Truyền thông nhà nước Việt Nam kiểm duyệt phát biểu của TT Biden về nhân quyền

Theo VOA tiếng Việt

 

Tổng thống Mỹ Joe Biden tổ chức họp báo tại Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2023.

Bản dịch phát biểu của Tổng Thống Biden bị truyền thông lề phải cắt xén và xào sáo lại câu nói “Tôi cũng đã nêu lên tầm quan trọng của việc tôn trọng nhân quyền là ưu tiên hàng đầu của cả chính quyền của tôi và người dân Mỹ” thành câu : ” Tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trong của việc tôn trọng quyền con người. “

 

Các cơ quan truyền thông do nhà nước kiểm soát của Việt Nam cắt cụt phát biểu của Tổng thống Mỹ Joe Biden về vấn đề nhân quyền của nước này trong những phiên bản được gọi là “toàn văn phát biểu” của ông sau cuộc hội đàm với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng về việc nâng cấp quan hệ hôm 10 tháng 9.

Khảo sát những video thời sự có phần dịch lồng tiếng, được phát sóng trên các đài truyền hình nhà nước, cùng bài đăng trên một số website báo mạng khác cho thấy phát biểu vốn đã ngắn ngủi của tổng thống Mỹ, được đưa ra sau cuộc họp với nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, đã bị cắt bỏ chỉ chừa lại một vế.

Phát biểu của ông Biden về nhân quyền, theo bản ghi do Nhà Trắng công bố và theo video thu trực tiếp tại hiện trường, nói:

“Tôi cũng đã nêu lên tầm quan trọng của việc tôn trọng nhân quyền là ưu tiên hàng đầu của cả chính quyền của tôi và người dân Mỹ. Và chúng tôi sẽ tiếp tục đối thoại thẳng thắn về vấn đề đó.”

Trong khi đó, phiên bản được sử dụng trên truyền thông nhà nước Việt Nam chỉ nói: “Tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng quyền con người.”

Nhân quyền là một trong những vấn đề gai góc nhất trong quan hệ giữa hai nước và Việt Nam luôn tỏ ra nhạy cảm về những chỉ trích mà họ cho là thiếu khách quan.

Các tổ chức theo dõi nhân quyền nhận định nhà chức trách Việt Nam trong những năm qua đã tăng cường trấn áp xã hội dân sự, nhắm mục tiêu không chỉ vào những người bất đồng chính kiến mà còn mở rộng sang những người vận động vì môi trường.

Nhiều cá nhân và tổ chức trước đó đã hối thúc ông Biden mạnh mẽ lên tiếng về thành tích nhân quyền của Hà Nội khi ông hội đàm với các nhà lãnh đạo nước này. Một số nhà lập pháp Mỹ nói với VOA sẽ là một sai lầm nếu nâng cấp quan hệ mà không có sự cải thiện về nhân quyền.

Dân biểu Michelle Steel (trái) thuộc Đảng Cộng hòa và Dân biểu Zoe Lofgren thuộc Đảng Dân chủ nói với VOA rằng Tổng thống Joe Biden cần phải lên tiếng với các nhà lãnh đạo Việt Nam về vấn đề nhân quyền khi ông đến thăm nước này.

Dân biểu Mỹ: ‘Sai lầm’ nếu nâng cấp quan hệ mà Việt Nam không cải thiện nhân quyền

Việt Nam luôn bác bỏ những cáo buộc vi phạm nhân quyền, nói rằng họ chỉ bắt giữ những người vi phạm pháp luật Việt Nam. Các quan chức Mỹ thì nói rằng họ có nêu lên những quan ngại với phía Việt Nam nhưng làm điều đó một cách kín đáo và tế nhị.

Trong cuộc họp báo vào cuối ngày 10 tháng 9, ông Biden khẳng định ông không đặt “bất cứ thứ gì” lên trước nhân quyền.

Thông cáo của Nhà Trắng về việc Mỹ và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện đề cập tới nhiều vấn đề, trong đó có tầm quan trọng của nhân quyền.

Thông cáo nói rằng Tổng thống Biden “nhấn mạnh tính phổ quát của nhân quyền và tầm quan trọng của sự hợp tác song phương nhằm thúc đẩy nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, bao gồm quyền tự do ngôn luận, lập hội, hội họp ôn hòa, tôn giáo hay tín ngưỡng, trong và ngoài nước.”


 

Tổng kết tin tức Nhân Quyền trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Biden

Tổng hợp báo chí quốc tế

Đêm Chủ Nhật 10-9-2023, ký giả Jeremy Diamond của CNN đã hỏi ông Tổng Thống về việc liệu ông có đang “đặt lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ lên trên quan tâm về nhân quyền hay không”.

Diamond đã thảo luận về cuộc trao đổi trên CNN ngay sau đó.

“Việt Nam nói riêng có thành tích tồi tệ vì liên quan đến bất kỳ bất đồng chính kiến nào. Họ là nơi giam giữ số lượng các nhà báo lớn thứ ba trên thế giới. Và tổng thống nói, tôi không hề đặt bất cứ điều gì lên trên nhân quyền. Và nói tiếp  rằng ông ấy đã nêu vấn đề nhân quyền với mọi nhà lãnh đạo mà ông từng gặp, kể cả hôm nay với tổng bí thư Việt Nam,” Diamond nói trên CNN.

Ở mỗi lượt đi đến từng nước chung quanh khu vực có tranh chấp với Trung Cộng, sự khuyến khích, dẫn dụ của Biden và chính sách ngoại giao kiên định của đội quân ngoại giao của ông đã đảm bảo mối quan hệ ngoại giao, quân sự và kinh tế mạnh mẽ hơn với một mạng lưới các đồng minh và đối tác tham gia nếu không phải bởi cảm giác cảnh giác rõ ràng về tư thế kinh tế và quân sự ngày càng hung hãn của Trung Quốc, thì ít nhất cũng bởi một cảm giác thận trọng và lo lắng ngày càng tăng.

Đối với Việt Nam, theo các quan chức Mỹ quen thuộc với vấn đề này, trang mới nhất trong vở kịch Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ sẽ đến từ việc thiết lập “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” giúp Hoa Kỳ ngang hàng với các đối tác cấp cao nhất của Việt Nam, bao gồm cả Trung Quốc. “Nó đánh dấu một giai đoạn tái định hướng cơ bản mới giữa Hoa Kỳ và Việt Nam,” … Quan chức này tiếp tục: “Mọi chuyện sẽ không dễ dàng đối với Việt Nam vì họ đang chịu áp lực rất lớn từ Trung Quốc”. “Chúng tôi nhận thức được mối nguy hiểm và Tổng thống sẽ rất cẩn thận trong cách giao tiếp với những người bạn Việt Nam.”

Mạng lưới quan hệ đối tác ngày càng chặt chẽ của Mỹ trong khu vực chỉ là một mặt trong chiến lược ngoại giao của Mỹ đối với Trung Quốc. Ở một khía cạnh khác, chính quyền Biden cũng đã theo đuổi mối quan hệ ổn định hơn và cải thiện liên lạc với Bắc Kinh trong năm qua, với việc hàng loạt thư ký nội các hàng đầu đã thực hiện chuyến đi tới thủ đô Trung Quốc chỉ trong vài tháng qua.

Phần sau của vở kịch đó cho đến nay mang lại ít kết quả hơn so với những lời cầu xin của Biden với các nước láng giềng cảnh giác của Trung Quốc, một sự phân đôi được thể hiện rõ ràng khi Biden tham dự G20 ở New Delhi, trong khi nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình thì không.

US President Joe Biden attends the G20 summit in New Delhi on September 9, 2023 - Evelyn Hockstein/AFP/Getty Images

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 ở New Delhi vào ngày 9 tháng 9 năm 2023 – Evelyn Hockstein/AFP/Getty Images© Được cung cấp bởi CNN

Tổng thống tỏ ra không quá lo lắng khi được hỏi hôm thứ Bảy về sự vắng mặt của người đồng cấp Trung Quốc tại hội nghị thượng đỉnh.

“Thật vui khi có ông ấy ở đây,” Biden nói, khi có ông Modi và một số nhà lãnh đạo thế giới khác ở bên cạnh. “Nhưng không, hội nghị thượng đỉnh đang diễn ra tốt đẹp.”

Khi Biden và Tập tranh giành ảnh hưởng ở châu Á và xa hơn nữa, việc chỉ xuất hiện có thể được coi là một trò chơi quyền lực và Biden đã tìm cách tận dụng tối đa sự vắng mặt của Tập, nắm bắt cơ hội để đưa ra cam kết bền vững của Hoa Kỳ đối với cả khu vực và đối với các quốc gia đang phát triển trên thế giới.

Ở Việt Nam, không chỉ Trung Quốc mới có ảnh hưởng mà Biden đang cạnh tranh. Khi ông đến, có tin cho rằng Hà Nội đang chuẩn bị bí mật mua vũ khí từ Nga, nhà cung cấp vũ khí lâu năm cho Hà Nội.

Một quan chức chính quyền cấp cao cho biết hôm thứ Hai, Biden có kế hoạch công bố các bước giúp Việt Nam đa dạng hóa, thoát khỏi sự phụ thuộc quá mức vào vũ khí của Nga.

Khi nền kinh tế Trung Quốc chậm lại và nhà lãnh đạo nước này tăng cường các hoạt động gây hấn quân sự, Biden hy vọng sẽ khiến Hoa Kỳ trở thành một đối tác hấp dẫn và đáng tin cậy hơn. Tại New Delhi, ông đã làm như vậy bằng cách đưa ra các đề xuất nhằm thúc đẩy các chương trình phát triển và cơ sở hạ tầng toàn cầu như một đối trọng với Trung Quốc.

Bắc Kinh và Moscow đều lên án cái gọi là “tâm lý Chiến tranh Lạnh” chia thế giới thành các khối. Nhà Trắng khẳng định họ chỉ tìm kiếm sự cạnh tranh chứ không phải xung đột. Biden nói với các phóng viên hôm Chủ Nhật rằng ông “chân thành” về việc cải thiện mối quan hệ của Hoa Kỳ với Trung Quốc.

“Tôi không muốn kiềm chế Trung Quốc, tôi chỉ muốn đảm bảo rằng chúng tôi có mối quan hệ đang phát triển và bình đẳng với Trung Quốc và mọi người đều biết nó là gì,” Biden nói. “Chúng ta có cơ hội tăng cường liên minh trên toàn thế giới để duy trì sự ổn định. Đó chính là mục đích của chuyến đi này, giúp Ấn Độ hợp tác nhiều hơn với Hoa Kỳ, gần gũi hơn với Hoa Kỳ, Việt Nam gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Đó không phải là việc kiềm chế Trung Quốc. Đó là về việc có một căn cứ ổn định – một căn cứ ổn định ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.”

