
The hug of the century


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP CỦA HAI VỊ TIÊN SINH HỌ NGÔ
Ngày 2/11/1963, trước khi một người sĩ quan bị mua chuộc và hèn nhát ra tay hạ sát cả hai anh em mình, ông Ngô Đình Diệm đã đến nhà thờ Cha Tam, Quận 5 để cầu nguyện.
Ít ai biết được lúc đó ông Diệm và em mình, ông Ngô Đình Nhu, đã im lặng cầu nguyện điều gì.
Không lâu sau đó, hai anh em lãnh đạo nền Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam bị hạ sát. Dân tộc Việt mất đi những nhà chính trị kiệt xuất mà có thể nhiều thế kỷ sau vẫn không thể có người sánh bằng.
Sự xuất sắc của anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được thấy, qua việc hai ông nhận ra rất sớm, âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh, thông qua ngõ Hà Nội. Các tài liệu nghiên cứu ghi lại từ 1952, cho thấy ông Ngô Đình Nhu đã lập nên một mạng lưới thu thập thông tin về việc can thiệp của Trung Cộng ở miền Bắc. Sự kiện cải cách ruộng đất đẫm máu mà ông Hồ Chí Minh thực hiện theo yêu cầu của cố vấn Trung Cộng vào năm 1953-1954 đã khiến cho hai vị lãnh đạo miền Nam càng quyết tâm hơn nữa trong việc ngăn không cho chủ nghĩa cộng sản tràn vào miền Nam.
Sau khi ông Ngô Đình Nhu mất, năm 1964, nhà xuất bản Đồng Nai, Saigon, cho ra mắt tập Chính đề Việt Nam của ông với bút danh Tùng Phong. Tất cả những gì viết trong đó, là máu và nước mắt, là tương lai đầy uẩn khúc của dân tộc Việt được dự đoán – xác đáng trong từng con chữ.
“Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô”. (trích)
Sự kiên quyết với tự do và độc lập, sự thành kính và quyết liệt với di sản của tổ tiên người Việt trao lại của hai ông vị lãnh đạo ấy, đã khiến cho hai ông vẫn được nhắc nhở, kính trọng sau khi qua đời. Đặc biệt, với những xung đột xã hội trước khi bị lật đổ – như với phía Phật Giáo – người Việt ngày càng nhận ra bên trong có sự dàn dựng và can thiệp từ phía Bắc.
Rất nhiều thông tin tuyên truyền cho rằng hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là căn cơ Công giáo nên ghét bỏ Phật giáo. Nhưng cũng ít ai biết rằng năm 1959, khi ông Ngô Đình Diệm được giải thưởng Leadership Magsaysay (dành cho các nhà lãnh đạo xuất sắc) với ngân phiếu 15,000 USD, ông đã gởi sang cho ông Đỗ Vạn Lý, Tổng Lãnh Sự VN tại New Delhi, Ấn Độ, để biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lúc đó đang rất khó khăn vì bị Mao Trạch Đông cho quân đội truy đuổi. Chính Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận điều này trong một bài nói chuyện trước cộng đồng Việt Nam – Mỹ, tại California.
Ý nguyện về một Việt Nam độc lập của hai vị Ngô tiên sinh cũng rất rõ. Năm 1961, khi đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Phía đón tiếp chuẩn bị rất nhiều cờ hai màu vàng trắng của Vatican. Thấy thiếu cờ quốc gia, Ngô tổng thống đã gọi viên thiếu tá tỉnh trưởng đến để chất vấn ”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”.
Thật khó mà biết được hai vị đã cầu nguyện điều gì với Đức Jesus trong những giây ngặt nghèo ấy của đời mình. Nhưng có thể không phải là sự sợ hãi cho bản thân, mà sự sợ hãi cho một nền độc lập, một nền tự do non trẻ của nhân dân Việt Nam sẽ mai một.
Sinh thời, câu nói nổi tiếng của Ngô tổng thống vẫn hay được nhắc đến:
“Tôi tiến. Hãy tiến
Tôi lui. Hãy giết tôi
Tôi chết. Hãy nối chí tôi!”
Nhân ngày mất của hai con người yêu nước ấy. Xin được nhắc lại vài lời của họ với sự kính trọng. Người Việt đã từng có người dẫn đầu cho cuộc trường chinh vào tự do, thoát khỏi bóng ma xâm lược của Trung Cộng. Người Việt cũng đã có người chết, có người tù đày vì hào khí anh linh của giống nòi. Người Việt cũng đang kêu gọi, chờ đợi một thế hệ sẽ nối chí để đưa đất nước này ra khỏi gọng kìm phương Bắc.
Sĩ khí của hai con người yêu nước, đã nhắc chúng ta rất nhiều điều vào lúc này.
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Trăm voi không được bát nước xáo.
Thành ngữ Việt Nam
Bằng giờ này hai năm trước, báo Pháp Luật nghiêm nghị loan tin:
Tối qua (8/11), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng công bố ngày 9/11 là Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam… Phát biểu tại buổi Lễ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là hình thức pháp lý cao nhất thể hiện tư tưởng, đường lối, cương lĩnh của Đảng, ý chí, nguyện vọng và những lợi ích cơ bản của nhân dân. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật.
Sau lời “khẳng định” này, cả nước đã nô nức thi đua học tập về ý nghĩa của Ngày Pháp Luật. Khắp nơi đều tràn ngập bích chương hay tranh cổ động toàn dân sống & làm việc theo luật pháp.

Cũng trong ngày này, khi trao đổi với phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân bên hành lang Quốc Hội, đại biểu Lê Thanh Vân nhấn mạnh: “Điều quan trọng là phải làm sao để mỗi người dân thấm đẫm tinh thần thượng tôn pháp luật.” Trung tướng Trần Văn Độ, Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân, cũng nói thêm: “Phải thường xuyên giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho người dân.”
Một trong những địa phương có thể được nêu ra làm gương cho tinh thần “thấm đẫm thượng tôn pháp luật” là tỉnh Bến Tre, nơi mà năm thanh niên đã bị kết án 20 năm tù vê tội … trộm gà – như tin của báo Thanh Niên:
“Ngày 31.7, TAND huyện Ba Tri (Bến Tre) xử lưu động, tuyên phạt các bị cáo Đoàn Văn Tích 4 năm 6 tháng tù, Nguyễn Thanh Sơn 5 năm 6 tháng tù, Hồ Văn Nhi 7 năm tù; Phan Văn Lượn và Lê Văn Lộc 5 năm 3 tháng tù cùng về tội cướp tài sản. Khoảng 2 giờ sáng ngày 30.1, sau khi uống rượu, Tích rủ Sơn, Nhi, Lượn và Lộc cầm dao đến quán Ngọc Trâm để uy hiếp chủ quán là ông Lê Văn Tươi ở ấp An Lợi, xã An Thủy, Ba Tri; sau đó, bắt gà bán lấy tiền tiêu xài.”
Thanh Hoá cũng là một nơi rất đáng được biểu dương vì cách “xử lý nghiêm” của chính quyền địa phương – theo VnExpress:
“Ngày 5/7, ông Hoàng Sỹ Quang, Đội trưởng Quản lý thị trường số 2 (Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa) cho biết, chính quyền thị xã Sầm Sơn vừa ra quyết định xử phạt nhà hàng Duy Anh (ở đường Hồ Xuân Hương, phường Bắc Sơn, thị xã Sầm Sơn) số tiền 20 triệu đồng về hành vi gian lận trong kinh doanh dịch vụ ăn uống.
Khi tính tiền bữa ăn của đoàn khách du lịch, một nhà hàng ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) đã ghi khống 2 tô cơm để lấy thêm 60.000 đồng.”

Ảnh S.S: VnExpress
Không riêng gì VnExress, vụ việc “ghi khống 2 tô cơm bị xử phạt 20 triệu đồng ”đã được tất cả các cơ quan truyền thông nhà nước (kể cả T.V.) đồng loạt thông tin, cứ y như là một “tin vui” để cổ vũ cho Ngày Pháp Luật Việt Nam vậy.
Chính quyền tỉnh Thanh Hoá, rõ ràng, đã thực thi luật pháp một cách hết sức nghiêm minh và nhanh chóng. Tỉnh Quảng Trị, tiếc thay, “chưa thấm đẫm tinh thần pháp luật” gì cho lắm nên dù cũng có chuyện “ghi khống” xẩy ra mà chả có ai bị xử lý ráo trọi. Báo Lao Động số ra ngày 06 tháng 7 năm 2015 cho hay:
Kết quả xác minh của Bộ Tư lệnh Biên phòng tại BĐBP tỉnh Quảng Trị mới đây đã xác nhận trong năm 2013 – 2014 đã có 11 kế hoạch tuần tra giám sát nghề cá trên biển được lập khống với tổng số tiền đã được quyết toán gần 1,9 tỉ đồng, trong đó riêng nhiên liệu gần 1,750 tỉ đồng và tiền ăn thêm đi biển + phụ cấp đặc biệt là 91,4 triệu đồng. Tuy nhiên, một cán bộ công tác trên các tàu được quyết toán khống này khẳng định rằng trên thực tế số lượng tàu tuần tra được quyết toán khống còn lớn hơn nhiều.
Nguyên văn bài báo thượng dẫn (“Quảng Trị: Tuần Tra Biển Khống, ‘Rút Ruột’ Nhà Nước Hàng Tỉ Đồng”) gồm 1.000 từ. Không một chữ nào nói đến chuyện kỷ luật hay xử phạt ai cả. Những hạn từ thường thấy như “kiểm điểm,” “rút kinh nghiệm,” hay “khắc phục” cũng khỏi có luôn.
Vài tháng sau, ông ông Lê Hữu Thọ – Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Uy Quảng Trị – cho phóng viên báo Lao Động biết thêm rằng “Vụ tuần tra biển khống rút ruột Nhà nước hàng tỉ đồng chưa xử lý vì… quá nhiều việc, không có thời gian.”
Thời gian (buồn thay) không chịu đứng về phía công lý nên trên trang Anh Ba Sàm lại có thêm tin rằng bài báo (“Bỏ Mặc Ngư Dân Là Vô Trách Nhiệm, Vô Cảm và Không Thể Tha Thứ”) đề cập đến việc tuần tra giả và khống tiền nhà nước của lực lượng Biên Phòng tỉnh Quảng Trị – trên trang GDVN – đã “được”… gỡ bỏ rồi!
Bỏ cũng … đúng thôi. Ghi khống vài tỉ đồng tiền Việt, nói nào ngay, chỉ là chuyện nhỏ. Số tiền này chả đáng kể gì nếu nếu so với hàng triệu (hay hàng tỉ Mỹ Kim) bị “khống” trong vụ Vinashin – theo như lời than phiền của nhà báo Bùi Hoàng Tám, đọc được vào hôm 27 tháng 07 năm 2015:
Cứ nghĩ tham nhũng nó chỉ như kiểu bà đi chợ, mua 10 đồng nói 11 hay 12 đồng. Nhưng không. Bọn chúng mua một đồng nhưng khai lên 3 – 4 đồng thậm chí 5-6 đồng. Ví dụ như cái ụ nổi của Dương Chí Dũng, giá mua chỉ có 2triệu USD nhưng được khai khống lên đến 9 triệu USD (cao hơn khoảng 150 tỉ VND). Một trạm biến áp tại Quy Nhơn nhà thầu trúng thầu với giá 30 tỉ đồng, khi đấu giá lại, số tiền cuối cùng chỉ là 7 tỉ, chênh lệch tới 23 tỉ đồng.
