1,4 tỷ dân Trung Cộng không ở hết các căn hộ trống hoặc bỏ hoang
Một dãy tòa nhà dân cư ở Thường Châu, Trung Quốc – Ảnh: CNN
Theo Đài CNN, ông He Keng, cựu phó cục trưởng Cục Thống kê Trung Quốc, đưa ra tuyên bố trên trong một bài phê bình công khai hiếm hoi về khủng hoảng thị trường bất động sản của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.
Trung Quốc Tân Văn xã – hãng thông tấn quốc doanh lớn thứ hai Trung Quốc, sau Tân Hoa xã – đã công bố đoạn video có phát biểu của ông He.
Dữ liệu mới nhất từ Cục Thống kê quốc gia (NBS) Trung Quốc cho thấy tính đến cuối tháng 8-2023, tổng diện tích sàn của những ngôi nhà chưa bán được là 648 triệu m2.

Theo tính toán của Hãng tin Reuters, con số trên tương đương với 7,2 triệu ngôi nhà, với diện tích trung bình 90m2/căn.
Tổng diện tích sàn này chưa tính số dự án nhà ở đã được bán nhưng chưa hoàn thành do vấn đề về dòng tiền, hoặc nhiều ngôi nhà được các nhà đầu cơ mua trong đợt phục hồi thị trường vào năm 2016 vẫn còn trống.
Các chuyên gia ước tính chúng cùng nhau chiếm phần lớn số không gian nhà ở chưa sử dụng.

“Hiện có bao nhiêu căn nhà trống? Mỗi chuyên gia đưa ra một con số rất khác nhau, trong đó cực đoan nhất tin rằng số nhà trống hiện nay đủ cho 3 tỉ người” – ông He, 81 tuổi, cho biết.
Phát biểu tại một diễn đàn ở thành phố Đông Quang, phía nam Trung Quốc, ông He cho rằng “ước tính trên có thể hơi nhiều, nhưng 1,4 tỉ người có lẽ không thể lấp đầy” các căn hộ còn trống.

Giới quan sát đánh giá quan điểm không mấy lạc quan của ông He về bất động sản, một lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế quan trọng, hoàn toàn trái ngược với quan điểm chính thức rằng nền kinh tế Trung Quốc “có khả năng phục hồi”.
Trung Quốc từ lâu đã dựa vào phát triển bất động sản như một khoản đầu tư an toàn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng điều đó đã tạo ra nguồn cung dư thừa, với vô số dãy nhà cao tầng bị bỏ trống.
Ke đi tìm sưu tầm một số hình ảnh về tình trạng “nhà không đường trống” ở Tàu

3000 biệt thự hoàn tất ở thành phố mới Jingling nhưng chỉ có 10% trong tổng số biệt thự đang có người ngụ cư.

Dự án Caofeidian bị ngưng xây cất sau khi các ngân hàng không tiếp tục cho vay trong khi giá vật liệu lại gia tăng.

Dự án nhà ở bỏ dở dang ở ngoại ô Vũ Quỳnh một nơi không xa thủ đô Bắc Kinh.

Dự án chưa hoàn tất ở Kangbashi.

Thành phố ma Ordos từng có thời được người ở địa phương mệnh danh là Dubai của Trung Hoa.
Ordos, gần biên giới với Mông Cổ, có sức chứa hơn 1 triệu người và trở thành trung tâm văn hóa và kinh tế. Nhưng đến năm 2016, dân số của nó chỉ khoảng 100.000 người và được mô tả là “thị trấn ma lớn nhất thế giới”.
Ngày 11 tháng 8 (Reuters), Tổng thống Joe Biden nhận định rằng những căng thẳng về kinh tế xã hội trong nước có thể ảnh hưởng đến cách Bắc Kinh tương tác với Thế Giới, “Trung Quốc là một quả bom hẹn giờ… Trung Quốc đang gặp rắc rối…”
Chỉ mới vào năm 2021, tạp chí “Tay Trong” đã báo cáo, khi gã khổng lồ công nghiệp Evergrande trở thành công ty mắc nợ nhiều nhất thế giới và vỡ nợ. Vào thời điểm đó, có ít nhất 65 triệu bất động sản bỏ trống trên cả nước, đủ để chứa toàn bộ dân số Pháp, Nay tố cáo mới của Ông He Keng, cựu quan chức bộ thống kê Trung Cộng cho thấy tình trạng còn tệ hại hơn gấp nhiều lần.
Chuyện cười ra nước mắt: Chỉ có ở CHXHCN, tòa tối cao cho phép án oan sai ở mức 1,5%
Công lý được phép sai sót đến 1,5% là không chấp nhận được!
2023.09.21
Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình báo cáo về công tác của các Toà án trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIV, vào ngày 12/1/2021.
Oan sai ở VN do lỗi “định mức”!
Câu nói của ông Bình gây bất bình trên mạng xã hội khi nhiều người lập luận rằng: những người cầm cân nảy mực mà được phép sai sót thì người dân biết đòi công lý ở đâu?
Cựu Trung tá Quân đội Vũ Minh Trí nhận định với RFA với tư cách một người dân, về vấn đề trên:
“Về mặt lý luận hay về mặt nguyên tắc thì phát biểu như vậy là hoàn toàn sai. Bởi đã xử án thì phải bảo đảm đến mức tuyệt đối chính xác không có oan sai. Đằng này, họ đặt ra định mức cho phép như thế, có nghĩa án oan sai dưới định mức coi như hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tôi thấy điều này hoàn toàn sai trái. Với những người ở những nước dân chủ tự do và có tam quyền phân lập thì họ sẽ không bao giờ chấp nhận. Cái phát biểu như vậy và con số đó nó phản ánh đúng một thực tế ở Việt Nam. Tức là án oan sai do lỗi chủ quan nó vượt quá con số 1,5%. Sai bao nhiêu thì mình chưa biết, nhưng có rất nhiều vụ án tử hình đang kêu oan nổi cộm như Hồ Duy Hải, Lê Văn Mạnh, Nguyễn Văn Chưởng… Chính vì vậy, để giảm sự oan sai thì người ta bắt buộc phải đặt ra định mức để kéo nó xuống.
Nhưng theo tôi, để giảm oan sai thì không phải đưa ra một chỉ tiêu mà phải xem xét lại toàn bộ quy trình từ truy tố, điều tra, xét xử… Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là ở Việt Nam thật sự chưa có tam quyền phân lập. Riêng lỗi chủ quan đã được 1,5% thì lỗi khách quan là bao nhiêu nữa? Giữa lỗi chủ quan và khách quan rất dễ chối.”
Về mặt lý luận hay về mặt nguyên tắc thì phát biểu như vậy là hoàn toàn sai. Bởi đã xử án thì phải bảo đảm đến mức tuyệt đối chính xác không có oan sai. Đằng này, họ đặt ra định mức cho phép như thế, có nghĩa án oan sai dưới định mức coi như hoàn thành tốt nhiệm vụ. – Cựu Trung tá Quân đội Vũ Minh Trí
Với cái nhìn ở khía cạnh luật pháp, Luật sư Vũ Đức Khanh cho rằng, nếu cho tỷ lệ sai sót chỉ là 0,01% thì cũng phải nghĩ đến sinh mạng của người bị oan sai và thân nhân của họ nữa, huống chi tỷ lệ đến 1,5%. Ông nói tiếp:
“Điều này chỉ nghe nói đến đã thấy không bình thường và không có tính công bằng. Điều đó không có nghĩa không có những sai phạm của ngành tư pháp. Vấn đề đầu tiên là bên cơ quan điều tra và bên công tố. Thứ hai là bên cơ quan xét xử. Lỗi phần nhiều là bên cơ quan điều tra và công tố.
Nên, việc đầu tiên là phải thay đổi bên điều tra và bên công tố. Nhưng ngay cả khi hồ sơ ở hai cơ quan đã hoàn thiện thì vẫn có những trường hợp sai sót và đưa qua tới bên cơ quan xét xử, tức là thẩm phán và tòa án. Do đó, thẩm phán và tòa án phải hoàn toàn độc lập với Viện kiểm sát, là bên công tố và bên điều tra. Thẩm phán phải độc lập và có năng lực để ra quyết định riêng của mình. Nhưng tất cả do con người thực hiện nên cũng có thể có sai sót, nhưng nếu lấy tiêu chí là thẩm phán phải độc lập với các bên khác thì điều đó đã hạn chế sai sót.
