Hong Kong: Chính quyền Bắc Kinh không khoanh tay, liệu thế giới có khoanh tay?

“Chính quyền Bắc Kinh đã triển khai lực lượng đưa xe tăng và quân đội tới biên giới Hong Kong, gởi một thông điệp rõ ràng tới Hong Kong và thế giới là họ sẽ không khoanh tay ngôi nhìn dân Hong Kong tiếp tục biểu tình. Nếu công chúng trên thế giới cũng gởi một thông điệp mạnh mẽ rõ ràng như vậy tới chính quyền sở tại của họ và Bắc Kinh bằng cách cùng liên kết lên tiếng và xuống đường ủng hô Hong Kong thì có thể giúp dân Hong Kong tránh khỏi một Thiên An Môn phiên bản 2019.”
Liệu công chúng có khoanh tay ngồi chờ Hong Kong đổ máu để lên án, tưởng niệm và khóc thương?
Bình luận của Nhà báo Mạnh Kim với SBS Việt Ngữ.

TRUNG QUỐC – SỰ LỰA CHỌN KHÓ KHĂN TẠI HONGKONG!!!

TRUNG QUỐC – SỰ LỰA CHỌN KHÓ KHĂN TẠI HONGKONG!!!

Tập Cận Bình và Bộ chính trị Đảng Công sản Trung quốc đang đau đầu trước các lựa chọn tại Hongkong:

1- Nếu nhượng bộ dân Hongkong thì Tập Cận Bình sẽ mất mặt, uy tín cá nhân và uy tín của Đảng Cộng sản TQ đang dương dương tự đắc sẽ xuống đáy. Các phe phái chống đối Tập sẽ vin vào cớ này để gây áp lực khó, dễ cho quyền lực lãnh đạo suốt đời của Tập.

Với bản chất kiêu ngạo cộng sản thì việc Đảng cộng sản TQ nhượng bộ đám dân chúng chống đối hầu như là không bao giờ có trong lịch sử tồn tại của ĐCSTQ. Do vậy nếu Tập Cận Bình mà phá lệ này thì chẳng khác nào tự bội tro vào mặt. Còn nếu nhượng bộ Hongkong, chấp nhận bầu cử tự do, dân chủ thì HongKong sẽ thoát ra khỏi quĩ đạo độc tài của Trung Quốc. Các vùng khác như Đài Loan, Tây Tạng, Nội mông và nhiều vùng tự trị khác cũng sẽ nổi lên phản kháng đòi độc lập, Trung Quốc sẽ trở lên rối loạn. Cùng với các khó khăn kinh tế do cuộc chiến thượng mại với Mỹ đem lại thì nội bộ Đảng cộng sản TQ sẽ mất đoàn kết và phân hóa sâu sắc có khả năng dẫn tới sụp đổ chính quyền.

2- Nếu TQ đem quân đội vào Hongkong để đàn áp, gây ra một Thiên An Môn thứ hai thì TQ sẽ bị thế giới cô lập, nền kinh tế đang rệu rã của TQ sẽ bị Mỹ và phương tây cấm vận hoàn toàn, ngay lập tức. Mỹ sẽ mạnh tay cải tổ cái tổ chức WTO để đuổi cổ TQ ra khỏi tổ chức này để TQ không còn làm ăn buôn bán gì với thế giới nữa. Lụn bại về kinh tế vì bị cấm vận mọi mặt, cộng với chi phí lớn cho quân sự, anh ninh tại các vùng tự trị và Biển Đông sẽ kéo mức sống của 1,5 tỷ dân TQ rớt xuống mức thê thảm. Nội bộ phân hóa, kinh tế khủng hoảng, hơn một tỷ rưỡi người TQ sẽ có thể là chảo lửa nhấn chìm Đảng CSTQ, nguy cơ sụp đổ chính quyền còn cao hơn khả năng thứ nhất.

Thật là khó khăn cho Tập Cận Bình nếu cứ giữ nguyên thể chế chính trị độc tài hiện tại

3- Tuy vậy vẫn có lời giải tối ưu cho TQ để giải quyết mọi sự êm đẹp, hòa bình cho cả TQ và thế giới đó là: TQ phải chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài, chấp nhận đa nguyên, dân chủ để tiến tới bầu cử tự do dân chủ như mô hình các nước văn minh, tiên tiến trên thế giới. Biện pháp êm đẹp này được ví như cho Tập Cận Bình & ĐCSTQ uống thuốc độc tự sát…
——–
FB: Cao Sơn HD

Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: 1 person, crowd and outdoor

Cách mạng tháng Tám và ba điều xét lại

BAOTIENGDAN.COM
Cách mạng tháng Tám và ba điều xét lại Bởi AdminTD –
15/08/2019
Luật Khoa Võ Văn Quản 

Hơn 70 năm sau Cách mạng tháng Tám (August Revolution), bản chất của một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất trong lịch sử đương đại Việt Nam vẫn tiếp tục còn trong vòng tranh cãi giữa sử gia, học giả cũng như những nhà quan sát.

Một số những người phản đối chế độ cộng sản khẳng định việc Việt Minh thành công trong việc biến mình trở thành gương mặt chính thức cho giới cách mạng yêu nước tại Việt Nam chỉ là một tai nạn lịch sử (historical incident). Số khác, cho rằng Việt Minh đã “cướp cạn” thành tích của nhiều nhóm chí sĩ yêu nước, các nhà dân tộc chủ nghĩa khác trong hoạt động tiếp quản chính quyền sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng lực lượng Đồng minh. Phần còn lại thừa nhận rằng sự yếu kém về năng lực, thiếu thốn đường lối và tính thống nhất của hầu hết các chính đảng còn lại tại Việt Nam thời điểm đó khiến cho nhiều nhà yêu nước, trí thức cũng như người dân Việt Nam không còn lựa chọn nào khác để vừa chống Nhật vừa chống Pháp. Tuy nhiên, họ cũng khẳng định Việt Minh “treo đầu dê bán thịt chó” khi che giấu thân phận và mục tiêu “cộng sản” của mình.

Ngược lại, các nhà sử gia cộng sản thì ca ngợi một cách khá ái kỷ tài năng lãnh đạo và sự ủng hộ nhất nhất một lòng của nhân dân Việt Nam dành cho Việt Minh và đảng Cộng sản.

Bài viết này không nhằm phê phán hay phủ nhận những thành công của Việt Minh trong việc chuẩn bị, vận động và lan tỏa danh tiếng của mình kể từ thời điểm Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, từ đó dẫn đến vai trò đầu tàu của họ trong Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổng quát và trọn vẹn về lịch sử thời kỳ này hơn, tác giả xin giới thiệu tới bạn đọc Luật Khoa năm sự thật lịch sử từ các góc nhìn khác biệt, góp nhặt từ những nguồn khả tín khác nhau mà báo chí và tài liệu cách mạng Việt Nam thường sẽ không nhắc đến trong các tư liệu của họ.

