Thái tử đảng

Thái tử đảng

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-10-26

thaitu-dang-truongduynhat.org

Những gương mặt thái tử đảng đang từng bước nắm quyền điều hành đất nước

Photo: truongduynhat.org

Your browser does not support the audio element.

Sau đây là phần thời gian dành cho Tạp chí điểm blog do Kính Hòa thực hiện, tập hợp những bình luận của các blogger trên trang cá nhân, trên các trang mạng xã hội,… xung quanh những sự kiện lớn của đất nước. Phần trích lời trực tiếp của các blogger được thực hiện qua giọng đọc của các anh chị em ban Việt ngữ đài Á châu tự do.

Cuộc đua của các gia tộc

Trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam, chưa có gia đình nào có được sự thành công như vậy.

Đó là lời bình luận của tác giả Cát Hiệp trên trang blog Bình Luận Án về gia đình của đương kim Thủ tướng Việt nam Nguyễn Tấn Dũng. Tác giả viết tiếp:

Gia đình đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có được chiến thắng vang dội trong vòng bầu cử cấp tỉnh ở các Đại hội đảng bộ. Với kết quả này, gia đình thủ tướng đã đi vào lịch sử chính trị Việt Nam (trong thời kỳ Việt Nam xây dựng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam) như là một gia đình thành công và có tầm ảnh hưởng mạnh nhất từ trước tới nay. Thậm chí nhiều người tin rằng gia đình này sẽ còn thành công hơn nữa trong năm 2016 – khi Đại hội đảng lần thứ 12 của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ diễn ra.

Người chủ trang blog Bình Luận Án là Luật sư Trần Hồng Phong viết lời đề tựa cho bài viết này rằng Bài viết này hoàn toàn không có mục đích, lại càng không có hàm ý khen, nịnh gì gia đình ông thủ tướng cả. Mà chỉ nêu lên một hiện tượng có thật và bất thường, và muốn lưu ý tới lương tâm và trách nhiệm của những người đã bỏ phiếu bầu cho các con của thủ tướng.

Đó là chuyện có thật vì trong thời gian chưa đầy một tháng qua hai người con trai của Thủ tướng Dũng còn rất trẻ đã thăng tiến đến những vị trí quan trọng đứng đầu hai tỉnh Bình Định và Kiên Giang, chưa kể là đã từ lâu người con gái của Thủ tướng đã hoạt động kinh doanh ngân hàng rất thành công.

Gia đình Thủ tướng là thành công nhất nhưng không phải là duy nhất.

Chỉ trong vòng vài ngày người ta thấy con cái của các vị cán bộ cao cấp của Quảng Nam, Đà Nẵng, Cần Thơ,… nắm lấy những chức vụ quan trọng tại địa phương của họ.

Blogger Người Buôn gió nhận định rằng việc thăng tiến của những nhân vật trẻ tuổi thuộc các gia tộc cộng sản có quyền lực này nằm trong cuộc đua ráo riết về nhân sự trước đại hội 12 của đảng cộng sản, dù rằng những vị trí lãnh đạo hàng đầu vẫn chưa ngã ngũ.

Bực dọc, Chỉ trích, Dè bỉu

Nếu như blogger Cát Hiệp chỉ lưu ý đến trách nhiệm của những người đã bầu cho các con của Thủ tướng thì đại đa số các blogger tỏ vẻ không hài lòng trước sự thăng tiến của các nhân vật trẻ tuổi có thế lực gia đình đó. Và danh từ Thái tử đảng vốn xuất hiện đã lâu để chỉ những người này xuất hiện liên tục trên không gian blog tiếng Việt.

Nhà báo Trương Duy Nhất viết trên trang Một góc nhìn khác rằng Chưa giai thời nào đội ngũ con quan- quan con được mệnh danh là lớp “Thái tử đảng” lại xuất hiện nhiều đến thế, chướng tai gai mắt đến thế.

Ông viết tiếp:

Lớp trẻ này, cùng với dàn con ông cháu cha đã được bố trí cơ cấu xong từ nhiệm kỳ trước, tạo nên một đội ngũ “Thái tử đảng” hùng hậu và ken chặt trong hầu khắp các bộ máy từ Ban chấp hành trung ương đảng đến cấp Bộ ngành và Bí thư, Chủ tịch, giám đốc sở ban ngành địa phương.

” Những đứa trẻ ranh mới hôm rồi chỉ biết vọc tiền, thoắt cái khoác áo vét cà vạt chễm trệ trên đỉnh cao quyền lực cai trị, hoạch định chính sách kinh tài quốc gia. Đất nước này, tổ quốc này, non sông này đâu phải cái chiếu giỗ để phân chia mâm bát cho vài gia đình dòng tộc.
– Nhà báo Trương Duy Nhất”

Những đứa trẻ ranh mới hôm rồi chỉ biết vọc tiền, thoắt cái khoác áo vét cà vạt chễm trệ trên đỉnh cao quyền lực cai trị, hoạch định chính sách kinh tài quốc gia.

Đất nước này, tổ quốc này, non sông này đâu phải cái chiếu giỗ để phân chia mâm bát cho vài gia đình dòng tộc.

Tham gia bình luận đợt bổ nhiệm này còn có các trang báo chính thống của đảng mặc dù ở chừng mực nhẹ nhàng hơn khi đặt câu hỏi về kinh nghiệm của những người trẻ tuổi liệu có tương xứng với chức trách mà họ đảm nhận hay không.

Blogger Kinh Thư viết rằng Vấn đề là già hay trẻ đó có đại diện được cho đại đa số người dân hay không? dân có chọn họ hay không?

Còn Giáo sư Trần Hữu Dũng khi đọc bài báo Những gương mặt lãnh đạo trẻ trên báo điện tử VNExpress bình luận rằng 6 người mà đã có hai người là con ông Nguyễn Tấn Dũng, thật không biết xấu hổ!

Cũng có những người có lý lịch tốt nhưng bị thất bại trong cuộc chạy đua ráo riết đang diễn ra. Blogger Tư Núi Cấm viết bài Chuyện xảy ra ở đảng bộ thành phố Hồ chí Minh, thuật lại diễn biến vừa qua ở thành phố này khi người thân của người đứng đầu đảng tại đây là ông Lê Thanh Hải không thành công. Tư Núi Cấm dẫn lời nhà báo Huy Đức cho rằng sở dĩ người nhà của ông Lê Thanh Hải thất bại, cũng giống như trước đây ông Nguyễn Thanh Nghị, con của Thủ tướng Dũng không thăng tiến được trong thành phố này, bởi lý do là tại thành phố này còn có nhiều người biết xấu hổ.

Chuyện lý lịch cũng được blogger Viết từ Sài gòn nêu ra trong một bài viết trào phúng mang tên Thịt chó, lý lịch, và Thái tử đảng. Blogger này so sánh chuyện lý lịch với chuyện phân chia mâm bát trong một bữa tiệc thịt chó truyền thống nơi làng xã Việt nam, từ đó cho thấy rằng cũng giống như trong một mâm thịt chó, những người có vai vế gia đình, có lý lịch tốt, những người được gọi là thái tử đảng sẽ được thăng tiến, ngồi ở mâm trên, dù rằng Viết từ Sài gòn cho rằng tới giờ phút này thì tầng lớp thái tử đảng ở Việt nam chưa làm được điều gì nên hồn cả!

Sự thăng tiến của tầng lớp Thái tử đảng được blogger Đinh Tấn Lực cho là lạm phát như thế nước đang lên. Ông cho rằng cũng còn những người kém may mắn hơn mặc dù cũng thuộc các gia tộc cộng sản, mà ông gọi là những thái tử đảng hạng hai.

Buồn bã và lo lắng

Người cựu tù chính trị, luật sư Lê Công Định giở lại lịch sử Việt nam và thấy rằng nước Việt ở thế kỷ 21 lại có phần giống với thể chế Thái thượng hoàng của triều đại nhà Trần cách đây gần 700 năm. Vào thời đấy các vị vua đưa các thái tử trẻ tuổi ra trị vì, trong khi mình vẫn còn nắm quyền lực. Ông nhận xét:

Đất nước ta trên thực tế đang rẽ vào giai đoạn phân hoá nghiêm trọng giữa giới quý tộc cai trị với nhiều đẳng cấp cao thấp và những người dân đen bị trị vô sản. Tầng lớp trung gian, tuy không rơi vào cảnh nghèo hèn phải bán sức lao động, nhưng cũng chẳng có cơ hội trực tiếp giành quyền lực chính trị, đó là giới doanh nhân ngày nay.

Trong xã hội đang bị phân hóa nghiêm trọng đó blogger Người Buôn gió nhận thấy rằng đảng cộng sản vẫn còn rất tự tin:

Cho dù thế nào, qua cách bổ nhiệm con cái giữ chức vụ quan trọng khi tuổi còn trẻ, sẽ thấy ĐCSVN rất tự tin rằng sự cái trị của ĐCSVN còn tồn tại đến hàng chục năm nữa. Thực tế thì niềm tin của ĐCSVN không phải là thiếu cơ sở thực tiễn. ĐCSVN đang nắm giữ quyền lực, có các mối quan hệ quốc tế, nên họ có cơ sở để đánh giá được điều đó.

Cũng tin rằng những người cộng sản hiện nay dù đang tranh giành thế lực với nhau, nhưng sẽ cố gắng duy trì đảng cộng sản, không như ý kiến một người bất đồng chính kiến mới đây cho rằng Thủ tướng Dũng sẽ giải tán đảng cộng sản, nhà báo Huy Đức viết rằng có ai chặt cái cây mà hai thằng con mình đang hăm hở leo lên hay không.

Ý ông muốn nói đến hai nhân vật trẻ tuổi con trai Thủ tướng là Nguyễn Thanh Nghị và Nguyễn Minh Triết.

Có một điều mà nhiều người Việt nam, kể cả một số người trong giới bất đồng chính kiến hy vọng là tầng lớp thái tử đảng vốn được học hành ở phương Tây sẽ khá hơn cha ông họ, sẽ cải cách đất nước.

” Đất nước ta trên thực tế đang rẽ vào giai đoạn phân hoá nghiêm trọng giữa giới quý tộc cai trị với nhiều đẳng cấp cao thấp và những người dân đen bị trị vô sản.
– Luật sư Lê Công Định”

Blogger nhà báo Đoan Trang phân tích nguồn gốc của những du học sinh Việt nam hiện nay tại phương Tây, cô thấy rằng con cái những người cộng sản có thể đi du học bằng tiền của cha mẹ họ, có thể bằng ngân sách quốc gia, họ có thể ở lại phương Tây hay về nước,

Nhưng dù theo cách nào, ở lại hay về Việt Nam, họ cũng không thể đi ngược lại gia đình được. Họ không thể từ bỏ truyền thống của gia đình, không thể phản bội lợi ích của gia đình – cái lợi ích gắn rất chặt với sự cầm quyền của đảng CS. Ít nhất, họ phải làm sao để “quật lại vốn”, nghĩa là lấy lại được số vốn đầu tư hàng trăm ngàn đôla mà gia đình đã bỏ ra cho họ.

Và bạn nghĩ các thái tử công chúa đỏ, các cậu ấm cô chiêu đỏ sẽ dân chủ hóa đất nước, sẽ “diệt cộng sản bố”, sẽ thay đổi Việt Nam theo hướng dân chủ-tự do, sau khi các cô cậu ấy du học?

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh nói rằng ông cũng mơ như thế, và đó là một giấc mơ ngắn ngủi:

Tôi đã thấy hạt giống đỏ nở bừng trên hoang tàn của đất nước

Tôi thấy các Kim Jong Un leo trèo lổn ngổn khắp nơi trên quê hương tôi.
Tôi tắt đi giấc mơ
Và chợt thấy hoang tàn nước tôi bên dưới những hạt giống đỏ đang sản sinh ra theo cấp số nhân.

Nếu ông Huỳnh Ngọc Chênh so sánh tầng lớp thái tử đảng Việt nam với Kim Jong Un người thừa kế đời thứ ba đứng đầu nước cộng sản Bắc Hàn, thì blogger Hiệu Minh nêu lên nhiều trường hợp con cháu các nhà độc tài khác nhau trên thế giới, mà việc duy trì quyền lực của gia đình để thống trị đất nước đã kết thúc trong điêu tàn.

Blogger Người Buôn Gió cũng cảnh báo:

Nếu không có bầu cử lành mạnh, cứ cha truyền con nối như vậy, dân tộc Việt Nam và đất nước Việt Nam chỉ phát triển một cách ì ạch, tiến một bước và lùi ba bước. Hãy nhìn những tiến bộ bây giờ bên ngoài hào nhoáng, nhưng bên trong là một đất nước nợ nần đầm đìa, tài nguyên cạn sạch, con người băng hoại đạo đức. Một sự phát triển theo cách tự ăn thịt mình. Sự bổ nhiệm quyền lực cho con cái của mình của các quan chức đảng CSVN hiện nay lại dẫn đến mối lo lắng hơn.

Đó là những lãnh đạo trẻ này sẽ vay ở đâu bao nhiêu tiền, bán những gì trên đất nước này để duy trì cái gọi là phát triển theo kiểu tự ăn thịt mình mà cha chú họ đang làm hiện nay.

Một bạn trẻ nói với chúng tôi cái đáng phải nên làm thay vì duy trì sự kế thừa theo kiểu thái tử đảng của Việt nam hiện nay:

Một quốc gia tiến bộ là phải tạo ra một cái cơ chế, tức là cơ hội được trao cho mọi người dân. Thì đó mới là nền tảng của một xã hội tốt đẹp. Tức là quan trọng anh không phải là con của ai, mà là anh có năng lực và trình độ hơn người khác.

Đó là cách tuyển chọn người tài cho quốc gia mà nhà khoa học Tô Văn Trường mong mỏi trong bài viết của ông trên trang Bauxite Việt nam với một câu hỏi lớn là Chọn người tài cho đảng hay cho đất nước?

Giáo sư TQ: Đàn ông nghèo nên cho đàn ông ế ‘dùng chung vợ’

Giáo sư TQ: Đàn ông nghèo nên cho đàn ông ế ‘dùng chung vợ’

VOA

Trong những năm gần đây, hàng ngàn cô dâu được đưa vào Trung Quốc mỗi năm từ các nước láng giềng, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Miến Điện và Bắc Triều Tiên để thỏa mãn nhu cầu của những nông dân ế vợ.

Trong những năm gần đây, hàng ngàn cô dâu được đưa vào Trung Quốc mỗi năm từ các nước láng giềng, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Miến Điện và Bắc Triều Tiên để thỏa mãn nhu cầu của những nông dân ế vợ.

26.10.2015

Một vị giáo sư kinh tế học ở Trung Quốc mới đây đã gây một vụ tranh luận lớn trên mạng sau khi ông đề nghị những người chồng nghèo nên để cho những người đàn ông ế vợ “dùng chung” vợ của mình. Thông tín viên Saibal Dasgupta của đài VOA tường thuật từ Bắc Kinh.

Ông Tạ Tác Thi, giáo sư kinh tế của Đại học Kinh tế Tài chánh Chiết Giang, cho rằng việc dùng chung vợ có thể là một giải pháp cho tình trạng mất cân bằng giới tính nghiêm trọng ở Trung Quốc.

Các dữ liệu thống kê cho thấy sự mất cân bằng này làm cho khoảng 30 triệu đàn ông Trung Quốc bị ế vợ.

Giáo sư Tạ nói với đài VOA “Nếu chúng ta cứ bám lấy nguyên tắc đạo đức một vợ một chồng, chúng ta làm cho 30 triệu người đàn ông phải sống một cuộc sống khôn khổ, không vợ không con.”

Xúc phạm, vô đạo đức

Hàng vạn người dùng internet đã bày tỏ sự chống đối kịch liệt đối với đề nghị đó, và một số người cho rằng ý tưởng đó xúc phạm phẩm giá phụ nữ và vô đạo đức.

