Quyền làm người vẫn bị chà đạp tại Việt Nam

Quyền làm người vẫn bị chà đạp tại Việt Nam
Nguoi-viet.com
Kỷ niệm ngày Quốc Tế Nhân Quyền

HÀ NỘI (NV) – Việt Nam đã ký vào bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế cũng như Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị, nhưng quyền làm người vẫn bị chà đạp tại Việt Nam.

Khoảng 80 người tham dự kỷ niệm Ngày Nhân Quyền Quốc Tế tổ chức tại nhà thờ Giáo Xứ Thái Hà, Hà Nội,
ngày 5 tháng 12, 2015. (Hình: Thanh Niên Công Giáo)

Các diễn giả là những người từng bị tù đày, sách nhiễu, khủng bố chỉ vì tham gia vận động đấu tranh cho quyền làm người tại Việt Nam đã lên tiếng cáo buộc CSVN không tôn trọng nhân quyền trong buổi lễ kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền tổ chức tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội hôm Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015.

Theo tường thuật của trang mạng Thanh Niên Công Giáo, các người tham gia phát biểu đã cáo buộc rằng quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam đã bị chế độ Hà Nội “xâm hại một cách nghiêm trọng.”

Họ nêu ra các trường hợp cụ thể từ việc người dân bị nhà cầm quyền giam giữ với những cáo buộc mơ hồ theo điều 258 Bộ Luật Hình Sự như trường hợp Blogger Anh Ba Sàm hay đến việc các cá nhân bị giam giữ quá thời hạn điều tra và đang chờ điều tra, xét xử như Nguyễn Viết Dũng, Trần Anh Kim, Lê Vũ Đài, Nguyễn Hữu Thiên Ân

Các trường hợp công an – an ninh Việt Nam đánh đập, hành hung các luật sư như Trần Vũ Hải, Lê Luân và Trần Thu Nam và các vụ việc tấn công nhằm vào các nhà bất đồng chính kiến khác cũng được nhắc đến trong buổi lễ.

Trong phần hội thảo của buổi lễ, theo VRNs tường thuật, “Luật Sư Lê Quốc Quân, cựu tù nhân lương tâm, cũng đã phát biểu về tình trạng nhân quyền và những gì chúng ta có thể đong góp cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Oai đã đề cập đến những vi phạm xảy ra trong chốn lao tù. Anh đã kêu gọi mọi người đồng hành với các TNLT, tù nhân chính trị và các gia đình của họ. Câu chuyện của dân oan Cấn Thị Thêu về tình hình oan khiên của người dân, về những vi phạm mà nhà cầm quyền Cộng Sản thực hiện ở khắp Bắc Trung Nam cũng là minh chứng cho sự xuống cấp về nhân quyền ở Việt Nam.”

Nhờ buổi lễ kỷ niệm quốc tế nhân quyền tổ chức ở trong nhà thờ Thái Hà nên công an không ngang nhiên vào phá hay hành hung. Tuy nhiên, rất nhiều thành viên ban tổ chức đã bị ngăn chặn tại nhà như: Ông Phạm Văn Trội, Mục Sư Nguyễn Trung Tôn, nhà thơ Trần Đức Thạch, ông Nguyễn Văn Túc, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, chị Lê Thu Hà,….

Mục Sư Nguyễn Trung Tôn còn thông báo trên trang Facebook là không những ông bị công an canh giữ không cho ra khỏi nhà, giữa đêm ông còn bị công an đập cửa sách nhiễu.

Nhân dịp sắp đến Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 hàng năm, 21 tổ chức dân sự và hơn 200 cá nhân tại Việt Nam đã đưa ra một bản tuyên bố kêu gọi chế độ Hà Nội phải trả tự do vô điều kiện cho 32 tù nhân chính trị và tôn giáo hiện đang bị giam giữ tại các nhà tù khác nhau tại Việt Nam với những bản án sai trái và hết sức nặng nề.