Và một chuyện cũng không mới, đó là hơn 1.000 tỉ đồng trong vụ Vinashin gần như chắc chắn mất tiêu.
Còn “gần như” gì nữa, cha nội. Mất trắng rồi, và mất từ mấy bữa trước lận – theo tường thuật của nhà báo Lê Chân Nhân (Dân Trí) vào hôm 22 tháng 7 năm 2015:
Cơ quan thi hành án dân sự vừa ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số tiền hơn 1.000 tỉ đồng vì xác nhận người phải thi hành án trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin không còn điều kiện thi hành án.

Minh họa: Ngọc Diệp
Trong hơn 1.000 tỉ đồng đó, cựu Chủ tịch Vinashin có 500 tỉ đồng nhưng chưa thi hành án được đồng nào. Xác minh tài sản thì coi như tay trắng, muốn thu hồi cũng không biết lấy gì để thu hồi...
Bắt được tham nhũng mà không thu được tiền tham nhũng về cho nhà nước thì coi như thất bại. Tuyên án, bắt bồi thường hàng trăm tỉ đồng, nhưng bị án không đền một xu. Người ta nghĩ rằng, đã vào tù rồi coi như bỏ, dại gì ôm tiền đem nộp, thà để cho vợ con hưởng. Hy sinh đời bố, củng cố đời con là vậy...
Cơ quan thi hành án dân sự đưa ra biện pháp thu hồi bằng cách động viên người thân các lãnh đạo Tập đoàn Vinashin và chính những người này thực hiện nghĩa vụ thi hành án, nộp tiền hoặc cung cấp thông tin về tiền, tài sản đang ở đâu. Cách này xem ra phiêu lưu, bởi vì nếu như gia đình họ có ý định nộp tiền thi hành án thì họ đã thực hiện, một biện pháp không chắc ăn thành công. Đã là động viên thi làm cũng được không làm cũng chẳng sao.
Từ chuyện này mới thấy kẻ hở của việc kê khai tài sản cán bộ. Mới đây, cả triệu người kê khai tài sản, chỉ có vài trường hợp không trung thực. Đến khi trong số những người kê khai trung thực bị phát hiện tham nhũng tương tự như những cán bộ của Vinashin, thì cơ quan thi hành án bó tay. Tài sản đứng tên của họ chỉ có căn hộ trị giá vài tỉ đồng, lấy gì để thi hành án?
Nói vắn tắt là ở Việt Nam cơ quan chức năng chỉ “thi hành án” (và xử lý nghiêm) khi đám dân đen bắt trộm mấy con gà, hay ghi khống vài tô cơm trắng thôi, chớ còn mấy vụ lùm xùm khác thì khỏi vì “quá nhiều việc, không có thời gian” – theo như nguyên văn lời của ông Lê Hữu Thọ, Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy Quảng Trị.
Đồng chí T.B.T cũng đã nói trước rồi mà: “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng.” Nhà Nước mới “đẻ” ra cái Ngày Pháp Luật cho nó (thêm) vui thôi. Có thể, nó cũng sẽ vui y như ngày Thương Binh Liệt Sĩ vậy:
… tôi được đi dự rất nhiều ngày lễ “trọng đại “này, gọi là ngày “thương binh, liệt sỹ”nhưng tôi chẳng thấy thương binh, gia đình liệt sỹ đâu, chỉ thấy nhẵn mặt đại diện các ban ngành mà bất cứ hội nghị nào cũng có mặt, có chăng lúc nhiều nhất tôi đếm được 4 người thương binh và 3gia đình liệt sỹ trên tổng số hơn 6 chục người đại biểu và khi sếp mâm thì đến trên 8 chục người.
Điều đáng nói là nhiều thôn, xã cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ chức huy động quyên góp quỹ “đền ơn, đáp nghĩa”chỉ đủ hoặc không đủ chi bữa cơm để tổ chức tọa đàm kỷ niệm ngày lễ thiêng liêng này. những đối tượng thương binh, gia đình liệt sỹ chỉ nhận được món qùa của nhà nước gửi đến, ngoài ra họ chẳng nhận được gì thêm.
Hình ảnh một người có quyền chức khá cao, trong không khí vui mừng, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”ông nói với giọng điệu giễu cợt, ông nói: theo tôi nên đề nghị đảng, nhà nước tách ra ngày thương binh riêng, ngày liệt sỹ riêng để anh em mình có dịp bù khú hơn, rồi ông cười khà khà chẳng cần giữ ý tứ gì với mọi người xung quanh. Mọi người đồng thanh tán thưởng, cùng nhau nâng chén hô to rô. . . rô. (Hồi Ký Vi Đức Hồi – Đối Mặt).
Tôi chưa hình dung ra những “dịp bù khú” nhân Ngày Pháp Luật sẽ rôm rả ra sao nhưng chắc chắn qúi vị cán bộ nhà nước (thuộc những cơ quan chức năng liên hệ) đã tìm tìm được cách rồi.
LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN
Biến cố ngày 11.9 tại Hoa Kỳ đã làm chúng ta bàng hoàng. Mỗi lần nhắc lại hoặc thấy những hình ảnh đó, chúng ta không khỏi buồn sầu, lo lắng, tức giận. Có thể mỗi người nhìn biến cố đó với một góc độ khác nhau. Nhưng có một góc độ có lẽ ít người nghĩ đến, và đó là vấn đề mà chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ.
Trên thế giới từ xưa tới nay, không phải chỉ có biến cố ngày 11.9, mà còn vô vàn biến cố khác, chẳng hạn sự kiện hai quả bom nguyên tử ở Nhật Bản năm 1945. Có một câu hỏi được đặt ra: Thế thì số phận của những người đã chết trong các biến cố đó ra sao?
Ngày nay người ta chỉ nói đến sự trả thù, phải trả thù cho những người chết oan, trả thù cho những người đau khổ. Công lý thế gian, công lý của con người thực hiện ra sao chúng ta không biết, nhưng về mặt đức tin, chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào? Phải dựa vào Lời Chúa, vì chính Chúa muốn chúng ta hãy dùng Lời của Ngài để an ủi nhau, cách riêng trong những biến cố thảm thương như vậy.
Bài đọc I của ngày lễ hôm nay, cách nào đó, khiến chúng ta phải suy nghĩ. Nhiều người chết rất bi thương, cái chết không xứng hợp chút nào với đời sống của họ, người ta chỉ còn biết thương tiếc và nghĩ rằng như thế là chấm dứt một cuộc đời, chấm dứt cách buồn thảm, tràn đầy thất vọng. Thế nhưng Lời chúa lại nói với chúng ta: Những người công chính khi chết đi, họ sẽ được đưa vào trong vinh quang của Thiên Chúa, nếu cái chết của họ hay sự đau khổ của họ xảy đến cũng giống như vàng phải được trui luyện trong lửa, để chắt ra chất vàng tinh ròng và loại bỏ những thứ cặn bã.
Con người mà Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương và cứu chuộc, chính là vàng. (Nếu chúng ta có thì giờ để hiểu rằng, trên Thiên Quốc có biết bao nhiêu người công chính, bao nhiêu con người đã được Thiên Chúa rước và cho vào trong vinh quang của Ngài. Đó chỉ mới nói về những con người được tạo dựng ở trần thế. Còn thế giới của thiên thần, thế giới thần linh, tất cả đều ở trong vinh quang đó). Có thể nào chúng ta vào Nước Trời với một tấm áo đầy bụi bặm, nhơ bẩn. Phải được tinh luyện, sự tinh luyện đó không phải bởi sức lực của chúng ta, nếu bởi chúng ta chắc chúng ta sẽ thất vọng vì thấy rõ sự yếu đuối của mình, thì đây, thánh Luca nói trong bài Phúc Âm của ngài: Khi suy niệm về sự chết, khi cầu nguyện cho những người đã chết, bao giờ chúng ta cũng phải đặt trên nền tảng Đức Kitô Tử Nạn-Phục Sinh, không đặt trên nền tảng và không đi từ chân lý đó thì không có một thắc mắc hay một vấn nạn nào được giải quyết, được soi sáng.
Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, cao điểm được thể hiện trên núi Canvariô (dù rằng chưa Phục Sinh), Chúa đã biểu lộ vinh quang của Ngài như lời thánh Gioan: Chính khi Ngài được treo dựng lên nơi cao, vinh quang chói ngời của Ngài sẽ tỏa ra. Vậy thánh Luca cho chúng ta thấy: một thế giới sa đọa tội lỗi, (và thế giới đó) đã nhạo cười, đã đóng đinh Chúa Giêsu và đưa Ngài đến cái chết thảm thê trên thập giá. Trong thế giới đó, còn có những con người thiện tâm, có những con người sẵn sàng hoán cải, dù rằng trước mắt thế gian con người đó xứng đáng với cái chết (vì cũng đã bị treo trên thập giá). Nhưng Chúa Giêsu nói: Quả thật, ngày hôm nay ngươi sẽ được vào trong Nước Thiên Đàng.
Nhưng nếu chỉ thấy Ngài chịu chết thì làm sao chúng ta được sống lại? Cái chết của Ngài đem đến những gì cho chúng ta? Vì nếu Ngài chết mà Ngài không sống lại thì cái chết của Ngài cũng vô ích, tình thương của Ngài cũng vô ích!
Chúa Giêsu chết và Ngài đã Phục Sinh. Chính Ngài là đầu mối của tất cả mọi việc, chính nơi Ngài mà chúng ta (những người cách này hay cách khác đã tin vào Ngài) tìm được niềm tin và hy vọng. Nhưng không chỉ những người được Rửa Tội mới gọi là tin vào Ngài. Có những người rất thành tâm, thiện chí, nhưng vì một hoàn cảnh nào đó, họ vẫn cố gắng sống theo lương tâm, Ngài vẫn đón nhận trong tình yêu và trong Ơn Cứu Chuộc của Ngài.
Chúng ta cám ơn người trộm “lành”, vì nhờ có anh, như một dấu chứng nếu chúng ta tin vào Ngài “Lạy Thầy, khi vào Nước Thiên Đàng xin nhớ đến con.” Anh ấy biết gì về Chúa Giêsu? Biết gì về Mầu Nhiệm Nhập Thể? Biết gì về Mầu Nhiệm Cứu Chuộc? Biết gì về Mầu Nhiệm sống lại? Nhưng anh đại diện cho một số đông trên trần thế này, một cách nào đó vẫn hướng về một sự linh thiêng, hướng về một Đấng Tối Cao, muốn làm những việc tốt lành. Những người đó sẽ được Máu của Chúa đổ ra để thanh tẩy tội lỗi và cho vào Nước Trời. 6000 người chết trong một khoảnh khắc, chắc chắn có một số đông được tình yêu và Máu Chúa đổ ra để xóa tội lỗi và cứu chuộc họ. Tại sao chúng ta cứ muốn ấn định cho Thiên Chúa những người được vào Nước Trời, mà không đặt niềm tin của chúng ta nơi lượng khoan hồng từ bi và nơi công lao của Ngài? Vì Ngài đã hạ mình chịu chết trên thập giá, nên Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài và đặt mọi loài dưới quyền của Ngài, trong cái chết và sự Phục Sinh của Ngài, Ngài xin với Chúa Cha là hãy tha thứ, hãy cứu độ, hãy chuộc lại hết những tâm hồn (lúc này hay lúc khác), đã có sự tin tưởng vào Ngài. Từ đó chúng ta thấy rằng sẽ không bao giờ tìm được sự công bằng nơi trần thế này, sự công bằng và yêu thương chỉ tìm thấy nơi một mình Chúa mà thôi.
