“Kỷ niệm” 44 năm sau ngày chiếc xe tăng húc sập cổng Dinh Độc lập, mọi thứ đều tăng…

“Kỷ niệm” 44 năm sau ngày chiếc xe tăng húc sập cổng Dinh Độc lập, mọi thứ đều tăng. Giá xăng tăng, giá điện tăng, học phí tăng, viện phí tăng, tỷ lệ người xếp hàng xin visa nước ngoài tăng, tỷ lệ đảng viên cộng sản “bỏ của chạy lấy người” tăng… Chưa kể chùa chiền tăng, tỷ lệ mê tín dị đoan tăng, tỷ lệ hiếp dâm trẻ em tăng, tỷ lệ học sinh đánh nhau tăng, tỷ lệ trộm cắp giết người tăng, tỷ lệ tai nạn giao thông tăng, tỷ lệ nữ vị thành niên phá thai tăng… Chưa kể tỷ lệ viên chức phát biểu nhảm nhí tăng, tỷ lệ cướp đất tăng, tỷ lệ phá rừng tăng, tỷ lệ phá biển tăng…

Có những thứ “tăng” kỳ lạ nữa. Tỷ lệ bỉ ổi tăng, tỷ lệ trơ trẽn tăng, tỷ lệ mặt dày tăng, tỷ lệ bất lương tăng, tỷ lệ ngụy quân tử tăng… Còn nữa, tình trạng báo chí bị bịt miệng tăng, tỷ lệ tù nhân lương tâm tăng, tỷ lệ người chết trong đồn công an tăng… Chưa hết, tỷ lệ “gia đình trị” cũng tăng!

Chiếc xe tăng 30-4 đã thực hiện một “nhiệm vụ lịch sử” không thể nào kinh khủng hơn. Nó đã húc không chỉ sập một cánh cổng. Nó đã phá tan một quốc gia. Nó đã nghiền vụn một nền văn hóa. Và bánh xích của nó, vẫn đang kêu ken két, còn tiếp tục nghiến nát những thứ vốn đã bị nó nghiến banh từng mảnh!

Sau 44 năm, nó vẫn cho thấy nó chỉ là cái bánh xích sét gỉ với một sức mạnh thô lỗ. Nó không có trí tuệ. Đến lúc nào đó nhiệm vụ lịch sử của nó sẽ phải khép lại. Nó phải bị vứt ra biển, như những chiếc trực thăng trong những ngày tháng 4-1975. Chỉ sự biến mất vĩnh viễn của nó mới đem lại mùa xuân mới trên quê hương này.

Mạnh Kim

Con thuyền cộng sản sắp lật

Con thuyền cộng sản sắp lật

Trung Nguyễn

26-4-2019

“Con chó già” là ai?

Mấy hôm trước, bạn tôi đang đứng trên vỉa hè một quận trung tâm, cạnh đó có một cặp vợ chồng già đang ngồi hóng mát. Bỗng bạn tôi nghe cụ ông hỏi cụ bà: “Bà này, con chó già đó chết chưa?”. Câu hỏi khiến bạn tôi chú ý và lắng nghe coi hai ông bà nói gì, thì ra “con chó già” lại là Tổng bí thư – Chủ tịch nước, gọi tắt là Tổng – Chủ Nguyễn Phú Trọng.

Thấy bạn tôi lắng nghe cuộc hội thoại, ông bà cụ liền bắt chuyện với bạn tôi. Thực sự họ đã dùng những từ ngữ đầy căm thù dành cho giới lãnh đạo Cộng sản. Cụ bà còn tỏ ra lo lắng không biết đến khi cụ mất thì có kịp thấy chế độ đảng trị Cộng sản sụp đổ chưa? Cụ ông liền trấn an cụ bà, nói là nền cai trị của đảng Cộng sản sẽ sụp đổ sớm thôi. Hai cụ sẽ tận mắt chứng kiến sự sụp đổ của chế độ “chuyên chính vô sản” trên đất nước Việt Nam này.

Khi nghe bạn tôi kể lại câu chuyện này, tự dưng tôi nhớ lại lời của chính Tổng – Chủ “Mình phải có thế nào người ta mới thế chứ”. Nếu ông Trọng nghe được lời của hai ông bà cụ nguyền rủa ông thế nào, chắc ông cũng không muốn sống tiếp một cách nhục nhã như vậy. Nhìn những bình luận trên mạng xã hội trước thông tin ông Trọng có vấn đề sức khỏe thì thấy lòng dân vui mừng trước việc các lãnh đạo Cộng sản … đi gặp “cha già dân tộc” như thế nào.

Con vua thì lại làm vua

Thôi thì cứ cho hai ông bà cụ thuộc thế hệ trải qua nội chiến Quốc – Cộng và hai cụ thuộc “bên thua cuộc” nên căm thù Cộng sản đi. Thế thì thế hệ trẻ Việt Nam sinh sau năm 1975 sẽ tin vào những gì mà chế độ Cộng sản tuyên truyền?

Thật ra, bản thân tôi cũng từng bị nhồi sọ về “công lao trời biển” của đảng Cộng sản và Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, tôi đã lờ mờ nhận ra vấn đề khi bản thân tôi và bạn bè tôi đậu điểm rất cao vào đại học nhưng học bổng của các công ty nhà nước lại chỉ ưu ái cho con cán bộ cộng sản cao cấp “văn dốt võ nhát” được nhận học bổng đi du học, còn chúng tôi bị gạt ra. Sự bất công thuở mới vào đời đó khiến tôi thấy được chế độ Cộng sản không hề công bằng và tốt đẹp như tuyên truyền, mà chỉ là dối trá và bất công.

Sau bao nhiêu năm, vụ việc được lặp lại ở mức độ trắng trợn và đê tiện hơn. Con em quan chức Cộng sản được nâng điểm ở mức độ phi lý, thậm chí 0 điểm cũng trở thành “thủ khoa đại học”. Tôi có thể hình dung sự phẫn nộ của giới trẻ Việt Nam khi biết những thông tin này. Các em phải trải qua nhiều cực nhọc để luyện thi đại học, thế nhưng các em bị gạt ra ngoài để nhường chỗ con em bè lũ cai trị. Các em phải hy sinh tương lai của mình để mang lại “hạnh phúc cho dân tộc”, như lời của bà Phó bí thư thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Quyết Tâm “Con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc”.

