Lan man chuyện “MỒ CÔI TÂM LINH”
Chủ nghĩa cộng sản của Marx với nền tảng cốt lõi là cn duy vật biện chứng và coi lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp (CN duy vật lịch sử ). Chính vì thế Marx muốn “vô thần hóa”cuộc sống của loài người , quy kết mọi ” tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân ” (Karl Marx), để hướng ( bắt buộc ) mọi người theo niềm tin duy nhất ( mà marx vẽ ra) là lý tưởng cộng sản.
Ôi, đã có câu nói của lãnh đạo vn: ” nếu là người tôi sẽ là người cộng sản “.
Theo CN duy vật lịch sử : lịch sử phát triển xã hội loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp, và giai cấp vô sản có vai trò đào mồ chôn CNTB, nên người cộng sản luôn có một niềm vui tranh đấu giành chính quyền ( quyền lực ), tước đoạt, trấn áp kẻ thù giai cấp ( là giai cấp tư bản và bọn tay sai ) biến sở hữu tư nhân thành sở hữu toàn dân ( để rồi sau đó lại dễ bề chiếm đoạt thành tài sản của mình).
Khi Liên xô và các nước xhcn Đông âu sụp đổ, thì lý tưởng cộng sản này cũng sụp đổ trên toàn thế giới. “Ánh hào quang chói lọi” bỗng nhiên tắt ngủm, hàng triệu triệu con người quờ quạng đi tìm kiếm niềm tin. Cái tình thế giống như con người bị rơi xuống nước, bằng bản năng, người ta quờ quạng vịn đại mọi thứ có thể để sống – bản năng “sinh tồn tâm linh” thức dậy.
Người dân được lãnh đạo dạy rằng : ” hãy tự cứu mình trước khi được Trời cứu “, người dân đã lăn lộn mưu sinh với tất cả sức lực, trí não cùng bàn tay chăm chỉ để mong có được cuộc sống đầy đủ, ấm no, song vẫn không thoát khỏi cuộc đời nghèo khổ. Giờ đây, dân nghèo, không còn niềm tin vào khả năng thay đổi vận mệnh bằng chính đôi tay của mình nữa và cũng chẳng còn niềm tin vào thiên đường xhcn ở phía trước – họ phải tìm kiếm niềm tin, chỗ dựa tinh thần mới là cầu khấn thần linh, Trời Phật, Thánh thần để mong thoát khỏi thực tại và mơ đến thiên đường cho kiếp sau ( đó cũng là một niềm vui cuộc sống dân nghèo )
Kẻ giàu có, quyền chức thì sao? Họ hoang mang, bất an với tài sản tích luỹ được, cùng vị thế quyền lực của mình khi soi mình nhìn vào xh Trung Quốc, nơi có cùng thể chế như Việt Nam.
Xã hội Trung Quốc trong hơn chục năm qua với ” chiến dịch đả hổ diệt ruồi ” đã đưa hàng chục ngàn quan chức vào tù, còn có cả án tử hình, nhưng những quan chức đó so với những quan chức tại vị có khác nhau bao nhiêu? Tỷ phú Jack Ma chưa phải vào tù như một số tỷ phú khác thì phải bỏ tất cả của cải mà thoát thân.
Việt Nam có hình thái chế độ tương đồng với Trung Quốc ( các chính sách VN học theo TQ thường đi chậm hơn 5 -10 năm ), thì chiến dịch chống tham nhũng cũng đang bước vào đỉnh cao. Những
Đ.L.Thăng, T.X.Thanh, N.B.Son, T.M.Tuấn, N.Đ. Chung, C.N.Anh… lần lượt vào tù.
Các đại gia, tỷ phú rồi cũng nối gót : Bầu kiên, Trầm Bê,
Hà Văn Thắm, Hứa Thị Phấn, Trần Bắc Hà…vào tù, rồi tiếp tục: Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát, Tân Hiệp Phát, Trịnh Văn Quyết… nối bước.
Với một xã hội mù mờ về chủ thuyết ( Nhà nước xhcn xây dựng trên mô hình chuyên chính vô sản mà lại áp dụng kinh tế thị trường ) thì luật pháp cũng trở nên mù mờ.
Chính vì vậy mà một quan chức phát ngôn trước diễn đàn Quốc Hội là ” Bây giờ làm gì cũng sợ sai, thậm chí không làm gì cũng có thể sai phạm”. Còn một bị can thì nói trước toà : Tôi phạm tội là do số đen thôi.
Ở một đất nước treo đầu dê bán thịt chó, cái gốc của cn Marx là 2 điều
( Xoá bỏ tư hữu tư nhân, Tước bỏ quyền thừa kế.) vẫn luôn treo lơ lửng trên đầu đại gia và quan chức, nên sự hoang mang sợ hãi của họ trở nên tột độ và thường trực, của cải tích luỹ và vị thế họ đang có cũng luôn mong manh, có thể biến mất bất cứ lúc nào ngay cả khi không có luồng gió đổi chiều.
Nhưng ở vn, đại gia, quan chức làm giàu dễ dàng và nhanh hơn cả ( như Trịnh Văn Quyết từ buôn bán vặt kiếm sống mà trở thành đại gia có năm được xếp hạng tỷ phú giàu nhất trên sàn chứng khoán, hay thư ký thứ trưởng 2 năm nhận lót tay 42 tỷ đồng ) nên họ bất chấp, tranh thủ vơ vét làm giàu, kiếm tiền cho con đi học nước ngoài, mua nhà, đất đai, mở tài khoản ngân hàng, mua thẻ xanh để phòng thân.
Nhiều đại gia quan chức đã tẩu thoát ra nước ngoài cùng khối tài sản vơ vét như : Hồ thị Kim Thoa, Đặng Hoàng yến, Vũ Đình Duy (PvTex), Nguyễn Thị Thanh Nhàn,…
Trở lại nói về cuộc sống tâm linh của người giàu có và quan chức, Họ luôn hoang mang, lo lắng và bất an với tài sản, vị thế của mình,. Họ “làm ra” tài sản, nhưng tự biết khối tài sản ấy đầy mù mờ, chỉ cần là ” số đen”, hay một cơn gió nghịch chiều thổi qua là tan tành mây khói! Vì vậy, kẻ giàu cũng đầy bất an, nơm nớp khấn khứa mong “thần linh, Trời Phật phù hộ, che chở ”. Họ còn mê tín, tin thần linh, Trời phật hơn cả dân nghèo lao động.
Như quy luật tất yếu khi chủ nghĩa vô thần sụp đổ thì chủ nghĩa hữu thần phát triển nhanh mạnh để thay thế.
Nhưng với nhà nước xhcn (ngày đầu ra đời thì đập phá, bài xích tín ngưỡng, tôn giáo, sau đó lại sử dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm công cụ phục vụ cho mục đích chính trị của mình) vẫn to mồm cổ vũ cho cn Marx thì sao có được đường lối, chính sách để cho đời sống tâm linh của dân chúng đi đúng đường được. Và đời sống tâm linh trở lại xã hội vn như một đứa trẻ ” mồ côi” bơ vơ, không nơi nương tựa, không người dạy dỗ thì cũng dễ lạc lối và trở thành hư hỏng.
Và hệ quả là hàng loạt hình dạng biến thái tâm linh nảy ra như nấm.
Bói toán, cầu cúng, xây cất nghĩa trang, đốt vàng mã… thi nhau đua nở.
Tôn giáo ( đặc biệt là Phật giáo) được nhà nước cổ xúy, tạo điều kiện bành trướng. Phật giáo trở thành Phật giáo quốc doanh với tôn chỉ ” Đạo pháp – dân tộc – cnxh ‘. Các nhà sư được thời bắt tay với quan chức để kinh doanh tâm linh. Các khóa lễ ” dâng sao giải hạn ” thu phí 150k/ người mà kín đặc người dự hàng năm. Rồi sư rao giảng về ” oan gia trái chủ ” về ” bố thí, cúng dường ” tạo nghiệp, tổ chức ở chùa và đưa lên không gian mạng nhằm ru ngủ dân chúng và kiếm tiền.
Nhưng đỉnh điểm của tàn bạo là nhà sư bắt tay với quan chức chính quyền để xây dựng chùa
( chùa trở thành địa điểm du lịch tâm linh, chứ không còn là nơi hành đạo gần gũi với đời sống thôn quê vn )
Những ngôi chùa đồ sộ được dựng nên theo kiểu kiến trúc cung đình, trên diện tích trải rộng cả hàng trăm héc ta, núi rừng bị phá tràn lan, đại gia cùng quan chức góp tiền cùng để đầu tư, xây những “ thực thể thờ phụng ”- rồi làm tiền trên sự mò mẫm tâm linh của dân chúng.
Gương sáng đại gia Trần Bắc Hà cùng gia đình bỏ tiền xây dựng chùa Linh Phong với pho tượng Phật ngồi cao nhất đông nam á cũng không giúp ông giữ toàn mạng sống và của cải vơ vét được.?
Nhìn hình ảnh biển người hỗn loạn ngay giữa mùa đại dịch tại chùa Tam chúc đầu năm 2021, mà ta cảm thấy… xót xa, thương,… thương tâm.
Có tờ báo ca ngợi “thực thể thờ phụng” này “mang đậm phong cách chùa cổ của Việt Nam” với những kỷ lục, kỳ tích… nhưng tôi thì tôi thấy nó y hệt một bối cảnh trong phim Tàu gần đây !
Hai năm dịch đã đi qua, nhưng nó đã kịp thời phơi bày bộ mặt thật của xã hội Việt Nam vẫn đang được chế độ che đậy bằng các ngôn từ :
” đất nước ta chưa bao giờ được như thế này.”
Nhìn sự u mê, mê muội của nhân dân làm ta bùi ngùi nhớ về câu nói của nhà đạo diễn Trần Văn Thủy, đúng thật là “vô vọng cho dân tộc Việt “.
DP 22/7 /2023.
Bài của Du Phan
Từ vụ chuyến bay giải cứu: Đảng không phải là giải pháp, mà chính là vấn đề
Báo Tiếng Dân
Trân Văn
22-7-2023
Là Công Dân: “Vụ xét xử “giải cứu” đang gây rúng động xã hội và nhân tâm nhưng lý do chỉ bởi quy mô chứ về bản chất thì không hề khác gì so với hàng vạn vụ tham nhũng lớn bé đang tràn ngập trong xã hội Việt Nam lâu nay.”
