Đúng Mực

Trần Bang

Cô gái tòng phạm thì quơ quáng quàng 
Chính phủ, báo chí mơ màng 
Lẫn lộn tốt xấu, “ lộ hàng” nhố nhăng

Image may contain: 6 people, people smiling, camera

Pham Nguyen TruongFollow

HÔM NAY CHỦ NHẬT, NHƯNG THẤY BÀI CỦA Chau Doan HAY QUÁ, phải Copy ngay:

Đúng Mực

Tôi thấy cần thiết phải nói mấy lời với những cán bộ nhà nước đi đón Đoàn Thị Hương.
Lý do tôi phải nói bởi tôi biết các vị trình độ văn hoá thấp nên rất lúng túng không biết ứng xử sao cho phải.
Tôi hiểu, cán bộ ở Việt Nam đôi khi cũng phải dạy dỗ tỉ mỉ như với trẻ con vậy, mà nói đúng hơn là khó hơn với trẻ con, bởi cái tư duy của các vị đã hỏng rồi.

Khi Đoàn Thị Hương bị bắt, công luận chúng tôi thấy cần phải quan tâm để tránh cho một người Việt bị oan sai. Nếu Đoàn Thị Hương có tội, cô ấy phải chịu tội dù mang quốc tịch nào.
Cái mà công luận cần là công lý chứ không phải là một sự bênh vực mù quáng.
Khi công luận quan tâm, chính quyền mới cảm thấy sức ép và mới bắt đầu làm đúng trách nhiệm của mình.

Đấy chính là lý do tại sao giờ các vị bâu vào đón Đoàn Thị Hương như thể cô ấy là một ngôi sao, một nữ anh hùng.
Khi Hương ở Malaysia, cô ấy là một nghi phạm và bởi sự thiếu hiểu biết mà cô ấy đã gián tiếp tiếp tay cho một vụ mưu sát.
Cô ấy là một cô gái ngốc nghếch không hơn không kém.

Công luận vui mừng bởi cô ấy được thả và không bị kết án oan.
Nhưng bởi thấy công luận quan tâm nên các vị đã có tâm lý tát nước theo mưa, lại chu đáo một cách quá mức cần thiết, tốn thời gian và tiền bạc để chào đón cô ấy. Chắc các vị muốn chứng tỏ với công luận rằng đã quan tâm hết lòng tới cô ấy.
Xin nhắc lại, cô ấy là một nghi phạm của một vụ giết người, có tiếp tay một cách vô tình cho bọn sát nhân. Các vị đã hiểu chưa?

Điều này rất buồn cười và chứng tỏ nhận thức các vị rất thấp kém.

Hôm nay tôi dạy các vị từ Đúng Mực, một từ tưởng là tầm thường nhưng lại rất hay, các vị nên học nếu còn một chút khoảng trống trong bộ não 286 của mình.

Ngày mai, anh Ba Sàm được thả. Các vị huy động lực lượng ngăn chặn những người hoạt động dân chủ, bạn bè của anh Ba Sàm từ hôm nay. Đấy là các vị đang làm một việc ngu xuẩn, rất nực cười.

Cứ cho là anh Ba Sàm có tội như các vị kết án thì khi người ta chịu án xong, bước ra khỏi nhà tù thì phải được đón như một công dân bình thường chứ.

Nhưng không, cái đầu ngu xuẩn và nhỏ nhen của các vị đã không thể nào vận động được theo lẽ thông thường. Các vị lại ngăn chặn người đi đón một cách vô ích.

Không đón ngày mai thì người ta đón ngày kia, ngày kìa, tuần sau, tháng sau, sao cứ lồng lên như một lũ điên vì một việc bé bằng cái móng tay vậy?

Cơm nào, lương nào, thuế nào của dân để dành cho việc ấy và làm việc ấy để làm gì?

Đúng Mực, Đúng Mực đi nào! Nhưng tôi hiểu là mấy lời thẳng thắn này chỉ như nước đổ đầu vịt với những cái đầu quên tiến hoá mà thôi.
Giờ là năm 2019, hãy học cách ứng xử sao cho văn minh. Đừng để người hiểu biết khinh quá

30/4: Một góc nhìn về ngày chấm dứt Cuộc chiến VN

30/4: Một góc nhìn về ngày chấm dứt Cuộc chiến VN

  • 30 tháng 4 2019
Lạc Dương
Bản quyền hình ảnhMARIE MATHELIN
Đền Bạch Mã, Lạc Dương. Thành phố này từng là kinh đô nhà Tấn và một số triều đại khác của Trung Quốc

Những người chiến thắng đã gọi sự kiện 30/4/1975 là ngày thống nhất đất nước.

Tạm bằng lòng với khái niệm “thống nhất” ấy nhưng không thể không thấy rằng đó là cái giá quá đắt cho việc thống nhất quốc gia.

Bài học Tư Mã Viêm

Dù yêu hay ghét Trung Hoa, phần lớn trí thức Việt thời nào cũng đã đọc tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa. Trong đó, cả thế kỷ ly loạn của dân tộc Trung Hoa đã chấm dứt vào năm 280, khi quân Tấn “giải phóng” Đông Ngô, thống nhất đất nước (nói theo chữ của nhà nước đương thời).

Nội dung chính của bài viết này nói về những cảnh xảy ra ngay sau bối cảnh tác phẩm của nhà văn La Quán Trung.

Sau 30/4/75 từng có hai nước VN xin vào LHQ

Sài Gòn chỉ là một trong bốn cuộc di tản lớn

Trước khi chết, Tư Mã Ý dặn dò con cháu phải biết lấy lòng người để được thiên hạ. Có lẽ vì thế mà sau khi thắng Thục rồi diệt Ngô, những nhà lãnh đạo họ Tư Mã nhìn chung đã đối xử rất tử tế với những người thua trận.

Dù ban đầu có những sự không bằng lòng nhất định, nhưng về sau nhà Tấn đã nhận được sự quy phục từ đông đảo nhân dân và các quý tộc cũ của Thục -Ngô.

Sau thống nhất, triều đình nhà Tấn không trả thù những người thua trận, tạo điều kiện ổn định đời sống nhân dân.