Nên nhớ, vụ việc nâng điểm này chỉ mới đổ bể trong năm nay. Chắc chắn tình trạng này đã diễn ra trong nhiều năm trời nhưng ở mức độ nhỏ hơn. Sau bao nhiêu năm không bị lộ thì đám quan chức đã trở nên chủ quan và liều lĩnh khi nâng điểm quá mức. Những học sinh dốt đặc lại trở thành thủ khoa, đã khiến các bạn học cùng lớp phẫn nộ và mọi chuyện lộ ra từ đó.

Một người em của tôi đã phải luyện thi đại học 3 năm trời mới đậu vào trường Y. Nếu em sinh ra là con của lãnh đạo cộng sản thì có lẽ em đã không mất nhiều thời gian như vậy. Chế độ Cộng sản đã tước đoạt hết niềm tin của giới trẻ về một xã hội, trong đó mọi người có cơ hội bình đẳng như nhau.

Khi niềm tin vào sự công bằng không còn thì người dân chỉ còn biết dựa vào hầu đồng, thần thánh, bùa chú, giải vong, cúng sao giải hạn,… Đó là cội rễ của hiện tượng mê tín phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện nay. Còn những ai có điều kiện hơn thì họ tìm cách đi định cư ở những quốc gia “tư bản thối nát” như Bắc Mỹ, châu Âu, châu Úc.

Con thuyền sắp bị lật

Nói thẳng ra, đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh mất niềm tin và sự ủng hộ của đại đa số người dân, từ các ông bà cụ tới các em học sinh, sinh viên, thanh niên trẻ tuổi. Chính ông Trọng đã thừa nhận tình trạng “chán đảng, khô đoàn, nhạt chính trị” hiện nay.

Trong lịch sử, trước khi một chế độ diệt vong luôn có những sự kiện chấn động nhân tâm, “thay vua đổi chúa” liên tục vì không còn ông vua nào đủ uy quyền với các phe nhóm khác nhau trong tập đoàn thống trị.

Các quan chức Cộng sản cao cấp liên tục chết một cách đáng ngờ như Nguyễn Bá Thanh, Phạm Quý Ngọ, Trần Đại Quang,… và bây giờ là đủ thứ tin đồn về sức khỏe của Nguyễn Phú Trọng. Đó là dấu hiệu cho thấy các “đồng chí” Cộng sản đang tàn sát lẫn nhau và sự diệt vong của chế độ đã đến gần.

Ảnh minh họa. Nguồn: VNReview

Điều kiện cần đã có. Giá điện, xăng liên tục tăng phi mã sẽ là điều kiện đủ để nhân dân tiễn đưa chế độ độc đảng toàn trị về với Các Mác, Lênin.

Chính ông Trọng từng nói văn vẻ: “Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước”. Đảng Cộng sản chưa bị lật nên còn chưa biết sức dân đâu. Nhưng giới cai trị sẽ sớm biết sức mạnh đó thôi, y như đám cai trị bên Venezuela, Sudan, Algeria đang nếm trải.

THƯƠNG DÂN,DÂN LẬP ĐỀN THỜ..,HẠI DÂN ,DÂN ĐÁI NGẬP MỒ THỐI XƯƠNG….

Lê Hồng Song
THƯƠNG DÂN,DÂN LẬP ĐỀN THỜ..,

HẠI DÂN ,DÂN ĐÁI NGẬP MỒ THỐI XƯƠNG….

Đó không phải là lời hăm dọa theo kiểu phổ biến đời nay giữa các „đại ca“, „đại gia“, „đại quan“. Đó là câu ca dao dân gian Việt Nam đã lưu truyền hơn sáu trăm năm nay, và hẳn sẽ còn lưu truyền mãi mãi.

Câu ca dao đó xuất hiện từ triều đại nhà Hồ (1400-1407) .

Năm 1397, Hồ Quý Ly, tể tướng dưới triều đại nhà Trần, đã cho xây dựng khu thành đá tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa bây giờ. Thành đá này về sau được gọi là Thành Nhà Hồ.

Năm 1398, thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long về Thanh Hóa. Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, lên ngôi vua và đặt tên nước là Đại Ngu. Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô. Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là Thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai.

Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á, là một trong rất ít còn lại trên thế giới và đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân loại.

Ngôi thành đá kiên cố, hơn 600 năm xem ra vẫn còn chắc vững lắm. Thế mà cái thời đại đẻ ra ngôi thành đó, tức nhà Hồ, lại sụp đổ nhanh chóng đến bất ngờ.

Theo nhà văn, nhà Sử học Hoàng Quốc Hải, (tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử về thời đại nhà Lý và nhà Trần, cũng là người am hiểu sâu sắc lịch sử thời kỳ Lý-Trần-Lê, trong đó có giai đoạn nhà Hồ nắm quyền), Hồ Quý Ly là người điêu trá và tàn bạo. Vốn liếng chính trị ông gây dựng trên cái nền của lòng dân chán ghét, nội bộ chia lìa, tất cả những yếu tố khiến cho sức mạnh quốc gia dần đi vào thế bại liệt. Và cái thế nước lụi tàn ấy, làm sao mà che bịt được những đôi mắt gian giảo của bầy ác thú phương Bắc.

Triều đại nhà Hồ đã tiến hành những cuộc tàn sát khủng khiếp đối với những người chống đối.Thậm chí, chỉ có ý nghĩ không tùng phục mà có kẻ tố giác, cũng bị rơi đầu. Quân lính luôn luôn hành quân đàn áp nhân dân nổi dậy từ khắp mọi nơi, cả nước tràn ngập không khí tang tóc và tù ngục. Lòng dân oán hận triều đình đến cùng cực, chia rẽ đến tột cùng, đói khổ đến tột cùng.