Nếu có được niềm tin đó, cuộc đời trở nên sáng tỏ hơn. Đứng trước các biến cố, chúng ta đỡ buồn phiền thất vọng, chúng ta thấy cuộc đời vẫn đáng sống và những đau khổ xảy đến triền miên vẫn có ý nghĩa, vẫn có giá trị, vì chúng ta được tham dự vào Mầu Nhiệm Tử Nạn của Đức Kitô để được sống lại với Ngài.
Vậy trong tháng các linh hồn, với niềm tin đó chúng ta sẽ thấy được những điều gì?
Lẽ dĩ nhiên đừng nghĩ rằng Chúa phải chờ đời những lời cầu nguyện của chúng ta để Chúa cứu vớt, Ngài đã cứu vớt rồi. Nhưng Chúa muốn chúng ta sống trong sự thông hiệp, muốn cho chúng ta có sự liên đới hữu hiệu, Ngài tạo điều kiện để chúng ta thấy rằng: thì ra chúng ta còn có thể làm được rất nhiều cho những người thân yêu của chúng ta. Biết đâu khi họ còn sống, chúng ta chưa có một tâm tình, chúng ta chưa đối xử tốt, thì giờ đây chúng ta có một cơ hội rất tốt.
Phát xuất từ những tâm tình trên, cách đây hơn 1000 năm, ngày lễ cầu cho các linh hồn 02.11 được thiết lập, đó là niềm an ủi rất lớn cho những người còn sống, cho chúng ta có một phương tiện tuyệt hảo để yêu thương và biểu lộ tình yêu, cứu giúp những người mình yêu thương. Ngày hôm nay, trong tháng này và suốt cả cuộc đời, chúng ta hãy tập nhân đức yêu thương, nhớ đến các linh hồn.
(Cách đây 100 năm, cũng có một nhà dòng được thiết lập chỉ nhằm mục đích để cầu nguyện, ăn chay, hãm mình cho các linh hồn trong lửa luyện ngục, mà điều đó tất cả chúng ta đều làm được).
Khi tôi nói những điều này, các bạn trẻ lại càng phải suy nghĩ nhiều hơn, để thấy rằng trong từng giây phút, chúng ta phải sống cho có ý nghĩa, vì từng giây phút của cuộc sống, có thể xây dựng hạnh phúc và phần rỗi cho rất nhiều người và cho chính bản thân chúng ta. Nhờ lời chuyển cầu của các thánh và các linh hồn trong lửa luyện tội (chúng ta tin rằng) chúng ta vẫn tiếp tục đón nhận hồng ân Chúa, đón nhận cách đặc biệt mỗi lần chúng ta cử hành thánh lễ, là lễ tế tạ ơn đồng thời là lễ tế đền tội cho chúng ta.
ĐTGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
‘Sống hạnh phúc, chết bình an’
Nguồn: Nguoi-viet
Tạp ghi Huy Phương
Sau khi ông bác họ tôi chết được ít lâu, gia đình muốn lợp lại mái nhà. Khi người ta gỡ mái tranh cũ mang đi, họ tìm thấy ba lượng vàng được gói cẩn thận trong một miếng vải đỏ, nhét trong mái tranh. Người con trưởng, bỗng nhớ những giờ phút sắp ra đi của ông cụ thân sinh, lúc không còn cử động và nói năng được, nhưng đôi mắt ông cứ đăm đăm nhìn lên mái nhà, nơi mà ông giấu mấy lượng vàng.
Tôi cũng nhớ lại, sau năm 1975, hồi đi tù Cộng Sản, ngày được lệnh đổi tiền, nhiều anh sĩ quan đang bị tập trung, đã xin phép quản giáo cho về nhà, vì những người này lỡ giấu tiền trong bộ salon ở phòng khách hay ở một góc hẻm nào trong nhà, mà không cho vợ biết, và cứ nghĩ rằng mình đi tù một hai tuần rồi sẽ được về nhà.
Đến tuổi này rồi, bạn có giấu của cải, tiền bạc ở chỗ nào, con rơi con rớt ở đâu, xin “thành thật khai báo” kẻo không còn kịp nữa.
Quả tình là không ai biết mình sẽ giã từ cuộc đời này vào lúc nào, kể cả những bệnh nhân ung thư đến thời kỳ cuối, đã được bác sĩ thông báo ngày chết. Mới vài ngày trước đây thôi, người bạn trẻ của tôi đang khỏe mạnh, nói nói cười cười, thế mà hôm nay, qua một cuộc phẫu thuật tim, thông thường sau vài ba tiếng đồng hồ sẽ tỉnh lại, anh đã không bao giờ mở mắt ra để nhìn cuộc đời này nữa. Cũng trong lúc này tôi có những người bạn nằm trong “nursing home” đã trên 10 năm dài, có người phải dùng thức ăn lỏng bơm thẳng vào dạ dày, có người đôi mắt đã hư, chỉ còn nhận ra người quen qua tiếng nói.
Nghĩ cho cùng, cái chết là tất yếu, nhưng ai biết được bao giờ mình sẽ chết? Và cũng vì không ai biết trước được ngày mình chết, nên mỗi người đều đi tìm cho mình một cách sống.
Ví như loài người trên trái đất này đến tuổi 60 tất cả đều phải chết, thì không còn ai phải sửa soạn hay dành dụm cho mình để lo cho những ngày chưa chết. Chính vì cái điều mà người ta thường gọi là số mệnh, cuộc sống lâu mau của mỗi người đã làm nên, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai. Khoa tử vi cũng không giải thích được cuộc đời của hai người song sinh, cùng cha mẹ, chào đời trong một giờ, một ngày, một năm, một tháng giống nhau.
Có ai bỏ lại được mọi sự lo lắng lại cho cuộc đời này để thanh thản ra đi.
Phải chăng vì sự lo, sợ cung tần mỹ nữ sẽ không trung thành với mình hay ích kỷ muốn mang theo những vật sở hữu của mình, mà vua Khang Hy (1654-1722) đã “chôn theo” mình toàn bộ 48 phi tần của ông.
Có người chết đi, “yêu mình” đến nỗi lo sợ sự nghiệp của mình không ai nhớ đến, nên lo đúc tượng mình khi còn sống. Nhà thơ Hàn Mặc Tử lãng mạn than khóc vì cuộc đời vốn đã bất hạnh của mình, sợ rồi khi mình nằm xuống, “không có nàng tiên mô đến khóc, đến hôn anh và rửa vết thương tâm!”
Nguyễn Du cũng ngậm ngùi “bất tri tam bách dư niên hậu, thiện hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Làm chính trị cũng lo lắng chuyện dở dang, bất thành: -“Tôi chết thì trả thù cho tôi!”
Nhà văn Võ Phiến trước khi qua đời cũng băn khoăn: – “Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?” (Nguyễn Hưng Quốc, 1 Tháng Mười, 2015)
Thì ra, trước khi qua đời, ai cũng có cái lo, mỗi người lo một cách.
Chết rồi, có người chẳng muốn thiêu vì sợ nóng, nhưng cũng có người không muốn chôn, vì nằm đó, mà chẳng có đứa con nào viếng thăm, “thì buồn chết được!” Chết thì hẳn đã chết rồi, mà người chết rồi làm sao biết buồn nữa! Có người đã lớn tuổi, đau ốm quanh năm, muốn về Việt Nam thăm bà con một chuyến, nhưng bắt các con hứa, nếu lỡ có mệnh hệ nào, thì các con nhớ mang cha trở lại Mỹ. Có người ở tù Cộng Sản năm bảy năm, sang được Mỹ, bây giờ chết lại đòi mang quan tài về Việt Nam. Như vậy, chết vẫn chưa là hết, chết cũng còn nằm trong kế hoạch, chương trình, sau khi nắp quan tài được đậy lại.
Có những cái chết mang lại thương tiếc cho tất cả mọi người, có những tấm lòng và công việc của những người chết mà không ai có, không ai thay thế được, nhưng trái lại, có những người sống lâu, bị người đời nguyền rủa. Trong những cái “chẳng khoái ư!” của ông Lâm Ngữ Đường, tác giả kể chuyện ông Kim Thánh Thán, sáng sớm thức giấc, nghe đêm qua con người giảo quyệt, mưu mô nhất trong làng vừa chết, ông bèn “chẳng khoái ư?” Thoạt đầu, tôi trộm nghĩ, đã là con người với nhau, thằng xảo quyệt ấy chết, mình không buồn thì cũng dửng dưng, có đâu lòng dạ lại cảm thấy sung sướng được, như thế chẳng hóa ra bất nhân! Nhưng nghĩ lại, nếu mình không là nạn nhân, không là người chịu đựng những nỗi khổ đau trầm luân của người trong cuộc, thì không thể thông cảm với cái “vui” khi thấy người khác chết! Một con người hay một chế độ cũng vậy!
Sống bao lâu là đủ, chết lúc nào là vừa?
Phải chăng câu trả lời còn tùy theo sự sống của mỗi người.
Lợi ích của cây đa, cây đề là còn cho con người bóng mát, chứ không phải là nơi người ta gửi những cái ông bình vôi sứt mẻ để tạo ra một hình ảnh tôn kính quá đáng. Chúng ta chọn hình ảnh người tướng lãnh chết giữa trận tiền hay sống tàn tạ, chết già nua trong sự quên lãng của mọi người. Đối với một người lính, chúng ta chọn giữa cái chết hay sự sống dần dần phai nhạt?
Chưa có ai từ cõi chết trở lại cõi sống để mô tả cho con người biết cái chết, cũng không có bằng chứng khoa học về ý thức sự sống sau cái chết của một sinh vật, nhưng hầu hết tôn giáo đều cho rằng nếu chúng ta hình dung cái chết như là một sự biến mất, một sự chấm dứt, không còn lưu lại gì cả thì nhất định đó là một sự sai lầm.
Nhưng có một điều chúng ta ai cũng phải nghĩ đến là có sinh thì có diệt, có sống tất phải có cái chết!
“Chẳng ai sống đời đời, kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, anh em nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống…” “Thi nhân, riêng mình, nào phải viết bài thơ trường cửu. Hoa nở rồi tàn. Và, ai đó đã cài hoa lên áo, cũng chẳng cần khóc thương mãi mãi làm gì. Đấy, anh em, nhớ kỹ điều đó, và vui lên mà sống.” (Rabindranath Tagore – Đỗ Khánh Hoan dịch)
Alan Phan là một doanh nhân nổi tiếng, từng tổ chức và hoàn tất chuyển giao 18,000 xe lăn tại Việt Nam và Indonesia, vừa qua đời, tạm khép lại giấc mơ ông đang ấp ủ cho quê nhà: “20 triệu máy tính cho trẻ em Việt Nam.” Tuy vậy, chỉ ba tháng trước khi ra đi, cảm nhận được những bất trắc của cuộc đời, Alan Phan đã bình thản nhận mình “rất bình an với những gì mình đã có, đã mất, đã thua, đã thắng, nghĩa là cái chuyện nó đã xảy ra rồi, thế thôi.”
Trên mọi sự, ông đã không những “forget” mà còn “forgive!”
(Nhân ngày tiễn đưa Tiễn Sĩ Alan Phan, 25 Tháng Mười Một, 2015)
Lê Minh Nguyên
29-10-2015
Các cường quốc thường hay lấn luớt nhược tiểu và thường hay thương thảo để chia chác quyền lợi trên đầu nhược tiểu.
