Đăng bài của TBT Trọng trên báo Pháp tốn 4 tỉ đồng?

 

Đăng bài của TBT Trọng trên báo Pháp tốn 4 tỉ đồng?

Một số trang tin lớn của Việt Nam tối 26/3 tường thuật rằng báo Le Monde đã đăng một bài viết dài của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian ông đi thăm nước Pháp. Không lâu sau, nhiều người sử dụng mạng xã hội chỉ ra rằng bài viết được in trên trang quảng cáo của tờ báo rất có uy tín của Pháp, với chi phí có thể lên đến hơn 4 tỉ đồng.

Dưới hàng tít “Triển vọng tốt đẹp của quan hệ Việt – Pháp”, bài viết hơn 2.400 từ của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh là trong suốt 45 năm qua, “Pháp luôn là đối tác hàng đầu của Việt Nam”, và nhận định rằng trong giai đoạn hiện nay hai nước “có nhiều điều kiện thuận lợi để tăng cường quan hệ”.

Bài viết của TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đăng trên trang quảng cáo (Publicité) của báo Pháp Le Monde.

Theo quan điểm của ông Trọng, việc tăng cường quan hệ hợp tác Việt-Pháp nay trở thành “một yêu cầu khách quan và cần thiết vì lợi ích của cả hai nước”.

Nhà lãnh đạo đảng – người có thực quyền cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam – kêu gọi hai nước “cần tạo động lực mới làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược Việt-Pháp”. Ông nêu ra một loạt các việc cần làm gồm tăng cường sự tin cậy chính trị; mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học-công nghệ, năng lượng, y tế, văn hoá, giáo dục, du lịch, tư pháp, và bảo vệ môi trường, bên cạnh một số lĩnh vực khác.

Vài giờ sau khi bài viết của ông Trọng xuất hiện trên tờ Le Monde xuất bản chiều ngày 26/3 nhưng đề ngày 27/3, trang mạng Diễn Đàn có giấy phép ở Pháp tung ra thông tin cho thấy bài viết đã được in trên trang quảng cáo, nằm giữa trang 10 và 12.

Theo biểu giá của báo, số tiền để đăng một bài dài trên cả một trang như vậy lên đến khoảng 151.000 Euro, tương đương hơn 4 tỉ 200 triệu đồng.

Từ Paris, nhà báo Bùi Tín xác nhận thông tin này với VOA:

“Đúng như thế. Đăng ở trang quảng cáo. Không những là cái điều này nó lạ thường mà còn đáng chê trách. Đây là một việc làm đáng xấu hổ. Báo Le Monde mà trọng thị thì phải đăng trên trang chính chứ, sao lại đăng trên trang quảng cáo? Có thể nói là một việc làm tôi có thể nói là kỳ quặc và ô nhục nữa”.

VOA không thể kết nối liên lạc với quan chức phụ trách truyền thông của Đảng Cộng sản Việt Nam để hỏi ý kiến của họ về vấn đề này.

Ngoài bàn luận về việc đảng chi một số tiền lớn để đăng bài của ông tổng bí thư, người dùng mạng xã hội cũng bình phẩm về thực tế là báo chí Pháp dường như không đưa tin về chuyến thăm của ông Trọng tại nước họ.

Ông Bùi Tín, người cũng thường bình luận về chính trị Việt Nam và thời sự quốc tế, nói về vấn đề này:

“Chuyến đi của ông Trọng ý, suốt 3 ngày hôm nay trên TV Pháp không có một giây phút nào có hình ảnh của ông ấy cả”.

Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt đầu thăm chính thức Cộng hòa Pháp từ ngày 25 đến ngày 27/3. Một thông báo của điện Elysee nói Tổng thống Pháp Emmanuel Macron dự kiến ăn trưa với ông Trọng và sẽ ra một tuyên bố chung với ông vào ngày 27/3.

Trước khi ông Trọng đến Paris, Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) có trụ sở tại Pháp hôm 24/3 kêu gọi chính phủ Pháp lên tiếng với vị tổng bí thư đảng cộng sản về việc Việt Nam trấn áp các nhà báo và blogger độc lập.

KHÁT TÌNH

KHÁT TÌNH

(Thứ Sáu Tuần Thánh)

BỬU HUYẾT GIÊSU TƯƠI MÀU CỨU ĐỘ

OAN KHIÊN THẾ GIỚI HÓA SẮC TINH TUYỀN

Có nhiều dạng khát – bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng có lẽ mạnh mẽ và ray rứt nhất là dạng “khát tình”. Thật vậy, chính Chúa Giêsu cũng đã phải thốt lên trong những giây phút cuối cùng: “TÔI KHÁT!” (Ga 19:28) – khát cả thể lý lẫn tinh thần.

Tam Nhật Vượt Qua là“đỉnh cao” của Mùa Chay, còn gọi là Tam Nhật Thánh(Triduum). Trong đó,ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngày Đại Tang, là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 15 giờ), giờ của Lòng Chúa Thương Xót.

Khoảnh khắc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc lắng đọng và xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội.Phút cuối là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong tích tắc, nhưng lại nặng nề trôi… Và phút cuối là lúc người ta bịn rịn nhất, cũng là lúc nói thật nhất của một con người.

Đối với Chúa Giêsu, Ngài có 2 bản tính: Thần tính và nhân tính. Và theo nhân tính, Ngài nên giống chúng ta mọi sự – trừ tội lỗi. Tất nhiên Ngài cũng rất đau đớn và rời rã vì kiệt sức do đòn roi, phải tự vác Thập giá lên đồi, té lên té xuống nhiều lần, chịu đói khát, bị những gai nhọn đâm thấu đầu, bị đinh ghim chặt chân tay và lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn, không thể tưởng tượng nổi, đến nỗi thân xác Ngài chảy ra đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng. Thật thê thảm!

CHIÊN CON HIỀN LÀNH

Chiên con là “cừu nhỏ” –chỉ 1 năm trở xuống, còn cừu là “chiên lớn” (hơn 1 năm trở lên). Chiên con không chỉ nhỏ bé, ngây thơ, mà còn hiền lành. Khi nói về Chiên Thiên Chúa,Đức Chúa đã mô tả: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14 – Bài ca thứ tư về Người Tôi Trung). Mặc dù vậy, mọi người vẫn phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn.Chính Người-Tôi-Trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15).Người-Tôi-Trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ,“như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).

Ngày nay, chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ trong cuộc khổ nạn tang thương của Ngài, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên cảm thấy… bình thường, và cũng cho đó là “chuyện nhỏ”.Có thể có người đặt vấn đề: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?”(Is 53:1). Đúng là khó tin thật, thế nhưng đó lại là sự thật minh nhiên, không thể chối cãi!

Từ ngàn xưa, ngôn sứ Isaia mô tả: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật là nghịch lý quá, có lẽ vì chúng ta ảo tưởng quá chăng?

Ngôn sứ Isaia đưa ra bảng đối chiếu và liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã bị đâm VÌ chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát VÌ chúng ta lỗi lầm,Ngài đã chịu sửa trị ĐỂ chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích ĐỂ chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Bốn “cặp đối” rất tuyệt vời, chứng tỏ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Chắc chắn trí óc loài người chúng ta không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”.Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”,nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãimà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn“bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí“Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và“vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b). Người Ấy bị hàm oan chỉ vì chúng ta quá khốn nạn!

Và cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy màÝ Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có nhiều tội của mỗi chúng ta!

Qua miệng lưỡi của Thánh Vịnh gia, Người Ấy đã nói lời cuối của Con Người hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín”(Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16).

Dù cho thế nào thì Người Ấy vẫn chấp nhận mọi thiệt thòi, vui chịu chứ không cam chịu, và thành tâm cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18).

Lời minh định của Thánh Phaolô rất rạch ròi:“Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa”(Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong tất cả các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chính Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta, những con người còn phải đối mặt với đủ loại “khổ não trần ai” của kiếp này.

Lúc còn sinh thời của kiếp phàm nhân, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào khi phải miệt mài chịu đau khổ như vậy!

Tuy nhiên, chính lúc đó lại là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi“Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang. Chúng ta không thể không “nhâm nhi chén đắng” để trải nghiệm đau khổ. Không có hạnh phúc nào không có đau khổ, thiếu vắng hy sinh. Chắc chắn không thể cứ tà tà mà được tận hưởng.

Thánh Gregorio Khandzta (759-861, người thành lập nhiều cộng đoàn tu trì tại Tao-Klarjeti, thuộc Tây Nam Georgia) đã tha thiết cầu nguyện:“Lạy Chúa Giêsu, Ngài đã BỊ CÁM DỖ và CHỊU ĐAU KHỔ. Ngài là Đấng quyền năng đã đến để CỨU GIÚP những người đang bị xiềng xích bởi ma qủy, vì Ngài luôn nâng đỡ những kẻ đi theo Ngài. Lạy Chúa, xin GÌN GIỮ những kẻ tin vào Danh Thánh Ngài trong cánh tay Ngài. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, mà ban niềm hoan lạc bất diệt”.

CHIÊN CON BỊ GIẾT

Trình thuật Phúc Âm hôm nay là tấn bi kịch, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo Hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng, quả thật là điều kỳ diệu!

Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong 12 môn đệ “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo. Người ta lục soát, tìm cách gài bẫy và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “ghế”, thế nên họ làm mọi cách để hạ nhục Ngài đủ kiểu. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!

Ngài hỏi: “Các anh tìm ai?”,thì họ đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói“chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Có lẽ lúc này Giuđa đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài!

Ngài lại hỏi họ muốn tìm ai. Họ vẫn cương quyết là tìm Giêsu Nadarét, họ không hề thấy tởn chút nào. Lì thật! Đức Giêsu thản nhiên xác nhận: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9).Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11).Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.

Cơn tức giận dâng cao, nỗi hận thù đầy ắp, họliền bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan – nhạc phụ ông Cai-pha. Năm đó ông Cai-pha làm thượng tế. Chính ông này đã nói với người Do Thái một đề nghị tồi tệ:“Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14).Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc.Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!

Thế nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Không phải đâu!”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng cộng 3 lần trước khi gà gáy.Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Thật tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay. Buồn thế đấy!

Tuy Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói chi cả, không tự biện minh cho mình là đúng, cũng chẳng một lời kêu oan hoặc oán trách. Chiên Con hiền lành lắm!

Mãi tới lúc bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn – nghĩa là liên quan người khác,Ngàimới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?”(Ga 18:22). Hỗn láo và ngang ngược thật! Ngày nay người ta cũng hống hách kiểu như vậy khi đối xử với đồng loại. Mặc dù bị xử tệ, Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?”(Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá. Và tất nhiên họ phải câm họng thôi!

Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan”(Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không trả lời đúng hay sai, mà bình thản nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Ui da, thế mà lão Philatô vẫn không hiểu ất giáp chi cả, mà còn hỏi:“Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu ôn tồn: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô tỏ ra ngớ ngẩn nên hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Đúng là “dốt đặc cán mai” mà!