Không có tù cải tạo, cũng không có cảnh ồ ạt người vượt biên hay trốn tránh sự truy lùng của họ Tư Mã. Cộng với việc có công thống nhất, nhà Tấn đã giành được lòng người, họ vẫn luôn được nhân dân che chở và ủng hộ sau này khi đã thất thế.

Dẫn tới việc nhà Tấn tồn tại trên danh nghĩa đến hơn 150 năm, dù thực tế triều đại này chỉ “sống khỏe” trong không tới ba thập kỷ đầu.

Cái giá cho việc họ Tư Mã thống nhất đất nước quá đắt bởi không lâu sau khi “hoàn thành đại nghiệp”, Tấn Vũ đế mắc sai lầm quan trọng nhất trong việc chọn người kế vị (chưa kể lối sống xa hoa trong triều), dẫn tới hàng loạt tai họa giáng xuống triều đình và dân chúng sau khi ông qua đời.

Hai mươi năm sau khi thống nhất, Trung Hoa bước vào cuộc nội chiến (Loạn bát vương) khiến mấy chục vạn người mất mạng. Đất nước suy kiệt, cuối cùng bị ngoại tộc thôn tính.

Khi quân Hán Triệu chiếm được Lạc Dương vào năm 310, tàn sát quân dân nhà Tấn cũng vừa đúng chẵn 30 năm sau khi Tư Mã Viêm “giành trọn vẹn non sông”.

Tàu Mỹ
Bản quyền hình ảnhDIRCK HALSTEAD
Người tỵ nạn Nam VN đi thuyền ra tàu Mỹ những giờ cuối của cuộc chiến VN

Nếu còn cục diện Tam Quốc, hẳn dân tộc Trung Hoa đã không phải chịu một trang sử đen tối khi hai vị vua Tấn bị nhà Hán Triệu làm nhục (Tấn Hoài đế và Tấn Mẫn đế bị bắt làm nô bộc, rồi giết chết).

Nếu được chọn lại, người Hoa sẽ chọn thống nhất để lại loạn lạc và mất nước vào tay ngoại bang, hay chọn giữ nguyên cục diện thế chân vạc thời Tam Quốc?

Thống nhất, nỗi ám ảnh của người Á Đông

Trận Mậu Thân ở Sài Gòn qua lời đại tá dù VNCH

Việt Nam, Trung Quốc và kể cả Triều Tiên đều đã có nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử chịu cảnh chia cắt.

Theo thời gian, những nhà cầm quyền luôn tìm cách tận dụng tối đa nhu cầu thống nhất để khích lệ, thậm chí kích động dân chúng hăng say sản xuất và chiến đấu, phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị.

Cũng vì lẽ đó, rất nhiều trong đông đảo nhân dân cũng dần bị ám ảnh bởi viễn cảnh thống nhất. Thậm chí thống nhất bằng mọi giá, bất chấp thiệt hại về sinh mạng, về kinh tế và gây ra những ảnh hưởng lâu dài tới đà thăng tiến của cả dân tộc.

Vì lẽ đó, biến cố tháng 4/1975 đã được người dân miền Bắc đón chào nhiệt liệt, họ đã được tuyên truyền một cách tinh vi trong thời gian rất dài về sứ mệnh vĩ đại đi “giải phóng”, tính chính nghĩa của đội quân đi “thống nhất đất nước”.

Tôi, một người lớn lên ở miền Bắc sau 1975 từng băn khoăn việc vì sao quân đội và chính quyền VNCH không đi giải phóng miền Bắc.

Và đã đi tìm câu trả lời trong nhiều năm mà không có bất kỳ ai hướng dẫn, cho tới khi đọc đủ nhiều sách để tìm ra đáp án.

"Rescued from Saigon"
Bản quyền hình ảnhJACQUES PAVLOVSKY
Bé gái Barbara trong tay một nữ tu Việt Nam. Ảnh chụp ngày 14/04/1975 ở Sài Gòn. Em bé sau được người Mỹ, Gerard Constant (trái), cùng vợ nhận làm con nuôi trong câu chuyện “Rescued from Saigon”.

Nó có thể đúng hoặc không đúng tùy vào quan điểm và tầm hiểu biết mỗi người, nhưng ít nhất cũng cho thấy không phải phía Quốc Gia không có ý định Bắc tiến.

Nước Đức không tốn máu xương, không có chiếc xe tăng nào húc đổ bức tường Berlin, giải phóng miền Tây, thống nhất đất nước. Họ đã chọn đúng thời cơ (Liên Xô tan rã) để thống nhất trong hòa bình. Đôi miền Triều Tiên vẫn còn chia cắt chưa biết tới bao giờ.

Nhưng người dân nhiều nước như Tiệp Khắc, Nam Tư đã chấp nhận sự chia cắt, quốc gia cũ của họ tan ra làm những nước khác nhau. Khi người ta không thể sống chung, tốt hơn hết hãy tách ra.

Nỗi đau khổ hậu thống nhất

Trong cuốn hồi ký Đôi Dòng Ghi Nhớ, đại tá Phạm Bá Hoa từng nói về sự hiểu lầm của thế giới tự do với phe cộng sản.

Đại thể phía tự do hiểu hòa bình là hết chiến tranh, thì khái niệm hòa bình với người cộng sản là khi họ đã thôn tính tất cả đất đai, đè bẹp sức kháng cự của những kẻ chống lại họ.

Cũng trong cùng tác phẩm, tác giả đã nói đến những đau khổ của đất nước sau khi thống nhất, mà chỉ khi rơi vào tay địch, ông mới biết thực tế thế nào là cộng sản.

Những cuộc thanh trừng lẫn nhau giữa các vương tôn họ Tư Mã thời hậu Tam Quốc, cũng như sự xa xỉ của triều đình trung ương (điển hình vụ viên quan Thạch Sùng khoe mẽ của cải đã trở thành chuyện ngụ ngôn truyền đời) đã khiến nhân dân thời Tấn vô cùng khốn khổ, mà giới sử gia đánh giá mức độ tàn khốc của cuộc nội chiến còn lớn hơn nhiều so với thời Ngụy – Thục – Ngô tranh hùng.

Và hãy nhìn lại những nhà lãnh đạo Việt Nam từ sau 1975 đến nay, ngoài vấn đề cách ứng xử với người đồng bào thua trận, họ có điểm gì khác và giống so với họ Tư Mã thời Tây Tấn?