Ông Dư Bảo Vũ, một nhà giáo ở Bắc Kinh, nói “Ông giáo sư này xem phụ nữ như một món hàng hoặc một tài sản mà người chồng có thể chia sẻ hoặc mang đi cho thuê. Tôi ngạc nhiên vì sự táo tợn của ông ấy khi công khai nói ra những điều như vậy.”

Một số người sử dụng trang mạng xã hội Weibo nói rằng nếu giáo sư Tạ Tác Thi nghĩ rằng ý tưởng đó là “một mô hình kinh tế khả thi” thì ông nên đi đầu bằng cách mang vợ ông cho người khác “dùng chung”. Một số người khác đe dọa sẽ thực hiện những hành động kịch liệt hơn, như không theo học tại những trường mà ông Tạ dạy. Một số người cho biết họ muốn ném đất vào nhà ông tạ cho hả giận.

Giáo sư Tạ Tác Thi nêu ra rằng những người đàn ông ế vợ phần lớn là những người có thu nhập thấp. Ông nói qua việc lấy chung một người vợ những người này có thể giải quyết vấn đề ế vợ và giảm bớt chi phí sinh hoạt gia đình.

Một người sử dụng Weibo nói “Hại nhiều hơn lợi. Có những cái giá phải trả cho việc giao dịch và vấn đề pháp lý vì đa phu là bất hợp pháp. Còn có những vấn đề khác nữa, như vấn đề ứng phó với gia tộc của hai ông chồng và vấn đề thừa kế tài sản.”

Mất cân bằng giới tính

Chính sách một con áp dụng trong nhiều thập niên qua cộng với văn hoá trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc đã làm cho nhiều gia đình quyết định phá thai khi biết được thai nhi đó là thai nhi nữ.

Chính sách một con áp dụng trong nhiều thập niên qua cộng với văn hoá trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc đã làm cho nhiều gia đình quyết định phá thai khi biết được thai nhi đó là thai nhi nữ.

Chính sách một con áp dụng trong nhiều thập niên qua cộng với văn hoá trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc đã làm cho nhiều gia đình quyết định phá thai khi biết được thai nhi đó là thai nhi nữ. Tệ nạn này tạo ra tình trạng nữ thiếu nam thừa và khiến cho nhiều đàn ông Trung Quốc kiếm không ra vợ.

Trong những năm gần đây, hàng ngàn cô dâu được đưa vào Trung Quốc mỗi năm từ các nước láng giềng, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Miến Điện và Bắc Triều Tiên để thỏa mãn nhu cầu của những nông dân ế vợ.

Giáo sư Tạ Tác Thi cho rằng nhập khẩu cô dâu không giải quyết được vấn đề. Ông nói “Nhập khẩu cô dâu từ các nước láng giềng chỉ chuyển mâu thuẫn ra bên ngoài mà không giải quyết được vấn đề.”

Ông không nao núng trước sự phẫn nộ mà nhiều người cảm thấy đối với ông. Ông nói “Những người chửi bới tôi họ không hiểu được luận điểm tinh tế về đạo đức khi tôi nói tới số phận của 30 triệu người đàn ông ế vợ.”

Giáo sư Tạ cho biết bài viết của ông đã được chia sẻ với các đồng nghiệp trong giới học thuật. Ông nói rằng hầu hết những nhà kinh tế học thuộc trường phái tự do tán đồng quan điểm của ông, nhưng những học giả thuộc các ngành khác thì chống đối. Ông chưa nhận được phản ứng nào từ phía chính phủ hay Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Đa phumột vợ một chồng

Ông nói “Luật lệ phải được sửa đổi để cho những người đàn ông đàn bà muốn theo chế độ đa phu được quyền làm như vậy. Trong thâm tâm, tôi không thích chế độ đa phu, nhưng một vợ một chồng là vô đạo đức nếu chúng ta nghĩ tới số phận của 30 triệu đàn ông côi cút.”

Giáo sư Tạ cho biết chế độ đa phu được áp dụng ở Trung Quốc trong quá khứ; và hiện nay, mặc dù chính phủ không muốn thừa nhận, nhưng chế độ này vẫn được áp dụng tại một số khu vực thôn quê, hẻo lánh.

LÊN ÐƯỜNG

LÊN ÐƯỜNG

 LM Nguyễn Tầm Thường, S.J

Ðường là để đi. Ðường là để đi nghĩa là đường sẽ dẫn đến nơi nào đó. Bản tính của đường là để đi, nên đường không bao giờ là nơi cư trú, mà là để dẫn đến nơi cư trú. Như vậy, kẻ dùng đường làm nơi cư trú thì chẳng bao giờ đến nơi cư trú của mình. Tôi phải xác định với lòng tôi: cuộc sống hôm nay là đường đến một quê hương khác? Nếu cuộc sống hôm nay không phải là cùng đích, mà tôi lại chọn làm nơi cư trú, tức là tôi chẳng lên đường để đến nơi tôi phải đến. Lối đi hôm nay của tôi có là đáp trả tiếng gọi của Chúa? Nếu không, mà tôi chẳng lên đường theo tiếng gọi là tôi đang làm ngơ, đang cố quên đường về.

LEN DUONG

Phải rẽ lối khai quang mới thành đường đi. Sở dĩ có người rẽ lối khai quang để làm đường đi vì họ muốn đến một nơi nào đó. Nghĩa là họ muốn tìm kiếm. Như thế, trước hết, trái tim họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải mở rộng cho một chân trời bước tới. Sẽ không có đường đối với kẻ không muốn tìm kiếm. Và ước mơ lên đường mà không lên đường thì cũng không thành đường đi.

– Có ai không cần tìm kiếm vì đã dư thừa?

– Có ai không cần lên đường vì đã gặp gỡ?

Ước mơ hạnh phúc là dấu hiệu hạnh phúc đang vắng mặt. Nguyện cầu cho hết phân ly là nói một cách khác họ đang khao khát được xum họp. Khổ tâm khi thấy người thương mến của mình gặp bất hạnh nghĩa là kẻ đó đang thiếu thốn, và mình cũng chẳng đủ quyền năng cho họ hạnh phúc. Khi tôi lo âu là lúc tôi có vấn đề. Ai trong cuộc sống mà lại chẳng có lúc âu lo? Tất cả đấy là những dấu hiệu giới hạn của con người, những thiếu thốn mà con người đang đi tìm.

Và như thế, ai cũng cần phải lên đường, ai cũng phải tiếp tục tìm kiếm. Ðời là cõi rộng mênh mông. Sống là đi. Mục đích là gặp điều tôi mong mỏi.

Nhưng đi về chốn nào? Trong cõi rộng mênh mông ấy, đâu là đường?

Chắc chắn không thể là tôi. Vì tôi có thể ban tặng cho mình được những gì tôi thiếu thốn thì tôi đã chẳng còn bao giờ ước mơ nữa. Nếu tôi không thể đến một nơi nào đó để lấy được những gì tôi mong mỏi, như vậy, cũng có nghĩa là tôi không thể tự làm đường đi cho mình được. Chắc chắn cũng không thể là người chung quanh tôi vì họ cũng thiếu thốn như tôi.

Vậy, ai có thể giúp tôi đạt được những điều thiếu thốn đó?

“Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14, 6). Ðường của cuộc đời tôi đi là Chúa. Những gì tôi thiếu thốn và lo âu đều liên quan đến hạnh phúc của tôi. Khi Chúa nói Chúa là sự sống, có nghĩa Chúa là hạnh phúc tôi đang túng thiếu. Khi Chúa nói Chúa là đường, có nghĩa là để dẫn tôi tới hạnh phúc đó.

Kinh nghiệm cho thấy hạnh phúc có thể thỏa mãn những thao thức sâu kín nhất trong tâm hồn tôi không hệ tại sự giàu có, người yêu, những gì trong phạm vi trần thế. Nếu vậy thì phương cách để đạt được hạnh phúc có thể thỏa mãn tâm hồn tôi cũng không thể đến được từ trần gian. Hạnh phúc ấy thuộc về phạm vi siêu nhiên, vượt tầm sáng tạo của nhân loại. Cho nên, con đường dẫn tới hạnh phúc đó cũng phải là siêu nhiên, không thể là sản phẩm của con người. Trong ý nghĩa này, Chúa là cùng đích và cũng là phương tiện dẫn tới cùng đích. Chúa là hạnh phúc và cũng là đường dẫn tới hạnh phúc.

** *

Lạy Cha, Cha đã tỏ cho con biết Cha là đường của con. Ðường đã có rồi. Sự thật và sự sống đã có rồi. Nhưng con cần Cha dọn cỏ, mở lối cho con. Cỏ tối tăm và cỏ nguội lạnh là những giây leo rừng chằng chịt che kín lối. Và con đã không thấy đường. Cha là sự thật, nên không có loại cỏ tối tăm nào có thể che kín. Cha là sự sống nên không loại gai nào có thể làm nghẽn lối. Giây gai làm nghẽn lối, cỏ dại che kín đường không mọc ở đường đi, nhưng mọc trong chính trái tim con. “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy” (Mc 10, 51). Cha đã mở mắt và người mù đã thấy đường đi. Một lần nữa, hành động của người mù cũng lại khởi đầu bằng ước mơ: ước mơ được sáng mắt. Ðiều ấy cũng hàm nghĩa là anh ta luôn luôn muốn tìm kiếm ánh sáng. Nếu anh ta không muốn lên đường. Nếu anh ta chọn thế giới mù làm quê hương. Nếu anh ta cư trú trong thế giới bóng đêm ấy và chẳng muốn bước tới nữa thì chắc chắn anh sẽ chẳng bao giờ thấy mặt trời. Ðời anh sẽ tẻ nhạt biết bao. Ðời con cũng vậy. Con phải lên đường. Ngày nào con cũng có lầm lỗi. Ngày nào cũng có bóng đen của ghen tương, bóng đen của thèm muốn bất chính, bóng đen của lo âu thiếu tin tưởng. Ngày nào con cũng có mù lòa. Vì thế, con cần Cha mở mắt cho con hàng ngày. Và, con phải lên đường mỗi sớm mai.

* * *

Mơ ước lên đường thì bao giờ cũng đẹp. Nhưng để thực hiện lên đường lại không dễ. Những hạnh phúc đẹp chỉ dành cho những tâm hồn dám lên đường tìm kiếm. Muốn nhìn vũ trụ mênh mông phải giã từ mặt đất, cất cánh theo chim trời. Nếu con sâu cứ lặng lẽ sống dưới mặt đất với loài trùng, thì nó chẳng có lý do để oán trách sao cuộc đời chung quanh chỉ là mùi ẩm của đất, mùi mốc của cỏ. Nó phải hóa thân thành cánh bướm. Và, lúc đó người ta sẽ ngước mắt nhìn theo. Tất cả vũ trụ là của nó. “Trong tà ác tôi đã sinh ra, và đã là tội lỗi từ khi mới là thai nhi trong lòng mẹ” (Tv 51, 7). Ðó là hình ảnh tôi sinh ra trong thân phận sâu. Sinh ra trong thân phận sâu, nhưng lại không để làm sâu, mà được kêu gọi hóa thân làm bướm. “Ta đã chọn các ngươi từ giữa thế gian” (Ga 15, 19; 17, 16).

* * *

Lên đường nào cũng có giã từ, vì thế mới có ngần ngại. Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ. Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu. Những rung cảm bất chính đã ở trong dòng máu của tôi. Bây giờ tôi phải từ bỏ. Những liên hệ không ngay lành, nhưng cho tôi thú vui trần thế. Bây giờ tôi phải cắt đứt. Lười biếng là một thứ quyến rũ như bếp lửa trong chiều đông, nó giữ chân tôi lại. Bởi, lên đường là mở cửa đi ra, ngoài kia có gió lạnh làm tôi ngại ngùng. Muốn được người ngưỡng mộ, tôi tạo ra khuôn mặt đẹp mà tâm hồn tôi không có. Bây giờ, lên đường, nghĩa là tôi phải sống thật với tôi. Trở về chấp nhận khuôn mặt nghèo nàn của mình là điều tôi không muốn. Ðể người biết khuôn mặt thật của mình là điều tôi không dám. Bước tới để thay đổi tâm hồn là một giá tôi phải trả. Là một lên đường đòi nhiều can đảm.

Những biến cố thay đổi cuộc sống của một tâm hồn trong Phúc Âm đều là những biến cố lên đường. Chúa đã dùng những hình ảnh lên đường cụ thể, lên đường bằng đôi chân bước trên cát bụi để diễn tả cuộc lên đường nội tâm. “Ði dọc theo bờ biển Galilêa, Ngài thấy Simon và Anrê dang quăng chài dưới biển. Ðức Yêsu nói với họ: Hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi là ngư phủ bắt người. Tức khắc, họ đã bỏ chài lưới mà theo Ngài. Ði xa một ít, Ngài thấy Yacôbê và Yoan em ông, cả hai đang vá lưới dưới đò. Ngài gọi họ. Và họ đã bỏ cha họ và những người làm công mà theo Ngài” (Mc 1, 16-20). Phúc Âm thuật lại, sau khi theo Chúa rồi, nhiều lần Phêrô vẫn còn thả lưới. Như vậy, đáng lẽ Chúa phải bảo Phêrô mang lưới theo kẻo mai mốt lại tốn tiền mua lưới khác. Nhiều lần Chúa phải dùng thuyền mà đi. Sao Chúa không dặn Phêrô giữ lấy thuyền vì mai mốt cả Thầy trò vẫn còn cần tới.

Họ đã bỏ lại tất cả.

Họ đã bỏ lại tất cả, phải chăng lưới mà Yacôbê đang vá lưới của những toan tính thiếu niềm tin vào Chúa, là mạng nhện đam mê gắn liền với tâm hồn tôi như áo tôi mặc. Tôi chẳng muốn bỏ. Mỗi mũi kim vá là một lần tôi níu kéo, bám theo . Phải chăng thuyền của Phêrô là những nét xấu như một thứ quê hương tôi đang sống ở trong. Tôi đang an phận với quê hương ấy?

Lạy Cha, Simon và Anrê, Yacôbê và Yoan đã lên đường. Khi nghe Cha gọi, họ đã tức khắc bỏ chài lưới mà lên đường. Không lưỡng lự. Dứt khoát. Hình ảnh của những cuộc lên đường đẹp quá. Lên đường của những kẻ muốn tung cánh trong tự do bát ngát như thập giá không chịu khuất phục sự chết. Lên đường của những bàn chân không biết mỏi khắp cánh đồng Galilêa. Lên đường không phân vân như mặt trời bình thản đẩy bóng tối lại đàng sau.

  • * *

Lạy Cha, nếu không lên đường, chắc hẳn Phêrô chẳng gặp Cha, đã không được Cha huấn luyện và tâm hồn Phêrô đã nghèo nàn lắm. Trong cuộc sống của con, Cha đã gọi. Con cũng đã lên đường, nhưng con không can đảm như Anrê, như Yacôbê. Lưới đời của con dầy mắt, những mắt lưới mà con nghĩ là sẽ bắt được nhiều cá: cá bằng cấp, cá danh vọng, cá sắc đẹp, cá giàu có, cá tình yêu. Mỗi lần bắt hụt vì lưới bị rách là con lại cặm cụi ngồi vá. Có bao giờ con đã quá chú ý cúi mặt vá lưới đến nỗi Cha đi qua, Cha gọi mà con chẳng nghe gì?

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

 “Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,”

            Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai”.

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch

Ngoảnh mặt làm ngơ, và vô tình trêu ai, còn là tâm-trạng của người nghèo hèn ở trình-thuật.