1. Vai trò của tình báo Mỹ (OSS) trong sự “thành danh” của Việt Minh

Khi nhắc đến Việt Minh, một hội nhóm chính trị hoạt động để che giấu danh nghĩa của Đông Dương Cộng sản Đảng trước sự thù địch của nhiều chí sĩ và người dân tại Việt Nam, có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến người hậu thuẫn đằng sau của tổ chức này là Liên Xô hùng mạnh.

Tuy nhiên, thực tế là sự hỗ trợ của Liên Xô trước Cách mạng tháng Tám dành cho Việt Minh cực kỳ hạn chế. Trong thập niên 1930 – 1940, hầu hết những học trò ưu tú và cánh tay đắc lực nhất được Moscow đào tạo bài bản như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu… đều đã bị chính quyền thực dân Pháp xử tử. Dây nối cảm tình chính trị giữa Stalin với nhóm Marxist còn thoi thóp hoạt động tại Việt Nam không được như trước.

Không chỉ vậy, vào năm 1943, vì yêu cầu hợp lực với các quốc gia tư bản trong chiến tranh Thế giới thứ Hai, Stalin quyết định giải tán và ngừng tài trợ vô thời hạn cho các tổ chức thuộc Quốc tế Cộng sản (Comintern – mà Đông Dương Cộng sản Đảng là một tổ chức thành viên) như một động thái thiện chí ngoại giao, triệt tiêu những phản đối trong nội bộ cộng sản thế giới về việc hợp tác với hai quốc gia tư bản mà họ dốc sức phản diện hóa trước đây. Một cái giá quá rẻ đối với Stalin để nhận được sự hỗ trợ tài chính và quân sự thiết yếu từ phía Đồng minh.

Điều này khiến cho việc hợp tác với lực lượng có thiên hướng cộng sản tại Việt Nam không khó nuốt với chính quyền của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt cho lắm. Ở chiều ngược lại, Việt Minh lại là số ít những tổ chức chính trị “thực chiến” tại Việt Nam tỏ ra rất thiện chí và muốn thân Mỹ. Việt Minh không chỉ giúp đỡ quân đội Đồng minh (mà chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương) bằng cách gây rối (chứ khó lòng chiến đấu) với quân Nhật, họ còn giúp giải cứu và hỗ trợ một số phi công Hoa Kỳ có máy bay bị bắn rơi khi giao chiến với quân Nhật trong khu vực Đông Dương.

Vào tháng Bảy năm 1945, một nhóm đặc vụ của Văn phòng Chiến lược vụ Hoa Kỳ (American Office of Strategic Services – OSS), tiền thân của Cục Tình báo Trung ương (Central Intelligence Agency – CIA), nhảy dù xuống trụ sở đầu não của Việt Minh, tổ chức huấn luyện, đào tạo và trang bị cho lực lượng quân đội non trẻ vài chục người của tổ chức này. Thông tin còn ghi nhận rằng Hồ Chí Minh thời điểm đó đang ở giữa thời khắc sống chết do bệnh kiết lỵ và sốt rét hành hạ; và ông được cứu sống nhờ một sĩ quan y tế đi cùng OSS.

Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, Hồ Chí Minh và lực lượng chính trị dưới trướng ông có thể được xem là một đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, khi các đơn vị quân đội và lực lượng chính trị của Việt Minh tiến về Hà Nội, hộ tống họ không phải là các đại diện của Liên Xô, mà là các sĩ quan và đặc vụ OSS. Điều này khiến cho Việt Minh trở thành lực lượng chính trị Việt Nam duy nhất được một thành viên Đồng minh trung lập (Hoa Kỳ, mà không phải là Pháp hay Trung Hoa Dân Quốc) hậu thuẫn; nhờ vậy, họ càng trở thành một lực lượng chính trị có sức hút và dễ dàng được chấp nhận.

Sau đó, đặc vụ Archimedes Patti (1913–1998) được Hồ Chí Minh mời tư vấn và hỗ trợ soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ông này vô cùng bất ngờ trước việc ông Hồ không hề có ý định nhắc đến xung đột xã hội hay đấu tranh giai cấp – những dấu hiệu cơ bản của một bản tuyên ngôn cộng sản. Nhờ đó, chính phủ lâm thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng có thêm nhiều cảm tình của Hoa Kỳ.

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp hình cùng các sĩ quan OSS. Ảnh: US Council on Foreign Relation.

Và trong thời điểm chuyển giao trật tự chính trị thế giới mà Hoa Kỳ tiếp quản vị trí thống lĩnh phương Tây của Vương Quốc Anh, sự ủng hộ của OSS càng khiến cho các tiếng nói phản đối Việt Minh trở nên rất ít giá trị và tính chính danh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng được tăng cường.

2. Thành tích kém cỏi của đảng Cộng sản trước tháng Ba năm 1945 

Dù tự nhận là lực lượng duy nhất có năng lực lãnh đạo từ năm 1930 cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, thật ra thành tích đấu tranh của Việt Minh và Đông Dương Cộng sản Đảng rất kém trong giai đoạn từ những năm 1941 đến tận tháng Ba năm 1945. Hiện tượng này có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố từ khách quan cho đến chủ quan.

Về mặt chủ quan, hầu hết hệ thống chính trị cơ sở của Đông Dương Cộng sản Đảng của Việt Minh gần như đã bị tận diệt từ hai cuộc đàn áp trước đó: lần thứ nhất là giai đoạn 1925 – 1931, sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thất bại; và tiếp đó là giai đoạn 1934 – 1936, sau khi chính phủ có xu hướng xã hội chủ nghĩa Mặt trận Bình Dân (Popular Front) ở Pháp sụp đổ và các hoạt động đàn áp chính trị ở thuộc địa được cho phép tiếp tục thực hiện.

Về mặt khách quan, thành viên chính thức của Việt Minh tại thời điểm chiến tranh kết thúc chỉ khoảng trên dưới 5.000 người trên toàn Việt Nam, và hoạt động mạnh mẽ – có tổ chức nhất chỉ trong phạm vi vùng rừng núi phía Bắc, gần biên giới Trung Quốc. Điều này khiến cho ảnh hưởng thực tế của Việt Minh lên đời sống chính trị của đa số người dân Việt Nam gần như là kiến và voi nếu so với tương quan của nhiều chính đảng và tổ chức tôn giáo – chính trị có tiếng nói khác như Cao Đài, Hòa Hảo hay Quốc Dân Đảng.

Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận là kể từ khi Nhật đảo chính Pháp và nhu cầu hỗ trợ hậu cần của quân Nhật được tăng cường khiến nạn đói ở miền Bắc trở nên khốc liệt hơn, Việt Minh với các hoạt động kêu gọi đánh phá kho thóc, phản kháng vũ trang và xây dựng chính quyền tự quản địa phương dần trở thành một cái tên quen thuộc đối với nông thôn miền Bắc Việt Nam. Những khu vực mà nạn đói giết chết nhiều nông dân nhất như Nam Định, Thái Bình cũng là nơi mà sự ủng hộ dành cho Việt Minh lên cao nhất.

Việt Minh cũng nhận được điều kiện chính trị thuận lợi gián tiếp bởi sự thụ động của nhiều đảng phái chính trị ở miền Bắc trong việc thừa nhận và ứng phó với nạn đói lan rộng. Chính phủ Trần Trọng Kim thì không có động thái nào thiết thực trong việc xử lý công việc mà đáng lẽ họ phải làm.

3. Ám sát chính trị 

Trong môi trường đấu tranh chống thực dân và ngoại xâm, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam ít muốn làm nhất là giết chóc lẫn nhau. Tuy nhiên, với tư tưởng đấu tranh xã hội, và kẻ thù lớn nhất của các lực lượng cộng sản là kẻ thù giai cấp, Việt Minh là lực lượng thường xuyên ra tay ám sát và giở thủ đoạn chính trị tàn ác nhất nhắm vào những người cùng dòng máu, màu da với mình.

Theo ghi nhận của nhiều tài liệu được dẫn dưới đây, lệnh ám sát mà Việt Minh ký không chỉ dành cho những đối thủ chính trị trực tiếp, nguy hiểm, mà còn dành cho bất kỳ ai có ảnh hưởng chính trị nhưng dám lên tiếng chống đối mình.

Một trong ví dụ dễ nhớ nhất là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi, anh trai cả trong gia đình của Ngô Đình Diệm, bị lực lượng Việt Minh ở Trung bộ ám sát ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Bản thân Ngô Đình Diệm, trong giai đoạn 1950 – 1953 cũng nằm trong danh sách ám sát sau khi ông này chính thức lên tiếng phản đối Pháp – chính quyền Bảo Đại và cả Việt Minh; từ đó đề xuất hình thành nên Lực lượng thứ Ba (The Third Force Movement) nhằm chống lại cả chủ nghĩa thực dân của Pháp và chủ nghĩa cộng sản của Việt Minh.

Trở lại năm 1945, trong công trình nghiên cứu “Urban Guerrilla Warfare” của giáo sư khoa học chính trị Anthony James Joes của Đại học Pennsylvania, ông khẳng định các nhà lãnh đạo của phong trào yêu nước và dân chủ dân tộc chủ nghĩa Việt Nam đã phải đối mặt với chiến thuật “chặt đầu rắn” rất hiệu quả do Trường Chinh vạch ra và giải thích trong tác phẩm có tên “Primer for Revolt”. Hiểu đơn giản là ám sát những nhà lãnh đạo phong trào yêu nước phi cộng sản (hoặc phi Stalinist?).

Ảnh chụp Tạ Thu Thâu bị cảnh sát Pháp bắt sau một cuộc biểu tình ở Paris. Ông là lãnh đạo cách mạng Việt Nam có tầm ảnh hưởng cho đến khi bị Việt Minh ám sát. Ảnh: Nguồn lưu trữ Préfecture de police – Pháp

Chiến thuật này đặc biệt được áp dụng mạnh mẽ và cực kỳ thường xuyên tại miền Nam Việt Nam sau 1945, nơi mà Việt Minh không có được sự ủng hộ lớn như tại miền Bắc và phải tranh giành ảnh hưởng với các tổ chức chính trị khác. Nạn nhân của chiến thuật này có thể kể đến Huỳnh Phú Sổ của đạo Hòa Hảo, các lãnh đạo quan trọng của Mặt trận Thống nhất Quốc gia, các lãnh đạo của phe Marxist theo chủ nghĩa Trotsky như Tạ Thu Thâu, Hình Thái Thông, Trần Văn Thạch, Trần Đình Minh, .v.

Ngay cả các học giả cộng sản thế giới cũng phải ghi nhận và lên án hành vi của Việt Minh; họ thường nhắc các cuộc thảm sát – thanh trừng sau Cách mạng tháng Tám là Stalinist Massacres” – Những cuộc thảm sát của phe thân Stalin.

***

Lịch sử đã diễn ra. Và Việt Minh được lịch sử lựa chọn là người chiến thắng của Cách mạng tháng Tám cũng như các cuộc đấu tranh nội bộ sau đó. Đó là điều không thể chối cãi. Tuy nhiên, hiểu rõ thêm về cách thức và nguồn gốc của những chiến thắng này là điều nên làm. Đến cuối cùng, lịch sử sẽ tái diễn.

Bạn đọc có thể đọc và kiểm chứng, tìm kiếm thêm thông tin tại các nguồn khả tín sau đây:

LỬA TRÊN MẶT ĐẤT

LỬA TRÊN MẶT ĐẤT 

Tin Mừng hôm nay là lời tâm sự của Đức Giêsu, Ngài khẳng định mục đích của đời mình là ném lửa trên mặt đất và Ngài mong muốn phải chi lửa ấy đã bùng lên.  Lửa Đức Giêsu mang lại là lửa nào?  Phải chăng là thứ lửa trời đã thiêu hủy Sôđôma, hay thứ lửa mà Giacôbê và Gioan định sai xuống để thiêu hủy một ngôi làng Samari (Lc 9,55)?  Phải chăng là thứ lửa mà cây không trái (Mt 3,10), hay những cành nho khô héo bị quăng vào (Ga 15, 6)?  Lửa này có phải là lửa kinh khủng của ngày phán xét?

Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Đức Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv 1,5).  Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).  Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu.  Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.

Trái đất này càng lúc càng nóng lên.  Nhưng lòng con người lại nguội lạnh như hai môn đệ Emmau.  Chúng ta cần cảm thấy chút lửa ấm (Lc 24,32) của người đồng hành xa lạ, nói cho ta về Lời Chúa.  Chúng ta cần cảm thấy ngọn lửa trong tim như Giêrêmia, thúc bách ông phải nói Lời Chúa dạy (x. Gr 20,9).

Đức Giêsu đã bắt đầu nhóm lửa trên địa cầu.  Đừng làm tắt đi ngọn lửa ấy, nhưng hãy để nó lan ra.  Lửa thiêu hủy những cằn cỗi.  Lửa thanh lọc những ô nhơ.  Lửa làm ấm lại cõi lòng băng giá.  Lửa sáng soi trên bước đường kiếm tìm sự thật. Chúng ta cần làm cho mong muốn của Đức Giêsu thành tựu.  Nhưng trước hết chúng ta phải là người mang trong tim ngọn lửa của Thánh Thần tình yêu.

