Trưởng khoa Trường Chính Trị bị cách chức vì nói Ông Trọng chết

05-09-2019

Ảnh chụp lại trang Facebook của Ông Lê Hữu Thuận

Ảnh chụp lại trang Facebook của Ông Lê Hữu Thuận

 Courtesy Facebook

Ông Lê Hữu Thuận, trưởng Khoa Lý Luận Mác- Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phó bí thư chi bộ, trường Chính Trị Trần Phú tại Hà Tĩnh bị đình chỉ chức vụ và hoạt động chuyên môn với lý do viết trên tài khoản Facebook cá nhân là ông tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chết.

Truyền thông trong nước loan tin ngày 9 tháng 5 dẫn phát biểu của Ông Nguyễn Trọng Tứ, phó hiệu trưởng Trường Chính Trị Trần Phú tại Hà Tĩnh về quyết định vừa nêu.

Lý do được đưa ra là ‘việc làm của ông Lê Hữu Thuận làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự bản thân và uy tín của tổ chức đảng và nhà trường, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội.’

Tin cho biết vào tối ngày 4 tháng 5, trên tài khoản Facebook cá nhân của ông Lê Hữu Thuận với tên Út Hữu có đăng đoạn với nội dung ‘mọi người cứ thắc mắc sao ông Nguyễn Phú Trọng không có mặt ở lễ tang ông Lê Đức Anh?’. Trả lời cho thắc mắc này là ‘ơ hay, ông ấy đã ngỏm rồi, lấy mô mà ra nữa.’

Nội dung này bị cho là bịa đặt, xúc phạm đến lãnh đạo đảng và nhà nước. Tin nói thêm rằng sau đó, Facebooker Út Hữu còn tiếp tục có những bình luận bị cho là xuyên tạc sự thật. Và Ban Chấp hành đảng bộ Trường Chính Trị Trần Phú tiến hành cuộc họp bất thường để xử lý ông Lê Hữu Thuận về việc này.

Cơ quan chức năng cho biết đang tiếp tục làm rõ sự việc.

LỪA ĐẢO!!

Image may contain: 6 people, people smiling, people standing and suit

Ngo Thu to Nhóm Chúng Tôi Ghét Lừa Dối

LỪA ĐẢO!!

Ông Đinh Thế Huynh bị bệnh nặng phải qua Nhật chữa. Trước đó ông Phùng Quang Thanh thì đi Pháp, ông Nguyễn Bá Thanh thì bỏ cả tiền triệu đô la qua tận nước Mỹ để nhờ họ cứu mạng. Nghe nói hai ông Chung và Thưởng vừa rồi lâm bệnh cũng đi Nhật và Pháp điều trị.

Trước đó nữa, ông Võ Văn Kiệt thì đi Singapore, ông Nguyễn Minh Triết đi Pháp rồi đi Sing chữa bệnh.

Đó là hàng lãnh đạo đảng cao cấp được biết đến nhiều. Còn hàng cán bộ đảng trung trung khi bị bệnh, len lén đi các nước tư bản chữa trị nhiều lắm, nên ít ai biết đến.

Trong khi đó các bác tuyên bố hoặc cho báo chí tuyên truyền Trung cộng là bạn tốt 4 chữ vàng, Cuba vừa là bạn tốt vừa có nền y tế phát triển tột bậc, Nga hết cộng sản rồi nhưng vẫn còn là đối tác tin cậy.

Toàn chỗ bạn tốt, tin cậy, ưu việt, nhưng gặp lúc đau ốm hiểm nghèo các bác lại không dám qua mấy chỗ đó gởi thân mà vác xác qua trao vào tay cho bọn tư bản chăm sóc dù tốn đến tiền triệu đô la. Có bác được chi bằng tiền ngân sách, có bác tự bỏ tiền túi ra chi. Không biết tiền đâu mà các bác có lắm thế?

Nhưng điều đáng nói ở đây là các bác trắng trợn lừa người dân. Các bác biết mấy nước cộng sản hoặc đã từng kinh qua cộng sản thân thiết ấy cũng giống như Việt Nam, trình độ y tế chẳng ra gì, dịch vụ tệ hại, lương tâm nghề nghiệp yếu kém, tình người thiếu vắng, nhưng các bác cứ hô lên là tốt đẹp để tuyên truyền cái định hướng XHCN là ưu việt.