Trình thuật hôm nay, kể về hai người đàn bà nghèo, góa bụa. Làm thân góa bụa hồi đầu thế kỷ, các bà vốn rất nghèo. Nghèo tiền nghèo của, nghè cả chức phận, lẫn công danh. Ở xã hội Do Thái thuở trước, mồ côi, góa bụa, nghèo nàn, cả ba đều bị liệt vào giai cấp cùng đinh, mạt rệp. Vị thế của họ vẫn cứ hèn và mạt đến độ không ngóc đầu thoát khỏi kiếp vong mạng, nơi bùn đen. Kiếp người của họ luôn trái ngang, gặp cảnh chê bai, miệt thị.

Lối hành xử đầy khinh chê mà các bà gặp phải, hiện diện cả trong giới linh thiêng nhà Đạo, nữa. Trình-thuật kể rằng: Đức Kitô xếp loại các thủ-lĩnh, kinh-sư thời Ngài vào cùng một hạng với những người, ta cần dè-chừng. Dè-chừng, không chỉ vì họ luôn tìm ra phương-cách khai-thác, bóc-lột giai-cấp cùng đinh mạt rệp, mà thôi. Dè-chừng, còn vì các thái-độ khinh-chê, miệt-thị và bóc-lột vẫn hủy-hoại tình người. Thứ tình cần đến cơn mưa yêu thương, lắng đọng.

Với Đức Kitô, thái độ “xúng xính”, “bóc lột” là lối hành-xử giả-hình, không chấp-nhận được và cần đổi-thay. Với Tin Mừng Nhất Lãm, cả ba thánh-sử thỉnh thỏang vẫn kể lại hành-vi kiêu-căng, ngạo mạn của các đấng kinh sư nhà Đạo, lúc bấy giờ. Nghĩa là, hành vi của những người này trái ngược hẳn lối xử-sự của đám nghèo hèn/cùng đinh, như các bà góa. Hành-vi yêu-thương luôn giùm giúp những ai đang cần. Kinh nghiệm chính bản thân mình, Đức Giêsu đã triền-miên chịu-đựng mọi khổ-đau vì người đời. Ngài vẫn không thể chấp-nhận nổi phong-cách “làm bộ đọc kinh nhiều giờ” của đám Kinh sư, Biệt phái.

Là môn-đồ Đức Chúa, dù ở cương-vị nào, chắc hẳn ta cũng không chấp-nhận nổi thái-độ trịch-thượng, dễ gây xa cách ấy. Thật ra, tạo cho mình có được của cải, quyền-bính này khác, tự nó không có gì xấu xa.

Vấn-đề đặt ra, là: khi tiếp-nhận quà tặng từ Trên, dù quà đó có là quyền-thế hay của cải/tiền bạc, ta vẫn có thể sống đúng tư-cách của người công-chính, được như thường. Hệt như phương-châm: hãy nói tôi nghe bạn sử-dụng quà tặng như thế nào, tôi sẽ cho biết bạn là ai. Ở đây nữa, quyền-bính và của cải/tiền bạc vẫn là “bát cơm đong dầy”, ta phải luôn cầu Trời mới mong có.

Trớ trêu thay, mọi quyền-uy con người tạo được, dù ở chính-trường, nơi nhà Đạo hoặc trong gia-đình, ngoài xã-hội, cộng thêm sự giàu sang từ đó có được, vẫn là những thứ hấp-dẫn, khó chối-từ. Càng có nhiều uy-quyền, người người càng tạo nhiều của cải. Càng có nhiều của cải, người người những tưởng: mọi sự đều thuộc về mình.

Không ai có quyền gỡ bỏ hoặc rút đi. Và, một khi có nhiều quyền-hành và tiền của, người ta sẽ dễ trở nên kiêu-căng, thích bóc-lột người khác, những nghèo và hèn hơn mình. Lúc ấy, họ sẽ quên đi lời nhắc nhở dặn dò, rằng: tất cả đều là quà tặng, từ Trên. Và, khi đã quên lời nhắc-nhở từ Trên, người ta có khuynh-hướng quên luôn cả Đấng đã nhắc nhở mình. Để cho mình mọi uy quyền và của cải ấy.

Trình thuật hôm nay, thánh Mác-cô ghi lại lời nhắc nhở ngợi khen phong-thái của người cùng đinh/nghèo hèn, như bà góa. Đức Chúa khen ngợi các bà thuộc giai cấp thấp hèn không phải vì các bà vốn người đốn mạt, nghèo hèn.

Điều mà Đức Kitô ngợi khen, chính là phong-cách độ-lượng, thương-yêu giùm-giúp của các bà, những người chị, người em đang sống cuộc đời nghèo/hèn, tận-tuyệt. Nghèo hèn tận tuyệt, là: biết mình cũng chẳng là gì, chẳng hơn ai. Nhưng, vẫn biết người, biết mình. Luôn khiêm tốn. Vẫn thân thương. Thân-thương trong thái-độ nhớ đến người khác. Nhớ đến những người còn nghèo/hèn tận-tuyệt, hơn mình.

Biết người biết mình, là: lâu nay tuy bị bóc-lột đến cùng cực, rất túng thiếu, nhưng vẫn lẳng-lặng yêu-thương, đùm bọc. Không hợm hĩnh, khoe khoang. Có biết mình và biết người như thế, mới nói được rằng: kẻ cao sang, quyền quý dù biết nhiều học rộng, vẫn cần học và hỏi nhiều nơi người nghèo hèn. Học và hỏi, không phải kiến thức khoa bảng, nở rộ. Học và hỏi về phong cách nhẹ khi thương yêu đùm bọc, cả vào lúc quyên góp.

Nơi cuộc sống Đạo-đời, vẫn là chuyện thường nếu lâu nay các đấng bậc cao-sang quyền-quý vẫn cứ dạy và dỗ đám dân nghèo, thấp hèn. Điều khác lạ nơi Tìn Mừng hôm nay, chính là bài học này: hãy để cho lớp người cùng đinh/thấp hèn có cơ-hội minh-chứng dỗ-dạy các đấng bậc quyền-quý, rất cao sang. Các đấng đang ngự-trị nơi: chính trường, nhà Đạo. Hoặc, tại khắp chốn như: xã hội, gia đình.

Và, đó là điểm sáng Tin Vui rất an bình mà trình thuật thánh Mác-cô muốn gửi đến người đọc. Nơi dân-gian trần-thế, có vài truyện kể cũng mang dáng dấp an vui Tin Mừng, ta vẫn nghe. Như truyện kể hôm nào, về đối chất thần-học giữa vị Hồng y nhà Đạo và tín đồ nghèo Do Thái giáo.

Nhiều năm về trước, giới nhà Đạo ở La Mã có quyết-định: người Do thái phải rời bỏ thủ-đô này, không được sống gần người nhà Đạo. Cộng đồng bạn tỏ ra bất-bình trước quyết-định gay-gắt ấy. Thấy thế, Đấng bậc nhà Đạo bèn giải hoà, bằng đề-nghị: nếu cộng-đồng bạn toàn-thắng cuộc thi-đấu kiến-thức thần-học, họ được ở lại.

Phía nhà Đạo, vị được cử lên thi đấu lại là Hồng y chủ quản; giáo hội bạn, chỉ đề cử tín-đồ nghèo hèn, tên Môsê. Sợ mình không thể đối nhanh đáp lẹ, kẻ hèn Môsê đề-nghị cuộc thi diễn ra trong im lặng. Chỉ giơ tay, ra dấu. Hai bên đồng ý, nhập cuộc.

Bắt đầu, Vị Hồng y đưa tay lên cao, giơ 3 ngón. Tín đồ Môsê chỉ giơ một ngón, rất gọn. Hồng y nhà ta dùng tay vẽ vòng cầu, trên đỉnh đầu. Còn, Môsê lấy tay chỉ xuống đất chỗ mình ngồi, không chậm trễ. Hồng y bèn đem bánh miến rượu nho, một lượng nhỏ, cung-kính lĩnh nhận.  Trong khi đó, tín đồ Môsê lại mang trái táo xanh, dự tính ăn. Cuối cùng, vị Hồng y đứng dậy, vội nói: “Tôi xin thua. Người này quá tốt lành, anh ta thắng”.

Thế là, cộng đồng người Do thái được quyền ở lại. Vài giờ sau, các đồng-nhiệm đến hỏi vị Hồng y:  sao, lại như thế? Vị Hồng y đáp: trước hết, tôi giơ tay 3 ngón ý nói Đức Chúa Trời có Ba ngôi, thì anh ta chỉ giơ ra có một, ý muốn nhắc nhở tôi: Đạo của chúng ta đều chỉ tin một Chúa. Thế rồi, tôi ra dấu đánh vòng trên đỉnh đầu, ý muốn bảo: Đức Chúa đang hiện-diện quanh ta, thì anh chàng lại chỉ tay xuống đất, ý rằng: đúng đấy thưa ngài, Đức Chúa đang có mặt ở đây, ngay lúc này.

Cuối cùng, tôi đem rượu cùng bánh có ý nhắc: sùng kính Thánh Thể Cha, là việc rất phải. Phần anh, anh lại lấy táo xanh đem ra nhắc tôi: về tội nguyên tổ, ta cần đề cao. Tóm lại, anh ấy có giải-đáp rất nhanh về mọi vấn-đề.

Cùng lúc, bạn bè trong cộng-đồng Do thái rất thân, bèn quây quần bên người thấp-hèn Môsê, mà hỏi: này anh bạn già thấp kém như thế mà sao anh thắng được đấng bậc đạo-mạo bên ấy. Anh thưa: có gì đâu. Lúc đầu, ỗng bảo tôi: cộng đồng mình có 3 ngày để dời đi nơi khác. Tôi thưa ngay: không một người nào trong bọn tôi, sẽ ra đi. Rồi ông thêm: trọn thành này sẽ sạch bóng người Do thái, là các anh đấy. Tôi bèn cho biết: không đâu, bọn tôi đóng trụ trên đất này, chẳng đi đâu cả. Cuối cùng, có người hỏi: Môsê, thế rồi sao? Môsê nói: tôi cũng chẳng biết nữa. Tự nhiên thấy ỗng lấy đồ trưa ra ăn, tôi cũng lấy táo xanh của mình ra, đánh chén thế thôi.

Qua truyện kể, phong-cách hành-xử giải-quyết vấn-đề giữa vị chóp bu nhà Đạo và đạo-hữu thấp hèn Môsê, rất khác-biệt. Khác-biệt, không có nghĩa lọai bỏ, tru diệt lẫn nhau. Khác biệt, là cần thắc-mắc, cần học-hỏi do đâu. Khác-biệt, không phải để so-sánh, phân-tranh ngôi vị. Vì, so sánh phân tranh không là giải đáp tốt, ở nhiều trường-hợp.

Thông thường và thích đáng hơn, vẫn là thái-độ biết học và hỏi. Biết áp-dụng lối xử-sự, phương-cách sống của người khác. Chí ít, của người nghèo hèn, tận tuyệt. Phương cách sống và lối xử sự ấy, không nhất thiết phải như đấng bậc phú quý, ở trn cao. Cách hành động và đối xử thích hợp, vẫn có thể và vẫn nên như cách thế của kẻ nghèo hèn, tận tuyệt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong cho cộng-đoàn thân thương của ta có được phong-cách hành-xử, rất thư-thái xứng-hợp. Thư-thái, như dân thường ở huyện, chốn dân-gian. Những kẻ thấp hèn luôn mong chờ mưa xuống. Mưa hồng-ân. Mưa cứu-độ vẫn đi kèm theo mỗi quà tặng thông-thường, ta nhận-lĩnh. Một khi có được phong-cách nhẹ-nhàng thoải-mái như kẻ nghèo hèn, cùng đinh, ta sẽ thư-thái ngâm lại lời thơ trên, mà rằng:

“Không-gian ngoảnh mặt làm ngơ,

Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai.

Mưa đầy tóc gió đầy vai,

Sầu treo bốn hướng trôi dài tâm-tư.” (Vũ Hoàng Chương – Bơ Vơ)

Sầu treo bốn hướng/bơ vơ, là tình-trạng người nghèo-khó ở mọi thời vẫn cần mọi người giùm giúp đỡ đần. Và, đỡ đần/giùm giúp, lại là thực-chất lòng đạo không chỉ người Công giáo, hoặc Do thái mới có. Mà là, lòng mọi người ở đời vẫn luôn đùm bọc giùm giúp, hết mọi người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn  

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mt 5: 1-12a)

Một hôm, thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.

Người mở miệng dạy họ rằng:

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Trả lại anh, câu yêu mà anh đã tặng,

“Trả lại anh, câu yêu mà anh đã tặng,”

Trả lại anh, nhớ nhung mặn nồng cay đắng.

Trả lại anh thư xanh, màu xanh ái ân.

Dĩ vãng buồn, giống nghĩa trang.

Cô đơn, như mộ không tên.”

(Đức Quỳnh – Trả Lại anh)

(1 Phêrô 5: 1-4) 

Trần Ngọc Mười Hai

Anh hay em, mà lại hát câu ca này, rõ ràng như thể bảo: thôi “anh đường anh, tôi đường tôi; tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi!, cho rồi.” Bởi, có hát những câu hay ho/đẹp đẽ như thế, nay đâu còn hợp thời-trang, tình-tự được nữa đâu, cơ chứ!

Không tin ư? Mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp đôi ba ca-từ đến “phát khiếp” như sau:

“Trả lại anh câu yêu em, tình yêu bất diệt.

Trả lại anh với câu xây nhà bên suối.

Trả lại anh hoa khô cài bên bướm xanh.

Đây trang nhật ký đôi ta.

Đang ghi sao đành dở dang.

Khi em yêu anh còn cô gái thơ ngây.

Nay em xin anh trả em lúc ban đầu.

Yêu anh em đâu ngờ duyên kiếp ba sinh.

Van anh quên đi như khi ta chưa hề quen.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Quả là, rất đúng. Hôm nay đây, ở thời buổi này, lại vẫn có những sự thể, thật dễ nói câu “van anh quên đi khi ta chưa hề quen”. Bởi, có quen nhau cho lắm, rồi cũng thấy rối-rắm như trang-huống đang xảy ra ở nhà Đạo.

Trang-huống hôm nay, lại đã có những lời/lẽ rất thương đau như tin tức được loan-truyền trên báo/đài truyền-thông, như sau:

“Đức Tổng Giám-mục Charles Chaput cảnh-giác việc phân-cấp cho các Hộ-đồng Giám-mục có được một số quyền-về kỷ-luật bí-tích, đã phát-biểu:

Giáo-hội là ‘Công-giáo’ còn gọi là ‘phổ quát’. Đúng là chúng ta cần tôn-trọng sự khác-biệt về tính-cách văn-hoá giữa các tín-hữu. Nhưng, ta đang sống sống trong thời-đại có nhiều đổi-thay trên qui-mô toàn-cầu có những rối-loạn và bất-ổn. Nhu-cầu cấp-thiết của ta là sự đoàn-kết. Và nguy-hiểm lớn nhất của ta là sự phân-cấp.

Hỡi anh em,

Ta cần phải rất thận-trọng về việc phân-cấp các vấn-đề về kỷ-luật và tín-điều quan-trong cho phép các Hội-đồng Giám-mục ở các quốc-gia và khu-vực, đặc-biệt khí có áp-lực buộc ta theo chiều-hướng đó kèm một tinh-thần tự khẳng-định và đề-kháng…

500 năm trước, ở vào thời-điểm giống hệt hôm nay, Erasmus của Rotterdam đã viết rằng: sự hiệp-nhất của Hội-thánh là đặc-trưng quan-trọng vào bậc nhất. Ta có thể tranh-luận về những gì Erasmus tin-tưởng thực-sự; và, những gì ông nói trong bài viết của ông. Nhưng, ta không thể tranh-luận về những hậu-quả xảy đến khi sự hiệp-nhất cần-thiết của Giáo-hội bị bỏ qua. Trong những ngày sắp tới đây, xin chúng ta nhớ rằng: tầm quan-trọng của sụ hiệp-nhất và những gì nó đòi hỏi nơi ta, và những gì mất đoàn-kết trong các chuyện nghiêm-trọng như thế có thể mang lại. ” (X. www.Tâmlinhvaodoi.net, Tóm-lược diễn-tiến Thượng Hội-đồng Giám-Mục về Gia-đình, 17/10/15)

Thật ra thì, Thượng Hội Đồng Giám Mục 2015 diễn-tiến cũng không tệ. Chỉ mỗi điều, là: các nghị-phụ nhà mình, nay có quyền phát-biểu/tỏ-bày ý-kiến tư-riêng của các phe/nhóm khác nhau trong Hội-thánh thế giới. Không chia rẽ hoặc phân-biệt mà chỉ mỗi khác nhau về chánh-kiến/lập-trường. Và, khi đã đi vào hiện-thực, thì phe/nhóm nào cũng sẻ-san đường-lối cũng rất chung, thôi.