Vào dịp lễ Vượt Qua và theo tục lệ Do Thái, người ta thường ân xá cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ liền la to:“Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40).Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương và quý hơn là Chúa Giêsu – dù chính Philatô hai lần xác định là Chúa Giêsu “không có tội gì” (Lc 23:4 và 22).

Và rồi Philatô truyền đem Ngài đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài.Như vậy, nhân vị của Ngài bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6).Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, thì quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác.Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không đề cao nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?

Dù ai nói gì thì nói, Chúa Giêsu vẫn im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Bất nhân quá! Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt.Nhưng Ngài nói thẳng với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.

Cuối cùng, ông Philatô đành cho thi hành án tử đối với Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập giá lên đồi Gôn-gô-tha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Tấm bảng đó nhằm mỉa mai nhưng chính nó lại là lời xác nhận công khai rằng “Chúa Giêsu là Vua dân Do Thái”. Lão Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen. Hèn!

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ.Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!”(Ga 19:28).Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Tetelestai! Mọi sự đã hoàn tất!” (Ga 19:30). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí. Tang thương bao trùm, đất trời rung động!

Sự kiện bi thương hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế Giáo Hội không cử hành thánh lễ hôm nay mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh giá và rước lễ.

Thiên Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”,nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Thật vậy, khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử,chính Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Chính chúng ta mới là những kẻ đáng phải khóc thương!

Và có một điểm khác mà chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”.Kiểu này rất nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó. Cần chấn chỉnh và cần can đảm là chính mình, đặc biệt là phải biết khát và nhận ra cơn khát của người khác để cố gắng giúp họ thỏa cơn khát!

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chính con là kẻ khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, con đã hèn nhát khi a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Hôm nay, con chân thành nhận lỗi, xin lỗi Ngài và xin lỗi mọi người. Xin Ngài thương xót con mà đại lượng ban cho con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Yêu Dấu của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 Mạng Lưới Cầu Ngyện

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ & Mai gởi

THÂM TÌNH


THÂM TÌNH

(Thứ Năm Tuần Thánh)

THÁNH THỂ THẦN LƯƠNG TRAO BAN NGUỒN SỐNG

NHÂN GIAN TỘI LỖI ĐÓN NHẬN PHÚC VINH

Thánh Phanxicô Assisi nói: “Cần đốt lên LỬA YÊU THƯƠNG, bởi vì có yêu thương thì tự nhiên sẽ đối đãi tốt với mọi người, luôn nói những lời yêu thương, và tâm hồn sẽ tự nhiên thu hoạch được rất nhiều kết quả”. Còn “Đoá Hồng Nhỏ” Teresa Lisieux, một chuyên gia tình yêu, cho biết: “Mặc dù tôi chỉ là người nhỏ nhất không chuyên làm những việc khác, nhưng chuyên làm việc yêu mến Thiên Chúa và hy sinh bản thân mình”.

Không thể tưởng tượng nổi nếu thế gian này vắng bóng tình yêu thương. Ai cũng muốnn yêu và được yêu, dù biết rằng “yêu là chết trong lòng một ít”. Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, thôi thì thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Rất lô-gích. Và người ta có cách gọi đó là “thú đau thương”. Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc và thốt lên:“Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi ngài cho biết: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: mức-độ-không-giới-hạn. Thật thú vị!

Từ cổ chí kim, chắc hẳn chưa có một định nghĩa nào về tình yêu được coi là trọn vẹn nhất và có thể khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau.Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính. Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliet. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp, mà cũng đầy chất bi thương, thế nhưng vẫn có sự vị kỷ trong tình yêu đó!

DẤU CHỈ

Dù tốt hay xấu, sự gì cũng đều có dấu chỉ – dấu hiệu, triệu chứng, điềm báo,… Bề ngoài khả dĩ thể hiện bề trong, và bề trong khả dĩ biểu lộ ra bề ngoài. Lửa và khói có loan lẫn nhau.

Trình thuật sách Xuất hành (Xh 12:1-8,11-14) cho biết chi tiết về cách mừng lễ: Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập:“Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”.

Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng cụ thể hơn ngày nay, nhưng đó là cách thể hiện đức vâng lời – vâng lời Thiên Chúa nghĩa là yêu mến Ngài, giữ luật Ngài.

Cái gì cũng có nguyên tắc, và cách ăn cũng có luật riêng: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là“phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Ngay đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không phải vậy, vì luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” thì phải được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa” – kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc cũng vẫn có cách mừng thu hoạch mùa màng như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch, lễ mừng cơm mới,…

Dịp lễ Vượt Qua, chính “vết máu bôi trên nhà” là dấu chỉ về việc “giữ luật”,là dấu chỉ của tình yêu thương, và những người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng họa trên đất Ai Cập.Ngày hôm đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Và Ngài xác nhận rằng “đó là luật quy định cho đến muôn đời”. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU THƯƠNG nhiều vàTRAO BAN nhiều, còn chúng ta ĐÓN NHẬN quá nhiều, thế nên cảm thấy ngại. Nhưng chính lúc biết ngại như vậy là tỏ lòng biết ơn, và tự đặt vấn đề:

Lấy chi đền đáp Chúa đây

Vì baoân huệ chính Ngài đã ban?

(Tv 116:12)

Mặc dù chúng ta thật lòng muốn đền ơn đáp nghĩa đối với Thiên Chúa nhưng lại chẳng có gì để tiến dâng, nếu có thì cũng chỉ là những thứ bất xứng mà thôi. Thân tro phận bụi quá đỗi mọn hèn,nhưng vì tin yêu mà cả dám thân thưa:

Con nâng chén hồng ân cứu độ

Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi

(Tv 116:13)

Trong thời quân chủ, thần dân không được phép ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội “khi quân” và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì đều phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp,chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, mà lại được diễm phúc như thế thì phải hết lòng ghi nhớ thâm ân:“Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17),đồng thời phải luôn tự thề hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18).

Chúng ta có làm vậy thì cũng là điều tất yếu mà thôi! Nhưng không thể yêu suông bằng lời nói, mà phải yêu bằng hành động cụ thể. Nói chưa đủ tin, làm mới thuyết phục.

CHỨNG TỎ

Hành động là thể hiện bằng việc làm, chia sẻ bằng cách nào đó. Thật vậy, Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23).Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”(1 Cr 11:24-25).

Thánh Phaolô giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến”.

Không lâu trước dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, giờ mà Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Với nhân tính, Ngài cũng cảm thấy lưu luyến người thân, những người mà Ngài yêu thương đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng.

Là Thiên Chúa, Ngài biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu.Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp trở về cùng Thiên Chúa.Do đó, trong một bữa ăn tối, bữa mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư Phụ có cách hành động “kỳ lạ nhất thế gian”.

Vì thế, khi Ngài đến chỗ Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6).Theo lẽ thường, không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7).Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b).Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9).Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”(Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, như bị tạt ca nước lạnh. Rõ ràng Ý Chúa hoàn toàn khác ý loài người.Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và thổ lộ tâm sự: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu gì ráo trọi, bởi vì đệ tử nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A”, y như trời trồng hết thảy. Thế nên Ngài nói luôn:“Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).

Thật vậy, Thầy mà còn rửa chân cho đệ tử thì chắc chắn đệ tử không thể không rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử, để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử.Đó là Luật Yêu của Chúa. Luật nhẹ nhàng thế mà lại không dễ thực hiện, lời giản dị mà lại thâm thúy lắm. Và đó cũng là điều mỗi chúng ta phải suy nghĩ, bởi vì chính Chúa Tể muôn loài đã làm gương cho mọi người soi chung.

Xét theo Việt ngữ, chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Thiên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, còn yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá, vì sẽ biến thành“tự ái”(tự yêu mình thái quá)mà hóa thành vị kỷ (ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần Thiết ⇾Thiết Tha ⇾Tha Thứ. Đó là chu-trình-yêu-thương kỳ diệu vô cùng!

Và rồi phát sinh một hệ lụy khác: YÊU thì phải KÍNH (yêu kính), KÍNH thì phải NỂ (kính nể), NỂ thì phải TRỌNG (nể trọng), TRỌNG thì phải VỌNG (trọng vọng – vọng là mong), MONG thì thấy NHỚ (mong nhớ), NHỚ nghĩa là THƯƠNG (nhớ thương), tức là YÊU rồi đấy. Đó là vòng-tròn-tình-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ Ngài thì PHẢI THỰC THI Thánh Ý Ngài. Hoàn toàn hợp lý!

Tương tự, khi nói về gia đình, chúng ta áp dụng từ ngữ “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà gia đình luôn “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm” đích thực, đó làhạnh phúc gia đình.Đối với các mối quan hệ xã hội hoặc cộng đoàn cũng vậy. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU.Biết thương yêu cũng chính là biết thương xót theo ý muốn của Thầy Chí Thánh Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, xin thánh hóa và biến đổi trái tim chúng con nên giống Thánh Tâm Ngài, để càng ngày trái tim của chúng con càng chứa nhiều “máu yêu” hơn, nhờ đó chúng con biết thể hiện cách yêu Ngài qua việc yêu tha nhân, đồng thời cũng can đảm sống và hành động “ngược đời” như Ngài, hôm nay và mãi mãi. Xin làm cho chúng con xứng đáng và vui mừng đón nhận Nguồn Sống từ Thánh Thể Ngài, và xin Thánh Thể tăng lực cho những người đau khổ phần hồn và phần xác. Chúng con tin kính Ngài là Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU 

 Mạng Lưới Cầu Ngyện

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ & Mai gởi

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2018

 SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2018

 

 

 

 

 

 

 

 ĐTC Phanxicô

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2018

”Vì sự ác lan tràn, tình yêu của nhiều người trở nên nguội lạnh” (Mt 24,12).

Anh chị em thân mến,

 Một lần nữa chúng ta tiến về Lễ Phục Sinh của Chúa! Để chuẩn bị cho lễ này, Chúa Quan Phòng ban cho chúng ta Mùa Chay hàng năm, ”dấu chỉ bí tích sự hoán cải của chúng ta” (1), loan báo và thực hiện khả năng trở về cùng Chúa với trọn tâm hồn và cuộc sống.

 Năm nay cũng vậy, qua sứ điệp đây, tôi muốn giúp toàn thể Giáo Hội sống thời điểm ân phúc này trong vui mừng và chân lý; và tôi thực hiện điều này bằng cách để cho mình được gợi ý từ câu nói của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Mathêu: ”Vì sự ác lan tràn, tình yêu của nhiều người bị nguội lạnh” (24,12).