Khi soạn luật biển UNCLOS, các cường quốc biển mà trong đó có Hoa Kỳ muốn vùng nước chủ quyền thật nhỏ, vùng biển quốc tế thật to để tàu thuyền của họ dễ tung tăng không bị ràng buộc. Đã vậy mà HK cũng không phê chuẩn, nhưng lại tôn trọng UNCLOS trong thực tế. Ngược lại, Trung Quốc phê chuẩn nhưng không tôn trọng.
Nạn nhân rõ ràng nhất trong trò chơi quyền lực này là Việt Nam và Phi. TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974, HK lúc đó đang đứng cạnh nhưng không can thiệp vì đã làm bạn với TQ để chống Liên Xô, nên có quyền lợi chiến lược lớn hơn. Tháng Hai năm 1979 TQ đánh VN thì ngày 29/1/1979 Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, thông báo TT Carter là ông sẽ đánh VN và nhờ HK giúp thông tin tình báo qua vệ tinh quan sát biên giới Nga – Hoa xem Liên Xô có động binh hay không. Năm 1988 TQ mượn cớ giúp Liên Hiệp Quốc lập trạm thăm dò khí tượng ở Trường Sa để bắn giết 64 binh sĩ VN, chiếm Gạc Ma và các đảo mà VN sở hữu, HK và các cường quốc tây phương làm lơ để mặc.
Năm 1995 TQ chiếm Vành Khăn, Phi viện dẫn hiệp ước liên minh quân sự với HK để cầu cứu TT Clinton, nhưng HK nói hiệp ước không bao gồm Vành Khăn. Năm 2012 TQ chiếm Scarborough và HK cũng làm lơ. Hiện giờ TQ đang bao vây Cỏ Mây không cho tiếp tế để Phi bỏ đảo và HK cũng đang làm lơ.
Trong khi đó thì HK, đứng trước đòi hỏi mạnh mẽ của Nhật sau khi Nhật nghi ngờ TT Obama đâm sau lưng mình khi đi bách bộ nói chuyện riêng với ông Tập Cận Bình ở Palm Springs ngày 7/6/2013, nên cuối cùng đã chính thức lên tiếng xác nhận là Senkaku có trong liên minh quân sự Mỹ-Nhật. HK có sự khác biệt đối xử vì Nhật là cường quốc, có sức mạnh nội lực và có vai trò an ninh chiến lược ở vùng Đông Bắc Á.
Tàu Lassen đi vào Trường Sa ngày 27/10/2015 mà theo các viên chức quốc phòng HK, có lộ trình 72 hải lý đi từ phía bắc đến phía tây nam, qua vùng chủ quyền 12 (CQ12) của các đảo mà Phi và Việt Nam có chủ quyền, và vào vùng 12 hải lý của đảo Subi, nhưng không vào vùng 12 của Vành Khăn (Reuters 27/10).
Mục đích chính yếu là để khẳng định quyền tự do hàng hải theo UNCLOS và không dính líu gì cả đến vấn đề chủ quyền, có nghĩa là các đảo ấy, hay cả quần đảo là của ai thì HK cũng chấp nhận thôi!
Vấn đề thực sự là lưu thông hàng hải theo UNCLOS mà HK và TQ thông dịch luật này khác nhau.
Lưu thông vô hại (innocent passage) hay chỉ cần đường đi ngang chứ không có ý đồ gì khác thì được đi vào vùng CQ12. TQ đã sử dụng quyền này tháng 8/2015 vừa qua ở eo biển Alaska, khi đi qua vùng quần đảo Aleutian. Tàu Lassen đi vào Subi thì cũng không khác gì mấy, nhưng để tránh va chạm hai bên đã chuẩn bị cho nhau cả tháng trước đó.
Vùng nước chủ quyền 12 hải lý chung quanh chỉ áp dụng cho đá/đảo nổi khi triều dâng và thiên nhiên chứ không do nhân tạo. Subi và Vành khăn không hội đủ điều kiện này vì nửa nổi nửa chìm nên chỉ có vùng nuớc chủ quyền 500 mét. TQ muốn nó là 12 hải lý nhưng mập mờ. Vì không có UNCLOS để bảo vệ Subi nên TQ nhuờng nhịn HK, nhưng với các nước khác thì không, kể cả Nhật, như TQ đã từng tuyên bố.
Vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý thì HK cho rằng nước chủ chỉ có chủ quyền trên tài nguyên (cá, khoáng sản) và nước chủ không được ngăn cản trên các lãnh vực khác như dọ thám, tập trận, vẽ bản đồ, nên tàu/máy bay đi vào không cần phải xin phép mà chỉ cần thông báo. Ngược lại, TQ thông dịch là hoạt động của các nước khác phải xin phép và đã rất khó chịu khi HK cho máy bay và tàu vào thám thính gần Hải Nam, nơi TQ đặt căn cứ tàu ngầm.
Theo Diplomat 27/10, kể từ chuyến thăm HK của ông Tập vào cuối tháng 9/2015, các viên chức giấu tên của HK cho biết là đã liên tục và đều đặn thông tin việc tàu HK sẽ vào vùng 12 ở Trường Sa. Sự loan báo của giới truyền thông có vai trò đếm ngược (countdown) đi từ vài tuần đến vài ngày rồi đến 24 giờ. Đó là một sự cố ý, thiết kế để cung cấp cho TQ đầy đủ sự báo trước – và đầy đủ thời gian để TQ hình thành các phản ứng chính thức (hơn là để trong tay các viên chức quân sự ở thực địa phản ứng).
Việc 5 tàu chiến TQ đi vào vùng CQ12 ở Alaska mà HK không phản ứng gì cả, nhất là khi đó TT Obama có mặt ở Alaska, làm cho người ta có cảm giác đây là một vở kịch được cẩn thận dàn dựng, có tính cách sòng phẳng ‘quid pro quo’ bánh ít đi bánh quy lại. Cho nên dù TQ có vẻ không chấp nhận Điều 17 của UNCLOS về ‘quyền đi qua vô hại’, TQ cũng đáp lễ lại HK khi tàu Lassen đi vào vùng 12 của đá Subi, bằng cách chỉ phản ứng chiếu lệ cho có, bỏ qua các tranh cãi là Subi có vùng CQ12 hay không. Theo báo Economist 27/10, các tranh chấp từ trước đến nay giữa HK và TQ không nhằm vào vùng CQ12 mà là vùng EEZ.
Một quan chức quốc phòng Mỹ giấu tên nói rằng “Đây không phải là cuộc tuần tiễu cuối cùng” và có khả năng trở nên thường xuyên hơn trong tương lai (VOA 28/10). Tuy nhiên nó không có giá trị gì nhiều cho các nước khác như Việt Nam vì:
Đây là vấn đề thông thương hàng hải chứ không phải là vấn đề chủ quyền, và là việc diễn dịch UNCLOS như thế nào để các bên đều đồng ý là đảo nào có vùng CQ12, đảo nào có EEZ và những giới hạn nào ở vùng EEZ.
TQ có một chính sách kỳ thị đối xử, dù việc đi phù hợp với UNCLOS nhưng chỉ HK mới được lưu thông bên trong quần đảo Trường Sa, còn các nước khác thì không, kể cả Nhật Bản. Hơn nữa, TQ cố tình mù mờ trong việc áp dụng UNCLOS để có thể giải thích theo ý riêng của kẻ mạnh và dùng UNCLOS làm bình phong. Thực tế là TQ áp dụng luật sức mạnh.
Nếu chỉ HK đi vào vùng và các nước khác không vào để tạo thành những tuyến qua lại thông thường thì HK chỉ cuỡi ngựa xem hoa, chủ vườn vẫn là TQ. TQ đã lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông (ADIZ), HK không công nhận, cho B-52 bay qua nhưng chỉ một lần, còn các hãng hàng không dân sự HK được chính quyền HK khuyên là nên tuân thủ các quy định của TQ. Máy bay Lào hôm 25/7/2015 bị TQ đuổi trở lại Nam Hàn. HK đã đánh trống bỏ dùi và thực tế là ADIZ có hiệu lực.
HK không vào vùng 12 từ năm 2012 tức là đã 3 năm, đủ dài để TQ làm mưa làm gió trong vùng. Việc HK hứa hẹn trở lại, dù nói là thường xuyên cũng không ai biết là bao giờ, trong khi TQ có khả năng xây mỗi năm một thành phố lớn cỡ Los Angeles thì việc xây thêm các đảo nhân tạo ở Trường Sa là chuyện nhỏ.
HK chỉ muốn kiểm tra /ngó chừng TQ đừng dùng sức mạnh quá đáng hay vũ lực khi trỗi dậy thành siêu cường, chứ không có ý ngăn chặn TQ trở thành siêu cường, cho nên khi chưa có yếu tố vũ lực thì HK có lý cớ để ngó lơ, mà hệ quả là các nước nhỏ trong vùng bị thiệt hại qua chính sách ‘lát cá’ của TQ.
HK chỉ cho cần câu để những nước nhỏ như VN, Phi, Mã tự bắt cá chứ HK không cho cá. VN và các nước phải tự bảo vệ chủ quyền của nước mình. HK có thể giúp tàu, các khí cụ bảo vệ biển đảo, hay kỹ thuật chế tạo vũ khí, chứ HK không can thiệp quân sự thế cho những nước này.
Để kết luận, có thể nói rằng sự kiện Lassen 27/10 tuy cần thiết nhưng chỉ là bước đầu muộn màng mà Nghị sĩ John McCain nói, lẽ ra phải được thực hiện từ lâu và HK nên tiến hành những hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên không, trên biển trong những tuần lễ và những tháng tới (VOA 28/10). Nó giúp kềm chế TQ trong vấn đề lập vùng kiểm soát quá lớn ở Trường Sa, vi phạm UNCLOS. Nó không cuốn lại (rollback) những gì TQ đã làm. Nó cũng không có khả năng làm TQ dừng xây dựng ở những nơi họ đã bồi đắp. Nó cũng không có khả năng ngăn chận TQ chiếm thêm trong số khoảng 209 rạn san hô chưa ai chiếm đóng và xây dựng chúng thành đảo nhân tạo.
Trong vấn đề chủ quyền, Việt Nam vẫn còn bơ vơ và càng ngày càng yếu đi khả năng bảo vệ Trường Sa, bởi do đảng CSVN không có khả năng xây dựng nội lực dân tộc.
Thanh Trúc, phóng viên RFA
Khu trục hạm USS Lassen của hải quân Mỹ, có trang bị tên lửa dẫn đường, đã tiến vào khu vực 12 hải lý quanh hai bãi đá Subi và Vành Khăn là nơi Trung Quốc cho bồi đắp thành các đảo nhân tạo trong thời gian qua.
Trong khi Việt Nam chưa chính thức bày tỏ quan điểm, người Việt hải ngoại nói gì về động thái mới nhất này của Hoa Kỳ trên biển Đông?
Theo một viên chức quốc phòng Mỹ, cuộc tuần tra của khu trục hạm USS Lassen vào khu vực 12 hải lý quanh các bãi nhân tạo do Trung Quốc bồi đắp trong thời gian qua, đã kéo dài vài tiếng đồng hồ và là cuộc tuần tra đầu tiên trong hoạt động mang tên Tự Do Trên Biển.
Đối với giới quan sát nước ngoài, dù được gọi là hoạt động thúc đẩy tự do đi lại trên biển nhưng động thái của USS Lassen được coi như một sự thách thức Trung Quốc thường đơn phương tuyên bố chủ quyền của mình đến 90% diện tích biển Đông.