Quay lại vụ án giải cứu, cần hiểu rằng doanh nghiệp cũng là nạn nhân, buộc phải hối lộ để có cơ hội làm ăn thôi. Muốn chống tham nhũng tận gốc thì phải dò ngược lên trên xem ai đã tạo ra cái cơ chế để các quan chức kia được quyền ban phát cơ hội kinh doanh…
Những thông tin, tình tiết từ việc xét xử 54 cá nhân dính líu đến việc thực hiện hoạt động “giải cứu” người Việt mắc kẹt ở ngoại quốc trong đại dịch COVID-19 không làm thiên hạ ngạc nhiên, người ta chỉ khinh miệt và phẫn nộ. Mỗi giới thể hiện những cảm xúc đó theo cách của họ. Có những người như Duy Hưng đã dùng nhạc phẩm “Một mai giã từ vũ khí” của nhạc sĩ Ngân Khánh để viết lại lời với những ý như “quỷ ma đội lốt người đang tồn tại giữa đời” (1).
***
Không thể đếm xuể có bao nhiêu người tham gia lý giải nguyên nhân dẫn tới tình trạng viên chức cao cấp của tất cả các ngành liên quan đến “giải cứu”cùng nhau khai thác thảm nạn để làm giàu bất chấp chuyện hàng trăm ngàn người vừa là đồng loại, vừa là đồng bào đang quằn quại trong đại họa, trong đó có Lão Tạ. Lão Tạ dẫn trường hợp ông Tô Anh Dũng (Thứ trưởng Ngoại giao) và bà Nguyễn Thị Hương Lan (Cục trưởng Cục Lãnh sự của Bộ Ngoại giao) để làm minh chứng:
Một người nhận tới 25 tỉ đồng, mà vẫn nói như đang báo cáo về kết quả học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ăn đến rỗng túi đồng bào, mà vẫn “coi họ như ruột thịt” thì còn hơn cả sự kinh tởm. Còn ông Tô Anh Dũng, người 37 lần nhận tiền, lên tới 21,5 tỉ (chỉ dẫn các con số được xác thực) mà vẫn đủ trơ tráo nói không biết đó là tiền hối lộ? Tiền luôn có sức cám dỗ kinh khủng, bất cứ ai cũng có thể bị nó đánh gục. Nhưng khi đã phạm tội, thì NHẬN TỘI và chấp nhận hình phạt, là hành động duy nhất còn mang tính đạo lý. Trên thực tế, khi chấp nhận hình phạt, là cách rửa tội lỗi hiệu quả nhất, để tìm lại sự thanh thản. Cần gì phải thanh minh dài dòng. Chỉ một câu thôi: Tôi đã phạm tội và xin nhận hình phạt. Đó là cách họ cho thấy họ vẫn là con người. Sau tất cả những gì đang diễn ra còn hơn cả vở hài kịch, một câu hỏi nghiêm túc rất cần câu trả lời – thói quen dối trá, trí trá của đám cán bộ kia đã thành máu thịt tim óc họ, rõ ràng không phải là bẩm sinh. Họ sinh ra đã có sẵn khả năng biết cái gì tốt đẹp, thứ gì xấu xa? Vậy cùng với thời gian được đào tạo, học tập, quy hoạch… thì ai đã tước mất liêm sỉ ở họ? Không còn liêm sỉ thì dù ở đâu, dù có nhét đầy túi đủ loại thẻ chứng thực danh giá, thì cũng không bao giờ ra con người (2).
Dương Quốc Chính thì cho rằng, nguyên nhân chính dẫn tới scandal “giải cứu” là từ cơ chế “xin – cho”. Theo ông Chính: Nhiều anh em thiện lành và bò đỏ chỉ biết lao vào chửi bọn quan tham, bọn doanh nghiệp đưa hối lộ, làm hỏng cán bộ ta, bọn cán bộ điều tra sâu mọt chạy án… nhưng phải hiểu đó chính là vấn đề của thể chế. Thể chế càng tạo ra nhiều cơ chế “xin – cho” thì càng tạo cơ hội cho tham nhũng. Chính vì thế, một chính trị gia cánh hữu là Tổng thống Mỹ Reagan đã nói: “Trong cuộc khủng hoảng hiện tại, chính phủ không phải là giải pháp cho những vấn đề của chúng ta; chính phủ chính là vấn đề“. Áp dụng câu nói này vào tình trạng hiện tại. Chúng ta cần hiểu là: “Trong vấn đề tham nhũng hiện tại, đảng không phải là giải pháp cho vấn đề chống tham nhũng, mà đảng chính là vấn đề”. Bởi vì hầu hết cán bộ tham nhũng là nằm trong đảng. Chính đảng, chính phủ tạo ra cơ chế “xin – cho”, từ đó tạo ra tham nhũng, rồi đảng lại tự đốt lò. Nó thành cái vòng luẩn quẩn. Câu nói của Reagan thể hiện nền tảng tư tưởng cho chính trị cánh hữu, đó là phải thu hẹp quy mô chính phủ lại. Chính phủ càng nhỏ, càng kiểm soát ít, sẽ càng ít tạo cơ chế “xin – cho”, ban phát quyền lực, thì sẽ không tạo được cơ hội tham nhũng. Nhưng thực tế, quy mô chính phủ (chính xác hơn là quy mô bộ máy quản lý thể chế bao gồm cả đảng, chính phủ và các đoàn thể ăn theo) của thể chế cộng sản là to nhất so với tất cả các mô hình thể chế chính trị đã có.
Quay lại vụ án giải cứu, cần hiểu rằng doanh nghiệp cũng là nạn nhân, buộc phải hối lộ để có cơ hội làm ăn thôi. Muốn chống tham nhũng tận gốc thì phải dò ngược lên trên xem ai đã tạo ra cái cơ chế để các quan chức kia được quyền ban phát cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp?.. Chống tham nhũng thì trước tiên phải từ cơ chế chứ không thể đổ trách nhiệm cho dân. Cơ chế thì đầu tiên phải là luật pháp và cách thức giám sát quyền lực chứ cơ chế “xin – cho” thì thể chế nào cũng có hết nhưng “kinh tế thị trường định hướng xã nghĩa” là vô địch, tham nhũng nhiều hơn hẳn “kinh tế kế hoạch” vì “kinh tế kế hoạch” là một bộ máy cứng nhắc, không cho các bộ phận của nó được quyền chủ động ban phát cơ hội. Đừng nhầm tưởng các cụ đảng viên ngày xưa liêm khiết hơn bây giờ. Chẳng qua là do cơ chế ít tạo điều kiện cho các cụ kiếm tiền thôi. Lòng tham của con người thì thời nào cũng vậy cả. Mọi người cũng cần hiểu là ngay cả luật pháp hiện nay (gồm cả luật, nghị định, thông tư,…) đa số được soạn thảo bởi hành pháp, họ luôn tìm cách cài cắm lợi ích nhóm của chính họ vào đó, để tạo cơ chế “xin – cho”, để người dân, doanh nghiệp phải đến xin xỏ cơ quan chức năng, chính là tạo ra cơ chế để tham nhũng. Các loại quota, giấy phép con, cấp chứng chỉ, phê duyệt, thẩm định… đều là cửa kiếm tiền hết. Vì thế nên muốn chống tham nhũng thì phải giảm tối đa những thứ nói trên nhưng đảng mà làm thế thì lại giống con rắn tự nuốt cái đuôi mình (3).
Tương tự, Là Công Dân lưu ý: Vụ xét xử “giải cứu” đang gây rúng động xã hội và nhân tâm nhưng lý do chỉ bởi quy mô chứ về bản chất thì không hề khác gì so với hàng vạn vụ tham nhũng lớn bé đang tràn ngập trong xã hội Việt Nam lâu nay. Mọi thứ liên quan đến thủ tục hành chính đều có thể diễn ra theo cách như thế, từ xin tờ giấy chứng nhận độc thân, đăng ký kết hôn, đăng ký kinh doanh, mở trường học cho đến những việc đại sự khác. Câu hỏi đặt ra là, tại sao đã có luật, có quy định mà bạn vẫn bị làm khó đủ đường để phải mất tiền? Đơn giản vì bạn phải “xin”, bạn không có quyền yêu cầu hay đề nghị. Lại hỏi, có quy định rồi, cứ theo đó mà làm, nếu cơ quan và cá nhân nào gây khó thì kiện, sao phải xin xỏ chạy chọt? Đúng thế, nhưng đấy là trong một cơ cấu quản trị kiểu khác, còn ở Việt Nam thì cơ bản những lẽ thường ấy chỉ nằm trên lý thuyết. Ở các nước có cấu trúc xã hội tiến bộ, chỉ cần nhân viên công quyền làm sai là lập tức lên báo hoặc bị kiện ngay và phải về vườn tắp lự. Lại bảo, “ở ta cũng có báo chí và tòa án cơ mà”. Đúng, nhưng đó không phải báo của anh, báo chí tư nhân không có và không độc lập, muốn chuyện được đăng chẳng phải dễ dàng, có khi cũng lại phải “xin”, còn tòa án thì lại cũng chẳng độc lập, kiện có khi chỉ mang thêm họa vào thân. Nghĩa là luật tương đối đầy đủ nhưng cơ chế để vận hành nó thì không tương thích, thành luật hoặc bị hạn chế, hoặc bị vô hiệu hóa, thậm chí bị biến thành công cụ để những cá nhân có quyền lực lợi dụng. Gần gũi nhất có lẽ là thực tế thối nát đã tồn tại hàng nhiều chục năm, đó là chạy việc/mua việc mà ai cũng chấp nhận và coi như lẽ đương nhiên. Sinh viên sư phạm ra trường, muốn được đi làm thầy thì phải “chạy”. Người người chạy, nhà nhà chạy, ngành ngành chạy, nơi nơi đều chạy, thậm chí con học mẫu giáo cũng phải chạy. Tùy công việc và tính chất, ít thì dăm chục, nhiều có khi hàng tỉ đồng. Việc chạy chọt như thế đã phá hủy nền tảng xã hội từ bên trong, khiến nó trở nên mục ruỗng tan hoang. Nhưng vì sao phải chạy? Vẫn câu trả lời như trên, vì anh phải “xin”. Ngoài chỗ những người có quyền ban phát, anh không biết kiếm nó ở đâu khác nữa. Trong tay không có báo chí, không có tổ chức độc lập nào bênh vực, biểu lộ ý kiến tập thể (biểu tình) cũng không được phép. Thế thì ngoài việc bán vườn để chạy việc, anh còn cách nào khác? Mọi việc chỉ còn biết phụ thuộc vào đạo đức cá nhân của cán bộ, nếu may mắn nhiệm kỳ nào có được một ông quan tử tế thì dân vùng ấy đỡ khổ, bằng không thì khốn đốn điêu linh. Mà ác thay, đạo đức của con người lại là thứ vốn mong manh, không ai đảm bảo ngày mai nó còn vẹn nguyên nữa khi biết bao nhiêu nguy cơ và cám dỗ rình rập bốn phía. Phần lớn công chức sẽ tha hóa, và tất yếu kéo theo sự hư hỏng của người dân.