Không thể phủ nhận rằng, nhà nước đã có những nỗ lực nhất định trong việc ổn định tình hình, nâng cao đời sống nhân dân (mà chính họ đã kéo tụt xuống ngay sau biến cố 1975).

Nhưng vì sao ngay trong lúc truyền thông nhà nước ca ngợi những “thành tựu” về giáo dục và y tế, thì chính lãnh đạo và con cái họ lại bỏ ra nước ngoài du học và chữa bệnh?

Còn ở bên ngoài, biển đảo và đất liền cứ bị ngoại bang đe dọa từng ngày? Và ở những miền quê, người ta nỗ lực hết mình để được xuất khẩu lao động, xuất khẩu cô dâu để sang những nơi còn chưa thống nhất (bị Mỹ đô hộ?) như Đài Loan, Nam Hàn?

Cái giá của sự thống nhất, xin nhắc lại, thống nhất về lãnh thổ ấy quá đắt với nhân dân nhà Tây Tấn thời hậu Tam Quốc và với nhân dân Việt Nam 17 thế kỷ sau.

 Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

 Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

Những căn nhà đổ nát vì pháo kích của Việt Cộng vào Sài Gòn trong ngày 30 Tháng Tư 1975. (Hình: Getty Images)

VIỆT NAM, (NV) – Sau 44 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ, quân đội Bắc Việt chiếm toàn miền Nam Việt Nam, rất nhiều người trên mạng xã hội đã bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc về ngày 30 Tháng Tư. Những câu được nhìn thấy nhiều nhất là: “Ngày 30 Tháng Tư, ăn mừng vì điều gì?”

Facebook Đinh Bá Truyền viết trên trang cá nhân: “30 Tháng Tư, 1975, một toán cộng quân tiến chiếm Dinh Độc Lập. Lính tráng rửa ráy ở bồn phun nước trước Dinh. Riêng tay chính ủy bước vào phòng tắm, mở trúng cái vòi nước nóng, phỏng cả người. Y hét lên: “Tiên sư đế quốc Mỹ, rút đi rồi còn cài nước sôi ám hại ông!”

Facebook Đỗ AnhDo chia sẻ:“Chúng ta cùng ôn lại lịch sử 30 Tháng Tư, 1975. Sự đau thương không bao giờ quên.”

Trịnh Bá Tư, một người trẻ sinh ra và lớn lên sau “ngày giải phóng” đăng tải bài thơ của “nhà thơ điên” Bùi Giáng, “Đánh cho Mỹ chút Ngụy nhào” trong đó có đoạn: “… Đánh cho cả nước Việt Nam, Áo ôm khố rách xếp hàng xin cho. Đánh cho hết muốn tự do, Hết mơ dân chủ hết lo quyền người…”

Một Facebooker khác có tên Thienthanh viết: “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, ngày tri ân đến những người chiến sĩ anh hùng Việt Nam Cộng Hoà vị quốc vong thân. Ngày tưởng nhớ đến những người Việt Nam đã ra đi tìm đường Tự Do, đã yên nghỉ trong lòng Đại Dương. Và không quên những người dân Việt Nam còn đang sống trong địa ngục của cộng sản Việt Nam. Một ngày tang thương cho toàn dân tộc Việt Nam.”

Nguyễn Phương, cũng là một người trẻ sinh sau năm 1975, hiện đang sống và làm việc ở Nhật đã đăng tải 2 hình ảnh: “Sài Gòn 1969 và TPHCM 1976” cùng với lời bình luận: “Thằng đi bộ, xe độp tiến vào nam “giải phóng” thèng đi xe oto!”

Blogger Lê Nguyễn Hương Trà đưa lên trang cá nhân một video có tên “Sài Gòn xưa.” Video này nhanh chóng nhận được nhiều lượt xem và chia sẻ. Có những người sau khi xem xong để lại những dòng chữ như: “Đẹp và thanh lịch, có một Sài Gòn như thế. Có người viết rằng: Sài Gòn trước ngày bị cướp.”

Nhà văn Nguyễn Đông Thức, con trai nhà văn Bà Tùng Long, từ Sài Gòn, chia sẻ bài viết dài trên trang cá nhân:

 “Tôi rất sợ ngày 30-4. Đã có một thời gian dài, cứ đến ngày này là người tôi lại bị tan rã nhão nhoẹt như một vũng bùn nhớp nhúa chảy dài trên giường. Tôi chỉ nằm vậy thôi.

Rồi mọi cảm giác lâu dần cũng trở thành chai sượng.

Mấy năm nay tôi thường dùng ngày này để đóng cửa nằm nhà. Làm việc, đọc sách, nghe nhạc… Không cho phép mình buồn. Và thậm chí không dám chạm đến Facebook, nơi tôi biết cứ mỗi dịp như thế này là lại sôi sục một không khí “từ bao lâu ta nuốt căm hờn”, cạnh đó là niềm vui chiến thắng ăn chơi nhảy múa. Cùng với sự xuống cấp ngày càng tệ hại của xã hội, có vẻ như “bên thắng cuộc” bắt đầu thấy sượng hơn nên kín đáo hơn trong sự ăn mừng của mình, còn “bên thua cuộc” càng thấm thía nỗi đau khi đối chiếu lại giá trị của những gì đã bị mất.

Luôn cố gắng để có thể là một nhà chuyên nghiệp trong mọi việc, tôi quyết định coi như không còn ngày 30-4 trong tâm trí mình nữa. Không còn ai thắng thua, không còn hoà hợp hoà giải (vì có bên nào muốn đâu!), không còn hy vọng và tuyệt vọng. Tập trung làm việc để khỏi nghĩ tới nó.”

Đặc biệt, Facebook Trương Thị Hà, thế hệ 9X sinh ra và lớn lên ở miền Bắc viết trên trang cá nhân: “30/04 – Ngày quốc tang.”