Vào khi Bộ Ngoại Giáo Trung Quốc lên tiếng nói rằng hoạt động của chiến hạm USS Lassen là bất hợp pháp, rằng Bắc Kinh sẽ theo dõi hoạt động của chiến hạm Hoa Kỳ cũng như sẽ đáp trả bất cứ hành động khiêu khích của bất cứ quốc gia nào, người Việt hải ngoại lại coi nhẹ lời đe dọa này mà và bày tỏ sự đồng tình với Washington:
Từ Moscow, nhà báo Nguyễn Minh Cần:
“Hành động vừa qua của Hoa Kỳ là bước tiến mạnh mẽ để cảnh báo Trung Quốc đừng làm càn trên Biển Đông. Mặc dù Hoa Kỳ giữ thái độ rất trung lập trên Biển Đông, tức là họ không hoan nghênh Việt Nam, Philippines hay Trung Quốc làm chuyện đó, nhưng hành động đối với Trng Quốc như thế này là một thái độ rất mạnh mẽ. Tôi cho rằng thái độ đó cũng trợ giúp cho Việt Nam mình và cái đó mình rất đáng hoan nghênh.
Tất nhiên chúng ta cũng không mong muốn có chiến tranh trên Biển Đông, nhưng mà trước thái độ điên cuồng trắng trợn của Trung Quốc thì hành động cảnh báo của Hoa Kỳ như vậy rất quan trọng, để cho bà con mình trong nước phấn khởi, tiếp tục đấu tranh dù rằng chính quyền bạc nhược không dám làm mạnh trong vấn đè này. Đây là cơ hội cơ hội cho đồng bào mình lên tiếng thật mạnh mẽ.”
Lý do mà Hoa Kỳ viện dẫn cho việc tàu chiến của mình đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh các bãi đá là Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển không công nhận các bãi đá, như Subi và Vành Khăn, không có người ở và thường là bãi chìm khi thủy triều lên, là cơ sở để khẳng định chủ quyền của một quốc gia. Từ New York, Hoa Kỳ, tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu chuyên gia về thống kê kinh tế của Liên Hiệp Quốc, cũng là người chuyên nghiên cứu về Biển Đông, cho rằng Mỹ hành động đúng lúc:
“Luật Biển nói rằng xây một hòn đảo hoặc một khu nhân tạo trên biển khơi, tôi nói biển khơi là khu biển không thuộc về ai thì không có chủ quyền, không có lãnh hải. Vì vậy Mỹ có quyền đi qua và đây là quyền mà Mỹ muốn xác định và họ nói vẫn tiếp tục làm.
Tôi nghĩ việc làm của Mỹ như vậy là đúng thời điểm chứ nếu để Trung Quốc mạnh hơn , có khả năng hơn phản ứng lại vân vân… thì sẽ gây khó khăn hơn mà có thể đưa đến chiến tranh. Còn trong trường hợp bây giờ về kinh tế và nhiều mặt khác Trung Quốc cũng phải đưa vào Mỹ cho nên chỉ dọa già chứ không dám có phản ứng bằng bạo lực.”
Từ Pháp, ông Nguyễn Gia Kiểng, tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, phát biểu với tư cách người Việt Nam ông muốn ngỏ lời cảm ơn chính phủ Mỹ đã phủ nhận một cách quyết liệt hành động bành trướng và gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông:
“Với tư cách một người Việt Nam tôi cho rằng sự kiện này là một sự kiện đáng mừng. Còn đối với tư cách một người bình thường và tôn trọng pháp lý, tôi phải nói rằng việc Trung Quốc phản đối Hoa Kỳ xâm phạm chủ quyền của họ hoàn toàn không có cơ sở. Ngay sự hiện diện của Trung Quốc ở Hoàng Sa Trường Sa đã vi phạm luật pháp quốc tế, đòi chủ quyền vùng 12 hải lý chung quanh lại càng vô lý. Trung Quốc đánh cuộc trên sự sợ hãi, trên sự lo ngại của thế giới để lấn tới. Nhưng mà Trung Quốc còn có rất nhiều vấn đề nội bộ, môi trường, kinh tế…Tôi cho rằng vấn đề Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là ván bài tháu cáý, hoa Kỳ cũng biết đó chỉ là sự tháu cáy. Tôi có thể đánh cuộc với bất cứ ai rằng sẽ không có chiến tranh trên Biển Đông.”
Mỹ không hề phạm luật khi mang tàu chiến vào vùng 12 hải lý quanh đảo nhân tạo Trung Quốc tùy tiện xây đắp, còn xung đột thì chắc chắn không thể xảy ra . Đó cũng là quan điểm của nhà văn Nam Giao , nguyên giáo sư đại học Laval ơ Quebec, Canada:
“Cả hai bên, Mỹ và Trung Quốc, đều biết rằng phải nhân nhượng với nhau để tránh những xung đột lớn hơn mà tác động có thể rất khủng khiếp. Người Việt Nam vỗ tay hoan nghênh cách hành xử của Mỹ thì cũng hết sức chính xác thôi bởi vì chuyện Trung Quốc nói vùng lưỡi bò thuộc quyền Trung Quốc nó hoàn toàn đi ngược lại với Công Ước Quốc Tế về Luật Biển.”
Nhà báo Nguyễn Văn Huy, cư ngụ tại Pháp, thường xuyên có những bài bình luận về tranh chấp lãnh hải giữa Việt Nam với Trung Quốc, cho rằng chỉ có hoa Kỳ mới đủ khả năng tạp áp lực đồng thời cảnh cáo Trung Quốc không thể dùng sức mạnh quân sự để áp đặt uy quyền và khống chế các nước đang có tranh chấp trong vùng Đông Nam Á:
“Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào là để cảnh cáo Trung Quốc không thể dùng tính cách bá quyền để áp đặt uy quyền trên khu vực tự do đi lại trên biển Đông chiếm 1/3 lưu lượng hàng hải quốc tế trong đó quyền lợi của Mỹ rất cao.
Với những điều kiện hiện nay tôi thấy sẽ có sự giàn xếp bởi vì Bắc Kinh với Washington đang có những cuộc trao đổi cấp cao về vấn đề đi lại của máy bay và tàu chiến. Hai bên sẽ có sự giàn xếp ngấm ngầm nào đó để tránh va chạm trực tiếp.”
Về phản ứng của Việt Nam, vẫn lời nhà báo Nguyễn Văn Huy, có 2 điểm cần lưu ý là phản ứng của dân và phản ứng của nhà cầm quyền:
“Phản ứng của dân chúng chúng thì “Võ quyết dày có móng tay nhọn”, sức mạnh quân sự của Trung Quốc hiện đang gặp đối thủ xứng đáng. Còn phản ứng của chính phủ tôi thấy rất tế nhị , sự tuyên bố của Việt Nam phải rất dè đạt vì nói thẳng tuy có một lực lượng hải quân đang phát triển nhưng chưa phải là đối thủ của Trung Quốc, thành ra vấn đề rất tế nhị.Khi tàu chiến của Hoa Kỳ tiến vào khu vực này thì thực sự cũng là tiến vào khu vực Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng phía Việt Nam không phát biểu hì hết. Theo bình thường của một người im lặng tức là đồng ý. Tôi nghĩ Việt Nam cũng ủng hộ sự hiện diển của tàu chiến Mỹ trên Biển Đông. Tàu chiến Mỹ tiến vào vùng này là một hy vọng mà Việt Nam tin sẽ làm cho Trung Quốc nhường bước trong vấn đề củng cố những căn cứ đã chiếm đóng của Việt Nam trên vùng Trường Sa.”
Từ tháng Chín Mỹ từng tuyên bố là hải quân và không quân Hoa Kỳ sẽ đi đến bất cứ đâu mà luật lệ quốc tế cho phép. Sau khi thực hiện cuộc tuần tra hôm qua, 27 tháng Mười, một quan chức Bộ quốc phòng Mỹ nói Washington không chỉ nhắm vào Bắc Kinh mà còn hướng đến việc tuần tra quanh các bãi đá và cơ sở nhân tạo do Việt Nam và Philippines bồi đắp trong quần đảo Trường Sa nữa.
Ít nhiều có quan điểm khác biệt với những ý kiến rên là cựu trung tá hải quân Trần Văn Sơn ở California, còn được biết đến dưới tên bình luận gia Trần Bình Nam:
“Hải quân Hoa Kỳ hay chính phủ Hoa Kỳ quyết định làm chuyện này là cũng để thử coi phản ứng Trung Quốc như thế nào. Lần này tôi nghĩ sẽ có phản ứng rộng rãi hơn qua đường ngoại giao chẳng hạn.
Còn về lâu về dài, như mình thấy tàu chạy qua rồi cũng chạy qua thôi, sau khi phản đối xong thì tàu phải trở về căn cứ. Trung Quốc nhiều lần tuyên bố sẽ ngưng kế hoạch đắp bồi thêm các đảo, lần này qua hành động của Hoa Kỳ tôi tin Trung Quốc sẽ có thái độ rất bình thường là sẽ xây cất một cách qui mô hơn và đương nhiên Hoa Kỳ cũng sẽ có thái độ phả đối, gởi thêm vài chiến mạm chạy gần các đảo đó hơn, hay là cho máy bay bay trên không phận ….Mọi việc cũng lập đi lập lại như vậy thôi và cuối cùng mình thấy rằng Trung Quốc cứ lợi dụng những việc đó mà tiếp tục xây cất.
Tôi có cảm tưởng Hoa Kỳ làm cái việc phải làm thôi, không làm thì uy tín giảm, nhưng làm thì Hoa Kỳ ở trong tình trạng Trung Quốc thắng mà Hoa Kỳ thua. Tôi nghĩ viễn ảnh tương lai có lẽ là như vậy.”
Đó là suy nghĩ và nhận định của người Việt hải ngoại trước chuyện khu trục hạm Hoa Kỳ tiền sâu vào vùng biển 12 hải lý quanh các đạo nhân tạo của Trung Quốc.
Mọi ý kiến đều được tôn trọng và đưa lên cho rộng đường dư luận song không nhất thiết phản ảnh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.
« Tòa án nhân dân » Trần Nhật Quang và những bi hài của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa
nguyenthituhuy
Vụ phe nhóm Trần Nhật Quang tấn công Nguyễn Lân Thắng và gia đình một lần nữa cho thấy chính quyền đương nhiệm muốn quay trở lại sử dụng một số biện pháp của chủ nghĩa toàn trị thời kỳ đầu, thời kỳ đẫm máu và tàn bạo với các vụ thanh trừng và giết người hàng loạt mà Việt Nam cũng không tránh khỏi, được thể hiện qua những vụ thanh trừng Nhân văn Giai phẩm và cải cách ruộng đất.
Vài năm nay dồn dập các vụ thanh trừng được thông báo rộng rãi trên các phương tiện tuyên truyền của nhà nước, mục đích của những vụ khủng bố này là để nhấn chìm toàn xã hội trong không khí sợ hãi, có thể nêu một số vụ việc : vụ Nhã Thuyên (giáo dục/văn học), vụ Kim Quốc Hoa (báo chí), vụ Nguyễn Đăng Trừng (luật), và gần đây nhất là vụ Đỗ Hùng (báo chí).
Và chỉ mới cách đây mấy ngày, xuất hiện nhóm « phản ứng nhanh tự phát » của Trần Nhật Quang. Dĩ nhiên, những người có biết chút ít lịch sử đều thấy ngay sáng kiến này (của ông Quang ?) được lấy cảm hứng từ hình thức toà án nhân dân thời kỳ cải cách ruộng đất.
