Nhiều tập đoàn Mỹ xúc tiến đàm phán thương mại với Bộ Công An Việt Nam

Tổng hợp Báo Chí Quốc Tế

Đài VOA nói:

Hàng chục công ty Hoa Kỳ sẽ tổ chức các cuộc họp với Bộ Công an và Bộ Quốc phòng Việt Nam vào tuần tới, khi một nhóm doanh nghiệp Mỹ muốn ký một thỏa thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp thiết bị cho công an Việt Nam, theo Reuters trích dẫn thông tin từ nhà tổ chức.

Các cuộc gặp, dự kiến diễn ra vào ngày 18/3, là một phần của cuộc đối thoại dẫn tới việc nâng cấp quan hệ trong chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Joe Biden hồi tháng 9, trong lúc Washington tìm cách giành được ảnh hưởng ở quốc gia chiến lược của Đông Nam Á, vốn cũng có quan hệ với Trung Quốc, theo Reuters.

Ông Vũ Tú Thành, đại diện Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN (US ABC), nhóm vận động tổ chức sự kiện, cho hãng tin Anh biết.

“Boeing sẽ nêu bật mối quan hệ hợp tác ngày càng tăng của công ty với Việt Nam và các cơ hội tăng cường năng lực hàng không vũ trụ của nước này,” Boeing nói với Reuters trong một tuyên bố gửi qua email.

ATMO, nhà cung cấp dịch vụ khí tượng sử dụng trí thông minh nhân tạo (AI) cho các chính phủ và quân đội có trụ sở tại Hoa Kỳ, cũng sẽ tham gia các cuộc họp, theo tiết lộ của ông Thành và xác nhận của công ty với Reuters.

US ABC, với các thành viên bao gồm một số tập đoàn lớn của Mỹ, đã gửi bản dự thảo thỏa thuận tới Bộ Công an Việt Nam, trong đó có các lĩnh vực mà “các công ty của chúng tôi có thể trợ giúp”, bao gồm cung cấp công nghệ phát hiện và ngăn chặn tội phạm, phân tích dữ liệu lớn, máy bay trực thăng, dịch vụ hàng không và an ninh mạng, ông Thành cho Reuters biết.

Các quan chức Mỹ đã công khai nói rằng Washington sẽ sẵn sàng tăng cường phòng thủ cho Việt Nam, đặc biệt là ở Biển Đông, nơi Hà Nội thường xuyên có tranh chấp với Trung Quốc về ranh giới chủ quyền.

Hỗ trợ cho công an Việt Nam có thể gây tranh cãi hơn ở Mỹ, theo Reuters. Báo cáo mới nhất của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về nhân quyền ở Việt Nam, công bố năm ngoái, đã cảnh báo về những vi phạm đáng kể và trích dẫn “những báo cáo đáng tin cậy cho thấy các thành viên của lực lượng an ninh đã có nhiều hành vi vi phạm”.


 

Thầy và trò đoàn tụ sau 72 năm

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Tuấn Khoa

10-3-2024

Bác Tâm năm nay đã 88 tuổi, nói với tôi rằng, bác về nước lần này với mục đích duy nhất là muốn được ghé thăm người thầy cũ đã từng dạy bác 72 năm về trước, thầy Nguyễn Xuân Đào, năm nay đã 94 tuổi rồi.

Hai lần về nước vừa rồi không ghé thăm thầy được, bác cứ hối tiếc mãi. Ba năm nay, từ ngày tìm ra được thông tin của thầy, ngày đêm bác cứ chờ cơ hội về thăm thầy, bác lo lắng vì sợ quá muộn. Ngồi trên máy bay từ Los Angeles về Sài Gòn mà lòng dạ bồn chồn…

Biết bác Tâm không khỏe sau chuyến bay dài nên tôi chở ba tôi, thầy Đạo, đến gặp học trò Tâm. Cuộc gặp gỡ của hai thầy trò sau 72 năm xa cách cảm động không sao kể xiết. Hai tấm thân còm cõi với lưng còng, hai mái tóc bạc phơ, dọ dẫm từng bước tiến đến để nhận nhau.

Người học học trò cung kính chắp hai tay, cúi xuống thật gần và xá thầy. Ông thầy gỡ tay học trò như muốn nói lời miễn lễ. Tôi thấy mắt họ long lanh và thỉnh thoảng họ gỡ kính ra lau. Họ im lặng, không nói gì trong một thời gian dài. Tôi ý tứ lui ra phía sau để quan sát và lắng nghe tâm sự hai thầy trò của thời Quốc Văn Giáo Khoa Thư.

Ảnh: Học trò Tâm (88 tuổi) và thầy Đào (94 tuổi) của trường Đại Tráng (Bắc Ninh), gặp lại nhau sau 72 năm. Nguồn: Nguyễn Tuấn Khoa

Bác Tâm suốt buổi khoanh tay tiếp chuyện thầy. Bác chậm rãi xin phép thầy cho được nói đôi lời:

“Con tìm được thầy là một sự tình cờ. Phương con gái của con và Khoa con trai của thầy là bạn học chung lớp ở trường đại học Bách Khoa. Chúng nó thân nhau vì Phương học Trưng Vương còn Khoa học Võ Trường Toản và đặc biệt là nhà con, thầy Vũ Quyết, lại là thầy dạy Anh Văn cho Khoa và các bạn ở trường Võ Trường Toản. Phương học chưa hết năm thứ I thì vượt biển với hành trình rùng rợn, ám ảnh cả đời. Thầy Quyết cũng ra đi như thế sau một năm.

Gần 40 năm sau, các cháu tìm và gặp lại nhau. Trong buổi đoàn tụ, biết con thường về làng Đại Tráng, tỉnh Bắc Ninh để làm từ thiện, Khoa bằng sự nhạy bén đã cho biết về người cha của mình đã từng dạy học ở làng Đại Tráng từ 1950 đến 1952. Con nhận ngay ra thầy và rất xúc động.

Năm 1950, con 13 tuổi học lớp Ba, thấy một Thầy giáo trẻ, 19 tuổi, từ Hà Nội về dạy lớp Năm tại trường Tiểu Học Đại Tráng. Hai năm sau con lên lớp Nhất được học thầy nhưng chỉ vài tháng sau học trò không còn thấy thầy đến trường nữa. Con nghe hai cô giáo của con là hai chị em, cô Phương và cô Tú, nói thầy đi sang Pháp du học. Ngày ấy thế sự đổi thay như con tạo xoay vần. Năm 1954 cả miền Bắc biến động vì dòng người di cư vào Nam như thác đổ. Gia đình con và hàng xóm ở Đại Tráng cũng dắt díu nhau đi rồi vào Sài Gòn lập nghiệp, tạo nên một cuộc ly tán lịch sử.

Nhiều năm sau đó, con và nhà con gặp thầy đi cùng với cô ở thương xá Tax, con chào nhưng chắc thầy không nhận ra con. Rồi ít năm sau thầy đến phòng mạch chơi với bác sĩ Huyên, con làm tại đây và có nói chuyện với thầy ít câu. Sau đó con không còn gặp lại thầy nữa…

Thầy có kỷ niệm về những ngày đi học ở Hà Nội kể cho con nghe đi. Con sẽ ghi chép và gửi cho con cháu để chúng lưu giữ về người thầy đáng kính của mẹ và bà chúng nó”.

Thầy chăm chú lắng nghe không sót một chữ rồi chậm rãi tiếp lời:

“Năm 1949 tôi học xong Sư Phạm Cấp tốc trong gần một năm ở Hà Nội rồi về làng Đại Tráng dạy học. Chỉ dạy có 2 năm nhưng ký ức về học trò của ngôi trường ở nông thôn miền Bắc này vẫn còn in đậm trong tôi mãi đến sau này.

Năm 1952 tôi lên đường theo lệnh Động Viên, học khóa I trường Bộ Binh Thủ Đức (tức Khóa 2 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức), đi tu nghiệp Không Quân tại Ma-rốc, rồi Pháp, rồi về đóng quân ở phi trường Nha Trang. Ít năm sau tôi từ bỏ binh nghiệp, về Sài Gòn theo nghiệp giáo dục rồi chính trị.

Cảm ơn chị đã cho tôi thông tin của hai đồng nghiệp là chị Phương và chị Tú cũng di cư vào Nam. Tôi sẽ ghé thăm chị Phương sớm, chắc đã 97 tuổi? Chị Tú thì đã muộn rồi. Tôi sẽ kể cho chị nghe về một kỷ niệm với thầy của tôi và một kỷ niệm với bạn bè thời trước di cư.

Những ngày đi học là những ngày bình an và thơ mộng nhất. Học trò thời đó kính trọng thầy giáo của mình quá mà đâm ra xa cách. Thầy hết mực thương yêu học trò nhưng lúc nào cũng nghiêm nghị, làm cho khoảng cách ấy càng xa hơn. Hồi tiểu học tôi học ở làng Mỹ Hào, tôi nhớ mãi thầy giáo khả kính của tôi tên là thầy Vũ Duy Bính. Thầy thương học trò như con và đặc biệt rất thương tôi vì tôi học giỏi. Khi vào Nam tôi vẫn luôn nhớ đến thầy của tôi và ao ước có ngày sẽ gặp lại.

Sau năm 1975, tôi có dịp ra Bắc để thăm mẹ của tôi, bà cụ vẫn còn giữ học bạ của tôi, mới như thời còn đi học. Nhìn thấy bút phê của thầy Bính, tôi cảm động và quyết tâm tìm lại thầy. Thật kỳ diệu, thầy khi đó đã gần 100 tuổi, vẫn còn minh mẫn và vẫn nhận ra tôi sau 30 năm loạn lạc. Thầy còn nhắc: ‘Ngày xưa tôi hay nói trong lớp rằng tôi cứ chờ anh Đạo nhường hạng nhất một lần nhưng không thấy xảy ra’.

Ảnh chụp sổ học bạ 82 năm trước. Nguồn: Nguyễn Xuân Khoa 

Thầy Vũ Duy Bính gần 98 tuổi, nhận ra bút tích của mình ghi trong học bạ và nhận ra học trò thầy dạy năm 1945 ở Cours Supérieur (lớp Nhất) trường Tiểu học Sinh Từ. Thầy vẫn còn minh mẫn nhắc lại từng kỷ niệm với người học trò cũ. Nguồn: Nguyễn Xuân Khoa

Lên lớp lớn tôi học ở trường Bưởi. Thật kỳ lạ, lớp tôi ngày ấy quy tụ toàn là những nguời học giỏi, họ có lý tưởng giống nhau, cùng di cư vào Nam và đều trở thành nhưng người nổi tiếng, như các anh: Nguyễn Cao Kỳ, Cung Thúc Cần (Cung Trầm Tưởng), Phan Phụng Tiên (chuẩn tướng Không Quân), Vũ Đình Đào (Phó Đề Đốc Hải Quân), Phó Quốc Trụ (PGĐ Thương Cảng Sài Gòn), Đỗ Hữu Khanh (Đại tá Không Quân), Đỗ Hữu Tuấn (bác sĩ tại Lyon), Trần Quốc Khang (đại tá CHT căn cứ Long Bình) và còn nhiều nữa mà bây giờ tôi quên nhiều rồi…

Câu chuyện cứ kéo dài không dứt được. Lúc chia tay thầy và trò nhẫm tính, thầy nay đã 94 và trò đã 88, đều đã già và yếu. Lần gặp lại sau 72 năm có thể là lần gặp sau cùng. Cả hai lặng lẽ chia tay như khi gặp lại ít phút trước đó.

