“Công lý” từ cân điêu và nảy mực bằng máu!

Ba’o Tieng Dan

Blog RFA

Đồng Phụng Việt

31-1-2024

Tin mới thấy: Ông Nguyễn Thành Dũng, 39 tuổi, bị bắt giữ vì “tàng trữ ma túy” (khoảng một gram ketamin). Vụ bắt giữ xảy ra khi công an kiểm tra một nhà nghỉ tọa lạc ở thành phố Pleiku hôm 12/1/2024. Ông Dũng không phải thường dân mà là một trong những người “cầm cân, nảy mực” ở huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Tuy nhiên theo Chánh án Tòa án huyện Chư Prông, việc ông Dũng bị bắt không liên quan gì đến cơ quan của ông lẫn Tòa án tỉnh Gia Lai vì trước khi bị bắt ba ngày (hôm 8/1/2024), Thẩm phán Nguyễn Thành Dũng đã nộp đơn xin nghỉ việc và ngay trong ngày hôm sau, ngành Tòa án đã… giải quyết xong hồ sơ xin nghỉ việc của ông Dũng (1)?

Cũng trong tuần này, Viện Kiểm sát Tối cao công bố cáo trạng truy tố ông Võ Đình Sớm, 56 tuổi, cựu Thẩm phán, Chánh Tòa Kinh tế của Tòa án tỉnh Gia Lai vì “nhận hối lộ”. Ông Sớm là người thụ lý vụ tranh chấp 11.897 mét vuông đất giữa ông Phan Anh Tuấn (cư ngụ tại thành phố Pleiku) và Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển hồ (2).

Ảnh: Ông Võ Đình Sớm, Thẩm phán, Chánh Tòa Kinh tế Tòa án tỉnh Gia Lai, bị khởi tố. Nguồn: Báo Gia Lai

Tháng 5/2023, ông Sớm chủ động gặp gỡ ông Tuấn, bảo ông Tuấn, có thể xử cho ông quyền sử dụng 3.600/11.867 mét vuông có tranh chấp nhưng muốn được như thế thì phải hối lộ. Vì không có tiền, ông Tuấn đề nghị, nếu cho ông thắng kiện, ông sẽ cho ông Sớm 10 mét đất tính theo chiều rộng mặt đường của thửa đất đang tranh chấp.

Ông Sớm từ chối lấy đất và xác định khoản ông Tuấn phải chung nếu muốn thắng kiện là hai tỉ đồng. Do ông Tuấn than nghèo, ông Sớm đồng ý bớt 500 triệu, buộc phải sớm chung 1,5 tỉ vì còn phải chia cho một số nơi như Kiểm sát (không phản đối việc Tòa án chấp nhận đơn, không kháng nghị sau khi tuyên án), Sở Tài nguyên Môi trường (không kháng cáo bản án)…

Để ông Tuấn có tiền chung cho mình, ông Sớm giới thiệu ông Tuấn chỗ cho vay. Lẽ ra vụ kiện được đưa ra xét xử vào ngày 11/7/2023 nhưng vì ông Tuấn chưa kiếm được tiền để chung nên phiên xử bị tạm hoãn.  Ông Sớm tiếp tục đốc thúc ông Tuấn chung tiền. Cuối cùng, khi ông Tuấn đem thế chấp giấy tờ nhà đất nhưng chỉ vay được 500 triệu, ông Sớm miễn cưỡng “tạm chấp nhận” 16 “cục tiền” (mười cục loại 200.000 và sáu cục loại 500.000) và khuyên ông Tuấn đừng lo vì ông là người xét xử… Chuyện vỡ lở hồi đầu tháng 8/2023 vì ngoài việc tố cáo, ông Tuấn còn nộp tám file ghi âm các cuộc trò chuyện giữa ông và ông Sớm (3)…

Tháng sau (9/2023), Tòa án tỉnh Gia Lai đưa vụ tranh chấp đất giữa ông Tuấn và Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển hồ ra xét xử và bác yêu cầu được nhận quyền sử dụng thửa đất mà gia đình ông Tuấn vừa khai phá, vừa nhận chuyển nhượng từ người khác – có xác nhận của chính quyền địa phương (4). May cho ông Tuấn là ông được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi “đưa hối lộ” do bị cưỡng ép và “chủ động trình báo, phối hợp với Cơ quan điều tra làm rõ”.

***

Thẩm phán là loại việc vốn chỉ dành cho những người đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt  về tri thức, kinh nghiệm, đạo đức bởi họ nhân danh công lý để “cầm cân, nảy mực”, phân định đúng – sai và đưa ra những quyết định khiến thiên hạ tin đó là công bằng.

Tuy nhiên cách tổ chức, vận hành bộ máy công quyền tại Việt Nam đã tạo ra vô số thẩm phán biến công lý trở thành trò hề, khiền công chúng chán ngán, phẫn nộ. Giống như viên chức của tất cả các lĩnh vực khác, giới thẩm phán ở Việt Nam cũng nổi tiếng vì bầy hầy cả trong sinh hoạt cá nhân lẫn trong công việc: Vòi vĩnh thân nhân bị cáo, nguyên đơn, bị đơn để được bao ăn nhậu (4). Cờ bạc (5). Nghiện ma túy như ông Dũng. Quấy rối tình dục (6).  Ngoại tình (7). Đòi hối lộ cả tiền lẫn tình (8). Việt Nam có lẽ là quốc gia duy nhất nhiều lần thản nhiên thừa nhận… “một số thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn” (9)… Song chưa bị bắt quả tang thì vẫn còn quyền… xét xử!

Cách nay ba tháng, thêm một lần nữa, ông Nguyễn Hòa Bình – Thẩm phán giữ vai trò Chánh án Tòa án Tối cao – thản nhiên báo cáo về chuyện: Trong năm 2023, có 46 công chức tòa án bị xử lý kỷ luật, trong đó có 32 bị khiển trách, tám bị cảnh cáo, bốn bị buộc thôi, hai bị miễn nhiệm khỏi chức vụ lãnh đạo và năm bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bất kể dân chúng nghĩ gì, nói gì về đội ngũ thẩm phán, Quốc hội Việt Nam vẫn vô tư tán thành bản báo công của ông Bình (10), cho dù có vô số bằng chứng cho thấy đội ngũ “cầm cân, nảy mực” không chỉ cân điêu mà còn dùng nước mắt, máu của nhiều người để nảy mực. Khi nào và làm sao để  “công lý” hết nhơ nhuốc và tàn tệ như vậy?

Tham khảo

(1) https://nld.com.vn/vua-nghi-viec-tham-phan-tand-bi-bat-vi-tang-tru-ma-tuy-196240128101514024.htm

(2) https://kiemsat.vn/vksnd-toi-cao-ban-hanh-cao-trang-truy-to-doi-voi-cuu-tham-phan-tand-tinh-gia-lai-67581.html

(3) https://nld.com.vn/noi-dung-8-file-ghi-am-to-giac-tham-phan-nhan-hoi-lo-15-ti-dong-196240102162724388.htm

(4) https://danviet.vn/tham-phan-an-nhau-roi-goi-bi-don-den-tra-tien-7777571790.htm

(5) https://www.vietnamplus.vn/binh-phuoc-yeu-cau-mot-tham-phan-giai-trinh-ve-clip-to-danh-bac-post599000.vnp

(6) https://tuoitre.vn/nu-sinh-thuc-tap-gui-chung-cu-to-tham-phan-quay-roi-1147891.htm

(7) https://thanhnien.vn/tham-phan-bi-phat-hien-o-chung-phong-nghi-voi-duong-su-nu-185454328.htm

(8) https://kinhtedothi.vn/tong-tien-tinh-nguyen-pho-chanh-an-tand-tinh-bac-lieu-bi-truy-to.html

(9) https://thanhnien.vn/mot-so-tham-phan-con-han-che-ve-trinh-do-chuyen-mon-185253633.htm

(10) https://plo.vn/5-cong-chuc-toa-an-bi-khoi-to-hinh-su-46-nguoi-bi-xu-ly-ky-luat-post756709.html


 

Biển Đông: Lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc ‘trục xuất’ người Philippines trong cuộc đụng độ mới nhất tại bãi cạn Scarborough đang tranh chấp

Theo SCMP

Lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc cho biết họ đã “đuổi” bốn người Philippines khỏi bãi cạn tranh chấp ở Biển Đông , vụ đụng độ mới nhất giữa hai quốc gia trên vùng biển có nhiều cá. Trong một tuyên bố đưa ra vào cuối ngày thứ Ba, lực lượng bảo vệ bờ biển tuyên bố người Philippines đã “xâm nhập trái phép” vào Bãi cạn Scarborough vào Chủ nhật mà không cho biết liệu bốn người này có ở trên thuyền đánh cá hay không.

Người phát ngôn Gan Yu cho biết lực lượng bảo vệ bờ biển đã “đưa ra cảnh báo và xua đuổi họ theo quy định của pháp luật, một cách chuyên nghiệp và tiêu chuẩn”.

Ông nói: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với đảo Hoàng Nham và các vùng biển lân cận và luôn kiên quyết chống lại các hành vi xâm phạm của phía Philippines”. Ông cho biết lực lượng tuần duyên “sẽ luôn luôn bảo vệ và thực thi các quyền và lợi ích của mình trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc, đồng thời kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng như quyền và lợi ích hàng hải”.

Các yêu sách mở rộng của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông đang bị các nước láng giềng phản đối, trong đó có Philippines.