Đức Giêsu chia sẻ cho ta điều đang đè nặng trên Ngài.  Ngài linh cảm về thử thách lớn lao Ngài sắp chịu.  Đúng là Ngài đang lên đường đi gặp nó.  Ngài gọi đó là Phép Rửa mà Ngài phải chịu.  Đức Giêsu can đảm đón nhận Phép Rửa đáng sợ này.  Ngài thấy mình sẽ bị nhận chìm thật sâu trong đó.

Đức Giêsu tiếp tục nói điều phải nói, làm điều phải làm.  Ngài dám trả giá cho sự trung tín của mình.  Nỗi khổ đau và cả cái chết là điều không thể tránh khỏi, nhưng điều đó chẳng làm Ngài chùn bước.

“Các anh có thể chịu Phép Rửa mà Thầy sẽ phải chịu không?”  Ngài đã hỏi các con ông Dêbêđê như thế (Mc 10,38), và Ngài cũng hỏi từng người chúng ta như thế.

Chẳng có Phép Rửa nào khác ngoài Phép Rửa Ngài đã chịu.  Chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Ngài đã đi.  Tin Mừng Đức Kitô dành cho người hiền hòa, chứ không nhu nhược.  Chúng ta phải có cùng một mong muốn và khắc khoải như Giêsu.

****************************

Lạy Chúa Giêsu,

Xin cho chúng con ngọn lửa trong Trái Tim Chúa, ngọn lửa của tình yêu Cha và nhân loại.

Xin làm tim con ấm lại mỗi ngày, nhờ được nghe Chúa nói như hai môn đệ về Emmau, và được Chúa nuôi bằng bánh ban sự sống.

Xin soi sáng chúng con bằng ngọn lửa rực rỡ mỗi khi chúng con cầu nguyện hay quyết định.

Xin thanh luyện chúng con bằng ngọn lửa hồng của những thất bại đắng cay trên đường đời.

Ước gì chúng con luôn có lửa nhiệt thành để hết lòng phụng sự Nước Chúa, lửa tình yêu để vượt qua những hận thù đố kỵ.

Lạy Chúa Giêsu, thế giới hôm nay vẫn bị tối tăm, lạnh lẽo đe dọa.

Xin ban cho chúng con những lưỡi lửa để chúng con đi khắp địa cầu loan báo về Tình Yêu và gieo rắc Tình Yêu khắp nơi.  Amen!

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

(Trích từ ‘Manna’)

Mỹ “quan tâm sâu sắc” việc Trung Quốc chuyển quân dọc biên giới Hồng Kông

Mỹ “quan tâm sâu sắc” việc Trung Quốc chuyển quân dọc biên giới Hồng Kông

Một phát ngôn viên của Bộ Ngại giao Hoa Kỳ hôm 14/8 bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến việc lực lượng an ninh Trung Quốc chuyển quân gần biên giới với Hồng Kông đồng thời hối thúc Bắc Kinh tôn trọng quyền tự trị của người dân nơi này.

“Hoa Kỳ quan tâm sâu sắc bởi các báo cáo về việc lực lượng bán quân sự Trung Quốc chuyển quân dọc biên giới Hồng Kông.

Hoa Kỳ mạnh mẽ đề nghị Trung Quốc tuân thủ cam kết của mình trong Tuyên bố chung Trung-Anh nhằm cho phép Hồng Kông thực hiện quyền tự chủ cao độ”, hãng tin AFP dẫn tuyên bố của phát ngôn viên không nêu tên nói.

Một ngày sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump có phát ngôn quan tâm đến các cuộc biểu tình của người Hồng Kông, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao lên tiếng lo ngại về “sự xói mòn liên tục” quyền tự trị của Hồng Kông và bày tỏ sự ủng hộ “trung thành” đối với quyền tự do ngôn luận và hội họp hòa bình trên vùng lãnh thỗ này.

Một Thượng nghị sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ hôm 13/8 cảnh báo Trung Quốc rằng, Hồng Kông có thể mất tình trạng thương mại đặc biệt của Hoa Kỳ nếu Bắc Kinh can thiệp trực tiếp để đàn áp các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ngày càng có xu hướng bạo lực ở Hương Cảng.

Một luật của Hoa Kỳ năm 1992 dành sự ưu đãi cho Hồng Kông trong các vấn đề thương mại và kinh tế so với Trung Quốc.

Các lĩnh vực được đối xử đặc biệt bao gồm thị thực, thực thi pháp luật và đầu tư.

Không có mô tả ảnh.

Đường sắt Cát Linh – Hà Đông là một sản phẩm….

V Phung Phung
Do Thi Van Anh

Đường sắt Cát Linh – Hà Đông là một sản phẩm mà bọn khốn nạn Trung Quốc kết hợp với bọn Việt gian bán nước tạo ra nằm chềnh ềnh giữa thủ đô đang thách thức và sỉ nhục nhân dân Việt Nam.

Đây đúng là cục xương lơ lửng ở cổ họng, nuốt không nổi mà nhả ra cũng không xong. Chúng ta bỏ ra một số tiền khổng lồ, có thể gần bằng tiền làm tàu điện ngầm nhưng chỉ nhận được một sản phẩm vừa lạc hậu vừa quái thai, dị dạng. Có một số nguyên nhân khiến tuyến đường sắt này không biết đến bao giờ mới hoàn thành, đó là:

1. Thiếu tiền: Dự án nằm ngoài kiểm soát của phía VN nên nhà thầu TQ liên tục báo đội vốn mà vốn lại đi vay nên phải “năn nỉ” bọn Tàu để chúng cho vay thêm, rất mất thời gian để bổ sung vốn.

2. Nhà thầu không có kinh nghiệm: Do dự án này vay ODA của Tàu nên chủ nợ lựa chọn hình thức EPC, chúng chỉ định nhà thầu chưa từng có kinh nghiệm quản lý dự án lớn và chưa từng làm đường sắt trên cao bao giờ, vì thế, giờ chúng có muốn làm cho xong cũng khó vì không giải được bài toán về kỹ thuật và an toàn khi vận hành.

3. Ký kết hợp đồng bất lợi: Phía VN đã bị hớ hoặc ký theo kiểu “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi” nên giờ bọn Tàu có kéo dài dự án đến 100 năm cũng chẳng làm gì được chúng vì không có chế tài xử lý khi vi phạm, đây là thứ lỗi sơ đẳng nhất khi ký hợp đồng mà không hiểu tại sao có thể xảy ra được. Đau là tiền nợ chúng vẫn thu đều cả gốc lẫn lãi mà dự án thì chưa biết bao giờ mới xong.