Là Công Dân cũng xem về bản chất, việc người Việt bị cướp mất hàng trăm tỉ trong hoạt động “giải cứu” chẳng khác gì việc phải nộp 50.000 “lệ phí” khi đi nộp hồ sơ cho con vào lớp sáu: Xử một vụ tổ chức các chuyến bay giải cứu, hay trăm vụ, ngàn vụ, dù lớn hơn thế nữa, nhưng không thay đổi cơ chế hiện tại thì tham nhũng và tội phạm trong nhà nước không cách gì diệt sạch được. Công cuộc chống tham nhũng, vì thế, dù có quyết tâm đến mấy, nghiêm khắc đến mấy, dù tử hình 18 hay cả 54 bị cáo thì vì cái gốc sinh ra và nuôi dưỡng tham nhũng vẫn còn sừng sững ở đó, nên sẽ tiếp tục mọc chồi, tua tủa vươn lên. Công cuộc chống tham nhũng, kiến tạo xã hội, xây dựng nền an sinh lâu dài, thiết lập các giá trị đạo đức và văn hóa cho con người,… về nguyên lý, là điều không khó, chỉ cần thay đổi cấu trúc bộ máy, phá bỏ tính chuyên chế, trao quyền về cho người dân. Nếu không làm như thế mà vẫn mải mê trồng cây để “đốt lò”, thì những “chuyến bay giải cứu” sẽ tiếp tục “cất cánh” như một nạn dịch vô phương chặn đứng, bay đen đặc bầu trời Việt Nam và phá hủy hết mọi giá trị làm người, biến cả xã hội thành một vũng lầy nhơ nhớp (4).
Chú thích
(1) https://www.facebook.com/yeunhactrutinh/videos/1042972773775635/
KHI BỘ TRƯỞNG TRẢ THÙ – Trần Trung Đạo
Chế giễu thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực là lập lại hành động, giọng nói của người khác với ý định không thân thiện.
Nhưng theo Eben Harrell, chủ bút của tạp chí Harvard Business Review trong bài viết “Chế Giễu Có Thể Giúp một Sáng Kiến Thành Công” (Mocking Can Help an Initiative Succeed) nhằm giới thiệu quan điểm của bà Magdalena Cholakova, Giáo sư tại Đại học Rotterdam và tác giả của nghiên cứu về tác dụng của trò đùa. Theo giáo sư Magdalena Cholakova chế giễu không chỉ mang ý nghĩa tiêu cực nhưng cũng có tác dụng tích cực. Chế giễu là một cách chứng tỏ sự khác biệt trong quan điểm của hai người hay hai nhóm người về một sự kiện để sau đó tìm cách giải quyết.
Tại các nước tự do dân chủ chế giễu chẳng những không bị ngăn cấm mà còn được khuyến khích và bảo vệ bởi hiến pháp như trường hợp Tu Chính Án Thứ Nhất (Quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và quyền kiến nghị chính phủ giải quyết những bất bình) và Tu Chính Án Thứ Tư (Quyền của mọi người được bảo đảm an toàn về người, nhà cửa, giấy tờ và tài sản) của Mỹ.
Chế giễu là chuyện thời sự mỗi ngày trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình. Những chế giễu này không chỉ để cười rồi quên mà còn được người bị chế giễu lắng nghe một cách trân trọng để sửa đổi dù có thể không công khai thừa nhận. Chưa bao giờ việc chế giễu một bộ trưởng hay ngay cả tổng thống lại trở thành một tội hình sự.
Nhưng nếu giáo sư Magdalena Cholakova có dịp nghiên cứu về chế giễu tại Bắc Hàn, Trung Cộng và CS Việt Nam, có thể bà ta sẽ viết khác hay ít nhất viết thêm “ngoại trừ Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam”.
Nhưng điều đó không có nghĩa là người dân ba nước Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam không dám chế giễu giới lãnh đạo.
Một “chế giễu” từ Bắc Hàn.
Ngày 22 tháng 12, 2021, một người dân Bắc Hàn đã can đảm viết trên tường “Kim Jong Un, you are son of a b ***. The people are starving to death because of you” (Kim Chính Ân, ông là đồ khốn nạn. Người dân đang chết đói cũng tại ông). Kim Jong Un ra lịnh người dân thủ đô Bình Nhưỡng phải nộp mẫu chữ viết tay và kê khai một cách chi tiết mọi công việc họ đã làm trong ngày câu chế giễu xuất hiện. (India Times, Jan 05, 2022)
Việt Nam thì sao?
Hành động của Bộ trưởng Tô Lâm khi ngồi ăn bò bít-tết giá 44 triệu đồng mỗi phần trong khi nhiều triệu người tại Việt Nam không biết ngày mai sống chết ra sao là một hành vi sai trái nghiêm trọng về cả đạo đức lẫn trách nhiệm của một bộ trưởng.
Đoạn phim được đầu bếp người Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe đưa lên ‘internet’ ngày 3 tháng 11, 2021. Ngay sau đó, Tô Lâm bị nhiều người chế giễu trong đó có Bùi Tuấn Lâm đã diễn lại cảnh rắc muối. Nhưng Bùi Tuấn Lâm không phải là người duy nhất chế giễu Tô Lâm. Tô Lâm bị chế giễu bằng nhiều cách tại trong nước, ngoài nước và trên các hãng tin, các hệ thống truyền thông, truyền hình khắp thế giới.
Ai mời, ai trả tiền cho bữa ăn không quan trọng. Ăn mới là điều đáng nói. Hành động phản cảm của Tô Lâm không thể bào chữa bằng bất cứ một lý do gì.
Khi bộ trưởng Tô Lâm đưa ngón tay cái khen ngon ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam chị Đinh Thị Phương Anh phải đẻ non sau khi ôm đứa con nhỏ ngồi trên xe máy do chồng chở suốt ba ngày trên đoạn đường 800 kilomet từ Sài Gòn ra Thanh Hóa.
Khi bộ trưởng Tô Lâm nhìn Salt Bae mỉm cười thỏa mãn ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam cháu Quách Tiến Lộc (trú tại xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình) phải được mổ ra khỏi bào thai trước khi mẹ qua đời vì bị Covid hành hạ.
Khi bộ trưởng Tô Lâm nhai miếng bít-tết đắt tiền ở London , trong thời gian đó ở Việt Nam anh phụ hồ Hồ Tám đi bộ một ngàn cây số từ Sài Gòn về Huế và trên vai chỉ một thùng mì gói.
Khi bộ trưởng Tô Lâm ăn tiêu xa xỉ ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam biết bao nhiêu thảm cảnh chết chóc, rách rưới, đói khát, bịnh tật của hàng trăm ngàn đồng bào trên đường về quê hương lánh dịch đã diễn ra trong những ngày cuối năm 2021.
Nếu hành vi tương tự diễn ra tại Mỹ trong cao điểm của mùa đại dịch, chính khách ăn miếng thịt bò và đưa ngón tay cái tỏ dấu hiệu “tuyệt ngon” kia sẽ bị mọi khuynh hướng chính trị, tả cũng như hữu, Cộng Hòa lẫn Dân Chủ, phê phán, khinh rẻ và ngay cả xa lánh.
Tháng 2, 2021, Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz, thuộc đảng Cộng Hòa, tiểu bang Texas, Mỹ đưa con đi nghỉ ở Cancun nhân dịp trường học đóng cửa nghỉ mùa đông trong lúc hàng triệu người dân Texas chịu rét và mất điện. Thượng nghị sĩ Ted Cruz sớm nhận ra mình đã hành xử thiếu tế nhị và trở về ngay hôm sau nhưng vẫn bị báo chí phe Dân Chủ chế giễu suốt tuần lễ sau đó. Ông ở nhà cũng chưa hẳn Texas có điện nhưng trong cương vị một thượng nghị sĩ ông nên chia sớt khó khăn và hoạn nạn với người dân thay vì đi nghỉ mát.
Tháng Giêng năm nay TT Joe Biden đi nghỉ ở đảo St. Croix ấm áp trong lúc nước Mỹ đang chịu đựng cơn bão tuyết gây thiệt mạng 30 người ở Buffalo, New York, đã bị các chính trị gia và báo chí, nhiều nhất phe Cộng Hòa, mỉa mai, chỉ trích. Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz có cơ hội trả đũa và ông đã gởi cho TT Biden một ‘tweet’ ngay ngày hôm đó “Chúc vui vẻ ở St. Croix” để chế giễu tổng thống. Phe ủng hộ TT Biden cũng không vừa gì và “phản pháo”, cũng bằng tweet, “Ted Cruz, đạo đức giả” để nhắc khéo Ted Cruz đã từng đi nghỉ mát không đúng lúc như thế hai năm trước.
Chính trị Mỹ là vậy. Các chính trị gia và các phe cánh khai thác mọi kẻ hở, sơ sót để hạ uy tín đối phương. Việc làm của Joe Biden và Ted Cruz đúng là thiếu chín chắn nhưng có lẽ không ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp chính trị của hai ông. Tuy nhiên, họ sẽ học bài học. Khi đi nghỉ lần tới họ sẽ thận trọng hơn, ngó sau nhìn trước hơn kỹ càng hơn.