Tuy nhiên, mong muốn kéo các quốc gia vào cuộc đã là điều hiển nhiên.

Thời Báo Nữu Ước nhận xét:

Ông Biden sẽ gặp Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, trước sự phản đối của các nhà hoạt động nhân quyền cho rằng cam kết được tuyên bố của chính phủ Hoa Kỳ trong việc thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài đã bị gạt sang một bên để ủng hộ củng cố sự thống trị của Mỹ trong khu vực.

Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia độc tài nhất ở Đông Nam Á, và chính phủ của ông Trọng đã tiến hành một cuộc đàn áp đặc biệt gay gắt đối với những người bất đồng chính kiến và hoạt động trong những năm gần đây.

Ben Swanton, đồng giám đốc của Dự án 88, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Hoa Kỳ tập trung vào các vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, cho biết mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trùng hợp với sự gia tăng đáng kể các hành vi vi phạm nhân quyền của nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức của họ. công dân của chính mình.

Ông Swanton nói trong một tuyên bố: “Thật phẫn nộ khi Tổng thống Biden chọn nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào thời điểm mà nhà nước độc đảng đang tiến hành đàn áp tàn bạo đối với các hoạt động, bất đồng chính kiến và xã hội dân sự”. “Bất chấp những lời hoa mỹ cao cả về việc thúc đẩy một ‘trật tự quốc tế dựa trên luật lệ’ và bảo vệ tự do, Biden một lần nữa lại thân thiện với những kẻ chuyên quyền có hồ sơ nhân quyền tàn bạo.”

Tin Tức của Hãng thông tấn Reuters

QUYỀN CON NGƯỜI

Hoa Kỳ cho biết hai nước có “cam kết tăng cường” trong việc thảo luận về nhân quyền, dựa trên Đối thoại Nhân quyền Mỹ-Việt đã diễn ra hàng thập kỷ, một cuộc họp thường niên.

Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc gần đây chỉ trích việc Việt Nam giam giữ các thành viên của một nhóm môi trường là một phần trong xu hướng rộng rãi hơn của chính quyền Việt Nam nhằm (bóp chặt) quyền tự do ngôn luận.

CÂU CÁ BẤT HỢP PHÁP

Nhà Trắng cho biết Hoa Kỳ đang giúp “xây dựng năng lực cho Việt Nam chống lại tội phạm xuyên quốc gia trong khu vực và quốc tế”, bao gồm cả “đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định”.

Báo Bưu Điện Hoa Thịnh Đốn phê bình 

Có 193 nhà hoạt động đang bị cầm tù ở Việt Nam. Điều này không bao gồm những người bị buộc phải lưu vong hoặc bị buộc phải im lặng.

Nhiều người trong tù bị buộc tội với những điều khoản mơ hồ trong bộ luật hình sự , chẳng hạn như Điều 117 hình sự hóa việc “làm, tàng trữ, phổ biến hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, sản phẩm nhằm chống Nhà nước” hoặc Điều 331, trong đó cấm “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước.” Ví dụ, tác giả và nhà báo Việt Nam Phạm Đoan Trang,người năm ngoái đã nhận được Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm Quốc tế của Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đang thụ án 9 năm tù vì bị cáo buộc tuyên truyền chống lại nhà nước. Khi ở Hà Nội, ông Biden phải nói với cai ngục: Hãy để cô ấy đi cùng với tất cả các tù nhân chính trị khác.

Cuộc đàn áp cũng dẫn đến việc giải thể các nhóm môi trường, nhà xuất bản độc lập, hiệp hội các nhà báo độc lập trong nước và một tổ chức chống tham nhũng phi chính phủ. Những người không có lịch sử hoạt động có tổ chức nhưng đang sử dụng mạng xã hội để lên tiếng bất bình về tham nhũng, kiểm soát đại dịch và lạm dụng tài nguyên công cũng đang phải đối mặt với việc bị truy tố. Các biện pháp kiểm soát đối với xã hội dân sự đã trở nên nghiêm ngặt hơn, bao gồm các hạn chế đối với học thuật và hội nghị quốc tế, tăng cường giám sát các tổ chức trong nước dựa vào nguồn tài trợ nước ngoài và kiểm duyệt truyền thông xã hội. Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ đã phát hiện“vi phạm tự do tôn giáo một cách có hệ thống, đang diễn ra và nghiêm trọng” ở Việt Nam và đã kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ chỉ định nước này là “quốc gia cần đặc biệt quan tâm” theo Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998.

Như các tổng thống khác đã làm, ông Biden chắc chắn sẽ thể hiện sự tôn trọng đối với hệ thống chính trị khác biệt của Việt Nam. Nhưng ông cũng nên nói sự thật với các nhà lãnh đạo Việt Nam: Không một nhà cai trị hay hệ thống nào trở nên mạnh mẽ hơn khi nó hủy hoại các quyền và phẩm giá của chính người dân mình.

Báo Bưu Điện Hoa Thịnh Đốn đã viết ở mục bình luận, …Những người ủng hộ nhân quyền rất kinh ngạc khi biết rằng tổng thống Hoa Kỳ đang thân thiện với một chế độ có thành tích nhân quyền “ vẫn còn tồi tệ ở hầu hết mọi lĩnh vực ”, như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã đưa ra. Xét cho cùng, Việt Nam là một quốc gia Cộng sản độc đảng đang giam giữ gần 200 tù nhân chính trị và hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do cơ bản.

Thành tích nhân quyền tồi tệ của đất nước này sẽ không gây rắc rối cho Tổng thống Donald Trump một chút nào. Là một nhà độc tài mới chớm nở theo đúng nghĩa của mình, ông đã đón nhận những kẻ độc tài tồi tệ nhất thế giới một cách không hối lỗi và không có gì ngoài sự khinh thường đối với các đồng minh dân chủ của Mỹ. Đó là một vấn đề lớn hơn đối với Biden, bởi vì, như tiêu đề của tờ New York Times đã lưu ý vào năm ngoái , “Biden đặt việc bảo vệ nền dân chủ vào trung tâm chương trình nghị sự, trong và ngoài nước”.

Biden đã gọi cuộc đấu tranh để cứu nền dân chủ là “ thách thức rõ ràng của thời đại chúng ta ” và ông đã triệu tập hai Hội nghị thượng đỉnh vì dân chủ để nhấn mạnh cam kết của mình. Đầu năm nay, ông đã công bố tài trợ 690 triệu USD cho Sáng kiến ​​Đổi mới Dân chủ của Tổng thống , một loạt các biện pháp bao gồm thúc đẩy truyền thông độc lập ở nước ngoài và bảo vệ quyền LGBTQ+ trong nước.

Vì vậy, khi Biden vui vẻ ra tay Thái tử Ả Rập Saudi Mohammed bin Salman , Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và bây giờ là Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ít nhất ông ta cũng đã mở màn cho các cáo buộc đạo đức giả một cung cách mà Trump đã hề có.

Học giả Larry Diamond của Đại học Stanford , một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về dân chủ, nói với tôi: “Giống như hầu hết các tổng thống trước đây, hiệu quả chính sách đối ngoại của Biden đã không đáp ứng được những lời hứa của ông ấy trên mặt trận này” . “Thật hợp lý khi mong đợi một số sự rút lui về phía ‘chủ nghĩa hiện thực’ trong mỗi nhiệm kỳ tổng thống. Nhưng sự khác biệt đã trở nên rõ ràng trong nhiệm kỳ tổng thống này.”

Diamond chỉ ra rằng Biden vẫn chưa xây dựng một chiến lược toàn diện để giải quyết “cuộc suy thoái dân chủ” của thế giới. (Freedom House báo cáo rằng tự do trên khắp thế giới đã bị suy giảm trong 17 năm qua )… Đối với các Hội nghị thượng đỉnh vì Dân chủ, ông Max Boot tác giả bài bình luận đã chế giễu: “Chúng hữu ích về mặt biểu tượng, nhưng thật khó để xác định bất cứ điều gì cụ thể từ chúng”.

Nhận xét của Phan Sinh – Kẻ đi tìm 

  • Vì quá mong muốn gia tăng quan hệ với Việt Nam nhằm có thêm đối tác chống lại ảnh hưởng bạch tuộc của Trung Cộng vốn đang tung hoành ở Biển Đông, với các hoạt động cào cá, cấm cá, cấm đi lại, cấm khai thác dầu trong thềm lục địa nước sở tại, cấm tiếp tế cho trạm quân trên đảo thuộc nước Phi Luật Tân, đe dọa xâm lăng trực tiếp Đài Loan. Chính quyền tổng thống Biden đang xem nhân quyền là ưu tiên thứ hai trong các quan hệ đối ngoại.
  • Không có sự gia tăng áp lực đáng kể đối với VN một nước đàn áp bất đồng chính kiến, vi phạm nhân quyền thuộc loại quốc gia áp chế, bỏ tù nghặt nghèo nhất Đông Nam Á và thứ ba trên toàn cầu.
  • Không có cây gậy đi liền với củ cà rốt trong chính sách ngoại giao đối với Việt Nam của hành pháp Biden, trong khi Cộng Sản Việt Nam rất cần đến ngoại tệ và đang có hàng hóa xuất cảng qua Hoa Kỳ lên đến gần 100 tỷ đô la thì Biden lại không có một điều kiện nhân quyền đủ mạnh để áp lực Việt Nam phải tôn trọng những gì đã ký kết, không được bỏ tù các nhà bất đồng chính kiến, các nhà bảo vệ môi trường. Tại sao Biden lại tự khóa tay, khóa miệng mình bất chấp các yêu cầu của các tổ chức, dân biểu quốc hội và tổ chức theo dõi nhân quyền Mỹ?
  • Đây có phải là yếu kém ngoại giao thường thấy của các tổng thống thuộc đảng Dân Chủ? Vì cớ gì một quốc gia nhỏ bé và rất cần Mỹ như VN lại ngang nhiên vượt qua điều kiện nhân quyền, bỏ tù mọi đối lập, xóa bỏ mọi góp ý phản biện của dân cho dù  VN đã ký kết chấp nhận điều kiện nhân quyền  khi họ  tham gia WTO, tổ chức mậu dịch thế giới và tham gia Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Trong bối cảnh đó VN lại không bị Mỹ áp lực và trừng phạt nên cứ tha hồ mà tung hoành.