“Đối với tôi, ngày 30/4 hôm nay và về sau là ngày đáng thương cho đất nước Việt Nam và toàn thể người dân Việt Nam trước và sau năm 1975. Giải phóng gì mà 444,000 thanh niên miền Bắc và 282,000 thanh niên miền Nam phải bỏ mạng. Giải phóng gì mà 2 triệu người dân Việt Nam vô tội phải chết trong lửa khói. Giải phóng gì mà 1 triệu lính miền Nam phải bỏ tù cải tạo, trong đó có 165,000 lính miền Nam chết trong trại cải tạo. Giải phóng gì mà 1.5 triệu con dân miền Nam phải tha phương nơi đất khách quê người để trốn chế độ cộng sản, trong đó có 300,000 người sẽ mãi mãi không bao giờ nhìn thấy bến bờ tự do. Giải phóng gì khi ngày nay 97 triệu người dân Việt Nam bị tước những quyền cơ bản như quyền biểu tình, quyền lập hội. Thống nhất gì khi lòng dân không yên, vẫn còn phân biệt, đối xử vùng miền giữa thành thị và nông thôn, kẻ có tiền và quan hệ luôn đè đầu, cưỡi cổ kẻ nghèo hèn.”

Còn rất nhiều hình ảnh, bình luận, chia sẻ khác được bày tỏ trên mạng xã hội trong vài ngày qua. Tất cả đều cho thấy một tâm trạng tiếc nuối, hoài vọng, đau xót về một Sài Gòn chỉ còn trong ký ức. (C.Lynh)

From: TU-PHUNG

Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

ĐỨC MẸ CỦA KINH THÁNH VÀ ĐỨC MẸ CỦA LÒNG SÙNG KÍNH

ĐỨC MẸ CỦA KINH THÁNH VÀ ĐỨC MẸ CỦA LÒNG SÙNG KÍNH

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có nhiều người tin rằng: Người Công giáo La Mã có khuynh hướng sùng bái Đức Mẹ, còn người Tin Lành và phái Phúc âm thì có khuynh hướng bài trừ Đức Mẹ.  Cả hai đều không chuẩn lắm.

Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, có hai tuyến lịch sử trong truyền thống Kitô giáo.  Chúng ta có Đức Mẹ trong Kinh thánh, và Đức Mẹ của lòng sùng kính, và cả hai đều góp những phần đặc biệt cho hành trình Kitô hữu của chúng ta.

Đức Mẹ của lòng sùng kính thì được biết đến nhiều hơn, chủ yếu là trong Công giáo La Mã.  Đây là hình ảnh Đức Mẹ trong chuỗi mân côi, Đức Mẹ của các đền thánh nổi tiếng, Đức Mẹ Sầu bi trong các kinh, Đức Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta đến với Chúa, Đức Mẹ tinh tuyền và trinh khiết, Đức Mẹ hiểu nỗi đau của con người, Đức Mẹ làm kẻ sát nhân phải mềm lòng, và Đức Mẹ mà chúng ta luôn có thể chạy đến kêu cầu.

Và Đức Mẹ này, trên hết là Mẹ của người nghèo.  Karl Rahner từng chỉ ra rằng khi nhìn vào mọi lần Đức Mẹ hiện ra mà đã được Giáo hội công nhận, bạn sẽ để ý thấy rằng mẹ luôn hiện ra với người nghèo, một đứa bé, một nông dân, một nhóm trẻ em, một người không có địa vị xã hội.  Đức Mẹ không bao giờ hiện ra với một thần học gia đang nghiên cứu, một giáo hoàng, hay một triệu phú.  Mẹ luôn là người mà người nghèo hướng về.  Lòng sùng kính Đức Mẹ chính là thần nghiệm của người nghèo.

Ví dụ như, chúng ta thấy rất rõ điều này trong tác động của Đức Mẹ Guadalupe lên Châu Mỹ La tinh.  Trong toàn châu Mỹ, hầu hết các thổ dân đều là Kitô hữu.  Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, nơi hầu hết thổ dân là Kitô hữu, Kitô giáo lại không phải là một tôn giáo bản địa, mà là một tôn giáo du nhập từ nơi khác đến.  Còn ở Châu Mỹ La tinh, khắp nơi mà giáo dân sùng kính Đức Mẹ Guadalupe, thì Kitô giáo được xem là một tôn giáo bản địa.

Nhưng lòng sốt sắng và sùng kính cũng có nguy cơ trật đường về mặt thần học và gây nên sự ủy mị không lành mạnh.  Đây cũng là vấn đề trong hình ảnh Đức Mẹ của lòng sùng kính.  Chúng ta có khuynh hướng nâng Đức Mẹ lên hàng thần thánh (mà thế là sai) và chúng ta quá thường sùng kính Mẹ đến nỗi trong tâm thức của chúng ta, một Đức Mẹ của lòng sùng kính không thể nào là một người khiêm hạ đã hát lên bài Magnificat.  Đức Mẹ của lòng sùng kính quá thường bị tôn vinh với sự sốt sắng, đơn giản hóa thái quá, và phi tính dục như thể cần bảo vệ Mẹ khỏi những phức tạp của thân phận con người.  Nhưng Đức Mẹ của lòng sùng kính vẫn cho chúng ta đối diện rõ ràng hành trình tâm linh của mình.

Còn Đức Mẹ của Kinh thánh và vai trò mà các Tin Mừng khác nhau đã nói đến về Mẹ, thì bị làm ngơ hơn nhiều.

Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ được thể hiện như hình mẫu người môn đệ.  Nói đơn giản hơn, Mẹ là một con người chuẩn mực ngay từ đầu.  Nhưng chúng ta lại không nhận ra như thế ngay lập tức.  Nhìn bề ngoài, đôi khi chúng ta lại thấy ngược lại.  Ví dụ như, trong nhiều dịp Đức Giêsu nói chuyện với đám đông, có người cắt lời và báo rằng mẹ và người thân của Ngài đang chờ bên ngoài và muốn nói chuyện với Ngài.  Và Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ Ta và ai là anh chị em của Ta?  Là người nghe lời Chúa và tuân giữ.”  Khi nói thế, Chúa Giêsu không có thái độ xa cách với mẹ mình, mà ngược lại thì đúng hơn.  Trong các Tin mừng, trước chuyện này, các thánh sử đã rất cẩn thận chỉ ra rằng Đức Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.  Và như thế, chính Chúa Giêsu nêu bật mẹ mình trên hết là vì đức tin của Mẹ, chứ không phải vì huyết thống.  Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ là hình mẫu cho tinh thần môn đệ.  Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.