 Câu này ở trong đoạn Chúa nói về thời tận thế và ở trong bối cảnh thành Jerusalem, trên Núi Cây Dầu, chính tại nơi khởi đầu cuộc thương khó của Chúa. Khi trả lời một câu hỏi của các môn đệ, Chúa Giêsu loan báo sầu muộn lớn và mô tả tình trạng trong đó cộng đồng tín hữu có thể lâm vào: đứng trước những biến cố đau thương, một số tiên tri giả sẽ lường gạt nhiều người, đến độ đe dọa làm cho tâm hồn họ bị tắt lịm lòng mến là trung tâm của toàn thể Tin Mừng.

 Những tiên tri giả

 Khi nghe đoạn Tin Mừng này và chúng ta tự hỏi: những tiên tri giả có những hình dạng thế nào?

 Chúng giống như những người ”làm mê hoặc rắn”, nghĩa là chúng lợi dụng cảm xúc của con người để biến họ thành nô lệ, đưa họ tới những nơi chúng muốn. Bao nhiêu con cái của Thiên Chúa đã bị dụ dỗ bằng những dua nịnh của lạc thú trong chốc lát, mà họ tưởng là hạnh phúc! Bao nhiêu người nam nữ sống như bị mê hoặc vì ảo tưởng tiền bạc, khiến họ trở thành nô lệ cho tiền của hoặc những mối lợi nhỏ nhen! Bao nhiêu người sống mà chỉ nghĩ đến mình và rơi vào tình trạng cô độc!

 Có những tiên tri giả khác giống như các ”lang băm”, cống hiến những giải pháp đơn giản và tức thời cho những đau khổ, nhưng thực ra những liều thuốc này hoàn toàn vô hiệu: bao nhiêu người trẻ tìm phương dược giả dối trong ma túy, trong những quan hệ ”dùng rồi bỏ”, kiếm tiền dễ dàng một cách bất chính!. Bao nhiêu người khác nữa bị vướng vào một cuộc sống hoàn toàn là ảo, trong đó những tương quan có vẻ đơn gian và mau lẹ hơn, nhưng rồi chúng vô nghĩa một cách bi thảm! Những kẻ lường gạt ấy cống hiến những điều vô giá trị, nhưng chúng lại tước mất điều quí giá nhất như phẩm giá, tự do và khả năng yêu thương. Đó là một sự lường gạt về sự háo danh, biến chúng ta giống như con công.. để rồi trở thành lố bịch; và từ sự lố bịch ta không thể thối lui được. Không lạ gì: ma quỉ, vốn là ”kẻ dối trá và là cha kẻ dối trá” (Ga 8,44), trình bày sự ác như là điều thiện và trình bày điều giả như điều thật, để làm cho tâm hồn con người bị lẫn lộn. Vì thế, mỗi người chúng ta được kêu gọi phân định trong tâm hồn và cứu xét xem mình có bị đe dọa vì những điều giả dối của các tiên tri giả ấy hay không. Cần học cách không dừng lại ở mức độ gần kề, hời hợt, nhưng nhận ra điều để lại trong chúng ta dấu vết tốt lành và lâu bền hơn, vì nó đến từ Thiên Chúa và thực sự có giá trị mưu ích cho chúng ta.

 Một con tim nguội lạnh

 Thi hào Dante Alighieri, khi mô tả về hỏa ngục, đã trình bày quỉ ngồi trên ngai băng giá (2); hắn ở trong giá lạnh của tình yêu bị bóp nghẹt. Vì thế chúng ta tự hỏi: lòng yêu mên trong chúng ta trở nên lạnh lẽo thế nào? Đâu là những dấu hiệu cho chúng ta thấy tình yêu có nguy cơ bị tắt lịm trong chúng ta.

 Điều dập tắt tình bác ái trước tiên là sự ham hố tiền bạc, ”là căn cội của mọi sự ác” (1 Tm 6,10); tiếp đến là sự từ khước Thiên Chúa và do đó từ khước tìm kiếm sự an ủi nơi Ngài, thích sự sầu muộn của chúng ta hơn là sự an ủi của Lời Chúa và các bí tích (3). Tất cả những điều ấy biến thành bạo lực chống lại những người bị coi là đe dọa cho những ”chắc chắn” của chúng ta: như hài nhi chưa sinh ra, người già bệnh hoạn, khách qua đường, người ngoại quốc, và cả người lân cận không đáp ứng những mong đợi của chúng ta.

 Cả thiên nhiên cũng là nhân chứng âm thầm về đức bác ái bị trở nên lạnh lẽo: trái đất bị ô nhiễm vì những đồ phế thải vứt bỏ vì cẩu thả và vì lợi lộc; biển cả, cũng bị ô nhiễm, rất tiếc là nó cũng phải che phủ những gì còn lại của bao nhiêu vụ đám tàu của những cuộc cưỡng bách di cư; bầu trời, trong kế hoạch của Thiên Chúa, vốn ca ngợi vinh quang Chúa, nhưng nay đang bị cày xéo vì những máy móc làm mưa xuống những dụng cụ chết chóc.

 Tình yêu cũng trở nên nguội lạnh trong các cộng đoàn của chúng ta: trong Tông huấn ”Niềm vui Phúc Âm” (Evangelii gaudium) tôi đã tìm cách mô tả những dấu chỉ rõ ràng nói lên sự thiếu tình yêu như thế. Chúng là thái độ ích kỷ lười biếng, bi quan vô bổ, cám dỗ muốn cô lập mình và dấn thân trong những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn liên tục, não trạng trần tục chỉ bận tâm tới những gì bề ngoài và như thế là làm giảm bớt nhiệt huyết truyền giáo (4).

 Làm thế nào đây?

 ”Nếu chúng ta nhìn vào thẳm sâu tâm hồn của mình và quanh chúng ta những dấu hiệu vừa nói trên đây, thì Giáo Hội, là Mẹ và là Thầy của chúng ta, cùng với phương dược sự thật, nhiều khi là thuốc đắng, cống hiến cho chúng ta trong mùa chay này phương dược ngọt ngào là

kinh nguyện, làm phúc bố thí và chay tịnh.

 Khi dành nhiều thời giờ hơn cho kinh nguyện, chúng ta sẽ để cho tâm hồn mình khám phá những gian dối bí mật chúng ta thường dùng để đánh lừa chính mình (5), để tìm kiếm sự an ủi trong Thiên Chúa là Cha và là Đấng muốn cho chúng ta được sống.

 Việc thực hành làm phúc bố thí giải thoát chúng ta khỏi sự ham hố và giúp khám phá tha nhân là anh chị em chúng ta: điều chúng ta sở hữu không phải chỉ là của chúng ta. Tôi ước mong việc làm phúc được biến thành lối sống đích thực của mỗi người! Tôi mong ước dường nào cho các tín hữu Kitô chúng ta theo gương các Tông Đồ và nhìn thấy qua sự kiện có thể chia sẻ thiện ích của chúng ta với người khác là một chứng tá cụ thể về tình hiệp thông mà chúng ta sống trong Giáo Hội. Về điểm này, tôi khuyên nhủ như thánh Phaolô khi Ngài mời gọi dân thành Corinto lạc quyên giúp cộng đoàn Jerusalem: ”Đây là điều có lợi cho anh chị em” (2 Cr 8,10). Điều này có giá trị đặc biệt trong Mùa Chay, trong mùa này nhiều tổ chức quyên góp cho các Giáo Hội và dân chúng gặp khó khăn. Nhưng tôi cũng muốn rằng trong các tương quan thường nhật, đứng trước mỗi người anh chị em xin giúp đỡ, chúng ta hãy nghĩ rằng đó là một lời kêu gọi của Chúa Quan Phòng: mỗi lần làm phúc bố thí là một cơ hội để tham gia vào sự Quan phòng của Thiên Chúa đối với con cái của Ngài và nếu ngày hôm nay, Ngài dùng tôi để giúp đỡ người anh em, thì làm sao ngày mai Ngài chẳng quan phòng lo cho các nhu cầu của tôi, Ngài vốn là Đấng không thua ai về lòng quảng đại? (6)

 Sau cùng, việc chay tịnh giải tỏa bạo lực của chúng ta, và là cơ hội quan trọng để tăng trưởng. Một đàng chay tịnh cũng giúp chúng ta cảm nghiệm điều mà nhiều người khác đang thiếu thốn, thiếu những điều cần thiết và bị đói. Chay tịnh biểu lộ tình trạng tinh thần của chúng ta, đang đói khát lòng từ nhân và sự sống của Thiên Chúa. Chay tịnh thức tỉnh và làm cho chúng ta chú ý hơn đối với Thiên Chúa và tha nhân, thúc đẩy ý chí vâng phục Thiên Chúa, là Đấng duy nhất có thể thỏa mãn sự đói khát của chúng ta.

 Tôi mong ước tiếng nói của tôi đi ra ngoài biên cương của Giáo Hội Công Giáo, để đi tới tất cả anh chị em, những ngừơi nam nữ thiện chí, cởi mở lắng nghe Thiên Chúa. Nếu anh chị em cũng buồn sầu vì sự ác lan tràn trên thế giới, nếu anh chị em cũng lo lắng vì giá lạnh làm tê liệt tâm hồn và hành động, nếu anh chị em thấy thiếu ý nghĩa của tình nhân loại chung, thì xin hãy liên kết với chúng tôi để cùng nhau cầu khẩn Thiên Chúa, để cùng nhau ăn chay và cùng với chúng tôi trao tặng những gì anh chị em có thể để giúp đỡ các anh chị em khác!

 Lửa Phục Sinh

 Nhất là tôi mời gọi các phần tử của Giáo Hội hãy nhiệt thành tiến bướctrên con đường Mùa Chay, được nâng đỡ nhờ các hoạt động làm phúc bố thí, chay tịnh và kinh nguyện. Nếu đôi khi lòng bác ái dường như bị tắt lịm trong bao nhiêu tâm hồn, thì nó vẫn không bị lịm đi trong con tim của Thiên Chúa! Ngài luôn ban cho chúng ta những cơ hội mới để chúng ta có thể tái bắt đầu yêu thương.

 Một cơ hội thuận tiện trong năm nay cũng là sáng kiến ”24 giờ cho Chúa”, mời gọi cử hành bí tích Hòa Giải trong khuôn khổ Chầu Thánh thể. Năm 2018 này, sáng kiến đó sẽ được cử hành vào thứ sáu mùng 9 và thứ bẩy mùng 10 tháng 3, lấy hứng từ lời Thánh Vịnh 130 câu 4: ”Nơi Chúa có ơn tha thứ”. Trong mỗi giáo phận, ít nhất hãy có một thánh đường được mở cửa 24 giờ liên tục, để các tín hữu có cơ hội cầu nguyện trước Thánh Thể và lãnh nhận bí tích giải tội.

 Trong đêm Phục Sinh, chúng ta sẽ cử hành nghi thức đầy ý nghĩa thắp sáng cây nến Phục Sinh: ánh sáng được lấy từ ”lửa mới”, dần dần phá tan bóng đen và soi sáng cho cộng đồng phụng vụ. ”Ánh sáng Chúa Kitô phục sinh vinh hiển phá tan đóng đêm của tâm trí” (7), để tất cả chúng ta có thể cảm nghiệm lại kinh nghiệm của các môn đệ trên đường Emmaus: lắng nghe Lời Chúa và nuôi dưỡng mình bằng Bánh Thánh Thể, giúp cho tâm hồn chúng ta tái nồng nhiệt tin cậy mến.