 

NGÀY TANG YÊN BÁI – Đằng Phương

NGÀY TANG YÊN BÁI

(Kính tặng hương hồn những liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái)

*Đằng Phương

-Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Trong bình minh sương lạnh phủ âm thầm.

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt.

Toan lay tỉnh cả toàn dân nước Việt!

Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than.

Từ lưng trời, sương trắng rủ màn tang.

Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ

Trên Yên Báy âu sầu và lặng lẽ,

Giữa mấy hàng gươm súng toả hào quang,

Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang

Thong thả tiến đến trước đài Danh Dự:

Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ,

Vài cụ già đầu bạc lệ tràn rơi

Ngất người sau tiếng rú: Ối con ơi!

Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn

Trên khoé mắt đã từng khinh đau đớn

Của những trang anh kiệt sắp lìa đời,

Nhưng chỉ trong giây phút vẻ tươi cười

Lại xuất hiện trên mặt người quắc thước.

Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước,

Tình thân yêu quyến thuộc phải xem thường,

Éo le thay! muốn phụng sự quê hương

Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến.

Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến.

Sau cái nhìn chào non nước bi ai,

Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng.

“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng,

“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên.

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc,

Sau Đức Chính, đây là phiên Thái Học,

Anh nghiêng mình trước xác những anh em,

Rồi mĩm cười, Anh ngảnh mặt nhìn xem

Những kẻ đến quan chiêm đoàn liệt sĩ

Để từ biệt những bạn đồng tâm chí.

Tiếng tung hô bổng nổi, vang trời cao,

Nhưng liền theo Anh đã bị xô vào

Chiếc gươm máy giăng tay chào, lặng lẽ.

Đao xuống, đầu rơi, máu đào tung toé.

Người anh hùng nước Việt thôi còn đâu!

Lũ thực dân giám sát đứng nhìn nhau

Như trút sạch hết những đìều lo ngại

Và xoa tay chúng thở dài khoan khoái,

Trong rừng người ứa lệ, Nguyễn Thị Giang

Nén nỗi đau như cắt xé can tràng

Đứng ngơ ngác lặng người bên Hữu Cảnh.

Trong nắng sớm, gió căm hờn quát mạnh

Như thề cùng những tử sĩ anh linh

Vang dội cùng trên đất Việt điêu linh

Những tiếng thét uy hùng vì giống Việt.

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Như tan trong gió mạnh khóc vang rầm

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Cố lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Thân anh hùng đã nát dưới ngàn cây

Nhưng tiếng hô còn phảng phất đâu đây,

Mười lăm năm sau ngày sầu Yên Báy,

Toàn thể giống Tiên Rồng cùng đứng dậy,

Cố đuổi loài tham bạo khỏi non sông,

Hơn hai năm đất Việt máu pha hồng

Mà chiến sĩ vẫn một lòng cương quyết

Thề tranh đấu đến khi nào nước Việt

Được hoàn toàn độc lập mới ngừng tay.

Thế là dòng máu vọt dưới trời mây

Một buổi sáng mười lăm năm về trước

Đã vẽ được cảnh anh hùng nguyện ước.

Đưa non sông ra khỏi chốn u trầm

Cả toàn dân nước Việt đến muôn năm

Vẫn ghi tạc trong tâm ngày hôm ấy,

Ngày hôm ấy, ôi! ngày tang Yên Báy!

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Xé nát màn sương lạnh phủ âm thầm,

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Đã lay tỉnh cả toàn dân nước Việt!


Lịch Sử đã được viết như thế!

Báo Tiếng Dân

Nguyệt Quỳnh

9-9-2023

“Chúng tôi biết ước mơ của họ:

đủ để biết họ đã mơ và đã chết …”

Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng giành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.

Irish Republic Proclaimed (1949) - YouTube

Người Việt Nam chúng ta cũng có một bài thơ sống động mà có vẻ như ngôn ngữ của thi ca không thể nào diễn tả hết nét đẹp. Đó là những tứ thơ diễm lệ, đẫm đầy tình yêu và sự hào hùng của những người trẻ – những thủ lĩnh Việt Nam Quốc Dân Đảng – trong chuyến xe ra pháp trường Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930. Tôi nhớ mài mại câu nói của một diễn giả nổi tiếng người Anh. Ông bảo rằng, tất cả chúng ta đều là những nghệ sĩ của cuộc sống và của chính cuộc đời mình. Mỗi chúng ta có cơ hội để được mời và mời nhau cùng tạo nên cuộc sống này.

Lịch sử chúng ta là tranh đấu sử. Mỗi chặng đời chúng ta đã cùng mời nhau đi chung một chuyến tàu “thác gềnh” của đất nước mình. Tôi tiếc thương da diết tinh thần và cung cách sống ấy: Sống có trách nhiệm với chính mình, với nhau, và với xã hội. Đau xót thay! Chưa đầy một trăm năm trong cái lò luyện của Xã Hội Chủ Nghĩa, nếp văn hoá quý giá này dường như đã mai một.

Tôi sẽ lăp lại 13 cái tên của các chí sĩ Yên Bái, những người đã cùng nhau tạo nên một áng văn chương tuyệt tác trong ngày 17 tháng 6, nay còn gọi là “Ngày Tang Yên Bái”. Nhưng, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ Văn Lạo, Phó Đức Chính hay Mac Donagh, Connolly, Mac Bride, Pearse trong “Lễ Phục Sinh 1916” không còn đơn thuần là cái tên nữa. Khi ta nhắc đến họ, ta nhắc đến ngọn lửa.

Lịch sử Ireland đã được thắp sáng bằng ngọn lửa ấy, ngọn lửa của thủ lĩnh Patrick Pearse trong đêm lễ phục sinh 1916: “Bạn không thể chinh phục Ireland; bạn không thể dập tắt niềm đam mê tự do của người Ireland. Nếu hành động của chúng ta không đủ để giành được tự do, thì con cái chúng ta sẽ giành được nó bằng một hành động tốt hơn”.

Cả Pearse, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đều biết cái giá phải trả cho tự do. Cái chết chỉ là một điều phải đối mặt khi chọn lựa hành trình gian nan ấy, và họ kiên định với chọn lựa của mình ngay đến phút cuối cùng của cuộc đời. Tại pháp trường Yên Bái, thái độ của các chí sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã khẳng định với người Pháp rằng cuộc chiến của họ vẫn đang tiếp diễn.

Nguyễn Thái Học (1902 – 1930) - Khởi Nghĩa Yên Bái (1930) - Hình Ảnh ...

Hãy nói về đảng trưởng Nguyễn Thái Học trước ngày ông bị giải ra pháp trường. Tôi chắc những đồng chí của ông sẽ không bao giờ quên được lời dặn dò đêm ấy. Trong nhà ngục, ông đã nói to lời từ biệt với các chiến hữu của mình:

“Chúng tôi đi trả nợ nước đây, các anh em còn sống cứ người nào việc ấy, cờ độc lập phải nhuộm bằng máu, hoa tự do phải tưới bằng máu, Tổ Quốc còn cần đến sự hy sinh của con dân nhiều hơn nữa! Rồi thế nào cách mạng cũng thành công”.

Trở lại với chuyến xe ngày 17 tháng 6 năm 1930. Sáng hôm ấy, có một chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt, khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái. Chuyến xe chở theo 13 chí sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Họ là những người có tên sau: Bùi Tử Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ Văn Lạo, Đào Văn Nhít, Nguyễn Văn Du, Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Đỗ Văn Tứ, Bùi Văn Cửu, Nguyễn Như Liên, Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Học. Ba tháng trước đó, thực dân Pháp cũng đã hành hình bốn đồng chí của họ ở pháp trường Yên Bái.

Các tử tù cứ hai người bị còng làm một, ngồi trò chuyện với nhau ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Họ là những trang tuấn kiệt nước Việt. Qua cuộc trò chuyện, chúng ta thấy họ luôn giữ vững tinh thần cho nhau. Điều họ không ngờ là cũng chính thái độ đó đã giữ vững tinh thần cho hàng bao thế hệ thanh niên Việt Nam sau này.

Phó Đức Chính nói đùa với anh em: Chúng ta đến ga Yên Bái, chắc chắn sẽ được các đồng chí Lương, Tiệp, Thuyết, Hoằng, ra đón rước nồng hậu.

Bốn đồng chí vừa được Phó Đức Chính nhắc tên là những chí sĩ đã bị xử tử vào ngày 8-3-1930, cũng tại Yên Bái.

Cùng đi trong chuyến xe còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Cả hai đã được gởi theo để làm lễ rửa tội cho các tội nhân trước giờ bị hành quyết.

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học ngồi trò chuyện với linh mục Dronet. Để khẳng định về quyết tâm của mình và các đồng chí trước vị linh mục người Pháp, ông khẳng khái ngâm mấy câu thơ bằng tiếng Tây. Những câu thơ này được dịch ra như sau:

Chết cho tổ quốc

Đó là số phận đẹp đẽ nhất

Cũng là số phận cao cả ước ao nhất.

Người Pháp cho máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết hôm đó tên là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17-6-1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ.

Khi bước lên máy chém, từng người một, cả 13 người đã lần lượt hô to: “Việt Nam Muôn Năm”.

Đến lượt Phó Đức Chính, anh yêu cầu đao phủ cho mình nằm ngửa để nhìn xem lưỡi của máy chém xuống như thế nào.

Xác 13 người anh hùng được chôn chung dưới chân đồi cao. Bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số. Thực dân đã cho lính canh gác mộ phần của họ một thời gian sau đó. Đảm lược của các đảng viên VNQDĐ còn được nhìn thấy qua một nữ đồng chí, cô Giang, người đã có mặt ở đó từ sáng sớm. Cô đến từ xa, đứng lẫn trong đám đông dân chúng. Cô đến để âm thầm đưa tiễn các đồng chí cùng vị hôn phu của mình.

Những người trẻ Việt Nam ngày ấy đã viết lịch sử như thế, như thể một bài thơ. Pháp trường, đao phủ, máy chém, … tất cả bỗng trở thành mờ nhạt. Chỉ riêng họ, chỉ hình bóng họ là sống mãi. Họ chính là những vần thơ, là lời khẳng định mạnh mẽ nhất trước quân thù về một dân tộc mà thực dân đang muốn thống trị!