Để cho đất nước rơi vào thảm cảnh đó, cũng có nghĩa tự mình tạo điều kiện tốt nhất cho giặc ngoài vào xâm lấn, và cũng có khác chi tự mình đem nước dâng cho giặc.

Đúng vào thời điểm bi đát nhất của nước mình, thì nhà Minh đem 40 vạn quân vào xâm lược nước ta. Chỉ vài trận ra quân, giặc Minh đã đánh sập triều đình nhà Hồ. Và chỉ năm, sáu tháng sau, từ khi quân Minh vào cõi, cả ba cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đều bị giặc Minh bắt đem về Kim Lăng.

Nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng như vậy, chỉ có một nguyên nhân duy nhất có thể cắt nghĩa là bởi họ khinh dân, họ chống lại nguyện vọng chân chính của toàn dân, và vì thế cả dân tộc không hợp tác với họ, khiến họ bị diệt vong.

Có một giai thoại nổi tiếng, khi Hồ Quý Ly nói với con trai Hồ Nguyên Trừng: “Ta ước sao có được một trăm vạn quân để chống lại quân Minh”. Trừng đáp: “Thưa cha, quân không sợ thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo”.

Vậy là bài học muôn thuở, vẫn là BÀI HỌC LÒNG DÂN.

Ngày nay về Vĩnh Lộc, xứ Thanh, ta còn nghe được vô vàn các câu chuyện đau lòng trong quá trình xây thành đá. Và nhân dân căm phẫn Hồ Quý Ly tới mức khắp tỉnh Thanh Hóa không hề có một am, miếu nào thờ ông. Ngay chân thành, dân dựng ngôi đền thờ người đốc công bị Hồ Quý Ly chém đầu với tội dạnh: chậm tiến độ.

Ngay cả nơi vị tướng trẻ Trần Khát Chân bị nhà Hồ giết ở núi Đôn, dân lập tới hai ngôi đền để thờ ông. Cả tỉnh Thanh Hóa có hơn 70 đền thờ Trần Khát Chân. Chỉ riêng điều đó đủ biết nhân dân đánh giá Hồ Quý Ly có công hay có tội. Vì vậy trong dân gian vùng Thanh – Nghệ mỗi khi bình phẩm một nhân vật lịch sử nào, họ thường đọc câu ca dao quen thuộc:

Thương dân dân lập đền thờ
Hại dân dân đái ngập mồ thối xương.

Có ông quan thời nay hình như cũng cảm thấy „ơn ớn“, nhưng là quan, có đâu nghe dân dễ thế, nên chi, vị ấy phán: dân thì muôn người vạn ý, biết đâu mà chiều

http://www.bvd-vn.de/…/1102-thuong-dan-dan-l-p-d-n-th-h-i-d…

Hình: Internet

Image may contain: 1 person, text
Image may contain: 1 person
Image may contain: 4 people, people smiling, text

Đưa bộ môn ‘Trịnh Công Sơn học’ giảng dạy cho sinh viên có hợp lý?

Tôi thú thật là tôi nghe đế cái môn ‘Trịnh Công Sơn học’ thì tôi rất buồn cười, vì cái thứ nhất nó làm cho tôi… thứ thật là tôi thấy choáng váng, và nó là một hình thức mang tính chất phản khoa học, phi nghệ thuật…-Nhà báo Nguyễn Ngọc Già

Tiếng Sáo Thiên Thai – [Thế Lữ & Phạm Duy – Ngọc Hạ & Quang Ngọc ] – Dau Nguyen 

 httpv://www.youtube.com/watch?v=kmHgk12GVJU&list=PLYNu2WsZ1JUhQ7J1GGZCKRwWY41IaYbRS

Tiếng Sáo Thiên Thai – [Thế Lữ & Phạm Duy – Ngọc Hạ & Quang Ngọc ] – Dau Nguyen 

 “Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ, Đường thế đồ gót rỗ ky khu . . .” (Cung Oán). Và, chốn thiên thai vẫn còn trong trí tưởng của nhân loại. Nơi mà con người khổ đau luôn mơ ước được nhìn thấy, được bước vào. Mời quý vị mở “Tiếng Sáo Thiên Thai” để cùng hai chàng Lưu Nguyễn tìm về với cảnh vật tuyệt mỹ, với tiếng sáo dặt dìu, với mối duyên lành thần tiên dang dở . . . “Tiếng Sáo Thiên Thai”. Thơ: Thế Lữ. Nhạc: Phạm Duy. Tiếng hát: Ngọc Hạ & Quang Ngọc. Hình ảnh & Video clips: Internet. Thực hiện nhạc cảnh: Dậu Nguyễn. 

HÃY NHÌN XEM 

HÃY NHÌN XEM 

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã.  Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng kỷ niệm.  Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua.  Vết sẹo làm ta kém đẹp, nhưng không làm đau như xưa.  Khi Ðức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo.  Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn.  Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng:  Thầy chính là Ðấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết.

Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì.  Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem.  Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc.  Chúng gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau.  Nhưng nếu không có chúng thì cũng chẳng có phục sinh.  Chẳng cần phải xóa đi khỏi ký ức cuộc khổ nạn kinh hoàng và cái chết nhục nhã.

Chúng ta cũng lên thiên đàng với các vết sẹo của mình.  Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích.  Nếu chúng ta đón nhận mọi sự với tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên nhịp cầu cứu độ.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành.  Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo.  Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không? 

Cuộc khổ nạn của Thầy đã làm các môn đệ bị thương.  Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó.  Hẳn Tôma đã nhìn thật lâu những dấu đinh.  Chính lúc đó ông khám phá thật sâu một Tình Yêu.  Tình yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại.  Tình yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông.  Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa mãn những đòi hỏi quá quắt của mình.  Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.  Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin.  Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy.  Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.

Tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.  Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma,  nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác.  Cần tập thấy Chúa để rồi tin.  Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, và phúc cho những ai biết thấy nên tin.

***********************************

Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi, dù có phải lo âu và thống khổ, xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình; nhưng biết nghĩ đến những người quanh con, những người – cũng như con – đang cần một người bạn. 

 Nếu như con nên yếu đuối, thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.  Nếu bàn tay con run rẩy, thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.  Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh. 

 Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng.  Và con sẽ về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời.  Amen!

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

Một chế độ man rợ đã thắng một nền văn minh

Image may contain: 1 person, smiling, text

Tuong Dang is with Mary Nguyen.

Nhà văn cộng sản Dương Thu Hương đã thốt lên khi chứng kiến tận mắt mình khi đến Sài Gòn sau 30/4/1975

Đây là một sự thật , vì còn một bằng chứng mà các bạn trẻ sinh sau 1975 nhìn ra là : bắc Hàn và Nam Hàn hiện nay . Thậm chí trước 1975 , Đại Hàn chỉ là đàn em của VNCH . Thời gian có thể qua đi , nhưng những giá trị lịch sử cần phải rõ ràng và chính xác .

Sự thật muôn đời vẫn là sự thật !

Bị đột quỵ và nghĩ tới Chủ tịch nước (*)

Bị đột quỵ và nghĩ tới Chủ tịch nước (*)

Từ Thức

18-4-2019

Một người bạn bị AVC (đột qụy). Nhờ cứu cấp kịp thời và nhờ y khoa hiện đại, ông ta thoát chết. Nhưng thay đổi hoàn toàn, trở thành một người khác.

Vốn là người nóng nẩy, trở thành một người điềm đạm. Một người ích kỷ, huyênh hoang, coi mình là cái rốn của trái đất, ngày nay nghĩ tới người khác, suốt ngày ngồi, lục cuốn sổ điện thoại rách bươm, gọi hỏi thăm người này người kia, muốn biết tin ai còn ai mất. Một người khắt khe, câu chấp, ngày nay bao dung.

Gần kề với cái chết, ông ta hiểu đời sống hơn, biết cái gì là chính yếu, cái gì là phụ. Ông ta nói: cũng may mà mình bị AVC, mở mắt trước khi chết. Ngồi uống café với ông bạn, tự nhiên nghĩ tới ông Chủ tịch nước.

Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: Getty Images

Nếu thoát nạn, nếu ra khỏi nhà thương bình an, ông Chủ tịch trở thành một người khác? Nếu ông ta nghĩ Đảng mình hoành hành như vậy cũng đủ rồi. Lâu la, phe đảng của mình vơ vét như vậy cũng quá rồi, dư sống phe phỡn 9, 10 thế hệ. Đất nước tan hoang như vậy cũng tệ quá rồi. Xã hội không thể bệ rạc hơn nữa, suy đồi hơn nữa.

Nếu ông ta, giữa lúc gần đất xa trời, nghĩ tới những người một sớm một chiều mang kiếp màn trời, chiếu đất vì đầy tớ đã quá tham lam. Nghĩ đến những người đáng tuổi con cháu mình, đang nằm mục xương trong tù, chỉ vì muốn môi trường sạch, muốn đất nước không bị đô hộ, dân tộc không trở thành nô lệ.

Nếu ông ta nghĩ ở thời đại Internet, cái trò hề XHCN không lường gạt được ai nữa, kể cả những kẻ ngu xuẩn nhất.

Nếu ông ta chợt rùng mình, nghĩ mình đang bán giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại, ngàn sau sử sách sẽ không quên. Nếu…

Trong một lúc mơ mộng, nghĩ quẩn như vậy. Nhưng café làm tỉnh ngủ, biết rằng sẽ không có chuyện đó. Óc não người CS không phải là óc não bình thường.

Và ngay cả nếu bệnh đột qụy làm nổ tung cái vỏ cứng, để óc não ông già trở lại bình thường, nếu một phép lạ khiến ông già suy nghĩ như một người dân bình thường, ông ta sẽ bị cả guồng máy nghiền nát…

Quay đi quay lại, động lực duy nhất để thay đổi đời sống của người dân vẫn là người dân. Không có phép lạ.

(*) Ghi chú: Tựa đề do Tiếng Dân đặt

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Image may contain: 1 person, standing and hat
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Huỳnh Chí Viễn •Thứ Tư, 24/04/2019 •

Chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Khi còn đi học, chúng ta thường dạy rằng dân tộc Việt Nam ta có truyền thống “hiếu học” bên cạnh hàng loạt các đức tính khác như yêu nước nồng nàn, cần cù siêng năng, yêu hòa bình… để rồi lớn lên với niềm tự hào về những đức tính được dạy học thuộc lòng đó. Nhưng điều đáng nói là chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Từ trước đến nay, truyền thống hiếu học của chúng ta được xây dựng dựa trên một mô-típ khá kinh điển, những người học trò nghèo không có tiền đi học nhưng vẫn cố gắng học giỏi để đỗ trạng nguyên. Những mẩu truyện mang tính chất truyền kỳ kiểu “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học bài” được kể đi kể lại qua bao nhiêu thế hệ mà không hề nhận được bất cứ một lời phản biện về sự phi lý của nó. Hoang đường không kém là chuyện học ngoại ngữ bằng cách lấy cuốn tự điển ra mỗi ngày học mười từ cứ thế mà giỏi được bao nhiêu thứ tiếng. Dù cứ nhắm mắt tin những chuyện như vậy là thật đi nữa thì chúng cũng chỉ nói lên được sự vượt khó học giỏi và năng lực phi thường của một vài cá nhân mà thôi, không thể từ đó mà suy ra rằng cả dân tộc đều hiếu học.

Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi rằng tại sao một dân tộc hiếu học như Việt Nam lại không có một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà khoa học nào trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm và cũng không hề có một hệ tư tưởng riêng hay một phát minh khoa học nào đáng kể cống hiến cho nhân loại? Một dân tộc hiếu học tại sao lại không có một công trình kiến trúc hay một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc nào mang tầm vóc thế giới? Một dân tộc hiếu học ham học sao lại có thể có những câu ca dao kiểu: “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”?