Đó là điều, mà nhiều đấng bậc lâu nay vẫn tỏ-bày ý-kiến về các khó-khăn của Giáo hội khi tiếp-cận các vấn-đề nhức-nhối về người Đồng-tính luyến-ái.

Giám mục Geoffrey Robinson từng viết nguyên cuốn sách để bàn về vấn-đề này, vào lúc trước khi Thượng Hội Đồng Rôma  khai mạc hồi tháng 10/2015 mà Chuyện Phiếm Đạo Đời đã trích-dịch nhiều qua các bài phiếm lai rai, đây đó. Nay, lại xin tiếp tục triển-khai thêm một số lý-chứng từng tạo khó-khăn cho Giáo-hội khi cần thay-đổi giáo-huấn mình vẫn dạy.

Để bà con có thể bàn-bạc chuyện gay-go theo chiều-hướng nhẹ-nhàng, xin mạo muội, đề-nghị bạn và tôi, ta nghe câu chuyện tiếu-lâm chay ở dưới, khi kể về những cái khó trong chung sống:

Lão vốn mang tiếng cả khu chung cư là sợ vợ và đang di căn sang giai đoạn cuối là khiếp vợ, thế mà tối nay thấy tiếng lão quát vợ rung chuyển các tầng. Kính trọng quá đi. Đàn ông là phải thế chứ.

Nhà cháu chạy sang đứng ngoài cửa.

-Choang!Choang! (Tiếng bát vỡ kinh quá)

-Bụp! (Một cú đá chéo góc).

– Im mồm, tôi bảo cô im đi cơ mà…Im để cho tôi nói, cô đã làm nhơ cái mặt tôi ở khu chung cư này rồi, ai cũng bảo là: tôi sợ vợ, ngay cả lão Vinh kia hễ gặp tôi là nói kháy, là đá đểu rằng tôi sợ vợ. Bây giờ thì đừng hòng. Hôm nay tôi phải dạy cô một lần cho biết.
– Choang! Rắc! Ùm! (tiếng bát vỡ, và cả tiếng ly/cốc, chân bàn gãy, nghe kinh khủng quá)
– Tôi đi ra khỏi nhà là cô la, về muộn một tí thì cô chửi, gặp phụ nữ thì cô cho là tôi đã cặp bồ, cái ví của tôi cô xẻo hết từng đồng tiền lẻ, cái máy điện thoại của tôi mang về, là cô kẹp chặt trong nách, cô một vừa hai phải thôi, nhớ rõ chưa? Nhớ chưa? Há miệng ra mà vâng trước mặt tôi ngay, há ngay ra!

– Bốp. Bốp. Bốp. (Rõ ràng có tiếng đánh từ bàn tay phải của lão đập vào má trái người vợ).

– Cô ngó lên tầng 15 mà xem, cái lão dê già ấy đấy, ai không biết là lão sát gái, vợ lão cũng biết mà có dám hó hé gì, đâu? Tôi nói thế có đúng không? Thế mà, mới thấy tôi búng vào má em nào một phát, vỗ lưng, vuốt tóc một cái thì cô lồng lộn lên là thế nào? Cô chửi tôi cứ như đảng và nhà nước chửi bọn phản động, thế nghĩa là thế nào? Từ giờ trở đi, chừa ngay cái thói bắt nạt chồng nghe chưa, chồng thay cha thay mẹ, hễ nói một câu là vợ phải dạ một câu, nghe chưa?

Viu…viu…viu…(Ôi giời đá gió đây, gọi là song phi đấy!

– Cô đưa con dao cho tôi, đưa đây! Tôi sẽ chặt ngón tay của cô để cô luôn nhớ rằng, cô là vợ, tức là ở dưới cơ chồng, cô hiểu chưa, đưa dao đây!

Nhà cháu hoảng quá, phải cứu cô ấy chứ, nhà cháu xô cửa lao vào trong. Lão hàng xóm đằng đằng sát khí đứng giữa phòng, bát chén, cốc ly vỡ tung tóe cứ như trung tâm thủ đô Kiev. Nhà cháu ôm ghì lấy lão:

-Ấy… Bình tĩnh đã… Ai lại đánh mắng vợ con như thế hả giời?…

-Nhưng em không thể chịu được, điên lắm rồi, phải dạy vợ cho ra dạy bác ạ.

-Thế cô ấy đâu, cô ấy đâu?

-Cô ấy về quê hôm qua rồi bác ạ.” (trích truyện kể của Nguyễn Quang Vinh)
Kể truyện tiếu-lâm chay như thế, chỉ để nói lên điều này, là: trong đời người, vấn-đề nào cũng có mặt phải/mặt trái của nó, hết. Việc gì đề ra, cũng có người thuận, có người chống lại ý-tưởng của người khác, có khi cả ý-tưởng của chính mình vừa nói xong cũng chống hết.

Để chuyện phiếm hôm nay thêm phần đa-dạng, xin bạn và tôi, ta nghe thêm đôi điều về một nhân-vật lỗi lạc ở trời Tây nuớc Nga, đó là nhà văn Leon Tolstoy cũng có ý-kiến rất “thực” về nền thần-học Hội-thánh rất chung, như sau:

“Cuối thời mình, đặc-biệt là vào lúc ông viết truyện giả-tưởng nổi tiếng hồi thập niên 1860 và 1870, lúc ấy ông cho xuất-bản cuốn “Chiến-tranh và Hoà-bình” cũng như cuốn “Anna Karina”, tác-giả Leon Tolstoy đã bị rung-động bởi cơn khủng-hoảng cá-thể và về tinh-thần, đến độ ông đã phải dừng lại không viết tiểu-thuyết nữa. Khi ấy, tưởng chừng như ông đang rơi vào nỗi rã-rờituyệt-vọng, đến khủng-hoảng, cứ bận-tâm nhiều với chuyện chết choc và tự vẫn. Và khi ấy, ông lại đã trải-nghiệm một hiện-hữu rất đơn-huầnvề một niềm tin vô-vọng, cứ nghĩ mình chỉ là mớ bòng bong, hỗn-tạp, sống không mục-đích. Và khi ấy, ông thấy cuộc đời con người đích-thị là ác-thần/sự dữ, rất không sai. Trong nỗi hốn-cùng sâu lắng về hiện-sinh, Leon Tolstoy đã nhớ về Đạo Chúa mà ông từng sống vào thời thơ-ấu. Và rồi, ông tìm lại được một vài hy-vọng nhỏ trong liên-tưởng đến tín-hữu chân-phương, giản-dị mà ông đã cùng sống cũng như lớn lên với họ, trong quá-khứ.

Ông nhìn thấy nơi tín-hữu bình-dị ở quê nhà, một gương sáng sống đời người đích-thực, đầy đặn. Và, nỗi nhớ này đã khích-lệ ông khởi-đầu suy-tư/học-hỏi sâu-sắc về giáo-huấn trong Đạo mà ông gặp được ở Tin Mừng. Khủng-hoảng về linh-đạo và hệ-quả nó dẫn đến được ông ghi lại từng chi-tiết trong các tác-phẩm không giả-tưởng chút nào, được ông dùng để làm lực đẩy cho các bài viết cùng các sách về cuộc sống tâm-linh cụ-thể, như: Một lời xưng thú: Những gì tôi tin” và “Vương Quốc Nước Trời, ở bên trong con người quí vị.” (x. Leon Tolstoy, The Life of Jesus The Gospel in Brief, Harper Perennial 2011, Foreword, tr. Vii)

Sau đến, là ý-kiến của Gm Geoffrey Robinson khi ông nói đến khó-khăn trong giải-quyết vấn-nạn/đòi hỏi phải có thay-đổi trong chính-sách đối xử và suy-tư về người đồng tính luyến-ái, lý thừ như sau:

“Lý-do khác khiến ta cần đổi thay giáo-huấn Hội-thánh Công-giáo, là vì giáo-huấn ấy chỉ là những tuyên-ngôn mang tính khẳng-định từ trên hơn là chú-trọng vào bàn-luận, thương-thảo.

Yếu-tố hiệp-thông và cộng-sinh, là khía-cạnh thiết-yếu làm nền cho hôn-nhân giữa hai người, miễn là họ theo-đuổi những điều sau đây:

– chúng phải là yếu-tố thiết-yếu cho từng cuộc hôn-nhân riêng-rẽ, không cần biết hoàn-cảnh của mỗi cặp có ra thế nào đi nữa, phải thế chứ?

– chúng phải là những yếu-tố thiết-yếu cho mỗi động-tác xác-thịt chứ? Động-tác thực-hiện dựa trên căn-bản nào?

Như, trường-hợp cặp hôn-nhân đặc-biệt nọ được các chuyên-gia y-tế khuyên can đừng nên có con, nếu không trẻ bé sẽ phải bị bệnh nghiêm-trọng và tật nguyền bảm-sinh/di-truyền, nên họ đi đến quyết-định nuôi con nuôi hơn là có con do mình sinh. Làm thế, họ có chống lại ý Chúa không? Có cặp khác nghĩ rằng mình đã có khá nhiều con rồi, nên không có khả-năng tài-chánh và tâm-lý để có thêm con nữa sợ rằng sẽ nặng gánh gia-đình. Dựa trên căn-bản nào ta khẳng-định rằng họ làm thế là chống lại ý Chúa, đây?

Rất nhiều trường-hợp khó-khăn khi nhiều người vẫn tuyên-bố là họ biết ý của Chúa, nữa. Vậy thì, nếu ta khẳng-định rằng đó là ý của Chúa và cũng là trật-tự thiên-nhiên, vậy thì cả hai khía-cạnh hiệp-thông và cộng-sinh đều nhất-thiết phải có mặt trong mỗi động-tác ăn-nằm xác thịt như một hành-xử được chứng-thực hoặc là khẳng-định chân-phương, giản-dị chứ? Nếu đó là hành-động được chứng-tực, thì đâu là chứng-cớ? Thế, tại sao tài-liệu của Giáo-hội lại không đưa chứng-cứ nào như thế? (*6) Phải chăng bất kỳ chứng-cứ  nào cũng phải bao gồm kinh-nghiệm từng-trải của hàng triệu người trong cố-gắng phối-hợp dục-tình, thương-yêu và việc cộng-tác sản-sinh cuộc sống mới trong bầu khí hỗn-độn của dục-tính con nguời và tính phức-tạp nơi sự sống con người chứ? Phải chăng lý-tưởng bao giờ cũng lẫn lộn với thực-tại?

Nếu giáo-huấn của Hội-thánh chỉ là khẳng-định từ trên ban xuống, thì có chăng lý-do hỏi rằng tại sao ta lại không được phép áp-dụng nguyên-tắc hợp lý cứ luôn bảo: những gì dễ khẳng-định cũng dễ dành bị bác-bỏ, không? Nếu chuyện ấy không hơn gì một khẳng-định, thì việc  thực-sự quan-trọng là: ai là khẳng-định hoặc làm sao mà việc ấy lại được khẳng-định ras61t thường như thế? Đâu là lý-sự có lợi cho sự việc khẳng-định rằng việc ấy sẽ thuyết-phục được một lương-tâm cởi mở và lương-thiên, đây? (Xem thêm Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Synod: The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ARF 2015, tr.15-16)

Nói cho cùng, có bàn-thảo nhiều về vấn-đề sống cùng và sống với những người đồng-tính luyến-ái và/hoặc chuyệnvợ-chồng đã ly-dị rồi tái-giá, có được hiệp-thông rước lễ hay không vẫn là luật lệ có từ một khẳng-định từ trên phán xuống.

Nói cho cùng, thì có đụng chuyện trong chung sống hoặc phải giải-quyết những nố khó-khăn trong sống đời thực-tế hôn-nhân, luyến ái, mới thấy rằng: chuyện đời thật không dễ. Không dễ hiểu, cũng chẳng dễ cảm-thông nếu mình không ở cùng một hoàn-cảnh, với người trong cuộc hoặc bị-động.

Nói cho cùng kỳ lý, thì: tất cả chỉ để bạn và tôi, ta có cơ-hội đểm phiếm ba điều bốn chuyện, không phải của do mình hoặc thiết-thân với chính mình, gia-đình mình.

Nói cho cùng và chon gay, chi bằng ta cứ vào vườn hoa Lời Chúa có những Tin Mừng để đời như tác-giả người Nga ở trên từng trải-nghiệm.

Nói cho cùng, cũng nên nhìn về quá-khứ trong đó mình từng được nghe nhiều và học nhiều, những điều do bậc thánh-hiền vẫn từng bảo:

“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em,

tôi xin có mấy lời khuyên nhủ,

vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục,

lại là chứng-nhân những đau khổ của Đức Kitô

và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai.

Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em:

lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng,

nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn,

không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn,

nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ.

Đừng lấy quyền mà thống-trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em,

nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.

Như thế, khi Vị Mục Tử tối cao xuất hiện,

anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.”

(1 Phêrô 5: 1-4)

Nói theo nhà Đạo, thì như thế. Như thế, tức làm sao để các bậc kỳ-mục/thủ-lãnh cũng như dân-gian dưới trướng được sống đời thoải-mái trong yêu thương. Chứ không chỉ câu-nệ luật lệ, mà thôi. Dù luật ấy có là giáo-luật. Dù điều ấy có là giáo-huấn rất “khẳng-định” từ trên phán xuống.

Nói theo kiểu người ngoài luồng, ngoài đời là nói bằng cung-giọng/điệu hát có lời ca rất âm-thầm, nhè nhẹ đầy chất thương yêu như người thường ở huyện, vẫn cứ hát những câu như:

“Trả lại anh câu thơ người em tóc thề

Trả lại anh khóc thương cho phận con gái

Trả lại anh tương tư mà anh đã trao

Bên nhau tình nhớ với thương

Xem như cơn mộng mà thôi

Coi nhau như bạn mà thôi.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Hát thế rồi, ta lại tìm đến những truyện kể do bạn-bè/người thân những sưu-tầm để ta viết phiếm. Viết cho đời thêm phấn-chấn. Nghe kể, cho đời mình được nhiều tiếng cười vẫn quẩn quanh đâu đó, những muốn vui, như sau:

“Cô sinh viên nọ, bận tâm về chuyện bồ-bịch và gia-đình, nên đã biên thư hỏi ý mẹ như sau:

-Kính thưa mẹ, mọi việc đang diễn ra tốt đẹp ở trường. Con đã gặp một anh sinh-viên tuyệt-vời nhất từ trước tới nay. Anh ấy học năm thứ ba. Anh ấy chơi bong đá, đang học để chuẩn-bị ra trường làm bác-sĩ, đạt hạng xuất-sắc, dáng người cao ráo, đẹp trai. Con đã hẹn đi chơi với anh ấy 8 bận  rồi và đã mặc 8 chiếc áo đầm mà con có. Giờ, thì con cần thêm một chiếc áo nữa, để cho buổi hẹn sắp tới, bởi vì anh ấy đã mời con đi xem hát với anh ấy. Mẹ có vui lòng gửi cho con 25 đôla, để con mua một chiếc áo mới được không, hả mẹ?