Cuộc đối đầu mới nhất diễn ra chưa đầy hai tuần sau khi Bắc Kinh và Manila đồng ý giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trong cuộc đàm phán ở Thượng Hải vào ngày 17/1.
Tuyên bố của Trung Quốc về vụ việc cũng được đưa ra vài giờ sau khi Philippines và Việt Nam đồng ý mở rộng hợp tác giữa lực lượng bảo vệ bờ biển của hai nước khi Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jnr có mặt tại Hà Nội hôm thứ Ba. Giống như Philippines, Việt Nam có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông và là nước lên tiếng chỉ trích tuyên bố chủ quyền rộng lớn của nước này đối với vùng biển này.
Bãi Cạn Scarborough là vùng đánh cá truyền thống của ngư dân Phi Luật Tân.

Bãi cạn Scarborough – một chuỗi rạn san hô và đá hình tam giác nằm giữa Biển Đông – là khu vực đánh cá truyền thống của cả hai nước. Nó nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 120 hải lý về phía Tây và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 594 hải lý.

Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Bãi cạn Scarborough sau cuộc đối đầu căng thẳng giữa tàu Trung Quốc và Philippines vào năm 2012, một sự việc khiến Manila phải khởi kiện lên trọng tài quốc tế về tranh chấp của họ ở Biển Đông. Bốn năm sau, Tòa án Trọng tài Thường trực ở The Hague đã bác bỏ các yêu sách sâu rộng của Bắc Kinh đối với tuyến đường thủy – mặc dù Trung Quốc không tham gia vào quá trình tố tụng và bác bỏ phán quyết.
Căng thẳng ở bãi cạn Scarborough lại bùng lên vào tháng 9 sau khi lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc lắp đặt một rào chắn nổi để ngăn các tàu đánh cá Philippines đi vào đầm phá của nước này, một khu vực đánh bắt cá quan trọng. Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết họ đã dỡ bỏ hàng rào , nhưng lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc sau đó cho biết họ đã tự nguyện dỡ bỏ hàng rào .
Vào tháng 12, Philippines cáo buộc lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc sử dụng vòi rồng để “cản trở” ba tàu chính phủ cung cấp nhiên liệu và thực phẩm cho các tàu đánh cá Philippines gần bãi cạn Scarborough. Trung Quốc tuyên bố các tàu này đã “xâm nhập” vào vùng biển.
Ngư dân Philippines cũng nói với lực lượng bảo vệ bờ biển Manila rằng họ đã bị lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc đuổi ra khỏi bãi cạn Scarborough hồi đầu tháng này và ra lệnh vứt sản phẩm đánh bắt được xuống biển.

Tự hào biết mấy: Trong chỉ một phi vụ bán gian chứng khoán Đại gia Việt Nam XHCN ăn trên 68 triệu đô

Vụ FLC Trịnh Văn Quyết: bắt thêm nguyên Tổng GĐ và 21 người

Ông Trịnh Văn Quyết – Cựu Chủ tịch FLC ở văn phòng tại Hà Nội hôm 30/7/2018 (minh họa  ảnh AFP)

Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CSĐT) thuộc Bộ Công an Việt Nam vào ngày 31/1/2024 thông báo đã ra các quyết định khởi tố, lệnh bắt giam, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với 22 người trong vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty CP Tập đoàn FLC của ông Trịnh Văn Quyết, Công ty Cổ phần Chứng khoán BOS, Công ty Cổ phần Xây dựng FLC Faros và các công ty liên quan.

Các biện pháp đối với thêm 22 người liên quan, trong đó có nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn FLC Doãn Văn Phương, là diễn biến mới khi Cơ quan CSĐT thuộc Bộ Công an tiến hành điều tra vụ án “thao túng thị trường chứng khoán” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty CP Tập đoàn FLC của ông Trịnh Văn Quyết, Công ty Cổ phần Chứng khoán BOS, Công ty Cổ phần Xây dựng FLC Faros và các công ty liên quan.

Vào cuối tháng 3/2022, Cơ quan CSĐT thuộc Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh bắt giam và khám xét nơi ở, nơi làm việc đối với ông Trịnh Văn Quyết – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC, để điều tra về các cáo buộc có hành vi “Thao túng thị trường chứng khoán” và “Che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán” xảy ra vào ngày 10/1/2022.

Ông Trịnh Văn Quyết bị cáo buộc đã bán chui 74,8 triệu cổ phiếu vào ngày 4/1/2022 cho phiên giao dịch vào ngày 10/1 thu về hơn 1.500 tỷ đồng. (tương đương với trên 65 triệu đô la tính theo hối suất vào thời điểm đó)

Vụ bán chui cổ phiếu của ông Quyết được nói là đã gây thiệt hại cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, và cũng dẫn đến những chỉ trích, thậm chí đã có luật sư đứng ra nhận đơn kiện tập thể của các nhà đầu tư đối với ông Quyết.

Đến ngày 26/12/2023 Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao trả hồ sơ, đề nghị điều tra bổ sung vụ án cựu Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết thao túng chứng khoán và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo kết luận điều tra, trong giai đoạn từ 26/5/2017 đến 10/1/2022, ông Quyết đã chỉ đạo hai em gái Thúy Nga và Minh Huệ cùng một số người dùng nhiều tài khoản chứng khoán liên tục thực hiện giao dịch để thao túng thị trường.

Riêng với mã FLC có biến động mạnh về giá trong phiên giao dịch ngày 10/1/2022 khi tăng trần lên 24.100 đồng/cổ phiếu sau đó giảm nhanh về mức sàn là 21.150 đồng (giảm 12,9% trong một phiên). Cơ quan điều tra cáo buộc, trong phiên này, ông Quyết đã chỉ đạo em gái bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC với tổng giá trị khớp lệnh 1.600 tỷ đồng. (tương đương trên 68 triệu đô vào thời điểm đó)

Kết luận xác định, ông Quyết cùng đồng phạm đã thao túng năm mã cổ phiếu AMD, HAI, GAB, FLC, ART thu lợi bất chính 723 tỷ đồng.

Bắt nhân viên FLC do liên quan hành vi của ông Trịnh Văn Quyết – Châu ...

Ngoài ra, từ 2014 – 2016 ông Quyết cùng đồng phạm còn bị cáo buộc đã làm thủ tục tăng vốn điều lệ khống từ 1,5 tỷ đồng lên 4.300 tỷ đồng, tương ứng với 430 triệu cổ phần của FLC Faros. Cơ quan điều tra cáo buộc khi FLC Faros niêm yết 430 triệu cổ phiếu mã ROS trên sàn chứng khoán, ông Quyết đã bán, chiếm đoạt 3.600 tỷ đồng là tiền của các nhà đầu tư. Ông Trịnh Văn Quyết bị xác định có vai trò chủ mưu, cầm đầu, vừa là người thực hiện.


 

 4 du học sinh Việt Nam mất tích bí ẩn ở Úc ‘đang trốn tránh chính quyền’

Ba’o Nguoi-Viet

January 30, 2024

ADELAIDE, South Australia (NV) – Cảnh Sát Tiểu Bang Nam Úc cho rằng bốn du học sinh Việt Nam đang mất tích bí ẩn thực ra “đang trốn tránh chính quyền sở tại.”

Báo Tuổi Trẻ hôm 30 Tháng Giêng dẫn tin từ Cảnh Sát Tiểu Bang Nam Úc (SAPOL) phản hồi với báo Daily Mail, khẳng định các du học sinh này đang chạy trốn và “chủ động trốn tránh chính quyền.”

Nữ sinh Sunnie Nguyễn, một trong những du học sinh Việt Nam đang mất tích từ hôm 8 Tháng Giêng. (Hình: VietNamNet)

“Tất cả các manh mối điều tra chỉ ra một số thiếu niên trong đó có thể đã đi đến bang khác và hiện đang ở đó,”phát ngôn viên SAPOL nói.

“Hiện không có dấu hiệu trong bất kỳ cuộc điều tra nào cho thấy, các thiếu niên này đang gặp nguy hiểm và các em có vẻ đang chủ động trốn tránh cảnh sát. SAPOL sẽ tiếp tục làm việc với các đồng nghiệp liên bang và Cảnh Sát Liên Bang Úc để xác định vị trí các em,” phát ngôn viên này nói thêm.

SAPOL đã liên lạc được với gia đình của các du học sinh này ở Việt Nam, và cho thấy họ không tỏ vẻ lo ngại về an toàn của con em mình.

Trước đó, đài 7 News đưa tin SAPOL cho biết năm thiếu niên người Việt được cho là đều đang theo học tại trường trung học Hamilton ở ngoại ô thành phố Adelaide, tiểu bang Nam Úc, “biến mất không dấu vết” trong khoảng thời gian từ Tháng Mười Hai, 2023 đến Tháng Giêng, 2024.

Người mất tích gần đây nhất là cô Sunnie Nguyễn (tên thật Nguyễn Hoàn Ngọc Anh), 17 tuổi, được nhìn thấy lần cuối tại gia đình người giám hộ bản xứ (host family) ở South Plympton (vùng ngoại ô thành phố Adelaide) hôm 8 Tháng Giêng. Các vật dụng cá nhân như ba lô, laptop, quần áo và giấy tờ tùy thân quan trọng cũng không còn.

Báo chí Úc đưa tin bà May Zervaas, người giám hộ, đã cố gắng liên lạc với cô Sunnie Nguyễn nhưng điện thoại của cô tắt nguồn và các trang Instagram, Snapchat, TikTok cá nhân cũng bị xóa sạch.

Gia đình bản xứ của cô Sunnie Nguyễn đang mong ngóng nữ sinh này sẽ liên lạc với họ. (Hình: Chụp từ màn hình 7 News)

Hôm 11 Tháng Giêng, cảnh sát thông báo đã định vị được một trong những học sinh mất tích. Tuy nhiên, bốn người còn lại vẫn chưa rõ tung tích.