Mô hình của nhóm này thực chất là mô hình « toà án nhân dân » tự phát đã được sử dụng trong cải cách ruộng đất. Mô hình đó để cho người dân tự đứng ra thành lập các nhóm tự phát với mục đích là tố cáo, kết tội, và xử tội. Tuy lần này không có màn xử tội, không có giết chóc (mặc dù không thiếu đe doạ, hành hung, theo kiểu sân khấu hề kịch, pha lẫn kịch hài dân gian và trí tuệ đỉnh cao xã hội chủ nghĩa), nhưng mục đích của toà án nhân dân tự phát do ông Trần Nhật Quang lập ra là nhằm kết tội Nguyễn Lân Thắng cùng những người bị ông ta xếp vào loại “phản động”. Và bi hài thay, ông ta cho rằng ông ta đang làm cái điều mà “chính quyền không làm được” (tôi trích nguyên văn lời ông ta).
Điều mà chúng ta, khán giả của vở bi hài kịch « toà án nhân dân Trần Nhật Quang », có thể chắc chắn, đó là : « phiên toà » của ông Quang không hề tự phát, nó được dàn dựng công phu và được cho phép. Nếu hoàn toàn tự phát và không được phép của những người có thẩm quyền thì hẳn giờ này nhóm « quần chúng tự phát » của ông Quang đã phải bị công an bắt giữ và xét hỏi, vì hành động ấy không phù hợp với luật pháp Việt Nam hiện tại.
Chúng ta cần hiểu rằng, sở dĩ vụ cải cách ruộng đất có thể diễn ra vì đó là một thời điểm đặc biệt của Việt Nam và của quốc tế. Châu Âu vừa qua khỏi đêm đen của chủ nghĩa toàn trị Đức Quốc xã, nhưng một nửa thế giới đang chìm trong thời thắng thế của toàn trị cộng sản. Còn Việt Nam, quốc gia non trẻ thành lập năm 1945, một năm sau ban hành hiến pháp, nhưng mãi đến năm 1985 mới có bộ luật hình sự đầu tiên, và mười năm sau, 1995, bộ luật dân sự đầu tiên mới được Quốc hội thông qua và đến tháng 7 năm 1996 mới có hiệu lực. Thời kỳ cải cách ruộng đất, bạo lực cách mạng lên ngôi, xã hội không được quản lý bằng luật. Vì thế mới có thể xảy ra việc chỉ cần người đứng đầu quốc gia quyết định giết những người thuộc thành phần địa chủ thì cả nước phải thi hành quyết định đó, và mới có thể xảy ra việc các « toà án nhân dân » được lập ra một cách tự phát, xét xử kết tội và tử hình không cần bằng chứng và không cần các thủ tục pháp lý, chỉ cần có người tố cáo là được.
Bối cảnh quốc tế và Việt Nam ở thập niên thứ hai của thế kỷ XXI này không cho phép diễn ra vụ việc tương tự cải cách ruộng đất.
Vậy mà «toà án nhân dân » của ông Trần Nhật Quang vẫn được lập ra ! Tình huống này quả là vừa bi đát vừa hài hước cho nền tư pháp Việt Nam. Có quá nhiều điều thú vị nếu ai đó định làm thao tác diễn giải vụ này.
Ông Thắng và gia đình hoàn toàn có thể dựa vào Bộ luật Việt Nam hiện hành để kiện ông Quang và nhóm « toà án nhân dân » của ông ta ra toà. Ông Thắng đã có đầy đủ bằng chứng để làm việc đó. Vụ kiện này có thể sẽ góp phần minh định bản chất của luật pháp Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa. Nó cũng có thể sẽ đi vào lịch sử của ngành tư pháp quốc tế như một trường hợp đặc biệt có nhiều ý nghĩa, trở thành một « trường hợp nghiên cứu » (cas d’étude) thú vị.
Tôi ghi lại dưới đây phát ngôn của Trần Nhật Quang, làm tư liệu cho những ai muốn nghiên cứu để hiểu vận hành của xã hội Việt Nam đương đại (cá nhân tôi nhìn thấy rất nhiều điều ở vụ việc này, tôi sẽ trở lại vào một dịp khác) :
« Chúng tôi, một nhóm người dân ở Hà Nội, không liên quan đến chính quyền, đã thành lập nhóm phản ứng nhanh của người dân nhằm săn lùng những tên vi phạm một trong ba tiêu chí sau đây : 1/ Xúc phạm tổ quốc và lá cờ thiêng liêng của tổ quốc, nơi công cộng. 2/ Xúc phạm các anh hùng dân tộc và lãnh tụ anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh, nơi công cộng. 3/Ca ngợi vinh danh chế độ tay sai bán nước ngụy- Việt Nam Cộng Hòa, nơi công cộng. Phạm vi săn lùng là nơi công cộng, trên đường phố, nhà riêng, hoặc nơi đối tượng đang làm việc hay là đang sinh hoạt. Mục đích là để hỏi tội. Phương pháp : 1/ Bắt xin nỗi (lỗi) vì tội tuyên truyền láo xược, nơi công cộng. 2/ Vạch tội và thông báo với chính quyền, nhân thân và hàng xóm láng giềng nơi sở tại của Nguyễn Lân Thắng nói riêng cũng như bọn phản động nói chung. Với tinh thần : chính quyền làm những việc người dân không làm được. Ngược lại, người dân chúng tôi sẽ làm những việc mà chính quyền không làm được. 3/ Chúng tôi sẽ không vi phạm pháp luật hình sự để gây khó khăn cho chính quyền : không đánh chết, không gây thương tích, không giam giữ đối tượng. Trước mắt chúng tôi mở chiến dịch « một tháng săn lùng hỏi tội Nguyễn Lân Thắng và những tên phản động xúc phạm chủ tịch Hồ Chí Minh. Đề nghị người dân cả nước : 1/ Hãy liên hệ với nhóm phản ứng nhanh của người dân thủ đô Hà Nội chúng tôi. 2/ Phát hiện Nguyễn Lân Thắng và những tên phản động khác ở bất kỳ đâu trên lãnh thổ Việt Nam, hãy gọi điện thoại cho chúng tôi và gọi điện cho nhau để cùng hỏi tội bọn chúng tại chỗ. 3/ Đề nghị mỗi tỉnh thành các bạn cũng nên lập nhóm. »
Quý độc giả có thể đối chiếu với vidéo clip được giới thiệu trong bài của Nguyễn Tường Thụy, tại link này : https://www.rfavietnam.com/node/2866
Paris, 28/10/2015
Nguyễn Thị Từ Huy
Rước Trộm Vào Nhà
Sáng sớm. Tiếng đồng hồ báo thức đổ dồn. Anh với tay tắt nó. Một ngày mới bắt đầu. Đưa tay lên làm dấu Thánh Giá, anh nguyện dâng hết mọi sự trong tay Thượng Đế quyền năng và nhân lành. Mỉm một nụ cười. Anh nhẹ nhàng bước xuống khỏi giường. Vương vai tập thể dục. Anh quyết định sẽ sống ngày hôm nay vui vẻ hơn hôm qua vì anh chợt nhận ra cuộc đời này quá ngắn và sẽ thật lãng phí nếu cứ mang tâm trạng thụ động, căng thẳng, buồn chán….
Ly cà phê nóng tỏa hương thơm nồng. Bữa sáng nay tuy đơn giản nhưng sảng khoái lạ lùng. Ánh dương tỏa xuống từ trên cao lung linh rực rỡ. Cuộc đời bỗng chốc trở nên nhẹ nhàng khi anh thay đổi cách nhìn về nó.
Đến giờ đi làm. Anh khoan thai dọn dẹp ly tách chén đĩa gọn gàng. Đóng cửa. Ấy quên, anh chưa lấy chìa khóa xe. Vẫn trong tâm trạng lạc quan, anh trở vào nhà tìm chìa khóa. Ủa, chiếc chìa khóa đâu rồi nhỉ? Anh tìm trong ngăn kéo. Không thấy. Anh lục trong phòng ngủ. Không thấy. Anh chạy vào phòng khách. Cũng không thấy. Anh kiểm tra túi áo khoác mặc hôm qua. Không thấy luôn. Kì vậy ta? Đã gần trễ giờ làm. Chiếc chìa khoá chết tiệt đâu rồi. Trời ơi, … Bực mình quá!
Một lần nữa, sự bình an lại vuột ra khỏi tầm tay anh, vì chiếc chìa khóa.
Cuối cùng, anh ra ngoài đón xe buýt đến chỗ làm việc. Mọi người chung quanh ai làm việc nấy. Bình thường. Còn anh, anh chẳng thấy những câu nói hài hước của bạn bè có gì là vui cả. Anh cảm thấy không ai hiểu mình. Anh lạc lõng giữa chốn đông người. Anh như dây đàn căng. Tất cả cũng chỉ vì….chiếc chìa khóa, dẫu rằng mặt trời vẫn chiếu sáng, chim vẫn hát ca, dẫu rằng anh vẫn còn nhà cửa, ly cà phê buổi sáng vẫn nóng hổi thơm phức, dẫu rằng ngày mai anh vẫn có thể vui vẻ đón xe buýt đi làm như mọi người và nếu anh cần thì bạn bè sẵn sàng giúp đỡ, dẫu rằng anh còn bao nhiêu thứ tốt đẹp trên đời….
Chiều đến, tan sở, anh trở về nhà. Mở cửa ra, dù rất mệt, việc đầu tiên của anh là đi tìm chiếc chìa khóa, chiếc chìa khóa của cái xe chứ không phải chiếc chìa khóa của hạnh phúc. Lại lục tung mọi thứ lên, vẫn không thấy. Anh muốn hét lên thật to cho vỡ òa cái bực dọc trong người.
Mệt lả. Buông xuôi. Anh thả mình xuống ghế cái phịch. Leng keng. Tiếng gì như tiếng chìa khóa. Anh bừng tỉnh. Ở đâu thế nhỉ? À, thì ra hôm qua lúc về nhà, anh bỏ chìa khóa xe trong túi quần. Nó rớt ra, lọt vào khe của cái ghế.
Cả một ngày mất an vui chỉ vì cái chuyện cỏn còn con. Tên trộm vặt vào nhà tâm hồn của anh cướp đi kho tàng hạnh phúc. Tên trộm ấy do chính anh rước về.
+++++
Thầy ơi, đã bao lần con tự đánh mất niềm an vui mà Thầy đã ban cho con và mong mỏi con luôn giữ lấy để đời con chìm trong hạnh phúc. Một câu nói gió thoảng mây trôi đủ làm con khó chịu. Một cái nhìn không thân thiện khiến con bỗng bực tức. Một trái ý đủ làm con nổi giận. Một dự tính không thành đủ gây cho con nản lòng. Một yếu đuối con người đủ giam hãm con trong ngục tù tự ti. Một vấp ngã lỗi tội đủ làm con nghi ngờ chính tình yêu bao la của Thầy dành cho con. Một biến cố bình thường xảy ra theo quy luật cuộc sống đủ làm con hoảng loạn mất thăng bằng…. Thầy ơi, còn nhiều tên trộm vặt như thế vẫn đang lảng vảng rình rập xung quanh con. Thầy ơi, sự bình an Thầy ban cho con quý giá lắm. Xin giúp con khôn ngoan giữ thật chặt trong lòng mình.
“Thầy để lại bình an cho anh em.
Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.
…Can đảm lên. Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 14:27; 16:33)
Cảm ơn Thầy!
Lm. Jos.Tuấn Việt,O.Carm
Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?
– Từ năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có 1 bằng sáng chế. Trong khi đó, năm 2011, chúng ta không có bằng sáng chế nào được đăng ký.
Không bằng sáng chế là chuyện… bình thường?!