Bản tuyên bố tố cáo chế độ Hà Nội rằng, “Là một nước thành viên của Liên Hiệp Quốc và hiện nay cũng là một thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, lẽ ra Việt Nam phải đi đầu trong việc tôn trọng các chuẩn mực của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và tuân thủ những công ước quốc tế về nhân quyền đã ký kết, như Công Ước Quốc Tế về Quyền Tự Do Dân Sự và Chính Trị, Công Ước Quốc Tế về quyền Tự Do Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa. Nhưng những gì đã và đang xảy ra tại Việt Nam thì hoàn toàn ngược lại.”

“Các quyền con người vẫn tiếp tục bị chà đạp, việc bắt bớ và giam cầm tùy tiện vẫn tiếp tục xảy ra. Nghiêm trọng hơn là trong nhà tù của Việt Nam, có những người đã bị giam giữ nhiều năm, với những bản án nặng nề, chỉ vì họ đã thực thi các quyền về tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận hay tự do hội họp và lập hội. Tiếp tục giam cầm các tù nhân lương tâm này là chà đạp trắng trợn lên tinh thần của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.”

Họ kêu gọi các chính phủ và các tổ chức quốc tế áp lực mạnh mẽ, buộc CSVN phải trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị và tôn giáo đã bị cầm tù bất công theo những điều luật mơ hồ. (TN)

THIÊN CHÚA CHÚC PHÚC CHO TOÀN NHÂN LOẠI SỐNG HẠNH PHÚC

THIÊN CHÚA CHÚC PHÚC CHO TOÀN NHÂN LOẠI SỐNG HẠNH PHÚC

(Sống Mùa Vọng)

Tuyết Mai

Thật phải thế, không những Thiên Chúa Người tác tạo ra chúng ta mà thôi nhưng Người đã tác tạo ra trời, đất cùng mọi sinh vật trước khi tác tạo ra con người vì Người yêu thương con người mà Người đã tác thành ra chúng để cho con người điều khiển và làm chủ.   Nhìn trời đất mà chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa luôn hiện diện (present) từ thuở đời đời và Người rất vô cùng.   Người nào không cảm nhận được Thiên Chúa đang ở chung quanh chúng ta thì thật là buồn vô hạn và không điều gì làm cho con người buồn hơn là không tin vào Thiên Chúa, Đấng duy nhất và đầy quyền năng đã muôn đời yêu thương chúng ta.

Thế nên chúng ta đang bước vào mùa Vọng, mùa mà cho chúng ta sự đợi chờ trong một không khí vui mừng, khấp khởi, đầy hy vọng và đầy sức sống cho trần gian này mà thời cha ông chúng ta đã không có diễm phúc được có sự chờ đợi như chúng ta ngày nay.   Thưa sự chờ đợi mà không có sự gì trên trần gian có thể sánh ví cho được.

Thưa mỗi năm sau Lễ Tạ Ơn thì chúng ta thấy ngoài đường phố bắt đầu được giăng lên những mầu sắc Giáng Sinh, những cây thông cao được treo đèn, những nhà được thiết kế cách rất tinh xảo vừa cho tiếng nhạc, sự nhẩy múa của đèn nhiều mầu sắc và những thú hay vật cũng được hát ca theo sự thiết kế kỹ xảo ấy, v.v… Ấy là chúng ta chỉ nói đến cái vui khi chúng ta dùng con mắt nhìn nhưng cái vui trong tâm hồn nó mới thực sự làm cho một con người tin vào Thiên Chúa hạnh phúc ngập tràn, thưa có phải?.

Thời nay chúng ta đã hiểu rất rõ là chúng ta đang chờ đợi AI đến trong trần gian này rồi mà Đấng ấy đến trần gian cách thật là lạ lùng, thưa lạ lùng vô cùng mà không mấy ai trên trần gian này lại có thể chấp nhận được như thế.   Mấy ai cha mẹ giầu có sống trên trần gian này lại điên đi chọn một nơi như thế để mà chuẩn bị cho con mình chào đời bao giờ, thưa nhất định ngàn lần không, vạn lần không là chúng ta chẳng thấy ai điên như thế cả.