Vâng, chúng tôi biết ước mơ của họ – đủ để biết họ đã mơ, đã sống và đã chết như thế! Chúng tôi còn biết rằng mình là một phần của cái tuyệt vời, của cái đẹp ấy; đủ để những thế hệ Việt Nam soi rọi lại chính mình, xem chúng ta có luôn sống xứng đáng? Sống với nhân cách của một con người đang đứng trên vai của những người khổng lồ.

_________

Chú thích:

* Viết theo tài liệu của tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”.

* Bài đăng tại trang Chuyện Kể cho K&T


 

Việt Nam nếu có nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ cũng không để ‘thoát Trung’?

BBC

8 tháng 9 2023

Trước việc Mỹ và Việt Nam có khả năng nâng cấp quan hệ ngoại giao khi Tổng thống Joe Biden thăm Hà Nội, Trung Quốc lại tiếp tục kêu gọi Việt Nam “củng cố niềm tin chính trị”.

Hãng tin Tân Hoa Xã của Trung Quốc đưa tin, Trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Kiến Siêu đã gặp TBT Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, ngay trước chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden đến Hà Nội.

Hai quốc gia cộng sản cho biết đã nhất trí củng cố niềm tin chính trị lẫn nhau và tăng cường hợp tác nhằm giải quyết các thách thức. Theo Reuters, ông Biden sẽ đến Việt Nam vào Chủ nhật 10/9 để nâng cấp quan hệ song phương, động tác được một số nhà bình luận coi là đưa Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo của nước láng giềng châu Á hùng mạnh, Trung Quốc.

TQ vừa kêu gọi VN ‘giữ vững lý tưởng cộng sản’

Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao nếu Việt – Mỹ nâng cấp đối tác chiến lược?

Hà Nội thận trọng xoa dịu Bắc Kinh trước khi đón ông Biden?

Tuy thế, nhận xét với BBC ngày 6/9, ông Vũ Xuân Khang, Nghiên cứu sinh Tiến sĩ ngành An ninh quốc tế tại Đại học Boston (Boston College) cho rằng Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ không phải là một nỗ lực thoát Trung vì Việt Nam vẫn cố gắng giữ quan hệ hòa hảo với Trung Quốc.

Ông Khang nói Việt Nam vẫn ưu tiên các cuộc gặp cấp cao với Trung Quốc trước khi có các cuộc gặp tương tự với Mỹ, ví như chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 11/2022, hay chuyến công du của Thủ Tướng Phạm Minh Chính đến Bắc Kinh vào tháng 6 khi tàu sân bay Ronald Reagan đang ghé Đà Nẵng.

“Thoát Trung chỉ đúng khi Việt Nam không còn giữ thế trung lập và ngả về một phe chống Trung Quốc như Hà Nội đã làm vào năm 1978 khi Việt Nam chính thức liên minh với Liên Xô,” ông Khang nói.

Sự dịch chuyển đường lối ngoại giao của Hà Nội

Trong bài phân tích về Việt Nam trong quan hệ Trung-Mỹ, tiến sĩ Bích Trần của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) viết rằng, sau sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam nằm trong số năm quốc gia vẫn duy trì độ cộng sản còn lại trên thế giới. Đối với Việt Nam hay Trung Quốc, sự tồn vong của chế độ đi liền với lợi ích an ninh quốc gia và thời điểm này, Hà Nội coi Bắc Kinh là đồng minh, cùng bảo vệ “chủ nghĩa xã hội”.

Ngược lại, Việt Nam từng coi Mỹ là kẻ thù không đội trời chung, dẫn đầu các lực lượng đế quốc nhằm lật đổ các chế độ cộng sản trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Việt Nam ngày càng gặp khó khăn trong việc dung hòa quan điểm này với môi trường chiến lược đang thay đổi vào cuối những năm 1990, theo TS Bích.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng và năm 1996, Việt Nam lần đầu tiên tuyên bố “đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa” để phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia vào đời sống cộng đồng quốc tế.

Đến năm 2003, ĐCSVN đã đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hình hình mới”, áp dụng một khái niệm mới được gọi là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” và chiến lược này đã được quán triệt trong mười năm kế tiếp. Các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ phải xác định rõ “đối tượng” và “đối tác” để đưa ra hành động tối ưu hơn đối với từng quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Mỹ.

Bước ngoặt quan hệ Mỹ – Việt sẽ dẫn tới điều gì?

Biden ‘sắp ký thỏa thuận đối tác chiến lược với Việt Nam trong nỗ lực chống lại Trung Quốc’

Quan hệ Việt-Mỹ có cơ hội vượt cấp lên ngang tầm Trung Quốc?

Theo Giáo sư Carl Thayer, các cuộc tranh luận nội bộ của Việt Nam hiện chủ yếu tập trung vào cách duy trì quyền tự do hành động của mình trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, thông qua những điều chỉnh chiến thuật trong chính sách một cách tài tình, thay vì liên kết với một bên chống lại bên kia.

Giáo sư người Úc này nhấn mạnh, điều đang thay đổi trong tư duy chiến lược của Việt Nam là làm thế nào để điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình trước sự phân cực ngày càng gay gắt của hệ thống quốc tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chậm lại.

Nga hiện đang suy yếu, bị cô lập và phụ thuộc vào Trung Quốc vì xâm lược Ukraine. Ấn Độ chuyển hướng siết chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ để đối phó Trung Quốc. Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản cùng tập trận phòng thủ tên lửa chung ở vùng biển quốc tế phía Đông bán đảo Triều Tiên.

Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, Hà Nội không muốn chọn bên mà là tiếp tục duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Trung Quốc và Mỹ để hưởng lợi từ cả hai. Việt Nam đã đứng trên nhiều ‘chân kiềng’ quan hệ khác, không chỉ với Mỹ, Trung Quốc, Nga mà còn với Liên minh Châu Âu (EU). Việt Nam đã ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU vào tháng 6 năm 2019.

Sách Trắng Quốc phòng Việt nam 2019 tuyên bố nước này theo đuổi chính sách Bốn Không: không tham gia liên minh quân sự; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia. không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh “Bốn Không” nêu trên, Việt Nam còn có chính sách “Một tùy”: tức tùy thuộc tình hình, Việt Nam có thể xem đẩy mạnh hợp tác mạnh mẽ hơn.

Nếu trước đây, Việt Nam được coi là cẩn trọng trong việc nâng cấp quan hệ với Mỹ thì cuộc điện đàm của Tổng thống Joe Biden với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát đi tín hiệu tích cực song phương “thúc đẩy, phát triển, làm sâu sắc hơn quan hệ”.

Chuyến thăm vào Chủ nhật 10/9 này của người đứng đầu Nhà Trắng đến Hà Nội cho thấy hai nước cựu thù sẽ nâng cấp quan hệ, thậm chí có khả năng từ mức đối tác toàn diện hiện có lên mức cao nhất, ngang hàng Trung Quốc – là đối tác chiến lược toàn diện.

Tuy nhiên, việc Hà Nội “nhảy cóc” quan hệ với Mỹ, nếu xảy ra, được đánh giá là bước đi khá bất ngờ về mặt ngoại giao của Việt Nam kể từ sau Đổi Mới 1986. Theo tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, Việt Nam vốn thận trọng và hạn chế những chuyển biến quá đột ngột có khả năng gây ảnh hưởng đến mối quan hệ của Việt Nam với các nước xung quanh, đặc biệt là Trung Quốc.

Ông Vũ Xuân Khang nói với BBC rằng, nếu Việt Nam có thể thuyết phục lãnh đạo Bắc Kinh rằng họ không có ý định chống Trung Quốc bằng cách nâng cấp quan hệ với Mỹ, Trung Quốc sẽ không trừng phạt Việt Nam.

“Ngược lại, nếu Việt Nam thất bại trong việc duy trì quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không ngần ngại có các đòn trả đũa. Vào tháng 4 2022, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Vương Nghị đã nói thẳng với Việt Nam rằng, nên tránh một thảm kịch Ukraine lại xảy ra. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc là vũ khí răn đe Việt Nam hiệu quả nhất,” ông Khang nhận định.

Trung Quốc muốn Việt Nam ở trong quỹ đạo của mình

Hồi tháng 8, nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc, ông Vương Nghị, đã trực tiếp kêu gọi Việt Nam chia sẻ hệ tư tưởng với Bắc Kinh khi ông thúc giục Hà Nội chuẩn bị cho một hội nghị thượng đỉnh và chống lại ‘sự can thiệp’ của các thế lực bên ngoài, theo SCMP.

Là láng giềng với cùng hệ tư tưởng, ông Vương Nghị nói với Phó Thủ tướng Việt Nam Trần Lưu Quang rằng “hai bên nên chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo của mối quan hệ ở tầm cao mới”.

Trung Quốc đưa tin rằng ông Quang tái khẳng định ‘tầm quan trọng không thể so sánh được và tính chất đặc biệt’ của Trung Quốc với Việt Nam, và mối quan hệ giữa hai bên ‘luôn luôn là ưu tiên hàng đầu’ của Hà Nội.

Việt Nam nâng cấp quan hệ với Trung Quốc lên đối tác chiến lược toàn diện từ năm 2008. Tới năm 2013, Mỹ mới thành đối tác toàn diện (mức thấp nhất) với Hà Nội.

Một số nguồn tin dự đoán rằng, Việt Nam sẽ đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng vào tháng 9 này, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Điều này cho thấy Việt Nam vẫn luôn coi trọng và duy trì mối quan hệ cân bằng với Trung Quốc và Mỹ, khéo léo vận dụng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Theo nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Xuân Khang, Việt Nam là nước nối giữa Trung Quốc và Đông Nam Á ở cả trên bộ lẫn trên biển, do đó Trung Quốc mong muốn Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc hoặc ít nhất là Việt Nam giữ thái độ trung lập để bảo đảm giao thương với phía Nam.

“Quan trọng hơn, một Việt Nam trung lập sẽ tránh cho Trung Quốc bị bao vây bởi một cường quốc khác như trong giai đoạn 1970 hay 1980 bởi Liên Xô. Trung Quốc càng không muốn chiến tranh xảy ra trên lãnh thổ của họ, nên việc phòng thủ từ xa thông qua việc giữ các nước lân cận trung lập là điều kiện tiên quyết,” ông Khang đúc kết.

Một biện pháp để Trung Quốc giữ Việt Nam nằm trong quỹ đạo của mình, theo ông Khang, là sử dụng vũ lực về mặt chính trị để ép Việt Nam không được tiến quá gần với Mỹ nếu không Trung Quốc sẽ có các biện pháp trừng phạt.