![]() |
| Việt Nam không có bất cứ bằng sáng chế nào được đăng ký tại Mỹ trong năm 2011. Ảnh minh họa. |
Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.
Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó.
Để bảo đảm tính “khách quan”, người viết không thống kê số bằng sáng chế Mỹ của chính nước Mỹ. Bài viết chỉ đề cập số bằng sáng chế Mỹ trong năm 2011, và được trích lục từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu nhập được lấy từ BBC.
Theo thống kê, Nhật Bản là nước đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; trong năm 2010, Trung Quốc cũng được xếp thứ 8 với 2657 bằng sáng chế.
Bảng 1: Nhóm 10 nước dẫn đầu (trừ Mỹ):
| Hạng | Nước | Dân số (triệu) | Số bằng sáng chế 2011 |
| 1 | Nhật Bản | 126.9 | 46139 |
| 2 | Hàn Quốc | 48.9 | 12262 |
| 3 | Đức | 82.1 | 11920 |
| 4 | Đài Loan | 23 | 8781 |
| 5 | Canada | 34.3 | 5012 |
| 6 | Pháp | 62.6 | 4531 |
| 7 | Vương Quốc Anh | 62.4 | 4307 |
| 8 | Trung Quốc | 1,350 | 3174 |
| 9 | Israel | 7.3 | 1981 |
| 10 | Úc | 21.5 | 1919 |
(Trung Quốc: không tính Hồng Kông và Ma Cao)
Trong khu vực Đông Nam Á, đất nước nhỏ bé Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế (một đất nước xa xôi ở Bắc Âu với dân số tương đương, Phần Lan với 5.3 triệu dân cũng có 951 bằng sáng chế). Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011.
Bảng 2: Nhóm vài nước Đông Nam Á:
| Hạng | Nước | Dân số (triệu) | Số bằng sáng chế 2011 |
| 1 | Singapore | 4.8 | 647 |
| 2 | Malaysia | 27.9 | 161 |
| 3 | Thái Lan | 68.1 | 53 |
| 4 | Philippines | 93.6 | 27 |
| 5 | Indonesia | 232 | 7 |
| 6 | Brunei | 0.407 | 1 |
| 7 | Việt Nam | 89 | 0 |
Trong bối cảnh Việt Nam phải hội nhập với thế giới bên ngoài về mọi mặt, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, kết quả thống kê trên thật sự đáng ngại cho khoa học Việt Nam. Chia sẽ vấn đề này, PGS. Phạm Đức Chính (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Nghiên cứu cơ bản của Việt Nam chúng ta so sánh trong khu vực, trên cơ sở thống kê công bố quốc tế ISI, thua kém khá xa so với Singapore, Malaysia và Thái Lan. Về mặt công nghệ, ứng dụng thì tình hình còn tệ hơn, như theo một chỉ số quan trọng mà thống kê này cho thấy. Nếu như cứ cho rằng tiềm năng thực của chúng ta không tệ tới mức như vậy, thì năng lực hội nhập của chúng ta lại còn yếu hơn nữa. Mà yếu tố sống còn và đi lên của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mọi mặt hiện nay, là chúng ta phải hội nhập được với thế giới.
Tuy nhiên, một thực tế là vấn đề tác quyền ở Việt Nam chưa được xem trọng một cách đúng mức. GS. Nguyễn Đăng Hưng (nguyên Trưởng khoa Cơ học phá hủy, Đại học Liège, Bỉ) chia sẻ: “Tôi không ngạc nhiên về những con số thống kê mà các tác giả đã có công tra cứu tham khảo. Bằng sáng chế là thước đo đẳng cấp công nghệ kỹ thuật của một nước. Việt Nam kém cỏi về công bố quốc tế về khoa học. Nhưng tụt hậu về khâu công nghệ kỹ thuật, không có bằng sáng chế đăng ký thì quả là trầm trọng hơn”.
Nhà dưỡng lão ở Mỹ
Tác giả: BS Trần Công Bảo đã từng là giám đóc y tế của nhiều viện dưỡng lão với bài viết dưới đây, Ông trình bày ngọn nguồn rất thực tế , cơ quan mà người già hay người tàn tật đã có lần nghĩ thoáng qua ,nhưng dĩ nhiên lờ mờ chua rõ …
Người già ở hải ngoại: sự am hiểu về VDL là nên ! ,vì không ai biết đươc tương lai ..!?
Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn. Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time) đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…
Nursing Home – Viện Dưỡng Lão
Bs Trần Công Bảo
Cổ nhân có câu: “sinh, bệnh, lão, tử”. Bốn giai đoạn này không ai có thể tránh khỏi. Chuẩn bị ứng phó với bệnh tật và tuổi già của mình và của thân nhân mình là điều ai cũng có dịp nghĩ tới, kể cả chính kẻ viết bài này là tôi cũng đang sắp sửa bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi”.
Anh bạn thân của tôi, Bs. TNT từ lâu có đề nghị tôi viết một bài về “Viện Dưỡng Lão” (VDL) để giúp bà con mình có thêm một chút khái niệm về VDL vì anh biết trong suốt 27 năm qua tôi đã liên tục săn sóc cho các cụ già tại các viện dưỡng lão, và cũng đã là “Giám Đốc Y Tế” (Medical Director) của nhiều VDL trong vùng. Nay tôi muốn chia sẻ cùng qúy bạn một số kinh nghiệm và hiểu biết về VDL.
Trong Việt ngữ chúng ta thường dùng từ Viện Dưỡng Lão, nhưng trong Anh ngữ thì có nhiều từ khác nhau như Nursing home, Convalescent home, Rehabilitation and Nursing center, Skilled nursing facility (SNF), Rest home… Nói chung, VDL là một nơi cho những người bị yếu kém về thể xác không thể tự săn sóc cho mình được trong cuộc sống hàng ngày. Thí dụ như không thể nấu nướng, giặt giũ, đi chợ… nặng hơn nữa như không đủ sức để làm những việc tối cần thiết cho cuộc sống như ăn uống, đi tiêu, đi tiểu… hoặc cần phải có thuốc men đúng lúc mà không thể tự làm được.
Khi nói tới VDL người ta thường chỉ nghĩ tới những người già mà thôi. Thật ra có nhiều người “trẻ” nhưng vì tật bệnh không thể tự lo cho mình được cần phải có sự giúp đỡ của SNF (skilled nursing facility). Vậy thế nào là VDL?
VDL là nơi cung cấp những dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cho những người không đủ khả năng lo cho chính mình. Tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh tật mà có những VDL khác nhau:
1- Skilled Nursing Facility (SKF): là nơi cung cấp những dịch vụ cho những người bị khuyết tật nặng như tai biến mạch máu não gây nên bán thân bất toại, hôn mê lâu dài, hoàn toàn không còn khả năng ngay cả trong việc ăn, nuốt, tiêu, tiểu… Thường thường tại SNF có hai phần: phục hồi (rehabilitation) và săn sóc sức khỏe (nursing care). Có những người sau khi được giải phẫu thay xương khớp háng (hip replacement), thay đầu gối (knee replacement), hay mổ tim (bypass, thay valve tim) … cần thời gian tập dượt để phục hồi (rehabilitation). Sau đó họ có thể về nhà sinh hoạt bình thường cùng gia đình.
2- Intermediate care facility (ICF) : cung cấp dịch vụ cho những người bệnh như tật nguyền, già cả nhưng không cần săn sóc cao cấp (intensive care). Thường thường những người này không có thân nhân để lo cho mình nên phải vào đây ở cho đến ngày cuối cùng (custody care).
3- Assisted living facility (ALF): Thường thường những người vào ALF vẫn còn khả năng tự lo những nhu cầu căn bản như tắm rửa, thay quần áo, đi tiêu, đi tiểu một mình được. Họ chỉ cần giúp đỡ trong việc bếp núc, theo dõi thuốc men và chuyên chở đi thăm bác sĩ, nhà thờ, chùa chiền hay mua sắm lặt vặt. Họ vẫn còn phần nào “độc lập”.
4- VDL cho những người quá lú lẫn (Alzheimer facility):có những bệnh nhân bị lú lẫn nặng, đến nỗi không nhận ra người thân như vợ, chồng, con cháu nữa. Không biết tự đi vào buồng tắm, phòng vệ sinh để làm những công việc tối thiểu. Họ không biết họ ở đâu, dễ đi lang thang và lạc đường. Nếu ở nhà thì phải có người lo cho 24/24. Những VDL dành riêng cho những bệnh nhân này, thường là “locked facilty”, cửa ra vào được khóa lại để bệnh nhân không thể đi lạc ra ngoài. Cách đây khá lâu đã có trường hợp một bệnh nhân đi ra khỏi viện, lạc đường, bị xe lửa cán chết! Từ đó có locked facilty. Đôi khi cũng có những viện bệnh nhân được gắn alarm vào cổ chân. Nếu bệnh nhân đi qua cửa thì alarm sẽ báo động và nhân viên sẽ kịp thời mang về lại.
NHỮNG DỊCH VỤ ĐƯỢC CUNG CẤP TẠI VDL : Điều này tùy theo từng viện. Tuy nhiên những dịch vụ sau đây là cần thiết:
1- Phòng ngủ.
2- Ăn uống
3 – Theo dõi thuốc men
4- Những điều tối thiểu hàng ngày như tắm rửa, thay quần áo, vệ sinh cá nhân…
5- 24/24 lo cho những trường hợp bệnh khẩn cấp.
6- Sinh hoạt hàng ngày như giải trí, tôn giáo…
7- Vật lý trị liệu. Dịch vụ này rất quan trọng để giúp người bệnh có thể phục hồi càng nhiều càng tốt. Trong vật lý trị liệu có nhiều dịch vụ khác nhau:
a- Tập dượt (physical therapy): như tập đi, tập lên xuống cầu thang, tập tự vào giường ngủ hay ra khỏi giường một cách an toàn, không vấp ngã…
b- Speech therapy: tập nói, tập nuốt khi ăn uống… Có những bệnh nhân bị stroke, không thể nói hay ăn được, cần được tập để phục hồi chức năng này.
c- Occupational therapy: Tập mang giầy, bí tất (vớ)… Tập sử dụng bếp gaz, bếp điện cho an toàn để tránh bị tai nạn.
AI TRẢ TIỀN CHO VDL? Có nhiều nguồn tài trợ khác nhau:
1- Medicare
2- Medicaid (ở California là Medi-Cal).
3- Bảo hiểm tư, có nhiều người mua sẵn bảo hiểm cho VDL.
4- Tiền để dành của người bệnh (personal funds).
MEDICARE là do qũy liên bang, chỉ trả tối đa 100 ngày cho những bệnh nhân cần tập dượt để phục hồi chức năng tại một skilled nursing facility (SNF). Thường những bệnh nhân bị stroke, gãy xương… cần dịch vụ này. Medicare KHÔNG TRẢ cho custody care.
MEDICAID là do qũy liên bang và tiểu bang. Qũy này trả nhiều hay ít là tùy từng tiểu bang. Medicaid trả cho dịch vụ y tế và custody care.
BẢO HIỂM TƯ thì tuy theo từng trường hợp sẽ có những quyền lợi khác nhau, nhưng thường rất hạn chế.