Khác với các chính khách Mỹ, bộ trưởng Tô Lâm vi phạm tiêu chuẩn đạo đức trầm trọng hơn nhiều nhưng ông ta không ghi nhận, không sửa sai, không giải thích, không xin lỗi trái lại trả thù một cách tàn nhẫn người dân đã chế giễu mình.
Bộ trưởng Tô Lâm coi thường dư luận và phán xét của người dân, đơn giản, chỉ vì ông ta đang giữ chìa khóa nhà tù.
Khi ra tay trả thù Bùi Tuấn Lâm với bản án 5 năm rưỡi tù giam và 4 năm quản chế Tô Lâm cũng không nhìn xa hơn chút nữa để thấy ba con còn quá nhỏ của Bùi Tuấn Lâm sẽ sống ra sao khi người cha bươn chải cho cuộc sống gia đình phải ở trong tù.
Bùi Tuấn Lâm bị kết án vì đã “bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ, phỉ báng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tuy nhiên, ai cũng biết đó chỉ là cái cớ. Không riêng kẻ viết bài này, người dân Việt Nam mà cả thế giới cũng đều biết tội của Bùi Tuấn Lâm là tội chế giễu bộ trưởng Tô Lâm.
Tờ New York Times đăng tin “A Video Mocking a Vietnamese Official’s Lavish Meal Has Landed Its Maker in Prison” (Video chế nhạo bữa ăn xa hoa của quan chức Việt Nam đã đưa người dựng ra nó vào tù.)
Hãng tin CNN đăng tin “Vietnam jails noodle vendor who mocked minister’s lavish dining” (Việt Nam bỏ tù người bán bún chế giễu ăn uống xa hoa của bộ trưởng).
Tờ Diplomat đăng tin “Vietnam Noodle Vendor Jailed For Mocking Security Minister” (Chủ Quán Bán Bún Việt Nam Vào Tù Vì Chế Nhạo Bộ Trưởng An Ninh).
BBC đăng tin “Salt Bae parody: Vietnam noodle vendor jailed for five years” (Làm phim nhại Salt Bae: Người bán bún Việt Nam bị bỏ tù 5 năm).
Nói chung, không một cơ quan truyền thông quốc tế nào tin vào nội dung phán quyết của tòa án CSVN.
Nếu “bôi nhọ, phỉ báng” nhà nước mà phải ở tù thì tại Việt Nam hôm nay có ít nhất vài chục triệu người đáng bỏ tù hay đang ở trong tù.
Không có một thống kê chính xác nhưng sau 48 năm con số người dân thấy được bộ mặt thật của chế độ mỗi ngày một đông hơn. Họ không ngồi chờ Trung Cộng sụp đổ kéo theo CSVN hay hạm đội Mỹ can thiệp mà bào mòn chế độ bằng mọi phương tiện họ có trong tay. Bức tường chuyên chính dù dày bao nhiêu, dù rắn bao nhiêu cũng sẽ có ngày sụp đổ.
Nếu không tin, Tô Lâm thử giả dạng thường dân ra những hàng quán dọc đường phố để nghe những lời than oán của người dân về cuộc sống của họ và nghe họ chế giễu chế độ độc tài toàn trị thời toàn cầu hóa hiện nay như thế nào.
Một sự kiện nhục nhã như thế đáng lẽ Tô Lâm và giới lãnh đạo CSVN nên tìm cách quên đi. Đằng này, bằng việc bỏ tù Bùi Tuấn Lâm đảng đã làm cho câu chuyện “thánh rắc muối” lần nữa trở thành một tin thời sự nóng bỏng, không riêng tại Việt Nam và mà cả quốc tế suốt tuần qua.
Tô Lâm tự xây và tự nhốt ông ta trong bốn bức tường ô nhục. Bùi Tuấn Lâm một ngày sẽ ra tù nhưng Tô Lâm thì không. Đoạn phim chế giễu “thánh rắc muối” của Bùi Tuấn Lâm sẽ chiếu đi chiếu lại trong nhận thức của ông ta cho đến cuối đời. Cuối cùng ai sẽ thắng ai?
Cho dù Tô Lâm thù vặt và nhất định phải trả thù anh bán bún thì nhà nước CSVN lẽ ra phải can thiệp để giữ thể diện quốc gia trước dư luận quốc tế và giữ tư cách của một thành viên Liên Hiệp Quốc. Một bộ trưởng an ninh đầy quyền lực trả thù một người dân thấp cổ bé miệng là hành động thất nhân tâm, phi đạo đức. Nhưng bản chất nào thì hiện tượng đó. Cây nào sinh trái đó. Không chỉ Tô Lâm mà cả cơ chế chính trị CSVN tồn tại đến nay nhờ nuôi dưỡng hận thù.
Với cách hành xử như vậy, đừng mong đảng CSVN có thể thu phục được lòng người, đoàn kết được dân tộc trước hiểm họa Trung Cộng đang hăm he ngoài biển, và đừng mong Việt Nam dưới sự cai trị của đảng CS có thể bước ra khỏi con hẻm tối tăm của chậm tiến và lạc hậu để lớn lên cùng với loài người.
Trần Trung Đạo
EM LÀ AI!!!
Em là ai giữa cuộc đời giông gió
Tấm thân gầy đã biết tỏ cùng ai
Bước chân đi trên khắp nẻo đường dài
Cơm áo thiếu vẫn miệt mài em sống….
Có biết không giữa biển người rất rộng
Em một mình gồng gánh những lo toan
Rằng đêm nay giấc ngủ có an toàn ?
Ai ôm ấp giữa màn đêm lạnh giá ?
Rồi ngày mai thiếu cơm em đói lả
Ai thương tình chia cả những miếng ăn ?
Tuổi thơ ngây chịu bao nỗi nhọc nhằn
Ai thấu hiểu giọt lệ lăn trên má ?
Cùng tuổi em người ta đang hối hả
Mải ăn chơi biết vất vả gì đâu
Là em đây nào dám ước sang giàu
Và hạnh phúc là niềm đau thầm lặng…..
Tuổi thơ ngây em dãi dầu mưa nắng
Và tâm hồn trong trắng sớm nặng mang
Là ai kia khiến em phải lỡ làng ?
Một kiếp sống với muôn vàn khốn khó..
Thơ: Thu Hà
KV-QPAN. St
Làm ăn theo lối XHCN – VinFast đòi xây nhà máy ở Mỹ trong khi chỉ giao vận hành được 128 xe trong vòng 5 tháng
Người mua hàng đi ngang qua một cửa hàng của VinFast tại California, Mỹ hôm 2/7/2023
Số lượng xe VinFast được đăng ký trong 5 tháng vừa qua tại Mỹ chỉ đạt 128 chiếc theo báo cáo từ Experian, công ty chuyên về thống kê tín dụng, điều này khác biệt với doanh số xe bán ra được báo cáo và tổng hợp số liệu bởi một đơn vị khác của Việt Nam.
Mạng Tin Tức của Yahoo
Nhà sản xuất ô tô Việt Nam VinFast đang gặp khó khăn tại Hoa Kỳ do số lượng đăng ký lưu hành xe mới có con số thấp.
Thiếu đăng ký: Trích dẫn dữ liệu từ Experian, Auto News cho biết VinFast chỉ nhận được một đăng ký vào tháng Hai, tiếp theo là 16 vào tháng Ba, 66 vào tháng Tư và 45 vào tháng Năm, đánh dấu tổng số 128 đăng ký kể từ tháng Giêng.
Công ty Việt Nam được cho là xếp thứ 22/25 trong danh sách đăng ký xe điện của Experian, đứng trên các hãng Jaguar, GMC và Mazda.
Có vẻ không khả quan: Diễn biến mới nhất có vẻ không khả quan cho nhà sản xuất ô tô Việt Nam, vì VinFast đã nhập vào 3.000 xe điện (EV) ở Bắc Mỹ, bao gồm 999 chiếc xe được gửi vào tháng 11 năm 2022 đã đến vào tháng sau đó để chuẩn bị cho sự ra mắt của công ty tại Mỹ.
Đài RFA thông tin
Hãng xe điện VinFast non trẻ của Việt Nam trong năm tháng qua chỉ mới có 128 xe VF 8 đăng ký tại Hoa Kỳ.
Số liệu của hãng đa quốc gia Experian chuyên phân tích số liệu và báo cáo tín dụng tiêu dùng được các mạng báo chuyên về xe tại Hoa Kỳ dẫn lại.
Theo số liệu cụ thể, trong tháng hai chỉ có một xe VF 8 đăng ký, sang tháng ba có 16 chiếc, tháng tư 66 chiếc và tháng năm 45 chiếc; tổng cộng là 128 xe.
Số lượng bán ít ỏi như vừa nêu được nhận định là những khó khăn đáng kể mà VinFast phải đối mặt tại thị trường Hoa Kỳ. Điều này cũng được phân tích là hãng này thất bại trong việc thu hút người tiêu dùng Mỹ.
Tin cho biết mặc dù VinFast cố gắng thúc đẩy doanh số bán bằng những biện pháp như giảm giá và cho thuê ưu đãi; nhưng hàng xe điện của tỷ phú Phạm Nhật Vượng vẫn đang phải đối mặt với cuộc canh tranh khốc liệt với những tên tuổi nội địa Hoa Kỳ như Tesla, Ford…
Giá của xe VF 8 của VinFast cũng được cho là cao hơn giá của những dòng xe cùng loại của các đối thủ cạnh tranh; đặc biệt đối với xe Model Y của Tesla được giảm thuế Liên bang đến 7.500 USD vì sản xuất nội địa.
Một bất lợi khác đối với xe điện VinFast bán tại Hoa Kỳ mà giới thạo xe nêu ra là sản phẩm làm quá gấp khiến khách hàng tiềm năng do dự.
Tạp Chí CarCoop – Tin tức Xe Cộ phê phán

VinFast, hãng xe Việt loay hoay với chỉ 128 lượt đăng ký lưu hành xe ở Hoa Kỳ.
Một thông tin hoàn toàn không gây ngạc nhiên cho bất kỳ ai, đó là người Mỹ không quan tâm đến một chiếc crossover chạy điện có giá quá cao nhưng hoạt động kém hiệu quả từ Việt Nam.
Tuy không bán được xe nhưng VinFast lại chuẩn bị mở màn xây dựng nhà máy ở tiểu bang North Carolina.