Các bác biết tỏng do cái gì làm ra sự tệ hại đó vì các bác đang nằm trong chăn cùng với các nước ấy. Cái gì làm cho nền y tế của Nga, của Trung cộng vĩ đại lại thua kém xa lắc nền y tế của một nước bé tí xíu là Singapore, đừng nói là so với Mỹ, Nhật, Châu Âu, các bác biết hết. 
Biết nhưng vẫn cố tình duy trì một nền y tế XHCN cho dân đen chịu đựng còn các bác và con cháu các bác thì thụ hưởng các dịch vụ y tế đỉnh cao của nhân loại không cộng sản.

Tương tự như vậy, các bác xây dựng nên một nền giáo dục gọi là XHCN ưu việt cho con cháu dân đen thụ hưởng, còn phần lớn con cháu các bác thì đẩy hết qua các nước tư bản thù địch để bị nhồi sọ.

Lừa đảo!

(Fb Huynh Ngoc Chenh)

Thuyền phó tàu Titanic tiết lộ bí mật vĩ đại giấu kín nửa đời người, phương Tây họ văn minh hơn chúng ta từ rất lâu!

Image may contain: 1 person, hat and closeup
No photo description available.
Image may contain: outdoor and water
Image may contain: one or more people
Hoàng Nguyên Vũ
Journalist

Hoàng Nguyên Vũ

Thuyền phó tàu Titanic tiết lộ bí mật vĩ đại giấu kín nửa đời người, phương Tây họ văn minh hơn chúng ta từ rất lâu!

Nhân sinh như cõi mộng, dù cho người đó giàu có bao nhiêu hay nghèo kém cỡ nào, đứng trước sinh tử cũng đều chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ. Quan trọng hơn, khi ấy người ta mới thật sự nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời: Không phải vật chất, không phải quyền danh, càng không phải nhận lại điều gì cho mình mà là cho người khác, mà là lòng vị tha.

Đêm ngày 14/4/1912, một vụ tai nạn kinh hoàng đã xảy ra. Con tàu mang phong hiệu “không thể chìm” có tên Titanic đã đâm sầm vào một tảng băng trôi khổng lồ. Kết quả của vụ va chạm ấy là những con số và nỗi đau mà người ta không bao giờ muốn nhắc lại.

1.514 người đã thiệt mạng trong vụ đắm tàu kinh hoàng năm ấy. Nỗi đau đã khép lại hơn 100 năm, ngày nay, những gì người ta lưu lại về từ khóa “Titanic” có thể là: Vụ đắm tàu, thảm họa hàng hải nghiêm trọng nhất mọi thời đại hay mối tình lãng mạn của Jack và Rose, cũng có thể là tình ca bất hủ My heart will go on qua chất giọng cao vút của Celine Dion…

Tuy nhiên, hầu như tất cả đều không nhận ra, đằng sau bức màn đen tối của những nỗi đau và mất mát ấy là một kiệt tác vĩ đại của Lòng vị tha.

Charles Lightoller, khi ấy 38 tuổi, Thuyền phó thứ 2 trên con tàu Titanic, ông là người cuối cùng được kéo lên trên thuyền cứu hộ, cũng là người còn sống sót có chức vị cao nhất trên thuyền lúc đó.

Trở về từ cõi chết, sau rất nhiều năm giấu kín và im lặng, cuối cùng Charles quyết định viết 17 trang hồi ức, kể lại chi tiết vụ tai nạn kinh hoàng mà ông chứng kiến. Từng câu từng chữ của ông chưa bao giờ sống động và dồn dập đến vậy. “Chỉ cần tôi còn sống, tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng đêm đó!”

“Phụ nữ và trẻ em lên trước!”

Khi mệnh lệnh vừa vang lên, nhiều người rời thuyền cứu hộ, họ lặng lẽ bước ra phía sau châm điếu thuốc và hút. Charles không thấy bất kỳ một phụ nữ hay trẻ em có ý định bỏ lại những người đàn ông thân yêu của họ. Tất cả mọi người dường như rất bình tĩnh… trước cái chết… dù đó là một thương nhân nổi tiếng hay người hầu.