Bà mẹ trả lời:

-Đâu cần phải mua áo mới làm chi cho rắc rối thế con. Hãy tìm một bạn trai mới và làm lại từ đầu, thế thôi!” (truyện kể trên mạng, không ghi tên tác-giả)

Truyện kể ở trên mạng, có thể cũng là chuyện đời người rất kinh-nghiệm. Kinh-nghiệm của người mẹ ở trên chưa chắc đã là “giáo-huấn” ở đời, như một khẳng-định từ trên xuống. Cũng có thể, chỉ là chuyện thời xưa thích-hợp cho thế-hệ già nua, tuổi tác, rất khô-cứng. Chí ít, là chuyện luật và lệ ở nhà Đạo, dành cho người đi Đạo, sống đời thực-tế rất lâụt-lệ, mà thôi.

Nói thì nói thế, chứ cũng tùy bạn tùy tôi, ta đứng từ góc độ nào mà nhìn đời, rồi xử-thế.

Nói thì nói thế, nay xin bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang bước vào giòng đời dù đổi-thay hay vẫn thế, cũng cứ mặc. Cứ hát lên, câu ca/điệu nhạc dù buồn phiền hay phấn khởi, vẫn cứ hát cho đời lên hương. Để rồi, ta sẽ cùng sống với mọi người, suốt những ngày còn lại trong cõi đời đầy đổi thay, như thế này:

“Trả lại anh câu yêu em, tình yêu bất diệt.

Trả lại anh với câu xây nhà bên suối.

Trả lại anh hoa khô cài bên bướm xanh.

Đây trang nhật ký đôi ta.

Đang ghi sao đành dở dang.

Khi em yêu anh còn cô gái thơ ngây.

Nay em xin anh trả em lúc ban đầu.

Yêu anh em đâu ngờ duyên kiếp ba sinh.

Van anh quên đi như khi ta chưa hề quen.”

(Đức Quỳnh – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã trải-nghiệm những ngày buồn

Có câu ca, bài hát rất không vui

Như mọi ngày.

Tam giác nghi vấn

Tam giác nghi vấn

TRẦM THIÊN THU

Con người luôn thắc mắc về chính mình, về nguồn gốc và về đích đến – tức là thắc mắc về quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là một tam-giác-nghi-vấn khiến con người lao tâm khổ tứ và tốn công hao của. Các chuyên ngành – từ khoa học tới y học, từ vật lý học tới thiên văn học, từ nhân chủng học tới khảo cổ học,… – vẫn không ngừng nỗ lực tìm kiếm từ xưa tới nay, thế nhưng con người vẫn không thể tìm ra đáp án nào thỏa mãn nhất. Không thấy đạo nào nhắc đến nguồn gốc của con người, chỉ nói đến giáo lý của đạo hoặc học thuyết, nhưng Kitô giáo mạch lạc “hai năm rõ mười”.

Con người là ai?

Ngày xưa, trong chương trình giáo dục tiểu học có ngụ ngôn “Con trâu, Con cọp và Con người” thế này:

Ngày xửa ngày xưa, khi dắt trâu ra ruộng, người ta thường lấy dây buộc vào sừng trâu mà kéo đi. Một hôm, có con chim đậu ở bụi cây, thấy người nông dân dẫn trâu đi như vậy, bèn hỏi: “Sao ông không thọc lỗ ở mũi trâu mà dắt đi?”. Người kia bèn buộc con trâu vào gốc cây, đâm thủng mũi trâu, xỏ dây và dắt đi. Sau đó có nhiều người bắt chước theo. Một hôm, sau buổi cày, khi người chủ nghỉ ngơi, còn trâu đang gặm cỏ, thì có một con cọp đến hỏi trâu: “Này trâu, sao mày to xác như vậy mà lại để cho một thằng người bé nhỏ xỏ mũi kéo, đánh đập, mà mày cứ chịu lép vế sao?”. Trâu trả lời cọp: “Tuy bé nhỏ nhưng con người có trí khôn to lớn”.

Vừa lúc ấy, người đi cày trở lại, cọp bèn hỏi: “Nghe trâu nói là người tuy bé nhỏ nhưng có trí khôn. Vậy trí khôn đâu, cho tôi xem với”. Người đi cày đáp: “Trí khôn tôi để ở nhà”. Cọp bảo: “Hãy về nhà lấy trí khôn cho tôi xem”. Người nông dân trả lời: “Được chứ! Nhưng e rằng trong lúc tôi vắng mặt thì ông cọp ăn mất trâu của tôi. Vậy, cọp có bằng lòng cho tôi trói lại đã, rồi tôi về nhà lấy trí khôn cho mà xem được không?”. Cọp bằng lòng ngay.

Người đi cày lấy dây thừng cột cọp thật kỹ vào gốc cây, rồi ông lấy một chiếc gậy to vừa đánh vào đầu cọp vừa nói to: “Trí khôn của tao đây này”. Trâu thấy vậy, cười ngả nghiêng, híp mắt vào nên đập hàm vào đất, gãy cả hàm răng trên. Do đó, loài trâu sau này không còn hàm răng trên nữa. Còn loài cọp thì bị rằn rện, lông có những vết sọc đen trên mình là dấu tích bị loài người đánh.

Giết một con vật thì không có tội, nhưng giết một con người thì tội tày trời. Giết một con vật mà có tội chỉ vì con vật đó thuộc loại quý hiếm, nhưng tội giết động vật quý hiếm cũng chỉ là khinh tội, không như tội giết con người. Thậm chí chỉ đối xử tệ với con người cũng là trọng tội, vì con người là động vật cao cấp nhất, mỗi người đều có trọn vẹn một nhân vị, một nhân phẩm và đầy đủ nhân quyền.

Dù chỉ là động vật, sống theo bản năng, không biết lý luận, nhưng con chó bị dồn vào góc tường thì nó cũng chống trả bằng cách cắn lại ngay cả chủ của nó. Những người làm xiếc có khi cũng “sinh nghề tử nghiệp” vì chính con vật mà mình đã thuần hóa. Nói chung, loài vật không biết phân biệt điều thiện hay điều ác. Ngược lại, con người biết phân biệt và biết suy nghĩ, có người phản ứng mạnh nhưng có người lại nhịn nhục – như tục ngữ nói: “Một sự nhịn chín sự lành”. Thế mới là con người.

Con người đến từ đâu?

Người ta cho rằng con người tiến hóa từ loài khỉ. Nói như vậy nghĩa là con người xuất xứ từ loài khỉ, và như vậy khỉ là tổ tiên của con người. Nói vậy thì bạn sẽ tự ái và nói: “Khỉ làm sao có thể là tổ tiên của tôi?”. Đúng vậy, nhưng khi bạn công nhận con người tiến hóa từ loài khỉ – dù gián tiếp hay trực tiếp, nghĩa là bạn đã chấp nhận “khỉ là tổ tiên của mình”.

Có 3 loài chính: Thực vật, Động vật và Con người. Thực vật có sinh hồn, tức là chỉ sống mà không có cảm giác; động vật có giác hồn, tức là sống và có cảm giác, chỉ sống theo bản năng sinh tồn; con người có linh hồn, tức là không chỉ sống và có cảm giác mà còn có trí khôn, biết sáng tạo, biết phân biệt thiện và ác.

Loài này không thể là loài kia – dù là động vật: Con vật không thể là con người, và tất nhiên con người không thể là con vật. Con nòng nọc biến hóa thành con nhái, con ếch, dù hai con khác nhau nhưng vẫn là “loài tương cận”. Cũng vậy, con ngài biến thành bướm, nhưng chúng vẫn chỉ là loài động vật có giác hồn. Con chó có hình dáng giống con bò, con trâu, nhưng mãi mãi là loài chó; con cọp có dáng giống con beo nhưng không bao giờ là con beo. Con tinh tinh nhìn giống con vượn nhưng khỉ không thể là vượn. Sáo có thể bắt chước âm gần giống tiếng người, cà cưỡng cũng có khả năng đó, nhưng sáo là sáo và cà cưỡng là cà cưỡng. Những loài gần giống nhau nhưng không cùng “họ hàng thân thuộc” mà chỉ là “những con tương cận”.

Kitô giáo tin rằng Thiên Chúa dựng nên con người, có nam có nữ, theo hình ảnh của Ngài (St 1,26-27), Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người (đàn ông), rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật (St 2,7). Rồi Ngài thấy con người ở một mình không tốt (St 2,18) nên Ngài lấy xương sườn của người đàn ông để tạo nên phụ nữ (St 2,21-22).

Chắc chắn rằng loài khỉ không thểkhông bao giờ là tổ tiên của loài người. Và chắc chắn bất kỳ ai cũng không hề muốn chấp nhận loài khỉ là tổ tiên của mình! Con người phải xuất xứ từ một Đấng Tạo Hóa quyền năng và vô thủy vô chung, đó là Ông Trời, đó là Thiên Chúa.

Con người đi về đâu?

Khởi đầu cuộc đời bằng tiếng khóc, kết thúc cuộc đời bằng giọt nước mắt. Sinh ra trắng tay, chết cũng trắng tay. Được tạo nên từ bụi đất thì sẽ trở về với bụi đất, nơi mình xuất phát. Đó là điều chắc chắn!

Nhưng đó là theo nhãn quan trần thế. Chó chết thì hết chuyện. Con người chết không hết chuyện. Cọp chết còn để da huống chi con người. Chó chết không ai xây mộ, lập bàn thờ hoặc thắp nhang trước di ảnh… chó. Nhưng con người chết, dù là ai, cũng được tổ chức đám tang trang trọng, được lập mộ, được lập bàn thờ và được thắp nhang trước di ảnh, thậm chí còn được cầu khấn xin phù hộ. Ngay cả những người không có niềm tin tôn giáo cũng lâm râm khấn vái với người quá cố. Lạ thật!

Từ 1 tới 8-11, khi lãnh ân xá để cầu cho các linh hồn nơi luyện hình, chúng ta đọc Kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau”. Đó là đích đến của mỗi người, nghĩa là hưởng Tôn Nhan Thiên Chúa đời đời trên Thiên quốc. Nếu không được làm công dân Nước Trời là chúng ta phụ tình Chúa, là uổng phí Ơn Cứu Độ, vì chính Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân kia mà. Lòng Chúa Thương Xót ngoài sức tưởng tượng của con người. Mừng lễ chư thánh là mừng Giáo Hội Khải hoàn, cầu cho các linh hồn là chia sẻ yêu thương và là nhiệm vụ của chúng ta đối với Giáo Hội Đau khổ, đồng thời chúng ta cũng cầu cho chính mình là những thành phần của Giáo Hội Chiến đấu. Đó là Giáo Hội hiệp thông với 4 đặc tính: uy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền.

Với con người bình thường thì “đau đầu” vì tam-giác-nghi-vấn kia, nhưng với người có niềm tin vào Thiên Chúa thì đó là một hành trình thú vị và đầy ý nghĩa vậy. Bởi vì Thiên Chúa đã khuyến khích: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,17-18).

TRẦM THIÊN THU

Ung thư, kẻ nội thù.

Ung thư, kẻ nội thù.

Giao Chỉ, San Jose

Vào buổi trưa thứ năm giữa tháng 10/2015 cô luật sư Jenny Đỗ đứng trước bức tường hình ảnh tù cải tạo tại Việt Museum để TV Dân Sinh phỏng vấn. Dung mạo rất trang nhã và bình tĩnh, người bệnh ung thư ở giai đoạn hiểm nghèo nhất, 49 tuổi vẫn vui vẻ trả lời các câu hỏi.

Cô kể lại thời thơ ấu Sài Gòn gia đình ở bên chùa. Nhà trong hẻm, muốn ra đường phố phải đi qua chùa. Tuổi thơ sống trong nhang khói pha mùi hương khuynh diệp. Chín năm cô gái lai sống với Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp theo là 9 năm với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa. Cô sống trọn vẹn suốt thời kỳ bao cấp rồi ra đi trước khi đổi mới. Cô nói về sinh hoạt cộng đồng tại Hoa Kỳ. Về cuộc đời con lai làm cho sở xã hội, làm cho sở cảnh sát, đi học, ra luật sư và mở văn phòng. Tay phải làm luật sư, tay trái làm việc xã hội. Nhưng không phải công việc xã hội tại Mỹ. Cô lo việc xã hội lầm than của trẻ em, thiếu nữ tại Việt Nam. Tổ chức bạn của Huế ra đời. Mở trung tâm sinh hoạt cộng đồng tại Huế để nuôi những đứa con Việt Nam bất hạnh. Cô miệt mài làm việc cho đến 1 ngày phát giác bệnh ung thư vú. Đây là câu chuyện bẩy tám năm trước, lúc đó cô luật sư trẻ mới ngoài 40 tuổi. Cha là chiến binh Hoa Kỳ không hề biết mặt, chẳng làm sao mà truy tìm xem bên nội đã bị di truyền ra sao. Phần bên ngoại chẳng ai nói có bệnh ung thư. Sau này mới biết là cũng bị nhưng không nói ra.Thôi thì cứ lo điều trị .Tạm thời cắt bỏ nơi cục u đã hình thành. May mắn thay việc điều trị coi như có kết quả. Bệnh nhân tạm thời coi như khỏi bệnh “Cancer free”. Thiên hạ nói như thế. Trở lại lo công việc. vẫn còn hồ sơ tòa án của thân chủ. Tổ chức đại hội áo dài phát huy văn hóa Việt Nam và quan trọng hơn hết là lo gây quỹ nuôi đàn con ở trung tâm sinh hoạt Huế. Cô gái lai Mỹ sinh ra tại Vũng Tầu, không hề thấy mặt cha. Trưởng thành tại Sài Gòn. Trải qua thời kỳ kinh tế mới ở Túc Trưng. Định cư tại San Jose nhưng lại để trái tim ở đất thần kinh. Tổ chức Friends of Hue ra đời. Mỗi ngày, từ miền Bắc Cali, Jenny vẫn lo cho 40 đứa con bất hạnh tại miền Trung Việt Nam.

Vào buổi chiều cuối tuần, đang họp bạn với thân hữu chợt bác sĩ gọi cell khẩn cấp. Bỏ hết mọi chuyện, vào nhà thương ngay, nếu không xe 911 sẽ đến rước đi. Bà bác sĩ đưa tin sét đánh. Mấy tháng trước chưa có triệu chứng mà chỉ mấy tuần, bệnh ung thư ngực tái phát cấp kỳ. Ngày cuối đã gần kề. Jenny hỏi còn bao lâu. Bác sĩ nói chừng 3 tháng. Trời, 3 tháng làm sao thu xếp kịp. Trả lời phỏng vấn cô thành thực nói rằng lúc đó không lo chạy chữa, không lo chuyện tử sinh mà chỉ lo không có đủ thời giờ để thu xếp. Sau khi lấy thêm phần tế bào nhiễm độc để thử lần cuối. Kết quả vẫn không thay đổi. Giải phát cuối là hóa trị. Nếu buông suôi thì bao lâu. 3 tháng. Nếu làm Chemo (Hoá trị) thì bao lâu mới thấy kết quả. 12 tuần. Nếu không kết quả thì gần hết 3 tháng rồi. Phải không…Đúng như vậy…

Đó là câu chuyện về cuộc chiến sau cùng của Jenny Đỗ.

Anh Phạm phú Nam là người hỏi chuyện cũng bắt đầu qua các câu hỏi sau cùng. Chị có nhắn nhủ gì không? Nhắn rằng dự trù ra tranh cử nghị viên khu 8 San Jose nhưng sức khỏe không cho phép và đành tuyên bố bỏ cuộc. Nhắn rằng cộng đồng chúng ta nên hòa thuận và ước mong sau cùng của Jenny Đỗ là muốn có 1 trung tâm sinh hoạt cộng đồng cho người Việt Nam tại San Jose.Chờ đợi 40 năm dường như đã quá lâu rồi. Nhắn rằng anh chị em con lai như Jenny nên hãnh diện là người Việt Nam, nên tìm về cội nguồn ngay trên đất Mỹ. Nhắn các bạn đồng bệnh là nên lưu ý với kẻ nội thù là bệnh ung thư. Không thể dấu diếm, không thể thương lượng, không thể chậm trễ. Hiện nay cắt bỏ hết vẫn là giải pháp tốt đẹp nhất để ngăn chận tái phát. Đây là căn bệnh có khả năng di truyền nên trong gia đình cần công khai tin tức để con cháu biết đường chạy chữa.