Một dân tộc hiếu học thì sao lại có thể đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn khư khư ôm giữ cái lối thi cử truyền thống quanh quẩn với Tứ Thư Ngũ Kinh mà bài xích khoa học, triết học phương Tây và kỳ thị những người Tây học trong khi Nhật Bản trước đó rất nhiều năm đã mở toang cánh cửa cho những tư tưởng tiến bộ tràn vào. Hiếu học thì sao các ông nghè ông cống ngày xưa ngoài việc nhai lại những “chi, hồ, dã, giả” trong sách Thánh Hiền để chờ ngày vác lều chõng đi thi vì ít bổng lộc và chức tước để làm rỡ ràng dòng họ và ấm thân chưa ai dám thoát ly ra bên ngoài để nhìn thế giới rộng lớn như thế nào? Ngoài việc uống rượu uống trà, ngâm vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, tìm câu trích chữ để bắt bẻ nhau qua từng câu đối để tự cho mình là tài giỏi thanh cao thì có mấy nhà khoa bảng khi xưa tự vấn bản thân rằng cái học của mình nó vô dụng và lạc hậu lắm rồi.

Trong khi phương Tây thế kỷ thứ 18, các nhà tư tưởng lớn như Voltaire, Montesquieu hay John Locke đã bàn tới “tam quyền phân lập” và “khế ước xã hội”, những nhà khoa học như Faraday hay Newton đã nghiên cứu điện từ trường và lực hút trái đất thì ở Việt Nam, các nhà Nho đầu thế kỷ thứ hai mươi vẫn ôm lấy bút nghiên và đèn dầu để dạy lũ học trò “tấc đất ngọn rau ơn chúa” và “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Một dân tộc hiếu học thực sự chắc chắn sẽ không thể nào chấp nhận việc nhai lại và tôn sùng những cuốn sách được viết cách đó mấy nghìn năm mà không hề mảy may có một chút thắc mắc phản biện cũng như không quan tâm đến sự thay đổi của thế giới ở ngoài.

Cách đây hơn 100 năm, chí sĩ Phan Chu Trinh đã viết về “mười điều bi ai của dân tộc” như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.

Đọc xong mười điều này, có ai còn dám tự hào vỗ ngực nói đây là tính cách của một dân tộc luôn tự cho mình là “hiếu học”?

Có thể cho rằng các vị khoa bảng ngày xưa ở nước ta siêng học, chăm học nhưng không thể cho rằng họ “hiếu học” vì một người hiếu học thực sự học vì niềm say mê kiến thức thực sự và sự khao khát tìm tòi cái hay cái mới chứ không phải học ngày học đêm những kiến thức cũ rich vì công danh và quyền chức. Cái học của các cụ cử ngày xưa chính là nô lệ cho sự học chứ không phải học để giải phóng bản thân. Không phải vô duyên vô cớ mà cụ Phan Chu Trinh lại đặt “khai dân trí” là một trong ba mục tiêu quan trong không kém “chấn dân khí và hậu dân sinh”. Cụ nhắn nhủ: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật quý báu xin tặng cho đồng bào là “chi bằng học”. Nếu dân tộc ta thực sự “hiếu học” và biết cách học đúng hướng, cụ Phan chắc không phải tâm tư những điều như thế này.

*

Ngày nay thì sao? Sau hơn một trăm năm vật đổi sao dời, lối thi cử khoa bảng Nho học tuy đã không còn và chữ Hán cũng đã được thay bằng chữ quốc ngữ. Các trường đại học mọc lên như nấm sau mưa, cử nhân, thạc sĩ lên đến con số triệu, còn tiến sĩ cũng phải mấy vạn người. Nhưng đừng tưởng như vậy thì chúng ta đã có thể gọi là có những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục để xứng đáng với hai từ “hiếu học”. Trái lại, chúng ta vẫn chăm chỉ học với tư duy “học để làm nô lệ” chứ không phải học để làm chủ và tự hào với sự chăm học đó.

1. Cha mẹ không tiếc tiền của và công sức chạy trường cho con và bắt con đi học thêm từ sáng tới tối để dạt được danh hiệu học sinh giỏi nhưng hiếm có ai chịu học cùng con và dạy con học.

2. Chương trình giáo dục từ phổ thông tới đại học nặng về lý thuyết nhưng lạc hậu và thiếu thực tế. Học sinh được dạy theo kiểu nhồi vịt học thuộc lòng chứ không được khuyến khích tìm tòi khám phá và phản biện.

3. Trình độ và nhân cách giáo viên ngày càng tệ hại, hậu quả tất yếu của việc lấy điểm đầu vào quá thấp của ngành sư phạm. Chưa bao giờ tình trạng giáo viên trù dập, bạo hành và xâm phạm học sinh nhiều như hiện nay.

4. Học sinh sinh viên ngày nay học vì điểm chứ không học vì tri thức. Ngoài những môn học gạo để đi thi, thường thức tự nhiên, thường thức xã hội, và trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của đại đa số những người có bằng cấp gần như là một con số không to tướng.

5. Những người “có học” và “có bằng cấp” không hể có sự ham học và lại càng không có khả năng tự học. Tuy ngày nay tài liệu và phương tiện học tập vô cùng phong phú, đa dạng và miễn phí, việc tự học dường như là chuyện không tưởng đối với phần lớn các bạn sinh viên và học sinh.

6. Những người tự coi là trí thức ngoài việc học để có kiếm tiền và dùng học hàm học vị của mình để thăng tiến trong con đường danh lợi hầu như không hề có một nghiên cứu khoa học hay phát minh gì có thể ứng dụng vào đời sống.

7. Những người tự cho mình là trí thức không hề quan tâm đến những vấn đề chính trị-xã hội và cũng không hề có tinh thần phản biện và tiếp nhận thông tin đa chiều. Ngoài giờ làm họ về nhà xem hài nhảm hoặc ra quán lai rai nhậu nhẹt cho tới khuya. Còn lại mọi chuyện liên quan đến vận mệnh dân tộc, họ vẫn yên tâm để cho đảng và nhà nước lo.