Chúc cho thầy và trò sống khỏe trong những ngày còn lại của cuộc đời. Cầu mong thầy và trò sẽ được đoàn tụ nơi thế giới bên kia.


 

Tản Mạn Cuối Tuần: Nghệ Thuật làm Cổng Đám Cưới Long Phụng ở Miền Tây

Cổng Cưới làm bằng lá dừa là một truyền thống ở Miền Tây.

  • Cổng cưới hình Long Phụng thường được nhà giầu có quý phái dựng.
  • Cổng được làm từ vật liệu cây nhà lá vườn, có thể kể đến như lá dừa, ớt, khóm, cau… 
Cổng cưới "Rồng Phụng nền xanh"
Rồng và Phụng bay lượn trong nền trời có hoa đăng, có rồng cha và phụng mẹ ở bên trên. Dưới chân Rồng Phụng là nền lá xanh điểm các chùm hoa trắng thanh khiêt.
Cổng Vu Quy
Rồng xanh, Phụng vàng lông đỏ nỏi bật trên nền hoa hồng đỏ tô điểm cho cuộc xum vầy hai gia đình.
Tác Giả điêu luyện
Anh Trần Văn Ngọt (34 tuổi, ở huyện Chợ Mới) tạo nên những cổng cưới rồng, phượng tinh xảo bằng trái cây và lá dừa với tay nghề 10 năm.
Cổng Biệt Thự với trang trí Long Phung
Long Phụng trông cũng đẹp nhưng độ tinh xảo không bằng tài nghệ của nghệ nhân Trần văn Ngọt.
Cổng Long Phụng Vàng
Nền vàng và trắng tao nhã
Cổng cưới riềm lá dừa
Một kiểu cổng dân gian bằng lá dừa.

Anh  Ngọt, nghệ nhân cổng cưới, cho biết, “Những năm gần đây, cổng cưới dân gian này thịnh hành trở lại, nhưng khách hàng có yêu cầu cao hơn về tính thẩm mỹ, độc đáo”

Cổng cưới làm thủ công hình rồng, phượng để hy vọng mang lại sự sum vầy, hạnh phúc cho đôi trẻ. Trung bình một tháng, anh Ngọt nhận làm khoảng 7 – 10 cổng

Cổng rồng – phượng phải qua nhiều giai đoạn, làm khung sườn, tạo dáng, làm chi tiết vảy rồng, răng, râu. Sau đó, các bộ phận được di chuyển đến nơi tổ chức hôn lễ để lắp ráp. Sau cùng thêm phần trang trí hoa, lá cành.

“Hiện khách chủ yếu ưa chuộng mẫu cổng cưới rồng, phượng. Chất liệu để làm cũng gần gũi (nhà vườn) như thân cây chuối, lá đủng đỉnh, lá và trái dừa nước, đậu đũa, đậu bắp, cau kiểng, tỏi, ớt, lá dừa…”

  CHÌM VÀO VỰC BẤT XỨNG- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!”

Simpson viết, “Cầu nguyện là sợi dây liên kết con người với Chúa, là chiếc cầu bắc qua mọi vùng vịnh, đưa bạn vượt mọi thung lũng hiểm nguy!  Chúa không cần những con người vĩ đại, Chúa cần những con người dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài.  Vì thế, lời cầu mạnh mẽ nhất là lời cầu khởi đi từ một linh hồn đã ‘chìm vào vực bất xứng’ của nó!”

Kính thưa Anh Chị em,

Cao trào của Lời Chúa hôm nay là tính cách trần trụi của ‘một vai phụ’ trong dụ ngôn Tin Mừng, một người thu thuế!  Anh đã dâng một “lời cầu khởi đi từ một linh hồn đã ‘chìm vào vực bất xứng’ của mình.  Với những gì anh bộc lộ, Chúa Giêsu mách cho chúng ta điều Thiên Chúa yêu thích nơi con người là “tình yêu,” mà không cần bất cứ điều gì khác!

Hôsê cho biết, Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người, “Tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng, mau tan tựa sương mai”; Ngài chỉ muốn tình yêu, “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ” – bài đọc một.  Thánh Vịnh đáp ca cũng lặp lại chỉ ngần ấy!

Trái với điều Thiên Chúa chờ đợi, người biệt phái trong Tin Mừng dâng Thiên Chúa một điều gì đó hoàn toàn khác!  Lời cầu nguyện của ông bị bóp méo khi ông coi Thiên Chúa như ‘Con Nợ’ và tệ hơn, lấy những ‘kỳ tích’ của mình để so sánh và khinh dể người khác.  Thực ra, đó không phải là cầu nguyện mà là ‘diễn văn.’  Tuy không phải là người xấu, nhưng lòng kiêu hãnh của ông đã khiến ông mù lòa đến độ xúc phạm tình yêu khi ông sống tôn giáo của mình một cách tối thiểu để không phạm tội; nhưng ông không biết rằng, Thiên Chúa không bao giờ thoả mãn với một ‘mức tối thiểu trần!’  Lời cầu ông là ‘vô trùng’ khi ông quên rằng, Thiên Chúa chỉ “muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”

Nhân vật thứ hai của dụ ngôn cũng lên đền thờ cầu nguyện! ‘Vai phụ’ này “khi ra về thì được khỏi tội.”  Người này “khỏi tội” không phải vì đã làm những điều đúng đắn, nhưng vì đã khiêm nhường nhận ra tội của mình.  Lời cầu của ông xuất phát từ một tấm lòng tan nát; ông ý thức sự bất xứng của mình trước một Đấng Toàn Thánh.  Và có lẽ, đã nghe thấy những gì người Pharisêu nói và điều đó càng khiến ông càng đau đớn hơn để ‘chìm vào vực bất xứng’ của mình, và ông chỉ đủ sức đấm ngực nài van, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”  Lạ thay, điều này rất đẹp lòng Chúa và Ngài thích thú!

Đức Phanxicô nói, “Nơi nào có quá nhiều cái “tôi”, nơi đó rất ít Chúa.  Ở nước tôi, chúng tôi gọi những người này là “Tôi, chính tôi và tôi,” tên của những người đó.  Người ta từng nói về một linh mục tự cho mình là trung tâm và thường bông đùa rằng: “Mỗi khi xông hương, thì ngài xông ngược; ngài xông chính mình!”;  và điều đó khiến bạn buồn cười!”

Anh Chị em,

“Ta muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”  Mọi sự trên trần gian đều thuộc về Chúa, Ngài cần gì hy lễ của ai!  Ngài cần tình yêu từ tận trái tim mỗi người.  Đừng quên, “Lời cầu mạnh mẽ nhất là lời cầu khởi đi từ một linh hồn đã ‘chìm vào vực bất xứng’ của nó!”  Đây là điều làm cho kinh nguyện của chúng ta có kết quả!  Chỉ những ai tự nhận mình ‘không có gì’ mới có thể nhận được tất cả; những ai biết mình trống rỗng mới có thể được lấp đầy.  Mùa Chay, mùa ‘chìm vào vực bất xứng’ để chỉ biết cầu xin lòng Chúa xót thương!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘xông hương ngược!’  Chúa không cần sự vĩ đại của con, Chúa cần con biết ‘con đáng thương’ ngần nào và dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim


 

CÔ TỊCH – Fb Huỳnh Thị Tố Nga

Kim Dao Lam

Fb Huỳnh Thị Tố Nga

Mẹ ngồi đó giữa mênh mông lạnh lẽo

Dáng hao gầy lay lắt buổi chiều đông

Bàn tay nhàu chiu chắt với cần lao

Con chợt thấy cay cay nơi khóe mắt

Mẹ ngồi đó giữa mênh mông phố xá

Người đi qua nhau, nhân thế phôi pha

Tấm thân gầy hiu hắt với thời gian

Nhắm mắt lại với giấc mơ vội vã

Một đời người chiêm bao như một thoáng

Giấc mộng vô thường cô tịch mông lung

Quần quật cả đời, mẹ có gì vui

Đã thấu hiểu buồn vui cùng lạc lõng

Tỉnh mộng rồi mẹ chợt thấy mênh mang

Bỏ lại hết phố phường xa hoa đó

Nơi những con người ung dung hưởng thụ

Chân thản nhiên đạp lên những xác người

Những người mẹ suốt một đời lam lũ

Chỉ mong sao con khôn lớn thành người

Xây dựng lại những gì đang đổ nát

Đạo đức con người, văn hóa, nhân văn.

HUỲNH THỊ TỐ NGA

Mar 9, 2024


 

Tại sao ‘con lạc đà Vạn Thịnh Phát chui qua được lỗ kim’ như thế?

Ba’o Tieng Dan

09/03/2024

RFA

Trần Hiếu Chân

Bà Trương Mỹ Lan (giữa) ra tòa án thành Hồ ngày 5/3/2024. Nguồn: AFP

“Chưa bao giờ đất nước ta có được… uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay”. Tuyên bố nằm lòng và quen thuộc ấy của Tổng bí thư (TBT) Nguyễn Phú Trọng trúng phóc khi người dân cả nước những ngày này ‘tin tưởng, hồ hởi và phấn khởi’, đang theo dõi phiên tòa xét xử vụ gian lận tài chính lớn nhất nước, được bắt đầu vào ngày 5/3 và dự kiến kéo dài cho đến 29/4.

Theo Reuters, nếu các cáo buộc được chứng minh là đúng, đây có thể là một trong những vụ lừa đảo tài chính lớn nhất châu Á. Vì vụ bê bối tham nhũng đình đám 1MDB (1Malaysia Development Bhd) của Malaysia năm nào cũng chỉ liên quan đến khoảng 4,5 tỷ USD, còn vụ này trị giá trên 12 tỷ USD, chiếm khoảng 3% GDP Việt Nam. Phiên tòa xử nữ Chủ tịch của Tập đoàn phát triển bất động sản Vạn Thịnh Phát (Van Thinh Phat Holdings Group) Trương Mỹ Lan chưa từng có tiền lệ về quy mô, tầm mức gây hại, với hàng ngàn người bị / được triệu tập và khoảng hơn hai trăm luật sư tham gia tố tụng (1).