 Tôi thành tâm chúc lành cho anh chị em và cầu nguyện cho anh chị em. Xin Anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi.

ĐTC Phanxicô  

Trần Đức Anh OP chuyển ngữ

Anh chị Thụ & Mai gởi

 

ĐỂ DỰ PHẦN “GIA SẢN” CỦA CHÚA

ĐỂ DỰ PHẦN “GIA SẢN” CỦA CHÚA 

Fr. Jude Siciliano, OP

Chương 13 của Tin Mừng thánh Gioan là khúc ngoặt của sách Phúc âm này.  Bởi lẽ nó kết thúc phần một, quen gọi là “sách các dấu lạ.”  Chúa Giêsu chấm dứt sứ vụ công khai của Ngài.  Bây giờ chúng ta bước vào phần thứ hai, tựa đề là: sách vinh quang từ chương 13 đến chương 17.  Từ then chốt của phần này là“yêu thương.”  Ngài sẽ kêu gọi các môn đệ của Ngài vào vương quốc đó và bày tỏ cho họ biết tình yêu thương nào mà Ngài nghĩ tới khi Ngài hiến dâng thân mình cho họ, cho nhân loại.  Ngài là hạt lúa rơi xuống đất, chết đi và mang nhiều hoa trái như chính Ngài đã tiên báo ở Chúa Nhật V mùa Chay (Năm B). 

Câu mở đầu của Tin Mừng hôm nay (Ga 13,1) liên kết giờ cuối cùng của Chúa Giêsu với biến cố vượt qua.  Do đó có sự lựa chọn bài đọc thứ nhất từ sách Xuất hành, đoạn nói về trình thuật Vượt Qua nguyên thủy.  Chúa Giêsu sẽ tắt thở vào chính lúc con chiên Vượt Qua chịu sát tế làm lễ toàn thiêu trong đền thờ.  Đây là một sự tiên báo, sẽ có biến cố trọng đại thê thảm xảy ra cho Ngài vào giờ này.  Giờ Ngài đã chờ đợi từ lâu để làm đầy đủ ý nghĩa “vượt qua.”  Máu chiên bôi lên khung cửa nhà các người Do Thái ở Ai cập để cứu họ thoát tay Thiên Thần chinh phạt.  Cũng thế, máu con chiên vẹn toàn Giêsu cũng cứu chữa toàn thể nhân loại khỏi chết vì tội lỗi.  Ngài cúi xuống rửa chân cho các Tông đồ không chỉ nêu gương sáng cho chúng ta.  Những điều Ngài làm khởi sự từ giây phút này đều có quyền năng cứu chữa nhân loại khỏi áp lực của tội lỗi trên cuộc đời họ. 

Rửa chân là một phần không thể thiếu của lòng hiếu khách trong văn hóa Do thái.  Đường sá ở đó rất bụi bặm.  Các khách đến thăm hay đến dự bữa đều phải được rửa chân cho sạch trước khi bước vào nhà. 

Thường thường công việc này dành cho thành viên trẻ nhất của gia             , hay cho đầy tớ hoặc nô lệ hèn hạ nhất của chủ nhà.  Chúa Giêsu đảo lộn và bẻ gãy tục lệ đã được duy trì bao đời nay trong xã hội.  Đó là điểm quan trọng gây ngạc nhiên cho mọi người có mặt, kể cả các Tông đồ.  Giữa bữa ăn, Ngài đứng dậy, tự mình làm công việc rửa chân!  Nghĩa là giờ của Ngài đã đến gần, chỉ trong giây phút nữa.  Cho nên Ngài đã hạ mình đến tột độ, dốc hết cái tôi của Ngài đi, ngõ hầu dễ dàng chấp nhận Thánh ý Đức Chúa Cha.  Ngài bắt đầu chết.  Cuộc sống mới của nhân loại sắp ló dạng.  Trong cuộc sống này, cộng đồng nhân loại đã có một dấu hiệu chỉ dẫn, mà hành động bất ưng của Chúa Giêsu ngụ ý.  Đó là mọi người phải trở thành “kẻ rửa chân,” làm đầy tớ cho những người nghèo khổ, thiếu thốn trong cộng đồng.  Tuy nhiên, việc làm của Chúa Giêsu còn mang nhiều ý nghĩa hơn nữa. 

Tại sao ông Phêrô từ chối để Chúa rửa chân cho?  Ông thừa hiểu việc rửa chân là truyền thống, và ý nghĩa của nó ra sao.  Ông có đủ can đảm theo gương Chúa không?  Ông không phải là một gã ngốc nghếch, dại khờ.  Ông theo Chúa với một mục tiêu đầy tham vọng.  Lúc này ông đang bị ngỡ ngàng vì hành động của Chúa, ông chưa dám chấp nhận số phận tệ hại như thế:  Làm đầy tớ thiên hạ.  Ông chưa sẵn sàng để mọi người hạ nhục.  Bị nhục nhã trước công chúng chưa phải là tư tưởng của ông.  Ông chưa chấp nhận cho nên ông từ chối để cho Chúa rửa chân. 

Nhưng Chúa Giêsu đòi hỏi là Ngài phải rửa chân cho ông.  Ông phải học bài học khiêm nhu của Ngài, bằng không, ông sẽ không được dự phần vào “gia sản” của Ngài.  Gia sản ấy là cuộc sống mới, tư tưởng mới, thái độ mới, là tình yêu của Chúa Cha, là bác ái với mọi người mà việc rửa chân cho nhau là dấu chỉ.  Gia sản ấy là cộng đồng mới, ngôi nhà mới có Chúa Giêsu cư ngụ.  Phêrô với ơn Chúa Thánh Thần, nhận ra lời dạy bảo của Chúa, và ông đã chấp nhận. 

Tuy nhiên, Chúa không đòi hỏi Phêrô phải có một cuộc tắm rửa toàn diện mà chỉ cần rửa chân khỏi những bụi bặm bên đường.  Sau này, các tín hữu của Chúa trên hành trình qua cuộc sống trần gian, cũng vương nhiều bụi bặm.  Cuộc thanh tẩy toàn thể không cần thiết nữa (tức không cần rửa tội lại) mà chỉ cần bí tích Hòa Giải, để có thể đồng bàn với Thiên Chúa tình yêu.  Suy rộng ra, Hội Thánh luôn phải thanh tẩy mình, làm cho mình được đổi mới luôn, trong sạch luôn để xứng đáng tham dự lễ Vượt Qua với Chúa Kitô. 

Sự kiện xảy ra tại bàn ăn, lệnh truyền yêu thương cũng được ban ra tại bàn ăn.  Thế thì bàn tiệc Thánh Thể luôn luôn là đề tài để chúng ta suy nghĩ.  Bàn ăn phải là nơi chúng ta tha thứ cho nhau, phục vụ nhau tẩy sạch mọi bụi bặm trần gian để có thể đón nhận giới răn mới của Chúa. 

Thực ra, về hình thức, giới răn này chẳng có chi mới.  Nhưng nội dung của nó thì hoàn toàn mới, và đã trở nên giới răn riêng của Chúa Giêsu, là dấu hiệu để thế gian nhận biết chúng ta là môn đệ của Ngài.  Thực ra, yêu thương đối với Chúa Giêsu cực kỳ quan trọng đến nỗi Ngài phải làm gương, trước khi ban ra lệnh truyền, bởi Ngài biết rõ chỉ nhờ yêu thương mà thế gian sẽ được cải tạo, được đổi mới. 

Thánh Gioan viết trình thuật này cho cộng đoàn của ngài trong tình hình rất cụ thể của cộng đoàn đó. Vậy thì mục tiêu của ngài là gì?  Ngài nhắm đạt tới điều chi?  Có lẽ sau khi chịu phép Thánh tẩy, trở lại với Chúa Giêsu, đã có nhiều điều xảy ra cần được tẩy rửa, sửa chữa.  Đúng như tình trạng của các giáo xứ chúng ta ngày nay.  Thánh Gioan đã dùng ngòi bút của mình mà thôi thúc mọi phần tử trong cộng đoàn tha thứ cho nhau, làm tôi tớ cho nhau, để có thể cùng nhau mừng lễ vượt qua.  Thế thì các giáo xứ, các cộng đoàn tín hữu, tu trì ngày nay có cần lời khuyên nhủ của thánh nhân để cũng có thể cử hành lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu không ? 

Lễ Vượt Qua này bắt đầu bằng nghi thức rửa chân, hạ mình ra không để đón nhận thánh ý Chúa, mà thánh ý Chúa là yêu thương.  Thì chúng ta không thể nào làm khác được.  Bữa tiệc Mình Máu Thánh Chúa cử hành hằng ngày tại các giáo xứ, các cộng đoàn cũng phải bắt đầu bằng nghi thức rửa chân, xin lỗi nhau và tha thứ cho nhau.  Chỉ khi nào chúng ta thành thực trong tâm hồn, ngoài cử chỉ thực hiện nghi thức này, lúc đó mới xứng đáng được Chúa ngự vào lòng.  Amen. 

Fr. Jude Siciliano, OP

From Langthangchieutim

Các “con nợ” của Trung Quốc đang phải đối mặt với “rủi ro cao” về mất chủ quyền

 

Các “con nợ” của Trung Quốc đang phải đối mặt với “rủi ro cao” về mất chủ quyền

 
 

Trung Quốc đang cho các nước tham gia “Sáng kiến Vành đai và Con đường” vay rất nhiều tiền để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng. Bắc Kinh trở thành chủ nợ chi phối các nước này và đến khi tới hạn đáo nợ, rủi ro rất cao là các “con nợ” sẽ bị mất chủ quyền vào tay Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp Tổng thống Djibouti Ismail Omar Guelleh tại Đại Lễ Đường Nhân Dân ở Bắc Kinh vào ngày 23/11/2017. 

Cho đến tận thời gian rất gần đây, thế giới biết đến đất nước Châu Phi Djibouti bụi bặm nhiều nhất là ở hình ảnh cư dân nơi đây có thói quen nhai lá khat – một loại lá cây bụi có chứa chất kích thích – để có cảm giác thăng hoa. Mỗi ngày, khi cái nóng oi nồng của buổi chiều tăng lên, những người đàn ông Djibouti lại tụ tập thành từng nhóm, nhét ít lá khat vào miệng và nhai cho tới khi đạt được cảm giác hưng phấn, bay bổng. Và thế là, chẳng ai còn làm được việc gì cho tới cuối ngày. Kết quả là, tại đất nước Phi Châu này chẳng có nghành nghề sản xuất nào cả, ngoại trừ việc nhập, buôn bán, phân phối và bán lẻ lá khat.