Tin mừng theo thánh Gioan còn cho Mẹ một vai trò khác.  Mẹ không phải là hình mẫu cho tinh thần môn đệ (một vai trò mà thánh Gioan trao cho người môn đệ Chúa thương và Maria Magdalena) nhưng được xem là Evà, mẹ của nhân loại, và là mẹ của mỗi người chúng ta.  Thú vị là, thánh Gioan chưa từng nói ra tên của Đức Mẹ, ngài luôn luôn nói là “Mẹ của Chúa Giêsu.”  Và với vai trò này, Đức Mẹ làm hai điều:

Thứ nhất, Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người, như khi Mẹ lên tiếng trong tiệc cưới Cana “họ hết rượu rồi.”  Trong Tin mừng theo thánh Gioan, đây không chỉ là cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa.  Thứ hai, là Evà, Mẹ toàn thể và Mẹ chúng ta, Đức Mẹ cũng bất lực trong và trước nỗi đau của con người khi Mẹ đứng dưới chân thập giá.  Trong biến cố này, Mẹ cho chúng ta thấy mình là Mẹ của toàn thể, nhưng cũng là một gương mẫu về cách đương đầu với sự bất công, cụ thể là đứng trong sự bất công đó mà không nhân đôi hận thù và bạo lực đó nhưng đáp lại bằng yêu thương.

Đức Mẹ đã cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời, một gương mẫu không phải để chúng ta tôn sùng hay làm ngơ, nhưng là để sống.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

30.04.1975: Ngày mất nuớc? Phải làm gì?

30.04.1975: Ngày mất nuớc? Phải làm gì?

Trần Nguyên / Người Xứ Bưởi

Andy

season camera GIF

I/ Nổi đau nào lớn hơn nổi đau mất nước ?

Đại thi hào Hy Lạp Eupirides trong vở kịch Medea đã có câu nói bất hủ:  “Không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất nước” (xem Nguồn 1 phía dưới).

Không phải tình cờ mà Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn tại Úc đã khắc ghi điều này cho hậu thế biết trên một Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại đó.

Đúng vậy: 30.04.1975 là ngày mất nước và là ngày đau buồn nhất cho dân tộc Việt Nam. Sau 44 năm, nếu mổi người Việt nhìn trở lại thì ai cũng thấy rỏ nổi đau này. Gia đình nào cũng tan nát phân tán khắp nơi. Đúng là: “Nước mất nhà tan”. Cũng như còn nổi nhục nào cái nhục này, khi biết được nhan nhản trên báo chí Trung Cộng đăng lời rao bán đàn bà, con gái Việt Nam:

“Mua một cô vợ Việt Nam giá 6,000 USD

– Bảo đảm còn trinh;

– Bảo đảm giao hàng trong vòng 90 ngày;

– Không phụ phí;

– Nếu cô ta trốn đi trong vòng 1 năm, được 1 cô khác miễn phí”.

Sự thực hiển nhiên cho thấy dân tộc Việt Nam trải qua nổi nhục nhằn đó từ khi thế lực cộng sản thống trị trên đất nước và sẽ là cơ hội dể dàng để Trung Cộng đặt ách đô hộ. Sau mật ước Thành Đô 1990, VN chúng ta lần lượt mất vô số lãnh thổ vào tay Trung Cộng. Điển hình như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc … bị cướp đi và Trung Cộng cho di dân ào ạt qua VN mua đất đai để tính kế lâu dài. Đó đúng là “Đại Hoạ Mất Nước” sắp tới nơi rồi (xem Nguồn 2)

II/ Kinh nghiệm thắng được Cộng sản tại Ba Lan & Đông Âu

Muốn thoát khỏi đại họa mất nước gần kề, mổi người dân Việt phải sáng suốt coi công cuộc tranh đấu là quan trọng nhứt với tinh thần “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”và sẳn sàng học hỏi kinh nghệm thành công từ các quốc gia đã từng thoát được ách cộng sản.

Chẳng hạn như Đông Âu, mà điển hình là trường hợp Ba Lan đã thành công rực rỡ nhờ:

1) Ở quốc nội dân chúng Ba Lan sáng suốt tranh đấu ôn hoà dưới sự hướng dẫn của lãnh tụ Walesa / Công Đoàn Liên Đới (Solidarity) không tạo ra tình thế bạo động cực đoan khiến bị đàn áp đẫm máu như đã xảy ra tại Đông Bá Linh (1953), Hung Gia Lợi Budapest (1956), Tiệp Khắc Prague (1968) … dẫn đến thất bại làm mất tiềm lực tranh đấu cả hàng chục năm sau..

2) Tại quốc ngoại, Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan vận động yểm trợ quốc nội trên mọi lãnh vực như:

  1. a) quyên tiền gửi cho tổ chức tại quốc nội để có phương tiện nuôi dưỡng tranh đấu.
  1. b) thông tin cho quốc tế biết về công cuộc tranh đấu tại Ba Lan để phá tan tuyên truyền láo lếu (fake news) của hệ thống tuyên truyền cộng sản & thiên tả.
  1. c) phát triển & đoàn kết lại giữa các Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan ở các cường quốc Tây Phương.

3) Quan trọng và quyết định nhứt là tìm kiếm sự yểm trợ hữu hiệu của quốc tế. Đặc biệt là của siêu cường Hoa Kỳ, vì thực tế cho thấy chỉ quốc gia này mới đủ sức và dám đương đầu Cộng sản Liên Sô. Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan tại Mỹ đã sáng suốt biết đầu tư trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1980 qua sự ủng hộ Liên Danh TT Reagan & PTT Bush để được thắng cử và nhờ đó sau này TT Reagan mới có cơ hội thực hiện chánh sách “đánh & diệt” Cộng sản  Liên Xô.

Đây là nước cờ tối quan trọng đã khiến Liên Sô sụp đỗ vào đầu năm 1991 và đã khiến tự động mấy chục nước Cộng sản Đông Âu đều thoát ách độc tài, mà chả cần phải vô cùng gian khổ tranh đấu như mấy chục năm trước đó.

Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan đã can đàm dứt khoát dám chọn ủng hộ một ứng cử viên Tổng Thống ngang tàng kiểu “cao bồi Texas” như ông Reagan.

 

Điều này rõ ràng qua sự kiện TT Reagan đã dám tới ngay Bức Tường Ô Nhục Bá Linh (Berlin) thách thức cấp lãnh đạo cộng sản Liên Sô phải phá bỏ bức tường này vào ngày 12/0671987 (xem Nguồn 3 & Nguồn 4).

