nay, không có một tài liệu chính thức nào xác nhận tham vọng xâm chiếm lãnh thổ hay thu tóm quyền lợi kinh tế của Mỹ như thực dân Pháp.

(Còn tiếp)

Nhà nước và người dân-Thái Hạo

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

24-4-2023

[Có rất nhiều người vẫn chưa hiểu nhà nước là gì, và có quan hệ thế nào với người dân. Bài viết này chỉ dành cho đối tượng bạn đọc ấy, nên viết một cách đơn giản và nôm na. Những vị đã biết thì xin bỏ qua để khỏi mất thời gian].

Hãy hình dung: có một nhóm người sinh sống trên một mảnh đất, ngoài cuộc sống riêng thì họ có những việc chung phát sinh, như vệ sinh môi trường, đường sá đi lại, trộm cắp trong làng, kẻ thù bên ngoài, v.v.. Đây là những việc “cha chung” nhưng phải có người “khóc”, không thể bỏ mặc được, vì nó ảnh hưởng tới sự tồn vong của cả cộng đồng.

Thế là tất cả dân làng họp nhau lại, bầu ra một cái ban chuyên lo những việc chung ấy. Ban này được dân làng giao nhiệm vụ soạn thảo ra các quy định tốt nhất và hợp lý nhất buộc tất cả phải tuân thủ, ai vi phạm thì sẽ bị xử phạt, ngay cả các thành viên trong cái Ban ấy cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, trước khi đưa ra áp dụng, thì các quy định này phải được dân làng đồng ý thông qua, nếu chưa thì tiếp tục bàn thảo, cho đến khi nào đa số người dân thấy “ngon lành” rồi thì mới quyết định sử dụng.

Đây chính là một hình dung về nhà nước và sự ra đời của nhà nước (dân chủ).

Như thế, nhà nước thực chất là một bộ máy do dân thiết kế ra. Ở đó, những người điều hành công việc chung là người làm thuê cho dân, được dân trao cho một số quyền nhất định để điều hành công việc và được dân trả công. Ai làm không tốt công việc được thuê khoán ấy thì dân sẽ không thuê nữa và tìm người khác thay vào. Nói bằng ngôn ngữ chữ nghĩa thì mối quan hệ giữa nhà nước và dân là một bản hợp đồng có điều kiện, mà ở đó dân là ông chủ còn thành viên nhà nước là người được dân ký kết hợp đồng lao động.

Rõ ràng, từ bản chất của mối quan hệ này, “cán bộ” không phải là cha mẹ dân, càng không phải là ông chủ của dân, mà phải hiểu ngược lại. Quyền lực là của dân, tiền bạc cũng của dân, bộ máy nhà nước ấy cũng là của dân. Nếu đến một lúc dân thấy cách thiết kế bộ máy điều hành như vậy không còn phù hợp nữa, thì họ sẽ thay đổi, thậm chí bỏ đi và dùng một mô hình khác tốt hơn.

Trên đây là nôm na về nhà nước dân chủ. Quay ngược về quá khứ, đã từng có những mô hình nhà nước không có bản chất mối quan hệ giữa 2 bên như vừa trình bày. Ví dụ, có một cá nhân nào đó tự tập hợp một nhóm người, dùng bạo lực áp đảo cả làng rồi tự lập ra các ban bệ, thiết lập các quy định (pháp luật) và bắt tất cả người dân phải tuân theo mà không ai có quyền đòi hỏi hay thay đổi.

Nhà nước loại này là mô hình quân chủ. Cái ông đứng đầu nhà nước ấy gọi là vua, tức là hiện thân của nhà nước; tất cả quan lại là người giúp việc cho ông ta, chứ không phải giúp việc cho dân. Nó không phải do dân lập ra và dân không có quyền hành gì cả. Nó cai trị dân bằng ý chí cá nhân, “luật là tao, tao là luật”; nếu người dân nào không tuân theo thì nó sẽ dùng lực lượng bạo lực của mình để trấn áp, bỏ tù hoặc giết chết. Lúc này, ngược lại với nhà nước dân chủ, người dân chỉ là người làm thuê, là bề tôi, là nô lệ – gọi chung là thần dân, cho đứng thì được đứng, bắt ngồi thì phải ngồi.

Trong mô hình nhà nước này, nếu gặp được một ông vua tốt bụng và có trí tuệ thì dân được nhờ chút đỉnh, bằng không thì lãnh đủ, cuộc sống tối tăm lầm than không bút mực nào tả xiết.