8. Lối sống của đại đa số người Việt Nam hiện đại cũng không khác gì lối sống của người Việt thời cụ Phan là mấy: hèn nhát, lười biếng, ích kỷ, tham lam, lọc lừa, thích sĩ diện, gia trưởng, tầm nhìn hạn hẹp…

9. Trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc của những “trí thức trẻ” đều yếu kém hơn rất nhiều so với các bạn trẻ cùng độ tuổi và cùng trình độ trên thế giới. Nhưng điều đáng buồn là họ không hề mảy may cảm thấy điều đó là đáng hổ thẹn. Dường như đối với họ, có cái bằng là đủ, còn chuyện cái bằng đó có ý nghĩa gì hay không không hề quan trọng.

10. Cách cư xử của người Việt trong đời sống hằng ngày càng lúc càng trở nên thiếu văn minh lịch sự và hung hăng dữ tợn. Họ không tiếc những lời thô tục nhất bệnh hoạn nhất để rủa xả nhau trên mạng xã hội và sẵn sàng gây án mạng chỉ vì một va chạm nhỏ ngoài đời. Học sinh không những ra tay đánh nhau tàn bạo như kẻ thù mà còn đánh luôn cả thầy cô.

Nếu người nào vẫn còn chưa thấy thực trạng giáo dục của nước nhà hiện tại đến mức báo động mà vẫn còn tin vào câu” người Việt Nam có truyền thống hiếu học” thì hãy nhìn lại sự kiện nâng điểm vào đại học kinh hoàng trong mùa thi năm ngoái ở các tỉnh phía Bắc với những màn phù phép biến điểm liệt thành điểm thủ khoa cho các thí sinh mà phần lớn đều là con ông cháu cha. Hãy tưởng tượng những kẻ không hề có chút kiến thức và nhân cách này sau này sẽ trở thành thẩm phán, chủ tịch, cán bộ cao cấp, bác sĩ, kỹ sư… và hậu quả tồi tệ mà đất nước này phải gánh chịu.

Là một dân tộc có truyền thống hiếu học, chúng ta hãy tự hỏi bản thân mình xem tại sao lại tiếp tục làm ngơ trước một hành động chà đạp giáo dục như thế này? Đã đến lúc chúng ta ngưng huyễn hoặc mình và đối diện với sự thật.

Huỳnh Chí Viễn (Giáo viên, Dịch giả)

NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại.  Thật sự, chuyện gì đã xảy ra?  Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết?  Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu?  Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý, vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra.  Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin?  Là cả hai.  Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử.  Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh.  Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối.  Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma.  Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài.  “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó!  Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể.  Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại.  Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể.  Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn.  Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người.  Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần.  Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật.  Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác.  Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh.  Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ.  Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử.  Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử.  Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất.  Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen.  Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới.  Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết.  Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1 & ThuNNguyen

Tin ‘Trọng bệnh’ trên mạng xã hội có khả tín?

Image may contain: 3 people, indoor
Phạm Chí Dũng

Tin ‘Trọng bệnh’ trên mạng xã hội có khả tín?

VOA 23/04/2019

Phạm Chí Dũng

Ảnh: Năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. (Ảnh: TTXVN) (Chụp từ màn hình Dân Việt)

Bất chấp các ‘trang mạng đứng tên lãnh đạo’ như nguyephutrong.org, tolam.org, nguyenxuanphuc.org… tố cáo ‘các thế lực phản động và thù địch xuyên tạc tình hình sức khỏe lãnh tụ kính yêu Nguyễn Phú Trọng’, trong khi toàn bộ hệ thống tuyên giáo, báo đảng và hơn 800 tờ báo nhà nước vẫn im thin thít về vụ việc nổi đình nổi đám và đượm tính bi hài này, những tin tức nóng rẫy về ‘Trọng bệnh’ xuất hiện trên mạng xã hội kể từ ngày 14/4/2019 – khi ‘Tổng tịch’ đi công du Kiên Giang – cho tới nay, thật trớ trêu, lại có cơ sở.

Kịch bản Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang

Cơ sở đáng thuyết phục đầu tiên chính là thái độ im hơi lặng tiếng của báo chí nhà nước về vụ ‘Trọng bệnh’ – hiện tượng mà ngay lập tức khiến cho người ta liên tưởng về kịch bản tương tự trong các vụ việc Nguyễn Bá Thanh vào năm 2014, Phùng Quang Thanh vào năm 2015, Trần Đại Quang vào hai năm 2017 và 2018. Khi đó, những tin tức ‘lạ’ đã bất thần hiện ra trên mạng xã hội về số phận được báo trước của những quan chức này. Nếu loại trừ một số tin tức cường điệu thái quá như ‘Nguyễn Bá Thanh đã chết ở bệnh viện Mỹ’, ‘Phùng Quang Thanh bị ám sát ở Paris’, ‘Trần Đại Quang đã chết ở Nhật Bản’, không ít thông tin của mạng xã hội về tình hình bệnh tật, quá trình điều trị và quá trình di chuyển về Việt Nam của những quan chức này đã được xác nhận sau đó.

Trong vụ Trưởng ban nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh, trang mạng Chân Dung Quyền Lực đã làm nên ‘kỳ tích’ khi cuốn hút sự tò mò và quan tâm của cả một đám đông xã hội Việt Nam trong suốt vài tháng trời. Vào cuối năm 2014, trong lúc Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương cùng các cơ quan đảng lẫn chính phủ Việt Nam vẫn hoặc im thít hoặc cố vớt vát bằng lý lẽ ‘tau khỏe mà, có chi mô’ chẳng cách nào kiểm chứng được, Chân Dung Quyền Lực đã đưa tin rất cụ thể về lịch trình, số chuyến bay, giờ bay và giờ đáp của chuyến máy bay đưa Nguyễn Bá Thanh về Đà Nẵng. Thậm chí còn dự báo cả thời điểm mà ông Thanh sẽ… chết.

Tương tự, một số trang mạng xã hội đã đưa tin về ‘con bệnh’ Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh sau khi ông ta gặp một sự cố ở Paris và giữa năm 2015, về lịch trình, chuyến bay, giờ bay của Thanh về Việt Nam…, đồng thời dự báo về việc Phùng Quang Thanh sẽ chẳng còn tương lai nào ở đại hội 12. Quả thực, trước và sau đại hội 12, viên cựu bộ trưởng quốc phòng bị quá nhiều dư luận nghi ngờ về thành tích tham nhũng này đã biến mất, không chỉ biến khỏi Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương mà ngay trong sinh hoạt thường ngày cũng chẳng thấy bóng dáng y đâu.