VinFast hôm thứ 19/7 cho biết họ sẽ bắt đầu xây dựng một nhà máy sản xuất xe điện trị giá bốn tỷ USD ở tiểu bang North Carolina vào tuần tới như một phần trong nỗ lực mở rộng tại thị trường Hoa Kỳ.
Công ty con của tập đoàn lớn nhất Việt Nam Vingroup bắt đầu hoạt động vào năm 2019, đã công bố kế hoạch cho nhà máy tại Hoa Kỳ vào năm ngoái, đặt mục tiêu bắt đầu sản xuất vào năm 2025, muộn hơn một năm so với kế hoạch ban đầu.
Xe điện VF 6 của VinFast tại một triển lãm ở Los Angeles, California vào ngày 17/11/2022
“Khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ là nhà cung cấp xe điện chính của VinFast cho thị trường Bắc Mỹ”, bà Lê Thủy, Giám đốc VinFast Auto, nói với hãng tin Reuters.
Giai đoạn đầu tiên của dự án bao gồm khoản đầu tư 2 tỷ USD vào nhà máy có khả năng sản xuất 150.000 xe mỗi năm.
VinFast lỗ lũy kế không thể bù đắp
Theo hãng tin Reuters
Theo luật lệ tài chính, một hồ sơ của VinFast được công bố vào thứ Năm trongh đó, VinFast đã báo cáo doanh thu giảm 49% dẫn đến khoản lỗ ròng 598 triệu USD trong quý đầu tiên của năm 2023, kỳ báo cáo đầy đủ đầu tiên kể từ khi gia nhập thị trường Bắc Mỹ.
Khoản lỗ của VinFast trong Quý 1, 2023 còn tồi tệ hơn khoản lỗ 411 triệu USD trong cùng kỳ năm 2022, một năm mà hãng đã lỗ tới 2,1 tỷ USD.
VinFast cho rằng sự sụt giảm doanh thu hàng quý là do giá bán thấp hơn và công ty đang chuyển hướng trở thành nhà sản xuất xe điện chuyên dụng.
Học để làm gì?
17-7-2023
Đây là câu hỏi có giá billion (ngàn tỷ) đô la vì sinh viên Mỹ đang nợ ngần ấy. Nếu học xong không biết làm gì, một ngàn tỷ kia thật pha phí.
Nhớ tác giả Trần Văn Tuấn nhận định rằng, 90 triệu người Việt học để làm quan. Của đáng tội, tôi thấy khá đúng.
Chả hiểu bây giờ các bậc cha mẹ khuyên con học để làm gì. Nhưng ngày xưa, những năm 1960, tôi được đấng sinh thành nhắc nhở, con cố học giỏi để làm cán bộ, “một người làm quan, cả họ được nhờ”, bố mẹ đỡ, đầu tắt mặt tối.
Thỉnh thoảng họp phụ huynh, bố tôi vui, tên con được xướng trên hội trường, vì con là học sinh tiên tiến, các cụ tràn trề hy vọng. Mấy năm du học, cả nhà tin đứa con sẽ làm nên, nhất là khi bảo vệ xong PTS ở Bulgaria (1987).
Nhưng rồi thời bao cấp nghèo khó, giấc mơ của hai vợ chồng già sau lũy tre làng cứ lụi dần, vì con về thăm quê, vẻ ngày càng đói hơn, quần tích kê mông, xe đạp rách nát lốp, mặt hom hem thiếu đói.
Đôi khi mẹ còn dúi vài cân gạo lên sau xe, khi quả trứng, rồi ước ao, con cố phấn đấu vào đảng, thế nào cũng làm quan, ánh mắt bà cứ sáng lên.
Hai cụ không biết rằng, chức “quan” cao nhất của tôi ở Viện Tin học là chủ tịch Công đoàn, chuyên lo ma chay, cưới xin, thăm các bà đẻ, các chị bị sảy thai, rong kinh.
Các cụ than, con nhà người ta, có đứa không tốt nghiệp cấp 3, chẳng đi đâu, thế mà xe đón xe đưa, làm quan gì ở huyện, ở tỉnh, mỗi dịp tết đến, nhà cứ nườm nượp. Rồi tự an ủi “con sãi ở chùa lại quét lá đa”, người xưa cấm sai.
Đúng là nhìn người chức quyền hiện nay rất giầu có, học để làm quan là giấc mơ Việt, cứ làm sếp sẽ có phong bì, ăn cắp ăn trộm dễ như chơi. Giấc mơ có thật, ở mọi ngõ ngách làng quê.
Nếu ai đó nói, học để làm người thì các cụ sẽ thở dài, làm người ai chả làm được, làm quan mới khó. Đi học mà không nên vương tướng, đổ cơm cho chó còn hơn.
Giấc mơ làm quan của người Mỹ
Người Mỹ hay bất kỳ một dân tộc nào cũng vậy, nếu được tự lựa chọn làm quan, chắc ai cũng thích. Rất hiếm người thích làm quân.
Luck đi học trường làng có bài luận “Em sẽ làm gì nếu được làm Tổng thống một ngày”. Bài của Bin “Nếu em là Hiệu trưởng, em sẽ làm gì”. Đó là những gợi mở cho tuổi thơ ấu muốn trở thành lãnh đạo.
Họp phụ huynh, gặp bạn bè, cha mẹ cũng hay khoe, con làm lớp trưởng, trưởng nhóm, ánh mắt cứ sáng rực. Có người cố tình cho con đi học muộn chút, vì trong lớp, đứa lớn tuổi hay thành team lead (trưởng nhóm), mầm mống lãnh đạo tương lai.
Nhưng với thời gian và sự hiểu biết, tuổi thơ ấy chẳng còn nghĩ đến chức Hiệu trưởng hay Tổng thống, dù giấc mơ thành lãnh đạo thế giới cũng rất đáng trân trọng, nhưng nói chung, không phải em nào ra trường cũng thành lãnh tụ.
Nói chuyện với các bạn Mỹ, hầu hết đều nói, các cháu học gì là tự lựa chọn, bố mẹ không can thiệp nổi. Có cháu học siêu về tin học, bỗng xin bố mẹ đứng tên vay vài chục ngàn của ngân hàng, mở gara sửa xe hơi. Cháu bảo, ở Mỹ, có 320 triệu người sở hữu 350 triệu xe hơi. Học được nghề này không bao giờ thất nghiệp. Vào Harvard tốn cả nửa triệu đô, ra trường chắc gì đã xin được việc.
Ở đâu cũng thế, có quân, có tướng, có lãnh đạo, có cấp dưới, có trí thức, có công nhân, có dân thường. Toàn tướng cả, lấy ai làm quân.
Người Mỹ bàn về mục đích của học hành và giáo dục
Người Mỹ cũng băn khoăn giống Việt Nam ta, mục đích giáo dục là gì. Trải qua mấy thế kỷ, vẫn tiếp tục hỏi, học để làm gì. Học làm người hay học để học tiếp, học để kiếm tiền, học để xây dựng… CNXH Hoa Kỳ. Hỏi 100 người về mục đích đi học có 101 câu trả lời.
Cách đây gần một thế kỷ (1930 – Good Citizenship: The Purpose of Education – người công dân tốt – mục đích của giáo dục), đệ nhất phu nhân Eleanor Roosevelt từng nói, đây là câu hỏi luôn đau đầu các học giả, giáo viên, các chính khách, các trí thức.
Năm 1934, người ta đã bàn về mục đích của giáo dục, đó là dạy cho thế hệ trẻ những thứ họ cần để tự phát triển, một cách hệ thống để tham gia vào xã hội, đó là cách tiếp cận từ thời Hy Lạp cổ đại đến thế giới hiện đại (1930).
Năm 1948 Martin L King cho rằng, chức năng của giáo dục là dạy người ta suy nghĩ liên tục và có cách nhìn phê phán. Tuy nhiên, nếu giáo dục chỉ dừng lại với tìm ra sự tiện lợi cho mình thì đó là sự nguy hại của xã hội. Tội ác lớn nhất là trang bị cho con người những lý do để hành động mà không quan tâm đến đạo đức. Tri thức chưa đủ, mà tri thức cần với nhân cách, đó là nền giáo dục hoàn chỉnh.
Tới năm 1957, quan niệm rõ ràng hơn trong các trường tại Mỹ, đó là dạy con người sống có đạo đức, sáng tạo, lao động năng suất cao… trong một xã hội dân chủ.
Năm 1964 giáo dục chuyển từ mục đích tạo ra xã hội biết đọc biết viết thành một cộng đồng học để tự học.
Tới năm 1991, người ta đã tổng kết, từ thời cổ đại, giáo dục luôn là mục đích tạo ra con người theo đúng nghĩa, phát triển trí tuệ, phục vụ những yêu cầu của xã hội, đóng góp vào kinh tế, tạo ra nguồn lao động, chuẩn bị cho thế hệ trẻ những bước tiến thân, nhằm thúc đẩy một xã hội hay một chế độ chính trị.
Vĩ thanh
Có lần cu Bin hỏi, con đi học để làm gì. Lão Cua nghĩ về ông bà ở Ninh Bình đã khuất núi từng khuyên, học để kiếm cái nghề, nuôi thân, nuôi gia đình, không về nhà xúc gạo của mẹ nghèo, và đừng về VN làm quan để ăn cắp rồi ra tòa như mấy hôm nay. Thế là thành công lắm rồi.
Lại… ung thư trước tòa!
Chau Trieu
Lại… ung thư trước tòa!
Trước đây Vũ Huy Hoàng (Bộ trưởng công thương) cho biết mình bị ung thư rất nặng và xin được lượng tội… nhè nhẹ! Ông này còn đổ mọi tội lỗi cho Hồ Thị Kim Thoa, cấp phó của mình (đã dọt) để chối tội.
Rồi Nguyễn Đức Chung, tên tuổi còn bặm trợn hơn, tướng công an, cũng khai ung thư thời kỳ cuối (?), còn mẹ già con… du học Mỹ, đổ thừa tùm lum và xin sớm được về!!!
Nay tướng Nguyễn Anh Tuấn, phó giám đốc công an Hà Nội ra tòa khóc như mưa cũng khai bị ung thư??
Các tướng quân đội, quân y, hải quân… ra tòa cũng rúm ró khóc kể để xin tha.