Phía cảnh sát cho rằng một số học sinh người Việt này “có thể đã đi đến tiểu bang khác và vẫn an toàn.” Song, chưa rõ lý do vì sao cũng như cách các em thực hiện được điều này. (Tr.N)


 

Tòa buộc ông Trump phải trả cho bà E. Jean Carroll 83,3 triệu USD, ông sẽ kháng cáo

VOA

27/01/2024

Bà E. Jean Carroll rời tòa án liên bang ở New York, 26/1/2024. Bồi thẩm đoàn tuyên ông Donald Trump phải trả thêm cho bà 83,3 triệu đô la.

Bà E. Jean Carroll rời tòa án liên bang ở New York, 26/1/2024. Bồi thẩm đoàn tuyên ông Donald Trump phải trả thêm cho bà 83,3 triệu đô la.

Ông Donald Trump chịu thất bại nặng nề hôm thứ Sáu 26/1 khi bồi thẩm đoàn ở Manhattan, New York, yêu cầu ông phải trả 83,3 triệu đô la cho nữ nhà văn E. Jean Carroll, bà nói rằng ông đã hủy hoại thanh danh của bà, vốn được coi là một nhà báo đáng tin cậy, với việc ông phủ nhận chuyện ông đã hiếp dâm bà cách nay gần 3 thập niên.

Bồi thẩm đoàn yêu cầu cựu tổng thống Mỹ phải trả 18,3 triệu đô la tiền bồi thường thiệt hại và 65 triệu đô la tiền phạt về sự thiệt hại.

Bồi thẩm đoàn gồm 7 nam, 2 nữ, với danh tính được giữ kín, chỉ mất chưa đầy 3 tiếng để đưa ra phán quyết sau phiên tòa kéo dài 5 ngày tại tòa án Manhattan cấp liên bang. Số tiền mà bồi thẩm đoàn ra lệnh ông Trump phải trả cao hơn nhiều mức tối thiểu là 10 triệu đô la mà bà Carroll nhắm đến trong vụ kiện.

Vụ kiện của bà Carroll đã trở thành một vấn đề trong chiến dịch của ông Trump nhằm giành lại Nhà Trắng trong cuộc bầu cử vào tháng 11 năm nay. Ông Trump là người đang dẫn đầu trong cuộc đua để được đảng Cộng hòa chọn làm ứng cử viên chính thức và đối đầu với Tổng thống Joe Biden thuộc đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tháng 11 ở Mỹ. Ông Biden đã đánh bại ông Trump vào năm 2020.

Ông Trump đã dự phần lớn thời gian của phiên tòa nhưng không có mặt trong phòng xử án để nghe phán quyết. Ông đăng bài lên mạng xã hội cho hay ông sẽ kháng cáo.

Bà Carroll, 80 tuổi, là cựu nhà báo phụ trách chuyên mục tư vấn của tạp chí Elle. Bà khởi kiện ông Trump vào tháng 11/2019 vì 5 tháng trước đó ông phủ nhận chuyện ông đã hiếp dâm bà vào giữa những năm 1990 trong phòng thay đồ của cửa hàng bách hóa Bergdorf Goodman ở Manhattan.

Ông Trump, 77 tuổi, khẳng định rằng ông chưa bao giờ nghe nói đến bà Carroll và rằng bà đã bịa chuyện để tăng doanh số bán cuốn hồi ký của bà.

Vào tháng 5/2023, một bồi thẩm đoàn khác đã tuyên ông Trump phải trả cho bà Carroll 5 triệu đô la vì ông đưa ra lời phủ nhận tương tự vào tháng 10/2022. Tòa xác định ông ta đã phỉ báng và xâm hại tình dục bà Carroll. Ông Trump đang kháng cáo phán quyết đó và tạm nộp 5,55 triệu đô la với tòa án Manhattan trong quá trình kháng cáo.

Thẩm phán cấp quận hạt Hoa Kỳ Lewis Kaplan, chủ tọa của cả hai phiên tòa, nói rằng phán quyết lần trước có hiệu lực pháp lý đối với phiên tòa thứ hai, đồng nghĩa là vấn đề duy nhất đối với bồi thẩm đoàn là ông Trump phải trả bao nhiêu mà thôi.

Ông Trump phải đối phó với một loạt các vụ kiện tụng. Ngoài 2 vụ nêu trên, ông cũng đã không nhận tội đối với 91 tội danh trong 4 cáo trạng hình sự, trong đó có 2 vụ cáo buộc rằng ông cố gắng đảo ngược một cách phi pháp việc ông bị thua trong cuộc bầu cử năm 2020.


 

VIỆN ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

Viện Đại học Đà Lạt được thành lập ngày 8/08/1957, trên cơ sở chính được nhượng lại ban đầu là Trường Thiếu sinh quân hỗn hợp Âu – Á (École d’Enfants de Troupe de DaLat) của Quân đội Pháp tại Dalat.

Tổ chức

Đứng quản lý Viện Đại học là Hội Đại học Đà Lạt (trong đó có Hội đồng Giám mục Việt Nam), một tổ chức pháp lý để thâu lợi nhuận, kinh tài và phát triển Viện Đại học. Hoạt động của Hội gồm việc thương lượng với chính phủ để tài trợ, vay mượn. Ngoài ra Hội còn sở hữu bất động sản như một số đồn điền cao su và thương xá TAX ở Sài Gòn cũng thuộc Hội.

Tuy là một cơ sở giáo dục thuộc Giáo hội Công giáo, Viện Đại học Đà Lạt không chủ trương gây dựng nền giáo dục theo sát quan điểm của Giáo hội. Cụ thể qua số liệu: Số giảng viên theo đạo ít hơn 25% và sinh viên Công giáo chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 30%.

Các cơ sở chính yếu của Viện tại Dalat

Cơ sở tại các khu đồi chính dùng để xây dựng, phát triển tiện nghi sinh hoạt quản trị, giảng huấn, cư trú của Viện Đại Học Đà Lạt, bao gồm có ba Khu A, B, C:

Khu A: Khu đồi chính, cũng là có sở chính của Viện nằm ở đường Phù Đổng Thiên Vương cuối Đồi Cù phía Tây thành phố Đà Lạt (là cơ sở cũ của Trường Thiếu Sinh Quân do người Pháp để lại); Diện tích chừng 40 ha, cách Trung Tâm Thành phố Đà Lạt 1,5 km. Khuôn viên Đại Học Đà Lạt tại Khu A khởi đầu chỉ có chừng hơn mười tòa nhà, với các đường đi lối lại được trải đá dăm. Các tòa nhà chính được được dùng làm giảng đường và cơ sở hành chính mang các tên là: Minh Thành, Tri Nhất, Thụ Nhân, Thượng Chí, Đôn Hóa… với hàm ý giáo dục dẫn ý từ Tứ thư, Ngũ kinh của Nho học cổ điển.

Khu B: Khu đồi Minh Hòa, nơi lúc đó có cư xá sinh viên Rạng Đông và Chủng viện Minh Hòa thuộc GP Đà Lạt, ở đường Thông Thiên Học.

Khu C: Khu C ở đường Vạn Kiếp dùng làm Cư Xá Nhân Viên và ban Giảng Huấn.

Cả ba khu đang có kế hoạch mở mang theo đúng chức năng được hoạch định. Chính Linh Mục Viện Trưởng, ủy nhiệm cho GS phụ tá hành chánh vai trò chuẩn bị với sự trợ giúp của Tòa Tỉnh Trưởng Đà Lạt, thu xếp một chuyến máy bay trực thăng từ Nha Trang lên, và đã bay ở cao độ 300 m để chuyên viên nhiếp ảnh (nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngà của Photo Hồng Châu, Khu Chợ Hòa Bình Đà Lạt) có thể chụp các không ảnh cả ba khu ABC của Viện Đại Học Đà Lạt.

Chính nhờ những không ảnh này mà các chuyên viên kỹ thuật tùng sự tại Trường Chiến tranh chính trị Đà lạt có thể giúp thiết lập một mô hình (sa bàn) thu nhỏ toàn bộ Khu A của Viện Đại Học Đà Lạt và làm cơ sở hoạch định sau này.

Đào tạo của Viện Đại học tại Dalat

Sau thời gian sửa chữa, xây dựng thêm mới từ cơ sở ban đầu, Viện đã mở niên khóa đào tạo đại học đầu tiên là năm 1958 – 1959. Quy mô phát triển của Viện Đại học Đà Lạt đến trước năm 1975 bao gồm 05 trường đại học (Tương đương là 05 phân khoa, theo khái niệm sau này).

  1. Trường Đại học Sư phạm: là trường được thành lập đầu tiên, bắt đầu đào tạo từ năm học 1958 – 1959. Trường đào tạo cử nhân sư phạm cho những sinh viên hoàn thành chương trình 3 năm của các khoa khác trong nhà trường.
  2. Trường Đại học Khoa học: bắt đầu đào tạo từ năm học 1959 – 1960, đã đào tạo cử nhân các ngành: Toán học, Vật lý, Lý – Hóa, Hóa học, Sinh – Lý – Hóa, Vạn vật và Địa chất học.
  3. Trường Đại học Văn khoabắt đầu đào tạo từ năm học 1959 – 1960, đào tạo cử nhân các ngành: Việt văn, Triết học, Hán văn, Pháp văn, Anh văn, Lịch sử và Địa lý.
  4. Trường Chính trị Kinh doanh(với hai phân khoa: Chính trị Xã hội và Quản trị Kinh doanh): bắt đầu đào tạo từ năm học 1964 – 1965, đào tạo cử nhân các ngành: Bang giao quốc tế, Báo chí học, Kinh tế tài chính và Quản trị Kỹ nghệ.
  5. Trường Đại học Thần học: bắt đầu đào tạo từ năm học 1973 – 1974.

Đào tạo Cao học:

Trường Đại học Văn khoa bắt đầu đào tạo Cao học từ năm học 1966 – 1967 với các ngành: Việt văn, Anh văn, Pháp văn, Hán văn, Triết học, Sử học và Địa lý.