So sánh để thấy, nhà nước dân chủ tốt hơn, đảm bảo hơn, ổn định hơn và nhân văn hơn hẳn.

Nay, thời kỳ quân chủ đã đi qua, mỗi người dân cần ý thức một cách sâu sắc rằng, mình mới là ông chủ, còn “cán bộ” và “lãnh đạo” chỉ là người làm thuê, được mình trả công và phải thực hiện công việc được giao một cách nghiêm túc. Chớ hiểu rằng, cán bộ là vua quan còn mình chỉ là hạng tôi tớ. Ký hợp đồng, giao việc, và giám sát làm việc; nếu thấy ai trong bộ máy làm không đúng, không tốt thì nhắc nhở, vi phạm nặng thì đuổi đi. Người dân nào luôn luôn sống trong tâm thế và tư thế ấy thì gọi là công dân, còn ngược lại thì là thần dân, là nô lệ.

Nhiều người sẽ phản đối rằng, đây chỉ là lý thuyết, đừng có nằm mơ! Đúng, nhưng nếu không có suy nghĩ, tinh thần và ý thức của cái lý thuyết này trong đời sống cá nhân của mỗi người dân thì cũng sẽ không bao giờ có được thực tế như mong muốn.

Có câu, dân nào thì chính quyền ấy. Muốn có một chính quyền tiến bộ, thì người dân phải tiến bộ trong suy nghĩ trước đã. Có thể quên đi tất cả, nhưng dứt khoát không bao giờ được quên rằng mình là một người công dân.

Nguyễn Đình Cống

Sự hiểu biết quan hệ giữa Nhà nước và người Dân là vấn đề cơ bản của Dân trí . Dân trí của người Việt trong nước hiện nay rất thấp là vì sự hiểu biết rất kém vấn đề này. Ngay cả những người có học vị cao, có kiến thức khoa học sâu rộng (là Tiến sĩ này, Giáo sư nọ, cán bộ cấp cao kia của Nhà nước, của đảng) mà hiểu sai nội dung của Quan hệ giữa Nhà nước và Dân thì vẫn là loại người có Dân trí thấp. Một người dù có trình độ khoa học thấp nhưng vẫn là người có Dân trí cao khi hiểu đúng quan hệ giữa Nhà nước và Người Dân. Quan hệ này là đa dạng, có thể quy về hai kiểu : Độc tài và Dân chủ. Nhà nước độc tài gồm Quân chủ, Phát xít, Cộng sản. Nhà nước Dân chủ là Nhà nước mà Người Dân có quyên như Thái Hạo đã mô tả, còn Nhà nước theo chế độ Tam quyên phân lâp.. Nhà nước nào (Dân chủ, Độc tài) cũng có điểm mạnh và yếu, nhưng điểm yếu của Nhà nước Dân chủ dễ được khắc phục hơn. Như Thái Hạo đã viết, nhà nước quân chủ nhưng ông vua giỏi, có đạo đức thì vẫn tốt. Nói chung Nhà nước độc tài là xấu, nhưng xấu nhất là loại Nhà nước thực chất là độc tài (độc quyền toàn trị của một đảng), nhưng lại ra sức tuyên truyền rằng đó là Nhà nước Dân chủ nhất thế giới. ( Nói dối đến thế là cùng). Dân trí còn thể hiện sự hiểu biết về đảng chính trị. Đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền thực ra chỉ là công cụ của một vài nhà chính trị chứ không phải là một vật thể thiêng liêng như sự tuyên truyền cúa ĐCSVN.

Singapore và Việt Nam

Phan Tran

Singapore và Việt Nam

Theo những điều tra gần đây nhất thì tổng số diện tích của Singapore vào khoảng 700 km2, trong đó phần đất liền là 682,7 km2. Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích Singapore chỉ hơn thành phố Cần Giờ của Việt Nam có một chút ít mà thôi.

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, dân số Singapore ước tính là 5.967.114 người nghĩa là ít hơn 1 nửa thành phố Sài gòn

Quy mô nền kinh tế tính theo GDP danh nghĩa của Singapore lớn thứ 39 trên thế giới.

Năm 1979 tôi vượt biên được tàu Na Uy vớt rồi đóng tiền cho chúng tôi tạm trú ở Singapore.