 

Kết quả thực đúng như lời kêu gọi ngang tàng này, Bức Tường Ô Nhục Bá Linh – sau đó 2 năm – đã bị “sụp đỗ” vào ngày 09/11/1989 (xem Nguồn 5).

III/ Phải làm gì?

Nhìn kỹ lại: Hiện nay tình hình biến chuyển có chiều hướng thuận lợi tương tự như thời kỳ chánh phủ Reagan (1981 – 1989) với chánh phủ Mỹ có chủ trương “đánh & trị Trung Cộng”. Nếu hòn đá tảng Trung Cộng để dựa vào không còn nữa – như Liên Sô – thì VN chúng ta không còn lo “đại họa mất nước” và chắc chắn tự động thoát khỏi ách cộng sản như đã xảy ra tại Đông Âu.

Qua bài học Ba Lan, mỗi người dân VN chúng ta ở trong và ngoài nước ai cũng đều có thể làm được tương tự như vậy tuỳ theo hoàn cảnh và khả năng mồi cá nhân.

Quan trọng nhứt là đồng bào VN với tư cách cử tri tại Mỹ tích cực thuyết phục gia đình và bạn bè quen biết ủng hộ một chánh phủ với một chính đảng cầm quyền xứng đáng có chánh sách phù hợp sự sinh tồn dân tộc VN chúng ta. Thực vậy chúng ta cần một chánh phủ Mỹ cầm quyền lâu dài như thời kỳ Reagan & Bush để đủ sức mạnh gây áp lực ngăn chặn được mưu đồ Trung Cộng toan chiếm Biển Đông và uy hiếp các quốc gia láng giềng.

Rất có thể nhờ vậy cuộc khủng hoảng kinh tế của Trung Cộng sẽ còn tiếp tục kéo dài và dẫn đến sụp đỗ toàn diện như đã xảy ra cho Liên Sô vào năm 1991. Lúc đó VN chúng ta có quyền hãnh diện và không còn buồn tủi khi mổi năm tháng tư ló dạng.

Mong sẽ được như vậy!

Trần Nguyên / Người Xứ Bưởi

Nguồn 1: Vở kịch nổi tiếng Medea đã có câu nói bất hủ:  “Không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất nước”

https://en.m.wikipedia.org/wiki/Medea_(play)

Nguồn 2: Phim tài liệu “Đại Hoạ Mất Nước”

Nguồn 3: “Mr. Gorbachev, Tear Down This Wall!”: Reagan’s Berlin Speech

https://www.britannica.com/story/mr-gorbachev-tear-down-this-wall-reagans-berlin-speech

Nguồn 4: “Berlin Wall” Speech – President Reagan’s Address at the Brandenburg Gate – 6/12/87

YouTube player

Nguồn 5: Bức Tường Ô Nhục Bá Linh đã bị “sụp đỗ” vào ngày 09/11/1989

https://en.wikipedia.org/wiki/Berlin_Wall

Đây là hình ảnh đón lễ.

Image may contain: outdoor
Trần Hồng Lâm

 

Hứa với dân Thủ Thiêm, trong tháng 11-2018, sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề khiếu kiện, nhưng cuội cũng thua anh mấy bậc.

Nhưng với BCT, anh hứa không để xảy ra biểu tình ở thành phố nơi anh cai quản, anh chơi phát lào ra phát ý.

Đây là hình ảnh anh cho quân giăng lên để đón lễ.

” Ôi những cánh đồng quê chảy máu,
Dây thép gai đâm nát trời chiều!”

NHỮNG CÂU NÓI HAY VỀ NGÀY 30/4 CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ THỨC TỈNH.

Image may contain: 1 person, standing and text
Lê Quốc QuânFollow

NHỮNG CÂU NÓI HAY VỀ NGÀY 30/4 CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ THỨC TỈNH.

1/ Nếu ngày 30-4-1975, 
bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.
(Luật sư Nguyễn Văn Đài )

2/ ” Càng huênh hoang, bốc phét về đại thắng mùa xuân càng khơi dậy nỗi đau và lòng hận thù “

“30/4 là ngày đã giải phóng cho tôi , một công dân miền Bắc khỏi kiếp nô lệ của một thứ triết học chính trị ngoại lai”
( Nhạc sĩ Tô Hải )

3/”Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn.

Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 
30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. 
Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. 
Và vì vậy mà tôi khóc,  trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»

( Nhà văn Dương Thu Hương).

4/”Dù không muốn nói ra,  dù bây giờ ai nói ra đều bị coi là phản động, rằng đã có một cuộc giải phóng ngược trong ngày 30/4/1975, bên thắng cuộc đã được hoàn toàn giải phóng, trước tiên và trên hết là sự giải phóng về tư duy, ít nhất là đúng với mình”
( Nhà văn Nguyễn Quang Lập ).

5/ “Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn “.
( Nhà văn Nguyên Ngọc )

6/”Hóa ra những người chiến sĩ Giải phóng chúng tôi bấy lâu đã bị một thế lực nhân danh sự nghiệp Giải phóng ngấm ngầm trói buộc vào một guồng máy lấy xương máu chúng tôi và xương máu nhân dân để đúc thành ngai ghế “vua quan cách mạng” của họ.”

( Nhà thơ Bùi Minh Quốc)

7/ “Trống kèn ầm ỹ, pháo hoa khắp nơi, duyệt binh
“hoành tráng” chỉ còn là màn khói mỏng che đậy những sai lầm và tội ác chồng chất cùng những bất công kinh khủng mà xã hội không còn có thể chịu đựng nổi.”
( Nhà báo Bùi Tín )

8/”Sự kiện 30-4-1975 tôi không phải là chứng nhân của sự kiện đó vì tôi sinh ra năm 1979, nhưng những gì tôi trực tiếp trải qua và chịu đựng trên đất nước Việt Nam thì tôi thấy đây là sự kiện hết sức là đặc biệt, cá nhân tôi nghĩ rằng đây là sự an bài nhục nhã của đức chúa trời dành cho dân tộc Việt Nam. “
( Luật sư Lê Thị Công Nhân ).