Trường Chính trị Kinh doanh bắt đầu đào tạo Cao học từ năm học 1968 – 1969, ngành Chính trị Kinh doanh.

“Thụ Nhân” là tôn chỉ của Viện Đại học Đà lạt

“Nhất Niên Chi Kế, Mạc Nhi Thụ Cốc, Thập Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Mộc, Bách Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Nhân.”

Kế một năm, không gì bằng trồng lúa; kế mười năm, không gì bằng trồng cây; kế trăm năm, không gì bằng trồng người.

Viện Đại học Đà Lạt thu hút sinh viên trên khắp mọi miền đất nước đến học. Dù Viện Đại học Đà Lạt là một cơ sở giáo dục tư nhân của Giáo hội Công giáo, song Viện giảng dạy và đào tạo cho mọi tầng lớp người dân, không phân biệt tôn giáo.

Năm học đông sinh viên nhất là năm học 1973 – 1974 với gần 5.000 sinh viên. Tổng số sinh viên vào học từ khóa đầu đến năm học 1973 – 1974 khoảng 31.500 sinh viên, trong đó có khoảng 1.900 sinh viên đã tốt nghiệp được cấp bằng cử nhân.

Danh sách viện trưởng:

1957- 1961: Tổng giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (1897-1984)

1961-1970: Linh mục Simon Nguyễn Văn Lập (1911-2001)

1970-1975: Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Lý (1913-1992)

Một số cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt đã thành danh trong những lĩnh vực khác nhau:

Nguyễn Đức Quang, nhạc sĩ, sáng lập Phong trào Du ca Việt Nam; cựu sinh viên khóa 1, Trường Chính trị Kinh doanh.

Lê Cung Bắc, diễn viên, đạo diễn điện ảnh; cựu sinh viên Trường Chính trị Kinh doanh.

Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn, cựu sinh viên Văn khoa, Đại học Sư phạm.

Phạm Thùy Nhân, nhà biên kịch; cựu sinh viên Văn khoa.

Lê Văn Hiếu, Toàn quyền Tiểu bang Nam Úc, Úc; cựu sinh viên khóa 10 QTKD, Trường Chính trị Kinh doanh.

Lê Mạnh Thát (Thượng tọa Thích Trí Siêu), Giáo sư, tiến sĩ, sử gia, thiền sư; cựu sinh viên ngành triết học.

Lê Thị Diệu Hương nhạc sĩ, cựu sinh viên khóa 10 QTKD, Trường Chính trị Kinh doanh.

Johnathan Hạnh Nguyễn, doanh nhân, cựu sinh viên khóa 6 QTKD, Trường Chính trị Kinh doanh.

Ý nghĩa TÊN của các Giảng đường và Tòa nhà của Viện:

Viện Đại học Đà lạt hình thành phát triển nhằm đào tạo sinh viên có những tri thức đương thời của thế giới nhân loại khắp năm châu bốn biển, song triết lý Phương Đông, bản sắc Việt luôn được gắn liền ẩn ngụ đầy ý nghĩa. Có thể thấy điều đó qua các tên gọi đầy ý nghĩa của các Giảng đường và Tòa nhà của Viện (Theo: tác giả Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm):

– Thụ Nhân (Giảng Đường): Tên giảng đường là tôn chỉ Viện Đại Học Đà Lạt. (Phần này đã được nói rõ bên trên). Thụ Nhân có nghĩa là trồng người.

– Cư Dị (Giảng đường): là tinh hoa trong tư tưởng “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị dĩ sĩ mệnh. Tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu hãnh.” (ie: Trên không trách trời, dưới không trách người. Do vậy, người quân tử ăn ở dễ dàng, qua đó mà chờ mệnh trời. Kẻ tiểu nhân làm điều nguy hiểm, qua đó mà cầu may).

– Dị An (Giảng đường): dễ ở. Đào Tiềm (Đào Uyên Minh, 372-427) trong “Qui Khứ Lai Từ” có nói về chốn ở ẩn của mình là: “Thảm dung bất nhi Dị an” (ie: Chỗ đó tuy nhỏ hep, nhưng dễ yên hàn hơn)

– Hội Hữu (Giảng đường) gợi lên ý tưởng đi tìm một phương cách học tập hữu hiệu nhất. Nếu chọn bạn mà chơi, thì cũng phải biết chọn bạn mà học. Cách thế học tập có kết quả nhất là hội hữu, một bí quyết thành công của đại học chi đạo: “Tăng Tử viết: Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân.” (Tăng Tử nói: người quân tử lấy văn chương mà họp bạn, lấy bạn mà giúp nhau giữ lòng nhân).

– Thượng Chí (Giảng đường): Nêu cao chí hướng sống theo nhân nghĩa. Sách Mạnh Tử kể lại rằng ông Điếm, con vua Tề hỏi: “Kẻ sĩ làm gì? Mạnh Tử trả lời: “Thương Chí!” (Nâng cao chí hướng lên.

Ông đã giải thích “Thượng Chí” như sau: “Chẳng qua là làm điều nhân nghĩa đó thôi. Giết một người vô tội là bất nhân. Chẳng phải của mình mà dành lấy là phi nghĩa. Kẻ sĩ là ở nơi nào? Ở đức nhân. Kẻ sĩ đi đường nào? Ở đức nhân. Noi theo đức nghĩa, sự nghiệp của đại nhân như vậy là đã đầy đủ rồi vậy.

– Thượng Hiền (Giảng đường): Quan niệm chính trị của người xưa là biết quí trong người hiền đức.

– Tri Nhất (Giảng đường): biểu lộ cảm nghĩ bể học của thánh hiền thì vô tận và con người phải toàn tâm toàn ý mới tới gần vị tri thức độc nhất vô cùng phong phú đó: “Hoặc sinh nhi tri chi; hoặc học nhi tri chi; hoặc khốn nhi tri chi. Cập kỳ tri chi nhất dã.” (Có người hoặc sinh ra đã biết; hoặc học mới biết; hoặc khốn khó mới biết. Khi đạt thì cái biết chỉ có một).

– Minh Thành (Giảng đường, Phòng Thí Nghiệm) bộc lộ một ý chí chân thành trong sáng. Đạt được một nhân cách minh thành, đấy là mục tiêu của giáo dục vậy: “Tự thành minh, vị chi tính. Tự minh thành, vị chi giáo. Thành tắc minh hĩ. Minh tắc thành hĩ.” (Vì có lòng thành thật mà sáng suốt, đó là do tính. Vì sáng suốt mà có lòng thành thật, đó là do giáo dục. Vậy nên ai có lòng thành thật thì sáng suốt. Ai sáng suốt thì có lòng thành thật). Đây là giảng đường đẹp nhất của Viện, trước măt giảng đường có cầu Kiều, có mộ Đạm tiên … đầy lãng mạn, văn thơ.

– Kiêm Ái (Đại học xá sinh viên): Mặc Tử, triết nhân đời Xuân Thu, chủ trưong kiêm ái, tức là yêu thương mọi người như nhau, không phân biệt kẻ thân người sơ, lâu mau.

– Lạc Thiện (Đại học xá): Vui với điều tốt lành.

– Dương Thiện (Đại học xá): Biểu lộ cái tốt ra. Sách Trung Dung có ghi lại lời Khổng Tử tán dương vua Thuấn. Ở đó Khổng Tử ca tụng vua Thuấn là biết che dấu cái xấu của người khác mà biểu dương cái tốt đẹp của người khác như sau: “Ẩn ác nhi dương thiện”.

– Đạt Nhân (Phòng thí nghiệm): Tới đức Nhân, tức là đi tới nhân cách viên mãn.

– Dĩ lễ (Cư xá giáo sư): Sống theo lễ giáo. Luận ngữ có câu: “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách” (Lấy đức dẫn đạo, lấy lễ mà làm cho tề theo, người ta sẽ biết hổ thẹn mà trở về đường ngay nẻo chính vậy).

– Đôn Hóa (Văn phòng). Đôn đốc, phổ cập sinh hoá theo chiếu hướng tốt đẹp. Đạo Trời Đất là con đường vạn vật sinh sống hài hòa mà không hại lẫn nhau. “Tiểu đức xuyên lưu. Đại đức đôn hóa” (Đức nhỏ như sông ngòi chảy khắp, đức lớn như phổ cập sinh hóa).

– Hòa Lạc (Toà Viện trưởng) lấy ý từ câu: “Huynh đệ ký hấp, Hoà Lạc Thả Thầm” (Anh em xum họp, Hòa Vui biết mấy).

– Spellman (Đại giảng đường): được đặt theo tên của Đức Hồng Y Francis Joseph Spellman, (4/5/1889– 2/12/1967) là vị giám mục thứ chín và Tổng GM thứ sáu của Giáo Phận Công Giáo Nữu Ước. Người đã có nhiều công sức cho giáo dân và cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

– Năng Tĩnh (Nhà nguyện) là con đường trọng đại, để tìm thấy chính mình trong cõi thiêng liêng sau những giờ phút miệt mài học tập mệt mỏi căng thẳng.

……………

Viện Đại học Đà lạt, sau năm 1975 được Bộ Giáo dục quản lý, trường được khôi phục như là một trường đại học tổng hợp có qui mô vùng và hoạt động trở lại từ năm 1977. Tuy nhiên, quy mô cơ sở Trường thay đổi, một số nơi cũ không còn thuộc trường. Tên trường chính thức là Đại học Đà Lạt. Hiện là một trường đa ngành đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

———-

CC: “Courbet Camp” trại lính của Pháp là cơ sở đầu tiên, sau đó là “École d’Enfants de Troupe de DaLat”.
From: taberd-6 & NguynNThu

Toàn cảnh khu A của Viện Đạo học Dalat

Khung cảnh cổng Viện … ngày xưa.

Khung cảnh cổng Viện … ngày xưa.