Thủ tướng chính phủ đã nhiều lần ý kiến đến lãnh đạo cao nhất của TQ để họ chỉ đạo các nhà thầu sớm hoàn thành dự án tránh ảnh hưởng đến “tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai nước” nhưng phía TQ có vẻ chúng phớt lờ, chúng không thèm quan tâm và giữ thể diện quốc gia.

Dự án này là quả đắng, rất đắng. Tuy nhiên chính phủ cần mạnh dạn dừng dự án này, phá bỏ và để lại 1 đoạn làm bảo tàng. Song song với đó là cấm cửa bọn Tàu tham gia các dự án ở Việt Nam, một việc nữa cũng không thể không làm là lôi cổ những thằng Việt gian khốn nạn đã rước cái dự án này về làm khổ nhân dân ra xét xử và cũng để nhân dân phỉ nhổ chúng.

Ls. Nguyen Danh Hue

Image may contain: outdoor

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời

Hong Kong: chúng ta sắp chứng kiến điều gì?

Hong Kong: chúng ta sắp chứng kiến điều gì?

Hôm qua phi trường quốc tế tại HK đã tê liệt hoàn toàn, cuộc biểu tình kéo dài 10 tuần tại đây đã tăng thêm nhiệt và đã thay đổi định hướng ban đầu.

Không còn là yêu cầu hủy Luật dẫn độ hay đòi bà Lâm từ chức nữa mà đã trở thành mạnh mẽ, cương quyết: “Giải phóng Hong Kong, cuộc cách mạng của thời đại chúng ta.”

Cũng hôm qua, Dương Quang, phát ngôn viên của văn phòng đại diện chính phủ Trung Quốc tại Hồng Kông và Macao, phát biểu «một nhóm thiểu số tấn công cảnh sát bằng bom chai xăng và đó là dấu hiệu khủng bố», đồng thời có tin xe tăng TQ đã được điều đến Thâm Quyến, giáp giới HK.

Chúng ta rồi sẽ chứng kiến chuyện gì sắp xảy ra ở HK:
1. Một thắng lợi vẻ vang, một khúc khải hoàn cho cả nhân loại nếu HK đòi được quyền tự quyết.
2. Một khúc bi tráng đầy máu nếu Tập Cận Bình noi gương Đặng Tiểu Bình đã từng làm tại Thiên An Môn.
3. Ngọn lửa đấu tranh sẽ hạ nhiệt khi TQ vừa kiểm soát vừa câu giờ. Không quá bạo lực nhưng cũng không nhượng bộ.

Giả định 1 có vẻ như một giấc mơ hoàn hảo, mà đời thực lại khác giấc mơ. Giả định 2 thì đau thương quá cho nên tôi, dù không muốn, vẫn nghĩ giả định 3 thực tế hơn!

Tất nhiên tôi không cho rằng người HK sẽ đầu hàng “số phận”, cũng như tôi tin rằng người VN sẽ không đầu hàng. Những thay đổi rồi sẽ đến, những hòn than âm ỉ rồi sẽ bùng lên!

Các giá trị Dân chủ, Tự do là con đường tiến hóa của nhân loại, những thể chế độc tài đang tồn tại chỉ làm chậm nó, chớ không thể hủy diệt nó!

Fb Nguyễn Đình Bổn

Image may contain: 5 people, text

VIỆT NAM NGUY CẤP?! (PHẦN 1)

VIỆT NAM NGUY CẤP?! (PHẦN 1)
___________________________

Nhà báo Chu Vĩnh Hải cho hay: “Các sĩ quan cao cấp của hải quân, cảnh sát biển đang đổ về Sài Gòn để dự một cuộc họp quan trọng diễn ra vào ngày 14-8 để tiếp tục bàn về bãi Tư Chính. Chắc chắn, bãi Tư Chính hiện đang ở trong trạng thái căng thẳng. Rất có thể tàu thăm dò địa chấn Haiyang Dizhi 8 của Trung Quốc đã quay trở lại bãi Tư Chính. Cũng có thể là, các tàu hải cảnh và kiểm ngư của Trung Quốc đang tập trung nhiều ở bãi Tư Chính”, một nguồn tin cực kỳ khả tín vừa cho tôi biết vào lúc 10 giờ sáng ngày 13-8…”

Tình trạng của người CSVN hiện rất nguy nan, đặt trong bối cảnh phức tạp của thế giới, đặc biệt cuộc thương chiến Mỹ – Hoa, cho đến nay đủ căn cứ để khẳng định: Không có một thỏa thuận tốt đẹp nào diễn ra cả. Nhất là Hong Kong đang “mất dần và mất hẳn” “tài sản Tự Do” vốn dĩ họ thụ hưởng cả trăm năm qua, cho thấy rất, rất và rất cao!!!

Một nguyên tắc đối ngoại của thế giới, cho đến nay vẫn sừng sững, không thể chối bỏ: KHÔNG QUỐC GIA NÀO CAN THIỆP VÀO NỘI BỘ QUỐC GIA KHÁC CHO ĐẾN KHI QUỐC GIA CẦN GIÚP ĐỠ LÊN TIẾNG.

Cần nói rõ như vậy, để người dân Việt Nam không nên suy nghĩ “viển vông”…

Quý độc giả bình tâm và thử đặt bản thân là người CSTQ, thử hỏi quý độc giả sẽ làm gì, với những bằng chứng “sờ sờ” trước mắt, như; Công Hàm 1958, Hội nghị Thành Đô, Hiệp định phân định giữa VN và TQ về biên giới trên bộ, trên biển v.v… đặc biệt là những khoản gọi là “viện trợ” [1] của CSTQ dành cho CSVN để cưỡng chiếm VNCH với mưu đồ thôn tính trọn VN, cũng như những khoản tiền khác mà người dân VN không tài nào hay biết ?!

Cả thế giới không còn xa lạ với bản chất lật lọng, gian manh, nuốt lời, phản phé v.v… của CSVN, thế thì có lạ gì, năm xưa Đặng Tiểu Bình “dạy cho VN một bài học” để gây ra 2 cuộc chiến thảm khốc tại biên giới phía Bắc và Tây Nam ???

Nói như vậy để quý độc giả thấy rõ vấn đề hiện nay: Đó là câu chuyện của 2 thằng ăn cướp “đang xử nhau” mà khốn khổ nhất là cả dân tộc Việt Nam đang phải gánh chịu hậu quả đó, với tai ương lừng lửng: MẤT NƯỚC!!!

Trương Tấn Sang trong tư cách Chủ tịch Nước dám khẳng định [2]: “Đảng, Nhà nước ta KHÔNG BAO GIỜ BÁN NƯỚC cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo” – do chính đài BBC đưa tin vào ngày 14/12/2012

Vậy, hơn bao giờ hết, yêu cầu Trương Tấn Sang một lần nữa làm cho rõ điều mà chính hắn ta tuyên bố!