Khi chiếc thuyền cứu hộ đầu tiên được đưa xuống mặt nước, Charles đã hỏi một người phụ nữ họ Straw khi ấy đang ở trên boong tàu rằng: “Bà có muốn tôi đưa bà lên thuyền cứu hộ không?”

Người phụ nữ lắc đầu: “Không, tôi nghĩ vẫn là ở lại trên tàu thì tốt hơn”. Người chồng của bà hỏi: “Tại sao em lại không muốn đi lên thuyền cứu hộ?” Người phụ nữ mỉm cười trả lời: “Không, em vẫn muốn ở bên cạnh anh”. Cũng kể từ đây, Charles không bao giờ còn gặp lại đôi vợ chồng này lần nữa…

Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV), một nhà kinh doanh, nhà phát minh, nhà văn nổi tiếng và là một trong những người giàu nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau khi đưa người vợ mang thai 5 tháng tuổi lên thuyền cứu hộ, một tay dắt chó, tay còn lại châm điếu xì gà rồi hét to về phía chiếc thuyền cứu hộ đang trôi dần về nơi xa: “Anh yêu hai mẹ con”.

Thuyền phó đã ra mệnh lệnh cho Astor đệ tứ lên thuyền, nhưng ông kiên quyết trả lời rằng: “Tôi thích cách nói cơ bản nhất (bảo vệ phái yếu)!”. Sau đó, ông nhường chỗ của mình cho một người phụ nữ ở khoang hạng 3.

Vài ngày sau, khi bình minh vươn lên trên mặt biển Đại Tây Dương, đội cứu hộ tìm thấy thi thể ông trong tình trạng đầu bị chấn thương nghiêm trọng do đập vào ống khói. Khối tài sản của ông đủ để chế tạo 10 con tàu Titanic, nhưng Astor đệ tứ đã từ chối tất cả. Ông chọn cái chết để bảo vệ người thân yêu của mình, bảo vệ “phụ nữ và trẻ em” và bảo vệ nhân cách của mình.

Ben Guggenheim, một nhà tỷ phú, một nhân vật nổi tiếng trong ngành ngân hàng. Trong giờ phút nguy nan nhất, khi tất cả mọi người đang hối hả và vội vã, ông thản nhiên thay một bộ vest dạ hội sang trọng và tuyên bố: “Tôi phải chết thật trịnh trọng, như một quý ông”.

Trong lời nhắn ông gửi cho vợ viết: “Trên con tàu này, không có bất kỳ một phụ nữ nào vì anh cướp chỗ trên thuyền cứu hộ mà bị bỏ lại trên boong tàu. Anh sẽ không chết giống như một tên khốn, anh sẽ giống như một người đàn ông chân chính”.

Một thủy thủ đề nghị với Strauss, nhà sáng lập công ty bách hóa Macy của Mỹ, cũng là người giàu thứ hai thế giới rằng: “Tôi bảo đảm sẽ không ai phản đối một người già như ngài bước lên thuyền cứu hộ đâu”. Strauss nói: “Tôi sẽ không đi khi những người đàn ông khác còn đang ở lại”. Khi ông cố gắng khuyên giải bà Rosalie vợ của mình lên thuyền cứu hộ thì bà vẫn một mực từ chối. Bà nói: “Bao nhiêu năm qua, anh đi đâu là em theo đến đó, em sẽ cùng anh đi đến bất cứ nơi nào mà anh muốn đi”.

Sau đó, ông choàng lấy cánh tay của bà Rosalie, thong thả bước đến chiếc ghế trên boong tàu, ngồi xuống và chờ đợi giây phút cuối cùng của cuộc đời. Ngày nay, tại Bronx thành phố New York, người ta xây một tượng đài để tưởng niệm vợ chồng ông Strauss, trên đó khắc hàng chữ: “Tình yêu không thể nào nhấn chìm dù có nhiều nước biển hơn nữa”.