Tại Djibouti, thời gian luôn trôi đi chậm rãi.

Thế rồi, cho tới gần đây hơn mọi chuyện đã thay đổi. Không biết nên gọi Djibouti được ban phước hay quỷ ám với một vị trí địa lý chiến lược, nằm ngay phía tây của Bab al Mandab – eo biển hẹp giữa Châu Phi và Ả-rập, cửa ngõ vào phía nam biển Đỏ và tới Kênh đào Suez, bắt đầu phát huy tác dụng thu hút sự chú ý của quốc tế. Truyền thống trước đây, tuyến hàng hải chính qua Bab al Mandab tới phương Đông đã luôn bị chi phối bởi bến cảng tự nhiên tuyệt vời, nằm trong một vùng miệng núi lửa núi lửa đã tàn – cảng Aden, Yemen. Nhưng vào năm 2000, một cuộc tấn công tự sát bằng thuyền tại cảng Aden gần như đã đánh chìm tàu khu trụ hải quân Mỹ USS Cole đã làm tình hình khu vực chuyển biến. Với việc bến cảng tốt nhất không còn an toàn, nạn cướp biển gia tăng đe dọa cho tuyến hàng hải và khu vực này ngày càng không ổn định, các cường quốc thế giới bắt đầu chuyển hướng sự chú ý của họ sang Djibouti – đất nước sở hữu bờ biển phía tây của eo Bab al Mandab.

Vì từng là thuộc địa của thực dân Pháp, Djibouti từ lâu đã là nơi đồn trú của cả một quân đoàn lính Pháp. Sau đó, vào năm 2001,  người Mỹ cũng đến đây và họ ký thuê đất xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự làm căn cứ chính cho bộ tư lệnh Châu Phi trực thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ. Tiếp đến, người Nhật Bản cũng tới đây vào năm 2011. Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản với vỏ bọc là triển khai hoạt động chống cướp biển, đã thiết lập tại Djibouti căn cứ quân sự nước ngoài đầu tiên của người Nhật sau 70 năm.

Tiếp đó, tới năm 2016, tới lượt Trung Quốc đặt chân tới Djibouti. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã ký hợp đồng thuê đất 20 năm, xây dựng trại lính quy mô lớn, mở các bến cảng cho tàu hải quân neo đậu và vẫn còn thấy ghen tị với đường băng của không lực Mỹ và hệ thống hạ tầng bãi biển của người Pháp.

Tuy nhiên, khác với Mỹ và đồng minh, khi thiết lập sự hiện diện của mình tại Djibouti, Trung Quốc không chỉ mở căn cứ quân sự nước ngoài (công khai) đầu tiên của mình, mà họ còn mang theo dòng vốn vay đổ vào đất nước Châu Phi này theo “Sáng kiến Vành đai và Con đường”. Chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi vừa qua, thông qua ngân hàng nhà nước – Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, chế độ Bắc Kinh đã cung cấp cho Djibouti khoản vay lớn lên tới 1,4 tỷ USD, tương đương 75% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này.

Kết quả là, tỉ lệ nợ công của Djibouti so với GDP đã tăng lên 85%, trở thành một trong những nước thu nhập thấp có tỉ lệ nợ công cao nhất thế giới. Và nếu Trung Quốc tiếp tục giải ngân cho các cơ sở hạ tầng mới đã được lên kế hoạch bao gồm bến cảng, sân bay, đường cao tốc và đường sắt mới nối với Ethiopia, tỷ lệ nợ của Djibouti sẽ tăng lên hơn 90%, và đáng chú ý là đều nợ một chủ nợ – Trung Quốc.

Quốc tế bắt đầu dấy lên cảnh báo về sự gia tăng nợ công nhanh chóng tại Djibouti và lại tập trung duy nhất vào một chủ nợ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo rằng cách vay nợ của Djibouti là “rủi ro cao”. Và đội ngũ tư vấn của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD) có trụ sở tại Washington và London cũng đã xác định Djibouti là một trong những trường hợp đặc biệt nhất trong số các nước nghèo “đang đối mặt với nguy cơ gia tăng rủi ro đáng kể về mất chủ quyền quốc gia nếu các dự án đã lên kế hoạch theo Sáng kiến Vành đai và Con đường được hoàn thành“.

Ngay trong cảnh báo của CGD cũng có ngụ ý rằng, mặc dù trường hợp của Djibouti có thể là nghiêm trọng nhất, nhưng đây không phải là nước duy nhất phải hứng chịu rủi ro mất chủ quyền vì thực hiện Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cung cấp khoản vay cho nhiều nước tương đối nghèo nhưng có vị trí địa lý chiến lược và Bắc Kinh nhanh chóng nổi lên là chủ nợ quốc tế, có ảnh hưởng lớn nhất.

Trong một nghiên cứu mới phát hành tháng trước, CGD đã xác định ngoài Djibouti, còn có 14 nước khác có vay vốn của Trung Quốc theo Sáng kiến Vành đai và Con đường có nguy cơ rơi vào “kiệt quệ” tài chính. Trong đó, 7 nước có khả năng vì vay nợ sẽ đẩy nền kinh tế quốc gia đến bờ vực của cuộc khủng hoảng nợ công.

Nước dễ bị tổn thương nhất là quốc đảo Maldives tại Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã cho Maldives vay khoản tiền lớn để xây sân bay mới và các công trình phụ trợ liên quan trị giá tới 1,25 tỷ USD, và còn thêm một bến cảng. Kết quả là, nợ công của Maldives tương đương gần 75% GDP, trong đó 70% là nợ Trung Quốc. IMF vào năm ngoái đã cảnh báo việc Maldives gia tăng nợ công nhanh chóng sẽ gây ra rủi ro cao cho sức khỏe của nền kinh tế của quốc đảo này.

Các quốc gia nợ quá mức khác gồm Tajikistan, Cộng hòa Kyrgyz và Mông Cổ – đều nằm ở biên giới phía cực Tây của Trung Quốc, một khu vực mà chế độ Bắc Kinh thường xuyên trấn áp những người bất đồng chính kiến chính trị và tôn giáo.

Trong khi đó, tại Lào, các khoản vay của Trung Quốc đang tài trợ cho đất nước Đông Nam Á này xây dựng một tuyến đường sắt có giá trị bằng một nửa GDP. Và có thêm cả Pakistan, nước này đang vay Trung Quốc 50 tỷ USD theo lãi xuất thị trường để thực hiện một loạt các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng, nhưng rất ít dự án trong đó có cơ hội tạo ra đủ lượng tiền trong trung và dài hạn để trang trải các khoản chi phí lãi vay.

Vấn đề vay nợ cao, trong khi doanh thu dự án không đủ bù đắp chi phí trả lãi, đang tạo ra mối lo lắng lớn. Chính phủ vạy nợ sẽ bỏ qua chi tiêu vào các lĩnh vực thiết yếu khác như y tế hay giáo dục hoặc thậm chí sẽ phải vay nợ thêm để trang trải khoản lãi vay. Những hậu quả có thể xảy ra là tăng trưởng chậm, tỉ lệ lãi vay cao khiến rủi ro gia tăng và mức tăng nợ công nhanh chóng thậm chí có thể khiến quốc gia vay nợ phụ thuộc lớn hơn vào chủ nợ chi phối vì những đối tác cho vay khác không dám cấp vốn vay tiếp.

Kết quả cuối cùng sẽ hoặc là vỡ nợ với những khó khăn kinh tế trầm trọng hoặc phải tái cơ cấu nợ và dẫn tới rủi ro mất chủ quyền. Tái cơ cấu nợ là một viễn cảnh rất đáng quan ngại. Trung Quốc chưa ký kết tham gia vào Câu lạc bộ Paris tập hợp các chủ nợ quốc tế với các quy định thực thi tốt nhất về việc tái cơ cấu nợ.

Thực tế, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã yêu cầu một mức giá cao đối với những nước đi vay muốn tái cơ cấu nợ. Vào năm 2011, Trung Quốc đã yêu cầu Tajikistan chuyển nhượng hàng nghìn km2 lãnh thổ để đổi lại việc được xóa nợ. Và vào năm 2017, Trung Quốc đã hoán đổi khoản nợ của Sri Lanka để được thuê 99 năm cảng biển Hambantota có vị trí chiến lược.

Mô hình hiện tại của các khoản cho vay theo Sáng kiến Vành đai và Con đường đang thực hiện với các nước như Djibouti, khiến cho việc cơ cấu nợ theo cách của Trung Quốc đã làm với Tajikistan và Sri Lanka có thể tiếp diễn trong tương lai. Trung Quốc sẽ đòi hỏi các nước vay nợ phải nhượng bộ về chính trị hay lãnh thổ nặng nề để đổi lấy các điều khoản tái cơ cấu nợ dễ dàng hơn. Và nếu có ai nghĩ khác rằng Bắc Kinh đang cho các quốc gia tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường vay vốn vì lợi ích kinh tế của họ chứ không phải phục vụ cho lợi thế về chính trị và chiến lược của Trung Quốc, thì người đó chắc hẳn phải nhai lá khat để tạo hưng phấn như người Djibouti vẫn làm.

Tác giả: Tom Holland (scmp.com)

Tân Bình dịch và biên tập

KIÊU NGẠO CỘNG SẢN, MỘT THÁI ĐỘ THIẾU GIÁO DỤC VÀ SỰ CHỐNG CHẾ NGU XUẨN

KIÊU NGẠO CỘNG SẢN, MỘT THÁI ĐỘ THIẾU GIÁO DỤC VÀ SỰ CHỐNG CHẾ NGU XUẨN

RFA

Ảnh của nguyenhuuvinh

Từ một bức ảnh gây phẫn nộ

Bức ảnh chụp Tống Thanh Hải, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Lai Châu tiếp Đức cha Anfonso Anphongsô Nguyễn Hữu Long, Giám mục Phụ tá Giáo phận Hưng Hóa. Một Giáo phận bao gồm 10 tỉnh Tây Bắc, vào sáng ngày 20/3/2018 được cư dân mạng chia sẻ chóng mặt với một làn sóng phẫn nộ dâng trào.

Người ta phẫn nộ với một thái độ ngông cuồng, hống hách của các quan chức cộng sản, cứ tự coi mình như cái rốn của vũ trụ mà không biết rằng chính Hồ Chí Minh đã định nghĩa họ chỉ là đầy tớ nhân dân.

Bất cứ một người dân nào dù là nông dân dưới ruộng cho đến đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, đều không thể chấp nhận thái độ tiếp khách của đám đầy tớ như thế này.

Bị phản ứng dữ dội, tay Phó Chủ tịch tỉnh Lai Châu đã phải chữa cháy phân bua rằng: Ai đưa bức ảnh đó không đúng vì chụp khi hắn nháy mắt và bảo hắn ngủ!!!!

Xin thưa với tay Phó chủ tịch tỉnh này, là không phải người ta phản đối việc nhắm hay mở mắt.