 Xuân Có Về Bên Ấy Hay Không – Nguyễn Thế Giác

Giac Le Nguyen

 Nguyễn Thế Giác

Xuân đang về bên ấy hay không?

Áo mới còn bay trong nắng hồng?

Mất chim én liệng từ ngày đó.

Buồn nhìn con lũ trắng mênh mông.

 

Vẫn nghe Mùa Xuân âm thầm gọi.

Từ ngày đánh mất đất Ông cha.

Buồn quá gục đầu vào bóng tối.

Trong tôi sừng sững cõi Sơn Hà.

 

Gió mang sông núi miền xa đến.

Cho tôi một chút Xuân quê nghèo.

Tôi thắp trong tôi từng ngọn nến.

Nghe hồn Tổ Quốc cũng trôi theo.

 

Trầm ngát hoa thơm lòng phất phới.

Tưởng mình đang sống giữa Quê Hương.

Nhi nhô em bé mừng năm mới.

Chưa rành tiếng Mẹ thấy thêm thương.

 

Mới đó mà nay thành dĩ vãng.

Thời gian theo con nước qua cầu.

Lòng thành một nén chong ngày… tháng…

Đất Việt triền miên nỗi khổ đau.

 

Đoài đoạn Quê Nhà sầu chất ngất.

Dù Xuân có đẹp cũng Xuân người.

Mơ ngày trở lại hôn lên đất.

Lễ Chùa hái lộc tối Ba Mươi.

 

Tôi vẫn yêu cô bé miệt Quê.

Mỗi lần lên Tỉnh ngó ngô nghê.

Nhìn em thấy rõ Mầm Dân Tộc.

Hồn nước Việt Nam hớn hở về.

 

Nhớ thuở trầm hương lạc vào đời.

Mùa Xuân e lệ ngủ trong tôi.

Mẹ ru khúc hát Giao Thừa ấy.

Theo bóng thời gian chảy tuyệt vời.

 

Mặt trời bên đó mọc không em?

Trăng vườn xưa còn mượt vai mềm?

Tóc đau khổ hạnh dài thương tiếc.

Không có bình minh, sợ bóng đêm!

 

Bên đó góc địa cầu chùng xuống.

Giữa lòng Âm Phủ vạc dầu sôi.

Trong lò nham thạch nghe cuồn cuộn.

Nước mắt cơ hồ ngập núi đồi.

 

Bên đó lòng dân con e ấp.

Người với người tai vách mạch rừng.

Cơn lốc xoáy lợi quyền tranh chấp.

Đổ hoàng hôn lạnh buốt trên lưng.

 

Bên đó ngàn sao cũng thẹn thùng

Về đâu mây dạt cánh mông lung?

Xót xa cho kẻ còn trong nước.

Chịu cắn răng và vẫn thủy chung.

 

Bên đó tử thần giương lưỡi hái.

Dân mình cơ khổ biết chừng nào.

Em tôi đánh mất thời con gái.

Mơ về ngày cũ tưởng chiêm bao.

 

Bên đó bốn mùa đong nước mắt.

Thiếu gì cô phụ tóc hoa râm.

Chắt chiu một khối tình son sắc.

Ngày… tháng… nhìn đời cứ lặng câm.

 

Bên đó Mùa Xuân không nở hoa.

Rừng đan nỗi nhớ bướm bay xa.

Trưa vang tiếng quốc hồn Vua Thục.

Muôn dặm còn nghe nỗi thiết tha.

 

Bên đó tinh cầu rơm rớm lệ.

Tình người thiêu rụi buổi ban sơ.

Hỡi ơi! Đất nước mùa dâu bể.

Sông một dòng trôi… dạt bến bờ.

Nguyễn Thế Giác


 

Trại tị nạn của người viết – Refugees’ Tent City – Camp Pendleton Califormia – cuối năm 1975

Trần Văn Giang

 1.Cơ hội “ngàn năm một thuở” tại các trại tị nạn mà dânViệt gần như không thể có được khi sống tại Việt Nam là: sự tự do thay đổi lý lịch và học Anh ngữ miễn phí. Thực ra, đây cũng là hai sinh hoạt bận rộn và nhộn nhip nhất của dân Việt tạm trú tại các trại tị nạn.

Sự thay đổi lý lịch gồm cả việc đổi tên, đổi tuổi và đổi sự không tưởng: địa vị xã hội [social status].

Chị Nguyễn Thị Gáo với một cái tên cúng cơm rất mộc mạc, hiền lành của “hoa đồng cỏ nội.” Từ sau khi chị bị té giếng, hồi còn là thiếu nữ ở Cần Thơ, đầu óc của chị cho đến nay chưa hoàn toàn tỉnh táo, đó có thể là lý do mà chị vẫn còn “độc thân tại chỗ” với cái tuổi ba mươi mí rồi. Nhân cơ hội ngàn năm một thuở này, chị đổi tên cho có vẻ tỉnh thành, thơ mộng, văn nghệ hơn; và đổi tuổi cho trẻ trung hơn là: “Nguyễn Thị Phương Loan” hai mươi mốt tuổi. Mẹ của chị Gáo, cụ bà Nguyễn Thị Thau, thường than phiền với hàng xóm tị nạn là:

– Chèng đét ơi! Tôi đặt cho nó tên là Gáo, tức là gáo dừa để múc nước cho sạch sẽ và bền bỉ. Không biết ăn nhằm cái giống gì” mắc chứng gì” mà nó đổi tên thành “Lon!” [Loan] bằng sắt cho nó mau rỉ sét, mau lủng.

Với sự thay đổi đầy tiện nghi này, hy vọng rằng chị đã gặp được tình quân, có thể là cựu “Trung Tá Y Sĩ” hay cựu “Đại Tá” một cách mau chóng.

Cụ Lý Toét nằm chung lều [mỗi lều trong trại có thể chứa khoảng 4 đến 6 gia đình tị nạn] với tôi đã 65 tuổi, tức là tới tuổi hợp lệ về hưu ăn”tiền già” nếu sống ở đất Mỹ. Vì chúng tôi thuộc đợt thuyền nhân đầu tiên, ú a ú ớ, không có người hướng dẫn, cứ sợ ra khỏi trại Mỹ nó thấy tuổi già không mướn làm việc thì chết đói mất. Cụ tự khai rút lại tuổi, chỉ còn có 55! Tôi đoán là cụ sẽ đấm ngực “lỗi tại tôi; lỗi tại tôi mọi đàng! ” về cái lỗi lầm quá tai hại này! Bởi vì cụ sẽ còn phải “cày” thêm khoảng một chục năm nữa mới về hưu được! Có lẽ cụ đã qui tiên trước khi nhận cái “check”phụ cấp hưu trí đầu tiên của sở xã hội Mỹ. Tội nghiệp chung cho dân tị nạn, nhân bần chí đoản. Chỉ vì sự lo âu về sinh kế trên đất lạ mà đầu óc trở thành đặc kịt như khoai tây, không thể phân tích lợi với hại; hai mắt giống như mắt ngựa kéo xe bị che cả hai bên, không nhìn xa được. Cho nên tự ý khai báo lại, sửa đổi tầm bậy tầm bạ trong cái hoàn cảnh vô luật lệ, vô sổ sách này. 

  1.  Gia đình Bác Toàn [không phải tên thật,] cũng ở chung lều với tôi. Trong lần đầu tiên tiếp chuyện với Bác gái, Bác đã “khiêm nhường”thông báo cho tôi cái địa vị xã hội của gia đình Bác như sau:

– Ông nhà tôi là “cựu Đại Tá” của QLVNCH!  Trước đây gia đình tôi làm chủ 3 tiệm thuốc tây ở Sài gòn. Gia đình tôi còn có cả một bầy vú em, con ở phục vụ. Bây giờ ở đây [trại tị nạn] cái gì cũng phải tự làm lấy.Thật khổ ghê!

Cô con gái lớn của Bác, người có cái nhan sắc giống như nhan sắc của anh hề Tùng Lâm, cứ luôn miệng than vãn là:

– Tiếc quá, lúc “chạy” không đem theo được “con nhỏ làm tóc.” Bây giờ đầu tóc như ổ quạ. Thật rõ chán!

Nhận xét của chị thật đúng! Tóc của chị cả lúc nào nhìn cũng giống như đau ban mới khỏi!

Lúc đó tôi ngây thơ, rất “nể nang” cái “danh giá” của gia đình Bác. Tôi vẫn tiếp tục giữ liên lạc, thăm hỏi gia đình bác nhiều năm sau khi ra khỏi trại tị nạn. Gia đình Bác được bảo trợ [sponsored] và định cư tại San Diego ngay từ ngày đầu của tháng 9 năm 1975. Bác trai sau này làm “Security Guard” và Bác gái chứa cờ bạc xì phé ở nhà để kiếm thêm tí tiền “xâu” cho ngân quỹ gia đình.

Năm 1984 tôi lập gia đình. Tôi đã mời hai bác tham dự đám cưới của tôi. Tại đám cưới này, tôi mới biết sự thật về cái “danh giá” của gia đình Bác. Đồng thời cũng tại đám cưới của tôi, Bác gái mới biết được là quả đất tròn; không có gì che dấu được lâu dưới ánh sáng mặt trời. Bác trai, trước năm1975, là Trung Úy của cục Tiếp Vận và làm dưới quyền của Trung Tá Chín. Trung Tá Chín cũng được ông Bố vợ tôi mời dự đám cưới của tôi vì Trung Tá hồi còn ở chức vụ Thiếu Tá, đã từng là Sĩ Quan cùng đơn vị với Bố vợ của tôi. Hai thầy trò [Trung Tá Chín và “Đại Tá” Toàn] gặp nhau trong hoàn cảnh không có hẹn trước tại đám cưới này. Như tôi được giải thích rõ rằng hơn sau đó, nhà Bác Toàn chẳng có làm chủ tiệm thuốc tây nào cả. Bác gái chỉ buôn lậu thuốc Tây lặtvặt [có thể là buôn bán thuốc Tây giả!] Nhà Bác ở trong một ngõ hẻm ở khuTrương Minh Giảng cũ. Đi bộ từ ngoài đường cái vào đến nhà Bác phải hát bài” Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa” hết ba lần mới đặt chân tôi cửa nhà Bác. Khi muốn trở ra đường cái từ nhà Bác, tốt nhất là phải nhờ con Bác dẫn ra; nếu không bảo đảm sẽ đi lạc nếu đến thăm nhà Bác lần đầu. Bác gái đã thật can đảm thăng một lúc 4 cấp cho Bác trai, từ “Trung Úy” lên tuốt luốt “ĐạiTá” không phải tại mặt trận, mà tại trại tị nạn chỉ vài ngày sau “30 tháng 4 năm 1975.” 