(Còn nữa)
______________

Nguyễn Ngọc Già

https://www.bbc.com/vietnamese/world-48051722

https://www.bbc.com/…/vietnam/2012/12/121214_sang_army.shtml

Image may contain: 2 people, people standing

ĐỂ LÊN TRỜI CẦN BẮT CHƯỚC CÁC NHÂN ĐỨC CỦA MẸ

ĐỂ LÊN TRỜI CẦN BẮT CHƯỚC CÁC NHÂN ĐỨC CỦA MẸ

Sống trên đời ai cũng có một người mẹ.  Người mẹ đó không chỉ sinh ra chúng ta mà còn yêu thương và nuôi dạy chúng ta lớn lên thành người.  Vì vậy, qua mọi thời, con người không ngớt lời ca ngợi công ơn sinh thành dưỡng dục của người mẹ.  Con dân Nước Việt cũng có nhiều câu ca dao tục ngữ, để nói lên tình yêu vô bờ bến của người mẹ:

Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại,

tình yêu thương hào phóng đến khôn cùng;

Mênh mông bát ngát đại dương,

Cũng không sánh được tình thương mẹ hiền.

Nhưng cho dầu có dùng hết ngôn ngữ trần gian để ca tụng tình mẹ, thì cũng không thể nào diễn tả hết:

Ngôn ngữ trần gian khờ dại quá,

Đựng sao đầy hai tiếng: Mẹ ơi!

Trong đức tin Công giáo, mỗi người kitô hữu chúng ta có chung một người Mẹ, đó là Đức Maria.  Công ơn của Mẹ Maria đối với mọi người không những không thua kém người mẹ trần thế mà còn gấp ngàn lần.  Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh và là Mẹ của mỗi người chúng ta.  Nhờ Mẹ, chúng ta có Đức Giêsu là Đấng Cứu Chuộc loài người.  Nhờ Mẹ chúng ta có tất cả trong đức tin: Được làm người Công giáo, được lãnh nhận các Bí tích, được có nhiều cơ hội để lo phần rỗi hầu ngày sau được về Thiên đàng.

Mẹ được Thiên Chúa ban cho 4 đặc ân cao cả: Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, đặc ân Đồng trinh trọn đời, đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa và đặc ân Hồn Lẫn Xác Lên Trời.  Đối với đặc ân Hồn Xác Lên Trời đã được truyền thống Giáo hội và các Kitô hữu tôn kính từ xa xưa, nhưng mãi tới ngày 01 tháng 11 năm 1950, Đức Giáo hoàng Piô XII mới tuyên bố thành tín điều.  Mặc dầu trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói rõ về đặc ân này, nhưng nếu chúng ta để ý thì chúng ta vẫn thấy đặc ân Mẹ Lên Trời cả hồn lẫn xác ẩn chứa trong nhiều đoạn Kinh Thánh.  Chẳng hạn, lời thiên thần chào Mẹ “Kính chào Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi người phụ nữ.” Hay lời ca tụng của bà Êlizabét: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1, 42).  Rồi, lời ca tụng Thiên Chúa của Đức Mẹ trong bài Magnificat: “Từ nay muôn đời sẽ khen rằng tôi có phúc, bởi Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao cả.” (x. Lc 1,48-49).  Mặt khác, bình thường chúng ta cũng có thể dễ chấp nhận đặc ân này.  Bởi vì, thân xác chết là do tội lỗi.  Nhưng Đức Maria không hề mắc tội Tổ tông truyền và tội riêng.  Do đó, thân xác Mẹ không bị hủy hoại tiêu tan.

Hơn nữa, các thánh và nhiều bậc thông thái trong Giáo hội cũng đã từng quả quyết về việc Đức Mẹ được đặc ân lên trời cả hồn lẫn xác.  Thánh Đamascênô tiến sĩ quả quyết: “Vì Đức Mẹ đã được sinh con mà vẫn trinh nguyên, thì cần thiết là sau khi qua đời, xác Đức Mẹ cũng phải được bảo tồn nguyên vẹn.”  Cha Ađômêô thì nói rằng: “Thân xác Đức Mẹ không hề bị hư nát vì đã kết hợp với linh hồn và đã được đầy ơn.”

Ngày lễ hôm nay, cùng với Giáo hội, chúng ta tuyên xưng niềm tin hồn xác lên trời của Mẹ.  Đồng thời, chúng ta cùng cảm tạ Thiên Chúa vì đã thưởng công Mẹ hồn xác lên trời.  Mặt khác, đây là dịp nhắc nhở chúng ta rằng, quê hương chúng ta ở trên trời.  Mẹ đã lên trời, đó là niềm hy vọng để mỗi người chúng ta tiếp bước theo sau.  Nhưng để được lên trời với Mẹ chúng ta phải cố gắng sống như Mẹ, đi con đường Mẹ đã đi.  Sống như Mẹ, đi con đường Mẹ đã đi đó chính là noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ:

Thứ nhất, chúng ta bắt chước nhân đức khiêm nhường của Mẹ: Sau lời sứ thần truyền tin, Đức Mẹ đã khiêm tốn thưa với Thiên thần rằng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.” (Lc 1,38).  Từ đó, Mẹ sống tinh thần khiêm nhường thẳm sâu trước mặt Chúa và mọi người: Khi Bà Êlizabét ca ngợi Mẹ, Mẹ đã qui hướng tất cả những gì mình có là do tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa: “Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn;”(Lc 1,49).  Mẹ sống âm thầm trong vai trò làm vợ và làm mẹ tại mái ấm gia đình Nagiarét đến nỗi không ai biết Mẹ là Mẹ của Thiên Chúa; Khi Đức Giêsu được nổi danh do lời giảng dạy và các phép lạ Ngài làm, Đức Mẹ vẫn sống âm thầm và ẩn danh… Tất cả điều đó cho chúng ta thấy nhân đức khiêm nhường của Mẹ.  Đó là mẫu gương cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Thứ hai, chúng ta bắt chước Mẹ sống tin tưởng và phó thác vào Chúa: Sau khi thưa xin vâng, Mẹ trở thành Mẹ của Chúa Giêsu.  Bào thai trong cung lòng của Mẹ ngày càng lớn lên.  Nhưng không ai hiểu về nguyên nhân, kể cả Thánh Giuse.  Bằng chứng là Thánh Giuse định tâm bỏ Mẹ mà trốn đi.  Rồi, người thân và làng xóm láng giềng, chắc chắn không thiếu những lời đàm tiếu, thị phi.  Vậy mà Mẹ vẫn tin tưởng phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa.  Đúng như lời bà Thánh Êlizabét ca tụng Mẹ: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).  Sự tin tưởng và phó thác vào Chúa của Mẹ là mẫu gương cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Thứ ba, chúng ta bắt chước Mẹ để sống hiền lành và nhịn nhục: Từ khi cưu mang Đức Giêsu cho đến khi Con Mẹ chịu chết treo trên thập giá, Đức Mẹ phải đối diện với biết bao đau khổ: Đau khổ khi nghe ông Simêon nói tiên tri về Mẹ và Hài Nhi; Đau khổ khi đưa Hài Nhi trốn sang Ai Cập khỏi tay Hêrôđê lùng bắt; Đau khổ khi lạc mất Con ở Jêsusalem trong ba ngày; Đau khổ khi gặp Đức Giêsu vác Thập giá trên đường đến Núi Sọ; Đau khổ khi thấy Đức Giêsu bị đóng đinh; Đau khổ khi chứng kiến việc tháo xác Đức Giêsu xuống khỏi thập giá; Đau khổ khi phải chứng kiến việc chôn xác Đức Giêsu trong mồ.  Nhưng trong khi chịu đựng những đau khổ đó, Đức Mẹ không hề trách móc kêu la một lời nào.  Sự hiền lành và nhịn nhục của Mẹ là mẫu gương cho tất cả mọi người chúng ta noi theo.