Bởi đơn giản là hắn và đàn cán bộ từ trung ương cho đến mấy tỉnh này có mở mắt thao láo mấy chục năm nay, cũng có thấy được điều gì đâu. Hắn đâu có thấy được nhu cầu tôn giáo của đồng bào ở các tỉnh Tây Bắc đến mức nào. Hắn đâu biết rằng các giáo dân người dân tộc vì nhu cầu tôn giáo mà đã khốn khổ bao nhiêu năm nay. Hắn đâu biết người dân từ Mường Nhé muốn tham dự Thánh lễ đã phải đi bộ cả 200 cây số đường rừng. Hắn đâu biết một linh mục muốn đến với giáo dân từ đầu xứ đến cuối xứ phải đi mất 500 km đường rừng núi hiểm trở. Nhưng việc cấp Giấy chứng nhận – Chỉ riêng việc này đã nói lên sự mất tự do – cho các giáo họ, giáo xứ, giáo điểm… đến nay vẫn là việc khó hơn lên trời.

Do vậy, hắn ta có nhắm mắt đi nữa, thì cũng là chuyện không cần thắc mắc. Nhưng cái dáng ngồi trịch thượng và thái độ mất dạy của hắn mới là cái mà thiên hạ chửi bấy lâu nay.

Trước hết, đó là sự kỳ thị tôn giáo xuất phát từ việc đàn áp tôn giáo một cách nặng nề ở vùng Tây Bắc từ xưa, (tôi đã có nhiều dịp viết về chủ đề này kể từ năm 2008 đến nay). Ở đó nhà cầm quyền Cộng sản địa phương đã tự đặt ra cho mình những nguyên tắc, quy luật riêng, nhằm trừng trị, hạn chế bà con dân tộc ít người muốn theo tôn giáo không làm vui lòng đảng.

Sự đánh lận con đen của đám báo chí và tay Phó Chủ tịch này đã chứng minh những điều nhận định trên ngay cả trong việc “chèo chống” sau sự cố này.

Ngay trong bản tin “rửa mặt” cho tay phó chủ tịch Tỉnh Lai Châu, thái độ kỳ thị tôn giáo đã thể hiện rất rõ ràng: Bài báo gọi đoàn của Tòa Giám mục Hưng Hóa do Đức Cha Anfonso dẫn đầu là “đoàn khách” mà không thèm nói ra là Đoàn khách Tòa Giám mục Hưng Hóa.

Vậy có nghĩa là Đoàn khách này đến thăm UBND Tỉnh Lai Châu với tư cách cá nhân và Tỉnh Lai Châu cũng chỉ đến thăm những người khách này chứ không phải họ đến thăm Tòa Giám mục Hưng Hóa, đại diện cho khoảng 250.000 giáo dân 10 tỉnh Tây Bắc.

Thậm chí bài báo còn viết: “Được biết, mấy năm gần đây, mỗi năm đoàn khách này đều lên thăm tỉnh Lai Châu và tỉnh Lai Châu cũng đã có đến thăm đoàn khách trên”.

Điều này không phải ngẫu nhiên mà có chủ đích kỳ thị hẳn hoi. Bởi mấy tỉnh Tây Bắc Việt Nam đã trắng trợn chà đạp quyền tự do tôn giáo của người dân bao năm qua. Họ không hề công nhận các giáo điểm, giáo xứ cũng như những nơi thờ tự.

Thậm chí, có thời kỳ Tỉnh Sơn La còn trắng trợn tuyên bố: “Sơn La không có nhu cầu tôn giáo” bằng văn bản của UBND và Tỉnh ủy hẳn hoi.

Sự lễ phép, lịch sự là biểu hiện của mức độ giáo dục

Có lẽ, sinh ra xã hội loài người đã đặt ra cho xã hội những quy định nhất định nào đó, cái thì thành văn, cái thì không cần văn bản. Nhưng, tất cả những quy chế, định ước nào đó, nhằm để xây dựng một xã hội có trật tự về luật pháp, có đạo đức và văn hóa về lối sống.

Sự giao lưu, tiếp xúc với các tầng lớp, vùng miền khác nhau thể hiện sự chín chắn và mức độ hiểu biết của con người đến đâu. Vì thế việc tiếp khách đánh giá nhiều mặt về người chủ nhà.

Có thể nếp văn hóa khác nhau ở mỗi vùng, mỗi miền quê khác nhau. Người dân tộc thiểu số có thể mời khách quý ngồi chung bên bếp lửa uống chén rượu ngô, người miền biển có thể mời khách cùng xuống thuyền ăn con cá biển nướng… Tất cả đều có thể chấp nhận được khi người khách và người bên ngoài nhận được sự trân trọng và chân thành, cởi mở từ họ.

Thế nhưng, cơ quan nhà nước, nơi mà ít nhất dù là bằng giả thì đến Phó chủ tịch Tỉnh cũng phải học xong ít nhất là lớp 5, mà chỉ cần học sinh lớp 3 là đã học phép lịch sự tối thiểu. Thì người ta không thể chấp nhận thái độ tiếp khách một cách khinh miệt đối với một lãnh đạo tôn giáo như tay Phó Chủ tịch Tỉnh này.

Sự lấc cấc, trắng trợn, cậy thế cậy quyền và coi thường kẻ khác, dù đó là ai đi nữa, chỉ là tấm giấy xác nhận anh ta là một kẻ có thể thừa tiền bạc, nhưng thiếu văn hóa và tri thức.

Việc quan chức cộng sản tỏ thái độ láo xược trước các lãnh đạo tôn giáo, đã không làm cho họ cao hơn dù một mm, ngược lại, dự luận xã hội đã nhấn họ xuống tận đáy bùn đen bởi người ta biết tầm mức tri thức và văn hóa của họ.

Đó là nói Kkhi quan chức cộng sản làm chủ nhà.

Còn khi họ làm khách thì sao? Thái độ của quan chức cộng sản còn thể hiện sự kém về lịch sự, văn minh, ngay cả khi là Chủ tịch nước.

Họ nghiễm nhiên coi như phòng khách người khác là nhà của nhà mình. Ở đó, họ thể hiện vai trò của ông chủ, của những người có quyền thế và sang trọng, còn chủ nhà chỉ là đám đầy tớ của mình. Hãy nhìn Trần Đại Quang đến thăm Tòa TGM TGP Sài Gòn thì rõ. Hắn ta ngồi vào chỗ trịnh trọng như Giáo hoàng, còn chủ nhà thì khúm núm hết mức khiêm tốn.

Tưởng rằng ngay cả việc quá khúm núm trước quan chức cũng không hẳn là một thái độ hay. Nhiều người nhìn các bức ảnh của các vị linh mục, nữ tu, giám mục… đã quá khiêm nhu hạ mình trước đám quan chức cộng sản này mà cảm thấy phản cảm. Có phải đời sống tu hành đã tạo nên thái độ thái quá như vậy hay chăng?

 Thế nhưng dù sao vẫn còn đỡ phản cảm hơn thái độ hách dịch, coi thường người khác, thể hiện sự kiêu ngạo cộng sản của đám quan chức Việt Nam hiện nay.

Tổng Đại diện TGP Sài Gòn Linh mục Hồ Văn Xuân đón Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy đến thăm.

(Hình: Trần Đại Quang đến thăm Tòa Giám mục TGP Sài Gòn)

Thực ra, xã hội ngày nay luôn hô hào và cổ võ bình đẳng là điều cần thiết, tuy nhiên trong phép lịch sự cần có, thường được thể hiện ở những người có học thức, có nhận thức và tầm văn hóa tương đối. Họ thể hiện sự khiêm tốn của mình cũng như sự tôn trọng những người khách của mình, nhưng trước hết là sự tôn trọng phẩm giá con người.

Có một điều là rất khó có thể sửa đổi những cái thuộc về văn hóa, về nét riêng thường có của quan chức cộng sản, những tên đầy tớ của nhân dân – những tên đầy tớ vô lại.

Ngày 26/3/2018

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Tư duy ‘lộng kiếng!’

 

Tư duy ‘lộng kiếng!’

Tạp ghi Huy Phương

Bàn ăn nơi Tổng Thống Obama ghé ăn bún chả năm 2016, được lộng kiếng. (Hình: Facebook Đàm Hà Phú)

Tháng Năm, 2016, Tổng Thống Mỹ Barack Obama sang thăm Việt Nam, khi ra Hà Nội, ông đã cùng với đầu bếp nổi tiếng nước Mỹ Anthony Bourdain, ghé ăn bún chả Hương Liên tại số nhà 24 Lê Văn Hưu. Mang tính thân thiện, cũng như năm 2000 khi ghé Sài Gòn, Tổng Thống Bill Clinton đã cùng con gái đến dùng phở tại quán Phở 2000 gần chợ Bến Thành.

Khi một nhà hàng ăn được một đại tài tử chiếu cố thường lui tới, sẽ ăn nên làm ra nhờ tiếng tăm của những thực khách danh tiếng. Nhà hàng Patsy’s Italian Restaurant trên con đường phố 56 Street, New York, từ năm 1944, của một di dân người Ý, nhờ có vị khách thường xuyên là ca sĩ Frank Sinatra, đã trở thành một nhà hàng ăn của các bậc đại gia, giới nghệ sĩ nổi tiếng, như George Clooney, Al Pacino cho đến James Gandolfini và Tony Bennett.

Tiệm Phở 2000 ở Sài Gòn và tiệm bún chả Hương Liên, Hà Nội cũng nhờ tiếng tăm của hai vị tổng thống đã trở thành những địa điểm đắt khách nhất. Không nghe nói Sài Gòn đã có những sáng kiến quảng cáo về cái nơi một vị tổng thống của một đại cường quốc đã đến ăn một bát phở ra sao, nhưng ở Hà Nội chủ quán bún chả đã cho “lộng kiếng” bộ bàn ăn, chén dĩa và chai lọ, đũa muỗng… nơi Obama và Bourdain để thưởng thức món bún chả Hà Nội. Lẽ cố nhiên sau hai năm, cái dĩa, cái chén, đôi đũa, lọ tiêu, chai nước mắm, hai cái vỏ chai cũ không còn nữa, chỉ có tính cách tượng trưng. Tiếc là còn thiếu có cái tăm xỉa răng, tờ giấy lau miệng và chút DNA trên miệng chai bia ngài vừa tu xong.

Biết được chuyện này, Anthony Bourdain đã đăng tải lại bức ảnh trên trang Instagram cá nhân kèm theo lời bình luận “Tôi không chắc mình cảm thấy thế nào nữa?” Có nghĩa là Bourdain chưa hiểu nỗi kiểu chơi của Việt Nam, trò tư duy “lộng kiếng” của miền Bắc XHCN.

“Cái gì sợ người ta quên đi thì hãy lộng kiếng giữ lại!” Do đó, người người lộng kiếng, nhà nhà lộng kiếng, từ cái bằng liệt sĩ, giấy khen lao động vinh quang, hình bác Hồ đến cái xác giả trong lăng cũng phải “lộng kiếng” lại.