Cách tiếp cận này được gọi là “bất chiến tự nhiên thành”, giúp Trung Quốc vừa đạt được mục tiêu là Việt Nam tiếp tục giữ vị thế trung lập nhưng Trung Quốc không phải sử dụng quân đội. Bởi lẽ, Việt Nam hiểu rõ hậu quả của các đòn trừng phạt của Trung Quốc trong giai đoạn 1980 để không chọc giận Bắc Kinh.

Trong giai đoạn sau chiến tranh Việt Nam cho đến hết Chiến tranh Lạnh, Việt Nam được cho là ngả hẳn về Liên Xô trong tranh chấp Xô – Trung, để đổi lấy sự bảo trợ cả về kinh tế và quân sự của Liên Xô, chống lại sự thù địch của Trung Quốc.

Theo nghiên cứu sinh Vũ Xuân Khang, đây là nỗ lực “thoát Trung” của ĐCSVN và sau đó, Việt Nam bị Trung Quốc trả đũa vào năm 1979 cùng một thập kỷ chịu sự trừng phạt kinh tế, chính trị, quân sự của Trung Quốc trong giai đoạn 1980.

Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông và động thái của Thủ tướng Chính

Quan hệ Mỹ-Việt nâng cấp và vị thế của TBT Nguyễn Phú Trọng

Ông Khang nói thêm, Việt Nam thoát Trung thất bại không phải là vì Việt Nam không cố gắng thoát Trung mà bởi vì đơn giản là Trung Quốc quá mạnh so với Việt Nam. Theo ông, không có một cường quốc nào khác có thể giúp Việt Nam thoát Trung trong lâu dài, khi Trung Quốc với tiềm lực quân sự và kinh tế của một đại cường có đủ khả năng đánh bật cường quốc đó khỏi Việt Nam.

“Hội nghị Thành Đô là một cơ hội mà Trung Quốc cho Việt Nam sửa sai sau khi Hà Nội đã ngả về phe Liên Xô chống Trung Quốc. Kể từ sau hội nghị Thành Đô năm 1990, Việt Nam đã chính thức lựa chọn đường lối đối ngoại trung lập để tránh làm Bắc Kinh phật ý.”

Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Đến năm 2000, hai nước đã giải quyết những tranh cấp về biên giới trên đất liền và trên biển ở vùng Vịnh Bắc Bộ.

Kể từ năm 2004, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Hiện Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong khối ASEAN và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới.

Vì thế, theo ông Vũ Xuân Khang, Trung Quốc mong muốn Việt Nam có thể duy trì ổn định chính trị nhằm bảo đảm an ninh biên giới phía Nam của họ, trong khi Việt Nam ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, miễn là Bắc Kinh không có các hành động thái quá làm tổn hại an ninh quốc gia và đẩy Việt Nam vào thế phải chống trả.


 

TIỀN KHÔNG LÀM NÊN VĂN HÓA

Kim Dao Lam

Fb Trần Kim Cường

Mình được cha mẹ & thầy cô xưa dạy rằng: Đạo đức là cái nền làm nên Văn hóa, không phải tiền. Đạo đức là điều kiện cần để đi tới có Văn hóa.

Vì thế, cần xem lại (nền) Giáo dục thế nào mà để Đạo đức suy đồi, dẫn đến Văn hóa “kém”, thậm chí “vô văn hóa”.

Cá nhân mình cho rằng, nền “giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa” sẽ tạo ra những “con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa” đậm đà “đạo đức Cách (cái) Mạng”. Rồi từ cái nền Kách cái Mệnh đó sẽ sản sinh ra một thứ tạm gọi là “Văn hóa Cộng sản”, “văn hóa Mác-xít, Lênin-nít”, thậm chí “văn hóa Mao-ít” thừa tính “chuyên chính bạo lực” mà không phải “văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc” đùm bọc chan hòa vốn có từ xưa của ông bà mình.

Nếu thấy Văn hóa hiện nay “xuống cấp”, “hủ bại”, “tệ hại”, v.v, hãy xét lại cái gốc là cách thức/phương pháp/nội dung của Giáo Dục xem nó sai chỗ nào, “phản động” ra sao, gây hậu quả nghiêm trọng đến nền tảng Đạo đức thế nào…để mà sửa, thậm chí triệt để hơn, loại bỏ và thay mới hoàn toàn.

Có thế mới may ra cứu vãn được đà trôi tuột không phanh của cả Đạo đức & Văn hóa.

Cái chính không phải là Tiền! Cái chính là Giáo Dục. Mà để Giáo Dục thành công cần môi trường giáo dục phải thật sự Tự Do, Khai phóng. Mà muốn có Tự do học thuật, hành xử nhân bản, thượng tôn phẩm giá và lương tri thì lại phải cần có một Thể chế Chính trị khoan dung chấp nhận khác biệt tư tưởng, một thể chế thúc đẩy mạnh mẽ các giá trị nói trên phát triển.

Đó (thể chế chính trị) chính là cái Việt Nam hôm nay không có và rất cần, không phải 350.000 tỷ đồng (Hồ)!

(Tèo Ngu Khìn)

CUỐN TẬP NGÀY XƯA CÓ HÌNH BÌA MÀ TÔI RẤT THÍCH…!

Truc Dinh

(Đinh Trực)

Có những kỷ niệm ngày xưa khi đi học, tuy thật đơn giản nhưng thấm đậm biết bao kỷ niệm mà ngày nay và cả mãi sau này sẽ không bao giờ tìm lại được…! Chỉ quay ngược bánh xe thời gian trở về tuổi thơ thật đẹp, thật hồn nhiên mà luyến tiếc…!

Cuốn tập hình bìa Xích lô máy này đã xưa lắm rồi…! Tôi không còn nhớ rõ khoảng thời gian mà tôi sử dụng nó, chắc cũng vào khoảng những năm 1960-1970. Đây là cuốn tập chỉ có những đứa học sinh con nhà “khá giả” mới được xài, bởi loại giấy trắng láng, giúp chữ viết nổi bật hơn màu tím rất đẹp, trang giấy trắng không bị lem mực, bìa giấy dày, được đóng kim chắc chắn nên rất khó bị rách…! Lật vào trong, hít hà mùi thơm kỳ lạ bốc lên, đó là một cái thú kì lạ ngây ngất…!

Ngày đó, những tiệm tạp hóa, những chỗ bán dụng cụ chi học trò lớn nhỏ gần trường, cô chú chủ tiệm thường xếp những cuốn tập trên tủ kiếng cao, rất kiểu bìa khác nhau: nào là: Olympic, con Nai, cầu thủ đá banh, vua Quang Trung,… Nhưng tôi thích khoái nhất là bìa Xích lô máy…!

Hình ảnh chiếc Xích lô máy còn thân quen với nhiều thế hệ học trò trước 1975, không chỉ ở ngoài đời, mà còn trên vở học sinh, với hình bìa vở đã đi vào huyền thoại này…!

Sung sướng nhất là ngày cuối năm phát thưởng trước khi về nghỉ hè… Phần thưởng cho những học sinh Giỏi của lớp là bộ sách của lớp trên khi vào năm học sau cùng với một chục cuốn “Xích lô máy”.

Thằng nhỏ tôi khệ nệ bợ hai tay phần thưởng về nhà, mắt ngó quanh quất để xem mọi người, có ai khen mình không…?

Cuốn tập xưa đã dắt tôi về một vùng miền ký ức, cho tôi nhớ lại bao kỷ niệm tưởng chừng đã ngủ yên trong tiềm thức, rồi bỗng nhiên sống lại trong lòng một thuở được làm kiếp học trò đầy yêu thương…!

Hành trang mang theo suốt cuộc đời, chắc có lẽ không có gì đẹp hơn ngày xưa ôm cặp tung tăng đến trường…!

 

GIÁO DỤC

BẢO TỒN TIẾNG VIỆT 

GIÁO DỤC. (2)

Lệ thương tuổi nhỏ học trò

Còng lưng cõng sách cặp to nặng đầy

Rừng cao lũ trẻ đu dây

Lội sông vượt suối chẳng tầy nguy nan

Mẹ cha lệ đổ tuôn tràn

Tiền trường phí sách lầm than cuộc đời

Thầy cô đã mất nụ cười

Đau lòng cháo phổi một thời chạy “sô”

Người nào quên học bưng bô

Lên vùng sỏi đá tha hồ muối ăn

Cô xinh lệnh nó bắt lăn

Dâng quan tiệc rượu nâng khăn hầu bàn

Một thời giáo dục nát tan

Thay đi đổi lại các quan thêm giàu

Dân lành gánh trọn nỗi đau

Tương lai dân tộc mồ sâu tiến gần

Quan to máy lạnh phì thân

In thêm sách vở chia phần vàng đô

Giáo dục nền tảng cơ đồ

Còn toang như rứa ”tài” khô nước tàn

Tương lai tổ quốc tiêu tan

Quê hương còn lại vạn ngàn đắng cay

Học trò cầm bút run tay

Mua dăm kiến thức tràn cay lệ nhòa

Một con cha mẹ khóc òa

Hai con vài đứa nhà ra lề đường

Không ‘xìn’ đóng cái tiền trường

Trẻ thơ thất học c.hết đường tương lai

Ngày mai cạn kiệt nhân tài

Chỉ còn một lũ quái thai cầm quyền

‘Chiều nay’ thổ phỉ lột tiền

Chia nhau giọt máu dân hiền xương khô

Chống lưng có lũ quan to

Người dân mãi kiếp con bò cày sâu

Một thời cướp cạn cầm đầu

Một thời giáo dục cây cầu gẫy đôi

Tương lai đất nước tả tơi

Bởi quan tham nhũng bởi người miệng câm

Cường quyền lợi nhuận nó đâm

Người dân im lặng c.hết bầm nước tan .

(xuanngocnguyen)

Phật giáo miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng – Trần Phương Tạp chí Luật Khoa

Trần Phương.

Các nhà sư khối Ấn Quang biểu tình yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, ngày 3/4/1975. Ảnh: Bettmann/CORBIS.
Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu.Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng ngày nhưng lúc bấy giờ quân giải phóng đã không nghĩ như vậy. Cách mạng nếu không tịch thu thì cũng ra lệnh đóng cửa các ngôi chùa của khoảng 40.000 tăng ni lúc đó.