Bước sau cùng là tòa án. Giả sử tòa án có sai, số lượng sai không biết là bao nhiêu nhưng để cho phép ở mức 1,5% thì không thể chấp nhận được. Quá nhiều.
Tuy nhiên, với sự hội nhập của Việt Nam với thế giới và sự lớn mạnh của xã hội dân sự, vai trò của luật sư sẽ được nâng cao. Các luật sư nên được mời với tư cách các chuyên gia hoàn toàn độc lập cùng với những thẩm phán được chọn, vào một ủy ban để xét lại những vụ án oan sai của người dân.”
Án oan, sai gây ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe của người bị oan rất lâu dài. Nếu là án tử hình thì không gì có thể bù đắp được. Điều này từng được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu rõ trong buổi làm việc với lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao ở Hà Nội cách đây sáu tháng rằng, mỗi phán quyết, quyết định của tòa án liên quan đến sinh mạng chính trị và thậm chí là sinh mạng con người, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, vì thế không được để xảy ra oan, giảm tối đa tình trạng sai hoặc với yêu cầu cao là không được để xảy ra sai.
Gây mất lòng tin vào hệ thống tư pháp
Trao đổi với RFA, một số chuyên gia trong ngành tư pháp cho rằng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ án oan, sai ở Việt Nam mấy chục năm qua là do yếu tố con người. Các bị cáo bị oan nhưng vẫn nhận tội vì không chịu nổi bức cung, nhục hình. Hơn nữa, các cơ quan tố tụng không đảm bảo được nguyên tắc suy đoán vô tội cho bị can, bị cáo dù tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được hiến định tại khoản 1, điều 31 Hiến pháp 2013.
Cụ thể: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Trước nay, tuy công chúng đã hoàn toàn mất lòng tin vào hệ thống tư pháp, thế nhưng, sự tiết lộ mang tính cách công khai, chính thức của người đứng đầu ngành tư pháp vẫn khiến công chúng choáng váng. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì lẽ, từ nay trở đi, mọi phán quyết của tòa án trong bất kỳ vụ án nào cũng sẽ đều bị công chúng nghi ngờ về khả năng nằm trong 9000 vụ án oan sai(!?) – Luật sư Đặng Đình Mạnh
Trở lại câu chuyện Quốc hội cho phép 1,5% của 600.000 vụ án, tức là khoảng 9.000 vụ án, được phép sai do lỗi chủ quan, Luật sư Đặng Đình Mạnh nói với RFA quan điểm của ông:
“Tiết lộ của ông Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình rằng, ‘bây giờ cứ sai là bị kỷ luật hết thì lấy đâu ra người làm việc’ đã cho thấy một bức tranh quá u ám về nền tư pháp XHCN do Đảng Cộng Sản lãnh đạo.
Trước nay, tuy công chúng đã hoàn toàn mất lòng tin vào hệ thống tư pháp, thế nhưng, sự tiết lộ mang tính cách công khai, chính thức của người đứng đầu ngành tư pháp vẫn khiến công chúng choáng váng. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì lẽ, từ nay trở đi, mọi phán quyết của tòa án trong bất kỳ vụ án nào cũng sẽ đều bị công chúng nghi ngờ về khả năng nằm trong 9000 vụ án oan sai (!?).
Hệ thống tư pháp sẽ không còn được công chúng trông cậy để ban phát công lý, công bằng nữa. Mà họ sẽ tự mình hoặc thuê các thế lực khác giúp họ. Xã hội rối loạn… Điều đó chính là hệ quả tất yếu của hệ thống đào tạo luật gia trong nước đã không đáp ứng được và cũng không có khả năng ban phát công lý, công bằng cho người dân. Bên cạnh đó, là sự xuống cấp đạo đức xã hội của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành tư pháp ở mức độ trầm trọng.”
Luật sư Mạnh cho biết, tất cả đã khiến ông hoàn toàn bi quan về mọi hoạt động của ngành tư pháp hiện nay, đến mức ông nghĩ, “xóa bàn làm lại” là giải pháp duy nhất cho ngành tư pháp nói riêng và tất cả các ngành khác trong hệ thống công quyền nói chung.
Lời bàn của Kẻ Đi Tìm
Hỡi nhưng anh Bò Đỏ, Bò húc, Bò vàng. Các anh có lạnh gáy không? Tòa tối cao cho phép 1, 5% án oan sai, coi chừng có ngày chính những người Yêu XHCN sẽ bị kết án oan uổng.
Xin hỏi những ai yêu XHCN đã sáng mắt ra chưa? Các bạn yêu một chế độ đang ở vào thời kỳ đồ đá mạt hạng của nền công lý nhân dân.
IM LẶNG LÀ CÙNG CHẾT VỚI NHAU
IM LẶNG LÀ CÙNG CHẾT VỚI NHAU
Một tử tù vừa bị xử tử trong khi vụ án đang bị chính bản thân tử tù và gia đình kêu oan, công luận ở Việt Nam và quốc tế quan tâm kêu gọi tạm dừng thi hành án để điều tra minh oan. Vậy tại sao tử tù vẫn bị xử tử? Chúng ta chưa thấy câu trả lời thích đáng nào của cơ quan thi hành án từ bộ công an, từ bộ tư pháp và của nhà nước CHXHCNVN trả lời cho gia đình tử tù, cho công luận trong nước và cả quốc tế được minh bạch.
Phải chăng họ cho rằng, đây là pháp luật của họ, họ muốn xử thế nào cũng được, người dân trong nước và quốc tế không được quyền can thiệp vào “nội bộ” của họ.
Khi họ xử lý công dân mà họ cho là vi phạm, họ luôn đưa ra một lập luận rằng, là công dân Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam, đừng có so sánh với luật pháp của những quốc gia khác, nếu muốn, thì người dân cứ đi nước ngoài mà sống, đừng ở Việt Nam. Lập luận như vậy khác nào các bạn đem bản thân mình vào một cái hang hay khu rừng tách biệt với thế giới loài người?
Lập pháp, hành pháp, tư pháp phải lấy QUYỀN CON NGƯỜI để làm nền tảng chuẩn mực.
Lập pháp, hành pháp, tư pháp phải bảo vệ tối đa quyền con người, mà quyền con người là gì, như thế nào thì phải dựa trên quy chuẩn chung của thế giới loài người chứ không phải của riêng mỗi quốc gia. Vậy nên, QUYỀN CON NGƯỜI khác với QUYỀN CÔNG DÂN. Khi bộ máy nhà nước không chuẩn mực, cốt chỉ để bảo vệ cho đảng phái lãnh đạo họ sẽ đánh tráo khái niệm quyền con người thành quyền công dân, bởi vì, công dân quốc gia nào thì tuân theo luật lệ quốc gia đó, đây là khái niệm bóp chẹt quyền con người cơ bản, chưa kể, ở Việt Nam, quyền công dân cũng chưa bao giờ được thực thi đúng tiêu chuẩn thì làm sao công dân có được quyền con người trọn vẹn.
Việc đánh tráo khái niệm của bộ máy lãnh đạo và sự hiểu biết không rốt ráo của người dân về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình làm cho sự độc tài như hổ mọc thêm cánh.
NHÂN LÀ NHẤT NGUYÊN, DÂN LÀ ĐA NGUYÊN. Đây là khái niệm cơ bản mà một chính phủ chuẩn mực phải nắm được cốt tủy và thực thi.
Nhân là nhất nguyên, có nghĩa là nhân loại phải có cùng những đặc điểm cơ bản, về chủng tộc, sinh sản, phát triển, trong quá trình sống đó, có sự liên kết thành các giềng mối gia đình, giềng mối xã hội. Có những quyền lợi và nghĩa vụ phải thực thi để có thể duy trì cá thể và tập thể, đó là đặc định, là đặc điểm chung cho loài người, không phân biệt chủng tộc và quốc gia, nên gọi là nhất nguyên.