Chẳng cha mẹ giầu có nào lại không chuẩn bị cho một sinh linh bé nhỏ khi bắt đầu được tin vui từ miệng của bác sĩ và tin mừng đó sẽ được loan báo rất nhanh cho tất cả mọi người trong gia đình, họ hàng và bạn bè thân quen thưa có phải? Rồi thì vui mừng hân hoan để mà đi mua sắm cho thật sớm.   Chuẩn bị từ mầu sơn của cái phòng riêng dành cho một sinh linh nhỏ bé đó rồi thì ê hề mọi thứ chuẩn bị chất cho đầy chật một phòng mà sự vui mừng nhất là từ nơi hai vợ chồng mới cưới.

Còn ĐẤng mà chúng ta toàn cõi địa cầu rất đáng để trông mong, vui mừng để đến trên trần gian này thì thưa trong tâm hồn chúng ta thực sự được bao nhiêu người? Thực tế chắc rất là ít!? Vì con người thì luôn là thế.   Có nghĩa cái ăn, cái mặc, cái sống, cái vui chơi nó phải được ưu tiên hơn là đón đợi một Đấng sẽ xuống thế gian này.   Nên Thiên Chúa Người yêu thương chúc phúc lành và ban ơn đầy tràn cho những ai luôn sẵn sàng đón đợi ngày Chúa đến.

Mong rằng Mùa Vọng sẽ là mùa giúp tất cả chúng ta con cái Thiên Chúa sống cách chuẩn bị chu đáo hơn để xứng đáng được Chúa thương yêu và đến ngự trị trong tâm hồn, trong trái tim khô cằn của chúng ta.   Cũng mong rằng chúng ta đừng bận tâm tốn quá nhiều thời giờ và tiền bạc trong những món quà sắm mua mà có thể người nhận sẽ không vừa ý chăng?.   Khuyên chúng ta chớ sống vội vàng hời hợt, xem vật chất là Chủ của con người, mầu mè trong những thứ Chúa rất ghét mà không chuẩn bị cho linh hồn sống đời nên trong sáng để xứng đáng đón đợi một Hài Nhi Giêsu vào nhà tâm hồn của chúng ta.

Chúa khuyên dạy chúng ta là hãy sống luôn tỉnh thức vì sự tỉnh thức ấy mới làm cho chúng ta bình tâm tĩnh trí để mà đề phòng và nhờ ơn Chúa luôn ban cho chúng ta khí cụ để nhận biết đâu là sự sáng và đâu là sự dữ.   Quan trọng nhất vẫn là sống tích cực trong ngày hôm nay.   Tạo ra hạnh phúc và sống cùng với anh chị em cách vui vẻ hòa thuận một nhà, yêu thương tha thứ cho nhau, chia sẻ ít nhiều trong sự hy sinh để làm Quà chúc mừng ngày Chúa sẽ đến trong khả năng Chúa ban riêng cho từng người chúng ta.   Alleluia, Alleluia.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

1 tháng 12, 2015

THÔI EM NHÉ

THÔI EM NHÉ

Song Như

Thôi em nhé mai trở về cát bụi
Bỏ lại đời những kỷ niệm buồn thương
Giữ làm chi chuyện cũ cuối đoạn đường
Bao mộng mị có khi là hờn tủi…

Đời trôi qua thăng trầm nhiều nghiệt ngã
Ngày và đêm có khác biệt bao nhiêu
Trắng với đen mấy ai hiểu được nhiều
Tình là nợ… kiếp này làm sao trả…

Thoi em nhe

Thôi em nhé buồn cũng chẳng làm sao
Bởi đến được thì đi cũng sẽ được
Chẳng qua kẻ sau theo người phía trước
Gặp được nhau duyên nợ tự kiếp nào…

Thôi em nhé mai khi thành cát bụi
Quyện vào đời sóng gió cuộc viễn du
Chớ vội buồn như lá rụng cuối thu
Cho nỗi nhớ bay cao mờ sương núi…

Thôi em nhé mai mình về cõi hết
Có xá gì đâu một cuộc hư vô
Cho tâm hồn thanh thản kiếp hải hồ
Ai cũng một lần kề bên cái chết…

Thoi em nhe 2

Mai anh chết không cần đâu nấm mộ
Thiêu thành tro rồi thả xuống biển khơi
Để hồn anh đi đến khắp mọi nơi
Quên tất cả quên dòng đời gian khổ…

Liverpool.5.12.2015
Song Như

Vượt qua “99 thiếu 1″ mới biết được hạnh phúc thực sự

Vượt qua “99 thiếu 1″ mới biết được hạnh phúc thực sự

Huyền Bùi

Nhà vua không hạnh phúc, đầu bếp cũng không hạnh phúc… Chỉ bởi họ đều là nhóm người “99 thiếu 1″.

thực sự, hạnh phúc, Bài chọn lọc,

Hạnh phúc không phải những gì bạn muốn mà hạnh phúc là những gì bạn có.