Không chùa nào được treo giáo kỳ. Không ngày lễ được tổ chức. Không có ngoại lệ nào cho các nhà sư, kể cả những người từng ngồi tù vì biểu tình chống chiến tranh hay chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Đàn áp và lao tù đến ngay sau ngày thống nhất.

12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu

Vào lúc đó, cách tỉnh Cần Thơ khoảng 30 cây số về hướng Sóc Trăng bây giờ, trụ trì Thích Huệ Hiền cùng với 11 tăng ni ở Thiền viện Dược Sư đang chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình.

Tất cả đã cùng nhau tự thiêu tại chùa vào ngày 02/11/1975.

12 tăng ni chùa Dược Sư đã tự thiêu như thế nào? Xác của họ được chôn ở đâu? Và vì sao các tăng ni, trong đó có một người 15 tuổi và một người mới 14 tuổi, lại chọn cách tự vẫn đau đớn như vậy trong khi đất nước vừa mới hòa bình?

Thiền viện Dược Sư là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), được thành lập vào cuối năm 1963 sau cuộc tranh đấu chống chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong cuộc tranh đấu đổ máu đó, hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức, 67 tuổi, điềm nhiên châm lửa thiêu mình ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Sài Gòn đã làm xúc động thế giới.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể rằng sau cái chết dũng cảm của Hòa thượng Quảng Đức, chính quyền thủ đô Hà Nội đã tổ chức lễ truy niệm hòa thượng tại Quảng trường Ba Đình, dân chúng kéo đến đông không khác gì ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Nhưng thảm kịch tại chùa Dược Sư thì đã mau chóng bị vùi lấp.

GHPGVNTN và chính quyền lúc đó đã có những ý kiến trái ngược nhau về bi kịch này.

Theo nhật báo Chicago Tribune, ba tuần sau thảm họa chùa Dược Sư, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN lúc bấy giờ, người sau này trở thành Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, đã gửi thư đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam để khiếu nại.

Hòa thượng Trí Thủ nói rằng cán bộ cách mạng đã tịch thu chùa Dược Sư và cả thi thể của các tăng ni.

Bức thư được gửi cùng với thư tuyệt mệnh của trụ trì Huệ Hiền, trong đó ghi lại tên tuổi của 11 tăng ni và lý do tự thiêu là để yêu cầu chính phủ cách mạng “tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức”.

Trong thư, ông nói bi kịch chùa Dược Sư xảy ra sau khi cán bộ cách mạng cấm chùa treo cờ Phật giáo và cầu siêu cho những nạn nhân chiến tranh. Các tăng, ni được yêu cầu “ăn và nói một cách bình thường [như mọi người] để học theo những con đường của cách mạng”.

Cán bộ ra lệnh Đại đức Huệ Hiền phải cắt nghĩa cho các tăng ni về “chiến thắng quang vinh và lịch sử của cách mạng”, động viên họ tham gia sinh hoạt chính trị trong các tổ chức của cách mạng lúc bấy giờ.

Hòa thượng Trí Thủ viết trong thư: “Qua vụ việc trên, chúng tôi hy vọng ông [bức thư gửi đến một lãnh đạo của chính phủ] và chính phủ cách mạng sẽ lưu tâm đến những gì đang diễn ra ở cấp cơ sở. Chúng tôi không muốn tin rằng vụ việc đáng tiếc trên cũng như nhiều vụ việc liên quan đến tự do tôn giáo khác phản ánh chính sách của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời”.

“… đáng lẽ chúng tôi nên đến gặp ông để trình chi tiết và kín đáo hơn là gửi bức thư này. Tuy nhiên, một cuộc họp như vậy có vẻ là bất khả thi, kể từ khi thống nhất chúng tôi đã xin gặp chính phủ ba lần để nói về quan điểm của giáo hội đối với vấn đề tôn giáo nhưng liên tiếp bị từ chối”.

Tương tự như yêu cầu xin gặp chính phủ cách mạng, bức thư của Hòa thượng Trí Thủ không được hồi đáp.

Sau biến cố 30/4/1975, báo chí trong nước bị chính quyền kiểm soát. Các phóng viên quốc tế đã rời khỏi miền Nam, mọi biến động lúc đó đều không được đưa tin kịp thời. Phải đến gần một năm sau, báo chí quốc tế mới đưa tin về thảm kịch chùa Dược Sư.

Sau đó, tổ chức nhân quyền Ân Xá Quốc tế đã gửi thư đến Bộ Nội vụ Việt Nam vào tháng 9/1976 để yêu cầu cung cấp thông tin.

Khoảng sáu tháng sau, Bộ Nội vụ đã hồi đáp bức thư đó bằng một giải thích rất bất ngờ.

Chính phủ cho rằng theo lời khai của các nhân chứng thì ông Phạm Văn Có (tên khai sinh của Đại đức Huệ Hiền) đã giết hai ni cô lần lượt vào năm 1972 và năm 1974 sau khi ông ta làm hai người này mang thai, “và vẫn tiếp tục hành động vô đạo đức của mình sau ngày giải phóng”.

Theo tuyên bố của chính phủ, “vì sợ việc làm của mình bị lộ ra ngoài, ông Có đã quyết định tự sát, trước khi đốt chùa và tự thiêu mình, ông đã giết chết 11 người khác trong chùa, trong đó có hai thiếu niên”.

Trong một bài viết vào năm 1992, Hòa thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, sau này trở thành tăng thống thứ năm của giáo hội, nói rằng ông và các vị hòa thượng Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang không chấp nhận lời giải thích của chính quyền.

Hòa thượng Quảng Độ đã tham gia một cuộc điều tra của chính quyền. Sau cuộc điều tra, ông đã từ chối công nhận bản kết luận của chính quyền vì nội dung kết luận không đúng với bức thư tuyệt mệnh của Đại đức Huệ Hiền.

Bản kết luận điều tra mà chính quyền yêu cầu Hòa thượng Quảng Độ công nhận ghi rõ rằng Đại đức Huệ Hiền đã tự sát cùng “11 người khác” vì các lý do sau: sợ bị cách mạng trừng trị vì đã làm chỉ điểm cho “Mỹ – Ngụy,” không còn lương thực để sống vì trước đó được “Mỹ – Ngụy” chu cấp và sợ chuyện dâm ô với các ni cô bị bại lộ.

Từ việc 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu tập thể để đòi quyền tự do tôn giáo (theo nhận định của GHPGVNTN), qua cuộc điều tra của chính quyền đã trở thành một vụ án dâm ô và giết người diệt khẩu.

Nhưng dù lý do là gì đi nữa thì bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư cũng đã mở ra hàng loạt vụ tự thiêu sau đó.

Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

Ngay trước ngày 30/4/1975, nỗi sợ chế độ cộng sản đã khiến hàng vạn người chạy khỏi miền Nam nhưng cũng có không ít gia đình đã chọn ở lại.

Một trong những lý do ở lại vào lúc đó là vì người ta tin rằng nếu không dính líu đến chính trị ở chế độ cũ thì vẫn có thể sống bình yên với cách mạng.

Đối với các tăng ni, phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang thì lại càng có nhiều lý do hơn nữa để ở lại đất nước. Họ là những người đã đổ máu trong những cuộc biểu tình vang dội để chống chiến tranh, chống các chế độ độc tài ở miền Nam.

Với khả năng tổ chức bậc thầy, Ấn Quang đã huy động được một lực lượng rất đông đảo là các tăng ni, phật tử, sinh viên theo chủ trương chống chiến tranh, chống chính quyền miền Nam trong những năm 1960.

Các nhà sư khối Ấn Quang bước đi trên đường Lê Duẩn ngày nay trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

Giáo sư Nguyễn Long, một phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang và giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản ở Viện đại học Vạn Hạnh sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, cũng đã nghĩ như thế.

Mấy hôm trước ngày 30/4/1975, ông đã phân vân giữa ra đi hay ở lại quê hương.

Sau này, ông đã kể lại cuộc sống ở miền Nam sau ngày 30/4/1975 trong cuốn sách “After Saigon Fell: Daily Life Under the Vietnamese Communists” (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: Cuộc sống thường ngày dưới tay những người cộng sản Việt Nam).

Ông Long sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Đà Lạt. Khi còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông cùng với những sinh viên khác ở tuyến đầu của phong trào sinh viên phật tử chống chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm, chính quyền của tướng Nguyễn Khánh rồi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông từng bị bắt giam hai lần và được hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Mãn Giác (thuộc khối Ấn Quang) can thiệp thì mới được thả ra.

“Do đó, tôi không cảm thấy mình cùng loại với những người miền Nam khác mà cộng sản cho là ‘ngụy quân’ hay ‘ngụy quyền’, nghĩa là có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chế độ cũ hay chính sách của Mỹ. Nhiều người Việt ở các vị trí xã hội khác cũng có thái độ tương tự. Điều này đặc biệt đúng với các luật sư, bác sỹ, kỹ sư, nhà báo hay nhà văn. Hầu hết họ cảm thấy mình không phạm tội và không có mối quan hệ với chính trị trong quá khứ, do đó không lý do để rời khỏi Việt Nam”.

Và hơn nữa, ông là người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. “Tôi thú nhận rằng trong một vài khía cạnh, chủ nghĩa cộng sản đối với tôi đã ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn và nhân văn hơn bất kỳ học thuyết phương Tây hay phương Đông nào mang lại”.

Nhưng mọi lý do kể trên đã thành con số không sau ngày 30/4/1975.

Ông Long buộc phải đi học tập chính trị. Cán bộ liên tục theo dõi ông, hàng xóm và kể con trai của ông bị chính quyền dùng để dò la xem ông đã nói gì, làm gì lúc ở nhà. Vì cách mạng cho rằng “ngụy thầy” (false educator) còn nguy hiểm hơn là “ngụy quân”.

Chính quyền đã thành lập hàng loạt các “hội yêu nước” để giáo dục và phân loại các thành phần công dân. Các phiên đấu tố diễn ra ở khắp nơi. Tất cả các hoạt động đi lại đều phải xin phép. Mọi người trong nhà ông đều phải trình diện vào khung giờ nhất định.

“Nhận thức của mọi người về bản thân mình và những người theo cộng sản đã khác nhau quá xa. Chúng tôi đã sớm thấy rằng xã hội dưới chế độ cộng sản mọi thứ đã bị chính trị hóa nhiều hơn bất cứ đánh giá nào của chúng tôi. Theo quan điểm của cộng sản, không có chỗ cho một cá nhân phi chính trị”.