Câu hỏi cuối cùng để Jenny Đỗ nhắn nhủ về các con của cô ở trung tâm Friends of Huế tại quê nhà. Suốt buổi nói chuyện cô rất bình tĩnh và linh hoạt trả lời với 1 thái độ can đảm hiếm có. Nhưng khi nói với các trại viên 40 em của trung tâm Huế cô đã nghẹn ngào. Xuân này cô sẽ không về thăm các em, có thể chẳng bao giờ cô về nữa. Các con nhớ lời cô chỉ dạy khi cô cháu ngồi với nhau. Hãy cố gắng để trở thành người gương mẫu không phải chỉ cho riêng mình mà phải thành đạt để giúp cho các em khác. Các con biết đấy. Các con đã trải qua biết bao nhiêu đau khổ, hảy giúp các em khác có cơ hội như các em hiện nay.

Hãy cố gắng cho xứng đáng với lòng mong ước của cô . Mãi mãi cô thương yêu các em. Đoạn phim này và nhiều hình ảnh khác sẽ được gửi về cho các em. Jenny nói rằng trong nỗi đau thương sinh tử, còn một chút may mắn là sự chuẩn bị ra đi. Trên youtube Cali Today cô cũng nói chuyện từ tốn nhẹ nhàng nhưng phần cuối mắt rưng rưng lệ. Tưởng con có ngày lo phần chung sự cho mẹ. Ai ngờ lá xanh lại rụng trước lá vàng.

Anh Phạm phú Nam cho biết đã có dịp phỏng vấn trên 300 người nhưng không có những lời nói cuối cùng nào được ghi nhận như trường hợp Jenny Đỗ.

Thế giới ung thư.

Với chuyện của bệnh nhân Jenny Đỗ, chúng ta nên nhìn qua 1 lần thế giới ung thư.

Ung thư là kẻ nội thù của nhân loại hiện nay. Thân thể của con người chỗ nào cũng do các tế bào làm thành. Ung thư là bệnh khi tế bào bị hủy diệt. Các nhà khoa học ghi nhận có đến 60 căn bệnh ung thư. Trên con người, góc cạnh trong ngoài chỗ nào cũng có thể có bệnh ung thư. Từ nước tóc cho đến làn da. Não bộ, tim, phổi, bộ phận tiêu hóa, bộ phận tuần hoàn, bộ phận thần kinh, tứ chi ngũ giác đâu đâu cũng có thể thành bệnh. Chỉ trừ có tế bào mắt là không bị ung thư. Tại Hoa Kỳ đã có hàng triệu bệnh nhân ung thư qua đời và hàng triệu người khác đã bị ung thư nhưng qua khỏi.

Mỗi năm nước Mỹ có thêm 1 triệu 600 ngàn bệnh nhân mới và năm nay vào khoảng trên 500 ngàn người sẽ chết.

Tại đất nước tiền phong của nhân loại, đầy đủ phương tiện y khoa tối tân, mỗi 1 phút trôi qua là có 1 người chết vì bệnh ung thư.

Những người bệnh ung thư mà qua khỏi đã ngồi lại với nhau, chỉ dẫn cho các con bệnh mới phương thức chiến đấu. Chính họ cũng còn phải chống lại bệnh tái phát. Họ chia 60 loại bệnh ra làm nhiều tháng. Mỗi tháng dành cho 1 số danh hiệu bệnh tình khác nhau. Tháng giêng là tháng mở màn, tháng 2 chuẩn bị phản công, tháng 3 là bộ phận tiêu hóa và thận. Tháng tư đối tượng rất nhiều loại ung thư từ đầu cổ cho tới hạ thân. Tháng 5 dành cho da thịt và đầu óc, tháng 6 là tháng của những người chiến thắng. Riêng ngày 7 tháng 6 là Survivors Day. Cứ như thế mà tiếp tục. Nhưng đặc biệt tháng 10 này là chỉ dành riêng cho cuộc chiến chống ung thư vú. Đây là tháng của đoàn nữ binh mùa thu tử chiến với kẻ nội thù. Giặc từ trong đánh ra. Tháng 10 này Jenny Đỗ đánh trận cuối cùng. Cũng đã chuẩn bị chung sự xong rồi. Jenny chấp nhận phần số của kiếp người. Cảm ơn tâm tình đường khuynh diệp đã được mọi người đón nhận. Cô nói, một chút e ngại cô đơn khi nằm trong hầm lạnh trước khi hỏa thiêu. Buồn cho ước mơ nghị viên khu 8 xây dựng trung tâm cộng đồng San Jose không thành.Tình thương gửi về cho đám con ở Huế. Xuân này cô không về.

Nữ binh mùa Thu

Mấy tuần qua, chúng ta thấy hiệp hội chống ung thư tổ chức các cuộc đi bộ, hội thảo hết sức quy mô. Tháng 10 là tháng của quý bà. Đa số phụ nữ đeo nơ chống ung thư trên ngực áo. Tổng cộng có 54 mẫu nơ khác nhau. Quý ông bị ung thư tiền liệt tuyến ( prostate) đeo nơ màu blue nhạt. Ung thư gan là màu xanh lá cây (green). Trẻ em bị ung thư có màu vàng kim (gold), nếu là ung thư vú sẽ có màu pink.

It người đeo màu hoa lan orchid dù là có bệnh lạ, đây là ung thư testicular. Nhưng vẻ vang nhất khi đeo màu vàng (yellow) vì đây là người đã chiến thắng ung thư ( survivorship )

Cắt đi cho rồi.

Qua kinh nghiệm của luật sư Jenny Đỗ ta có thể xem lại hồ sơ của các phụ nữ danh tiếng mắc bệnh ung thư vú. Các bà tổng thống, các tài tử điện ảnh và cả các người mẫu bị ung thư nay đã thành phong trào cắt phăng cả 2 vú. Khoa giải phẫu thẩm mỹ đã giải quyết mọi chuyện hết sức êm đẹp.

Lý do chính là việc giải phẫu và tái tạo bộ ngực hiện nay không còn nhiều khuyết điểm như ngày xưa.

Những câu chuyện gương mẫu trên báo cho biết nhiều nữ tài tử sau khi thấy trong gia đình có người bị ung thư đã cắt phăng cả 2 vú mặc dù hoàn toàn chưa bị ung thư.

Bởi vì ung thư ngực di truyền có nhiều khả năng trước sau cũng bị nên cắt lúc còn sức khỏe để đi giải phẩu thẩm mỹ trên làn da còn tốt trước khi qua muộn.

Quan niệm này thật khác với số phụ nữ Việt Nam thường e ngại che dấu bệnh tình. Có người chấp nhận chết mà không chịu giải phẫu. Những minh tinh màn bạc danh tiếng Hoa Kỳ đã mở đường cho tinh thần quyết tử với kẻ ung thư nội thù. Nhưng xem ra tất cả đều đã muộn đối với cô luật sư trẻ ở San Jose. Chỉ còn chờ phép lạ. Tin đưa ra từ San Jose, độc giả bốn phương tám hướng đều quan tâm và bầy tỏ thương cảm. Có thi sĩ làm thơ khích lệ. Văn sĩ viết bài ca ngợi. Nữ bác sĩ đang dậy tại đại học TX muốn bay về CA thăm hỏi. Từ Việt Nam, có người muốn mời cô về chữa bệnh ngay tại quê hương. Rất nhiều người khác chỉ ra cả trăm phương thuốc. Nhưng điều quan trơng nhất là câu chuyện này sẽ đem lại 1 bài học cho mọi người. Hãy chuẩn bị đương đầu với kẻ nội thù. Riêng Jenny luôn luôn trông đợi phép lạ. Ông cha ta thường nói tuổi 49 và 53 là tuổi chết người. 49 chưa qua, 53 đã tới. Tôi nói với cô Jenny, cầu phép lạ cho cháu qua khỏi năm 49 sẽ sống đến 53. Đến 53 sẽ tính. Jenny nói cháu chỉ cần 3 năm là quá hạnh phúc. Nếu chỉ cho 3 tháng thì ông Trời ép cháu quá…Từ khi biết tin đến nay đã qua nửa tháng rồi. Tôi nói, với cái bệnh này, bác sĩ luôn luôn sai lầm, bác cầu cho bác sĩ sai lầm. Hãy để cho ý chí kéo thân xác, hãy sống bằng cái đầu. Tập trung các bài viết, in cấp tốc rồi Ra mắt sách có văn nghệ giúp vui. Ai cũng có những năm tháng cuối cùng, Jenny sẽ sống trọn vẹn. Ai sẽ làm thơ, ai sẽ viết văn, ai làm nhạc giúp Jenny chống kẻ nội thù, xin gửi về góp mặt trong Đường Khuynh Diệp. Tác phẩm cuối cùng ra mắt lần đầu tiên. Bìa do Jenny vẽ. Kiếm một đồng cho San Jose và một đồng cho Huế…


Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316- 8393

Giao Chỉ, SanJose City, VietMuseum, Book 1, 2 đã phổ biến, sẽ in 3, 4, 5 đến 12.

Một cuốn $10 Mua sách ghi IRCC 3017 Oakbridge Dr. San Jose CA 95121

Lịch sử ngàn người viết, tác giả ghi chép lại, giữ sách là giữ lửa cho mai sau.

Con chó đợi đèn

Con chó đợi đèn
Nguoi-viet.com      

Tạp ghi Huy Phương

Hình ảnh trên YouTube ghi lại chuyện một con chó nhất quyết đợi đèn xanh mới sang đường trong khi có hai cô gái vượt đèn đỏ khiến nhiều người xem không khỏi ngạc nhiên, vì đây là một câu chuyện lạ đối với nhiều người.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Hẳn con chó này chưa hề ngồi qua một lớp dạy luật lệ giao thông dành cho chó, hay được ai dạy dỗ, căn dặn về chuyện tôn trọng luật lệ đi đường. Nhưng có một điều tôi biết chắc là người chủ của con chó là một người “công dân có giáo dục” và là một người tử tế. Từ khi con chó được lớn lên trong gia đình này, đi theo người chủ, chưa bao giờ nó thấy người chủ vi phạm luật giao thông, ông chưa bao giờ vượt đèn đỏ để qua đường, và con chó đã học được thói quen ấy trong nhiều năm.

Bây giờ không có người chủ đi bên cạnh, không có cảnh sát hướng dẫn, không có cây chắn đường, con chó vẫn ngồi chờ cho đến khi có đèn xanh, để qua đường. Cử chỉ này xem qua có vẻ đơn giản nhưng quá khó khăn, vì hiện nay hàng triệu người Việt Nam văn minh, tử tế vẫn chưa làm được như con chó này.

Chuyện con chó chờ đèn xanh để qua đường gây được sự chú ý của dư luận, lẽ cố nhiên, phần lớn là ở trong nước, vì ở ngoại quốc, người ta xếp hàng trước tiệm ăn, hay một con chó chỉ chịu qua đường khi đèn xanh bật lên thì đâu có gì lạ. Không thấy ai khen ngợi con chó, không ai chấp nhận nó còn hơn cả con người, sinh vật mà lâu nay đi bằng hai chân, một tác phẩm tuyệt hảo của Thượng Đế hay sao?

Thật là ngu như chó! Nó không thông minh, không linh hoạt, không thích ứng như con người. Vì vậy người ta xem nó hành động cứng nhắc vì nó không biết cách “uyển chuyển theo tình huống” bằng con người, nghĩa là khi không có xe thì cứ qua, khi không có cảnh sát thì cứ vượt đèn đỏ.

Bình luận cho việc một con chó đợi đèn, một người trong nước cho biết ý kiến: “Tôi không cổ xúy cho việc phải phá vỡ luật nhưng mình cứ chọn đúng thời điểm, chớp thời cơ thì không có gì là sai cả!” Theo ý kiến người này, không cần thiết phải đợi đèn, cứ vượt đèn đỏ đúng lúc, “miễn là đúng thời điểm” và chớp thời cơ, phải chăng là khả năng của con người XHCN trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cách đây 70 năm, Hồ Chí Minh đã “chọn đúng thời điểm, chớp thời cơ” nhảy ra cướp chính quyền, việc lớn cũng không sao, huống gì ngày nay với dăm ba việc lẻ tẻ, sống sao có lợi cho bản thân mình là được.

Bí quyết thành công của con người hôm nay là phải quên cái câu “mình sống vì mọi người,” ngày nay muốn thành công “phải đạp lên đầu người khác mà đi!”

Ở Việt Nam hiện nay, họa là ngu mới đứng lại ở đầu đường khi đèn trở màu đỏ. Tai nạn vượt đèn đỏ không nguy hiểm tàn khốc bằng tai nạn khi chúng ta tuân hành đèn giao thông và dừng lại khi thấy đèn đỏ, vì chúng ta sẽ bị những loạt xe đằng sau tiến lên cán nát.

Một người khác thì cho rằng: “Đèn giao thông chẳng qua là một quy định chung cho số đông, nhưng cái mà nó tiến đến cũng là phục vụ sự thuận tiện cho con người!”

“Phục vụ sự thuận tiện cho con người!” có nghĩa là sống theo luật rừng, thuận tiện nhưng không cần đến quy luật. Phục vụ cho sự thuận tiện của con người, phải chăng là thấy đói thì ăn, không biết thức ăn đó là của ai, khát thì uống dù thức uống đó không phải của mình, phóng uế bất cứ nơi đâu khi cần, và buông thả thú tính khi không có ai kèm thúc, ràng buộc.

Không thấy hổ thẹn khi con người phá bỏ ngay quy ước và luật lệ do con người đặt ra để bảo vệ an toàn chính cho con người. Bài báo này hẳn không có mục đích để ca tụng một con chó, con vật mà trong xã hội Việt Nam, lâu nay vốn đã xem nó là thấp hèn, hạ tiện biết chừng nào. Từ việc xem chó như một con vật bình đẳng của một số rất nhỏ hiện nay, tiến tới chuyện con người Việt Nam biết thương yêu và tôn trọng những con vật như chó, người Việt Nam phải trải qua, ít nhất là vài trăm năm nữa!

Có nhiều điều rất mâu thuẫn trong cung cách đối xử giữa con người với nhau, và sự khinh miệt của con người đối với một con chó. Tuy khinh miệt loài chó, loài người Việt Nam có thể hung hãn giết một con người bằng đủ loại hành động tàn khốc, man rợ thời trung cổ, để bênh vực một con chó, dù chỉ là một con chó qua đường, không thuộc quyền sở hữu của họ.

Có một đất nước nào tôn trọng, bênh vực sự sống tốt đẹp của loài chó như trong “thiên đường” Việt Nam không, để cho bất cứ con chó nào trên trái đất này đều có một mơ ước trở thành một con chó Việt Nam? Nghĩa là vì sự sống của một con chó, người ta có thể giết một con người. Nhưng sự thật là không phải vậy. Phải ở trong xã hội Việt Nam mới thấy cái “chó” của những vở kịch đẫm máu này!

Bài viết nhỏ nhoi này không hề có ý bệnh vực loài chó vì trong câu chuyện này vẫn có người khẳng định: “Con người hơn chó là vậy đấy. Người hơn chó vì biết chớp thời cơ!”

Câu chuyện còn đưa đến một kết luận: “Đơn giản là chú chó sợ chết hơn con người.” Sợ chết, muốn sống là bản năng của sinh vật, bất kể con người hay con chó. Nhưng vì sao con chó trong câu chuyện này sợ chết, mà con người lại không?