Trong nhất nguyên đó, mỗi cá thể là một sự sống có tâm thức, mà tâm thức là sự phát triển riêng biệt, cho nên các cá nhân có sự khác nhau về nhận thức, sự khác nhau đó sẽ càng cách biệt khi các cá thể ở những địa phương khác nhau, ở những quốc gia khác nhau. Vậy nên mới hình thành nhiều thành phần, nhiều kết cấu về các cấu trúc phân bố trong xã hội, đó là điều căn bản để thấy được, trong cái chung, có cái riêng và ngược lại, nên nói, dân là đa nguyên là vậy.
Vậy nên, nhà nước là một thành phần quan trọng nhất để đại diện cho những thành phần “đa nguyên” của quốc gia thì không thể nào duy trì độc tài để điều hành được, đó là sai quy chuẩn ngay từ nền tảng. Lấy “nhất nguyên” để làm cốt tủy vì phải hiểu được đặc tính loài người là gì, từ đó mới hiểu rốt ráo quyền con người là thế nào, mới xây dựng một nền lập pháp cốt chỉ để bảo vệ quyền này. Hành pháp, tư pháp phải từ quy chuẩn này mà thực thi, trên nền tảng hiểu được dân là đa nguyên, phải linh động, rõ ràng và minh bạch.
Vậy nên, nhất nguyên khác biệt với độc đảng mà đa phần vẫn đang nhầm lẫn khái niệm này.
Có người dân nào không mong muốn một cuộc sống tự do, được hiểu và thụ hưởng quyền con người mà đúng ra là con người, tất nhiên phải được thụ hưởng, vì trong sự bình đẳng, quyền con người là đặc định một cách tự nhiên, không ai ban cho, cũng không có bất kỳ ai được quyền tước đoạt nó.
Huỳnh Thị Tố Nga
Sep 23, 2023
Tử tù Lê Văn Mạnh bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9
23-9-2023
Mẹ tử tù Lê Văn Mạnh (thứ 4 từ trái qua) sau khi biết tin con mình bị thi hành án hôm 23/9. Ảnh: FB Đặng Bích Phượng
Tử tù Lê Văn Mạnh đã bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9 sau hơn 18 năm kêu oan trong một vụ án có nhiều tình tiết, bằng chứng không rõ ràng mà theo các luật sư là không đủ để kết tội.
Luật sư Lê Văn Luân, thuộc Văn phòng Luật sư Hưng Đạo Thăng Long ở Hà Nội – nơi gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã đến nhờ nộp đơn kêu oan hôm 20/9 – vừa đăng dòng trạng thái trên Facebook cá nhân với nội dung: “Tin và văn bản chính thức cho biết, bị án Lê Văn Mạnh đã bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9/2023.”
Trên các trang mạng Facebook đồng thời đăng tải một văn bản “Trích lục khai tử” đề ngày 22/9/2023 của UBND xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình cho biết tử tù Lê Văn Mạnh (sinh năm 1982) đã chết vào 8 giờ 45 phút ngày 22/9/2023 tại nhà thi hành án tử hình, Công an tỉnh Hòa Bình, xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình.
Trích lục khai tử. Ảnh trên mạng
Trước đó, vào ngày 18/9, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã nhận được giấy báo có chữ ký của Chánh án Toà án Nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc đối với Lê Văn Mạnh.
Ngay sau khi nhận được tin này, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã nói họ không chấp nhận bản án vì đây là án oan sai và tiếp tục ra Hà Nội để kêu oan cho con.
Năm 2005, khi mới 23 tuổi, Lê Văn Mạnh bị kết tội tử hình về hành vi “hiếp dâm và giết” một nữ sinh ở cùng thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá trong vụ án xảy ra hồi đầu năm đó.
Mẹ của Mạnh là bà Nguyễn Thị Việt cho biết, trong đúng ngày xảy vụ án, bà cùng Mạnh giúp chuyển đồ cho con gái bà cả ngày, và khi trở về nhà vào chiều muộn thì mới nghe tin thiếu nữ ở cùng thôn tên Lan bị giết chết. Bà đã giục con trai và chồng ăn cơm rồi cùng bà con trong thôn đi mò xác của người xấu số trên con sông ở làng.
Bà cho biết vì quần áo của con trai mình đã đem đi giặt trước đó nên Mạnh buộc phải mặc quần đùi rách để đi phụ giúp.
Người trong thôn mò được xác, Mạnh lên bờ với cái quần rách đó nhưng sau đó cởi ra vứt vào bụi cây để mặc quần khác vì bị trêu.
Khi công an về khám nghiệm tử thi và khám nghiệm hiện trường, họ tìm thấy cái quần đùi rách của Mạnh cách đó không xa, cho rằng đó là quần của thủ phạm và từ đó họ bắt người thanh niên này.
Vụ án xảy ra từ ngày 21/3/2005 nhưng đến ngày 20/4 công an Thanh Hóa mới bắt Mạnh về cáo buộc “cướp tài sản” trong một vụ án khác xảy ra ở Đồng Nai.
Sau bốn ngày bị tạm giam, Lê Văn Mạnh tiếp tục bị khởi tố bị can về cáo buộc “giết người, hiếp dâm trẻ em” vì một lá thư gửi cho gia đình thú nhận hành vi phạm tội.
Bà Việt cho biết, con trai bà kể lại là bản thân đã bị điều tra viên tra tấn, đánh vào chỗ hiểm để buộc phải nhận tội, và Mạnh phải viết giấy nhận tội theo ý của điều tra viên nếu không khó có thể bảo toàn tính mạng.
Trong các phiên toà, Mạnh liên tục kêu oan. Luật sư của Mạnh yêu cầu giám định thân thể của bị cáo để xác định liệu có bị tra tấn trong quá trình điều tra không nhưng toà bác bỏ.
Hôm 21/9, Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) cùng với Đại Sứ quán của Canada, Vương quốc Anh và Vương quốc Na Uy tại Việt Nam ra tuyên bố chung kêu gọi Hà Nội dừng việc thi hành án đối với ông Lê Văn Mạnh.
Tuyên bố chung đăng tải trên trang Facebook của Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, đại diện ngoại giao của khối 27 quốc gia và ba quốc gia khác viết:
“Chúng tôi cực lực phản đối việc áp dụng hình phạt tử hình trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, đây là một hình phạt tàn ác, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm và không bao giờ có thể biện minh được, đồng thời vận động Việt Nam hoãn thi hành tất cả các án tử hình.”
Đây là tuyên bố chung thứ hai của EU và Anh quốc, Na Uy và Canada về án tử hình ở Việt Nam trong hai tháng gần đây. Cuối tháng trước, các quốc gia trên đã ra tuyên bố kêu gọi nhà chức trách Việt Nam dừng thi hành án tử hình đối với Nguyễn Văn Chưởng, người cũng bị kết tội giết người trong một vụ án hình sự ở Hải Phòng năm 2007.
Tản mạn về một bài viết: Một môn học mà thầy không muốn dạy trò không muốn học của Lý Chánh Trung
Tác Giả: Nguyễn Văn Lục
22/09/2023
Tôi đã dụng tâm lấy lại tựa đề bài viết của Giáo sư Lý Chánh Trung đăng trên tờ Tuổi Trẻ chủ nhật, 13.11.1988 làm tựa đề cho bài viết của mình. Nay đã 35 năm trôi qua, 1988- 2023, qua mà như thể nó vẫn đúng.
Cũng ít ai làm như thế, vì thiếu gì tựa đề. Dụng tâm đó có thể là muốn nhắc lại, như ghi nhớ hình ảnh những người đã gặp, đã đi qua đời tôi. Nhưng cũng đồng thời muốn nói cho mọi người, nói cho độc giả đọc bài này thấy rằng: Cái tựa đề đó hay quá, súc tích và đủ nghĩa, muốn chê cũng không được. Vì thế, phần đầu bài viết của tôi chỉ cố gắng triển khai cái tựa đề của bài viết mà không đụng tới nội dung bài viết.
Ông Lý Chánh Trung, mặc dầu dân du học Pháp nhưng gốc gác vốn dân Vĩnh Bình, còn gọi là Trà Vinh, thuộc miền Tây. Ông bảo, về đến Vĩnh Bình là như chui vào cái rọ: tới nữa là lọt xuống biển, sang hai bên thì đụng hai cửa sông Cửu Long. Ông là dân miệt vườn, chữ nghĩa tuy có đầy mình nhưng cách diễn tả vẫn là dân ruộng, có sao nói dzậy. Ông nói: một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học.