Có vị Quốc vương kia nắm thiên hạ trong tay, theo lý thì nên thấy thỏa mãn, nhưng sự thật không phải là như vậy…

Quốc vương luôn cảm thấy buồn bực. Ông thường thắc mắc tại sao cuộc sống của ta không hài lòng, dù cho ta có tham gia tiệc tùng dạ hội cùng bạn bè, nhưng đều không thể giải quyết được sự tình. Phải chăng ta còn thiếu gì đó?.

Một ngày nọ, Quốc vương dậy sớm, ông quyết định đi dạo quanh hoàng cung. Khi Quốc vương đi đến ngự thiện phòng, ông nghe được có người hát một bài ca nghe rất vui nhộn. Đi theo tiếng hát, Quốc vương nhìn thấy một đầu bếp đang ca hát, trên khuôn mặt tràn đầy hạnh phúc và vui vẻ.

Quốc vương thấy thật là kỳ quái, ông lại gần hỏi đầu bếp: “Tại sao khanh lại vui và hạnh phúc như vậy?”

Đầu bếp đáp: “Bệ hạ, thần chẳng qua là một đầu bếp, nhưng thần lại có khả năng đem lại cho vợ con thần niềm vui. Chúng thần không cần nhiều lắm, chỉ cần một nhà tranh, trong bụng không thiếu cơm, thế là đã đủ rồi. Vợ của thần cùng con là trụ cột tinh thần của thần. Khi thần mang về nhà dù là một chút đồ ăn họ đều có thể thỏa mãn. Sở dĩ, thần mỗi ngày vui cười như vậy, là vì gia đình thần mỗi ngày đều cười vui”.

Nghe đến đó, Quốc vương cảm thấy rất mơ hồ, khó hiểu. Ông trở về cung triệu mời Tể tướng để hỏi về vấn đề này. Tể tướng đáp: “Bệ hạ, thần tin tưởng rằng đầu bếp này còn chưa trở thành ’99 thiếu một’”.

Quốc vương kinh ngạc hỏi: “‘99 thiếu một’ hả? ’99 thiếu một’ là cái gì?”.

Tể tướng trả lời: “Tâu bệ hạ, để biết rõ 99 thiếu một là cái gì, xin ngài làm một món đồ như thế này. Trong một cái bọc, bỏ vào 99 miếng tiền vàng, sau đó, đem cái bao để ngoài cửa nhà bếp, người rất nhanh sẽ minh bạch cái gì là 99 thiếu một”.

Quốc vương nghe theo lời tể tướng, cho người đem bao vải đựng 99 miếng vàng đặt ở trước cửa nhà bếp.

Đầu bếp khi tới làm việc, phát hiện trước cửa có một bao vải, đầu bếp hiếu kỳ đem bọc vải thấy được vào trong phòng. Anh ta mở bọc ra, vô cùng kinh ngạc, sau rồi mới mừng rỡ la lớn: “Tiền vàng! Tất cả đều là tiền vàng! nhiều tiền vàng!”

Đầu bếp đổ bọc vàng trên bàn và bắt đầu đếm tiền vàng, chỉ được 99 miếng. Đầu bếp cho rằng không phải là số này, thế là anh ta đếm lại một lần nữa, đúng thật là 99 miếng.

Anh ta bắt đầu buồn bực: “Không có lý do gì mà chỉ có 99 miếng? Không có người nào chỉ bỏ 99 miếng được, như vậy một miếng kia chạy đi đâu rồi hả?”

Đầu bếp bắt đầu tìm kiếm, anh tìm hết cả gian phòng, lại chạy ra ngoài sân tìm khắp cả, cho tới lúc kiệt sức, anh ta mới hoàn toàn tuyệt vọng, uể oải, thất vọng.