Tổng Thống Obama đặc biệt là một người danh tiếng và một nhân vật quan trọng nên cần lưu giữ lại chút kỷ niệm, nhưng ở xứ tôi, cái gì của lãnh tụ, của “cách mạng,” cái gì cũng cần “lộng kiếng” vì cái gì cũng thơm tho, quý giá cả.

Hằng trăm thứ đồ dùng của lãnh tụ, từ cái bàn máy chữ đến đôi guốc ở Hà Nội, cái tủ đựng quần áo, tủ con để đầu giường, cái la-va-bô rửa mặt ở số 9 ngõ Công-Poanh, và cả “cục gạch hồng” mà thi nô Chế Lan Viên đã cúi đầu ninh bợ “một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá!” cũng được xem như quốc bảo vào nằm trong viện bảo tàng.

Dân số Việt Nam là 92.7 triệu thì đất nước có gần 50 triệu khung hình “lộng kiếng” của Bác, phần dư ra có thể dùng vào việc cứu đói cho thương binh, liệt sĩ, cô nhi, quả phụ hay dùng để xoá đói, giảm nghèo. Hiện nay, trong cả nước, trên 27 tỉnh và thành phố đã có trên 630 di tích và địa điểm di tích lưu niệm Bác Hồ được “lộng kiếng” từ cái nhà sàn, cái ao, nơi Bác sống, nơi Bác đã đi qua, nơi Bác đã dừng lại và nơi Bác nằm xuôi tay.

Theo thống kê của nhà nước CSVN, đến nay tượng và tượng đài tưởng niệm “Bác” đã có mặt tại khoảng 20 nước trên thế giới. Ở trong nước, hiện nay đã có khoảng 137 tượng đài HCM và theo dự tính, người ta sẽ xây thêm 58 tượng đài nữa… Mỗi tượng đài để suy tôn lãnh tụ, cái rẻ nhất cũng tốn vài ba chục triệu và cái đắt nhất là $70 triệu.

Các nước Tây phương và những người tư bản “chưa tiến bộ” như Anthony Bourdain khó hiểu nỗi cái tinh thần “lộng kiếng” trong chế độ Cộng Sản, và cũng chưa hiểu nỗi thói quen nói lái muôn đời của người Việt Nam.

Và, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng ra, ngay như một vật ghê tởm nhất là một cái búa tạ vấy máu mà Việt Cộng dùng để đập vỡ đầu những người mà Cộng Sản kết tội là ác ôn, cũng được “lộng kiếng” đưa vào viện bảo tàng. Cái búa đã được ghi chú: “Búa – đồng chí Nguyễn Văn Thắng, huyện đội Mõ Cày (Bến Tre) dùng bổ chết 10 tên ác ôn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước!”

Trong tương lai, khi chế độ Cộng Sản đã không còn trên đất nước Việt Nam, có lẽ có hai nghề làm ăn phát đạt nhất, là nghề bán ve chai khi thời đại “lộng kiếng” đã hết thời và nghề bán “xà bần” từ những tượng đài nghìn tỷ.

Hai Thủ Tướng của 2 chế độ : “Tôi lặng người bởi sự ngạo mạn và hung hăng này “

Thuong Phan and 2 others shared Nguyễn Hữu Thọ‘s post.
Image may contain: 3 people, people standing

Nguyễn Hữu Thọ

Hai Thủ Tướng của 2 chế độ : “Tôi lặng người bởi sự ngạo mạn và hung hăng này “

Bài viết của Lý Quang Diệu

Trích đoạn :
“…
Phạm Văn Đồng đến Singapore vào ngày 16/10/1978. Tôi cảm thấy ông kiêu ngạo và khó ưa.

Tôi khởi đầu bằng sự đón chào ước vọng của Việt Nam muốn hợp tác cùng chúng tôi vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng nhưng khi nghe đài phát thanh Hà Nội và đọc báo Nhân dân tôi trở nên dè dặt. Họ không thân thiện, thậm chí còn đe dọa. Ông Đồng tuyên bố Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa và ông là một người cộng sản. Học thuyết của ông là chủ nghĩa Mác–Lênin. Ông đến Singapore để nói chuyện với tư cách Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việt Nam phải đóng góp vào sự nghiệp cách mạng và hòa bình của Đông Nam Á và thế giới. Điều này không liên quan gì đến Singapore.

Việt Nam là một đất nước 50 triệu dân, một quốc gia kiên cường, thông minh và giàu tài nguyên thiên nhiên. Cả Mỹ và Nhật đều bảo Việt Nam sẽ trở thành một nước mạnh về kinh tế; Mỹ và Nhật, sẽ cần các mối quan hệ thương mại và kinh tế với họ.

Sau đó ông quay sang các quan hệ kinh tế với một đề nghị gây bất ngờ là Singapore có thể đóng góp vào việc tái xây dựng Việt Nam. Tôi phản đối một cách lịch sự rằng chúng tôi phải có được sự đáp trả cho hàng hóa và dịch vụ của mình, ông nói thẳng thừng rằng nền kinh tế Việt Nam không phát triển và các khả năng thương mại bị giới hạn. Đêm đó trong khi tôi đi bộ với ông đến tiệc chiêu đãi, ông lại nói một lần nữa rằng Việt Nam không thể trao đổi mậu dịch nhưng cần giúp đỡ; Singapore đã thu lợi từ chiến tranh Việt Nam, bán vật liệu chiến tranh cho người Mỹ, do đó trách nhiệm của chúng tôi là phải giúp đỡ họ. Tôi lặng người bởi thái độ ngạo mạn và hung hăng này.

Khi chúng tôi trên xe chạy dọc khu cảng vào ngày hôm sau, ông thấy nhiều tàu bỏ neo. Một lần nữa ông buộc tội chúng tôi đã thu lợi vô cùng lớn từ chiến tranh Việt Nam và phát triển Singapore trên sự mất mát của họ vì thế trách nhiệm của chúng tôi là giúp đỡ họ. Tôi hoài nghi. Tôi không thể hiểu tại sao chúng tôi lại buộc phải giúp đỡ họ trong khi họ bị kiệt quệ bởi một cuộc chiến mà chúng tôi không gây ra và chúng tôi không hề đóng bất cứ vai trò nào trong cuộc chiến ấy. Tôi nói những nguyên liệu chiến tranh chính yếu chúng tôi cung cấp cho các lực lượng Mỹ ở Việt Nam là POL (xăng, dầu và chất bôi trơn) xuất phát từ các công ty dầu của Anh và Mỹ. Lợi nhuận cho Singapore là không đáng kể. Trông ông có vẻ ngờ vực.

Tôi nói chúng tôi chuẩn bị để giao dịch kinh tế chứ không phải để viện trợ không hoàn lại. Ông không hài lòng. Chúng tôi chia tay lịch sự nhưng lạnh lùng.

( Theo Bí quyết hóa rồng: Lịch sử Singapore 1965 – 2000/ From Third World to First: The Singapore Story – 1965-2000.)

  •  
     
     

Món quà của người đàn bà bán ve chai

Món quà của người đàn bà bán ve chai

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ nhân bức ảnh chú thích: “Bức ảnh này chụp vào trưa ngày 13/01/2014 tại quán cơm chay Thiên Phước 5000 đồng, địa chỉ 62 Nguyễn Chí Thanh, Phường 16, Quận 11 (SG). Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên, nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.

Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.

Trong cái thời buổi đồng tiền lên ngôi, tình người lạnh lẽo, lối sống ích kỷ lan tràn thì tấm lòng của người đàn bà bán ve chai lại càng đẹp hơn bao giờ hết. Nó cho thấy dù chị nghèo khó thật đấy, nhưng chị giàu có hơn vạn lần người khác, những người chưa một lần chìa tay ra san sẻ cho đồng loại.

Biết được câu chuyện này, chẳng phải chúng ta đang cảm thấy trái tim mình ấm áp, tâm hồn mình thư thái và hạnh phúc hay sao? Bởi người đàn bà bán ve chai ấy, chẳng ai biết tên chị là gì, giờ đang tá túc ở đâu, nhưng hành động của chị đã cho chúng ta có thêm niềm tin, rằng những người tốt và những tấm lòng cao cả ở đời còn nhiều lắm. Họ là con người đúng nghĩa với những điều tốt đẹp nhất của danh từ này.

Tôi tin những người như chị, nếu làm người bán hàng sẽ không bao giờ gian tham, dối trá hay bớt xén của ai một đồng một hào nào. Nếu làm người công nhân, sẽ có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình. Nếu làm một công chức, sẽ cống hiến tận tâm cho xã hội.

Một cộng đồng muốn tốt đẹp thì không thể không dựa vào từng cá nhân tốt đẹp, một cái cây muốn tươi tốt, bền chắc thì phải có bộ rễ khỏe mạnh. Đạo đức là gốc rễ của mọi vấn đề. Tiếc là ngày nay, xã hội vì quá coi trọng đồng tiền nên đã xem thường nó, coi rẻ nó, khiến cho mọi thứ lộn xộn, đảo điên.

Chị chỉ quanh quẩn sáng tối với cái vỏ chai, mảnh giấy vụn. Hạnh phúc của chị chỉ là sau một năm làm ăn cần mẫn, mua được bao gạo, chai dầu đến cảm ơn quán cơm đã cứu đói chị và san sẻ tình thương cho những người đồng cảnh ngộ. Nhưng cuộc đời của chị, thanh sạch và đáng kính trọng biết bao nhiêu.

Những bài học lý thuyết về đạo đức, tình người sẽ không bao giờ khiến chúng ta thấm thía bằng hành động của người đàn bà bán ve chai ấy.

Cầu mong cho những tấm lòng cao cả ấy sẽ được tiếp nối, sẽ lan rộng ra để duy trì sự tốt đẹp và làm sáng thêm hai chữ “đạo nghĩa” trong đời sống này.

From: Do Tan Hung & Nguyen Kim Bang

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Thứ Sáu Tuần Thánh, từng là một chuyện xấu trước khi là một chuyện tốt lành, ít nhất là từ góc nhìn bên ngoài.  Thiên Chúa bị đóng đinh vì mọi thứ xấu xa trên thế giới, là kiêu ngạo, ghen tỵ, bất tín, tổn thương, tư lợi, tội lỗi.  Không phải ngẫu nhiên mà Phúc âm bảo chúng ta rằng khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, bầu trời u ám ngay chính ngọ.  Khi Chúa Giêsu treo trên thập giá, dường như ánh sáng chuyển thành bóng tối, tình yêu chuyển thành thù hận, và sự sống chuyển thành sự chết.  Như thế có gì là tốt?