Mà không chỉ lớn nhất châu Á, việc xử một phụ nữ ngày nào còn bán vải ở chợ An Đông (TP. Sài Gòn) chắc hẳn sẽ được xếp vào một trong những vụ án lừa đảo tài chính lớn nhất thế giới, có thể ‘sánh vai’ cùng những Enron, Madoff và Barings ở Mỹ… (2). Nhưng Van Thinh Phat Holdings Group còn ‘trên tài’ các ‘siêu lừa thế kỷ’ trên đất Mỹ ở chỗ, các bậc đàn anh kia bị các cơ quan công quyền phát hiện ngay trong một thời gian ngắn. Còn cô gái người Việt gốc Hoa từ chợ An Đông, chỉ mới tốt nghiệp trung học ngày nào, đã nhanh chóng mọc đủ nanh vuốt để khuynh đảo thương trường và chính trường trong cả nước suốt gần hai chục năm trời. Mà quá trình khuynh đảo ấy lại diễn ra dưới con mắt giám sát và theo dõi chặt chẽ của guồng máy công an khét tiếng trong chế độ toàn trị. Mọi nhất cử nhất động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không thể nào lọt qua cặp mắt nghiệp vụ của ‘các đồng chí an ninh’. Mạng lưới ‘điệp ngầm’ ở Việt Nam ‘nằm vùng’ trong mọi cơ quan nhà nước, đặc biệt là trong hệ thống ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại là dày đặc, thậm chí họ còn theo dõi lẫn nhau. Vậy sao lại để ‘con lạc đà Vạn Thịnh Phát chui lọt qua được lỗ kim’ như thế?  

Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh sẽ còn xử vụ này trong vòng 60 ngày, nhưng chỉ mới sau ngày đầu tiên, hôm 6/3/2024, Bí thư thành ủy Sài Gòn Nguyễn Văn Nên đã vội vã đưa ra lời cảnh báo, rằng đây là một vụ án lớn… có yếu tố nước ngoài. Rồi ông Nên kêu gọi mọi người phải kịp thời phát hiện, phòng ngừa âm mưu phá hoại, vì liên quan đến rất nhiều người dân, trên 30.000 người (3).

Không rõ, ông Bí thư sợ cái gì từ những người dân tay không, theo dõi vụ án mà công an và mật vụ canh gác nghiêm ngặt cả vòng trong lẫn vòng ngoài? Tại sao suốt cả chục năm trời, ông không thấy sợ và không ‘nêu cao cảnh giác’ với chính những kẻ trong Đảng của ông từng ‘nuôi án’ từ thời Vạn Thịnh Phát ‘phất lên như diều gặp gió’? Chắc chắn là ông chả lạ lẫm gì những kẻ giấu mặt này, nhưng tại sao ông không giúp Đảng xử lý được chúng? Một số kẻ trong đường dây mafia này, như ông biết, hiện vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, kể cả một vài ‘hung thần trùm cuối’ của vụ án, mà người dân Sài thành cũng như người dân trong cả nước, ai cũng có thể vạch mặt chỉ tên! Chả nhẽ dân thường biết mà ông Bí thư không biết? Hay ông biết nhưng đành thúc thủ? 

Bà Trương Mỹ Lan – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát RFA edit

Nói người dân ‘tin tưởng, hồ hởi và phấn khởi’ theo dõi phiên tòa chẳng qua là người viết chú ý tới cái ‘tâm lý đám đông’ thôi, thưa đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Nên. Dân bây giờ giác ngộ lắm. Hình như chính TBT Nguyễn Phú Trọng cũng có lần đã phải thừa nhận thế. Người dân họ biết tuốt. Họ biết, có thể không chính xác đúng như con số thống kê, từ khi ông Trọng trực tiếp làm Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về chống tham nhũng đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168 nghìn đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (4). Quả thực đây là một thành tích ‘vĩ đại’ của công cuộc ‘đốt lò’. Nhưng tại sao thành tích lớn như vậy nhưng ‘chủ lò’ vẫn băn khoăn tự hỏi: ‘Chúng ta đã quyết liệt xử lý cán bộ, vì sao vẫn xảy ra nhiều vụ án tham nhũng lớn… Có phải do cán bộ không biết sợ?

Không phải đâu, thưa ngài Tổng bí thư! Chính vì sợ nên Trương Mỹ Lan đã tung nhiều chiêu khá độc. Thị đã từng nhờ Dương Chí Dũng chuyển lên Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ một triệu USD ‘để bôi trơn’ (5). Nhưng dù có mánh lới và quỷ quyệt đến mấy thì Trương Mỹ Lan và đồng phạm cũng chưa thể là đối thủ của hệ thống ‘chuyên chính hữu sản’ trên đất nước này. Vậy tại sao bà Trương Mỹ Lan lại có thể tự tung tự tác để thâu tóm tiền bạc trái pháp luật suốt bao nhiêu năm trời, công khai trước bộ máy công an và chính quyền? FB Võ Xuân Sơn đã đưa ra câu trả lời chính xác. Đó là do cái định chế của nhà nước này sinh ra vốn để kiểm soát bà Trương Mỹ Lan và đồng bọn đã thoái hóa, thối nát đến cùng cực. Nguyên một đoàn thanh tra gồm các thành viên Cơ quan Thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước, các thành viên của Kiểm toán Nhà nước, các thành viên của Thanh tra Chính phủ, các thành viên của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, và hàng loạt cán bộ cao cấp của Ngân hàng Nhà nước… Tất cả đều nhận hối lộ và đều đồng ý ký vào các Biên bản thanh tra, để bao che cho sai phạm của bà Trương Mỹ Lan và ngân hàng SCB (6). Vậy thì liệu sau gần hai tháng xử, các ông có chắc, Tòa TP. Hồ Chí Minh sẽ bóc tách được mọi đầu mối của đường dây mafia này không?

Ông Dương Chí Dũng (giữa) ra tòa ở Hà Nội hôm 16/12/2013. AFP

Người viết bài này không tin rằng sau 60 ngày, Tòa án TP. Hồ Chí Minh sẽ trả lời được những câu hỏi hóc búa nêu trên. Bởi vì, như đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) mới đây vừa phát biểu trong buổi thảo luận tại hội trường Quốc hội, các vụ nhận hối lộ bằng tiền mặt cũng như số lượng tiền bị chiếm dụng trong vụ Vạn Thịnh Phát là nhiều nhất từ trước đến nay, nhưng ‘tất cả cũng chỉ là bề nổi của tảng băng bị vỡ, vẫn còn những tảng băng khác chưa bị vỡ’Phát biểu của vị đại biểu này đặt ra vấn đề, sau khi cắt ‘đỉnh tảng băng’, ai sẽ là người đủ thẩm quyền để xử tiếp ‘phần chìm bên dưới những tảng băng khác chưa vỡ’? (7). Hơn nữa, số tiền bà Lan chiếm đoạt ‘khủng’ tới mức nếu quy đổi ra tiền 500 nghìn đồng thì nó nặng tới 68 tấn và khi trải ra thì có thể dài tới 10.366 cây số. Khối lượng tiền tương đương với tổng tài sản của năm đại gia giàu nhất Việt Nam hiện nay, lên đến khoảng từ 12 đến 13 tỷ USD (8). Lại nữa, chồng bà Mỹ Lan là ông Chu Lập Cơ (Chu Nap Kee, 68 tuổi), mang hộ chiếu Hong Kong (Trung Quốc). Vậy thì với ‘yếu tố nước ngoài’ này, hàng chục tỷ USD ‘thụt két’ hiện đang nằm ở đâu? Vẫn còn ở trong hay đã được chuyển ra ngoài Việt Nam?

Cuối cùng, nhưng rất quan trọng, từ Vạn Thịnh Phát nhìn lại các đại án tham nhũng chấn động mấy năm trở lại đây, đại chúng có thể thấy một mẫu số chung khá khôi hài. Chia sẻ với nick name @trunghieuphan554 trên một YouTube: ‘Các quan lớn, quan nhỏ cứ tham nhũng vô tư, nếu bị phát hiện thì trả lại ‘một mớ’ là án được giảm nhẹ. Sau khi đem tiền nộp tại Tòa xong thì tiếp đến ‘màn’ khóc lóc kể khổ, kể hoàn cảnh gia đình, kể công trạng đóng góp cho cách mạng, trưng ra các bằng khen, giấy khen, các loại huân huy chương… Mà những công trạng này vốn đã được ghi nhận, đã được tưởng thưởng trước đây thông qua nâng lương, hay phong cấp phong hàm. Nay ra tòa còn đòi được ghi nhận tiếp các công trạng ấy để giảm án’ (9). Giảm vì thành tích gì? Chẳng nhẽ vì thành tích ‘tham nhũng xuất sắc’? Chống tham nhũng kiểu ‘‘Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín’ như thế thì khác nào khuyến khích các đại quan cứ tha hồ đục khoét (10). Người dân có quyền đặt vấn đề, phải chăng hàng trăm tập đoàn, hàng ngàn công ty ngoài kia đang vận hành có khác gì những kẻ đứng trước ‘vành móng ngựa’, nhưng chẳng qua họ biết ‘ăn chia đúng và đủ’ cho các ‘đồng chí đang mai phục trong đống rơm’ nên vẫn tha hồ bòn rút tài sản công và tiền thuế của dân một cách vô tội vạ?

Tham khảo:

(1) https://www.reuters.com/world/asia-pacific/trial-begins-vietnams-largest-multi-billion-dollar-financial-scam-2024-03-05/

(2) https://economictimes.indiatimes.com/magazines/10-financial-frauds-that-shook-the-world/articlelist/3847076.cms?from=mdr

(3) https://plo.vn/bi-thu-thanh-uy-tphcm-nguyen-van-nen-noi-ve-vu-an-van-thinh-phat-post779098.html

(4) https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-so-ket-1-nam-hoat-dong-cua-ban-chi-dao-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-cap-tinh-102230619190140061.htm

(5) https://tuoitre.vn/nhung-loi-khai-chan-dong-cua-duong-chi-dung-tai-toa-589099.htm

(6) https://baotiengdan.com/2024/03/07/nhung-cau-hoi-nhuc-nhoi-tu-vu-van-thinh-phat/

(7) https://thanhnien.vn/vu-van-thinh-phat-co-the-chi-la-be-noi-cua-tang-bang-bi-vo-185231121111049744.htm


 

6 VIỆC LÀM THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI

  1. Biết quên đi bất hạnh của chính mình, sống có ý nghĩa và lạc quan hơn.

Người chỉ biết ôm khư khư nỗi đau của riêng mình mà quên đi nỗi đau của đồng loại chỉ là người ích kỷ và tự ti. Chẳng có lợi lạc gì khi chỉ biết sống dằn vặt với nỗi đau quá khứ nên biết lật qua trang sách mới cuộc đời, mở ra một chương mới và khép lại một chương đã từng là bất hạnh và đau buồn. Người chỉ ngấu nghiến đọc trang nhật ký đau buồn đã trôi qua mấy chục năm thì không bao giờ biết được những trang nhật ký tiếp theo của cuộc đời mình sẽ huy hoàng và rực rỡ như thế nào.