Ðối với ông cũng như đối với dân ruộng, nói dzậy là đủ rồi. Qua không muốn nói nữa. Ðủ rồi là không cần nói nữa, nói nữa là thừa. Nói nữa là qua nổi quạu.
Ðã không nói nữa thì ta thử xem, tựa đề đó muốn nói cái gì? Có đời nhà ai, có cái môn học kỳ quái gì mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học? Thường thì chỉ có trò không muốn học. Ðiều đó hiểu được đối với những tên học trò lười. Nhưng học trò giỏi, học trò chăm thì vẫn muốn học.
Nhưng chữ trò ở đây, ông thầy muốn ám chỉ tất cả mọi trò, không trừ đứa nào. Ðứa dốt không muốn học đã đành, đứa giỏi cũng không muốn. Ðứa nhà quê, đứa ở tỉnh, đứa trong Nam, đứa ngoài Bắc, đứa học năm nay, đứa năm tới sắp lên, đứa thế hệ hôm nay, đứa thế hệ ngày mai…
Tất tần tật. Tất cả các trò, bất kể lứa tuổi, bất kể trai gái đều không muốn học.
Chúng đồng lòng bảo nhau không muốn học.
Trò đã không muốn học, đến thầy cũng không muốn dạy là cớ làm sao? Ai đã từng đi dạy học đều ôm lấy nghề, ấp ủ môn mình dạy như đứa con tinh thần. Nghề dạy nó chỉ cao quý ở chỗ ấy, chỗ muốn truyền đạt, muốn để lại di sản tinh thần cho những thế hệ đàn em. Nhưng chính ông thầy không muốn dạy thì còn gì là giáo dục?
Không thể có một nền giáo dục chân chính khi không có thầy, hay có thầy mà thầy không muốn dạy. Không thể nói tới một nền giáo dục hay một môn học mà cả người đi dạy và người đi học đều không muốn nhìn nhận nó.
Mà khi thầy không muốn dạy và trò không muốn học có nghĩa là những người lớn, những đàn anh, những cha mẹ, những cô dì chú bác, những bạn bè, những họ hàng, những láng giềng đều đã có thời chui qua cái ngưỡng cửa hẹp của môn học đó rồi.
Họ đều đã có thời không muốn học. Và ngay cả những kẻ cầm quyền, những kẻ đang hò hét ở bên trên bắt người khác phải học cái môn học đó, cũng đã một thời cố thu nhỏ mình lại để có thể chui lọt qua cái lỗ nhỏ của môn học ấy.
Họ cũng đã cố nhồi nhét cho xong, trợn mắt trợn mũi nuốt cho bằng được chữ nghĩa của môn đó, ê a tụng như tụng kinh cứu khổ. Họ học mà không tin, biết nó tào lao, nhưng vẫn học.
Nói cho cùng, té ra cả nước đều không ai muốn học.
Nhưng nếu không muốn dạy mà vẫn phải dạy, không muốn học mà vẫn phải học thì cớ sự sẽ ra làm sao? Còn làm sao nữa, chết cả nước! Hậu quả không lường hết được.
Nào ta thử xem. Thầy không muốn nói cứ phải nói trở thành giả dối, nói điều không thật, nói một đằng nghĩ một nẻo, hay nói xuôi, nói ngược, nói lắt léo. Thầy lúc đó đánh mất phẩm cách, tự hạ giá mình. Thầy phải đóng kịch giả bộ như tin tưởng vào điều mình muốn nói, giả bộ khen lấy được.
Ðóng kịch như thế thầy không còn là thầy, thầy không phải là người mà hóa ra ngợm. Trò không muốn học mà vẫn cứ phải học hóa ra đầu óc trở thành trì trệ, u tối, nói sảng hay học vẹt. Mất sáng kiến, mất sáng tạo, thiếu óc phê bình, thiếu tinh thần cầu học, thiếu óc tìm tòi.
Thà đừng học, nói cho cùng là càng học càng ngu. Cứ nhân bội số lên cả nước thì sẽ có một dân tộc đầu óc trì trệ, xuẩn động. Một dân tộc có tinh thần nô lệ, bảo thủ, giáo điều cản trở mọi xu hướng canh tân, mọi đà phát triển.
Nếu cả nước đều đóng kịch thì cả nước sẽ làm thành một vở kịch.
Cả nước đóng kịch cho nên bộ môn kịch nước ta coi như không khá được. Trước đây còn miền Nam, trụ sở nhà hát lớn đổi thành trụ sở Quốc hội. Trước thì nghệ sĩ trình diễn, nay có các dân biểu trình diễn thay thế họ. Ðã thế thì cần gì phải đi coi kịch nữa.
Và đây là một vài kết quả để chúng ta cùng nhau suy nghĩ về hậu quả của nền giáo dục của đất nước chúng ta.
Báo Tuổi Trẻ, ngày 21.08.1993 đã báo động về nguy cơ hụt hẫng nghiêm trọng đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao. Dân chúng nghi ngờ các bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ ở Việt Nam như ông Hoàng Ngọc Hiến, một người đỗ tiến sĩ ở Liên Xô về đã nói đại ý: «Dắt con bò sang Liên Xô về cũng đậu tiến sĩ». Nói quá đáng chăng? (Trích Nhìn lại những chặng đường đã qua, Nguyễn Văn Trung, Nhà xuất bản Nam Sơn, Montréal, 1989).
Vì thế, người ta trù liệu ở Việt Nam đến năm 2010 có khoảng 35 ngàn tiến sĩ 62 ngàn thạc sĩ. Con số kể là lớn, đáng nể, nhưng chỉ tội là có đến 75% các ông bà có bằng tiến sĩ đó không giảng dạy mà lại đi làm cho các cơ quan công quyền. Theo Viện Thông tin Khoa học Philadelphia, từ 1998 đến 2002, Việt Nam có công bố gần 1500 công trình khoa học tự nhiên, nghĩa là cứ 200 người làm công trình khoa học ở Việt Nam, chỉ có hơn một người có công trình nghiên cứu (0,3 ở Mã Lai, tức cứ ba người làm công tác khoa học, có một người có công trình. Ở Ðại Hàn, riêng năm 2001, có đến 43.000 bằng sáng chế). Ðã thế, có vị có bằng tiến sĩ về sinh vật, nhưng lại viết hằng trăm bài về những đề tài chẳng có liên quan gì đến ngành học của ông cả (trích «Cái danh và cái thực của Giáo sư, Phó Giáo sư ở Việt Nam», tác giả Nguyễn Thế, talawas, 16.11.2004).
Ðã đến lúc, cần quy định rõ ràng như ở Mỹ, Publish hay Perish, hoặc là công bố công trình nghiên cứu hay xé bỏ văn bằng như tấm giấy lộn. Ở nước người, sau ba năm cầm cái bằng tiến sĩ về treo ở phòng khách mà không dùng để làm gì, không có công trình cũng không có giảng dạy thì nếu có tư cách, nên tước bỏ cái danh đó đi. Ðó chỉ là một thứ tiến sĩ giấy giống như những ông cửu phẩm, bát phẩm thời xưa thôi.
Về phía học trò, dưới đây, xin ghi lại một vài câu trả lời theo lối học vẹt, trả lời ngô nghê đến như… vô học.
«Năm 1963, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Cao Kỳ, cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm đã đi đến thành công tốt đẹp.»
«Ðến rạng sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, quân và dân ta hoàn toàn thắng lợi. Ðế quốc Mỹ và tay sai đầu hàng với một số đã rút về nước và một số đã trúng vào mũi tên đã tẩm thuốc độc đã hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam ta.»
«Nhiệm vụ của cụ Phan Chu Trinh là đứng ra thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo các tổ chức của phong trào quần chúng thay đổi về nền kinh tế theo lối tư bản chủ nghĩa.»
Ngay từ những năm sau Hiệp định Genève, tháng 10 năm 1956, nghĩa là 3 tháng sau khi Đảng nhìn nhận những sai lầm trong cải cách ruộng đất, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư trường Ðại học Văn khoa, Hà Nội đã đọc một bài tham luận: «Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo», nhằm vạch ra những sai lầm trong sự lãnh đạo của Ðảng và nhà nước. Cũng vì bài diễn văn này, ông đã mất chức giáo sư đại học và sống cuộc đời còn lại trong túng thiếu và bị bỏ rơi.