3.  Trong tại tị nạn, sự thay đổi địa vị xã hội tương tự như vậy không phải là hiếm. Anh binh nhì tự thăng cấp mình lên thành Thượng Sĩ. Anh”Trung Sĩ Y Tá” thành “Trung Tá Y Sĩ.” Anh “Thư Ký Hành Chánh” thành Phó Tổng Giám Đốc ..v.. v.. Người nào cũng làm quan lớn, chủ tiệm, chủ thương nghiệp, chủ chợ, chủ phố cho Mỹ mướn, chủ vựa cá, chủ đồn điền cà phê, chủ đồn điền trà, hoặc chủ ruộng đất cò bay thẳng cánh. Chẳng có ai làm lính trơn, chài lưới, cày ruộng, du đãng đường hẻm, cướp giựt hoặc ăn mày vô sản bần cố nông cả. Thật đúng là loạn! Không biết đâu là vàng, đâu là thau để xét đoán, lựa chọn. Nhiều cô gái ngây thơ nhẹ dạ, sau khi say mê nghe các anh “tài tử” thuyết trình không nghỉ về cái lý lịch “trời ơi dất hỡi,” vô căn cứ, đã vội vã làm đám cưới với các anh có cái lý lịch “vàng son” này ngay tại trong trại tị nạn. Khỏi cần phải bàn thêm, các cô này bây giờ có lẽ không sớm thì muộn, đã thấy hoặc phát giác ra cái thực tế, cái lý lịch “lủng” của các thợ “phỉnh” một cách phũ phàng! Một số lớn các cô này đã trở thành nữ thi sĩ. Hèn gì! thi sĩ Hà Huyền Chi đã có lần nhận xét như sau:

– Sau ngày “30 tháng 4 năm 1975,” văn đàn Việt Nam ở hải ngoại bị lạm phát thi sĩ. 

4. Việc học Anh Ngữ miễn phí trong trại tị nạn mới thật là ngoạn mục.Trong đời đi học của tôi, tôi chưa thấy bao giờ học sinh lại chăm chỉ như vậy. Tôi nhớ hồi còn ở Saigon, Mẹ tôi phải chạy ngược, chạy xuôi vay nợ để cho tôi có tiềnđóng tiền trường học thêm Anh Ngữ tại trường Nguyễn Ngọc Linh vào buổi tối. Thếmà tôi vẫn cố gắng tìm mọi cơ hội để “cúp cua” trốn học. Bây giờ thìtình thế hoàn toàn khác hẳn. Lính TQLC Mỹ đã dựng một số lều thật lớn để dùnglàm lớp dậy Anh Ngữ. Thầy giáo, cô giáo hầu hết là những người Mỹ tình nguyện củacác hội Thiện Nguyện Tình Nguyện Nhân Đạo [gọi tắt là cơ quan”Volag”] dậy học Anh Ngữ cho dân tị nạn. Họ không lãnh lương bổng gì cả. Sau giờ ăn chiều, chỉ chậm chân một tí là không tìm được chỗ ngồi trong các lớp học này. Phải đứng suốt cả mấy tiếng đồng hồ.

Những “sex symbol” của trại là các anh thông dịch viên, những anh trợ giáo [teacher aids] cho các thầy các cô người Mỹ của các lớp học Anh Ngữ này. Các anh trợ giáo nầy đại đa số là nhân viên cũ của sở Mỹ ở ViệtNam. Các anh trợ giáo nói Anh ngữ nghe như gà tây kêu, thế mà sao lúc đó tôi còn dốt đặc như cán mai, không thể phân biệt được thế nào là hay thế nào là dở cả! Mọi người trong trại tị nạn ngưỡng mộ các anh trợ giáo như thần tương. Các em gái xinh đẹp thơ mộng của trại bị các anh này “cua” hết ráo! Dân tị nạn đực rựa độc thân thuộc loại “ngọng” như tôi chỉ có nước ở giá.   

5. Cụ Lý Toét luôn luôn chọn chỗ ngồi cạnh tôi trong lớp học anh ngữ. Lý do là chúng tôi ở chung lều, đã quen thuộc với mhau rồi. Kẹt kẹt, cụ phải cần phải hỏi tôi về Anh ngữ thì cũng không ngượng. Cũng nên biết, cụ hỏi tôi khôngphải vì tôi giỏi giang gì! Nhưng vì tôi cũng đã biết “lõm bõm” Anh ngữ, còn cụ chưa từng đi học Anh ngữ hay tiếp xúc với ngoại quốc bao giờ cả. Thắc mắc đầu tiên của cụ là:

– Này anh ạ, tiếng Mỹ sao quái đản quá vậy” “ai”[I] cũng là tôi, mà “mi” [me] cũng là tôi” Không biết đường nào mà lần. Anh chỉ tôi cách phân biệt “ai” với “mi” sau giờ học nhé.

Sau vài tuần lễ, cụ Lý Toét có vẻ tự tin hơn. Lớp học Anh ngữ đã tiến đến cấp khó hơn; có nghĩa là học trò phải tập nói làm một câu dài đầy đủ chủ từ, động từ và túc từ chứ không phải học từng chữ một như mấy tuần đầu. Thầygiáo cho học sinh trong lớp tuần tự đọc và áp dụng câu “this is a…”

– This is a door.

– This is a chair.

– This is a table.

Rồi đến lượt cụ Lý Toét. Thầy giáo chỉ vào một cái ghế bố [TQLC Mỹ phát cho mỗi dân tị nạn một ghế bố gấp lại được để làm vừa giường ngủ vừa làm ghế ngồi] xếp đứng ở trong góc lớp và ra dấu cho cụ lập câu và đọc. Mọi người đều được dịp cười gần bể bụng vị cụ Lý Toét dịch là:

– This is a “Chair Father! “

Ối giời đất ơi!  Cụ đã ghép chữ đúng theo nghĩa đen.”Ghế” là “chair” và “Bố” là “father.”Tôi phải giải thích cho cụ sau này tốt hơn là nên tránh dịch nghĩa đen như vậy.Mình nên học thuộc lòng cái danh từ Anh Ngữ của từng đồ vật hay người. Ghế bố phải được dịch là “Cot” chứ không phải là “chair father! “ 

6. Anh “Thượng Sĩ” Tiến, người cũng ở cùng lều với tôi,sáng nào anh cũng ngồi trên ghế bố cầm đọc tờ báo Anh ngữ mà anh vẫn nhặt từ thùng rác do lính TQLC Mỹ quẳng để “hù” bà con láng giềng trong lều. Các cụ cao niên cứ tấm tắc khen anh Tiến là “giỏi quá, đã đọc được báo Mỹ rồi! ” Riêng tôi, qua nhiều lần ngồi nói chuyện với anh về vấn đề học Anh ngữ, tôi vẫn có câu hỏi thật lớn là không biết anh Tiến có đủ trình độ Anh ngữ để đọc báo Mỹ không” Nhưng dù sao tôi phải khen ngợi anh ở chỗ anh có cố gắng. Một hôm, sau khi đọc mục rao vặt, tìm việc, anh nói lớn, trống không để cho  mọingười trong lều cùng nghe chứ không nói trực tiếp riêng với người nào cả:

– Ở ngoài [trại tị nạn] Mỹ họ mướn người “coi con nít trênxe buýt” mà cũng trả đến $2.10 một giờ [lương tối thiếu lúc bấy giờ.]

Vì có tính hiếu kỳ nên tôi mới hỏi anh:

– Cái nghề đó tiếng Mỹ gọi là gì đó anh Tiến”

– Đó là nghề “Busboy.” Anh trả lời.

Tôi may mắn đã biết được nghĩa chữ nầy hồi còn đi học Anh văn buổi tối ở Sài Gòn, nên tôi nói:

– Không phải đâu anh. “Busboy” là người dọn bàn trong nhà hàng đó!

Nhưng anh Tiến cứ nằng nặc cãi cho bằng được “Busboy”phải là “coi con nít trên xe buýt.” Cuối cùng, tôi đành phải chào thua anh vì sự quả quyết của anh làm tôi cũng áy náy, ngờ vực không biết mình nhớ đúng hay sai!

Trong lớp học, anh Tiến là người hăng hái đưa tay hỏi thầy cô về mọi vấn đề của cuộc sống bên ngoài trại tị nạn. Anh hỏi cả cách chửi thề bằng tiếng Mỹ như thế nào. [Nên biết anh Tiến hỏi thầy bằng tiếng Việt và câu hỏi được trợ giáo dịch ra Anh Ngữ để cho thầy hoặc cô trả lời.] Riêng câu hỏi về chữ chửi thề bằng Anh ngữ, cô giáo trả lời là anh không cần phải học trong lớp. Khi ra khỏi trại, đời sống sẽ dậy cho anh biết một cách tự nhiên.

Có một lần, cô giáo yêu cầu anh dịch một câu ngắn làm thí dụ cho một đề tài về làm câu của buổi học. Anh Tiến dịch là:

– “Your eye is as beautiful as the stars.  [Mắt em đẹp như những vì sao!]”