Tôi quen mấy người bạn ở đây. Họ cực kỳ dễ thương…

Thế rồi sau gần 40 năm tôi trở lại du lịch Singapore những người bạn ấy dắt tôi thăm viếng đất nước họ.

Họ bảo hầu hết các công trình xây dựng đều do Trung Quốc đảm trách.

Tôi ngạc nhiên đưa nhận định về các nhà thầu Trung Quốc làm tại Việt Nam : tắc trách, nâng giá, không bao giờ làm đúng thời hạn.

Anh cười lớn : tất cả đều do lỗi của lãnh đạo các anh.

Anh coi đây : Anh chỉ khách sạn có hình một chiếc tàu trên nóc…đó là một hồ bơi thật lớn…nhà thầu Trung Quốc làm đấy…

Đã gần 40 năm rồi đất nước anh càng ngày càng thua chúng tôi !

Lãnh đạo đất nước các anh đã sai lầm trầm trọng về phát triển kinh tế.

Chúng tôi chế tạo một thiết bị điện toán chẳng hạn…chúng tôi đã lời hơn thu nhập một mùa của cả 4,5 gia đình làm ruộng của đẩt nước anh…

Kết luận chúng ta thua kém các quốc gia khác vì chúng ta điều hành đất nước…chỉ khá hơn những bộ lạc Phi châu 1 tí…

Ở YÊN TẠI CHỖ HOẶC ĐI VỀ PHÍA ĐÓ!-Lm Minh Anh

Tác giả: Lm Minh Anh

“Lòng chúng ta chẳng nóng lên sao?”.

Emmaus ở phía Tây so với Giêrusalem, phía Đông. Như thế, hai môn đệ đang đi về phía mặt trời lặn, phía của đêm tối, tuyệt vọng và chết chóc. May thay, trên đường đi, Chúa Phục Sinh kịp có mặt, dù ‘lúc ẩn, lúc hiện’ để làm cho lòng họ nóng lên. Ngài đưa hai người về lại Giêrusalem, phía mặt trời mọc, phía ‘Vầng Hồng Giêsu’ không còn ẩn giấu, nhưng ngời sáng, sẽ thắp lên trong họ niềm hy vọng đích thực. Và này, chính Giêrusalem, nơi họ phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó’, Ngài sẽ hiện ra một lần nữa, ban Thánh Thần và sai họ đi khắp cùng thế giới!

Kính thưa Anh Chị em,

Nhiều lúc trong cuộc sống, bạn và tôi thấy mình đi sai hướng! Chúng ta đi vào một khuôn mẫu nhất định, bất kể nó là gì, và cảm thấy nó không thực sự phù hợp. Ở một mức độ sâu xa nào đó, bạn không hài lòng với hướng đi đời mình. Thậm chí, có thể thấy mình đang xa rời một điều gì đó, một nơi nào đó; trong khi trên thực tế, chúng ta nên ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó!’.

Đây cũng là hoàn cảnh của hai môn đệ trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Họ rời Giêrusalem, nơi lẽ ra họ phải ở lại, vì chính tại Giêrusalem, Chúa Phục Sinh đã định ban Thánh Thần cho họ; cũng chính từ đó, Ngài sẽ sai họ đi đến tận cùng trái đất. Với Luca, Giêrusalem, nơi “khởi đầu của mọi khởi đầu!”. Vì thế, đi về Emmaus, họ đã đi sai hướng! Đau buồn, thất vọng và vỡ mộng khiến họ sai hướng. Họ muốn ra khỏi Giêrusalem, nơi Thầy họ bị đóng đinh càng sớm càng tốt. Họ quên điều Ngài đã nói, “Ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy!”. Đôi khi sự đau buồn, tức giận, hoặc thất vọng sâu sắc của bản thân có thể khiến chúng ta đi sai hướng. Cảm xúc có thể làm lu mờ ký ức và che khuất lý trí, chúng ta thấy mình đang rời xa một nơi nào đó, một “Ai đó” có khả năng mang lại sức sống cho đời mình, nơi mà chúng ta lẽ ra phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó!’.