Năm 1991, nhân được dịp sang Pháp, ông đã đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật của mình: cuốn L’ excommunié (Kẻ bị khai trừ).
Kể từ lúc LCT cho đăng trên nhật trình cái bài báo quái đản: «Một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học» đến nay đã gần nửa thế kỷ. Mặc dầu có chính sách cởi trói cho khoa học xã hội, mặc dầu đất nước đã có những thay đổi lớn lao về mặt kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường với những quy luật của nó.
Cái môn học đó vẫn ngồi lì ra đó.
Ngay từ các nước cộng sản Ðông Âu. «Chính Đảng cộng sản và các người cầm đầu kể từ Hồ Chí Minh đã là nguyên nhân cho không biết bao nhiêu sai lầm, di lụy đến số phận dân tộc, đất nước. Di lụy đó kể từ chính sách cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, cải tạo tư sản, đấu tố, chỉnh huấn, Nhân Văn Giai phẩm, chống xét lại.» (Trích Lữ Phương: «Lại một bóng ma của Mác», talawas, 16.4.2005).
Vì đánh mất cơ hội, họ lấn sâu thêm một lần nữa vào những sai lầm đáng nhẽ có thể tránh được sau 20 năm sai lầm ở miền Bắc. Nay thì có những sai lầm với những tên gọi mới: Chính sách đi vùng kinh tế mới, chính sách bần cùng hoá toàn bộ dân chúng miền Nam bằng đổi tiền, đánh tư sản mại bản, đánh tàn dư văn hoá Mỹ ngụy và nhất là chính sách học tập cải tạo đối với quân nhân và công chức miền Nam. Ðất nước Việt Nam thống nhất, một lần nữa chìm đắm trong những hận oán, trả thù đã quẳng hàng triệu người ra biển theo chính sách «con bò sữa thuyền nhân».
Sau 30 năm, chưa hề có một ngày vui. Chưa hề có một lời xin lỗi và chúng ta đòi hỏi cái tối thiểu là một lời xin lỗi đối với dân miền Nam.
Xin lỗi tất cả không trừ.
Xin lỗi ngững người làm ăn buôn bán vì bị tước đoạt tài sản, nhà cửa, tiền bạc. Truất hữu, chiếm đoạt tài sản của hằng trăm ngàn người, phải gọi tên nó là gì? Xin lỗi những nhà văn, những nhà trí thức vì bị sỉ nhục, mất cái quyền được phát biểu, được viết. Xin lỗi những sĩ quan, công chức đi học tập cải tạo chỉ vì khác chiến tuyến, chỉ vì thua và thắng, bất chấp luật lệ, giam giữ vô hạn định. Xin lỗi vợ con những người đi học tập, vì đã chia cắt, xa lìa vợ chồng con cái, làm đổ nát tan vỡ không biết bao nhiêu gia đình. Xin lỗi những người lính đã nằm xuống như tử sĩ ở nghĩa trang Biên Hoà vì không được mồ yên mả đẹp. Xin lỗi tuổi trẻ vì đã đánh mất tương lai, lẽ sống của họ vào những chủ nghĩa giáo điều áp đặt. Không muốn dạy mà phải dạy, không muốn học mà phải học.
Xin lỗi cả nước vì bao nhiêu năm đã làm cả nước buồn.
Trước giải phóng, người dân miền Nam cùng lắm chỉ biết lo. Sau giải phóng, chưa có một ngày vui, người dân chỉ thấy buồn. Nỗi buồn đó lan khắp phố phường, từ ngoài ngõ đến trong nhà, rồi thâm nhập vào tâm hồn mỗi người. Cái cảnh mà Trần Dần đã từng ghi lại:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà.
Chỉ thấy mưa sa
trên mầu cờ đỏ.
Hòa Thượng Tuệ Sĩ, một cao tăng còn sót lại, cũng ghi lại cùng một cảm nghiệm như thế :
Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Sầu trên thế kỷ điêu linh.
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa nắng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời Ðông
Trời ơi tóc trắng rũ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên hà buồn tênh.
Cũng xin ghi lại đây cảm nhận của một người xa quê hương, sau 13 năm du học, trở về thăm quê nhà vào năm 1977: «Trở về Huế sau mười mấy năm xa cách, tôi đã gặp lại một Huế thật là – người Huế thường chỉ tình trạng này bằng bốn chữ ‘xanh xương mét máu’ – một Huế đang giật mình, một Huế đang run sợ kinh hãi cho ngày mai, bên cạnh một Huế rất nghèo, rất khổ. Ði trên đường phố, ít ai ngẩng đầu lên, có trao đổi một nụ cười với ai thì nỗi gượng gạo nơi người ấy đã ngăn vành môi bên kia không cho cười hết miệng.
Huế 1977 mà tôi gặp lại là một Huế lơ đãng, sầu hận và nghi ngờ, một Huế bị phá sản hết mọi thiết tha.» (Thái Kim Lan, «Một niềm vui. Một giọt nước mắt», 1977).
Xin lỗi chính họ vì sự mù quáng, dốt nát của họ đã làm cả nước khốn khổ.
Lẽ dĩ nhiên là họ không bao giờ nhận lỗi. Họ cũng chẳng tự khúm núm để xin lỗi chính mình.
Nhưng tôi vẫn cứ đòi. Ðòi hôm nay. Không được. Mai đòi nữa. Không xin lỗi, cho nên không lạ gì, sau gần nửa thế kỷ, người miền Nam vẫn không quên và hiện nay vẫn chưa hàn gắn được những vết thương cũ.
Vì thế, đất nước chỉ thống nhất về mặt địa lý, nhưng lòng người vẫn chưa thực sự thống nhất.
Tôi cũng xin ghi lại ở đây: Hình ảnh một thanh niên Âu Châu trên chiếc áo T-Shirt với câu: Good bye Lenin. Thế hệ thanh niên, thế hệ tương lai của các dân tộc trên toàn thế giới giã từ cái chủ ngĩa Mác-Lê để lên đường.
Ðiều đó cũng muốn nhắn nhủ, hay mong mỏi, hay ước mơ, hay cầu vọng tuổi trẻ Việt Nam cũng có cơ may giã từ cái chủ nghĩa ấy để cùng với thanh niên thế giới, để có cơ hội xây dựng một đất nước Việt Nam chẳng những thanh bình, thịnh vượng mà còn Nam Bắc một nhà.
Tác giả Hoàng Tùng, với bài tham luận «Thời đại mới, tư tưởng mới» đã đề ra những hướng thay đổi chủ nghĩa xã hội cho kịp thời đại mới, nhưng vẫn khăng khăng cho rằng cho đến nay «chưa có học thuyết nào hơn hẳn học thuyết Marx trong việc thay thế chủ nghĩa tư bản để xây dựng tương lai con người.» (trích Lữ Phương, bài đã dẫn). Nhưng bằng vào cái ý hướng muốn cải sửa chủ nghĩa Mác của một số người trong Đảng, người ta vẫn hy vọng đản cộng sản đem lại một chút ánh sáng mới vào đêm trường tối tăm của cái chủ nghĩa ấy.
Trong bài viết của mình, ông Lý Chánh Trung viết vào năm 1975, ông Phạm Như Cương, Viện trưởng Viện Triết học có cho rằng cần mở thêm một khoa triết học đầy đủ ở trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội. Ðã 30 năm rồi, lời hứa của ông Phạm Như Cương vẫn chưa thực hiện nổi. L.C. T viết: «Chúng tôi nghĩ không phải chỉ học triết học trước Mác, mà còn học cả triết học sau Mác… ngay cả cái triết học mà chúng ta đã phê phán rất nhiều như triết học hiện sinh thì nó cũng có những phần tích cực của nó. Một anh học trò cũ của tôi, đã thoát ly đi kháng chiến năm 1968, sau đó khi ra Hà Nội thì mấy anh có hỏi: tại sao anh lại đi theo cách mạng, động cơ nào thúc đẩy anh đến với cách mạng? Anh học trò trả lời rằng do triết học hiện sinh, chính vì triết học hiện sinh mà tôi đi theo cách mạng.»