 Hơn nữa, khi hấp hối, dường như Chúa Giêsu không còn thần thiêng, quyền lực và không thể kiểm soát mọi thứ kể cả những chuyện trong thế giới, lẫn những gì diễn ra trong lòng Ngài.  Thế giới dường như chìm vào bất tín, và trong Tin Mừng, Chúa Giêsu, Thiên Chúa nhập thể, dường như chìm vào một hoài nghi bất định, một nỗi hoang mang cực độ đến nỗi thốt lên: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.”  Chuyện gì đang xảy ra thế này?  Như thế có gì là tốt? 

Để hiểu chuyện gì đã xảy ra trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta cần phân biệt giữa những gì diễn ra bề ngoài và những gì diễn ra thâm sâu. 

Bề ngoài là một chuyện tồi tệ và không thể nào gọi là tốt đẹp được.  Những người mộ đạo thành tâm, vì yếu đuối và sợ hãi đã bỏ đi điều tốt đẹp nhất trong mình, và hoặc góp phần khiến Chúa Giêsu bị hành hình, hoặc đứng đó thụ động để chuyện xấu xa này xảy ra.  Chỉ có một vài phụ nữ mạnh mẽ không chịu khuất phục nỗi sợ hay sự kích động của đám đông, nhưng lại không đủ sức để làm bất kỳ điều gì ngăn cản chuyện đó.  Còn lại tất cả mọi người đều góp phần vào việc đóng đinh Chúa, dù là do ghen tỵ, yếu đuối, hay vô tri.  Theo lời của Chúa Giêsu, bóng tối có thời của nó.  Tấn bi kịch nhân văn, xã hội, và chính trị trong Thứ Sáu Tuần Thánh là chuyện không tốt.  Nó cho thấy phần xấu xa nhất trong nhân loại trước một Thiên Chúa dường như thinh lặng.

 Nhưng còn có một điều thâm sâu hơn nữa, một tấn kịch diễn ra bên trong linh hồn Chúa Giêsu, một điều tương phản với tất cả những gì đang diễn ra bề ngoài, trong đám đông đó.  Trong sự đấu tranh của Chúa Giêsu để chấp nhận những chuyện đang diễn ra và chấp nhận những gì Chúa Cha đã muốn nơi Ngài, cho chúng ta tấn kịch tôn giáo và luân lý tột cùng: tình yêu chiến đấu và chiến thắng thù hận, tin tưởng chiến đấu và chiến thắng hoang tưởng, tha thứ chiến đấu và chiến thắng cay đắng.

 Chúng ta thấy bản hùng ca chiến đấu đó, từ cơn thống khổ của Chúa Giêsu trong vườn Giết-sê-ma-ni khi Chúa đổ mồ hôi máu, khi Ngài thấy trước những thù hằn, làm ngơ, hiểu lầm, chống báng mà Ngài phải chọn để tin tưởng trao phó mạng sống mình.

 Nhưng chấp nhận không phải là quy phục, và ngày hôm sau, Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài đã trải qua thử thách cuối cùng.  Thiên thần đã tăng sức cho Ngài trong vườn Giết-sê-ma-ni dường như biến mất khi Ngài trên thập giá, và đêm tối hoài nghi bủa vây ngài đến độ Ngài kêu lên những lời dường như tuyệt vọng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.”  Sự chấp nhận của Ngài vào thời điểm then chốt này, càng khó khăn hơn đến vô hạn khi dường như Chúa Cha, Đấng làm một với Ngài, dường như vắng mặt.  Trước tình cảnh dường như bị bỏ rơi đó, Chúa Giêsu phải có một chọn lựa của đức tin, của yêu thương, và tin tưởng ở mức tột cùng nhất.  Chọn lựa đó là gì?  Chúa Giêsu làm gì? 

Theo lời của nhà thần học Karl Rahner, Chúa Giêsu để mình “chìm vào sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa.”  Ngài quy phục Thiên Chúa mà Ngài không thể cảm nhận hay hiểu thấu, nhưng chỉ có thể tin tưởng.  Chính nơi đây, Thứ Sáu Tuần Thánh chuyển từ xấu xa thành tốt đẹp, Chúa Giêsu không quy phục cay đắng, bám víu, hay giận dữ nhưng là quy phục tin tưởng, biết ơn và tha thứ.  Trong sự quy phục đó, cuộc đấu tranh giữa thiện và tà, cuộc chiến lớn nhất, sự thiện đã thắng.

 Đến tận cùng, tất cả những gì sai trái trong thế giới chúng ta sẽ không bị khuất phục trước một uy quyền áp đặt bạo lực, dù cho uy quyền đó có mạnh đến thế nào đi nữa.  Bạo lực tốt đẹp sẽ không bao giờ xóa được bạo lực xấu xa.  Chúng ta chỉ có thể xóa bỏ những thế lực không ngừng đóng đinh Thiên Chúa khi mỗi người chúng ta, cũng như Chúa Giêsu, có thể bỏ đi những cay đắng, bám víu và giận dữ, để nhường đường cho tin tưởng, biết ơn, và tha thứ.  Và tất cả chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa, nghĩa là tin tưởng ngay cả khi chúng ta không hiểu, yêu thương ngay cả khi bị thù ghét, và tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.

 Tất cả chúng ta đều sẽ có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của mình.  Nhìn bề ngoài, chúng luôn luôn xấu xa, nhưng nếu chúng ta bỏ mình để tin tưởng, thì nó sẽ trở nên tốt đẹp.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Langthangchieutim gởi

THẦY PHONG THUỶ ĐÃ CHỈ RA CÁI PHONG THUỶ TỐT NHẤT ĐỜI NGƯỜI. AI CŨNG NÊN BIẾT MÀ TẬN DỤNG!

 Bang Uong‘s post.

THẦY PHONG THUỶ ĐÃ CHỈ RA CÁI PHONG THUỶ TỐT NHẤT ĐỜI NGƯỜI. AI CŨNG NÊN BIẾT MÀ TẬN DỤNG!

Câu chuyện thú-vị và thâm-thúy này đã được rất nhiều người Trung-Quốc chuyền tay nhau, chia sẻ cho nhau như cách để truyền cảm hứng, chỉ bảo nhau khai thác thật triệt để cái gọi là “phong thủy tốt” ở mỗi người.

Nội-dung câu chuyện như sau:

Triệu-Tử-Hào làm ăn kinh doanh rất phát đạt! Anh quyết định mua một mảnh đất rộng ở ngoại ô, xây một biệt thự ba tầng, bên trong có vườn hoa cây cảnh ao cá, kết hợp rất đẹp mắt.

Đằng sau vườn còn có một cây vải cổ thụ trăm tuổi. Sở dĩ vì nhắm đến cây vải mà Triệu mới mua mảnh đất này, nguyên nhân là bởi vợ anh thích ăn vải.

Trong thời gian sửa sang nhà cửa, bạn bè khuyên anh tìm một thầy phong thủy về xem giúp để tránh phạm phải những điều kiêng kỵ.

Triệu-Tử-Hào tự lái xe đến Hồng-Kông mời một đại sư. Vị đại sư này họ Tào, đã có hơn 30 năm kinh nghiệm, rất có tiếng trong giới phong thủy.

Sau khi trình bày mọi chuyện, Triệu-Tử-Hào lái xe đưa thầy phong thủy về biệt thự nhà mình!

Trên đường đi, gặp bất cứ xe nào muốn vượt, anh đều nhường.

Vị đại sư cười nói: “Ông chủ Triệu lái xe thật chậm rãi”. Triệu-Tử-Hào cười lớn, đáp: “Những người vượt phần lớn đều là đang có chuyện gấp, không nên cản trở, làm mất thời gian của họ”.

Xe về đến thị trấn, một đứa trẻ đang vừa cười vừa từ trong ngõ nhỏ chạy thẳng ra đường.

Triệu-Tử-Hào vội phanh xe tránh, đứa trẻ cười tít mắt chạy qua rồi, anh vẫn chưa nhấn ga đi tiếp mà ngó vào trong ngõ, dường như đang đợi điều gì! Một lát sau, lại có một đứa trẻ khác chạy ra, đuổi theo đứa trẻ lúc trước đã đi khá xa.

Tào đại sư ngạc nhiên hỏi: “Sao anh biết phía sau vẫn còn một đứa trẻ nữa?”.

Triệu nhún vai: “Trẻ nhỏ đều thích chơi trò đuổi bắt, nếu chỉ chơi một mình, đứa trẻ chẳng thể cười vui như thế được”.

Vị đại sư giơ ngón tay cái ra trước mặt khách hàng của mình, tỏ ý tán dương:”Có tâm!”.

Đến biệt thự, vừa xuống xe, vài con chim bất giác bay từ sân sau ra phía trước. Nhìn thấy vậy, Triệu-Tử-Hào liền dừng xe trước cổng và nói với thầy phong thủy: “Phiền đại sự đợi ở đây một lát”.

“Có chuyện gì vậy?” – vị đại sư lại một lần nữa ngạc nhiên.

“Sau vườn chắc chắn là có trẻ con đang hái trộm vải, bây giờ mà chúng ta vào, chúng sẽ hoảng sợ, không may rơi từ trên cây xuống đất sẽ rất nguy hiểm” Triệu-Tử-Hào cười đáp.

Thầy phong thủy họ Tào trầm ngâm trong giây lát và nói: “Phong-thủy nhà anh không cần phải xem nữa”.

Lần này, đến lượt Triệu ngạc nhiên: “Đại sư, sao ông lại nói như vậy?”

“Những nơi có anh ở đều là những nơi có phong thủy tốt cả rồi”, Tào đại sư đáp.

Nhân kiệt địa linh, phong thủy tốt nhất đời người chính là cái tâm của mỗi người.

Con người nếu có tâm, phúc, sống tại nơi có phong thủy xấu rồi cũng sẽ có ngày chuyển thành tốt đẹp! Ngược lại, nếu sống tại nơi có thế phong thủy đẹp, mà không có cái tâm tốt, thì thế đó rồi cũng sẽ tự bị phá vỡ.

Nói như vậy để thấy rằng, không phải cứ ở nơi có phong thủy tốt, cuộc sống của chúng ta tức khắc sẽ thuận lợi viên mãn cả đâu.Phong thủy tốt hay xấu phụ thuộc vào tấm lòng, vào tâm đức, phúc phận của con người. Và để có được những thứ đó, chúng ta cần không ngừng tu dưỡng mỗi ngày.

Tu dưỡng để sống theo thiên lương, tu dưỡng để sống hiếu thuận, đặt mình ở vị trí thấp hơn người khác để thấu hiểu, bao dung và cảm thông, tu dưỡng để tri túc, hài lòng với những gì mình có, không tham, sân, si, không oán trách, sống thuận theo lẽ tự nhiên…

Bất cứ ai, một khi trong lòng đã tiếp nhận niềm vui, an lạc của người khác, biết nghĩ cho người khác, thì người có lợi không chỉ là người khác, mà còn bao gồm cả chính bản thân chúng ta nữa.
(Sưu tầm trên mạng).