Thứ tư, chúng ta bắt chước Mẹ để hết lòng yêu mến Chúa: Lòng yêu mến Chúa của Mẹ được thể hiện qua những việc tiêu biểu như:  Ba tuổi Mẹ đã dâng mình trong đền thờ; Khi Thiên thần đến truyền tin cũng là lúc Mẹ đang đắm chìm trong lời kinh nguyện; Mẹ thưa “Xin Vâng” để cộng tác với chương trình cứu độ của Thiên Chúa; Hơn ba mươi năm Mẹ nuôi nấng chăm sóc Đức Giêsu; Mẹ chạy đôn đáo tìm cho bằng được khi Đức Giêsu đi lạc trong đền thờ…  Tất cả những thái độ trên đều thể hiện một lòng yêu mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự của Mẹ.  Đó là mẫu gương cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Thứ năm, chúng ta bắt chước Mẹ để sống yêu thương hết mọi người: Vì yêu thương nhân loại nên Mẹ đã chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa, nhờ đó nhân loại được cứu chuộc.  Vì yêu thương nên Mẹ đã vội vã lên đường thăm bà Êlizabét để chia sẻ niềm vui có Chúa và để giúp đỡ bà chị họ trong những ngày thai nghén sinh nở.  Vì yêu thương nên Mẹ đã cầu bầu cùng Đức Giêsu làm phép lạ biến nước thành rượu ngon để cứu gia chủ khi họ hết rượu.  Vì yêu thương nên khi đã về trời Mẹ vẫn hiện ra đây đó trên thế giới để ủi an nâng đỡ con cái loài người…  Đó là mẫu gương yêu người cho tất cả mỗi người chúng ta noi theo.

Như vậy, Đức Mẹ được lên trời cả hồn lẫn xác không chỉ nhờ những đặc ân Thiên Chúa ban mà còn nhờ những nhân đức mà Mẹ ra sức rèn luyện.  Chúng ta muốn được lên Thiên đàng phải đi con đường Mẹ đã đi, phải sống như Mẹ đã sống, đó là biết noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ.

Lạy Thiên Chúa là nguồn Tình Yêu, Chúa đã cho Mẹ hồn xác lên trời.  Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, xin giúp chúng con biết sống làm sao để một ngày kia cũng được hưởng hạnh phúc trên Trời với Mẹ.  Amen.

 Lm. Anthony Trung Thành

From Langthangchieutim

Trần Bắc Hà chết do tuyệt thực hay bị diệt khẩu?

Trần Bắc Hà chết do tuyệt thực hay bị diệt khẩu?

Phạm Chí Dũng/Người Việt

Trần Bắc Hà, cựu chủ tịch Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV), và được cho là đàn em của cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. (Hình: Nhịp Cầu đầu Tư)

Một bài viết mang tựa đề rất ấn tượng “Sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà, trách nhiệm của thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục Trưởng C03, Bộ Công An và các điều tra viên có liên quan” của một tác giả ẩn danh hiện ra trên mạng xã hội vào đầu Tháng Tám, 2019 – xảy ra gần như đồng thời với thời điểm “lên tiếng” của phát ngôn viên Bộ Công an là Lương Tam Quang về “cơ quan cảnh sát điều tra (Bộ Công An) đã phối hợp với Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc Phòng xác định nguyên nhân, hiện chưa có kết quả” – đã vô hình trung tiết lộ nhiều dấu hiệu và dấu vết mang “mùi” gấu ó nội bộ.

Từ sự mô tả của bài viết trên về quá trình tạm giam Trần Bắc Hà từ Trại giam T16 của Bộ Công An, sau đó chuyển sang Trại 771 của Cục Điều Tra Hình Sự Bộ Quốc Phòng, việc Trần Bắc Hà bị đối xử rất thiếu “nhân quyền” và sau đó phải tuyệt thực đến chết, cùng tên và chức danh một số điều tra viên phụ trách vụ án Trần Bắc Hà chi tiết đến mức cứ như thể tác giả là người trong cuộc, tận mắt nhìn thấy toàn cảnh vụ Trần Bắc Hà đã chết như thế nào…

Có thể xác định gần như chắc chắn là bài viết này được đạo diễn, viết ra và loan tải công khai trên mạng xã hội bởi một số, nếu không muốn nói là một thế lực chính trị trong nội bộ đảng. Hiện tượng này đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong khoảng một thập niên qua và đã dẫn đến một kết luận như đinh đóng cột rằng, chỉ có những tác giả nằm sâu trong nội bộ đảng mới có được thông tin sắc đến thế.

Một khi bài viết trên có nguồn tin từ nội bộ đảng, có thể cho rằng tính xác cứ của một số thông tin trong bài viết này là đáng tham khảo hoặc đáng tin cậy.

Hình thức thông tin này cũng rất giống cách thức đưa tin của trang mạng Chân Dung Quyền Lực về Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương Nguyễn Bá Thanh trong những ngày gần đất xa trời vào cuối năm 2014, đầu năm 2015 (bệnh viện ở Mỹ nơi ông Thanh điều trị, tình trạng sức khỏe của ông Thanh, số hiệu chuyến bay và ngày giờ chuyến bay đưa ông Thanh về Đà Nẵng, cái chết thực thể của ông Thanh trong lúc báo chí nhà nước vẫn ra rả dẫn lời quan chức quản lý y tế về “tau khỏe mà, có chi mô”…).

Hoặc cũng khá giống với cách thức đưa tin của một vài trang mạng xã hội về Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh (đi chữa bệnh ở Pháp, chuyến bay về Việt Nam, nhân vật đóng thế Phùng Quang Thanh…).