  1. Biết tha thứ cho bản thân mình và người khác.

Đã sinh ra làm người thì ai cũng phạm lỗi lầm dù ít hay nhiều, nếu biết quên đi những lỗi lầm của chính mình và của người khác thì sẽ thấy nhẹ nhõm hơn. Nên nhìn vào những mặt tích cực của người khác để tha thứ, người chỉ thấy toàn khuyết điểm xấu của người khác sẽ không bao giờ biết tha thứ là gì.

  1. Sống hòa đồng với người khác.

Mỗi người đều có cá tính riêng, 9 người 10 ý, nếu biết dung hòa và đi tìm mẫu số chung của 9 người này hay của tập thể thì mình sẽ không tự cô lập bản thân mình như Robinson trên đảo hoang, muốn la hét chạy nhảy, vui sướng hay đau buồn gì chỉ có mình mình biết, mình mình hay, rồi từ đó quy kết cuộc đời mình sao quá bất hạnh, quá khổ đau, sao không ai hiểu cho mình và tự so sánh thừa nhận nỗi bất hạnh của đời mình lớn hơn tất cả nỗi bất hạnh của người khác cộng lại.

  1. Biết thay đổi những thói quen xấu có hại cho mình và người khác như hút thuốc, uống rượu, ăn quá nhiều,… sống có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình hơn, để tránh làm người khác đau buồn vì mình.
  2. Đừng làm việc quá nhiều, tham công tiếc việc, việc gì cũng ôm đồm vào mình, làm việc gì cũng muốn toàn mỹ, toàn hảo, nên biết phân công công việc cho kẻ khác làm cùng. Người ta dù làm sai, hiệu quả công việc tuy sẽ không đạt 100% năng suất nhưng ta sẽ hưởng được những phút giây thanh thản và lại tạo cơ hội cho người khác được học hỏi từ những sai lầm đó. Hoàn hảo để làm gì khi ta đánh đổi những phút lo âu căng thẳng, những viên thuốc paracetamol và sự suy nhược thần kinh của chính chúng ta.
  3. Biết cảm ơn cuộc đời này, biết ơn cha mẹ công ơn dưỡng dục sinh thành, biết ơn người khác đã giúp đỡ cho chúng ta.

Luôn luôn nói Cảm Ơn và ban tặng nụ cười cho người khác. Hãy quý trọng cuộc sống này vì chúng ta sinh ra đã được làm một con người, dù xấu xí, tàn tật, ngoại hình không như ý muốn nhưng cái phước báu và giá trị của con người khác loài vật ở chỗ không nằm ở ngoại hình mà ở trong Tâm.

St

Người có ĐỨC mới có PHÚC

Khí chất thực sự của một người không phải là vẻ ngoài đẹp đẽ, mà là sự phong phú nội tâm bên trong; điều quan trọng nhất của cuộc đời một người không phải là của cải, mà là phẩm hạnh! Người có đạo đức đi đến đâu cũng được kính trọng; người không có đạo đức đi đến đâu cũng bị ghét bỏ.

Người có đức ắt sẽ có phúc! Phúc đức của một người không chỉ ẩn chứa sự tu dưỡng , mà còn ẩn chứa phúc khí của đời người. Làm người phải chú ý đến đức hạnh của bản thân, mới là người có đức.

Làm người phải lương thiện, lương thiện là đức tính tốt đẹp nhất

Nếu được hỏi phẩm chất tốt đẹp nhất trên thế giới này là gì, tôi chắc chắn sẽ nói đó là lương thiện. Lương thiện mới là năng lượng tích cực trên thế gian, nó có thể gửi hơi ấm và làn gió xuân cho người khác, đồng thời khiến bản thân cảm thấy an tâm.

An tâm là phúc lớn nhất đời người, người ta sống cả đời chỉ cầu được an tâm. Thực ra, chọn lương thiện không phải vì người khác mà là cho chính mình, để xứng với lòng mình, để cho lương tâm mình trong sáng không hối hận.

Người ta nói người tốt bị người khác lừa dối, nhưng tôi nghĩ dù thế nào thì chúng ta cũng phải giữ lòng tốt, đừng vì người khác không thiện mà mất đi sự thiện lương trong con người. Lòng tốt không hề sai trái, nhưng lòng tốt phải có thước, có độ, có sự sắc sảo của nó.

Làm người phải chân thành, chân thành là phẩm chất tốt đẹp nhất

Dù người khác không chân thành, chúng ta cũng phải chân thành, xứng đáng với lương tâm của mình, xứng đáng với cách cư xử của mình. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng chỉ có đối xử chân thành với mọi người thì chúng ta mới có thể nhận lại được sự chân thành từ người khác.

Làm người phải giữ chứ tín, tín là nguyên tắc tốt nhất

Người không giữ lời hứa sẽ mất lòng tin của mọi người đối với mình, con đường trong tương lai chỉ càng ngày càng hẹp, vận may sau này cũng tiêu tan dần. Niềm tin một khi sử dụng hết sẽ mất đi, chỉ có giữ nguyên tắc của chính mình thì bạn mới có thể giữ được lòng tin trong thời gian dài.

Tín nhiệm thực ra là may mắn, bạn càng đáng tin cậy, càng được nhiều người tin tưởng thì bạn càng may mắn, vì vậy càng giữ chữ tín bạn càng may mắn. May mắn là phước lành, bạn có bao nhiêu may mắn, bạn sẽ có bấy nhiêu phúc lành!

Người có đức ắt sẽ có phúc, đức của người ẩn chứa trong việc làm của người đó.

Thật ra, chúng ta không nên coi làm người là một loại tri thức uyên thâm, chỉ cần bạn là con người chân chính nhất, tử tế, đối xử chân thành với người khác và giữ lời hứa, bạn sẽ là người có đức, có phúc!

Phúc đức của cuộc đời ẩn chứa trong đức hạnh của bạn, đức hạnh càng sâu thì phúc báo càng sâu. Tuy rằng không ai nhìn thấy tích đức, hành thiện tự có Chúa biết, càng làm việc thiện, càng tích đức, phúc đến, may mắn đến. Sau cùng sẽ được hưởng phúc bên Chúa.

Amen.

Trích bài giảng: Lm Mt Nguyễn Khắc Hy

From: Tu-Phung


 

 Mỗi dân tộc cần tái suy ngẫm một cách có hệ thống về lịch sử của mình

Ba’o Tieng Dan

07/03/2024

Vương Trí Nhàn

7-2-2024

Nguyên là bài: “Vì sao người Trung quốc vô duyên với tự do dân chủ?” Tác giả: Tiêu Kiện Sinh (Trung Quốc); biên dịch: Nguyễn Hải Hoành. Tôi tìm thấy bài này là do, ngày 15-2-2024 bài được đưa trên mạng Văn Việt với nhan đề “Vì sao chúng ta vô duyên với tự do dân chủ?”.

Cách đặt vấn đề “cần tái suy ngẫm một cách có hệ thống” lịch sử dân tộc không chỉ đặt ra với giới nghiên cứu lịch sử Trung quốc mà cũng là đúng với giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam, chẳng hạn trong việc nghiên cứu về lịch sử hình thành dân tộc, nguồn gốc dân tộc đang diễn ra gần đây.

Vang vọng nhất là cái câu: “Một dân tộc không thể triệt để suy ngẫm lại lịch sử nền văn minh của mình thì rất khó nói đó là một dân tộc có hy vọng“.

Riêng trong hoàn cảnh Việt Nam sự suy nghĩ lại này chắc chắn sẽ khó khăn vô hạn và hứa hẹn nhiều đau xót hơn. Vì chúng ta không có một nền sử học lớn như Trung Quốc. Mà lại càng khó khăn hơn vì chúng ta vừa trải qua một cuộc chiến tranh lấy những tư tưởng sử học cũ làm nền tảng. Nhưng chính vì thế càng cần thay đổi như cái câu mà người ta hay nói THAY ĐỔI HAY LÀ CHẾT!

***

Sau đây là bài viết “Vì sao người Trung quốc vô duyên với tự do dân chủ?” của Tiêu Kiện Sinh, do Nguyễn Hải Hoành biên dịch:

Thập niên 1980 tôi nảy ra ý nghĩ tái suy ngẫm một cách có hệ thống về lịch sử Trung Quốc. Hồi ấy nhiều người vẫn còn quen dùng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp để xem xét các vấn đề lịch sử, lồng ghép lịch sử sống động vào trong cái khuôn phép giai cấp và đấu tranh giai cấp, tùy tiện xuyên tạc lịch sử, chia con người ra làm hai loại lớn là “cách mạng” và “phản động” để đánh giá người ta, không tôn trọng sự thực lịch sử. Tôi cảm thấy hiện tượng đó làm cho lịch sử bị đơn giản hóa và dung tục hóa.

Đến nay mấy chục năm đã trôi qua, lịch sử học của Trung Quốc đã có tiến bộ lớn. Nhưng trên nhiều vấn đề trọng đại, sử học Trung Quốc vẫn chưa có sự thay đổi thực chất, vẫn ở trong trạng thái tư tưởng hỗn loạn. Người nước ta không muốn triệt để suy ngẫm lại lịch sử của mình, cho nên không thể nhận thức chính xác các thành tựu văn minh trong lịch sử Trung Quốc, không học được các bài học kinh nghiệm thực sự hữu ích.

[Chúng ta] chưa có nhận thức đúng đắn cái gì cần vứt bỏ, cái gì cần thừa kế và phát triển. Kết quả là cái đáng bỏ thì không bỏ, ngược lại còn được coi là tinh hoa văn minh để thừa kế, còn cái tinh thần văn minh nên thừa kế và phát triển thì lại bị coi là cặn bã để vứt bỏ.

Ví dụ, Lão Tử đề xướng chủ trương “Kính thiên thuận đạo”, “Vô vi nhĩ trị”, Nho gia [Việt Nam gọi là Nho giáo] đề xướng thái độ khoan dung “Nhân giả ái nhân”, “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”,[1] Mặc Tử đề xướng tư tưởng bác ái, bình đẳng, phản chiến v.v… Những tư tưởng và chủ trương chính trị rất hay ấy lại bị phủ định trong một thời gian dài; ngược lại, các tư tưởng bạo lực và chuyên chế và thói giang hồ về sau xuất hiện thì lại được khẳng định và thừa kế lâu dài. Do tinh hoa văn minh trong lịch sử Trung Quốc không được kế thừa và phát triển nên kết quả là nền văn minh nước ta chưa đi lên con đường phát triển lành mạnh.