Chúa Phục Sinh đồng hành với hai môn đệ, mặc dù họ đang sai hướng. Ngài cùng rảo bước với mục đích khiến họ đổi hướng, nhưng trước khi làm được điều đó, Ngài giả vờ đi sai hướng với họ một lúc. Ngài bước vào hoàn cảnh của họ; mời họ kể câu chuyện của mình. Câu chuyện của họ là lý do họ rời Giêrusalem. Đó là một câu chuyện buồn, nhưng nó không phải là toàn bộ. Họ đã bỏ lỡ phần kết! Họ kết thúc bằng cái chết, nhưng nó phải là sự sống! Đó là kết luận mà Ngài tiếp tục nói với họ, “Nào Đấng Kitô lại chẳng chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”. Sau khi nghe Ngài, họ đổi hướng; quay trở lại Giêrusalem, nơi họ phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó’. Tại đây, họ gặp lại mười một anh em và tuyệt vời, gặp lại chính Ngài!

Anh Chị em,

“Lòng chúng ta chẳng nóng lên sao?”. Cách Chúa Phục Sinh tiếp cận hai môn đệ cũng là cách Ngài đến với bạn và tôi! Ngài đồng hành với chúng ta, khiến lòng chúng ta nóng lên, cả khi bạn và tôi đi sai hướng. Ngài mời bạn và tôi kể cho Ngài câu chuyện đời mình; Ngài chăm chú lắng nghe, mặc dù thường không phải là toàn bộ. Theo cách riêng, Ngài cố cung cấp một bức tranh đầy đủ hơn, giúp chúng ta thấy phần cốt lõi có thể bỏ sót; và theo cách đó, Ngài thúc giục chúng ta đi theo một hướng khác, một con đường khác, điều sẽ mang lại sự sống hơn cho mình và cho người khác. Chúa Phục Sinh luôn gặp chúng ta nơi chúng ta đang ở, rất thường xuyên trong sự ‘tan vỡ’ của mỗi người, nhưng Ngài cũng hành động để dẫn chúng ta ra khỏi đó. Ngài luôn mở lòng để chúng ta nghe một câu chuyện lớn hơn. Câu chuyện Ngài hiến mình, đặc biệt trong Thánh Thể. Hãy đến với Ngài mỗi ngày trong Thánh Lễ, kể cho Ngài nghe, và lắng nghe Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ở lại với con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn. Chiều của con, chỉ một mình Chúa biết, hơn cả con biết. Hãy đưa con về nơi mà lẽ ra con phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TOMMY TRẦN một trong 6 học sinh giỏi nhất thế giới

Nguyễn MaiThiên Hạ Chuyện

Con cháu VNCH qua Mỹ diện HỌ . Ba của cháu này theo ông nội qua Mỹ theo diện HO.

TOMMY TRẦN một trong 6 học sinh giỏi nhất trên 4 triệu 700 ngàn học sinh dự thi trên toàn Thế Giới

VẺ VANG DÂN VIỆT

Thi: đánh bại mấy trăm ngàn thí sinh trên toàn thế giới,

Em trở thành một trong 6 học sinh giỏi nhất thế giới đạt điểm tuyệt đối trong kỳ thi Toán Giải tích.

*****

Tommy học sinh Evergreen (San Jose California) năm nay mới có 17 tuổi. với số điểm hoàn hão là em TOMMY TRẦN, đã cạnh tranh trong cuộc thi cuối cùng vào tháng 5 vừa qua cùng với 317,663 thí sinh khắp nơi trên thế giới. Trong cuộc thi này có 45 câu hỏi trắc nghiệm cùng 6 câu hỏi tự giải phương trình toán – Nếu học sinh giỏi thì có thể làm được 45 câu hỏi toàn hảo, tuy nhiên trong 6 câu tự giải phương trình sẽ làm cho học sinh rớt dễ dàng vì cần phải viết rõ ràng khi giải trình công thức. Ban chấm thi với hơn 1,000 thầy cô giáo sẽ phải trao đổi ý kiến để bầu chọn người ĐẦU BẢNG.

1,000 thầy cô giáo quyết định số điểm – Tommy Trần trở thành một trong 6 học sinh giỏi nhất thế giới đạt điểm tuyệt đối trong kỳ thi Toán Giải tích (Calculus AP) trong kỳ thi năm nay

Tommy Mới sinh ra mẹ đã qua đời. Bố cháu qua được Mỹ là nhờ ông nội dẫn một nửa gia đình đi theo diện HO. Cha của Tommy là anh Viên Trần cho biết cháu sinh ra tại Hoa Kỳ nhưng mẹ mất sớm nên đã trải qua một thời gian gà trống nuôi con.

FB Hoài Thạch Sơn

FB Nguyễn Viết Quý