Trong tâm thức của nhân loại và dân tộc Việt, một ông tướng, một tướng quân, một đại sứ… dù thời bình cũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, có đâu mà nhếch nhác, bẩn thỉu, hèn đớn như thời nay?
Bởi họ đã sống bất chấp quy luật đạo lý, sống phủ phê bằng tiền ăn cướp của dân, sống như một con heo, sống, nhưng hằng ngày phải nhận vào bao nhiêu là lời nguyền rủa của lương dân. Và chết, thì dân… khui bia ăn mừng. Cái tha lực uất ức của hàng triệu con người đó không dễ coi thường!
Có thời nào, có quốc gia nào kỳ quặc như đất nước khốn khổ này chăng?
Nguyễn Đình Bổn
Không có “thế lực thù địch” nào “đánh” Đảng Cộng sản hiệu quả cho bằng chính Đảng Cộng sản
17-7-2023
Bao nhiêu “công phu” tuyên truyền, “đánh bóng” cho chế độ, tự “tụng ca” nào “ngạo nghễ quá, tự hào quá Việt Nam ơi” cho tới “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được thế này không?”… đã hoàn toàn trôi sạch qua hai vụ đại án “Test-kit Việt Á” và vụ chuyến bay gọi là “giải cứu” này.
Thật ra cái bản chất vô nhân đạo, nạn tham nhũng vô phương cứu chữa hay sự thối nát đến tận gốc rễ của chế độ độc tài toàn trị do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã bộc lộ từ lâu, nhưng có thể vẫn còn có những người, vì lý do nào đó, cố bào chữa cho đảng và nhà nước cộng sản. Tuy nhiên đến hai vụ “đại án” này thì còn bào chữa vào đâu được nữa?
Đã có quá nhiều bài viết hay trên các tờ báo trong ngoài nước, trên mạng xã hội những ngày qua xung quanh hai vụ án này, vạch trần sự bất nhân đến tận cùng của quan chức cộng sản từ trên xuống dưới khi nỡ chia nhau “bóp nặn” người dân ngay giữa những ngày đại dịch khốn khổ chết chóc, “ăn” tiền từ những sinh viên đi du học bị kẹt ở nước ngoài, những người lao động nghèo đi làm xa theo diện “xuất khẩu lao động” – thực chất là chính sách buôn người công khai, hợp pháp của nhà cầm quyền cho tới hàng ngàn tù nhân ở Malaysia mãn hạn tù phải trở về nước…
Những bài viết đó cũng phơi bày toàn cảnh nạn tham nhũng đã trở thành trắng trợn, trơ trẽn, và tràn lan như nấm độc trong bộ máy cầm quyền từ trên xuống dưới. Hơn bao giờ hết, câu trả lời cho bất cứ ai còn cố tin vào việc có thể tiêu diệt được nạn tham nhũng khi chế độ độc tài độc đảng này còn tồn tại, lại rõ ràng đến thế.
Câu hỏi là, liệu số tiền thu được từ việc các bị cáo nộp tiền để “khắc phục” hậu quả có được sử dụng phần nào để trả lại cho những người dân đã phải chi cho những cái vé quá đắt hay nhà nước lại lấy hết?
Nhưng điều đáng quan tâm hơn là phản ứng của người dân. Dường như đại đa số người Việt đã trở nên quá quen đến thành “chai lì” cảm xúc trước nạn tham nhũng ở Việt Nam, cho dù những vụ án ngày càng có quy mô đồ sộ với số tiền tham nhũng, hối lộ ngày càng nhiều và những hành vi tham nhũng, hối lộ ngày càng trơ tráo đến mức không tin nổi. Đúng là người dân có phẫn nộ, chửi rủa không tiếc lời (từ trên mạng cho tới ngoài xã hội), nhưng cũng chỉ vài bữa rồi lại… thôi, lại chịu đựng để cho đảng cộng sản tiếp tục cai trị, bóc lột mình đến tận xương tủy!
Cứ mỗi ngày qua, đảng và nhà nước cộng sản lại tự phơi bày thêm sự thối nát, tồi tệ vô giới hạn, đồng thời tự chứng minh lần thứ n rằng, họ hoàn toàn không xứng đáng để được quyền lãnh đạo đất nước này, dân tộc này thêm một giây phút nào nữa; nhưng ngược lại, cứ mỗi ngày qua, người dân Việt Nam lại tiếp tục chứng tỏ khả năng chịu đựng vô giới hạn của mình.
Và đó mới là điều đáng buồn nhất, đáng lo nhất cho tương lai, vận mệnh Việt Nam!
BỚT ĐI …-Võ Thiên Thu-
–Võ Thiên Thu–
Bớt đi … một chút tượng đài
Bớt đi … lễ hội rực trời pháo hoa
Bớt đi … đại yến gần xa
Bớt khoe … thành tích, nước ta còn nghèo
Bớt đi công cán bồ theo
Xe công siêu độc học leo con trời
Công trình ngàn tỉ để đời
Bỏ không hoang phí khiến người xót xa
Bớt đi ông lớn nhiều nhà
Ăn chơi trác táng xa hoa tiền chùa
Bớt đi những tiếng nói thừa
Vẽ vời hội họp bán mua chức quyền
Bớt đi đấu đá triền miên
Tranh quyền đoạt vị nhìn xem ..dân nghèo
Đi học đứa lội đứa trèo
Mong manh mạng sống hoạ treo đỉnh đầu
Đặc nhiệm Mỹ phải cúi đầu
Dân ta thật giỏi trẻ trâu càng tài
Chắp tay bái phục các ngài
Huấn luyện trẻ nhỏ toàn bài đặc công
Nghe khen sao nhói buốt lòng
Nghe khen đau xót ai không tủi sầu?!!
Ước mơ xa vợi cây cầu
Nhỏ nhoi cũng được cần đâu lớn gì
Chỉ cần các cháu được đi
Học thêm con chữ xanh rì tương lai
Không còn bơi vượt sông dài
Không đu dây lượn như loài …TăcZăng
Tội ác lớn lao nhất trong Hiến Pháp 2013 của đảng CSVN là tước bỏ nghĩa đen và bình thường của những ý niệm và từ ngữ của hiến pháp.
Hình Internet
Luật sư Đào Tăng Dực
Đảng CSVN, qua các hiến pháp tiền thân của HP 2013 cũng như qua bản HP này, đã gây ra vô số tội ác đối với dân tộc.
Tuy nhiên, câu hỏi của chúng ta nên đặt ra là đâu là tội ác lớn lao nhất trong HP của tập đoàn độc tài toàn trị này?
Hy vọng là câu trả lời của tôi sẽ không làm các độc giả ngạc nhiên. Theo quan điểm của người viết thì:
Tội ác lớn nhất trong HP 2013 và một vài tiền thân của nó là tước bỏ nghĩa đen và bình thường của những ý niệm và từ ngữ của hiến pháp.
Thật vậy, trong hiến pháp, đảng CSVN thường nhắc đến những ý niệm hoặc từ như “nhân dân”, “tối cao”, “ nhân dân làm chủ” “quyền tự do bầu cử”, “chế độ cộng hòa”, quyền sở hữu đất đai “thuộc về toàn dân” v…v…là một vài ví dụ.
Tuy nhiên những ý niệm hoặc từ này đã bị tước bỏ nghĩa đen của chúng.
Chúng ta tương đối ngạc nhiên tại sao tước bỏ nghĩa đen của vài ý niệm và từ ngữ lại là tội ác lớn lao nhất, tức là vượt lên trên tội lạm sát nhân dân, dung túng tham nhũng tràn lan hoặc bán nước cho CSTQ chẳng hạn. Như vậy trước hết một cách cụ thể trong HP 2013 thì CSVN đã tước bỏ nghĩa đen và bình thường của những ý niệm và từ ngữ nơi nào?
Những ví dụ cụ thể trong hiến pháp này là khi đảng CSVN nói “quân đội nhân dân” hoặc “công an nhân dân”, những từ này đã bị tước đoạt ý nghĩa chân thực của chúng. Các từ có ý nghĩa trái ngược. Trên thực tế các định chế này là quân đội của đảng và công an của đảng. Các định chế này chưa bao giờ thuộc về nhân dân. Chúng là những công cụ để kiểm soát và đàn áp nhân dân.
Trong hiến pháp này, khi đảng CSVN nói “Hội Đồng Nhân Dân”, các hội đồng này thực sự không phải do dân bầu lên bởi vì người dân chỉ được quyền bầu cho những ứng viên được đảng chọn. Nhân dân chưa bao giờ được cơ hội bầu cho ứng viên mình chọn. Những hội đồng này thực sự là những hội đồng của đảng.
Trong hiến pháp này, khi đảng CSVN nói “Tòa Án Tối Cao Nhân Dân” hoặc “Viện Kiểm Sát Tối Cao Nhân Dân”, những định chế này không thật sự tối cao.
Thật ra các định chế này phải là “Tòa Án Thuộc Cấp Nhân Dân” hay “Viện Kiểm Sát Thuộc Cấp Nhân Dân” bỡi vì trên thưc tế các định chế này là những thuộc cấp tuân lệnh của đảng CSVN.
Trong hiến pháp này, khi đảng CSVN nói “quyền làm chủ của nhân dân”, thì điều ngược lại hoàn toàn đúng. Từ này có nghĩa chính xác là “sự nô lệ của nhân dân” bởi vì toàn dân Việt là nô lệ của đảng CSVN, sống dưới một nhà nước công an trị nơi mà nạn khủng bố cấp bậc nhà nước được chính quyền chủ trương trắng trợn.
Trong hiến pháp này, “Mặt Trận Tổ Quốc” không hề liên hệ gì đến tổ quốc của chúng ta như một dân tộc, nhưng hoàn toàn liên hệ đến xã hội chủ nghĩa trong đó, các tín đồ thề thốt sẽ xây dựng chủ nghĩa cộng sản quốc tế trong đó tổ quốc chúng ta sẽ bị hủy diệt.
Dĩ nhiên còn rất nhiều ví dụ khác trong HP 2013 mà bất cứ công dân cá thể nào chịu khó đọc và suy nghĩ cũng có thể nhận diện.