Cô giáo khen là câu nói của anh Tiến rất “lãng mạn!”[romantic.] Nhưng rất tiếc là, theo lời cô giáo, người yêu của anh Tiến chỉ có một mắt! !! Câu này phải nên sửa lại với mắt là số nhiều:

– “Your eyes are as beautiful as the stars.”

Sau này, tôi có dịp gặp lại anh Tiến ở San Jose khoảng năm 1992. Anh làm chủ một cây xăng “Shell.” Lúc đó có lẽ anh đã biết phân biệt danh từ số ít và số nhiều mạnh giỏi rồi. 

7.  Một cảnh bên trong Tent City – Camp Pendleton California

Khi làm giấy tờ định cư tại “processing center” trong trại. Tôi gặp một ông Mỹ trắng chỉ dẫn dân Việt tị nạn cách điền vào các mẫu đơn và hoàn tất hồ sơ nộp cho Sở Di Trú Hoa Kỳ. Rất đặc biệt là ông ta nói tiếngViệt trôi chảy. Tiếng Việt với giọng Quảng Nam mới ly kỳ. Tôi rất lấy làm thích thú vì trong khi mình còn ấp a ấp úng chưa nói được chữ tiếng Mỹ nào mà đã  co’ nguoi Mỹ nói tiếng Việt quá giỏi! Tôi tìm cách lân la lại làm quen với ông Mỹ này và được biết ông là Mục Sư Tin Lành đã từng làm việc Tuyên Úy cho quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Tôi hỏi Mục Sư:

– Thưa Mục Sư. Mục Sư có biết là đang nói tiếng Việt với giọng “Quảng Nam” không”

Mục Sư trả lời:

– Tôi biết chứ! Ông thầy tôi là người “Đè Nẽng” mà!Tôi còn phân biệt được giọng Bắc, giọng Nam và giọng Huế nữa.

Tôi hỏi thêm:

– Thế Mục Sư đã có gặp những trường hợp khó khăn nào khi giao thiệp với người Việt bằng tiếng Việt chưa”

– Có nhiều lần rồi! Trong một lần đọc bài giảng [sermon] cho giáo dân tin lành người Việt trong trại tị nan. Tôi lấy làm lạ vì thấy họ cười khúc khích với nhau. Sau buổi lễ, hỏi ra thì tôi mới biết là tôi dùng dấu chữ Việt trật lất làm cho ý nghĩa thay đổi hết. Thay vì tôi muốn nói: “Chúa ‘ban’ phước lành cho anh chi em [God bless you all.]” Tôi lại nói là: “Chúa ‘bán’ phước lành cho anh chị em [God sell the blessing to you all!]”  Trongmột lần khác, tôi nói: “con chim nó ‘ngồi’ trên cây [the bird is sitting in the tree.]” Đáng lẽ tôi phải nói: “con chim nó ‘đậu’ trên cây mới đúng.”

Tôi xin bái phục vị Mục Sư Mỹ này làm Sư Phụ. 

8. Năm 1976, tôi và tám chín đứa “tứ cố vô thân” và “thất cơ lỡ vận” giống như hoàn cảnh của tôi, mướn chung nhau một”apartment” 2 phòng ngủ ở San Diego – California và chia nhau tiền thuê mỗi tháng cho đỡ tốn kém vì đứa nào cũng làm lương tối thiểu cả. Mỗi lần,vì một lý do nào đó, “Manager” của khu “apartment” đến thăm, thì đám “tứ cố vô thân” vội vàng chạy trối chết trốn vào trong các tủ [closets] quần áo, bởi vì điều lệ thuê nhà không cho phép người thuê ở quá đông như vậy. Họ biết sẽ đuổi cổ ra khỏi “apartment.” Thật tội nghiệp! Bạn cứ tưởng tượng quang cảnh chúng tôi lúc đang ăn cơm vội vàng bỏ bát đũa chạy vào tủ quần áo để trốn; giống hệt như lúc bạn bước vào bếp buổi tối, bật đèn lên rồi nhìn thấy một đàn gián [cockroaches] chạy bán sống bán chết vào các góc kẹt trong nhà bếp vậy!

Trong đám “tứ cố vô thân” này có anh “roommate”Sĩ Phú. Anh Phú, chẳng những là một ca sĩ tài danh mà còn là một Thiếu Tá phi công trực thăng của KQVN. Anh Phú nói tiếng Anh rất giỏi vì anh Phú đã được đi học lái trực thăng tại Hoa kỳ. Anh Phú chạy qua Mỹ với cùng tình trạng “khố rách áo ôm” như tôi. Anh “độc thân tại chỗ” vì bỏ lại vợ và 5 con ở Việt Nam. Lâu lâu, cuối tuần mấy anh em thường rủ nhau đi nhà hàng Mỹ để nghe nhạc sống cho đỡ buồn. Một hôm, vì ngứa nghề, anh Phú lên nói với anh  chàng Mỹ trưởng ban nhạc là anh muốn được lên hát góp vui một bản nhạc. Không biết anh nói thế nào mà anh trưởng ban nhạc, sau đó, nói qua cái”micro” tuyên bố với tất cả thực khách là:

– Ladies and Gentlemen, this is my honor to introduce to you ourspecial guest singer, Mr.  “Seafood” who will sing for us abeautiful hit song, the “Unchained Melody.”

Từ sau hôm đó, anh Phú có cái “nickname” là “Mr.Seafood.”

Đến khi tôi thấy đã khuya rồi, ngày mai còn phải dậy sớm đi cày.Tôi nói với đám “tứ cố vô thân:”

– Thôi mình đi về đi! Mai còn phải dậy sớm đi làm.

Anh Phú trả lời là:

– Mày chờ tao vào “restroom” để “giặt” [wash]bộ râu xong rồi mới về nghe.

Sau này, khi có dịp gặp lại anh Phú lúc anh còn sống, tôi vẫn thường nhắc lại với “Mr. Seafood” về cái kỷ niệm này. 

9. Hôm nay, cái “nạn” của đất nước đã đánh dấu năm thứ 32. Nhiều người tị nạn trong chúng ta đã đổi quốc tịch để thành “Mỹ gốc Á Châu!” Tên họ được viết đảo ngược [tên gọi đặt trước tên họ.] Nhiều người còn tiến bộ hơn, đổi cả tên lẫn họ thành tên Mỹ. Anh bạn Nguyễn Văn Tèo bây giờ trên giấy tờ là “Tony Newell!” Lúc đầu đọc nghe thấy kỳ kỳ; nhưng riết rồi cũng quen. Tôi còn nhớ lúc anh Tèo mới vào quốc tịch với cái tên mới Tony, bạnMỹ gặp anh trên đường phố, gọi anh: “Tony, Tony…” Vậy mà anh nghe thấy,vẫn cứ bước đi thẳng như không có chuyện gì xẩy ra! Chính ngay anh cũng quên tên mới của anh là “Tony! ” Có một lần anh đi ra tiệm giặt ủi của Mỹ để lấy quần áo giặt ủi về. Bà chủ tiệm người Mỹ nhìn cái biên nhận với cái tên mới “Tony Newell” của anh, rồi bà ta nhìn anh nói là:

– You do not look like “Tony Newell” to me!

 Tony Newell là một vận động viên phóng phi tiêu chuyên nghiệp người Anh 

10. Hơn ba mươi năm trời trôi đã qua mà cứ tưởng như mới ngày hôm qua. Đầu óc tôi cứ lơ đãng để ở một nơi nào đó ở Phi Luật Tận. Tôi chợt bừng tỉnhvới cái thực tế của hiện tại khi thằng con trai bẩy tuổi của tôi gọi to:

– Bố! bố! “Giặt” cái đầu cho con. Xà bông đang chẩy vào mắt con “nóng” quá!

Tôi nghe mà không khỏi vừa cười thầm vừa lo âu! Cười thầm vì tiếngViệt đã bị Mỹ hóa nghe khôi hài, ngớ ngẩn. Lo âu vì không biết tương lai tiếng Việt trên đất Mỹ sẽ đi về đâu” Chính bản thân tôi tiếng Mỹ đã không thấy giỏi hơn chút nào mà tiếng Việt đã quên bớt đi rất nhiều. Lo âu cho thế hệ con, thế hệ cháu về sau này” Không biết tiếng Việt có trở thành “endangeredspecies” giống như voi và tê giác ở Phi Châu đang bị giết để lấy ngà làm đồ trang sức và sừng làm thuốc bắc hay không”

Trở về thăm quê nhà, nói chuyện với bạn bè cũ, láng giềng cũ thì sự lo âu đó càng to lớn hơn. Mình là người ngoại quốc sống trên đất Mỹ đã đành. Bây giờ, mình cũng lại là người ngoại quốc đối với ngay quê hương cha sanh mẹ đẻ của mình. Đó là cái giá mà mình phải trả cho sự tự do. Đành phải chấp nhận “gặp thời thế, thế thời phải thế.” Người Việt ở quê nhà bây giờ đang nói tiếng Việt với một bộ chữ Việt khác hẳn với chữ Việt như hồi tôi còn sống ở quê nhà. Nhiều khi tôi phải nhờ người nhà giải nghĩa mới hiểu!

“Còn trời còn đất còn non nước

Có lẽ ta đâu mãi thế này!”

(Nguyễn Công Trứ)

– Quân Tử Cố Cùng)

“Xin trời đất thương cho nước Việt và dân Việt!” Tôi vẫn thường cầu nguyện.

Trần Văn Giang


 

Sống tới 100 tuổi và cách sống ở những “vùng xanh”

 

Bài này tóm tắt những điều mà bà con sống trong vùng xanh sống. Vùng xanh là những vùng có nhiều người sống tới 100 tuổi.