Câu trả lời thật trớ trêu, nhưng vẫn là sự thật.
VẪN LUÔN TUYỆT VỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Có nhóm Mười Hai cùng đi với Ngài, có cả mấy phụ nữ”.
Một trong những ca khúc được yêu nhất của Irving Berlin là “I’m Dreaming of a White Christmas”, “Mơ Về Một Giáng Sinh Tuyết Trắng”. Trong một cuộc phỏng vấn, Berlin được hỏi, “Có câu hỏi nào mà ông chưa từng được hỏi, nhưng lại muốn ai đó đặt ra?”. Berlin trả lời, “Có chứ!”; đó là, “Bạn nghĩ sao về nhiều ca khúc mà chúng không là những ‘điểm nhấn’ nổi tiếng?”. “Tôi sẽ trả lời rằng, tôi chỉ nghĩ, chúng ‘vẫn luôn tuyệt vời!’”.
Kính thưa Anh Chị em,
Trong nhãn quan của thiên đàng, của đời đời, bất cứ ai theo Chúa Giêsu, dẫu không là những ‘điểm nhấn’ nổi bật, họ ‘vẫn luôn tuyệt vời!’. Tin Mừng hôm nay tiết lộ, trên bước đường rao giảng của Con Thiên Chúa, “Có nhóm Mười Hai” và “Có cả mấy phụ nữ!”.
Đó là những cộng tác viên tuy khác biệt, nhưng có Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu, họ trở nên đặc biệt! Bởi lẽ, khác biệt của từng người lại trở thành điểm mạnh. Việc chọn các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cho thấy Ngài là một con người đầy tư chất và bản lãnh của một lãnh đạo bậc thầy. Ngài chọn họ từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Họ sẽ không là bạn của nhau, càng không là những người làm việc với nhau nếu không vì Ngài. Kết quả là họ hợp tác, trân trọng và đánh giá cao khả năng của nhau. Có Ngài, khác biệt không còn là dị biệt cản trở, nhưng là những ưu thế để họ ‘vẫn luôn tuyệt vời’.
Không chỉ các ông đi theo Chúa Giêsu; bên cạnh đó, còn có các phụ nữ. Ngài giao cho họ những vai trò khác nhau, dẫu việc Ngài cứu chữa và biến đổi cuộc đời họ xem ra giống nhau. Cũng thế, những phụ nữ này dẫu không như nhau nhưng một khi chọn theo Ngài, họ trở thành những điểm mạnh; ít nữa, đã hy sinh của cải và thời giờ cho công cuộc loan báo Tin Mừng.
Chúa Giêsu có khả năng truyền cảm hứng cho bất cứ ai. Bạn và tôi được mời gọi xây dựng Vương Quốc ở mọi cấp độ, đấng bậc, trong vị trí của mình. Vấn đề là Ngài có trở nên trung tâm cuộc đời chúng ta không? Bạn và tôi có thuộc về Ngài không? Hay đi theo Ngài, chúng ta lại cứ tính toán theo thói đời, rán thành những ‘điểm nhấn’, để rồi không biết mình thuộc về ai, làm gì! Trong thư Timôthê hôm nay, Phaolô lưu ý, “Bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc”; Giuđa Iscariôt là một ví dụ. Lời Đáp Ca cũng thật thâm trầm, “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ!”. Nước Trời ở đây chính là Chúa Giêsu, trái tim mọi ơn gọi, để mỗi người quy về và ‘vẫn luôn tuyệt vời!’.
Anh Chị em,
“Có nhóm Mười Hai cùng đi với Ngài”. Là những môn đệ Giêsu, Thánh Kinh không gọi chúng ta là ‘con ngươi mắt Chúa’ đó sao! Cũng thế, bạn và tôi đừng bao giờ coi thường một ai, dù người ấy không là ‘điểm nhấn’. Lấy Chúa Giêsu làm điểm quy chiếu, chúng ta trở nên những cộng sự viên của Ngài dù khác biệt nhau; và bằng một đời sống yêu thương, chúng ta đón nhận nhau. Với ơn Chúa, không ai không trở thành môn đệ và trở nên anh chị em của nhau. Và như thế, khác biệt không làm chúng ta phân hoá, nhưng có Giêsu, chúng ta gắn bó, trở nên những ‘điểm nhấn’ cho nhau và cho thế giới.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, chẳng cần là ‘điểm nhấn’ nổi bật trước mắt người đời, cũng không mơ trở nên tuyệt vời; chỉ cần con luôn ‘dễ thương’ như một em bé trước mặt Chúa!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
MUỐN NGƯỜI VIỆT NAM CÓ TỰ DO HÃY KHAI SÁNG DÂN TRÍ THỨC TỈNH QUỐC DÂN THỨC TỈNH ĐỒNG BÀO.
Viết văn không chỉ là một nghề nghiệp mà còn là tâm nguyện cả đời của Lỗ Tấn. Năm 1902, khi được cử sang Nhật Bản học, Lỗ Tấn chọn ngành y nhằm mục đích cứu người.
Nhưng về sau ông ý thức rõ căn bệnh tinh thần của dân tộc mới trầm kha hơn căn bệnh thể xác nên ông đã chuyển sang sáng tác văn học nhằm dùng ngòi bút lương y của mình để đẩy lùi căn bệnh thời đại.
Lỗ Tấn không chỉ là nhà văn hóa lớn mà còn là nhà giáo dục lớn. Tư tưởng giáo dục quan trọng nhất của Lỗ Tấn là vấn đề lập nhân- xây dựng và đào tạo con người.
Ông không có trước tác chuyên bàn về giáo dục nhưng trong các tác phẩm của Lỗ Tấn có rất nhiều ý kiến sâu sắc đã được các nhà nghiên cứu giáo dục sưu tập rồi sau đó hệ thống hóa thành những quan điểm khoa học rất có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, cụ thể.
Lỗ Tấn qua đời vào năm 1936 tại Thượng Hải. Tang lễ ông hết sức trọng thể và phủ trên quan tài ông lá cờ đề ba chữ “Dân tộc hồn” có nghĩa là linh hồn của Dân tộc. Đó là sự sùng bái của nhân dân Trung Quốc dành cho Lỗ Tấn đến tận cuối cuộc đời.
Ban đầu vì học giỏi nên ông được cử sang Nhật du học ngành y. Nhưng rồi nhân một lần xem phim thời sự giữa giờ học, Lỗ Tấn thấy cảnh một người Trung Quốc bị quân Nhật trói ở giữa chuẩn bị xử chém, xung quanh là những kẻ đứng xem, người nào người nấy thân thể khỏe mạnh còn vẻ mặt thì thờ ơ mà không có lấy một chút thương xót.
Từ đó, ông nhận thấy học thuốc không còn là việc quan trọng vì dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khoẻ mạnh, cường tráng cũng chỉ có thể làm thứ người mà người ta đem ra chém đầu thị chúng và trở thành loại người đứng xem vô vị như thế kia mà thôi.
Chính vì thế nên ông cho rằng điều trước tiên là phải biến đổi tinh thần họ. Và theo ông để làm điều đó không gì hiệu quả bằng văn nghệ nên cuối cùng ông theo nghề viết văn để thức tỉnh quốc dân, đồng bào.
Tổng Quan tình hình kinh tế đình trệ ở Trung Cộng
Hàng chục nước phương Tây kêu gọi Việt Nam ngừng thi hành án tử tù Lê Văn Mạnh
Quan hệ Mỹ-Trung đáng lo ngại
Báo Nguoi-viet
September 19, 2023
Hiếu Chân/Người Việt
Những người quan sát thời sự không ngạc nhiên khi thấy gần đây, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ có vẻ như xuống giọng khi nói tới Trung Quốc và cuộc cạnh tranh giữa hai nước. Nhưng nhìn vào hành động của chính quyền Biden, không khó nhận thấy Mỹ nói một đằng làm một nẻo, một chiếc thòng lọng đang siết dần quanh Trung Quốc. Về phần mình, Trung Quốc không ngây thơ tin vào những lời đường mật của Washington mà ngược lại, đang đẩy cuộc đối đầu tới mức khó có thể thỏa hiệp.