Một doanh nhân người Pháp tên Nahuatl đưa hai cậu con trai của mình lên thuyền cứu hộ, nhờ một vài người phụ nữ chăm sóc cho chúng, và mình thì từ chối lên thuyền. Sau khi hai đứa con trai được cứu sống, báo chí khắp nơi trên thế giới đều rầm rộ đăng hình ảnh của hai đứa trẻ này, cho đến khi mẹ của chúng từ hình ảnh nhận ra được chúng.

Trong giờ phút nguy kịch, Lydepas ôm chặt lấy người chồng mới cưới, không muốn thoát chết một mình. Vì bất đắc dĩ, chồng Lydepas phải đấm cô ngất xỉu, khi cô tỉnh lại thì đã thấy mình trên một chiếc thuyền cứu hộ đang trôi lênh đênh ngoài biển. Về sau, Lydepas cả đời không tái giá, sống độc thân để hoài niệm người chồng đã mất của mình.

Trong buổi họp mặt những người may mắn sống sót tại Lausanne nước Thụy Sĩ, bà Smith kể lại: “Lúc đó hai đứa con của tôi được bế lên thuyền cứu hộ. Vì quá tải nên tôi không thể lên thuyền nữa, một người phụ nữ ngồi trên thuyền cứu hộ khi ấy đã đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, rồi đẩy tôi lên và hét lớn với tôi một câu: ‘Ngồi đi, những đứa trẻ không thể thiếu mẹ!’.” Bà hối tiếc vì lúc đó đã không hỏi tên người phụ nữ đó.

Những người thiệt mạng trong vụ tai nạn này còn có tỷ phú Acid, nhà báo nổi tiếng Stead, Thiếu tá pháo binh Bart, kỹ sư Robble nổi tiếng v.v.. Họ nhường chỗ của mình trên thuyền cứu hộ, cho những phụ nữ nông dân không một đồng trên người.

Hơn 50 nhân viên cấp cao trên tàu Titanic, ngoài thuyền phó thứ hai Charles Lightoller chỉ huy cứu hộ may mắn sống sót, toàn bộ đều hết mình cứu người đến chết trong cương vị của mình.

Khoảng 2h sáng nhân viên điện báo số 1 John Philip nhận được mệnh lệnh bỏ tàu của thuyền trưởng, mọi người tự mình cứu mình, nhưng ông vẫn ngồi trong phòng thông báo, vẫn giữ tư thế phát tín hiệu SOS liên tục cho đến phút cuối cùng.

Khi đuôi tàu bắt đầu chìm xuống nước, Charles nghe thấy vào khoảnh khắc cuối cùng, khoảnh khắc của sinh ly tử biệt, những lời yêu thương vang lên: “I love you! I love you!”

Trong bức màn đêm đen tối nhuốm đẫm đau khổ và chia ly, tinh thần quý tộc nổi lên như ngọn đuốc rực sáng, khắc họa nên một tuyệt tác vĩ đại về nhân cách và đạo đức con người. Giáo dục lối sống không chỉ là lý thuyết; mà trong những hoàn cảnh thực tế, những bài học đạo đức ăn sâu vào tâm thức trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi người.

Phụ nữ và trẻ em, những con người yếu đuối cần được tôn trọng và ưu tiên. Những người đàn ông lịch lãm không chỉ là kẻ nói lời hoa mỹ và tử tế trên bàn tiệc; mà ngay cả khi đối diện với thực tế rằng dù ngày mai tất cả đều trở thành vô nghĩa thì bài học về đạo đức và nhân cách hôm nay vẫn cần được thực hành một cách tuyệt đối.

Nhân sinh như cõi mộng, dù cho người đó giàu có bao nhiêu hay nghèo kém cỡ nào, đứng trước sinh tử cũng đều chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ. Quan trọng hơn, khi ấy người ta mới thật sự nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời: Không phải vật chất, không phải quyền danh càng không phải nhận lại điều gì cho mình mà là cho người khác, là vị tha.

Vị tha hàm chứa một sức mạnh vô tỉ, đã biến những con người xấu số trong cơn “bão biển” kinh hoàng năm ấy trở thành biểu tượng vĩ đại của tấm lòng thiện lương cao cả.

Ps: những câu chuyện thế này theo các bạn có nên đưa vào sách giáo khoa không?