Sau đó, đầu bếp mới nghĩ ra một cách. Anh ta quyết định từ ngày mai trở đi, cố gắng làm gấp đôi công việc, sao cho mau chóng kiếm đủ một miếng vàng. Nghĩ tới lúc có 100 miếng vàng, trở thành tài phú, đầu bếp lại càng quyết tâm.

Sáng hôm sau, đầu bếp vì tối qua quá mệt mỏi, nên anh dậy muộn. Anh ta cảm thấy tức giận, quát tháo vợ con, tại sao không gọi anh dậy sớm, ảnh hưởng tới mục tiêu lớn của anh ta.

Anh vội vàng chạy vào hoàng cung, không hề giống như ngày xưa tung tăng, thoải mái, cũng không hát hò, huýt gió nữa. Từ hôm đó, anh chỉ có vùi đầu, dốc sức liều mạng mà làm việc, anh không hề biết rằng Quốc vương đang lặng lẽ quan sát mình.

Chứng kiến quá trình đầu bếp thay đổi thật nhanh như thế, Quốc vương rất khó hiểu, tự nhiên có được nhiều tiền vàng như vậy phải mừng rỡ, mừng rỡ hơn cả xưa mới đúng chứ. Quốc vương lần nữa hỏi thăm Tể tướng.

Tể tướng trả lời: “Tâu bệ hạ, đầu bếp này đã chính thức gia nhập ’99 thiếu một’ rồi. ’99 thiếu một’ chính là loại người như thế này: Họ có được rất nhiều, nhưng chưa bao giờ thỏa mãn, họ muốn dốc sức liều mạng cho công việc vì muốn kiếm thêm ‘1 miếng vàng’ kia. Cũng chỉ vì khát vọng nhanh chóng thực hiện ‘100 miếng vàng’ mà họ đau khổ”.

Cuộc sống đang hạnh phúc và mãn nguyện, bỗng nhiên xuất hiện mục tiêu phải kiếm đủ “100 miếng vàng”. Vậy là, anh ta phải kiệt sức theo đuổi “1 miếng vàng” vô nghĩa mà không biết mình đang phải trả giá bằng cả một giá trị lớn hơn rất nhiều, đó là sự tự tại, an nhiên của mình đang có.

Hạnh phúc không phải những gì bạn muốn mà hạnh phúc là những gì bạn có

2015: Việt Nam ‘chi tiêu sai’ khoảng $2 tỷ

2015: Việt Nam ‘chi tiêu sai’ khoảng $2 tỷ
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Trong năm 2015 này, Việt Nam đã “chi tiêu sai” khoảng $2 tỷ! Đó là kết luận của thanh tra Bộ Tài Chính Việt Nam. So với năm ngoái, cơ quan này cho biết “chi tiêu sai” trong năm nay tăng khoảng… 93%!

Một công nhân của công ty môi trường đô thị Cà Mau, nơi đang bị chính quyền thành phố Cà Mau nợ 14 tỷ đồng.
(Hình: Tuổi Trẻ)

Từ đầu năm đến cuối Tháng Mười, thanh tra Bộ Tài Chính thực hiện 116,000 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và 6,500 cuộc thanh tra hành chính. Kết quả là họ phát giác có 52,553 tỷ đồng bị “chi tiêu sai.”

Đề cập đến tình trạng tham nhũng ở Việt Nam, một bài viết công bố những số liệu vừa kể trên trang web của Bộ Tài Chính Việt Nam nhận định: “Tính chất tham nhũng càng ngày càng phức tạp. Thủ đoạn tinh vi hơn. Phạm vi và yếu có tổ chức của các vụ tham nhũng rõ nét hơn. Ngoài ra đã xuất hiện tình trạng tham nhũng có tính lợi ích nhóm trong một số lĩnh vực.”

“Chi tiêu sai” vốn là một vấn nạn tồn tại ở Việt Nam trong nhiều thập niên và càng ngày càng nghiêm trọng. “Chi tiêu sai” đã đẩy Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng tài chính, thu không đủ để bù cho chi, phải vay để chi nên nợ nần, bao gồm cả nợ ngoại quốc lẫn nợ trong nước càng lúc càng tăng.