Thật ra thì những điều này cũng không có gì là lạ lùng và không phải ai cũng áp dụng được, như nhiều người không uống rượu vang được. Quý anh chị  đọc chơi cho vui.

Biến việc vận động thành thói quen

Những người ở vùng xanh không nhất thiết phải tham gia vào các phòng tập thể dục, các gyms. Bằng cách kết hợp các hoạt động thể chất vào cuộc sống, họ trở nên năng động mỗi ngày mà không cần cố gắng. Một số cách họ làm điều này bao gồm:

Bằng tay: Những người lớn tuổi ở vùng xanh không dựa vào nhiều tiện ích để hoàn thành công việc. Họ quen với việc chặt gỗ, nhào bánh mì, làm đồ thủ công và thực hiện sở thích của mình bằng tay. Bên cạnh việc giữ cho cơ bắp và trí não của họ hoạt động, việc nhìn thấy thành quả lao động của họ có thể giúp họ có được cảm giác thỏa mãn.

Đi bộ: Thay vì sử dụng xe hơi làm phương tiện di chuyển, các thành viên vùng xanh đi bộ khắp nơi. Điều này giúp họ tập thể dục thường xuyên.

Khu vườn: LÀm vườn giúp người lớn tuổi hạ thấp trọng tâm của thân thể và rèn luyện khả năng giữ thăng bằng. Cũng giống như làm mọi việc bằng tay, việc làm vườn có thể vừa bổ ích vừa giúp giảm căng thẳng.

Quan điểm

Một quan điểm tích cực là tốt nhất.

Theo nghiên cứu của Buettner, những người sống trong vùng xanh có xu hướng duy trì trạng thái bình tĩnh và có mức độ căng thẳng thấp hơn. Một số cách họ nuôi dưỡng sự bình yên trong tâm hồn bao gồm:

Thư giãn thường xuyên: Mặc dù những người ở vùng xanh làm việc chăm chỉ và đã qua độ tuổi nghỉ hưu thông thường nhưng họ vẫn có thời gian để thư giãn mỗi ngày. Thay vì giảm căng thẳng bằng cách ngồi trên ghế dài và đọc truyện, họ chuyển sang gặp gỡ, khiêu vũ và thậm chí uống rượu cùng nhau.

Tìm kiếm đức tin: Bất kể giáo phái của họ là gì, người dân ở vùng xanh có xu hướng thuộc về các cộng đồng dựa trên đức tin và dành thời gian cho cộng đồng tôn giáo tương ứng của họ.

Phát triển ý thức về mục đích: Cho dù đó là ikigai (lẽ sống)  hay plan de vida (dự định cho cuộc sống ), các vùng xanh đều có khái niệm khi họ thức dậy mỗi sáng với ý tưởng về những gì họ sẽ làm, sẽ mang đến cho đời sống cái gì.

Ăn uống khôn ngoan

Chúng ta ăn gì và ăn bao nhiêu có thể ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tuổi thọ của chúng ta. Nhưng câu trả lời không nhất thiết phải là những chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, buồn tẻ và thiếu đi những thức ăn ngon vật lạ.

Dựa trên thực vật: Hầu hết các vùng xanh đều ăn chế độ ăn chủ yếu dựa trên thực vật, với tới 95% chế độ ăn của họ đến từ nhiều loại rau, đậu và hạt giàu vitamin và protein. Các món ăn có thể đa dạng từ món khai vị truyền thống đến “ba chị em” Nicoyan gồm :  đậu, bí và bắp.

Rượu vang: Ngoại trừ những người Cơ Đốc Phục Lâm ở Loma Linda, tất cả các vùng xanh đều uống một hoặc hai ly rượu mỗi ngày khi giao tiếp với cộng đồng của họ. Hãy lấy ví dụ những người Ikarians ở Hy Lạp, những người thường xuyên kết hợp rượu vang tự làm của họ với các buổi họp mặt cộng đồng.

Điều độ: Người dân Okinawa có câu nói, hara hachi bu, nhắc nhở họ ngừng ăn khi dạ dày đã no 80%. Họ cũng thực hành một số thói quen tại bàn ăn tối, bao gồm ăn chậm để cơ thể phản ứng với các tín hiệu và tập trung vào thức ăn để thưởng thức hương vị.

Kết nối

Kết nối với người khác thường xuyên nhất có thể

Bất kể tuổi tác, mọi người trong vùng xanh đều kết nối với các thành viên trong cộng đồng của họ. Đó là điểm chung quan trọng nhất giữa tất cả các vùng màu xanh và có thể là bí quyết có ảnh hưởng lớn nhất đến tuổi thọ.

Gia đình là trên hết: Họ đặt gia đình lên hàng đầu, đặc biệt là khi nói đến người lớn tuổi. Giữ các thành viên lớn tuổi trong gia đình ở bên cạnh hoặc ở trong nhà bảo đảm cho họ vẫn được kết nối qua nhiều thế hệ. Điều này có tác động thực sự đến tuổi thọ của họ, như đã thấy ở vùng Sardinia không có viện dưỡng lão.

Quan hệ đôi bên: Những người ở vùng xanh đầu tư vào mối quan hệ lãng mạn của họ và tạo nên những mối quan hệ đối tác bền chặt và yêu thương, bao gồm cả hôn nhân.

Nhóm Bạn Hợp Rơ: Ở Okinawa, một số người già thành lập moais, hay nhóm bạn hàng xóm, gặp nhau thường xuyên và hỗ trợ lẫn nhau khi cần thiết.


 

Lê Duẩn Và Giáo Sư Nghiêm Thẩm

 Loc Nguyen

Giáo sư Nghiêm Thẩm sinh tại Hà Nội, du học tại Pháp, học ngành bảo tàng, tại Đai Học Louvre Paris, École du Louvre, Paris. Năm 1956 tuy được Hà nội chào đón nhưng ông lại chọn về Sài Gòn.

GS Nghiêm Thẩm giữ chức vụ Giám Đốc Viện Khảo Cổ Sài Gòn và giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn; GS Nghiêm Thẩm là em của Giáo Sư Nghiêm Đằng, Phó Viện Trưởng và GS Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sài gòn.

Lê Duẩn nói với Giáo sư Nghiêm Thẩm:

“Anh Nghiêm Thẩm, chắc anh biết: cả thế giới đang coi Việt Nam mình như “đỉnh cao trí tuệ loài người” mà anh cũng được vinh dự ấy. Việt Nam chúng ta phải làm chủ miền Đông Nam Á này. Mọi yếu tố làm chủ hầu như đã đầy đủ, chỉ còn thiếu một điều. Từ trước tới nay, mấy thằng chép sử “nhãi ranh” vẫn cho rằng: nguồn gốc các sắc tộc miền Đông Nam Á này là Mã Lai hay Indonesien. Liên Xô mới tìm được ít dấu vết chứng tỏ rằng Việt Nam chúng mình mới là thủy tổ. Chúng ta đang làm lại lịch sử Đông Nam Á. Khoa nhân chủng học và khảo cổ của ta lúc này đang phát triển vô biên, nên anh phải nắm lấy cơ hội này, với uy tín sẵn có của anh, anh phải viết một bài lớn, thẩm định lại: Dân Việt Nam là thủy tổ các dân tộc Đông Nam Á. Như thế mới đúng ý nghĩa của “Đỉnh cao trí tuệ loài người” và mới xứng đáng tài năng hiếm có của anh”.

Tôi im lặng một phút rồi trả lời hắn: “Uy tín của tôi lúc này là nói đúng và nói thật. Theo các tài liệu khoa học hiển nhiên, nhất là khoa khảo cổ học và nhân chủng học quá rõ ràng, tôi không thể viết thế khác được. Viết như đồng chí nói là phản khoa học”.

Hắn mỉm cười, bảo tôi: “Anh nói thế tức là còn đang ở trong vòng gò bó của sách vở, của óc đế quốc, của hủ lậu, chứ không theo sử quan một tí nào cả”.

Tôi cảm thấy tức đầy ruột, nên tôi hơi bạo lời: “Nếu tôi viết như thế, thì các nhà khảo cổ và nhân chủng học trên thế giới sẽ cho tôi và cả chế độ tôi phục vụ là con chó chết. Tôi không bao giờ làm chuyện sa đọa ấy”.

Lê Duẩn vẫn không lộ vẻ tức giận. Hắn hỏi tôi vắn tắt: “Anh nhất định không làm chuyện đó?”.

Tôi bỗng tìm được một danh từ xưng hô, trả lời hắn: “Tôi không thể đáp ứng yêu cầu của đàn anh trong việc này”.

Lê Duẩn ném cho tôi một cái nhìn có vẻ dữ tợn với câu nói cộc lốc: “Anh nhất định thế… Mong anh đổi ý”. Tôi cũng nhìn thẳng vào mặt hắn, trả lời cương quyết: “Tôi không bao giờ đổi ý”.

Hắn đi ra, không nói thêm nửa lời.

Tôi coi đó như một biến cố đổ vỡ trong đời tôi, dưới chế độ khốn nạn này. Nhưng tôi thà tan vỡ cả tấm thân với cả chế độ này, còn hơn đổ vỡ cho đất nước tôi, cho chí hướng và danh dự học thức của tôi”

Trích Hồi ký “Rồng Xanh Ngục Đỏ” của Linh Mục Vũ Đình Trác.

Giáo sư Nghiêm Thẩm bị đập chết bằng cây búa khảo cổ trong nhà ông, một vụ án mà công an kết luận: “cướp tài sản”- không bắt được hung thủ năm 1982.

Sau khi thi xong tú tài ở Hà Nội, Nghiêm Thẩm du học tại Pháp ngành bảo tàng. Năm 1956 tuy được Hà Nội chào đón nhưng ông lại chọn về Sài Gòn.

Ngô Nhật Đăng