Mỗi dân tộc cần nhận thức đúng đắn lịch sử của mình. Chỉ có thế thì mới có thể tỉnh táo biết được đâu là tinh hoa và cặn bã trong nền văn minh ấy, từ đó tìm được cho dân tộc con đường đúng đắn để sinh tồn và phát triển. Một dân tộc không thể triệt để suy ngẫm lại lịch sử nền văn minh của mình thì rất khó nói đó là một dân tộc có hy vọng. Rất rõ ràng, một dân tộc không thể đối xử đúng đắn với ngay cả lịch sử nền văn minh của mình thì sao có thể hy vọng dân tộc đó hướng tới tương lai với một chí khí vĩ đại.

Cho tới nay, rất nhiều người vẫn còn coi Xuân thu Chiến quốc là thời đại đen tối, chia rẽ, rối loạn, chư hầu cát cứ, quân phiệt hỗn chiến. Về căn bản, họ chưa nghĩ xem một xã hội đen tối thì sao có thể xuất hiện tình hình Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng? Sao có thể sinh ra được nhiều như thế các nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn học và nhà khoa học? Sao có thể làm cho các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội xuất hiện cảnh tượng phơi phới vươn lên, phát triển mạnh mẽ như thế?

Cho tới nay rất nhiều người vẫn coi việc Tần Thủy Hoàng dùng bạo lực thống nhất 6 nước, xây dựng quốc gia chế độ chuyên chế hoàng đế đại nhất thống cao độ là một tiến bộ vĩ đại của lịch sử. Thế nhưng họ không nghĩ xem nếu là tiến bộ vĩ đại thì vì sao sau khi Tần diệt xong 6 nước, Trung Quốc lại không tái xuất hiện các nhà tư tưởng vĩ đại như Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử? Vì sao nước ta luôn luôn xuất hiện tình trạng loạn lạc có tính chu kỳ mà không thể nào thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn đó? Vì sao người Trung Quốc trong xã hội triều đại nhà Tần sống khổ như vậy? Vì sao xã hội nhà Tần nhanh chóng thiên hạ đại loạn rồi đi tới sụp đổ?

Cho tới nay rất nhiều người vẫn cho rằng triều đại nhà Tống là một triều đại chuyên chế, thối nát, lạc hậu, nghèo yếu; họ có thái độ phủ định toàn bộ đối với nền văn minh do nhà Tống tạo nên. Thế nhưng họ chưa nghĩ xem nếu là một xã hội chuyên chế, thối nát, lạc hậu, nghèo yếu như thế thì tại sao xã hội ấy lại sáng tạo nên một nền văn minh dẫn đầu thế giới hơn 100 năm? Vì sao xã hội ấy cống hiến cho thế giới những phát minh vĩ đại như thuốc nổ, kim chỉ nam, kỹ thuật in chữ rời? Vì sao dưới đời nhà Tống lại xuất hiện nền kinh tế hàng hóa phồn vinh như trình bày trong “Thanh minh thượng hà đồ”? Tại sao người nhà Tống lại sinh ra tiết tháo vĩ đại “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”? Vì sao người nhà Tống lại sinh ra được khí tiết dân tộc cao thượng như “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”?[2]

Cho tới nay rất nhiều người còn thích thú cái gọi là “Khang Càn thịnh thế” [thời kỳ phồn thịnh dưới các triều vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long, kéo dài 134 năm]. Thế nhưng họ không nghĩ xem, nếu “Khang Càn thịnh thế” tiến bộ, phồn vinh như vậy thì tại sao hoàng đế Càn Long mới chết được có 41 năm thì Trung Quốc lại phải cắt đất, bồi thường, mất chủ quyền, làm đất nước chịu nỗi ô nhục khi bị súng lớn của người nước ngoài bắn phá? Vì sao từ đó trở đi người Trung Quốc bị coi là bệnh nhân Đông Á, bị người ta coi là quái vật và đồ ngu ngốc để cái đuôi lợn ở sau gáy [tức để đuôi sam]? Vì sao Cung Tự Trân[3] lại phải viết câu thơ bi đát “Cửu châu sinh khí thị phong lôi, vạn mã tề âm cứu khả ai, ngã khuyên thiên công trọng đẩu sậu”?

Giờ đây mọi người đều nói phải phục hưng văn minh Trung Hoa vĩ đại. Nhưng khi nói thế phải chăng mọi người đã nghĩ tới chuyện thế nào là văn minh Trung Hoa vĩ đại? Cái vĩ đại của nó thể hiện trên những mặt nào? Ngày nay cần phục hưng văn minh Trung Hoa như thế nào? Có ai đã thực sự làm rõ các vấn đề này chưa? Nếu còn chưa rõ văn minh Trung Hoa vĩ đại ở chỗ nào thì sao có thể nói tới chuyện phục hưng nó?

Đại loại những vấn đề ấy đều không thể không làm cho người ta có một cảm giác mạnh mẽ: tuy đã trải qua mấy chục năm cải cách mở cửa, người Trung Quốc vẫn chưa có nhận thức tỉnh táo về lịch sử nền văn minh của mình, vẫn còn ở trạng thái mông muội. Họ hoàn toàn chưa làm rõ cái nào là tiên tiến, cái nào là lạc hậu, cái nào là văn minh, cái nào là dã man. Nếu nói trong thời đại Cách mạng Văn hóa trước cải cách mở cửa, do lý thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp còn khống chế tư tưởng mọi người, họ không thể nhận thức đúng đắn lịch sử của nước mình, điều đó có thể thông cảm, thế thì ngày nay đã cải cách mở cửa mấy chục năm rồi mà người Trung Quốc vẫn còn chẳng hề động lòng, vẫn tê liệt cảm giác, thì điều đó rất không nên có. Một quốc gia, một dân tộc sao có thể lâu dài ở vào trạng thái như vậy? …

Chính vì nguyên nhân đó mà tôi cảm thấy cần thiết phải dùng các quan điểm văn minh hiện đại như dân chủ, pháp trị, tự do và nhân quyền để triệt để tái suy ngẫm lịch sử nền văn minh Trung Quốc. Tôi cảm thấy trước tình hình phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc, chúng ta cần tiến hành tái suy ngẫm sâu sắc lịch sử nền văn minh nước ta. Có như vậy thì mới hiểu được vì sao Trung Quốc ngày nay lại như thế này, mới biết được người Trung Quốc đã làm đúng làm sai những mặt nào, tại sao người Trung Quốc lại mắc các sai lầm ấy, qua đó hấp thu những bài học kinh nghiệm hữu ích…

Một vấn đề hiện thực nhất là nên cải cách thể chế chính trị hiện nay như thế nào nhằm thích ứng tình hình kinh tế phát triển nhanh chóng của nước ta, qua đó xây dựng nên một xã hội dân chủ, pháp trị, công bằng, tự do và hài hòa. Có người cho rằng Trung Quốc muốn cải cách thể chế chính trị một cách hữu hiệu thì phải bắt chước mô hình chính trị dân chủ của phương Tây, thực hành thể chế hiến chính dân chủ toàn dân tranh cử, các chính đảng thay nhau nắm chính quyền, tam quyền phân lập v.v…, cũng tức là toàn bộ Tây hóa. Nhưng cũng có người cho rằng mô hình chính trị phương Tây không thích hợp tình hình Trung Quốc, việc cải cách thể chế chính trị Trung Quốc tuyệt đối không được đi con đường toàn bộ Tây hóa.

Vậy thì rốt cuộc Trung Quốc có thể đi con đường toàn bộ Tây hóa được không? Nếu không thì đi con đường thế nào? Nói phải xây dựng xã hội XHCN có đặc sắc Trung Quốc, thế thì thể chế chính trị của xã hội ấy nên như thế nào? Nếu nói chế độ chính trị Trung Quốc hiện nay rất hoàn thiện, không cần cải cách, thế thì vì sao lại xảy ra những đại bi kịch lịch sử như “Chống phái hữu”, “Đại Nhảy vọt”, và “Cách mạng văn hóa”? Vì sao trước những tai họa dân tộc cực kỳ nặng nề như vậy mà chế độ của chúng ta lại không có bất cứ phản kháng nào? Khi Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và nhiều nhà lãnh đạo cùng các nhà trí thức và dân chúng bị đối xử bất công mà chết, vì sao chế độ của chúng ta không thể bảo vệ họ một cách mạnh mẽ? Vì sao hiện nay các hiện tượng thối nát như quan chức và doanh nhân câu kết, quyền và tiền trao đổi với nhau, biến của công thành của tư, tiêu xài hoang phí, mua quan bán chức, bọn xã hội đen điên cuồng hoạt động, và quyết sách sai lầm, phân phối bất công, đạo đức suy đồi, lãng phí tài nguyên, môi trường sống xấu đi… lại chưa được giải quyết triệt để?

Cho nên xét theo tình hình thực tế, thể chế chính trị của Trung Quốc không những phải cải cách mà còn phải tăng tốc quá trình cải cách. Nếu không thì không thể tưởng tượng được việc làm sao có thể xây dựng Trung Quốc thành một xã hội thực sự dân chủ, pháp trị, tự do và hài hòa, làm sao có thể thực hiện được mục tiêu Trung Quốc ổn định lâu dài, kinh tế phát triển bền vững, ổn định và lành mạnh.

Lịch sử chứng tỏ, phát triển kinh tế không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của xã hội, chỉ có xây dựng một chế độ chính trị tốt đẹp thì quốc gia mới có thể đi lên quỹ đạo phát triển lành mạnh, thực hiện ổn định lâu dài. Nhà kinh tế nổi tiếng Dương Tiểu Khải có viết bài “Thế yếu của quốc gia đi sau” vạch ra vấn đề này. Ông cho rằng các quốc gia lạc hậu do phát triển muộn nên có rất nhiều thứ có thể bắt chước các nước phát triển.

Có hai hình thức bắt chước. Một là bắt chước chế độ và một là bắt chước công nghệ và mô hình công nghiệp hóa. Vì là nước đi sau cho nên có thể, dưới tình hình chưa có chế độ cơ sở, thông qua bắt chước công nghệ mà thực hiện phát triển nhanh. Có điều là, kiểu bắt chước ấy tuy có thể làm cho quốc gia lạc hậu trong một thời gian ngắn phát triển rất tốt, nhưng lại sẽ để lại nhiều tai họa âm ỉ, thậm chí phát triển lâu dài có thể thất bại, nguyên nhân là ở chỗ không có một chế độ xây dựng tốt để làm đảm bảo. Cho nên ông hy vọng Trung Quốc không nên đi con đường của các nước châu Mỹ Latinh, do chưa xây dựng được một chế độ xã hội tự do, công bằng, tuy có một thời gian phồn vinh nhưng cuối cùng các nước này đều suy thoái; nên nhìn thẳng vào thế yếu của quốc gia đi sau, dùng việc xây dựng chế độ có tính cơ sở để thực hiện “Dùng chế độ [chính trị] để đưa đất nước tiến lên”. Dương Tiểu Khải cho rằng, từ Ngũ Tứ trở đi, người Trung Quốc đề xướng nhiều về dân chủ và khoa học nhưng lại bỏ qua tự do và cộng hòa. Ông cho rằng, trên ý nghĩa nào đó, tự do và cộng hòa càng quan trọng hơn dân chủ và khoa học. Cũng tức là nói chỉ có xây dựng quy tắc hiến chính và cơ chế cam kết khả tín của Chính phủ, hạn chế các hành vi chủ nghĩa cơ hội của Chính phủ, bảo đảm xã hội công bằng chính trực, bảo đảm quyền lợi và tự do của cá nhân, phát huy đầy đủ sức sáng tạo của cá nhân, đó mới là cái căn bản để Trung Quốc đi lên giàu mạnh phồn vinh.