Tin mới nhất cho biết, sau Bạc Liêu (ngân quỹ cạn tiền nhưng vẫn còn thiếu 1,350 tỷ đồng nợ tới hạn phải thanh toán nhưng không trả nổi), nay tới lượt chính quyền thành phố Cà Mau vỡ nợ. Chính quyền thành phố Cà Mau không còn đồng nào và đang mang khoản nợ khoảng 300 tỷ. Tháng này chưa rõ chính quyền thành phố Cà Mau sẽ moi tiền từ đâu để trả lương cho các viên chức, kể cả nhân viên các đơn vị trực thuộc như giáo viên, công nhân vệ sinh…

Tháng trước, khi Quốc Hội Việt Nam họp, các đại biểu từng than vắn, thở dài vì không tìm ra giải pháp nào khả thi để giải quyết tình trạng bội chi càng lúc càng cao và nợ nần càng ngày càng lớn. Một số đại biểu than rằng, sau khi xem xét các tài liệu về ngân sách, họ không biết cắt của ai, chia cho ai!

Ông Trần Văn, phó chủ nhiệm Ủy Ban Tài Chính và Ngân Sách Quốc Hội, cho biết, thu chi ngân sách mất cân đối từ năm 2011. Năm 2011, ngân sách bội chi 112,000 tỷ đồng, đến năm 2015 bội chi đã tăng lên 226,000 tỷ đồng.

Nợ nần của Việt Nam cũng tăng rất nhanh, từ 1.3 triệu tỷ đồng vào năm 2011 lên 2.7 triệu tỷ đồng trong năm nay. Trung bình, mỗi năm, nợ nần của Việt Nam tăng thêm 20%. Đáng lưu ý là từ năm 2013 đến nay, chính quyền Việt Nam không thể tìm đủ nguồn thu để trả các khoản lãi và các khoản nợ gốc đã đến hạn phải thanh toán. Cũng vì vậy, chính quyền Việt Nam phải vay nợ mới để trả một phần nợ cũ.

Dù bi đát như thế, nhưng “chi tiêu sai” của năm nay tăng… 93% và đáng lưu ý là từ thủ tướng Việt Nam trở xuống, không có bất kỳ viên chức nào bị kỷ luật hay tự thấy xấu hổ vì kém cỏi nên xin từ nhiệm. (G.Đ.)

DÒNG CHỮ VẠCH TRÊN CÁT HAY KHẮC TRÊN ĐÁ ?

DÒNG CHỮ VẠCH TRÊN CÁT HAY KHẮC TRÊN ĐÁ ?

Tri’ch EPHATA 670

Có hai người bạn thân cùng nhau có một chuyến đi dài và xa, phải lội cát vượt qua sa mạc. Một bữa nọ, họ cãi nhau. Trong lúc nóng giận, người nọ giơ tay tát người kia. Người bị tát giận lắm nhưng cố nén. Anh ta lặng lẽ lấy cây gậy trong tay làm bút và vạch lên mặt cát nóng bỏng dòng chữ: “Tại nõi này, người bạn tốt nhất của tôi đã tát vào mặt tôi một cái.”

DI TREN CAT

Họ tiếp tục đi. Hai ngày sau họ đến được ốc đảo với những rặng cọ xanh rì tỏa bóng mát và những hồ nước trong vắt. Đang cơn nóng nực, người lúc nãy bị tát nhảy ùm xuống hồ tắm cho mát.

Sau một hồi bơi qua bơi lại, ngoi lên hụp xuống, chẳng hiểu sao người này chìm luôn. Thấy bạn sắp chết đuối người kia liền nhảy xuống vớt lên. Sau khi tỉnh lại, người bạn lục túi lấy ra con dao nhỏ và khắc lên một hòn đá bên hồ dòng chữ: “Tại nõi này, người bạn tốt nhất của tôi đã cứu tôi thoát chết.”