Còn với hai lần ‘biến mất’ của Trần Đại Quang – chủ tịch nước – vào hai thời điểm tháng 7 – 8 năm 2017 và tháng 3 – 4 năm 2018, một số trang mạng xã hội cũng đã đưa tin khá chi tiết về tình trạng bệnh tật và việc Quang ‘tái xuất’ ở Việt Nam, đặc biệt là việc Trần Đại Quang bay từ Nhật Bản về Việt Nam để dự hội nghị trung ương 7 vào tháng 5 năm 2018 và ngồi bàn chủ tọa sát bên ‘đối thủ’ là Tổng bí thư Trọng.

Vì sao những tin tức trên mạng xã hội về một số quan chức cao cấp, dù chẳng được bất kỳ một cơ quan ‘có trách nhiệm’ nào của đảng hay chính phủ ra mặt xác nhận, lại được thực tế chứng minh là khá chính xác?

‘Tay trong nội bộ’

Cho tới nay, có quá ít bằng chứng về việc giới blogger và Facebooker độc lập có được và đã đăng tải những tin tức nội bộ thuộc loại ‘bí mật nhà nước’. Do vậy, chỉ có thể hiểu là những tin tức này xuất phát từ một số Facebooker ‘không độc lập’.

Mà không độc lập lại có thể hiểu là ‘phe phái’ hay ‘phe cánh chính trị’ – những khái niệm đã tồn tại lâu đời trong chính trường đầy những màn đấu đá và xung đột ở Việt Nam, đặc biệt từ năm 2012 khi bùng nổ của chiến quyền lực giữa hai cánh Trọng – Sang và Nguyễn Tấn Dũng. Càng về sau này, càng hình thành một nghề mới: ngày càng nhiều cây viết, chủ yếu xuất xứ từ khối báo chí nhà nước – hoạt động một cách ‘độc lập’ bằng cách đưa tin bài ẩn chứa nhiều thông tin nội bộ và thông tin mật để phục vụ cho các thế lực chính trị và các nhóm lợi ích, tập đoàn tài phiệt. Vũ khí của những người này là các trang blog và facebook. Một số trong giới viết lách này đã khoác tấm áo ngụy trang mang màu sắc dân chủ nhân quyền.

Hầu như không phải bàn cãi, chính những tin tức được xem là có nguồn gốc từ ‘tay trong nội bộ’ như trên mới chi tiết nhất và mang tính tin cậy cao nhất. Động cơ của sự xuất hiện những tin tức này được cho là chủ yếu xuất phát từ mục đích đấu đá và triệt hạ lẫn nhau của những phe phái chính trị trong nội bộ đảng, tương tự việc trang Chân Dung Quyền Lực đã dùng đòn ‘minh bạch hóa’ về tài sản, sân sau và các thủ đoạn chơi nhau để ‘ám sát’ một số quan chức trong Bộ Chính trị.

Thông tin về ‘Trọng bệnh’ cũng khá tương đồng về kịch bản với những tin tức từng ứng với số mạng của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Phú Trọng đã từ lâu trở thành tâm điểm công kích của những đối thủ chính trị và đặc biệt là giới quan tham khi Trọng vận hành tung tóe chiến dịch ‘đốt lò’. Do vậy, bất kỳ tình trạng suy yếu hay nguy biến nào về sức khỏe của Trọng cũng là cơ hội để các nhóm đối thủ tung hê và còn có thể cường điệu tình trạng bệnh tật tồi tệ của ông ta, như một cách khủng bố tâm lý những quan chức thuộc phe Trọng và những người còn ‘tin yêu Minh quân’, làm suy giảm sức mạnh của ‘phe Trọng’ trong cuộc đua tới đại hội 13 và cả mục đích dội nước vào cái lò vẫn còn âm ỉ của Trọng.

Từ phản công chiến thuật đến phản công chiến lược

Chính trường Việt Nam đang hiện ra một đặc trưng như thời năm 2015 trước đại hội 12 của đảng cầm quyền: nếu vào năm 2015 đã hiện hình cuộc chiến công khai trên mạng xã hội bằng các đơn thư tố cáo và các bài viết của hai phe cánh chính trị chính là ‘phe Trọng’ và ‘phe Dũng’, năm 2019 cũng đang trở lại cái không khí xốc nổi, quyết thắng và công khai thách thức lẫn nhau ấy.

2019 lại được xem là ‘năm bản lề’ về cơ cấu ‘cán bộ cấp chiến lược’ cho đại hội 13 – sẽ diễn ra vào năm 2021. Vậy là cùng với biến cố ‘Trọng bệnh’, đã nảy nòi một cuộc sát phạt không tuyên bố giữa các quan chức cấp cao – những người đang nhìn thấy thế độc tôn độc tài của ‘bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo’ chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa và muốn qua mặt những kẻ khác để giành giật ngay lấy vị trí do khoảng trống quyền lực để lại.

Chẳng có gì khó khăn để dự đoán là Nguyễn Phú Trọng sẽ vấp phải một thách thức khủng khiếp về sức khỏe tự thân của ông ta, đặc biệt là vấn đề tổn thương não bộ, điều có thể kiến ông ta nếu không cẩn trọng sẽ phải sớm từ giã chính trường. Trong bối cảnh đó, ông ta còn phải chịu mũi dùi công kích của các thế lực đối thủ chính trị, ngoài mặt là ‘lo lắng cho sức khỏe của lãnh tụ kính yêu’, nhưng bên trong chỉ muốn Trọng ‘xuôi tay an nghỉ’ càng sớm càng tốt.

Có thể một cách chính thức, phe đối thủ của Nguyễn Phú Trọng đang chuyển sang một giai đoạn mới: phản công chiến thuật để dẫn tới phản công chiến lược.

Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN, qua đời

 

Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN, qua đời   

Ông Lê Đức Anh, ngồi trên xe lăn, đến dự đám tang cố Thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt hôm 15 Tháng Sáu 2008 tại Sài Gòn. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN qua đời lúc 8 giờ 10 phút tối 22 Tháng Tư 2019 tại Hà Nội, thọ 99 tuổi, nhiều cơ quan truyền thông tại Việt Nam loan tin.

Trước đó ít giờ mạng xã hội xôn xao với một post trên Facebook của ông Lê Mạnh Hà, cựu phó chủ nhiệm Văn Phòng Chính Phủ CSVN và là con trai cựu Chủ Tịch Nước CSVN Lê Đức Anh, viết có đoạn “… Ông sẽ là người cuối cùng trong bộ chỉ huy chiến dịch năm ấy ra đi mãi mãi.”

Ông Lê Đức Anh là chủ tịch nước thứ tư của CSVN, nhiệm kỳ 1992 đến 1997. Ông cũng từng là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc Phòng CSVN từ 1987 đến 1991.

Tuy post của ông Hà không giải thích chi tiết “ra đi mãi mãi” có phải là cách ông ý nhị báo tin cha ông vừa qua đời hay không, nhưng hàng trăm comment phía dưới của cộng đồng mạng là “chia buồn cùng gia quyến”, bên cạnh những comment nguyền rủa ông về vụ Trung Quốc thảm sát lính của quân đội CSVN tại Gạc Ma, Trường Sa, chỉ hiển thị trong chốc lát trước khi bị ông Hà xóa đi.

Ông Lê Đức Anh tròn 98 tuổi hôm 1 Tháng Mười Hai, 2018.

Bức ảnh chụp vào ngày 5 Tháng Chín 1995, ông Lê Đức Anh (giữa), khi đó là đương kim Chủ tịch nước, đón tiếp cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và cựu Đệ Nhất Phu Nhân Barbara tại Hà Nội. (Hình: HOANG DINH NAM / AFP / Getty Images)

Các báo nhà nước ở Việt Nam hiếm khi đăng tin về ông Anh trong lúc mạng xã hội từng vài lần rộ lên tin đồn ông qua đời.

Hồi trung tuần Tháng Chín, 2018, thời điểm đương kim Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang qua đời, mạng xã hội xôn xao chuyện “quốc tang nối tiếp quốc tang” với tin đồn hai cựu lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN là ông Đỗ Mười và ông Lê Đức Anh cũng qua đời.

Ông Đỗ Mười sau đó qua đời hôm 1 tháng 10, 2018 còn ông Anh được cho là vẫn “lây lất, thở máy” đến nay.

Lúc các tin đồn đó đang lan truyền, trang Facebook Truong Huy San của nhà báo Huy Đức, người đầu tiên loan tin ông Trần Đại Quang qua đời, viết: “Tôi muốn nói với các bạn rằng, cụ Đỗ Mười sinh năm 1917, cụ Lê Đức Anh sinh năm 1920, đau yếu đã lâu. Với tôi, Trần Đại Quang chết mới là tin, hai cụ có đi gặp Karl Marx, Lenin [ý nói qua đời] thì cũng là lẽ thường, không phải ‘tin.’”

Theo thông lệ, khi một người thuộc hàng “tứ trụ” qua đời, gia đình không được phép loan tin báo tử ngay, mà phải đợi thông báo từ Bộ Chính Trị về việc sắp đặt người trong ban tang lễ, do liên quan đến việc tổ chức quốc tang.

Ông Lê Đức Anh qua đời trong bối cảnh diễn biến bệnh tình của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Phú Trọng thế nào vẫn chưa được công khai, ngoài những tin gửi điện mừng, điện chia buồn đến lãnh đạo các nước.

Trước post gần nhất của ông Lê Mạnh Hà, mạng xã hội từng xôn xao nhiều lần về tin ông Lê Đức Anh qua đời các năm trước.

Đáng lưu ý, những năm gần đây, ông Lê Đức Anh được ghi nhận sống ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà và các tin tức về ông chỉ được hé lộ trên mạng xã hội.

Hôm 17 Tháng Tư, Facebook Đinh Bá Truyền cho hay: “Ngày 16 Tháng Tư, ông Nguyễn Phú Trọng được cáng lên chuyến bay của hãng Vietnam Airlines tại Sài Gòn, khởi hành đi Hà Nội. Chiều hôm ấy, xe cứu thương chở ông vào Bệnh Viện Trung Ương Quân Đội 108. Hiện ông đang nằm tại tầng 2, mé bên phải, Khoa A11. Cũng ở tầng này, Đại Tướng Lê Đức Anh đang được điều trị tích cực ở căn phòng mé bên trái.”

Quân Y Viện 108 là nơi các lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN thường được đưa vào chữa trị hay dưỡng bệnh.

Ông Lê Đức Anh là nhân vật gây tranh cãi và bị nhiều người cáo buộc là nhân vật đã ra lệnh cho binh lính Việt Nam “không nổ súng” trong cuộc hải chiến Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, hồi năm 1988, khiến 64 thủy binh Việt Nam thiệt mạng dưới tay quân Trung Quốc.

Tuy vậy, ông vẫn nhận được một số lời tán dương.

Hồi Tháng Giêng, 2019, nhà báo Hoàng Hải Vân, cựu tổng thư ký tòa soạn báo Thanh niên viết trên trang cá nhân: “Ông Lê Đức Anh từng làm bộ trưởng Quốc Phòng [CSVN], rồi làm chủ tịch nước, cuối cùng là làm cố vấn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Nhiều người đề cập đến uy quyền của tướng Lê Đức Anh, một uy quyền còn kéo dài mãi cho đến sau khi ông rời khỏi mọi chức vụ. Người ta đồn rằng, chính ông đã đề cử và hậu thuẫn cho tướng Lê Khả Phiêu lên làm tổng bí thư và cũng chính ông chặn con đường tái cử của ông Phiêu, cùng nhiều chuyện khác nữa. Những chuyện đại loại như vậy tôi không đủ thông tin cũng như tư cách để bàn luận. Tôi chỉ biết chắc một điều: Tướng Lê Đức Anh không phải là người tham quyền cố vị.” (T.K.)