Sau sự kiện 4/6/1989,[4] xã hội Trung Quốc đã thay đổi rất lớn. Một mặt sức mạnh quốc gia tăng lên, một số thiết bị hạ tầng cơ sở như thông tin liên lạc, năng lượng, xa lộ cao tốc và xây dựng đô thị đều đã tiếp cận hoặc đạt mức của một số nước phát triển, nhìn chung đời sống nhân dân được nâng cao rất nhiều. Nhưng mặt khác, mô hình Nhà nước chủ đạo tập trung tài nguyên đầu tư thiếu sự xây dựng chế độ tốt, thiếu sự giám sát mạnh mẽ của xã hội, kết quả cũng có mặt tiêu cực lớn. Đó là quan chức nhà nước lợi dụng quyền lực trong tay tiến hành tham nhũng trên các mặt đề bạt cán bộ, trưng thu ruộng đất, đấu thầu dự án, dẫn đến sự phình to bộ máy quan liêu và tham nhũng, cộng với sự bất công trong phân phối và sự suy đồi đạo đức của mọi người đã gây nên những vấn đề xã hội nổi trội.

Trước tình hình đó nhiều nhà trí thức đã kêu gọi Trung Quốc cần tăng tốc cải cách thể chế chính trị, từng bước xây dựng chế độ hiến chính dân chủ, bảo đảm quyền tự do và các quyền lợi hiến pháp quy định cho nhân dân về ngôn luận, tư tưởng, tín ngưỡng, xuất bản, hội họp, lập hội, sao cho Trung Quốc đi lên quỹ đạo dân chủ và pháp trị, để cho Trung Quốc chẳng những có văn minh vật chất mà còn có nền văn minh tinh thần vĩ đại.

Lịch sử chứng tỏ trên thế giới không có chế độ hoặc nền văn minh nào mười phân vẹn mười. Dưới chế độ cộng hòa dân chủ và lập hiến, xã hội vẫn có tham nhũng, có sự cấu kết quan chức với doanh nhân, hiệu suất hành chính thấp và các hiện tượng bất công, bất hợp lý. Nhưng dưới chế độ hiến chính dân chủ, các hiện tượng đó không cấu thành sự thối nát có tính hệ thống, không nguy hại tới sự vận hành bình thường nền hành chính quốc gia; nếu có thì cũng dễ bị nhanh chóng vạch ra và được sửa chữa. Nhưng chế độ chuyên chế trung ương tập quyền có một tệ nạn lớn nhất là toàn bộ hệ thống quan liêu từ trên xuống dưới đều thối nát sa đọa và lừa dối, kiểm soát khống chế, tước đoạt nhân dân nhưng lại khó bị vạch ra –– bởi lẽ quyền lực không bị giám sát hữu hiệu.

Bởi vậy, cho tới nay mô hình chính trị dân chủ phương Tây vẫn là mô hình tương đối tiên tiến, có tác dụng hữu hiệu chế ngự quyền lực và chống tham nhũng, có giá trị phổ quát trên thế giới, không phụ thuộc vào ý thức hệ tư bản hay chủ nghĩa xã hội. Xã hội loài người cho tới nay chưa phát minh được một chế độ nào tốt hơn có thể thay thế chế độ hiến chính dân chủ. Cho nên người Trung Quốc nên cố gắng học tập và bắt chước thành quả văn minh ưu tú này của nhân loại. Các nước phương Tây đã học tập và áp dụng “Tứ đại phát minh” của Trung Quốc (thuốc nổ, kim chỉ nam, kỹ thuật in chữ rời và chế độ khoa cử), thế thì vì sao Trung Quốc không học và áp dụng chế độ hiến chính dân chủ của phương Tây?

Trong sách “Tiến trình cải cách” ghi lại lời cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Triệu Tử Dương có đoạn viết: “Dĩ nhiên một ngày nào đó trong tương lai có thể sẽ xuất hiện một chế độ chính trị tốt hơn, cao cấp hơn chế độ nghị viện dân chủ, nhưng đó là chuyện tương lai, bây giờ chưa có. Vì thế có thể nói một quốc gia muốn thực hiện hiện đại hóa, thì chẳng những phải thực hành kinh tế thị trường, phát triển văn minh hiện đại, mà còn phải thực hành chế độ chính trị dân chủ. Nếu không thì quốc gia ấy không thể làm cho nền kinh tế thị trường của mình trở thành kinh tế thị trường lành mạnh, hiện đại hóa, cũng không thể thực hiện xã hội pháp trị hiện đại. Sẽ lại như nhiều nước đang phát triển (trong đó có Trung Quốc), xuất hiện tình trạng quyền lực thị trường hóa, xã hội thối nát và phân hóa hai cực nghiêm trọng.”

Nguyên là Tổng Bí thư ĐCSTQ, những năm cuối đời ông Triệu Tử Dương suy đi nghĩ lại rút ra được kết luận như trên không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đó là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn chính trị nhiều năm, là kết quả tái suy ngẫm của ông về con đường phát triển của Trung Quốc. Vì thế các quan điểm của ông rất đáng được mọi người coi trọng.

Dĩ nhiên, tại Trung Quốc, một quốc gia đất rộng người đông và có mấy nghìn năm truyền thống chuyên chế, muốn tùy tiện vội vàng tiến hành cải tạo toàn bộ theo hướng của phương Tây thì chắc chắn có khó khăn. Bởi lẽ trong lịch sử mấy nghìn năm nước này chưa thực sự xuất hiện cơ sở xã hội để thực hành chính trị dân chủ phương Tây. Trong lịch sử cận đại Trung Quốc cũng từng thực hành những cải tạo phương Tây hóa như áp dụng chế độ quân chủ lập hiến và xây dựng Trung Hoa Dân quốc và vì thế người Trung Quốc đã phải trả giá bằng nhiều hy sinh lớn, song kết quả chẳng những không thành công mà còn làm cho xã hội Trung Quốc về sau lâm vào nguy cơ sâu sắc hơn.

Bởi vậy cần làm thế nào để, dưới tiền đề giữ vững ổn định xã hội, đẩy mạnh cuộc cải cách thể chế chính trị nhằm thực hiện sự đổi mới nền văn minh Trung Quốc –– đã trở thành vấn đề quan trọng nhất hiện nay. Tìm ra được câu trả lời cho vấn đề này là trách nhiệm thiêng liêng của ngành khoa học xã hội Trung Quốc. Muốn thiết kế thành công việc cải cách thể chế chính trị Trung Quốc thì phải học mô hình chính trị tiên tiến của phương Tây, cũng phải hấp thu kinh nghiệm và bài học trong lịch sử Trung Quốc, bởi lẽ việc xây dựng mô hình chính trị của Trung Quốc thì bắt nguồn từ truyền thống lịch sử lâu dài của nước này.

Chính là xuất phát từ động cơ ấy, trong cuốn sách này tôi đã đối chiếu sự phát triển văn minh phương Tây để chú trọng nghiên cứu một số vấn đề như sau: Vì sao Trung Quốc cổ đại chỉ có thể sinh ra nền văn minh nhất nguyên hóa chuyên chế quân chủ mà không sinh ra được nền văn minh đa nguyên hóa dân chủ như Cổ Hy Lạp, Cổ La Mã? Nền văn minh chuyên chế nhất nguyên hóa của Trung Quốc ra đời như thế nào, rồi phát triển và tăng cường ra sao? Vì sao trong xã hội chuyên chế quân chủ, dưới thời Đường Tống, nhất là đời nhà Tống, người Trung Quốc lại có thể sáng tạo được nền văn minh tiên tiến dẫn đầu thế giới trong hơn 100 năm? Vì sao phương Tây có thể sinh ra được nền chính trị lập hiến? Vì sao nền văn minh nhất nguyên hóa của phương Tây thời Trung thế kỷ lại có thể thực hiện chuyển đổi thành nền văn minh đa nguyên hóa? Còn nền văn minh nhất nguyên hóa của Trung Quốc trong thời kỳ cận đại vì sao lại không thể chuyển đổi như vậy? Đâu là nguyên nhân căn bản gây ra sự thất bại chuyển đổi ấy? vv….

Đồng thời tôi còn phân tích tình trạng văn minh xã hội Tây Chu, Xuân Thu Chiến quốc và các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh; phân tích và đánh giá một loạt sự kiện lớn như Biến pháp Thương Ưởng, nước Tần diệt 6 nước xung quanh, Chiến tranh Thuốc Phiện, Duy Tân Mậu Tuất, chế độ quân chủ lập hiến, Cách mạng Tân Hợi, phong trào Ngũ Tứ, sự kiện tự trị liên tỉnh năm 1921, phong trào Hiến chính năm 1946. Ngoài ra còn trình bày các tìm hiểu về tư tưởng Nho Giáo và phương thức tư duy của người Trung Quốc.

Do trình độ có hạn của tác giả, nhiều quan điểm và cách nhìn chưa chắc đã chính xác; nhưng tôi cảm thấy quan điểm của cá nhân chính xác hay không, điều đó không phải là quan trọng nhất. Sự tái suy ngẫm sâu sắc về lịch sử nền văn minh Trung Quốc mới là điều quan trọng, bởi lẽ nó sẽ giúp mọi người tái nhận thức một cách khách quan lịch sử nước mình, giúp mọi người thăm dò khám phá kinh nghiệm thành công và mô hình cải cách thể chế chính trị. Điều đó có ý nghĩa tích cực đối với việc nâng cao tố chất dân tộc, thúc đẩy văn minh Trung Quốc tiến lên, thúc đẩy việc xây dựng Trung Quốc hiện đại hóa.