Hai người bạn lặng lẽ vượt nốt chặng đường còn lại giữa sa mạc cháy nắng. Bất chợt, người đã tát bạn mình hỏi người bị tát: “Tại sao chuyện tôi tát anh thì anh ghi lên cát, còn chuyện tôi cứu anh thì anh lại khắc vào đá ? Quanh ốc đảo thiếu gì cát ?”

Nhìn vào mặt bạn, người này trả lời: “Trên đời phàm chuyện gì cũng nên ghi lại. Thế nhưng, đã là bạn thì những chuyện sai trái nên tha thứ. Dòng chữ trên cát chẳng bao lâu sẽ bị gió cuốn đi, chẳng còn ai trên đời biết. Những việc tốt bạn bè làm cho nhau đáng được lưu giữ muôn đời cho hậu thế biết, như tấm bia đá kia vậy”.

Trích GIA TÀI CHO CÁC THẾ HỆ

CHUYỆN NƯỚC TRỜI

CHUYỆN NƯỚC TRỜI

TRẦM THIÊN THU

Tri’ch EPHATA 670

Ai muốn vào Nước Trời ? Nếu bạn là Kitô hữu mà “bị” hỏi như vậy, hẳn là bạn sẽ thấy “ngứa tai” hoặc “xốn bụng”. Có thể bạn sẽ “hỏi ngược” lại: “Có ai lại không muốn vào Nước Trời chứ ?” Thế nhưng có thể cũng chẳng oan đâu ! Ví dụ: Người ta cảnh báo “hút mỗi điếu thuốc lá sẽ tổn thọ 4 phút”. Thử làm toán nhân thì “ớn” thật. Hoặc lấy chất nicotine có trong một điếu thuốc mà chích vào cơ thể thì người ta chết ngay lập tức. Thế mà người ta vẫn hút, cứ “điếu này vừa hạ rộng, điếu kia đã động quan”. Vì người ta không chết ngay nên vẫn “phớt tỉnh Ănglê”. Cũng vậy, người ta biết nghiện ma túy là chết chắc, thế mà người ta vẫn “chơi”, hít chưa “đã” nên chích thẳng vào máu mới “phê”. Tử Thần đối với họ chẳng là cái quái gì cả !

Về ý nghĩa tâm linh cũng tương tự. Rõ ràng là dù Nước Trời vô cùng quý giá, đáng mơ ước, đáng khao khát, không gì sánh bằng, thế mà vẫn có những người thẳng thừng từ chối bước vào Nước Trời !

Vào một ngày Sabát, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa. Khi đề cập việc tổ chức tiệc tùng, Chúa Giêsu nói: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” ( Lc 14, 12-13 ).

Nghe kỳ quá ! Rất sốc ! Chắc hẳn lúc đó ông ta rất “ngứa óc” và khó chịu lắm, nhưng lại không nói được gì ! Và rồi Đức Giêsu nói luôn lý do: “Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” ( Lc 14, 14 ). Lúc này không còn là “kỳ cục” mà “kỳ lạ”. Đúng là quá kỳ lạ, dù có vẻ rất ngược đời !

Thường thì khi tổ chức các loại đám tiệc, người ta muốn mời những người “tai to, mặt lớn” để hãnh diện, mời những “đại gia” để có lời, thậm chí mời ai cũng “nhắm chừng” trước, chứ chuyện “tình nghĩa” có đáng gì ! Thế nên người ta vẫn thích “đùa dai” với câu: “Tình cảm là chín ( chính ), tiền bạc là mười”. Quả thật, nếu đãi tiệc gì mà đi mời mấy người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù thì có nước mà… ăn mày !

Chúng ta không hiểu hay cố tình không hiểu ý Chúa ? Sao chỉ thấy ít người làm như Chúa dạy ? Cũng có thể chúng ta cho rằng Chúa “nói bóng” hoặc “nói cho vui” thôi. Tuy nhiên, thiết tưởng Chúa Giêsu hoàn toàn nói theo nghĩa đen chứ chẳng bóng gió gì cả. Trong lịch sử Giáo Hội, đã có nhiều vị Thánh sống đúng nghĩa đen của tinh thần khó nghèo theo Phúc Âm đủ chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Thánh Phanxicô Assisi ( mệnh danh là Phanxicô khó nghèo ), Thánh Gioan Maria Vianney, Chân Phước Têrêsa Calcutta…

Khi nghe Chúa Giêsu nói về cách đãi tiệc “kỳ cục” như vậy, một trong những kẻ đồng bàn nói với Đức Giêsu: “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa !” ( Lc 14, 15 ). Nói được như vậy chứng tỏ ông này biết Chúa Giêsu muốn nói đến Tiệc Nước Trời, Thiên Đàng, Vương Quốc Thiên Chúa. Thế nhưng cũng có thể ông này nói mỉa mai chứ chưa hẳn thật lòng !