NGƯỜI SÀI GÒN

Dù bạn sinh quán ỏ đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là:

                                         NGƯỜI SÀI GÒN.

Lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học.

Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y.
Chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… Ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá.. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ. Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. Không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại. 

”Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu.”

Chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn rán vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “Xích lô !”. 

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: 

“Anh chị đi đâu ?”.

– Cho ra bến xe Miền Tây. Nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: 
“Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho”.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: 
“Mười lăm đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: 
“Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm”.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: 
“Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà !”. 
Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng.

Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào 
Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: 
“Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá !”..

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. 
Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí.

Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống, bẩn chết đi được, nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? (mua ly giấy, uống xong vứt….. mời các người ấy về Sài Gòn mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát giác, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !..

Bi giờ còn vậy nữa không ? Cũng còn, nhưng mà nếu bạn không gặp người như vậy ở Sài Gòn là vì những người mà bạn gặp đó không phải là người SàiGòn !

Tui hỏi anh cyclo :

“Đạp từ rạp Rex về cầu Chông (nhà tui) giá bao nhiêu ?”.
Anh nói “20 ngàn”. Tui nói “30 ngàn thì tui mới đi”. 
Anh cyclo lập lại “20 ngàn”. Tui cũng nói như cũ.. 

Anh cyclo tưởng tui là thằng này khùng và nói “Thôi lên xe đi”. 
Đến nhà, tui đưa anh 30 ngàn và cám ơn. 
Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh cyclo đến hỏi tui :
“Về đâu ?”, 
nhưng khi nhìn thấy bộ đồ tù tui mặc nên anh nói câu mà tui nhớ đời 
“Lên đi thằng ông nội, tui chở về…Không có tính tiền đâu“.
Làm sao tui quên được câu nói đó..

Người Sài Gòn là như vậy bạn ơi !

*** Đó là “Người Sài Gòn Xưa”, còn “Người Sài Gòn Nay” thì chẳng biết

Nguyễn Thành

KHẨU HIỆU

KHẨU HIỆU

(Fb Nguyễn Thành Trung)

Nước Mỹ không có những khẩu hiệu như: “Hoa Kỳ muôn năm” hay: “Washington vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”…, vậy mà vẫn là cường quốc số 1 thế giới, lớp lớp thế hệ người dân Mỹ suốt 243 năm qua vẫn yêu quý vị Tổng thống đầu tiên của họ; Cũng không có “Tinh thần ngày 1/5 bất diệt”, dù ngày quốc tế lao động sinh ra từ nơi đây; Không có gì là “bách chiến, bách thắng và vô địch muôn năm”, vì mọi thứ (kể cả chân lý) đều có thể thay đổi theo thời gian…

* Singapore không cần khẩu hiệu: “dân chủ, công bằng, văn minh” nhưng đất nước thịnh vượng, sạch đẹp, an bình, luật pháp nghiêm minh, tham nhũng gần như không tồn tại. Thủ tướng Lý Quang Diệu được coi là người hùng, là ân nhân của đất nước này, nhưng đi khắp Singapore không có bất cứ tượng đài hay quảng trường nào mang tên ông…

* Nhật không có phong trào: “học tập và làm theo Nhật hoàng”. Nhưng người dân trung thành và phụng sự Tổ Quốc hết mình; sống giản dị, nhân văn, có trách nhiệm, làm việc chăm chỉ đến lúc chết.

Pháp cũng không có: “Hoàng đế Napoleon vĩ đại”, dù ông ta đã từng chinh phục cả châu Âu.

Đơn giản, vì tại các nước văn minh, việc ai nấy làm, họ coi đó là bổn phận đương nhiên vì lợi ích quốc gia; mọi thứ đều công khai, minh bạch, phân định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm…, nên không cần những khẩu hiệu sáo rỗng, với lời lẽ đao to búa lớn, bịp bợm, mị dân. Họ nói ít, làm nhiều, giá trị của mỗi người được nhìn nhận qua kết quả công việc và đóng góp cụ thể cho xã hội. Đặc biệt, họ không có thói quen tự ca ngợi, tâng bốc lẫn nhau, mà ngôn ngữ hiện đại gọi là “tự sướng”… Khi qua đời, dù danh nhân, vĩ nhân đều không ồn ào, khoa trương, kể lể công trạng; nấm mồ của họ chẳng hơn dân thường bao nhiêu…

Hình như là quy luật, ở những nơi càng dân chủ, văn minh, thịnh vượng thì khẩu hiệu lại càng ít.