Những bản tin trên báo chí Việt Nam đọc đến nhàm chán: – “Ba xe chờ đèn đỏ bị xe tải chạy tới hất văng,” – “Đang đứng lại đầu đường vì đèn đỏ, thiếu nữ bị tông xe, ngã nhào,” – “Xe container đâm hàng loạt xe đang chờ đèn đỏ,” – “Vợ chồng dừng lại đèn đỏ, vợ bị xe sau tông chết…” Như vậy, chúng ta đi xe dừng lại khi thấy đèn đỏ bật lên là đúng luật hay sai luật? Nhưng quan trọng là con người lại muốn sống hơn là được công nhận thi hành đúng luật giao thông hay không?

Chúng ta hãy nghe một tài xế vượt đèn đỏ gây tai nạn giải thích lý do: “Đèn bật đỏ! Tôi tưởng cái xe chạy trước tôi đi luôn, nhưng không hiểu sao, nó dừng lại!” Các bạn đã thấy một đám xe gắn máy khi gặp đèn đỏ chưa? Họ hung hãn, tống chân ga, chen lấn, ào lên, lấn lách, tràn lên hè phố, nơi người ta buôn bán, đi bộ.

Đứa nào đứng lại, không thuộc loại dại cũng là ngu, không thuộc loại lừ đừ cũng là thứ gà chết. Cuối cùng, đứng lại khi thấy đèn đỏ cũng chết, vượt đèn đỏ sai luật lại càng dễ chết hơn.

Ở Mỹ này, có khi bạn đi về rất khuya, đến chỗ đèn đỏ, dù lúc bấy giờ đường sá vắng tanh, không có một ai qua lại, bạn vẫn tự động dừng xe lại chờ. Không phải vì bạn sợ chết như chuyện con chó đợi đèn, hay bạn sợ một ông cảnh sát nào đó bỗng nhiên lù lù hiện ra, mà đó chỉ là một thói quen, một phản ứng tự nhiên. Để có một phản ứng như vậy, bạn phải có chừng năm, bảy năm sống trong một cộng đồng loài người văn minh, ở một xứ sở văn minh.

Sài Gòn có thể cần $5 triệu để chống ngập lụt, $5 triệu nữa để chống nạn kẹt xe, nhưng thật tình tôi không biết phải cần bao nhiêu tiền nữa để sửa cái “công tắc” trong đầu mỗi người dân, cái “công tắc” đó để chỉ huy người lái xe, tự động đứng lại khi gặp đèn đỏ và chỉ chạy xe khi có đèn xanh?

Hai câu chuyện về cách ứng xử tình người

Hai câu chuyện về cách ứng xử tình người

Câu chuyện 1:

Lúc còn là một thiếu niên, một lần, tôi được cha dẫn đi xem xiếc. Khi nhập vào hàng người đang xếp dài trước quầy vé, tôi chú ý đến một gia đình đứng ngay trước chúng tôi. Họ có đến những 8 đứa trẻ mà đứa lớn nhất có lẽ chưa đến 12 tuổi. Nhìn dáng vẻ những đứa bé ấy có thể đoán được gia đình chúng không giàu có.

Quần áo chúng không phải loại đắt tiền nhưng sạch sẽ và tươm tất. Và đó là những đứa trẻ biết cách cư xử. Cứ nhìn cái cách từng 2 đứa một nắm tay nhau xếp hàng sau bố mẹ chúng thì rõ. Chúng nói huyên thuyên một cách đầy phấn khích về những chú hề, những con voi và những trò xiếc khác mà chúng sẽ được xem tối nay. Rõ ràng chúng chưa từng đến rạp xiếc bao giờ. Buổi tối ngày hôm nay thật sự rất đặc biệt với cả 8 đứa trẻ ấy.

Cha mẹ chúng đang đứng ở đầu hàng với vẻ mặt hãnh diện nhất mà họ có thể. Người phụ nữ nắm lấy tay chồng, nhìn ông một cách dịu dàng. Ngay lúc ấy, người bán vé ngẩng lên và hỏi người đàn ông số vé ông ta cần. Người đàn ông trả lời đầy hứng khởi: “Cho tôi 8 vé trẻ con, 2 vé người lớn để tôi có thể dẫn cả nhà mình vào xem xiếc.”

Nhưng, khi người bán vé báo giá của 10 chiếc vé, bàn tay người vợ đột ngột rời khỏi tay chồng, đầu bà ta gục xuống. Mặt người đàn ông hơi tái đi. Ông ta tiến lại quầy vé gần hơn và hỏi : “Anh nói giá bao nhiêu?”

Người bán vé bình thản lập lại giá của 10 chiếc vé, nhưng người đàn ông không có đủ tiền. Làm sao ông ta có thể quay lại và bảo với 8 đứa con của mình rằng ông ấy không đủ tiền để dẫn chúng vào xem xiếc?

Chứng kiến tất cả những gì xảy ra, cha tôi lặng lẽ lấy từ trong túi ra tờ 20 đô và thả xuống đất. Sau đó, ông cuối xuống nhặt lên và vỗ vai người đàn ông, nói rất tự nhiên: “Xin lỗi, thưa ông, cái này vừa rơi ra từ túi ông”.
Người đàn ông hiểu những gì đang diễn ra. Ông không cầu xin của bố thí nhưng rõ ràng ông có thể đoán đây là sự giúp đỡ trong một tình huống ngặt nghèo. Bối rối trong giây lát rồi ông ấy nhìn thẳng vào mắt cha tôi, chụp lấy tay cha bằng cả hai bàn tay như muốn vắt kiệt tờ 20 đô, một giọt nước mắt rơi lặng lẽ xuống má, đôi môi mấp máy một cách khó khăn: “Cảm ơn, cảm ơn ông rất nhiều. Điều này thật sự ý nghĩa với gia đình tôi lúc này”. Sau khi nhìn cả gia đình người đàn ông khuất sau cánh cổng rạp xiếc, tôi và cha đón xe buýt về nhà, đơn giản bởi vì số tiền còn lại trong túi cha không đủ để mua vé cho hai cha con. Thật sự thì chúng tôi cũng chẳng dư dả gì! Nhưng tôi không hề giận cha. Những gì cha đã làm lúc đó đáng giá hơn cả ngàn buổi xem xiếc.

Câu chuyện 2: 

Theo một truyện cổ, Nasruddin là hiện thân của những người độc thân khó tính. Trong một buổi trà dư tửu hậu, khi được hỏi lý do vì sao ông không lập gia đình, Nasruddin giải thích như sau:

“Suốt thời thanh niên, tôi đã dành trọn thời gian để tìm kiếm người đàn bà hoàn hảo. Tại Cairo, thủ đô của Ai Cập, tôi đã gặp người đàn bà vừa đẹp, vừa thông minh, với đôi mắt đen ngời như hạt ô-liu, nhưng người đàn bà này lại không dịu dàng chút nào. Tôi đành bỏ Cairo để đi Baghdad, thủ đô Iraq, tôi tìm thấy người phụ nữ vừa đẹp, vừa thông minh, vừa dịu dàng, độ lượng song nàng và tôi không bao giờ đồng quan điểm về bất cứ chuyện gì.

Hết người này đến người khác, người được điều này lại thiếu điều kia. Tôi đã từng tưởng mình sẽ không bao giờ tìm được người phụ nữ lý tưởng cho cuộc đời mình. Thế rồi, một hôm, tôi gặp được nàng, người phụ nữ cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của tôi. Nàng kết hợp tất cả những đức tính mà tôi hằng mong muốn. Nàng đúng là người hoàn hảo, nhưng cuối cùng tôi đành phải sống độc thân suốt đời vì người phụ nữ ấy cũng đang đi tìm một người đàn ông lý tưởng mà dưới mắt nàng, tôi là người đàn ông còn quá nhiều thiếu sót.”

Lời bàn:
Người đàn ông độc thân trong câu chuyện trên đây đã quên một trong những quy luật cơ bản của cuộc sống là luật thích nghi. Thay vì bắt người khác và cuộc sống phải thích nghi với chúng ta, chính chúng ta phải tìm cách thích nghi với cuộc sống và người khác.

Tâm lý thông thường của con người là đòi hỏi người khác hơn là đòi hỏi chính bản thân mình. Chúng ta đòi hỏi người khác phải thế này, thế kia nhưng chính chúng ta quên rằng chúng ta chưa làm được những điều mà người khác trông chờ nơi chúng ta.

S.T.

TƯ TƯỞNG CỦA MỘT BÁC SĨ TỬ TẾ.

TƯ TƯỞNG CỦA MỘT BÁC SĨ TỬ TẾ.

Bài diễn thuyết sâu sắc của một vị Giáo sư bên Tàu đã nói đúng thực trạng đáng báo động của nền Y khoa hiện nay, khiến cả hội trường với hơn 300 người nghe phải tĩnh lặng.

y khoa, nhân văn, im lặng, hội trường, Hội nghị, diễn thuyết, chữa bệnh, bệnh viện, Bài chọn lọc, bac si,

Giáo sư Viên Chung diễn thuyết tại Hội nghị. (Ảnh: Internet).

Trong “Hội nghị Quốc tế thường niên về Quản lý khoa Lâm sàng”, Giáo sư Viên Chung, Giám đốc nhà xuất bản Đại học Y khoa Dung Hợp TC đã phát biểu chủ đề diễn thuyết mang tên “Bác sĩ làm việc thích ứng với văn hóa”. Ngữ điệu của ông bình thường nhưng lại chỉ ra những sai lầm khắp nơi, rất nhiều ví dụ làm cho người ta phải suy nghĩ sâu sắc; Hội trường với hơn 300 người nghe đều lặng ngắt như tờ. Rốt cục, Giáo sư Viên Chung đã nói đến những điều gì?

Dưới đây là toàn bộ bài diễn thuyết của ông:

Một người tìm anh xem bệnh, họ đem hết những việc riêng tư của mình nói cho anh biết, cởi hết quần áo cho anh kiểm tra, đem hết những thống khổ kể cho anh, đem cả sinh mệnh mà giao cho anh, những người này (Bác sĩ) chỉ đứng thứ hai sau Thần, chứ không còn là một người bình thường nữa .

Bởi vì có thương yêu mới có việc chữa bệnh và bệnh viện, nếu như sự yêu thương này mất đi thì không thể gọi là chữa bệnh, mà nó trở thành giao dịch, một giao dịch sẽ không có sự tôn nghiêm.

Khi đài Truyền hình Trung ương truyền bá những quảng cáo giả dối: “Ngậm ăn đông trùng hạ thảo”, “Cuộc sống số một”…, thì chúng ta có thể nói trắng ra rằng: toàn bộ các nhánh sông đều đã bị ô nhiễm, không có con cá nào có thể thoát khỏi bị ô nhiễm, phương pháp hành xử  ô nhiễm chỉ có thể là bắt đầu từ thượng du.

Thường xuyên có nhiều Sinh viên hỏi tôi tính Nhân văn của Y khoa có chỗ lợi ích nào? Tôi muốn từ hai mặt mà nói:  mặt thứ nhất là giá trị Quan, mặt thứ hai là giá trị Nhân văn. Giá trị Quan là Đạo, giá trị Nhân văn là Thuật.

Sự tôn nghiêm bên trong giá trị Quan:      

Đầu tiên, tôi muốn nói một chút về “Đạo”. Hiện nay đã đến cuối năm rồi, rất nhiều bệnh viện đều sẽ mở Đại hội tổng kết trong tháng này. Tôi có nghe qua một chút khi Viện trưởng bệnh viện bắt đầu Đại hội, ông nói: “Một năm đã qua, trải qua nỗ lực không ngừng của toàn thể công nhân viên chức bệnh viện, bệnh nhân nằm ở viện chúng ta tăng 20%, bệnh nhân ở phòng khám bệnh của chúng ta tăng 30%, thu nhập của chúng ta tăng thêm 10%”.

Thế đấy, những lời này có phải là có vấn đề gì không? Có thể các vị Giám đốc, và các Bác sĩ ngồi đây đều sẽ cảm thấy đây là một việc rất tự nhiên. Kỳ thực, tôi nói cho mọi người biết: những lời này không nên được nói ra từ một Viện trưởng, mà phải là lời của nhà Kinh doanh, Viện trưởng chúng ta nên nói những điều gì? Điều chúng ta nên nói là: “Chúng ta đã chữa khỏi cho bao nhiêu người, chúng ta đã giúp được cho bao nhiêu người” ?.

Chúng ta đã quên mất cái gì gọi là bệnh viện, chẳng phải giá trị Quan đã gặp bất trắc. Cũng có Bác sĩ nói cho tôi biết: bản thân anh ta làm Bác sĩ là để kiếm tiền. Điều này vốn không sai, nhưng tôi muốn nói cho các vị rằng: nếu chỉ muốn kiếm tiền thì đừng bao giờ làm Bác sĩ !. Có nhiều công việc trong xã hội này so với nghề Bác sĩ vẫn kiếm được rất nhiều tiền, buôn bán bất động sản, khai thác mỏ, tài chính, IT… Thế nhưng, chỉ có hai nghề vừa kiếm ra tiền vừa được sự tôn nghiêm, một là Bác sĩ, hai là Giáo viên. Ở Nhật Bản, chỉ có hai nghề có thể được gọi là “Tiên sinh”, đó chính là hai nghề này: Bác sĩ và Giáo viên !.

Tôi có một người bạn, là Trưởng phòng Nghiên cứu Khoa học bệnh viện Hiệp Hòa, Bắc Kinh TC, ông ta là người Tân Cương. Ông ấy từng kể cho tôi một chuyện, người Duy Ngô Nhĩ tin rằng: con người khi chết đi có thể lên trời, nhưng không phải ai cũng có cơ hội lên trên đó, mà phải trải qua thảo luận tập thể. Tham quan, công an xấu, trật tự đô thị xấu … phải bị đọa xuống địa ngục; nhưng chỉ có hai nghề có thể lên trời mà chẳng cần bàn cãi nhiều, đó chính là nghề Bác sĩ và Giáo viên !.

Điều gì gọi là tôn nghiêm? Tôi cũng là một Bác sĩ, tôi cũng có nhận thức về điều này. Một người tìm tôi xem bệnh, đem hết những tâm tư thầm kín kể cho tôi nghe, cởi hết quần áo cho tôi kiểm tra, đem hết những thống khổ nói cho tôi biết, giao cả sinh mệnh cho tôi, loại người này chỉ xếp sau Thần mà thôi, không phải người bình thường. Nếu như Bác sĩ không xem thật kỹ bệnh mà chỉ xem túi tiền của người bệnh, người bệnh sẽ hận các vị đến chết !.

Cơ Đốc Giáo có hai điều rất quan trọng: một là quan niệm Thần thánh, hai là tinh thần Bác ái. Quan niệm Thần thánh cho tôi biết Bác sĩ là tập thể những người ưu tú. Hội trưởng Hiệp hội Bác sĩ TC là Trương Nhạn Linh từng nói với tôi, ông ấy đến Nhật Bản vào thập niên 90. Ở Nhật lúc đó có một người thường xuyên đến thăm hỏi các Bác sĩ, điều này khiến tập thể Bác sĩ TC rất lấy làm lạ, “Chúng tôi không phải đoàn đại biểu chính trị, cũng không phải đoàn đại biểu kinh tế, cũng không phải đoàn đại biểu ngoại giao, chỉ là một nhóm Bác sĩ” !.  Cuối cùng, người kia mới nói một câu: “Tôi cả đời muốn làm Bác sĩ, nhưng thi không đậu, thế nên tôi tôn kính Bác sĩ” !.

Chủ tịch bệnh viện Hòa Mục Gia, Bắc Kinh, Lý Bích Tinh, là người Do Thái, bà từng nói với tôi vì sao người Do Thái nhiều người thành công, thông minh hơn những người khác. Kỳ thực là vì người Do Thái có quan niệm Thần thánh. Người Do Thái tin rằng: họ là con dân của Thượng Đế, cho nên họ so với người khác càng nỗ lực, càng chăm chỉ, cũng càng dễ thành công !.