Cốt lõi của nền văn minh hiện đại là hạn chế sự lạm dụng quyền lực công của Chính phủ, bảo đảm quyền lợi và tự do của các cá nhân. Hiến chương Liên Hợp Quốc thông qua ngày 26/6/1946 coi “Tăng tiến và khích lệ sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của toàn nhân loại” là một trong các tôn chỉ của Liên Hợp Quốc. Tuyên ngôn nhân quyền thế giới do Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948, câu đầu tiên viết: “Thừa nhận sự tôn nghiêm vốn có, sự bình đẳng và các quyền lợi của tất cả các thành viên trong gia đình là nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình thế giới … Một thế giới mọi người được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và thoát được mọi nỗi sợ hãi và cảnh nghèo đói đã được tuyên bố là nguyện vọng cao nhất của dân chúng.”

Trung Quốc là nước ký Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên ngôn nhân quyền. Cố nhiên Chính phủ Trung Hoa Dân quốc phải gánh vác nghĩa vụ thực hiện các nguyên tắc đó. Tháng 10/1945, Mao Trạch Đông tuyên bố với tư cách Chủ tịch Chính phủ trung ương của Đảng CSTQ: Trung Quốc phải thực hiện “Các nguyên tắc dân sở hữu, dân trị, dân hưởng của Lincoln và 4 tự do lớn của Roosevelt”.

Trong Hiệp định Song thập do đảng Cộng sản và Quốc dân đảng Trung Quốc ký năm 1945 và Cương lĩnh xây dựng hòa bình do hai đảng nói trên cùng một số đoàn thể chính trị khác ký năm 1946 đều xác định mục tiêu Trung Quốc sẽ thực hành chế độ hiến chính dân chủ và xây dựng Trung Quốc thành một nước dân chủ, tự do, hòa bình, giàu mạnh.

Sự thành bại của một quốc gia được quyết định bởi trình độ tự do cá nhân sống trong quốc gia đó, trình độ chuyển biến từ thần dân thành công dân của họ. Nghiêm Phục[5] nói: “Quốc quý tự chủ, dân quý tự do”. Ông cho rằng then chốt sự thành bại của quốc gia là cá nhân “có tự do hay không có tự do”. Một quốc gia mà cá nhân không có tự do tư tưởng, không có nhân cách độc lập thì đó là cái gốc của việc quốc gia đó chưa thể đi lên con đường hiện đại hóa, chưa thể trở thành nước lớn mạnh, người dân chưa thể trở thành công dân.

Có người cho rằng quyền sinh tồn là quyền con người lớn nhất; giờ đây người Trung Quốc đã được hưởng đầy đủ quyền sinh tồn tức là đã được hưởng nhân quyền. Đây là quan điểm sai lầm. Quyền sinh tồn không phải là quyền lợi riêng của loài người; các loài động vật cũng có quyền sinh tồn. Coi nhu cầu sinh lý và bản năng kiếm sống của giới động vật là nhân quyền –– đây là sự bóp méo và báng bổ nhân quyền. Nhân quyền là quyền lợi riêng loài người mới có; nhân quyền có hàm nghĩa rất rõ ràng: đó là tự do tư tưởng và ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do xuất bản, tự do hội họp lập đoàn thể v.v… Đây là nội dung nhân quyền do hiến pháp quy định. Muốn bảo đảm thực hiện những quyền con người đó thì phải mở rộng nền chính trị; nếu không thì không thể bảo đảm nhân quyền.

Hiện nay Đài Loan đã đi lên con đường hiến chính dân chủ. Đại lục Trung Quốc cũng nên thực hiện lời cam kết của mình, từng bước ổn thỏa mở rộng nền chính trị, đi lên văn minh hiện đại hiến chính dân chủ. Việc xây dựng nền hiến chính dân chủ không thể xa xôi vô thời hạn, trở thành cái bánh vẽ trong đầu óc người Trung Quốc, mà nên có thời gian biểu, có lộ trình nhằm chấn hưng tinh thần dân tộc, tăng lòng tin của nhân dân về tương lai và tình yêu đất nước, tăng lực ngưng tụ lòng người. Điều này vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng một quốc gia vĩ đại.

Ngày nay, khi ôn lại lịch sử, chúng ta không thể không vô cùng hy vọng về tương lai của Trung Quốc, nhưng cũng không thể không cảm khái sâu sắc về sự thay đổi của lịch sử: mô thức thay đổi triều đại theo kiểu được làm vua thua làm giặc khiến cho người Trung Quốc chịu đựng quá nhiều đau khổ; cường quyền và bạo lực nên được chấm dứt; đằng sau quốc nạn tham nhũng là các khiếm khuyết nghiêm trọng về chế độ, quyền lực thiếu chế ước khiến cho các quan chức mặc sức làm bậy. Sự mở rộng vô hạn quyền của quan chức đã trở thành nguồn gốc của các trở ngại tiến bộ xã hội và mất ổn định xã hội. Cho dù xây dựng chế độ gì, áp dụng mô hình chính trị nào thì mọi quốc gia đều phải coi hiến chính dân chủ là sự xếp sắp chế độ cơ bản không thể thiếu được, đều phải đặt vấn đề hạn chế quyền lực Chính phủ và tôn trọng quyền lợi và sự tự do của mỗi cá nhân lên vị trí hàng đầu.

Một quốc gia văn minh thì phải giải quyết mọi vấn đề trên cơ sở dân chủ, pháp trị, bất cứ ai cũng phải hoạt động trong phạm vi hiến pháp. Trong tình hình bị cưỡng chế bạo lực, mọi công dân không nên làm những việc đi ngược ý chí của mình. Nếu công dân bị cưỡng bức nói ngược lòng mình, làm ngược lòng mình thì chẳng còn tự do gì để bàn. Chỉ cần không vi phạm hiến pháp và pháp luật thì không công dân nào nên bị cưỡng chế. Nhà tư tưởng Anh Karl R. Popper có một danh ngôn: “Mỗi người đều chỉ có quyền hy sinh vì sự nghiệp của mình nhưng không ai có quyền khuyến khích người khác hy sinh vì một lý tưởng.”  Điều này nên là nguyên tắc cơ bản mà một xã hội văn minh phải tuân theo.

Việc xây dựng chế độ hiến chính dân chủ của phương Tây bắt nguồn từ một tư tưởng quan trọng –– đó là không tín nhiệm quyền lực, cũng tức là không tin vào nhân trị. Kinh Thánh nói “Ngoài Thượng Đế ra, chẳng có ai là lương thiện cả.” Nếu con người đã không tin cậy được thì ắt phải tiến hành chế ước quyền lực do con người nắm giữ. Vì thế các quốc gia phương Tây đặt ra nhiều trình tự để phân tán quyền lực và tiến hành chế ước lẫn nhau giữa các quyền lực, qua đó ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực của Chính phủ. Ví dụ như bầu cử dân chủ, tự do báo chí, chính trị đa đảng, địa phương tự trị, tam quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) phân lập, kiểm sát viên độc lập, đoàn bồi thẩm độc lập, chánh án độc lập, nhà nước hóa quân đội v.v… Việc đặt ra, xây dựng và hoàn thiện các chế độ đó đã trải nghiệm qua mấy trăm năm, trong đó tư tưởng cơ bản là bảo đảm các quyền lợi và sự tự do cá nhân không bị chính quyền xâm phạm. Có lẽ những chế độ đó chưa phải là phương thuốc hiệu nghiệm có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề, nhưng nó là một mô hình sinh hoạt lý tưởng mà nhân loại theo đuổi, là then chốt để một quốc gia, một dân tộc đi lên hưng thịnh.

Trong thời kỳ cận đại, vì để thực hiện mục tiêu vĩ đại hiến chính dân chủ tại Trung Quốc, nhiều người đã nối tiếp nhau tiến lên, nhiều vị tiên liệt như Đàm Tự Đồng, Tôn Giáo Nhân đã đầu rơi máu chảy, trả những cái giá lớn, thế nhưng với người Trung Quốc thì hiến chính dân chủ vẫn như bóng trăng dưới nước, đóa hoa trong gương, có thể nhìn thấy nhưng không thể sờ vào. Năm 1911, Trung Quốc xây dựng nên nước cộng hòa đầu tiên của châu Á. Tiếp đó năm 1949 lại một lần nữa xây dựng nước cộng hòa. Ngày ấy người Trung Quốc đều nghĩ rằng dân chủ đã đến với họ. Thế nhưng cuối cùng thì vẫn là sự thay đổi triều đại kiểu được làm vua thua làm giặc, giấc mơ dân chủ tự do của người Trung Quốc vẫn là cái ảo ảnh.

Vì sao thực hiện dân chủ tự do tại Trung Quốc lại khó như vậy? Vì sao người Trung Quốc lại vô duyên với dân chủ tự do như vậy? Đây là một câu hỏi muôn thủa. Để giải đáp câu hỏi này, rất nhiều người đã nghiên cứu bàn luận nhưng chưa ai có thể đưa ra câu trả lời được mọi người tin phục.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tìm hiểu của những người đi trước, sách này tiến hành phân tích bàn thảo một lần nữa về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, tính cách dân tộc, nhằm tìm ra những chứng cớ và con đường để Trung Quốc có thể đi lên văn minh hiện đại. Mong rằng các quan điểm của sách này có thể cung cấp cho mọi người một số gợi ý hữu ích.

Tiêu Kiện Sinh(  , 1955-), nhà báo, người dân tộc Thổ Gia tỉnh Hồ Nam, tốt nghiệp ngành văn học Hán ngữ Đại học Phát thanh Truyền hình Trung ương, hiện là biên tập viên “Nhật báo Hồ Nam”.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch từ nguồn tiếng Trung 中国文明的反思(前言).  新世纪出版社香港2009925. Bài viết nhân dịp Quốc khánh Trung Quốc và kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (10/10/1911).

______

[1] Kính thiên thuận đạo 敬天顺道:  Kính trọng Trời, thuận theo Đạo, nghĩa là tuân theo quy luật của thiên nhiên. Vô vi nhĩ trị 无为而治: Cai trị thiên hạ thuận theo tự nhiên, để cho dân tự do phát triển. Nhân giả ái nhân 仁者爱人: Người có lòng Nhân thì tràn đầy tình yêu thương, là người có trí tuệ lớn, có nhân cách cao cả. Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân己所不欲勿施於人: Điều gì mình không muốn thì cũng đừng áp cho người khác (Theo baike.baidu.com).

[2] 人生自古誰無死, 留取丹心照汗青 Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Xưa nay có ai sống mãi không chết đâu, (tôi muốn) để lại tấm lòng son yêu nước để chiếu rọi sử sách. Ý nói người có lý tưởng cao quý thì sẵn sàng chết vì sự nghiệp của nước nhà. Một câu trong bài thơ nổi tiếng “Quá Linh Đinh Dương” của Trạng nguyên Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1283), vị tướng chống giặc Nguyên xâm lược và nhà thơ yêu nước đời Nam Tống.