From: Xuan Nguyen

Đỗ Ngà Blog: KỀN KỀN

Thực ra những gì đang diễn ra ở đất nước Việt khốn khổ này nó không hẳn là yếu kém của ĐCS mà mà là chính sách hẳn hoi. Họ không thể giúp được đất nước phát triển được thì họ cũng tàn phá luôn. Vì trong đầu họ, tàn phá đát nước họ cơ lợi hơn là xây dựng. Chính vì thế, họ đã không chùn tay tàn phá đất để dân chịu không nổi và di cư ra nước ngoài lao động tạo thành một thị trường béo bở để họ tư lợi. Xuất khẩu culi nhiều cũng đồng nghĩa với việc Đảng kiếm nhiều ngoại ngoại tệ do chính những lao động này làm gởi về nước. Đất nước mất gì kệ nó, dân mất gì kệ nó, miễn sao Đảng có đô và đảng viên được hưởng vinh hoa phú quý là được. Thật sự, ĐCS và thân hữu của nó là loài kền kền bên xác nhân dân.
– Đỗ Ngà –
 

DONGA.BLOG
Do Nga, Đỗ Ngà, Đỗ Văn Ngà, Facebooker Do Nga, Facebooker Do Van Nga, Do Van Nga, freedom, Vietnam

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI

Nếu con người được giáo dục trong tình yêu thương, lớn lên trong sự lễ, nghĩa và trưởng thành trong liêm, chính thì sẽ không thể làm điều ác, lại càng không thể trở thành kẻ ác được. Nhưng trái lại, kẻ hoạt đầu, không biết đến điều nhân, lễ, nghĩa, không biết đến tín, trung, bỏ cả đường liêm, chính quy thuận sự vô luân, tôn thờ chủ nghĩa tam vô như: “ Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu đời, lòng con gọi Stalin…/ Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một thương ông thương mười! ” ; ” Bên kia biên giới là nhà / Bên nay biên giới cũng là quê hương / Bên ni biên giới là mình / Bên kia biên giới cũng tình quê hương” v.v.. – ( Tố Hữu ). Như vậy phải chăng xác nhận nước tàu được kéo dài mãi đến tận Mũi Cà Mau? Chưa biết sao, nhưng trước mắt từ cái nền giáo dục, văn hóa của ông Tố Hữu đã lồ lộ cái họa cho đời, cho đất nước, dân tộc này lắm rồi.. Từ những con đường bị một nền giáo dục nhồi nhét đó thì ai cũng hiểu và biết rằng hậu quả đường chúng ta hôm nay sẽ đi về đâu nếu tiếp tục? ( Đại cục đang lừng lững trước mắt mà ám ảnh thời kỳ Khơme đỏ năm nào )

Một con người, một dân tộc không thể trưởng thành, đứng vững nếu như không biết tự võ trang cho mình thông qua nền giáo dục những cái Dũng của thánh nhân nhờ tín ngưỡng ban cho, cái Khí Tiết của hào kiệt của ông cha ban tặng từ nguồn gien bất khuất, cái Tâm của Nhân Bản do nền giáo dục tự do, khai phóng đem đến để làm nền tảng làm Người, làm nền tảng cho một xã hội. Nền giáo dục tốt thì nhận thức sẽ mạnh mẽ, không chấp nhận nghịch cảnh bao giờ: Có thể nghèo khó, mồ côi là một định kiến, một lối mòn mà xã hội muốn thử thách ta, xem thường ta thậm chí miệt thị ta. Nhưng, như cái lò xo càng dồn nén khó khăn thì tích tụ một sức bật khủng khiếp..