( Nguồn: Internet ). Copy từ facebook Sao Mai

Viết trong những ngày đất nước đang chuyển mình

 

Viết trong những ngày đất nước đang chuyển mình

Bởi   AdminTD

KTS Trần Thanh Vân

30-4-2019

Tôi không phải là nhà chính trị, cũng không phải là một fortune teller, nhưng với những năm tháng từng trải của mình, tôi hiểu sâu sắc rằng, đất nước VN đang ở trong những ngày biến động dữ dội, nhưng mỗi ngày một sáng sủa hơn.

Đại gia đình tôi đã trải qua 72 năm và có ít nhất 3 thế hệ sống trong nước Việt Nam Dân chủ Công hòa, thành lập ngày 2/9/1945 và đến hôm nay là những ngày cuối cùng của Cộng Hòa XHCN Việt Nam do ĐCSVN lãnh đạo. Nhìn vào những biến động của đại gia đình mình trong 72 năm qua, tôi “nhìn thấy” sự biến động của đất nước và tôi tin chắc rằng mọi thứ đang được phát triển theo một quy luật mà không thế lực nào cưỡng nổi.

Thế hệ thứ nhất

Năm 1945, cha tôi là một thanh niên 30 tuổi, đầy lòng yêu nước, ngây thơ và hăm hở theo Việt Minh rồi trở thành Đội viên Đội tự vệ Hoàng Diệu từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Cha trở thành công an mật Hà Nội năm 1947, được kết nạp vào ĐCS năm 1948, rồi lên chiến khu Việt Bắc, rồi trở về Hà Nội ngày giải phóng Thủ đô năm 1954…

Khi cha tôi mất năm 2002, cụ vẫn là một cán bộ cách mạng lão thành, sống kham khổ, trong sạch và khi nhắm mắt xuôi tay, cha mãn nguyện ra đi vì đã cống hiến cả đời mình sự nghiệp giải phóng quê hương. Tôi thương cha, đến phút chót cuộc đời, cha không hiểu hết con đường cách mạng của mình đúng sai ở chỗ nào?

Cậu ruột, em trai thứ 3 của mẹ tôi thì khác hẳn. Là một thanh niên học sinh yêu nước của trường Bưởi Hà Nội, cậu tôi rủ các bạn cùng trường, đi quyên góp gạo tiền, nấu cháo phát chẩn cho bà con nghèo đói ở các làng quê, nạn nhân của nạn đói 1945… Nhưng cậu tôi không theo Việt Minh, ông và các bạn ông hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Trần Trọng Kim, khi chính phủ Trần Trọng Kim bị Việt Minh đánh đổ, cậu tôi bị Việt Minh bắt giam và bị giết chết.

Thế hệ thứ hai

Chồng tôi và tôi cùng lớn lên trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Khác với tôi, chồng tôi luôn tỏ ra là một người sống có kỷ luật, ngoan ngoãn và trung thành với chế độ. Chồng tôi được kết nạp vào ĐCS năm 1961, ông được tổ chức cơ quan và chính quyền nhà nước cưng chiều, được cử sang Anh tu nghiệp tiếng Anh năm 1979, sang Hà Lan, sang Nhật học tập về Quy hoạch quản lý kinh tế. Ông được Ủy ban Hợp tác kinh tế đối ngoại của chính phủ phân công phụ trách khối Bắc Âu, đã từng có quan hệ thân tình với Thụy Điển, là khách quý được cố Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme mời tới nhà riêng ăn cơm chiều…

Đã đặt chân tới hơn 40 nước phi XHCN, chồng tôi có dịp tiếp cận, kết bạn và tìm hiểu khá kỹ về “chế độ tư bản giẫy chết”, ông từng cố gắng mang những hiểu biết của mình, thuyết phục, phân tích cho các quan chức cùng thời. Có người ủng hộ và muốn làm cuộc cải cách, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, như Thứ trưởng Trần Quang Cơ, nhưng các vị đó suy nghĩ nhiều mà chẳng làm được việc gì.

Khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt bị ám hại qua đời, chồng tôi hiểu rằng mọi cố gắng chưa hợp thời đều bị thất bại, ông về hưu năm 2000, bỏ ĐCS, ông ở nhà nuôi dạy thằng Út, hy vọng thằng con lớn lên sẽ không bỏ phí cuộc đời như cha nó.

Khác hẳn với chồng, tôi ngang bướng và rất “vô kỷ luật”, tốt nghiệp kiến trúc tại Thượng Hải năm 1966, theo học “The International Post-Granduate Training Course on Ecosystem Management” ở Dresden năm 1980-81. Trở về nước, tôi chỉ chăm lo công tác chuyên môn là nghiên cứu kiến trúc cảnh quan, bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về Phong thủy. Tôi từ chối mọi cơ hội được đề bạt thăng chức, tôi không nộp đơn xin vào ĐCS và năm 1992, tôi nằng nặc đòi nghỉ hưu khi mới 51 tuổi.

Từ ngày được sống cuộc đời tự do, tôi lập công ty tư nhân, tự đi kiếm việc làm thuê để nuôi sống bản thân và gia đình, tôi bắt đầu quan tâm đến xã hội xung quanh và vận mệnh đất nước.

Càng hiểu sâu về Phong thủy, tôi càng khao khát cơ hội được phục hồi HÀO KHÍ THĂNG LONG của các triều đại Lý, Trần, Lê, khi xưa. Tôi bắt đầu quan tâm và không ngần ngai hiểm nguy, tôi lên tiếng ngăn cản Dư án Thủy cung Thăng Long ở Bán đảo Tây Hồ năm 1998, lần đầu tiên có một quan chức cao cấp là Phó TT Ngô Xuân Lộc mất chức và có kẻ vào tù.

Thế hệ thứ ba

Chồng tôi bị trọng bệnh và qua đời cuối năm 2012. Còn lại một mình, tôi bán nhà và cho thằng Út theo học trường quốc tế tại Hà Nội rồi đi du học tại Vương quốc Anh từ năm 2017. Trong 7 năm theo học tại trường quốc tế song ngữ Hanoi Academy, con tôi được tiếp xúc với các thầy cô giáo quốc tế, với khẩu hiệu “Becoming a Global Citizen” in trên trang phục, tôi muốn đứa con nhỏ được lớn lên trong bầu không khí lành mạnh, được thoát khỏi mọi kỷ niệm đau buồn mà gia đình đã trải qua.