[3] Cung Tự Trân, 龚自珍1792-1841, nhà tư tưởng và nhà văn học đời Thanh, chủ trương chống sự xâm lược của phương Tây, vạch trần sự thối nát của xã hội phong kiến. Đoạn thơ đầy đủ là 九州生氣恃風雷,萬馬齊喑究可哀. 我勸天公重抖擻,不拘壹格降人才. Ý nói: Bất mãn sâu sắc trước bầu không khí nặng nề của xã hội TQ cuối đời Thanh, tác giả kêu gọi cải cách xã hội, cho rằng biến đổi càng lớn càng tốt, lớn đến như tiếng sấm mùa xuân kinh thiên động địa; tôi khuyên ông Trời hãy chấn phấn tinh thần, đem người tài cho chúng tôi.

[4] Vụ đàn áp cuộc biểu tình của sinh viên ngày 4/6/1989 tại quảng trường Thiên An Môn.

[5] 严复, 1854-1921, nhà tư tưởng khai sáng, nhà giáo dục và phiên dịch nổi tiếng đời Thanh.  Quốc quý tự chủ, dân quý tự do: Ý nói tự chủ là điều quý nhất đối với quốc gia, tự do là điều quý nhất đối với nhân dân.


 

Đào Ngọc Dung, bộ trưởng Lao Động, bị sờ gáy vì ‘dính’ AIC

March 8, 2024

Ba’o Nguoi-Viet

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ông Đào Ngọc Dung, 62 tuổi, bộ trưởng Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Việt Nam, vừa bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đề nghị kỷ luật vì có sai phạm trong vụ AIC.

Báo Tuổi Trẻ hôm 8 Tháng Ba dẫn thông cáo của cơ quan giám sát đảng viên nêu trên quy trách nhiệm cho ông Dung về việc “thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo để bộ vi phạm nghiêm trọng quy định của đảng trong thực hiện các gói thầu của công ty Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) và các doanh nghiệp con của AIC.”

Ông Đào Ngọc Dung, bộ trưởng Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Việt Nam. (Hình: Gia Hân/Tuổi Trẻ)

Công ty AIC thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, người bị tòa án kết án khiếm diện 30 năm tù trong lúc bà đang ở ngoại quốc và khước từ lời kêu gọi về đầu thú của Bộ Công An Việt Nam.

Thông cáo của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết luận rằng những vi phạm của ông Dung “làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề, gây hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục; nguy cơ thiệt hại, lãng phí rất lớn tiền, tài sản của nhà nước và nguồn nhân lực xã hội…”

Các báo ở Việt Nam dẫn nguyên văn thông cáo nêu trên mà không làm rõ chi tiết về các gói thầu của AIC với Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Việt Nam, cũng như mối quan hệ của ông Dung với bà Nhàn, cũng như ông này được “lại quả” thế nào trong vụ việc.

Ông Đào Ngọc Dung được ghi nhận tại vị ghế bộ trưởng được gần tám năm, trước đó từng làm bí thư Tỉnh Ủy Yên Bái.

Việc bị quy kết dính vụ AIC là vụ bê bối thứ nhì của ông Dung.

Hồi năm 2006, báo Tuổi Trẻ đưa tin, tại buổi thi môn Hành Chính Công của kỳ tuyển nghiên cứu sinh trường Học Viện Hành Chính Quốc Gia, thí sinh Đào Ngọc Dung đã bị lập biên bản do “dùng giấy nháp không có chữ ký của giám thị.”

Trụ sở Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Việt Nam. (Hình: Chính Phủ)

Ông Dung, khi đó đã là ủy viên trung ương đảng, đã phản ứng bằng cách không ký vào biển bản này vì “không đồng ý với mức xử lý theo quy định của pháp luật.”

Do vụ bê bối này mà ông Đào Ngọc Dung đã đảng khiển trách và phân công công tác khác.

Tuy vậy, Học Viện Hành Chính Quốc Gia sau đó phát đi thông báo khẳng định thí sinh Đào Ngọc Dung “không gian lận đem tài liệu, ‘phao’ vào phòng thi.” (N.H.K)


 

Bí Thư và Chủ Tịch tỉnh Vĩnh Phúc bị bắt thêm vào danh sách dài các Bí Thư, Chủ Tịch đi tù

Lời Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: ” Chưa bao giờ nước ta được như ngày hôm nay”

  • Lực lượng Ủy Viên Trung Ương Đảng vào tù đông đảo nhất lịch sử Đảng
  • Ủy Viên Bộ Chính Trị cũng vào tù vì tham nhũng.
  • Bí Thư  và Chủ Tịch Tỉnh, Thành Phố ở trong tù đông không kém, Bến Tre, An Giang, Lào Kai, Phú Yên, Thanh Hóa, và mới nhất là Vĩnh Phúc

Theo thông tin từ Trung tướng Tô Ân Xô, người phát ngôn Bộ Công an, ngày 8/3, sau khi VKSND tối cao phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam và lệnh khám xét với 9 bị can, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tổ chức thi hành theo đúng quy định pháp luật.

Trong số 9 bị can nêu trên, bà Hoàng Thị Thúy Lan, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc và ông Lê Duy Thành, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc bị khởi tố, bắt tạm giam về tội “Nhận hối lộ”, quy định tại khoản 4, Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Như thông tin từ Bộ Công an, việc triển khai các quyết định và lệnh khám xét đối với các bị can Hoàng Thị Thúy Lan, Lê Duy Thành đã được thi hành theo đúng quy định pháp luật.

Trước đó, theo ghi nhận của PV VietNamNet, từ khoảng 12h – 14h50 chiều nay, rất đông các lực lượng, trong đó có cả cảnh sát giao thông đã lập rào chắn, tạm phong tỏa khu vực phố Chiền, nơi có nhà riêng của Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan.  

Cùng thời điểm, lực lượng công an cũng lập rào chắn, hạn chế đi vào khu vực đường Phạm Hồng Thái (TP Vĩnh Yên), nơi có nhà riêng của ông Lê Duy Thành, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

Người dân nhận được thông báo di chuyển theo hướng đường khác, vì nơi đây đang có cơ quan chức năng thực thi công vụ. Nhiều CSGT ứng trực để hướng dẫn phương tiện qua lại.

W-b237-thu-tinh-uy-vinh-ph250c.jpg
CSGT lập rào chắn tại ngõ 1, phố Chiền (TP Vĩnh Yên) không cho người dân vào khu vực các lực lượng làm nhiệm vụ. Ảnh: V.Hậu
W-z5229064736935-7406d94df5f8e7d7ae82f80492b404d5-1.jpg
Người dân được tạm mời ra khỏi khu vực lực lượng chức năng làm nhiệm vụ. Ảnh: Nhị Tiến 
W-b237-thu-tinh-uy-2.jpg
Người dân tập trung đông ở phố Chiền. Ảnh: Nhị Tiến

ĐẾN MỨC TRÀN ĐẦY – Lm. Minh Anh, Tgp Huế

Lm. Minh Anh, Tgp Huế

“Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Sống là sống với, sống cùng, sống các mối tương quan!”. Thế mà, tương quan giữa người với Chúa, giữa người với người xem ra luôn nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết. Vấn đề nằm ở phía con người! Lời Chúa hôm nay chỉ cho chúng ta con đường tình yêu, con đường Giêsu, con đường ngắn nhất để có thể hoàn thiện các mối tương quan ‘đến mức tràn đầy!’.

Bài đọc một nói đến một dân nửa vời, thiếu cam kết, đứt đoạn, nên đã gục ngã trong tội ác. Qua Hôsê, Thiên Chúa mời gọi Israel, “Hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa ngươi!”; “Nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”, nghĩa là “Nhờ Ta, ngươi sẽ sống ‘đến mức tràn đầy!’”.

Với bài Tin Mừng, nhân một kinh sư hỏi đâu là giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu chỉ ra con đường ngắn nhất, “Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực!”. Tại sao phải yêu mến Chúa? Sự thật là, cách duy nhất để yêu người khác và ngay cả yêu chính mình, là chọn yêu mến Chúa với tất cả những gì chúng ta ‘có’, chúng ta ‘là!’. Ngài là nguồn cội và là cùng đích của mọi tình yêu. Ngài phải được yêu trên hết và trước hết vì Ngài là trọng tâm duy nhất của mọi tình yêu. Điều đáng kinh ngạc là khi càng chọn yêu Thiên Chúa, chúng ta càng nhận ra rằng, mọi tình yêu trong cuộc đời mình – nếu có – là tình yêu do chính Ngài tuôn đổ ‘đến mức tràn đầy’.

Trái lại, nếu tìm cách chia cắt tình yêu, yêu nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết để chỉ dâng cho Chúa một phần trái tim, một phần linh hồn, một phần trí khôn, một phần sức lực, thì tình yêu của chúng ta không thể lớn lên ‘đến mức tràn đầy’. Hạn chế khả năng yêu mến Chúa, con người rơi vào ích kỷ! Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu gọi đây là giới răn trọng nhất; bởi lẽ, tất cả các giới răn khác bao hàm trong giới răn này. Giới răn trọng nhất định hướng và mời gọi các giới răn khác. Thiên Chúa là suối nguồn tình yêu, chân trời tình yêu! Đóng cửa và lấy đi chìa khoá của tình yêu, con người không bao giờ đạt đến sự cứu rỗi; và như thế, tình yêu của chúng ta đối với Chúa, với nhau, sẽ luôn nông cạn, hời hợt.

A.W. Tozer viết, “Kitô hữu xét cho cùng, là một con người kỳ cục nhưng không kém độc đáo! Họ cảm nhận một tình yêu ‘đến mức tràn đầy’ dành cho một Đấng mình chưa từng gặp; trò chuyện hằng ngày với Đấng mình chưa từng thấy. Họ bỏ mình để có một cuộc sống sung mãn; mạnh mẽ khi nhận mình hèn yếu; giàu có khi biết mình nghèo; hạnh phúc khi biết mình tồi tệ; và chết đi để sống một cuộc sống tràn đầy hôm nay và mai ngày!”.

Anh Chị em,

“Nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”. Thập giá Chúa Kitô cũng là một cái gì “kỳ cục nhưng không kém độc đáo!”. Thập giá là biểu tượng của tình yêu, hoa trái của tình yêu, yêu đến cùng. Chúa Giêsu đã yêu Chúa Cha đến nỗi Ngài chỉ có một giấc mơ duy nhất, làm tất cả để vui lòng Cha; Ngài yêu con người đến nỗi chấp nhận hiến dâng mạng sống để cứu nó. Chính nhờ tình yêu ‘đến mức tràn đầy’ Ngài dành cho Cha; từ đó, cho con người, mà “chúng ta nhận được hết ơn này đến ơn khác”. Đúng, chỉ trong Chúa Kitô, bạn và tôi mới trổ sinh hoa trái trong các mối tương quan – với Chúa với người – ‘đến mức tràn đầy!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con yêu Chúa nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết! Dạy con yêu như Chúa yêu; từ đó, con lớn lên trong tình yêu Chúa, yêu người, đến mức sung mãn!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp Huế)

From: KimBang Nguyen