Nhớ rằng :” Mọi ông chủ vĩ đại đều từng là những người làm công ở vị trí thấp nhất. Họ đều rẽ trái trong khi mọi người rẽ phải. Họ có những quyết định không theo đám đông, không cam chịu sống một cuộc đời tầm thường, nhạt nhoà rồi chết “. Nếu không được trang bị hay tự nhận thức được như vậy thì cái Trí của con người được học mót đâu đó thay vì giúp ích cho tha nhân, lại thành kẻ vị kỷ mà gây họa cho xã hội. Bởi khi bỏ một trong Liêm, Minh, Chính là nền tảng luân lý của xã hội thì chắc chắn phải bước vào đường bạo ác, bỏ chính quy tà đem họa cho dân, cho nước.

Mấy ai dám nghĩ về một “Làng chài nhỏ bé ” không có đất, không có ruộng, không có nước” nhưng biết tạo cho mình những phẩm chất giá trị để quyến rủ các siêu cường đến với mình và không thể bỏ rơi mình, để phục vụ cho mình, để hợp tác, buôn bán làm ăn, tạo nên giàu có cho mình để trở thành một đất nước Singapore phồn thịnh, hùng cường hôm nay. Và một đất nước khác, Israel nhỏ bé, ít dân nhưng với ý chí vượt khó và hoài bão lập nghiệp, lập thân, lập quốc, biết ý thức muốn tồn tại thì phải có sức khỏe để xây dựng nên được nền y tế cao, biến sa mạc cằn cỗi, hoang tàn, khí hậu khắc nghiệt thành một vùng đất có nền nông nghiệp trù phú năng suất cao, chất lượng cao. Họ còn ý thức muốn vươn lên thì phải có những con người mạnh mẽ, dám đương đầu với mọi nghịch cảnh hay đe dọa nên họ cũng có một nền giáo dục đặc biệt để ai ai cũng có thể làm được nhiều việc mà việc nào cũng làm tốt, dám xả thân cho Tổ quốc, cho dân tộc mình..

From:Công Trung Nguyen

Hơn 3.000 cây thông rừng gần 20 năm tuổi bị đầu độc ở Lâm Đồng

Trong 10 ngày qua, tại địa bàn xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, kẻ xấu đã dùng thuốc trừ cỏ hạ độc cả một cánh rừng thông gần 20 năm tuổi, làm chết hơn 3.000 cây thông. Đây được cho là vụ hủy hoại rừng lớn nhất từ trước đến nay tại địa phương để chiếm đất sản xuất.

    Chân Phước Rose Venerini

7 Tháng Năm
    Chân Phước Rose Venerini

    (1656 – 1728)

    Chân Phước Rose sinh ở Viterbo, Ý Ðại Lợi, năm 1656. Cha ngài là một bác sĩ. Sau cái chết của vị hôn phu, Rose gia nhập một tu viện nhưng chỉ được vài tháng cô đã phải về nhà để chăm sóc người mẹ goá sau khi cha cô từ trần.

    Lúc bấy giờ cô Rose vẫn sống độc thân và mỗi tối cô thường quy tụ các thiếu nữ trong phố để lần chuỗi Mai Khôi. Cô được một linh mục dòng Tên linh hướng, là người tin rằng ơn gọi của cô là trở nên một giáo chức “ở ngoài đời” hơn là một nữ tu chiêm niệm trong dòng; do đó, với sự trợ giúp của hai người khác, cô mở trường học cho các thiếu nữ ở Viterbo mà chẳng bao lâu trường ấy rất nổi tiếng và thành công.

    Cô Rose có tài ăn nói hoạt bát, có khả năng giáo dục và huấn luyện giáo chức. Cô không dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong việc phục vụ Thiên Chúa. Không bao lâu, cô được nổi tiếng và năm 1692, Ðức Hồng Y Barbarigo đã mời cô làm người cố vấn và giúp huấn luyện giáo chức cũng như mở các trường học trong địa phận. Chính ở đây cô trở nên một người bạn và là cô giáo của Lucia Filippini, là người sáng lập dòng và được phong thánh năm 1930.

    Cô Rose còn mở trường ở nhiều nơi khác, đôi khi phải đương đầu với sự chống đối có lúc quyết liệt, tỉ như họ dùng cung tên mà bắn giáo chức và đốt trường. Nhờ sự kiên nhẫn và tín thác vào Thiên Chúa nên cô đã vượt qua mọi trở ngại. Năm 1713, cô sáng lập một tổ chức ở Rôma và được chính Ðức Giáo Hoàng Clêmentê XI khen ngợi.