Thỉnh thoảng nhà trường tổ chức cho học sinh đi dã ngoại, các cháu quyên góp quần áo, sách vở và dụng cụ học tập trợ giúp những học sinh kém may mắn ở vùng cao, vùng xa… nên đến khi nộp hồ sơ để đi du học, thầy giáo quốc tế hỏi cháu muốn chọn ngành gì? Cháu trả lời: Nghiên cứu Tâm lý Xã Hội. Hỏi tại sao? Cháu nói: Nhiều người cần giúp đỡ quá, phải hiểu họ thì mới giúp họ được. Thầy giáo chủ nhiệm người Mỹ nói với tôi rằng đó là câu trả lời nghiêm túc của một một đứa trẻ sống có trách nhiệm. Và tôi hoàn toàn yên tâm, tiễn con ra đi. Ở xa, vài ngày cháu lại gọi về động viên mẹ ăn ngủ điều độ và đừng làm việc quá sức.

Tôi không làm việc quá sức. Tôi biết điều tiết bản thân và giữ gìn sức khỏe. Ở nhà một mình, tôi rảnh rang theo rõi mọi biến động của xã hội. Đến nay, đã có hàng chục, hàng trăm và hàng ngàn dự án chiếm đất làm giầu của rất nhiều tập đoàn bất động sản trên khắp đất nước. Và đến nay tôi hiểu sâu sắc rằng sự suy thoái xã hội đã đến bước trầm trọng, không ai cứu vãn nổi nữa.

Mặt khác, tôi cũng nhận ra nền tảng xã hội đang chuyển mình rõ rệt và mỗi ngày một rõ rệt hơn. Các lệnh cấm đoán, bắt bớ tù đày không ngăn cản được lòng dân suy nghĩ và nói lên mọi suy nghĩ của mình.

Nếu 20 năm trước, một nhóm KTS chúng tôi có thể ngăn chặn một Dự án Thủy cung Thăng Long tội lỗi và đánh đổ ông Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc, thì hôm nay có nhiều Thủy Cung Thăng Long khác tội lỗi hơn và trong số đó có một đệ tử gần gũi của ông Ngô Xuân Lộc khi xưa, là ông Đinh La Thăng, Ủy viên BCT cùng một lũ đầu trâu mặt ngựa đã phá nát và đục khoét đất nước mà công chúng gọi là công cuộc “đốt lò vĩ đại” của ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước.

Thử hỏi, trong tất cả những kẻ đã bị ném vào lò đó, có kẻ nào bị oan uổng không? Không có kẻ nào oan uổng cả. Nhưng tôi e rằng, ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước sẽ không có đủ lò để đốt hết lũ sâu mọt chúng nó đâu, bởi vì lũ sâu mọt kia là sản phẩm của cơ chế XHCN mà ông là thủ lĩnh. Mỗi ngày lại xuất hiện thêm nhiều kẻ độc ác tham lam, khốn nạn hơn, bọn đó không chỉ đáng ném vào lò, mà cần phải bị tru di tam tộc.

Có lần tôi đã viết thư gửi cho ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước, xin ông đừng nghĩ tôi không phải đảng viên cộng sản thì tôi chống đảng. Cha tôi, chồng tôi từng là những ĐVCS ưu tú, từng sống trong sạch tận tụy vì lợi ích của đất nước… nhưmg thời đó qua rồi. Còn ông, tôi khuyên ông tự giải tán đảng Cộng sản trước khi bị nhân dân lật đổ.

Năm 2018, khi bà chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân quăng các bản hồ sơ Đặc khu kinh tế lên bàn hội nghị Quốc hội, ép Quốc hội thông qua Luật Đặc khu với lời tuyên bố tỉnh bơ “Bộ Chính trị đã quyết”, nhưng cuối cùng Luật đặc khu đã bị ngăn lại. Công của ai, tội của ai tôi không tiện bàn, tôi chỉ khẳng định công lý đã thắng thế và trong giới chóp bu cộng sản, có người đã tỉnh ngộ.

Cũng như vấn đề Biển Đông sôi động nhiều chục năm qua, khiến cả nước căm hờn, phẫn nộ, khi người “bạn vàng”, “thân thiết như môi với răng” của VN ta xưng xưng nói rằng, Biển Đông của ta là Biển Hoa Nam của họ, nhưng xin chớ bi quan, cho đến hôm nay, quan hệ hợp tác về quốc phòng giữa VN và Hoa Kỳ đã là Hợp tác chiến lược toàn diện. Vào những ngày ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước lâm bệnh nặng, Đô đốc Philip Davidson, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương đến thăm Việt Nam, đã được VN đón tiếp nồng hậu; cũng như khi đoàn nghi sĩ thượng viện Hoa Kỳ do Thượng nghĩ sĩ Patrick Leahy dẫn đầu đến thăm VN, họ đã được VN đón tiếp thân tình, kể cả việc họ được đến thăm Thiền sư Thích Nhất Hạnh, vị Thiền sư nổi tiếng thế giới có lúc đã bị giới chop bu CS coi như kẻ bán nước.

Và vài tháng nữa thôi, ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước hoặc người đại diện cho ông sẽ đi thăm Hoa Kỳ. Chắc chắn sẽ có nhiều văn bản hợp tác về kinh tế và các vấn đề hệ trọng khác về hợp tác khai thác dầu khí và bảo vệ Biển Đông sẽ được ký kết.

Tóm lại, tôi không quan tâm lắm về bệnh tình của ông TBT- CTN ốm đau ra sao, ông có bị ai ám hại hay không, ở trong một chính đảng đã đến thời suy thoái, lại ở sát sườn với một thằng bạn xấu sẵn sàng ăn tươi nuốt sống mình, thì tôi hiểu rằng bị kẻ xấu rình rập ám hại và mỗi người phải trả giá cho những sai lầm của đời mình là dễ hiểu.

Có điều tôi biết chắc chắn rằng, đã đến lúc đảng Cộng sản sẽ phải tự giải tán, chế độ độc tài sẽ phải tự thủ tiêu và năm bảy năm nữa khi lứa tuổi trẻ như con tôi trở về, chúng sẽ có đủ trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết điều hành đất nước.

Quy luật tất yếu đó sẽ không một ai, không một sức mạnh nào ngăn cản được.