“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là một tuyên truyền phổ biến lúc bây giờ.

Trong hồi ký của ông Long, chính quyền lúc đó đã dùng khẩu hiệu này để gắn kết giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản. Ngoài ra, chính quyền còn cố gắng đồng nhất chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước, một người yêu nước thì phải là một người cộng sản, nếu anh ta không phải là cộng sản thì anh ta không yêu nước.

Sau hai lần vượt biên thất bại, ông đưa gia đình vượt biên thành công đến trại tị nạn ở Indonesia vào năm 1979.

Bối cảnh ngay sau 30/4/1975 có thể giải thích một phần nào đó vì sao khối Phật giáo trước năm 1975 được xem là có cảm tình với cách mạng lại phải hứng chịu những trận đàn áp không nương tay của chế độ mới.

Ấn Quang dưới tay chính quyền cộng sản

Sau cuộc điều tra về bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư, bất đồng giữa chính quyền và khối Ấn Quang ngày càng gia tăng.

Vào đêm ngày 06/04/1977, sau khi tịch thu cô nhi viện Quách Thị Trang vào tháng Ba trước đó, công an đã bố ráp chùa Ấn Quang với khoảng 200 nhà sư đang tu tập ở đây.

Trong cuộc bố ráp này, các hòa thượng Quảng Độ, Huyền Quang, Thanh Thế, Thiện Minh, Thuyền Ấn, Thông Huệ và nhiều người khác đã bị bắt.

Ngay sau đó, Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Pháp (do Thiền sư Thích Nhất Hạnh đứng đầu) đã tuyên bố rằng có 120 tăng ni miền Nam sẵn sàng tự sát để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo.

Lúc bấy giờ, báo chí độc lập không còn hiện diện ở miền Nam như trước kia. Cách mạng đã kiểm soát mọi kênh truyền thông. Các vụ đàn áp Phật giáo phải mất rất nhiều thời gian mới đến được báo chí quốc tế.

Khoảng sáu tháng sau cuộc bố ráp vào chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Phó hiệu trưởng của Viện đại học Vạn Hạnh, Ủy viên trung ương trong GHPGVNTN, đã vượt biên đến Paris (Pháp) để tố cáo cuộc đàn áp đạo Phật đang diễn ra rất trầm trọng ở miền Nam.

Ông nói mình đã mang theo nhiều tài liệu về xung đột giữa Phật giáo và chính quyền cộng sản.

Hòa thượng Thích Mãn Giác. Ảnh: Việt Báo.

“Chế độ mới đang theo đuổi chính sách triệt hạ các cộng đồng tôn giáo ở đất nước chúng tôi. Hàng trăm các tăng ni bị bắt. Hàng trăm các ngôi chùa bị tịch thu rồi bị biến thành cơ quan hành chính. Các tượng phật bị hạ xuống để đập phá. Không được tổ chức lễ Phật Đản như một ngày lễ quốc gia”, Hòa thượng Mãn Giác nói với báo giới vào tháng 11/1977.

“Đảng Cộng sản dường như không hiểu cũng không khoan dung về ước vọng sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi đã rất đau khổ vì bị ngược đãi, kỳ thị và đàn áp”.

Phong trào Phật giáo của khối Ấn Quang “không tranh giành quyền lực chính trị… mà đòi hỏi sự khoan dung và quyền được tham gia xây dựng đời sống không phải như một cái máy mà bằng khối óc và trái tim”.

Hãng tin Reuters lúc đó đã dẫn tin rằng khối Ấn Quang đã bị mất sức ảnh hưởng ở miền Nam và bị chia rẽ trầm trọng khi kể từ khi nhà nước thành lập Hội Phật giáo Yêu nước.

Hòa thượng Mãn Giác nói Hòa thượng Thích Trí Quang, một trong các nhà sư nổi tiếng nhất thời Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối Ấn Quang vì chống chiến tranh và chống chế độ cũ rất quyết liệt, có lẽ đang bị cách mạng giam giữ tại chùa.

Trích từ bài viết Giữa hai làn đạn của Nguyễn Hữu Thái đăng trên Thư Viện Hoa Sen. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Cuộc chiến sống còn

Mặc dù từng đổ máu trong các cuộc biểu tình những năm 1960, từng bị cảnh sát quốc gia tra tấn, nhưng các nhà sư khối Ấn Quang đã kinh hồn bạt vía vì những màn tra tấn của công an cộng sản.

Trong một bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiên Quang (hoặc Thích Thiện Quang), phó trụ trì chùa Ấn Quang, đã tiết lộ về màn tra tấn của chính quyền sau khi ông vượt biên đến Indonesia vào tháng 6 năm 1979.

Sau năm 1975, ông cho biết mình đã bị cách mạng giam cầm trong hai năm trước khi được thả vào năm 1977.

Ông nói rằng chuồng cọp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dùng không là gì so với màn tra tấn mà Hòa thượng Trí Quang trải qua trong nhà tù cộng sản.

Ông cho biết Hòa thượng Trí Quang bị bắt nằm trong một cái hố như quan tài và không thể ngồi dậy trong suốt 16 tháng. Mỗi ngày ông được cho ra ngoài 15 phút để vận động và tắm rửa. Vì vậy mà hai chân của ông bị teo lại khi được cho về chùa vào năm 1977.

Hòa thượng Thiện Quang nói lúc ông rời khỏi Việt Nam thì Hòa thượng Trí Quang vẫn đang phải ngồi xe lăn, học cách đi lại bằng đôi nạng và bị giam giữ tại chùa. Trong số những người bị bắt của khối Ấn Quang chỉ có ba người nữa được thả ra và cũng bị cấm ra khỏi chùa.

Vào lúc đó, chùa Ấn Quang bị canh giữa nghiêm ngặt và phật tử chỉ được đến chùa thắp nhang hai lần trong tháng.

Chùa Ấn Quang hay còn gọi là Tổ đình Ấn Quang là nơi chứng kiến các hoạt động sôi nổi của Phật giáo vào những năm 1960. Ngày nay, chùa nằm trên đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp chùa vào năm 1998. Ảnh: Australian War Memorial.

Vào cuối năm 1978, sau khi Hòa thượng Thiện Minh đã chết trong trại giam, chính quyền đưa các hòa thượng của khối Ấn Quang ra xét xử với nhiều tội danh khác nhau. Dưới áp lực quốc tế, các hòa thượng Quảng Độ và Thanh Thế được trắng án. Hai hòa thượng Huyền Quang và Thuyền Ấn bị tuyên án hai năm tù treo. Hòa thượng Thông Huệ bị tuyên án ba năm tù giam.

Hòa thượng Thiên Quang nói rằng mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền sau năm 1975 đã bắt đầu từ vụ 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu ở Cần Thơ.

Ông cho biết trong năm 1977 và 1978, miền Nam đã có thêm 18 tăng ni khác tự thiêu riêng lẻ. Ông cũng cho biết rằng các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo cũng đang bị đàn áp nặng nề không kém gì Phật giáo.

Khi được hỏi tại sao các nhà sư Ấn Quang phải tranh đấu với chế độ cộng sản sau khi đã gây ra quá nhiều rắc rối cho chính quyền ông Thiệu, ông trả lời: “Dưới chế độ của ông Thiệu, chúng tôi chỉ chống tham nhũng mà thôi. Bây giờ, dưới chế độ cộng sản, chúng tôi không thể tồn tại được. Giờ đây, chúng tôi phải chiến đấu để sống hoặc chết”.

Ngay sau ngày 30/4/1975, Phật giáo miền Nam đã bước chân vào một bi kịch mới. Số vụ các tăng ni đã chết vì tự thiêu bị che dấu. Tổng số các tăng ni bị giam giữ, chết trong trại giam từ sau ngày 30/4/1975 không được tiết lộ. Tổng số các chùa bị đập phá và tịch thu không được công bố. Chính phủ chưa bao giờ thừa nhận đã đàn áp Phật giáo miền Nam.

Đến những năm 1990, các vụ tự thiêu vì đàn áp tôn giáo vẫn còn tiếp diễn.


 

Các tổng thống Mỹ gần đây đã nói gì với Việt Nam

Báo Tiếng Dân

Washington Post

Tác giả: Olivier Knox

Cù Tuấn, biên dịch

6-9-2023

Từ khi Tổng thống Bill Clinton tới Việt Nam hồi cuối năm 2000, mọi Tổng thống Mỹ đều đã đến thăm quốc gia cựu thù thời chiến mà nay đã trở thành đối tác thương mại. Tổng thống Biden sẽ đưa tên mình vào danh sách này vào Chủ nhật tới, với những lo ngại về Trung Quốc xuất hiện sau một chuyến thăm chớp nhoáng.

Lịch trình của Nhà Trắng không nói rõ liệu ông có mặt tại Hà Nội trong 24 giờ hay không. Tuy nhiên, điểm dừng chân của ông ở đó sẽ được theo dõi chặt chẽ trên toàn khu vực – và Bắc Kinh sẽ đặc biệt quan tâm – phần lớn là do những căng thẳng Trung – Mỹ gần đây.

Sẽ rất thú vị để xem thông điệp mà Biden mang đến. Clinton và những người kế nhiệm ông đã đưa ra một số chủ đề chung ở đó, nhưng những khác biệt của các chủ đề này cho thấy, sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ – Việt trong một phần tư thế kỷ qua.

Đây là những gì họ đã nói.

Clinton: Chiến tranh đã kết thúc

Chuyến thăm của Clinton tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là khúc hát thiên nga về ngoại giao trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Ông được chào đón trên thảm đỏ, trở thành một ngôi sao nhạc rock và trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên có bài phát biểu được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình quốc gia tại Việt Nam.

Nhưng thông điệp mạnh mẽ nhất mà ông gửi tới Việt Nam thực ra đã đến từ 5 năm trước đó, vào tháng 7 năm 1995, khi ông tuyên bố Mỹ và quốc gia cựu thù thời chiến của họ sẽ nối lại quan hệ ngoại giao. Điều này diễn ra sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại và sự phản đối của Mỹ đối với viện trợ đa phương.

Tại Đại học Quốc gia Việt Nam, Clinton thúc giục Việt Nam chấp nhận sự cởi mở về chính trị – tự do ngôn luận, tự do tôn giáo – nhưng nhấn mạnh thông điệp cốt lõi của ông rằng, cả hai nước cần phải vượt qua di sản chiến tranh.