Bác sĩ nếu có được quan niệm Thần thánh, họ sẽ là những người ưu tú nhất, bất kể là ở phương diện nào, dù cho là thầy thuốc làng, họ cũng sẽ là những người ưu tú nhất nơi đó !. Hai ngày trước, Đài Loan có một Bác sĩ rất ưu tú là Kha Văn Triết, hiện đã thành Thị trưởng thành phố Đài Bắc. Không chỉ là Bác sĩ, ông còn là Lãnh đạo, một Bác sĩ giỏi không chỉ về chuyên môn, mà còn về nhân phẩm, nó giúp ông sự ủng hộ và tán thành của mọi người.

Tuy nhiên, ai ai trong chúng ta cũng biết, mấy năm nay xã hội chúng ta phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Sinh viên Y khoa Đại học Phục, Thượng Hải, đầu độc chết chính bạn học cùng ký túc xá, cậu ta đã nói một câu: “Tôi là ‘cái xác người trống rỗng’, không có giá trị Quan”!.

Tôi không biết mọi người có từng nghĩ tới chưa, tại sao cậu ta là “cái xác người trống rỗng”? Suy nghĩ một chút mấy năm nay, vẫn có một số Sinh viên Đại học giết người, như Mã Gia Tước, Dược Gia Hâm. Những năm nay chúng ta đã sáng tạo ra tài phú vật chất cực lớn, thế nhưng chúng ta đã sáng tạo được tài phú tinh thần chưa? Mọi người có thể để tay lên ngực tự hỏi lòng mình. Quốc gia chúng ta có rất nhiều mỹ đức truyền thống, lòng yêu nước, yêu quê hương, giảng hiếu tận, giảng cần kiệm, giảng lấy đức phục người, giảng thiên hạ công bằng, giảng tiết kiệm phục lễ, khắc kỷ phục lễ (lời của Khổng Tử: ước chế tự thân khôi phục lễ nghĩa), giảng lễ nghĩa nhân trí tín, thế nhưng dường như hiện nay chẳng ai giảng về điều này nữa !.

Sự cứu rỗi của tinh thần Nhân văn:

Thư cục Trung Hoa vừa xuất bản hai cuốn tài liệu giảng dạy cơ sở văn hóa truyền thống Trung Hoa của Đài Loan. Các bạn Đài Loan của tôi đều cho tôi biết, họ từ nhỏ đều đọc “Luận ngữ”, còn chúng ta thì làm gì? Bài học đạo đức phẩm cách tư tưởng của chúng ta ở tập thể là “bịt tai lại mà đi trộm chuông”. Có Giáo sư Bắc Đại nói rằng: chúng ta mấy năm nay đều bồi dưỡng rất nhiều “người tư tưởng ích kỷ một cách tinh xảo”, cái gì gọi là người tư tưởng ích kỷ một cách tinh xảo? “Tinh xảo” là thông minh, “tư lợi” là mọi thứ đều lấy tự ngã làm trung tâm.

Chúng ta nên thật sự phản tỉnh lại, có một lần tôi và Sa Beining nói chuyện tại Vũ Hán, ông ta hỏi tôi: “Ngành nghề chữa bệnh như thế nào?”. Tôi liền đáp lại: “Trước hết đừng nói ngành nghề chữa bệnh như thế nào, khi Đài Truyền hình Trung ương truyền bá những quảng cáo giả dối như “Ngậm ăn đông trùng hạ thảo” “Life No.1”…, đã nói rõ toàn thể dòng sông đã bị ô nhiễm, không có con cá nào thoát khỏi ô nhiễm, cách hành xử  ô nhiễm là khởi từ thượng du. Tổng bí thư trung ương Đảng là họ Tập, hiện đang xử lý thượng du, dòng sông có lẽ rất nhanh sạch sẽ” !.

Điều này kỳ thực là giá trị Quan. Các vị đều là những Chuyên gia lớn nắm giữ kỹ thuật tiên tiến các loại, có đầy người bản lĩnh có thể làm hai chuyện. Một là thấy việc nghĩa hăng hái làm, thấy việc bất bình ra tay tương trợ; hai là chặn đường cướp bóc. Làm tốt làm xấu, bản chất văn hóa trong nội tâm người ấy sẽ quyết định lựa chọn cuối cùng của mình.

Có vị Bác sĩ cho tôi biết: ông ta trong ngày đầu tiên đi làm ở khoa Tiêu hóa, mỗi ngày ít nhất phải hoàn thành chỉ tiêu là chữa bệnh được cho 1 người. Thế nhưng hôm đó ông ta cả ngày 1 bệnh nhân cũng không có, mà giờ tan ca sắp đến. Khi ấy, một nông dân bị bệnh tim mạch, vì bị đeo sai số nhầm Khoa và tìm đến. Do đó, ông đã làm trái lương tâm mà xem bệnh, và kê thuốc cho người nông dân này. Khi bệnh nhân lấy thuốc rồi quay lại hỏi, ông ta cảm thấy nội tâm thật sự áy náy. Ông ta bèn bảo người nông dân này hãy tới lấy số lần nữa để đi khám tim mạch, người nông dân đó đột nhiên khóc ròng nói: “Tôi đã dùng hết tiền rồi !”. Vị Bác sĩ này sau khi đã bộc bạch chuyện của mình với đồng nghiệp, thì cảm giác xấu hổ cứ vây lấy tâm can, từ đó rời bỏ bệnh viện, không làm Bác sĩ nữa.

Khi các Viện trưởng, cán bộ cấp trên chế định chính sách, đừng bao giờ để Bác sĩ chúng ta phải phải hy sinh sự lương thiện để đổi lấy quyền lợi chính đáng lúc đó. Vốn dĩ anh ta nên có tiền lương 1 vạn đồng, nhưng chỉ phát cho anh ta 2.000, còn 8.000 đồng để anh ta tự mình kiếm lời; đây là hành vi gian ác !.

Cái gì là bệnh viện? Trong thời Trung cổ, xã hội của Cơ Đốc giáo có rất nhiều người nghèo là ăn mày lang thang khắp nơi, không ai quản đến. Vì thế, họ đã bố trí một nơi để họ giảm bớt khổ cực, cuối cùng từ từ tạo thành bệnh viện. Cái gì là chữa bệnh? Chữa bệnh khởi nguyên là một tấm lòng đồng cảm, con người quý ở chỗ có tâm đồng cảm, lòng thương xót. Vì chứng kiến thấy người khác bị đau khổ, chịu khổ chịu nạn mà mình cũng cảm thấy  thương xót mà giúp đỡ người ta, đây mới gọi là chữa bệnh.. Bởi vì yêu thương mới có chữa bệnh và bệnh viện, nếu mất đi tinh thần này thì không thể gọi là bệnh viện, mà gọi là giao dịch, nó không có tôn nghiêm.

Chúng ta cơ hồ đem bệnh viện trở thành một cái xí nghiệp, nhóm lãnh đạo của chúng ta cả đám mở hội họp, điều thích nhất nói đến là “Bệnh viện chúng ta 500 triệu, bệnh viện chúng ta 800 triệu, bệnh viện chúng ta 900 triệu, bệnh viện chúng ta 1,2 tỷ, bệnh viện chúng ta 2 tỷ !”. Tại sao Trưởng khoa Phụ sản bệnh viện Hiệp Hòa, Lang Cảnh, và Viện sĩ nói rằng:  nhân viên phòng Y tế mỗi tuần phải đọc một cuốn sách ngoài chuyên môn, chính là vì để mở rộng mặt tri thức. Bác sĩ chúng ta nên học được cách giao tiếp với người, chúng ta không thể chỉ học mỗi cách giao tiếp với bệnh tật thôi !.

“Có khi đi trị liệu, thường xuyên giúp đỡ, lại luôn là an ủi”, luôn là an ủi, thế nhưng chúng ta có năng lực an ủi không? Cái này hoàn toàn là nhân văn Y học phải được bồi đắp. Chỗ khác biệt giữa Bác sĩ TC, và bác sĩ Mỹ Quốc là ở chỗ nào? Bác sĩ TC hiện nay kinh nghiệm lâm sàng vô cùng phong phú, chúng ta đã làm nhiều giải phẫu như thế. Thế nhưng so sánh Bác sĩ TC và Mỹ Quốc một chút, điều khác biệt ở chỗ “thương yêu”. Bác sĩ Mỹ Quốc làm bệnh nhân cảm nhận được tình yêu, bác sĩ TC không làm được !.

Không đủ tin tưởng khoa học kỹ thuật, đây là một bộ phận rất quan trọng của văn hóa truyền thống dân tộc chúng ta. Toàn thế giới đại đa số dân tộc đều tin rằng: con người chết rồi có thể luân hồi, có cuộc đời sau này. Thế nhưng dân tộc chúng ta muốn truy cầu trường sinh bất tử, thế nên chúng ta phát minh ra rất nhiều phương pháp trường sinh bất tử. Chúng ta tuyệt đối là một dân tộc không có sự chuẩn bị cho cái chết. Người TC nào cũng có thể nhẫn chịu, mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn công việc, mâu thuẫn xã hội đều có thể nhẫn, thế nhưng khi đối mặt với cái chết thì không nhẫn chịu được. Chúng ta không có chuẩn bị, đối mặt với cái chết, hành động tâm lý đầu tiên là phẫn nộ và khiếp sợ. Do đó, văn hóa truyền thống của chúng ta quá cần tinh thần Nhân văn Y học !.

Tôi nói một vấn đề cuối cùng, cũng là vấn đề làm thế nào để trở thành một người Bác sĩ tốt. Thứ nhất, tôi không muốn nói mọi người ai cũng phải đi học Lôi Phong, học Bạch Cầu Ân, tôi chỉ cần nói cho các vị Chuyên gia và Lão sư, các vị nhất định phải nghĩ đến khi mình già rồi thì cũng sẽ rơi vào trong tay một Bác sĩ nào đó. Các vị trước hết làm một Bác sĩ tốt, học trò của các vị mới có thể là Bác sĩ tốt, đợi khi các vị già rồi, vị Bác sĩ này sẽ chăm sóc các vị. Hiện nay các vị không làm được một Bác sĩ tốt, đợi khi các vị già rồi, học trò của các vị sẽ chiếu theo phương pháp của các vị mà trừng phạt các vị. Chúng ta không thể khiến học trò học Lôi Phong khi chính mình đang học theo Hòa Thân.

Thứ hai, vì con cái mà làm một người tốt. Rất nhiều việc, người Tàu chỉ có vì con mới làm, vì con mới cải biến. Tôi từng giảng về vấn đề cai thuốc, tuy chúng ta học người nước ngoài trên hộp thuốc lá in hình đầu lâu và phổi đen, nhưng rất nhiều người căn bản sẽ không cai thuốc. Chúng ta dưới tình huống nào mới cai được? Chỉ có khi trên bao thuốc có viết “Hút thuốc sẽ khiến cho con của các bạn biến thành dị dạng”, tôi nghĩ người đọc câu đó nhất định sẽ cai !.

Thứ ba, con người cả đời này vì cái gì mà đến đây? Nếu như có cơ hội đi trong sa mạc Tân Cương để quan sát 1 lần, nếu như có một vũng nước, thì nhất định phải trồng cỏ, có cỏ mới có dê bò, có dê bò mới có người. Giá trị của cỏ là vì để cho dê bò sống tốt, giá trị của dê bò là để cho con người sống tốt, giá trị của con người là khiến cho những sinh vật khác sống tốt. Xã hội này vì có bạn mới có thêm 1 phần tốt đẹp, đừng vì có bạn mà lại thêm lại một phần thống khổ hoặc bất hảo nào khác !.

Tháng 10 Kính Đức Mẹ Mân Côi

 Tháng 10 Kính Đức Mẹ Mân Côi

Tháng 10 được dành để tôn kính Đức Mẹ Mân Côi.  Ngày 7 tháng này được giáo hội mừng kính Đức Mẹ Mân-côi.

Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa Minh (Dominic) thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (*).

Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi.  Đức Mẹ bảo thánh Đa Minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác.

HOLY ROSARY OF VIRGIN MARY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kinh Mân Côi có nguồn gốc từ chính Thiên Chúa, từ Kinh thánh, và từ Giáo hội.  Không lạ gì khi Chuỗi Mân Côi gần gũi với Đức Mẹ và mạnh mẽ đối với Nước Trời.   Rất nhiều lần Đức Mẹ hiện ra đều cho thấy tay Mẹ cầm chuỗi tràng hạt Mân Côi.

Rất nhiều người đã được ơn từ việc lần Chuỗi Mân Côi.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng thường xuyên lần Chuỗi Mân Côi khi ngài đi bách bộ.  Nếu xem lại lịch sử, chúng ta thấy có nhiều chiến thắng nhờ Chuỗi Mân Côi.  Truyền thống ban đầu đã có chiến thắng tà thuyết Anbi tại trận Muret năm 1213 nhờ Chuỗi Mân Côi.

Dù không muốn chấp nhận truyền thống đó thì cũng phải chân nhận rằng thánh Giáo-hoàng Piô V đã góp phần chiến thắng đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 1571.  Ngay thời điểm đó có Hội Mân Côi (Rosary confraternities) tại Rôma và những nơi khác.  Do đó, thánh Giáo-hoàng Piô V đã truyền phải tôn kính Kinh Mân Côi vào chính ngày đó.

Năm 1573, Đức Giáo-hoàng Grêgôriô XIII công bố việc mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi.

Năm 1671, Đức Giáo-hoàng Clêmentô X mở rộng lễ này trên toàn cõi nước Tây Ban Nha sau chiến thắng anh dũng lần thứ hai trên người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã có lần (cũng như người Nga) đe dọa phá hủy văn minh Kitô giáo, xảy ra vào ngày 5-8-1716, khi hoàng tử Eugene đánh bại họ tại Peterwardein (Hungary).

Do đó, Đức Giáo-hoàng Clêmentô XI mở rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi trong toàn Giáo hội.  Từ ngày ấy đến nay, giáo-hội hoàn vũ đặc biệt kính Đức Mẹ Mân Côi vào tháng 10 và tất cả mọi tín hữu có thói quen đua nhau đọc kinh Mân-Côi trong tháng này.

Lm. William G. Most đã viết trong cuốn “Đức Maria trong Đời sống Chúng ta” (Mary in Our Lives) như sau :

      “Ngày nay, các mối nguy hiểm còn lớn hơn người Thổ Nhĩ Kỳ, không chỉ đe dọa Kitô giáo mà đe dọa cả nền văn minh, Đức Mẹ thúc giục chúng ta trở lại với Chuỗi Mân Côi để được giúp đỡ.  Nếu nhân loại đủ số người làm vậy, đồng thời thực hiện các điều kiện khác mà Đức Mẹ đã đưa ra, chúng ta có lý do chính đáng để tin rằng chúng ta sẽ thoát khỏi mọi mối nguy hiểm”.

Nhưng thiết nghĩ chúng ta cần tích cực lần Chuỗi Mân Côi hàng ngày không những vì mong được lợi cho mình, cho gia đình, cho giáo-hội và cho thế giới…mà trước tiên vì lòng yêu mến Chúa và Mẹ Maria chân thành.

(*) Albigensianism: Anbi giáo, một phong trào Kitô giáo được coi là hậu duệ thời trung cổ của Mani giáo (Manichaeism – xem chú thích bên dưới) ở miền Nam nước Pháp hồi thế kỷ XII và XIII, có đặc tính của thuyết nhị nguyên (đồng hiện hữu của hai quy luật đối nghịch là Thiện và Ác). Thuyết này bị kết án là tà thuyết thời Tòa án Dị giáo (Inquisition).

Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia phái tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

Sưu Tầm và Tổng Hợp từ bài của Trầm Thiên Thu