Việc kiểm nghiệm lại thông tin của trang mạng Chân Dung Quyền Lực sau khi Nguyễn Bá Thanh được chính quyền thông báo chính thức qua đời, cũng như kiểm nghiệm lại thông tin mạng xã hội sau khi Phùng Quang Thanh chính thức “biến mất” khỏi chính trường kể từ khi trở về từ Pháp, đã cho thấy những thông tin trên mạng xã hội là cơ bản phù hợp với thực tế diễn biến của hai vụ việc đình đám đó.

Nhưng vào lần này, có sự khác biệt cơ bản giữa một kết luận rất quan trọng của bài viết “Sự thật cái chết của Trần Bắc Hà…” của tác giả ẩn danh với những gì xảy ra ngay sau cái chết này.

Tuyệt thực hay bị diệt khẩu?

Bài “Sự thật cái chết của Trần Bắc Hà…” đã chỉ xoáy vào trách nhiệm của Bộ Công An đối với cái chết của Trần Bắc Hà mà không hề nói đến trách nhiệm của Bộ Quốc Phòng, dù Trần Bắc Hà chết trong trại tạm giam 771 của Bộ Quốc Phòng chứ không phải trong trại tạm giam của công an.

Vì sao thế? Phải chăng tác giả, hoặc nhóm tác giả của bài viết này được đạo diễn bởi một bàn tay nào đó bên quân đội?

Tang lễ Trần Bắc Hà diễn ra hôm 22 Tháng Bảy. (Hình: Tiền Phong)

Cũng theo bài viết trên, nguyên nhân Trần Bắc Hà chết là do tuyệt thực – khác với đồn đoán đã dậy sóng về việc Trần Bắc Hà bị đầu độc hoặc bị ám sát trong trại giam nhằm diệt khẩu. Nếu quả đúng là Trần Bắc Hà chết do tuyệt thực, đó là nguyên nhân dễ chịu nhất để khi bị quy trách nhiệm về việc để Trần Bắc Hà chết trong thời gian bị tạm giam, trại giam đang “phụ trách” Trần Bắc Hà (Trại 771) và cấp trên của nó (Cục Điều Tra Hình Sự Bộ Quốc Phòng) sẽ phải chịu mức kỷ luật nhẹ nhàng nhất.

Thế nhưng lại có dấu hiệu về cái chết của Trần Bắc Hà không phải do tuyệt thực.

Vào ngày 18 Tháng Bảy khi Trần Bắc Hà được báo chí nhà nước, có thông tin từ nguồn tin nào đó trong nội bộ, bất ngờ cho biết ông ta “tử vong ngoại viện.” Một số tờ báo thậm chí còn khẳng định Trần Bắc Hà chết do bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, hoặc do bệnh cao huyết áp – những bệnh lý mà hẳn báo nhà nước đã được ai đó mớm cho để đăng tải nhằm định hướng dư luận rằng cái chết của Trần Bắc Hà là rất bình thường.

Thế nhưng từ đó đến nay lại không có bất kỳ lời nhận xét nào của bệnh viện quân y 105 – nơi Trần Bắc Hà được đưa đến cấp cứu, cũng chẳng có bất kỳ thông tin nào từ cơ quan pháp y về nguyên nhân gây ra cái chết của Trần Bắc Hà, trong khi việc khám nghiệm tử thi và đưa ra kết luận là quá đơn giản với các cơ quan này, nếu quả đúng Trần Bắc Hà đã tuyệt thực mà chết.

Chỉ đến cuối Tháng Bảy năm 2019, không phải Cục Điều Tra Hình Sự Bộ Quốc Phòng mà là Trung Tướng Lương Tam Quang (phát ngôn viên của Bộ Công An) cho báo chí biết là việc giảo nghiệm tử thi (khám nghiệm tử thi) được chủ trì bởi Bộ Quốc Phòng.

Vì sao việc giảo nghiệm tử thi được chủ trì bởi Bộ Quốc Phòng mà không phải bởi Bộ Công An, trong khi Trần Bắc Hà bị bắt bởi công an chứ không phải quân đội? Và vì sao Trần Bắc Hà được thông báo chết ngày 18 Tháng Bảy, đã được chôn cất sau đó nhưng đến cuối Tháng Bảy mới có tin về giảo nghiệm tử thi? Phải chăng đã có nghi ngờ về cái chết này không phải là “tự chết” mà bởi một nguyên do ẩn khuất?

Những câu hỏi trên lại cần được khớp nối với những dấu hỏi trước đó vào lúc hiện ra thông tin Trần Bắc Hà “tử vong ngoại viện”: Vì sao Trần Bắc Hà bị bắt bởi công an nhưng lại chuyển sang giam tại trạm tạm giam quân đội chứ không phải trại tạm giam công an?

Phải chăng vụ án Trần Bắc Hà không chỉ thuần túy do những sai phạm kinh tế mà còn liên quan, hoặc liên đới rất sâu đến cả nội bộ đảng và nội bộ cao cấp bên quân đội? Hoặc thuộc loại án “an ninh quốc gia” nhưng nằm trong tuyến phụ trách của Tổng Cục 2 (Tổng cục tình báo quân đội) chứ không phải thuộc trách nhiệm của Bộ Công An?

Hay do “Tổng Tịch” Nguyễn Phú Trọng khi chỉ đạo bắt Trần Bắc Hà đã không thật sự tin cậy vào các trại giam của Bộ Công An – nơi mà vẫn có thể còn ủ nguyên “đội hình chiến lược” các quan chức công an được bổ nhiệm từ thời Nguyễn Tấn Dũng, nên phải lệnh chuyển Hà sang trại giam quân đội – khu vực mà Trọng có vẻ nắm chắc quyền bính hơn?

Và nếu Trần Bắc Hà không phải chết do tuyệt thực thì ông ta đã bị ai giết?

Trong khi vụ Trần Bắc Hà đã xuôi tay khó bề nhắm mắt vẫn chìm trong màn sương mù mờ đục lạnh lẽo, Nguyễn Phú Trọng đã mất đi một nguồn thông tin và cũng là nhân chứng cực kỳ quan trọng nhằm phục vụ cho quy trình tố tụng hình sự những cái bóng thấp thoáng sau lưng Trần Bắc Hà.

Bầu không khí vụ án, hoặc kỳ án Trần Bắc Hà, đang trôi ngược về thời gian cuối năm 2014, phảng phất hương hồn Nguyễn Bá Thanh sau khi lan tràn đồn đoán ông ta bị đầu độc.

Và cả hương hồn của những kẻ còn sống sót. Sát cạnh “tử thi ngoại viện” Trần Bắc Hà… (Phạm Chí Dũng)