Hiện nay người ta ước lượng trên nước Mỹ có khoảng 1.4 triệu người sống trong 15,800 VDL. Các VDL này đặt dưới sự kiểm soát của bộ y tế, đặc biệt là do Centers for Medicare & Medicaid Services (CMS) giám sát. Hàng năm các VDL đều phải trải qua một cuộc kiểm tra rất gắt gao (survey) của CMS. VDL nào không đúng tiêu chuẩn thì có thể bị đóng cửa! Mục đích kiểm tra của CMS là để bảo đảm cho các bệnh nhân tại VDL được săn sóc an toàn, đầy đủ với chất lượng cao. Đồng thời tránh những trường hợp bị bỏ bê (negligence) hay bạo hành (abuse) về thể xác lẫn tinh thần. Tại mỗi VDL đều có lưu trữ hồ sơ kiểm tra cho công chúng xem. Bất cứ ai cũng có thể xem kết quả của các cuộc kiểm tra này. Tất cả các VDL đều phải có các biện pháp để bảo đảm sự săn sóc cho bệnh nhân theo đúng tiêu chuẩn. Nếu không sẽ bị phạt tiền, và có những trường hợp bị đóng cửa.
Trên đây tôi đã trình bày sơ qua về những điểm chính của VDL. Tuy nhiên, như quý bạn đã từng nghe và biết, có nhiều khác biệt giữa những VDL. Theo tôi nhận xét thì quan niệm chung của mọi người là “không muốn vào VDL”. Chúng ta từng nghe những chuyện không tốt thì nhiều, mà những chuyện tốt thì ít. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, là câu ngạn ngữ người mình vẫn nói từ xa xưa đến nay. Tôi đã đọc không biết bao nhiêu là bài viết về việc con cái “bất hiếu”, bỏ bố mẹ, ông bà vào VDL rồi không đoái hoài tới. Tôi cũng thấy nhiều trường hợp các cụ vào VDL một thời gian rồi không muốn về nhà với con cháu nữa! Trên đời này không có gì là tuyệt đối cả, trong cái hay có cái dở, và trong cái dở lại có thể tìm ra cái hay. Vậy chúng ta rút tỉa được kinh nghiệm gì trong vấn đề này? Tôi chỉ xin nêu lên những nhận xét chủ quan của riêng tôi mà thôi. Có thể quý vị không đồng ý hết, nhưng nếu rút tỉa được ít nhiều ý kiến xây dựng thì “cũng tốt thôi”.
NHỮNG “BỆNH” CÓ THỂ DO VDL GÂY RA:
1- Lo lắng (anxiety): Trong tháng 9/2011 những nhà nghiên cứu hỏi ý kiến của 378 bệnh nhân trên 60 tuổi nằm VDL tại thành phố Rochester, New York. Kết qủa là có trên 27.3% trả lời là họ bị bệnh lo lắng, từ vừa đến nặng. Nếu không được chữa trị sẽ đưa đến bệnh trầm cảm (depression). Nên nhớ là 378 bệnh nhân này là người Mỹ chính cống, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Chúng ta hãy tưởng tượng người Việt mình không biết rành tiếng Anh, không hợp phong tục, tập quán thì sự khó khăn sẽ nhiều như thế nào! Còn một vấn đề nữa là thức ăn, chúng ta quen “nước mắm, thịt kho”…, làm sao mà có thể nuốt hamburger, sandwich… ngày này qua ngày khác! Các vấn đề này càng làm bệnh lo lắng, trầm cảm nặng thêm!
2- Phản ứng của thuốc (adverse drug reactions): Trong tháng 1/2012 ngưòi ta theo dõi các bệnh nhân tại VDL, kết qủa là ít nhất 40% các bệnh nhân dùng trên 9 loại thuốc khác nhau. Uống càng nhiều thuốc thì phản ứng càng nhiều. Có ba loại phản ứng khác nhau:
a- Phản ứng phụ (side effects): thí dụ như uống aspirin làm bao tử khó chịu, thuốc cao máu làm táo bón… Loại này thường xảy ra, không cần phải ngưng thuốc.
b- Drug interference: (tạm dịch là thuốc đối tác với nhau): có nhiều loại thuốc uống chung với nhau sẽ làm tăng hoặc giảm sức tác dụng. Thí dụ thuốc loãng máu coumadin mà uống chung với thuốc tim như amiodarone sẽ làm dễ chảy máu. Có những thức ăn hay nước uống dùng chung với thuốc cũng ảnh hưởng đến thuốc. Thí dụ uống nước bưởi hay nho với một vài loại thuốc cũng sẽ tăng sức tác dụng của thuốc, dễ gây ngộ độc.
c- Dị ứng với thuốc (allergic reaction): Loại này nguy hiểm hơn, thường làm da nổi mề đay, đỏ, ngứa. Nếu nặng thì có thể chết được như phản ứng với penicillin chẳng hạn. Nếu bị dị ứng thì phải ngưng thuốc ngay.
3- Ngã té (fall): Người già rất dễ bị té ngã gây nên nhiều biến chứng quan trọng như chảy máu trong đầu (intracranial bleeding), gãy xương (như gãy cổ xương đùi, tay…). Khi già quá hoặc có những bệnh ảnh hưởng đến sự di chuyển, không còn đi lại vững vàng, nhanh nhẹn như lúc trẻ nên dễ vấp, té ngã.
4- Da bị lở loét (decubitus ulcers): Những người bị liệt giường, không đủ sức để tự mình xoay trở trên giường, rất dễ bị lở loét da gây nên nhiều biến chứng tai hại.
5- Nhiễm trùng (infection): như sưng phổi, nhiễm trùng đường tiểu…nhất là những người cần phải dùng máy móc như máy thở (respirator), ống thông tiểu (Folley catheter)…
6- Thiếu dinh dưỡng, thiếu nước (malnutrition, dehydration): Ở các cụ già thì trung tâm khát (thirst center) trong não không còn nhạy cảm nữa, nên nhiều khi cơ thể cần nước mà không thấy khát không uống nên bị thiếu nước. Cái cảm giác “ngon miệng (appetite) cũng giảm đi nên không muốn ăn nhiều gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng.
VẬY CÓ NÊN VÀO VDL KHÔNG? Việc này thì tùy trường hợp. Theo tôi:
1- Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn. Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time) đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…
2- Nếu không thể ở nhà được, mà tài chánh cho phép thì có thể ở những assisted living facilities. Ở đây thường họ chỉ nhận tiền (personal funds) chứ không nhận medicare & medicaid. Tại đây thì sự săn sóc sẽ tốt hơn.
3- Group homes (nhà tư): Có những người nhận săn sóc cho chừng 4-6 người mỗi nhà. Họ cũng lo việc ăn uống, chỗ ở, thuốc men, chở đi bác sĩ…Thường thì rẻ hơn tùy từng group.
4- Nếu “chẳng đặng đừng” phải vào VDL thì phải làm sao để có được sự săn sóc “tốt nhất”?
a- Làm sao để lựa chọn VDL:
* Vào internet để xem ranking của VDL (tương tự như các tiệm ăn có xếp loại A, B, C…)
* Mỗi VDL đều phải có cuốn sổ phúc trình về các cuộc kiểm tra (survey) do bộ y tế làm hàng năm. Trong đó bộ y tế sẽ nêu lên những khuyết điểm mà họ đã tìm thấy. Cuốn sổ này được để ở khu công cộng (public area) trong khuôn viên của VDL. Hỏi receptionist thì họ sẽ chỉ cho.
* Hỏi ý kiến thân nhân những người có thân nhân đang nằm tại đó.
* Quan sát bên trong và ngoài của VDL: xem có sạch sẽ, không mùi hôi, nước tiểu. Theo dõi cách đối xử, săn sóc của nhân viên với bệnh nhân.
* Nếu có thể thì tìm một VDL có nhiều người Việt đang ở để có nhân viên nói tiếng Việt, có thức ăn Việt, có chương trình giải trí theo kiểu Việt.
b- Nếu đã quyết định chọn VDL cho người thân rồi thì phải làm gì sau đó?
* Chuẩn bị tư tưởng không những cho bệnh nhân mà con cho cả chính mình và mọi người trong gia đình để có được sự chấp nhận (acceptance) càng nhiều càng tốt.
* Thăm viếng thường xuyên: Nếu nhà đông con cháu thì không nên đến thật đông một lần rồi sau đó nhiều ngày không có ai đến. Nếu được, nhất là trong vài tháng đầu, luân phiên nhau tới, mỗi ngày một lần một vài người. Làm lịch trình ai đi thăm ngày nào, giờ nào…
* Nên làm một cuốn sổ “thông tin” (communication book) để cạnh giường. Trong cuốn sổ này mỗi khi ai đến thăm thì viết ngày giờ, tên người đến thăm, và nhận xét xem bệnh nhân có vấn đề gì cần lưu ý, giải quyết. Nếu không có vấn đề gì thì cũng nên viết vào là không có hoặc cho nhận xét về vui, buồn, than thở của bệnh nhân…
* Cuối tuần hay ngày lễ: nên có người vào hoặc mang bệnh nhân về nhà nửa buổi để được sống với không khí gia đình dù ngắn ngủi, hay đưa ra khỏi VDL để làm đầu, tóc hoặc tới tiệm ăn cho khuây khỏa…
* Nên sắp xếp để bệnh nhân có sách báo, băng nhạc bằng tiếng Việt cho bệnh nhân giải trí.
* Cho dù có những bệnh nhân bị hôn mê bất tỉnh lâu dài, nhưng khi đến thăm hãy cứ thì thầm bên tai họ những lời yêu thương, những kỷ niệm cũ. Nắm tay, xoa dầu để tỏ tình thương yêu. Tuy họ không có thể cảm thấy được 100% nhưng chắc chắn họ vẫn còn một chút nhận thức, làm họ hạnh phúc hơn, mặc dù mình không nhận thấy. Để bên đầu giường những băng nhạc, câu kinh mà khi còn khỏe họ đã thích nghe.
* Một điều chót mà theo kinh nghiệm của tôi, rất có hiệu quả: đối xử tốt nhưng nghiêm túc với nhân viên của VDL:
– Đối xử tốt: lịch sự, nhẹ nhàng, không thiếu những lời cám ơn cho những nhân viên phục vụ tốt. Thỉnh thoảng mua một vài món quà nhỏ cho họ (tôi xin nhấn mạnh “nhỏ thôi”– đừng nên coi đây là hối lộ) như đồ ăn, thức uống … để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Mình tốt với họ thì họ sẽ quan tâm đến mình nhiều hơn. Người mình vẫn nói: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”).
– Tuy nhiên đối xử tốt không có nghĩa là mình chấp nhận những sai trái của họ. Thí dụ mình đã báo cáo những thay đổi về sức khỏe của bệnh nhân cho họ mà không ai quan tâm giải quyết thì mình phải lịch sự nêu ra liền. Nếu cần thì gặp ngay những người có trách nhiệm như charge nurse, nursing director và ngay cả giám đốc của VDL để được giải quyết. Nên nhớ là phải lịch sự, nhã nhặn nhưng cương quyết thì họ sẽ nể phục mình. Tôi đã thấy nhiều trường hợp đạt yêu cầu một cách rất khả quan.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi xin chia sẻ với quý bạn. Dĩ nhiên là không hoàn toàn đầy đủ tất cả những gì quý bạn mong muốn, nhưng hy vọng cũng đáp ứng được phần nào những ưu tư, lo lắng cho người thân của quý bạn.
Bs. Trần Công Bảo
Niagara Fall : Đẹp tuyệt vời!
Nhờ những kỹ thuật mới của khoa học tân tiến nên chúng ta mới có dịp thưởng ngoạn
những cảnh đẹp mà ở dưới đất không thể nào nhìn bao quát toàn khu vực như vậy được.
Cảm ơn những quý vị thân hữu đã email chia xẻ với mọi người để chúng ta mở rộng thêm tầm mắt và kiến thức.