    Người giáo chức tận tụy này từ trần ở Rôma ngày 7 tháng Năm 1728, hưởng thọ bảy mươi hai tuổi. Sự thánh thiện của ngài được xác nhận qua các phép lạ, và năm 1952 ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô XII phong chân phước. Sau cái chết của ngài, các giáo chức trong các trường của ngài quy tụ thành một tu hội. Ngày nay, các Nữ Tu Venerini có mặt ở khắp nơi trên thế giới, hoạt động trong các cộng đồng di dân người Ý.

    Trích từ NguoiTinHuu.com

From: hnkimnga@yahoo.com
To: 
Sent: 5/6/2019 11:07:49 PM Central Standard Time
Subject: Truyền Giáo

  Truyền Giáo

    Một buổi tối nọ, viên sĩ quan trẻ tuổi người Pháp tên là Charles de Foucauld say mê kể cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm của anh ở Maroc. Người chăm chú theo dõi câu chuyện của anh nhất là cô cháu bé chưa tròn 10 tuổi. Khi anh vừa chấm dứt thì cô bé đã bất thần đặt một câu hỏi như sau: “Thưa cậu, cháu đã thấy cậu làm được nhiều việc vĩ đại… Thế cậu đã làm được gì cho Thiên Chúa chưa?”

    Câu hỏi ấy như một luồng điện giật khiến anh trở thành bất động. Từ bao lâu nay, chưa có người nào đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế. “Anh đã làm gì cho Thiên Chúa chưa?”. Charles de Foucauld lục soát trong lương tâm của mình để chỉ thấy một lỗ hổng không đáy. Anh đã phí phạm tất cả thời giờ của anh trong những cuộc ăn chơi trụy lạc và những danh vọng phù phiếm… Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ, nghèo hèn của mình.

    Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một vị linh mục. Anh vào dòng khổ tu, rồi xin đến Nagiareth để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu.

    Ngày nọ, giữa lúc đang đắm mình trong cầu nguyện, anh bỗng nghe từ căn nhà bên cạnh có tiếng than van rên rỉ của một người Hồi Giáo.

    Charles de Foucauld nghĩ đến gương bác ái của Chúa Giêsu: anh có thể giam mình cầu nguyện một mình giữa lúc những người anh em của anh đang rên rỉ trong hấp hối, trong thất vọng sao?

    Nghĩ thế, anh bèn quyết định đến sống giữa họ, trở thành bạn hữu của họ, nhất là những người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn nhất trong xã hội.

    Những năm cuối cùng, Charles de Foucauld sống giữa sa mạc Sahara, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống với những người dân nghèo. Charles de Foucauld đã chia sẻ với họ những giọt máu cuối cùng của anh: ngày đầu tháng 12 năm 1916, anh đã bị thảm sát giữa lúc đang cầu nguyện… Ngày nay, các tiểu đệ và tiểu muội Chúa Giêsu tiếp tục lý tưởng sống của anh: họ lao động và sống giữa những người nghèo hèn nhất trong xã hội… Tất cả cuộc sống và sự âm thầm hiện diện của họ là một cố gắng làm một cái gì cho Chúa.

    Có những nhà truyền giáo rời bỏ quê hương để đi đến những nơi hoàn toàn xa lạ như Thánh Phanxicô Xaviê. Nhưng cũng có những nhà truyền giáo dâng cả cuộc đời hy sinh cầu nguyện và đau khổ của mình như Thánh Nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu. Có những nhà truyền giáo hùng hồn giao rảng như các tông đồ, nhưng cũng có những nhà truyền giáo âm thầm hiện diện và chia sẻ với những người nghèo khổ như Charles de Foucauld.

    Âm thầm hiện diện. Nhưng vẫn có thể chiếu sáng niềm tin yêu hy vọng: đó là mẫu người truyền giáo mà Giáo Hội tại Việt Nam đang cần hơn bao giờ hết. Những cuộc sống tử tế, hy sinh phục vụ, quên mình… vẫn là những lời rao giảng hùng hồn hơn bao giờ hết.

    Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & NguyenNThu