Ông nói: “Một quá khứ đau thương và khổ đau có thể được chuộc lại bằng một tương lai hòa bình và thịnh vượng”.

Bush: Đó là vấn đề kinh tế, đồ ngốc ạ

Tháng 6 năm 2005, Tổng thống George W. Bush tiếp đón một nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên tại Nhà Trắng kể từ sau chiến tranh. Tháng 11 năm 2006, ông [Bush] tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung chủ yếu vào việc ca ngợi nền kinh tế Việt Nam mà ông nói là “giống như một con hổ non”.

Dựa trên thông điệp của Clinton về quyền tự do dân sự, Bush đã tham dự một buổi lễ tại nhà thờ ở Hà Nội và nói rằng “mọi người trên khắp thế giới” nên được hưởng quyền tự do tôn giáo. Ông cũng đến thăm Viện Pasteur ở Thành phố Hồ Chí Minh để nêu bật sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng nền kinh tế của nước chủ nhà vẫn ở vị trí trung tâm của các thảo luận, và ông đã gặp gỡ các lãnh đạo doanh nghiệp và tham quan thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ông Bush nói tại một bữa tiệc chiêu đãi cấp nhà nước: “Trong nhiều thập niên, các bạn đã bị chiến tranh tàn phá. Ngày nay, nhân dân Việt Nam có được hòa bình và nhìn thấy được lợi ích của cải cách. Người Việt đã có quyền sở hữu doanh nghiệp riêng và ngày nay nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á”.

Obama: Súng đạn và bơ sữa (và cải cách)

Tổng thống Barack Obama đã dành phần lớn thời gian trong chuyến công du tới Việt Nam vào tháng 5 năm 2016 để thuyết giảng về cải cách chính trị – ông hát bài thánh ca gần giống với bài thánh ca của Clinton và Bush.

Phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội, ông nói: “Việc bảo vệ các quyền cơ bản – quyền tự do ngôn luận, hội họp và tôn giáo – không phải là mối đe dọa đối với sự ổn định, mà thực sự nó củng cố sự ổn định và là nền tảng của sự tiến bộ”.

Nhưng Obama đã gửi một thông điệp mạnh mẽ hơn nhiều vào ngày đầu tiên của chuyến thăm, khi ông tuyên bố, Mỹ sẽ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau chiến tranh – một bước đi được nhiều người coi là một phần trong nỗ lực củng cố năng lực khu vực, trước một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Ông Obama nói: “Sự thay đổi này sẽ bảo đảm rằng, Việt Nam có quyền tiếp cận các thiết bị cần thiết để tự vệ và xóa bỏ dấu tích còn sót lại của Chiến tranh Lạnh. Nó cũng nhấn mạnh sự cam kết của Mỹ trong việc bình thường hóa hoàn toàn mối quan hệ với Việt Nam, bao gồm cả quan hệ quốc phòng mạnh mẽ với Việt Nam và khu vực này trong dài hạn”.

Trump: Sứ mệnh với Kim Jong-un là có thể thực hiện được

Tổng thống Donald Trump đã có hai chuyến thăm Việt Nam: Một vào tháng 11/2017, một vào tháng 2/2019.

Đầu tiên, thông điệp của Trump phần lớn là ca ngợi sự chuyển đổi kinh tế của Việt Nam. Ông gọi những thay đổi kể từ sau chiến tranh “thực sự là một trong những điều kỳ diệu vĩ đại của thế giới”. Ông cũng thúc đẩy thương mại song phương giữa hai nước.

Thông điệp lần thứ hai được xác định bằng cuộc gặp thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, một nỗ lực cuối cùng không có kết quả nhằm thuyết phục lãnh đạo Triều Tiên từ bỏ các chương trình hạt nhân và tên lửa của mình. Nhưng ở đây, Trump cũng đề cập đến nền kinh tế Việt Nam, đề cập đến thương mại song phương và khuyến khích nước chủ nhà mua thiết bị quân sự của Mỹ.

Biden: Chưa xảy ra, chỉ hóng thôi

Thông qua đồng nghiệp Matt Viser, tôi biết được sự thật kỳ lạ này: Đây là lần đầu tiên Biden đến Việt Nam. Điều đó hơi gây tò mò vì ông đã phục vụ nhiều năm với tư cách là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, và đã đi đến nhiều quốc gia.

Ông dường như đang đi đúng hướng để tận hưởng dư âm thành công của Clinton, Bush và Obama, đặc biệt là về việc tăng cường quan hệ đối tác chiến lược (dù ông có đề cập rõ ràng đến Trung Quốc) và có thể nhẹ nhàng mắng mỏ nước chủ nhà về các quyền dân chủ – và có lẽ sẽ nêu bật sự ngưỡng mộ về kinh tế Việt Nam và thúc đẩy thương mại song phương theo kiểu Trump.

Matt lưu ý rằng, Biden đã tổ chức ăn trưa với Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào năm 2015, nhân kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hai người sẽ gặp lại nhau vào Chủ nhật này.

Vào thời điểm bữa ăn trưa đó, ông Biden nói: “Thật đáng chú ý là trong suốt hai thập niên qua, tôi vẫn tin rằng… mối quan hệ của chúng ta chỉ mới bắt đầu”.

THẦN TƯỢNG “ĐIÊN”!

Mình thần tượng thằng cha điên quái kiệt này: Elon Musk. Dân nhập cư, đến Mỹ, được đất nước và nền giáo dục tạo điều kiện học hành.

Thế rồi “hắn” đứng ra thành lập, lãnh đạo, phát triển hàng loạt những thương hiệu hay tập đoàn “Quái vật”. Từ PayPal, qua Tesla, tới SpaceX, SolarCity, Hyperloop… tập đoàn nào cũng là những nhà khổng lồ, khai phá, tạo nên những cuộc cách mạng về khoa học, công nghệ, kinh tế, y khoa…

Mới vừa đây, lại thấy cái tin gây sửng sốt cho giới khoa học, người ta cấy chip vô não 3 con heo, mở ra một hướng đột phá phát triển trí tuệ nhân tạo, tương tác với não người trong tương lai, để chữa rất nhiều bệnh liên quan đến não. Lại là một cái tên khác, Neuralink, cũng của Musk!

Even if Elon Musk's Neuralink brain chip never gives us telepathy, it ...

Phải nói, chỉ cần có được một phần nhỏ những gì Musk làm được, đã đủ là vĩ nhân, là thiên tài…

Elon Musk làm việc với cường độ trên 80 giờ/tuần (gấp đôi giờ hành chính hiện nay) là chuyện thường. “Hắn” có thể ngủ trong xưởng máy với công nhân, hay vùi mình với đám kỹ sư đầy máu điên trong phòng thí nghiệm.

Why are all of Elon Musk's children male only? - AR15.COM

Đã nhiều năm, Musk làm việc với cường độ đó và không có ngày nghỉ, cũng như những đợt du lịch xả hơi.

X Æ A-Xii (Elon Musk Son) Biography, Age, Mother, Birthday, Height, Net ...

Và tất nhiên, Musk giàu. Nhưng lại như “đồng bọn” là hàng loạt tỉ phú Mỹ khác, hắn hứa và đã dành hầu hết tài sản để làm từ thiện.

Hình như (và đã rõ ràng), chỉ có môi trường Mỹ Quốc mới có thể tạo nên những quái kiệt như vậy. Họ như từ hành tinh nào đến, đóng góp cho nhân loại, vắt kiệt mình, rồi ra đi.

SpaceX Starships at Mars Base Alpha by Konstantin Ermolaev | human Mars

SpaceX với viễn tượng mô hình thám hiểm Sao Hỏa trong tương lai.

Và càng ngơ ngẩn, chẳng hiểu tại sao, người ta kêu là “bọn tư bản bóc lột” và kiên quyết duy trì học thuyết đó!

FB Nguyễn Danh Lam

Bạn nhìn thấy gì? Cảm thấy gì?

Báo Tiếng Dân

Đoàn Bảo Châu

1-9-2023

Thẩm mỹ viện JT Angel Clip phát quà từ thiện ngày 31-8-2023 tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tấn rưỡi gạo đã “bốc hơi” trong vòng 5 phút, ba người ngất xỉu phải đi cấp cứu, cổng viện bị đạp đổ, hai bàn gỗ vỡ tan, chiếc xe Range Rover bị móp nóc, vỡ kính, xước xát. 500 phong bì 300K đồng phải dừng, không được phát như kế hoạch.

Người dân quá khổ sau 48 năm được “giải phóng”. Thiên đường XHCN nhất định không phải của dân. Thiên đường là của quan tham, lợi dụng kẽ hở, sự lỏng lẻo của luật pháp để kiếm lợi chứ không phải của đám đông.

Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới, vậy mà người dân phải bỏ qua tất cả những sự ngại ngần, ý niệm về nhân phẩm để xông vào lấy gạo vì nỗi lo người khác lấy mất. Có người đến từ 3 giờ sáng để chờ.

Tôi không trách người dân. Họ quá khổ mới phải làm vậy. Tôi hy vọng clip này được các vị quan ở Việt Nam nhìn thấy và suy ngẫm. Tôi tin là các vị sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ như tôi đang có, bởi các vị luôn nói chính quyền này là chính quyền “do dân, vì dân”.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2023/09/Clip-phat-gao.mp4?_=1

Tôi tự hỏi, nếu trong một hội nghị quốc tế, một người bạn ngoại quốc cho các vị xem clip này thì các vị sẽ cảm thấy gì và sẽ giải thích sao?

Điều này cho thấy rằng tại sao nạn cướp giật ở thành phố Hồ Chí Minh lại tệ đến vậy.

Nhưng tôi tự hỏi, có bao nhiêu quan chức sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ khi mà trong thời gian qua, trong những đại án Việt Á và “chuyến bay giải cứu” chúng ta được chứng kiến sự táng tận lương tâm, sự tham lam vô độ, miệng nói “vì dân” mà tay liên tục vơ vét, của những bộ mặt danh giá nhất trong hệ thống?

Nhìn clip này ta sẽ thấy một sự “bung, toang” thật sự và không hề “ngạo nghễ” chút nào. Tôi tự hỏi, còn bao nhiêu đồng chí chưa bị lộ, bên ngoài thì “trong veo” ngây thơ trong sáng như trẻ mẫu giáo nhưng thật ra trong lòng run sợ?

Đây cũng chỉ là một tiếng thở dài bất lực của một thằng dân yếu thế là tôi, đừng quy kết gì to tát mà nực cười.