Phát biểu trong cuộc họp báo tại Hà Nội tuần trước, ngay sau buổi làm việc với Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Thống Joe Biden nói “Hoa Kỳ không có ý định kiềm chế Trung Quốc,” nước Mỹ “không tìm cách gây tổn thương Trung Quốc” và “tất cả chúng ta đều tốt hơn nếu Trung Quốc phát triển tốt.”
Và như để thể hiện thiện chí ổn định mối quan hệ song phương rất căng thẳng sau chuyến thăm Đài Loan của bà Nancy Pelosi năm ngoái, nhất là sau vụ khinh khí cầu do thám của Trung Quốc bay vào vùng trời nước Mỹ và bị bắn hạ ngoài bờ biển South Carolina, những tháng gần đây Hoa Kỳ đã cử nhiều quan chức cao cấp tới Bắc Kinh đề nghị nối lại liên lạc cấp cao giữa hai bên.
Sau Ngoại Trưởng Antony Blinken, Bộ Trưởng Tài Chính Janet Yellen, Đặc Phái Viên Về Khí Hậu, cựu Ngoại Trưởng John Kerry và Bộ Trưởng Thương Mại Gina Raimondo, sắp tới Lãnh Đạo Đa Số Thượng Viện Chuck Schumer sẽ dẫn một đoàn thượng nghị sĩ liên bang tới Trung Quốc nhằm giải thích những thắc mắc về một số chính sách và luật lệ liên quan tới Trung Quốc mà Quốc Hội Mỹ đã ban hành.
Nhưng đó chỉ là một mặt – một củ cà rốt – trong chính sách đối với Trung Quốc của chính quyền Biden. Quan trọng hơn và được thực hiện ráo riết hơn là mặt đối lập – là cây gậy; theo đó Hoa Kỳ ngày càng đẩy mạnh chiến lược thu phục đối tác và đồng minh để bao vây Trung Quốc cả về an ninh và kinh tế.
Sự kiện ông Biden tới Ấn Độ dự hội nghị G20, sau đó đến Việt Nam ký kết thỏa thuận nâng cấp quan hệ song phương là dấu hiệu rõ ràng cho thấy vấn đề Trung Quốc là trọng tâm hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Mỹ hiện nay, trên cả vấn đề bảo vệ Ukraine trong cuộc xâm lược của Nga.
Mỹ có nhiều lý do để cứng rắn với Trung Quốc sau nhiều thập niên thực hiện chính sách “kết giao” (engagement), góp phần giúp Trung Quốc phát triển thần tốc. Nhưng những hành vi hung hăng và những ý định mờ ám của Bắc Kinh đã xóa sạch mọi thiện cảm mà người dân Mỹ dành cho họ.
Sự kiện Trung Quốc canh tân quân đội, phát triển các loại vũ khí tân tiến và đưa ra những tuyên bố sắt máu đòi thâu tóm Đài Loan bằng vũ lực, thậm chí đe dọa tấn công phủ đầu các căn cứ Mỹ tại châu Á và đảo Guam, đảo Hawaii, đánh chìm các hàng không mẫu hạm Mỹ… là nền tảng để quân đội Mỹ phải chuyển sang chiến lược kiềm chế, ngăn chặn và đánh bại Trung Quốc nếu nổ ra chiến tranh giữa hai nước.
Nước xa không cứu được lửa gần. Ngoài tiềm lực sẵn có, Mỹ vẫn cố xây dựng mạng lưới đồng minh và đối tác, cùng chia sẻ mục tiêu chung. Đến nay ở khu vực Mỹ có sáu hiệp ước tương trợ quốc phòng hoặc cam kết phòng thủ với Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, New Zealand, Philippines và Thái Lan; có luật về quan hệ với Đài Loan, có khối Bộ Tứ (QUAD – gồm Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ), có liên minh AUKUS (Mỹ-Anh-Úc). Việc Mỹ gia tăng bán vũ khí phòng thủ cho Đài Loan và củng cố mối quan hệ nhiều thăng trầm giữa Nhật Bản và Nam Hàn trong hội nghị tại trại David mới đây là bước tiến mới trong công cuộc thiết lập vành đai an ninh đối phó với Trung Quốc.
Trong lĩnh vực kinh tế cũng vậy. Chính sách kinh tế thực dụng và duy lợi của Trung Quốc vừa không minh bạch, không công bằng vừa làm méo mó các nguyên tắc căn bản của thị trường tự do. Sự kiện Bắc Kinh gia tăng kiểm soát và hạn chế các công ty nước ngoài để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nội địa làm cho Trung Quốc trở thành nơi “không thể đầu tư được” như nhận định của Bộ Trưởng Raimondo.
Đặc biệt, chính quyền của ông Tập đã tung tiền thực hiện cái gọi là đại dự án “Vành Đai và Con Đường” (BRI) – đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở hơn 100 nước – như một nỗ lực làm thay đổi trật tự thế giới theo hướng có lợi cho Trung Quốc, không chỉ làm cho Mỹ mà cả Châu Âu và nhiều nước khác phải lo ngại. Tới nay, BRI đã lộ nguyên hình là một cái “bẫy nợ” khổng lồ, hơn 60% số quốc gia đã vay tiền của Trung Quốc lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất.
Tại hội nghị G20 vừa qua, Tổng Thống Biden cam kết cải tổ Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế để giúp các nước nghèo được vay vốn dễ dàng hơn cho các dự án hạ tầng thiết yếu, phát triển năng lượng sạch, chống biến đổi khí hậu. Mỹ sẽ cung cấp $25 tỷ vốn ban đầu và vận động $200 tỷ khác cho các nước nghèo trong vòng một thập niên tới, coi đây là liều thuốc giải độc cho cái tham vọng BRI của ông Tập Cận Bình.
Mỹ cũng ký một thỏa thuận với Saudi Arabia, Ấn Độ và Liên Minh Châu Âu (EU) nhằm kết nối giao thương giữa Ấn Độ, Trung Đông và Châu Âu trong một mạng lưới đường sắt và hải cảng; tiến tới ổn định tình hình và hội nhập khu vực Trung Đông vào thế giới bên ngoài. Chính sách ngoại giao dùng tiền mua ảnh hưởng của Bắc Kinh giờ đây đã bị thách thức từ các sáng kiến kết nối mới của Mỹ.
Tại Ấn Độ và Việt Nam, trong chuyến đi vừa qua, ông Biden đã cam kết hợp tác sâu rộng trong các lĩnh vực công nghệ thiết yếu, một phần để bảo đảm chuỗi cung ứng hàng hóa cho người Mỹ không bị gián đoạn, phần khác để giúp các nước này phát triển, tách ra và cạnh tranh được với Trung Quốc.
Ở Ấn Độ, đó là các dự án về điện toán lượng tử (quantum computing), thám hiểm không gian và viễn thông thế hệ 5 (5G), thế hệ 6 (6G). Đổi lại, Ấn Độ cam kết thải bỏ thiết bị và công nghệ viễn thông của Huawei, ZTE của Trung Quốc, thay bằng các sản phẩm phương Tây trong chương trình “Rip and Replace” (gỡ và thay thế) do Mỹ chủ xướng. Con voi Ấn được đại bàng Mỹ tiếp sức sẽ trở thành đối thủ nặng ký về công nghệ của con rồng Trung Quốc.
Ở Việt Nam, quan hệ song phương được nâng lên “đối tác chiến lược toàn diện,” ảnh hưởng tới mọi phương diện từ giáo dục đến công nghệ và đã có những biên bản ghi nhớ được ký kết giữa doanh nghiệp địa phương và các công ty Mỹ như Nvidia, Amkor, Synopsis… trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn. Đầu tư công nghệ của Mỹ tại Việt Nam chưa nhiều nhưng sẽ biến nước này thành điểm hấp dẫn các công ty Mỹ và phương Tây đang chuyển một phần cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc; từ đó làm giảm vai trò thống trị của Trung Quốc trong những lĩnh vực công nghệ cao.
Với chuyến đi Ấn Độ và Việt Nam của Tổng Thống Biden vừa qua, rõ ràng Mỹ đã mở rộng đáng kể mạng lưới đồng minh và đối tác trong khu vực Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương đủ mạnh để làm đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc.