Câu hỏi kế tiếp là, tuy lịch sử chứng minh rằng đảng CSVN có thể nói nôm na là “đứa con quái thai đẻ ngược” của mẹ Việt Nam và bản chất gian dối ngược ngạo thì ai cũng biết. Nhưng tại sao tước bỏ nghĩa đen và bình thường của những từ ngữ lại là tội ác lớn lao nhất trong các tội ác kinh tởm của CSVN?
Muốn hiểu lời luận tội này, chúng ta phải ý thức được vai trò của các nền văn hóa từ Đông sang Tây của nhân loại. Hầu như mất văn hóa là mất tất cả đối với mọi dân tộc trên trái đất.
Trong văn hóa Đông Á truyền thống (trải dài Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật, Đài Loan và Việt Nam), trong các vấn đề trị quốc, một trong những luận đề Nho Giáo, chủ thuyết “chính danh”, đã là cột trụ của cấu trúc chính trị.
Chủ thuyết này lập luận rằng trừ phi ngôn từ (danh tự) phù hợp với thực tại phản ảnh trong nghĩa đen của nó, thì trách nhiệm đúng không thể trao được cho cá nhân có khả năng (định phận), tình trạng hỗn loạn xã hội sẽ xảy ra và lý tưởng Thái Hòa quan trọng sẽ không bao giờ đạt được.
Các nhà Nho cho rằng, cha phải ra cha và hành xử theo trách nhiệm người cha, con phải ra con và hành xử theo trách nhiệm con, và cứ như thế đối với người mẹ, người chồng, người vợ, quan lại, ngay cả hoàng đế và tất cả mọi người. Kết quả thái bình thịnh trị sẽ đến với quốc gia và toàn thiên hạ.
Điều này không phải là chỉ có trong truyền thống Nho Giáo. Trong Thiên Chúa giáo (còn gọi là Cơ Đốc Giáo) đã du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, cũng như thế. Theo Kinh Thánh Tân Ước (John 8:31-32) Đức Chúa Jesus nói:
“Nếu các người tin lời nói của ta, nếu là đệ tử của ta, các người sẽ biết sự thật và sự thật sẽ đem lại tự do cho các người.”
Điều này có nghĩa là lời nói hay từ ngữ phải phản ảnh sự thật trong nghĩa đen của nó, lúc đó chân lý mới thể hiện và đem lại tự do cho con người.
Tiếc thay cho 2 nền văn hóa truyền thống của chúng ta, trật tự thế giới của Lê Nin là phản đề của các truyền thống này.
Chúng ta có thể nghĩ rằng cả Marx lẫn Lê Nin đều không liên hệ đến và cũng không hiểu gì về triết học hoặc chính trị Nho Giáo. Họ chỉ biết rõ các trật tự chính trị và xã hội Do Thái-Cơ Đốc Giáo tại Tây Âu và Đông Âu. Họ khinh bỉ các trật tự này và thề quyết tiêu diệt chúng tận gốc rễ. Như là ảo thuật gia chính trị vĩ đại nhất của thế kỷ 20, Lê Nin bắt đầu hủy diệt khéo léo tất cả mọi bảng giá trị tư sản trưởng giả của các nền dân chủ, mọi giá trị đạo đức Do Thái- Cơ Đốc Giáo và cướp đi những thực chất nội tại của các bản giá trị này.
Khi luận đề Mác- Lê được du nhập vào miền Đông Á, nền văn hóa truyền thống Nho Giáo trở thành mục tiêu của tác động tiêu hủy diệt tương tự.
Những từ và ý niệm nền tảng đã mất đi ý nghĩa chân thực dưới sự cai trị của đảng CSVN và những hậu quả mang tính hủy diệt vô cùng sâu xa. Hậu quả sâu xa không phải chỉ vì hủy diệt cấu trúc chính trị. Sự hủy diệt cấu trúc luân lý của xã hội sâu xa hơn nhiều.
Chúng ta có thể lập luận rằng, cố tình làm hoen ố ý nghĩa chân thực của ngôn từ, như thông thường thể hiện qua các từ ngữ, đã đem lại sự suy thoái không tiền khoáng hâu về xã hội và luân lý trong các xã hội cộng sản, kéo dài hằng thập niên, nếu không muốn nói nhiều thế kỷ sau khi các đảng cộng sản đã cáo chung. Hiến pháp này vi phạm không những các quy luật căn bản luật hiến pháp như thế giới văn minh hiểu, mà còn vi phạm những quy luật luân lý căn bản của xã hội Nho Giáo truyền thống cũng như Thiên Chúa Giáo. Không có gì đáng ngạc nhiên tại sao tiêu chuẩn luân lý Việt Nam bị suy vi cùng cực và tham nhũng tràn lan trong xã hội cũng như chính quyền.
Câu hỏi kế tiếp là tại sao đảng CSVN lại tán tận lương tâm như thế khi soạn thảo một văn kiện nền tảng định hướng cho tương lai của cả dân tộc Việt Nam trong đó bao gồm cả con cháu của họ?
Câu trả lời là:
Trong khi các lãnh đạo chính trị Tây Phương soạn hiến pháp trong bối cảnh dân chủ đa nguyên và trong bối cảnh của nền văn hóa và đạo đức truyền thống Cơ Đốc Giáo của họ thì các đảng CSLX, CSTQ, CS Bắc Hàn và CSVN lại soạn hiến pháp trong bối cảnh độc tài đảng trị và trong bối cảnh nền văn hóa Đông Phương truyền thống bị hoàn toàn hủy diệt, không hề có bất cứ một kim chỉ nam về luân lý hoặc đạo đức nào.
Hầu biểu dương sự quan trọng của khía cạnh luân lý và đạo đức trong chính trị đó, chúng ta có thể nhắc đến một luận đề Nho Giáo khác về việc trị quốc:
Đó là “Thành ý, chính tâm, cách vật, trí tri, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Luận đề trên giả định rằng các giá trị luân lý (thành ý, chính tâm) là những điều kiện tiên quyết tuyệt đối cho trí tuệ chân chính (cách vật, trí tri). Qua trí tuệ chân chính con người có thể sửa chữa nhân cách và đời sống gia đình (tu thân và tề gia). Sau khi tất cả những giai đoạn trước đó đã đạt được, con người mới có thể tham gia chính trị hầu phục vụ cho nhân dân (trị quốc, bình thiên hạ).
Luận đề này chứng minh rằng dưới nền văn hóa Đông Á, không có lằn ranh phân biệt, thay vì đó, có sự tương tùy, giữa các bảng giá trị luân lý, trí tuệ, bản thân và chính trị.
Bỡi vì thế, khi Lê Nin và nhóm tín đồ khởi công hủy diệt trật tự chính trị truyền thống Tây phương tại Liên Bang Xô Viết, và truyền thống Đông Á tại Trung Hoa, Bắc Hàn và Việt Nam, họ bắt buộc phải hủy diệt luôn cả các cấu trúc luân lý, trí tuệ và bản thân con người, trong cùng một cơn cuồng say ý thức hệ.
Hậu quả là, lạm quyền, hối lộ, tham nhũng, bất công xã hội, băng hoại đạo đức tràn lan và vô phương cứu chữa, trong tất cả các quốc gia do độc tài cộng sản cai trị.
Xét theo chủ thuyết vừa nêu trên của Nho Gia, các lãnh đạo CSVN đã không khởi đầu tiến trình soạn hiến pháp 2013 với thành ý và chính tâm. Vì thế kết quả của sự thiếu thành ý và chính tâm này là một bản HP 2013 đem lại vô vàn tai họa cho dân tộc.
Trong tình huống như thế chúng ta phải làm gì?
Nhân danh những công dân Viêt Nam tự do, chúng ta phải ý thức được tầm mức quan trọng đích thực của tội ác này và hạ quyết tâm phục hồi cho ngôn ngữ sử dụng trong hiến pháp dân chủ tương lai, thực chất và sự tôn nghiêm của ngôn ngữ. Chúng ta sẽ bảo đảm rằng ngôn ngữ sử dụng sẽ thể hiện ý nghĩa chân thực, như đã thể hiện trong hai nền văn hóa truyền thống Đông Tây, hầu tái tạo niềm tin trong xã hội, không những chỉ trên phương diện chính trị, nhưng căn bản hơn nữa, trong cấu trúc nội tâm văn hóa và đạo đức của toàn dân.
TÀI SẢN MỀM CỦA VIỆT NAM – T.S Alan Phan
T.S Alan Phan
Khi tôi còn làm cho hãng Eisenberg và Hartcourt vào những năm đầu mở cửa của Trung Quốc (1975-1990), chúng tôi được tiếp đón nồng hậu và được mời đầu tư vào những công ty mà chánh phủ TQ cho là “hòn ngọc” giá trị nhất của họ. Đó là những đại công ty có nhà máy lớn như một sân vận động, hàng chục ngàn nhân công, cơ sở văn phòng bề thế…tọa lạc phần lớn tại các vùng khỉ ho gà gáy (kế hoạch tránh các phi vụ ném bom trong chiến tranh). Những doanh nghiệp nhà nước này mang rất nhiều tính chất xã hội và quản lý theo kiểu “cha chung”…nên thua lỗ thường trực.
Trước 1990, không mấy ai trên thế giới suy nghĩ nhiều về tài sản “mềm”, mà đo lường sự thịnh vượng thành công của 1 công ty hay 1 con người qua các đồ chơi sờ mó được như bất động sản, khoáng sản, thực phẩm, xe cộ, điện máy…
Giá trị của tài sản mềm
Do đó, khi Hartcourt đem tiền đầu tư chuyên vào các công ty IT hay truyền thông, nhiều tư vấn TQ cho chúng tôi ngu, đem tiền đi đổ sông Ngô. Ngay đến hôm nay, phần lớn doanh nhân Việt vẫn không nhận ra giá trị mềm của công ty họ. Khi họ chào bán hay mời mọc, họ vẫn khoe nhiều về nhà máy hoành tráng, bao nhiêu hectares đất bao quanh, văn phòng tráng lệ ngay tại trung tâm thành phố và chiếc xe Rolls Royce họ đang lái…
Tôi có đến thăm tập đoàn Foxconn ờ Shenzen hai năm về trước. Nhà máy hiện đại với hơn 30 ngàn nhân công, hệ thống dây chuyền sản xuất và các phòng “sạch” (clean room) vĩ đại trông rất ấn tượng. Sản phẩm lớn nhất họ gia công là các Iphone, Ipad, Ipod cho Apple. Trong khi Apple làm chủ bản quyền trí tuệ và thương hiệu nên kiếm lời khoảng $140 USD mỗi đơn vị Iphone, lợi nhuận của Foxconn khoảng $7 một chiếc.