Bắc Kinh tất nhiên không ngồi im và mọi hành động kể trên của Mỹ đều được giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc coi là thù địch và tìm cách trả đũa. Các chính sách và hành động của Mỹ như gia tăng tần suất và quy mô các cuộc tập trận trong khu vực, tuần tra bảo vệ tự do hải hành (FONOPs), nhất là các chuyến viếng thăm Đài Loan của các quan chức cao cấp Mỹ, liên tục cung cấp vũ khí tân tiến cho Đài Loan và củng cố quan hệ với các nước lân cận Trung Quốc làm cho Bắc Kinh hết sức phẫn nộ. Họ liên tục tố cáo Mỹ có thái độ đối đầu và gây bất ổn trong khu vực mà né tránh nguyên nhân thật sự là sự trỗi dậy đầy hung hăng và thách thức của chính Trung Quốc.
Tình trạng cạnh tranh ngày càng tăng cũng khiến Trung Quốc thêm quyết tâm canh tân quân đội, mở rộng kho vũ khí nguyên tử và vũ khí quy ước, xây dựng hạm đội hải quân lớn nhất thế giới.
Đáng lo ngại là trong cuộc đối đầu hiện nay, Trung Quốc chẳng những không nhượng bộ mà còn từ chối mọi đề nghị nối lại liên lạc cấp cao giữa hai nước, hai quân đội. Những chuyến đi Bắc Kinh liên tục của các quan chức Mỹ hầu như không đạt được một kết quả cụ thể nào. Một sự hiểu lầm nào đó, một sự cố va chạm nào đó của phi cơ và tàu chiến hai nước trên vùng Biển Đông, biển Hoa Đông đều có thể trở thành cái cớ cho một cuộc xung đột nóng mà hậu quả sẽ hết sức tàn khốc.
Ông Tập và ông Biden có thể sẽ gặp nhau tại Thượng Đỉnh APEC ở San Francisco trong vài tháng nữa. Nếu hai nhà lãnh đạo Mỹ-Trung không tìm được giải pháp cho cuộc đối đầu hiện nay thì tình hình sẽ hết sức nguy hiểm. Lợi ích và tham vọng của các bên có thỏa hiệp được không? Nhìn một cách khách quan, triển vọng quan hệ Mỹ-Trung Quốc trong tương lai là rất u ám. [kn]
Tin Vui Chính Nghĩa VNCH: Khánh thành đài Tri ân lớn tưởng nhớ Chiến sĩ Việt và Đồng Minh
Hội Đồng Quản Trị Tri Ân Foundation trân trọng thông báo:
Lễ Khánh Thành Đài Tưởng Niệm Tri Ân sẽ được tổ chức vào lúc 2 giờ chiều thứ hai, ngày 9 tháng 10 năm 2023 tại Veterans Memorial Park, Jeffersontown, Kentucky.
Đài Tưởng Niệm Tri Ân — với mục đích ghi nhớ công ơn các chiến sĩ Việt, Mỹ, và đồng minh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam Việt Nam — được xây dựng bằng đá hoa cương từ Việt Nam theo kiểu mẫu của Grega Vezyak, một kiến trúc sư người Slovenia. Kiểu mẫu này được chọn trong một cuộc thi vẽ kiểu quốc tế tổ chức năm 2016 với sự tham gia của 128 kiến trúc sư từ 29 quốc gia khác nhau.
Ở giữa sân Đài Tưởng Niệm là 8 cột xi măng cao 30 feet, tượng trưng cho 8 quốc gia đồng minh cùng đóng góp xương máu vào cuộc chiến bảo vệ tự do. Trên một bức tường dài 120 feet là nhiều hình ảnh về tinh thần chiến đấu, sự hy sinh của các chiến sĩ Việt Mỹ, cũng như về hai cuộc di cư khổng lồ của người Việt Nam trốn chạy chế độ Cộng Sản năm 1954 và sau năm 1975.
Trong buổi lễ khánh thành, quý vị sẽ được nghe ban quân nhạc của Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ trình tấu
hai bài quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, cùng nhiều bản nhạc khác. Quý vị cũng sẽ được nghe tâm tình của Thiếu Tướng Dean Allen Youngman và Thiếu Tướng Lương Xuân Việt, hai vị lãnh đạo quân sự từ hai thế hệ liên quan đến chiến tranh Việt Nam.
Quý đồng hương ở Louisville, nếu cần phương tiện di chuyển, xin vui lòng liên lạc với Tâm Đỗ, điện thoại số (502) 751-1011, hoặc Tâm Dương, (502) 514-9296, để ghi danh lấy chỗ trên xe bus của ban tổ chức.
Chúng tôi sẽ liên lạc với quý vị về giờ giấc và địa điểm lên xe.
Những quý vị có phương tiện di chuyển tự túc, xin vui lòng đậu xe tại Southeast Christian Church, 920 Blankenbaker Pkwy, Louisville, Kentucky 40243. Tại đây, sẽ có xe bus chở quý vị đến địa điểm hành lễ từ 12 giờ trưa đến 1:30 chiều, và đưa quý vị trở về bãi đậu xe từ 3 đến 5 giờ chiều. Xin lưu ý: địa điểm hành
lễ không có chỗ đậu xe.
Trân trọng kính mời quý đồng hương, cộng đồng người Việt gần xa, các hội đoàn, tổ chức cựu chiến binh khắp nơi, cũng như các cơ quan truyền thông đến tham dự ngày vui này.
Thay mặt Ban Tổ Chức,
Yung Nguyen
Tri Ân Foundation, Chairman
Vietnamese Community of Louisville, President
Announcement
The Board of Directors of the Tri Ân Foundation is pleased to announce that the Dedication Ceremony of the Tri Ân Monument will be held at 2 p.m. on Monday, October 9, 2023 at the Veterans Memorial Park, Jeffersontown, Kentucky.
The Tri Ân Monument — with the purpose of paying tribute to the Vietnamese, American, and allied soldiers who fought in the defense of South Vietnam — is built with granite from Vietnam according to the model of Grega Vezyak, a Slovenian architect. This model was selected in an international design
competition held in 2016 with the participation of 128 architects from 29 different countries. In the main plaza of the Monument are 8 concrete columns, each 30 feet high, symbolizing the 8 allied na4ons that
contributed troops to the fight for freedom. On a 120-foot-long wall are many pictures showing the fighting spirit and sacrifices of Vietnamese and American soldiers, as well as images from the two exoduses of
Vietnamese people fleeing the Communist regime in 1954 and again in 1975.
During the inauguration ceremony, you will hear the military band of the 101st Airborne Division performing the national anthems of the United States and the Republic of Vietnam, among other musical pieces. You will also hear from Major General Dean Allen Youngman and Major General Luong Xuan Viet,
two military leaders from two genera4ons related to the Vietnam War.
On behalf of the Organizing Committee,
Yung Nguyen
Tri Ân Foundation, Chairman
Vietnamese Community of Louisville, President
Chuyến viếng thăm Tượng đài Trí Ân và khu vực kỹ thuật số của nó sẽ là một trải nghiệm đáng nhớ đối với tất cả mọi người. Những người lính đã chiến đấu sẽ có thể kết nối với những người đồng đội mà họ đã phục vụ cùng. Các thủy thủ sẽ biết được số phận của những người tị nạn được giải cứu hàng thập kỷ sau khi đưa họ đến nơi an toàn. Gia đình của những người đã ngã xuống sẽ biết được những câu chuyện và hiểu biết mới về sự hy sinh của người thân yêu của họ. Các nhà giáo dục và học sinh sẽ hiểu sâu hơn về một phần quan trọng của lịch sử thế giới.
Cụm từ “Trí Ân” có nghĩa là “lòng biết ơn sâu sắc”. Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi vinh danh những người đã chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ cho nhân dân miền Nam Việt Nam trong chiến tranh.
Chúng tôi cảm ơn và vinh danh tất cả những người đã nỗ lực nhân đạo giúp hàng triệu người tị nạn Việt Nam đến được nơi trú ẩn an toàn trên hành trình tìm kiếm tự do sau chiến tranh.

Tám cột bê tông tre đứng uy nghi, gợi nhớ đến tám đồng minh chống cộng đã cùng nhau nỗ lực vì tự do cho nhân dân Việt Nam – Nam Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc, Thái Lan, Hàn Quốc, New Zealand, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Philippines.

