Hãng Nike có thương vụ lớn nhất toàn cầu về giầy dép và trang phục thể thao. Họ không sở hữu bất kỳ nhà máy nào trên thế giới. Tài sản quý giá nhất là thương hiệu đã xây dựng suốt 50 năm qua và những trung tâm thiết kế và các phòng thí nghiệm hiện đại nhất về công nghệ và sản phẩm. Những công ty có thị giá cao nhất trên thế giới đều là những công ty mà giá trị mềm vượt trội: Google, Microsoft, Facebook, Pfizer, Oracle, IBM…Không một công ty bất động sản nào nằm trong Top 100 (100 công ty hàng đầu).
Tài sản mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai.
Nhìn lại Việt Nam, liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu? Hãy kiểm điểm.
- Tài sản con người
Hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ nhân lực là sáng tạo và năng động. Đây là phạm trù của tuổi trẻ và Việt nam thường hãnh diện với một dân số mà 65% dưới 30 tuổi, trên 50 triệu người. Thêm vào đó, học sinh sinh viên Việt Nam thường tỏa sáng trên các trường trung đại học khắp thế giới. Cộng với giới trẻ trong nước, Việt Nam có 3.8 triệu kiều bào có kinh nghiệm nghề nghiệp cao, 32% tốt nghiệp đại học. Nói chung so với 9 quốc gia còn lại trong khối ASEAN, Việt Nam dẫn đầu về tiềm lực của nhân tài, trên cả Indonesia với gần 250 triệu dân.
Tuy nhiên, sự yếu kém của nền giáo dục lý thuyết từ chương đã làm què quặt tiềm năng này. Công ty Intel đã không tìm ra đủ 180 nhân viên trung cấp cho nhà máy 1 tỷ đô la của họ ở Thủ Đức và phải nhập khẩu một số lớn chuyên viên từ Malaysia và Phi Luật Tân. Các công ty FDI khác tại Việt Nam đều có những than phiền tương tự.
Thêm vào đó, tư duy sao chép nguyên bản các tư tưởng truyền thống, các công thức khoa học lỗi thời và chánh sách dùng người lấy ngoan ngõan làm chỉ tiêu… đã gây thui chột mọi sáng kiến, mọi đổi mới, mọi tiến bộ. Dù có số lượng giáo sư tiến sĩ cao nhất ASEAN (gần 10 ngàn người), Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế nộp tại Âu Mỹ trong 6 năm qua. Năm 2011, trong khi Singapore với 5 triệu dân đăng ký 648 bằng sáng chế, con số từ Việt Nam là zero cho 90 triệu dân.
- Thương hiệu quốc gia
Nhờ vai trò lịch sử trong 2 cuộc chiến tranh Pháp-Mỹ, Việt Nam đã có tiềm năng để nổi tiếng và tạo thiện cảm với nhân dân thế giới. Tuy nhiên sau 37 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, hình ảnh Việt Nam đã mờ dần trong trí nhớ của những thế hệ trẻ sau này. Sự thiếu vắng những thành quả ấn tượng trên mọi lãnh vực từ kinh tế đến khoa học, từ nghệ thuật đến thể thao đã bào mòn thương hiệu Việt Nam.
Nhật Bản phải mất gần 40 năm mới tạo dựng cho Made In Japan một thương hiệu đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm và sáng tạo. Trung Quốc cố gắng tạo một thương hiệu quốc gia suốt 35 năm qua. Cho đến nay, kết quả ngược lại với mong ước, các thực phẩm, hóa phẩm Made in China bị tẩy chay trên mọi thị trường, ngay cả tại chính quốc gia họ. Các sản phẩm tiêu dùng khác của TQ đồng nghĩa với giá rẻ và biểu hiện của hàng nhái, hàng giả, hàng dởm…
Một may mắn cho Việt Nam là dù nằm cạnh Trung Quốc và mang nhiều tính chất kinh doanh cẩu thả tương tự, sản phẩm Việt Nam vẫn chưa bị bôi đen trên thế giới. Tuy nhiên, nếu tiếp tục copy ông láng giềng về quản lý chất lượng, thương hiệu chúng ta sẽ là một gánh nặng đè trên giá cả, thay vì hưởng một mức giá cao hơn (premium) như Nhật Bản.
- Vị thế trên thị trường
Mọi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp đều có thể tạo cho mình một thế mạnh trong các thị trường ngách, mà không cần đến các yếu tố cạnh tranh trên. Thí dụ, Thụy Sĩ hay Singapore không có một nền tài chánh lớn mạnh như Mỹ, Anh… cũng không có đội ngũ hay công nghệ gì sáng tạo hơn; nhưng họ biết biến quốc gia nhỏ bé của họ thành một trung tâm tài chánh thế giới qua chánh sách mở rộng mà kín đáo, hiệu năng và minh bạch.
Việt Nam có thể tìm một lợi thế cạnh tranh theo phương thức trên. Dù công nghiệp Việt không thể sánh với Trung Quốc trên rất nhiều phương diện, nhưng các nhà sản xuất Hàn, Nhật đã đầu tư nhiều vào Việt Nam để tránh rủi ro khi bỏ tất cả trứng vào cái giỏ Trung Quốc. Về du lịch, dù không thể cạnh tranh với Thái Lan hay ngay cả xứ nhỏ như Singapore và Mã Lai, Việt Nam có thể đào sâu vào một chiến lược đặc trưng như sinh thái hay thám hiểm hay hưu trí để tạo thị trường.
Hai ngành nghề tôi tin là Việt Nam có thể dẫn đầu tại ASEAN nếu biết phát triển đồng bộ và sáng tạo. Thứ nhất là nông nghiệp công nghệ cao. Tạo ra những sản phẩm xanh, sạch, an toàn được đảm bảo bởi những cơ quan kiểm phẩm nổi danh thế giới là bước đầu. Việc giáo dục huấn luyện cho các nông dân những công nghệ mới, những quy trình dùng IT để điều hòa và tiếp liệu, sử dụng đội ngũ tiếp thị trẻ và bén nhậy từ thành phố có thể tạo nên một làn sóng thay đổi bộ mặt của nông thủy sản Việt Nam. Người tiêu dùng tại các nước Á Châu, nhất là tại các nơi có thu nhập cao như Hồng Kông, Nhật, Singapore…đang có nhu cầu rất lớn về an toàn thực phẩm.
Thứ hai là ngành IT (công nghệ thông tin) tại các thành phố lớn bao quanh bởi các đại học tiến bộ và hiện đại. Giáo trình học phải thay đổi và các trung tâm IT phải có những cơ sở hạ tầng tối tân nhất để giúp tính sáng tạo của đội ngũ phát huy đúng mức. Trên hết, luật về bản quyền trí tuệ phải được thắt chặt và nghiêm túc thực thi trên mọi cấp bực của thị trường.
- Văn hóa gia đình và xã hội
Người Việt Nam có một gắn bó thân tình chặt chẽ với gia đình, làng xóm và đất nước, nên sự đùm bọc và tiếp sức tạo một thế đoàn kết mạnh hơn chủ nghĩa cá nhân của Âu Mỹ. Nhưng đây cũng có thể là một bất lợi vì tầm nhìn bị giới hạn, tâm lý bầy đàn rất cao và quá gần nhau thì cũng dễ gây ra xích mích mâu thuẫn. Một mặt khác, liên hệ với tha nhân ngoài xã hội lớn đang bị tha hóa và xuống cấp trầm trọng, tinh thần công dân trở nên tệ hại với những vấn nạn về tham lam, vô cảm, thói gây ô nhiễm và tư duy ích kỷ.
Nói tóm lại, cơ hội để tạo dựng những tài sản mềm cho Việt Nam hiện diện trên nhiều lãnh vực và tiềm năng của các tài sản này có thể là cú hích đưa kinh tế Việt bắt kịp các láng giềng giàu ở ASEAN trong 1 hay 2 thập kỷ sắp đến. Ba đòi hỏi quan trọng nhất trong quy trình đột phá này:
- Tư duy của đại đa số người dân phải thay đổi để hiểu rằng cái giá phải trả cho sự thịnh vương tương lai là can đảm vất bỏ ngay lập tức những thói quen tai hại, những tư tưởng lỗi thời và những định kiến sai lầm về kinh tế, xã hội và văn hóa. Một cuộc đổi mới toàn diện từ trí tuệ của trí thức, nông nhân công, trẻ già, giàu nghèo là ưu tiên số một.
- Thành phần ưu tú và đang được hưởng thụ những thành quả từ sự thay đổi cơ chế phải nắm lấy cơ hội để tạo cho doanh nghiệp mình đang làm chủ hay làm công lĩnh hội được những kiến thức, công nghệ hiện đại, những kỹ cương đạo đức dài hạn, những sáng tạo đột phá trên thị trường và phải bắt đầu xây dựng thương hiệu bền vững.
- Chánh phủ nên tránh mọi can thiệp vào vận hành kinh tế của tư nhân, hãy tin vào khả năng kinh doanh của người dân, Họ dư sức đưa nền kinh tế này vào quỹ đạo của các nước tiến bộ và qua mặt những đối thủ cạnh tranh tại ASEAN cũng như toàn cầu. Hãy cởi trói cho họ để họ tự lực cánh sinh và đừng áp đặt thêm những gánh nặng không cần thiết qua chánh sách thuế khóa công bằng và thủ tục hành chánh đơn giản minh bạch.
Như Milon Friedman đã nhận xét, “Qua bao nhiêu thời đại với nhiều thể chế kinh tế, không có một hệ thống xã hội nào có thể cải thiện mức sống của người dân nhanh chóng bằng hệ thống tự do để mặc cho người dân tự tỏa sáng sự sáng tạo và lao động của họ”.
– T.S Alan Phan –
Trích từ sách Góc nhìn Alan về xã hội (Thuộc Bộ di sản Alan Phan)