Chúa Giêsu trả lời ông ta bằng một dụ ngôn: Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng: “Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn” ( Lc 14, 17 ). Được mời đích danh, nhưng mọi người đồng loạt bắt đầu xin kiếu với đủ lý do, ai cũng có cớ… chính đáng !

Người thứ nhất thản nhiên nói: “Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu” ( Lc 14, 18 ). Người khác phân bua: “Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu” ( Lc 14, 19 ). Người khác lại viện cớ: “Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được” ( Lc 14, 20 ). Ai cũng có lý do chính đáng riêng để từ chối đi dự tiệc. Rõ ràng HỌ KHÔNG MUỐN VÀO NƯỚC TRỜI.

Đầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Chủ nhà liền nổi cơn thịnh nộ và bảo người đầy tớ: “Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây” ( Lc 14, 21 ). Đầy tớ chân thật trình bày: “Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ” ( Lc 14, 22 ). Ông chủ ôn tồn bảo người đầy tớ: “Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta” ( Lc 14, 23 ). Cuối cùng, Ông Chủ Giêsu quyết định: “Tôi nói cho các anh biết: Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi( Lc 14, 24 ).

Những lý do họ đưa ra để từ chối dự tiệc đều là những lý do rất “quen thuộc”, liên quan vật chất và thực tế, chẳng khác ngày nay, có điều là ngày nay chúng ta từ chối “khéo” hơn nhiều. Quả thật, chính chúng ta cũng đã và đang có những lúc là Pharisêu nhưng lại khoác chiếc-áo-nhân-nghĩa, rất khó có thể phát hiện. Miệng nói muốn vào Nước Trời nhưng cách sống lại trái ngược !

Các lối dẫn vào những nơi ăn chơi hoặc các khu nhà cao cấp đều rộng thênh thang, bóng láng, trơn tru, mượt mà và sang trọng, ai thấy cũng ham; còn những con hẻm nhỏ vào những khu dân cư nghèo thì nhỏ bé, gồ ghề, lầy lội, hôi tanh, chẳng ai thèm nhìn chứ đừng nói bước chân vào.

Đường vào Nước Trời cũng tương tự. Nếu thật lòng muốn vào Nước Trời thì phải làm sao ? Hẳn là ai cũng biết !

Chúa Giêsu đã từng sống trong ngôi làng nhỏ bé, lao động cực khổ, nên Ngài khuyên thực tế lắm: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” ( Mt 7, 13-14 ). Đáng lưu ý cách Chúa nói về tỷ lệ chênh lệch nhau: “Nhiều người” đối với “cửa rộng” và “đường thênh thang”, còn “ít người” đối với “cửa hẹp” và “đường chật”.

Muốn vào Nước Trời thì phải tuân phục Thánh Ý Chúa. Chắc chắn không còn cách khác. Điều đó thể hiện qua dụ ngôn hai người con, đứa nhận lời thì không làm, đứa cãi lời thì lại làm ( x. Mt 21, 28-30 ), nhưng vấn đề là tuân phục hay bất tuân: Chính đứa đi làm mới là đứa hiếu thảo và biết vâng lời cha, vì biết cãi lệnh là sai nên nó hối hận.

Chúa Giêsu đã cảnh báo nhóm Pharisêu nhưng cũng chính là cảnh báo mỗi chúng ta: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước quý vị” ( Mt 21, 31 ). Một sự thật trắng trợn, quá phũ phàng, nhưng sự thật luôn là sự thật. Nước Trời không có chỗ cho những người giả hình hoặc ảo tưởng !

Như vậy, vào Nước Trời dễ hay khó ?

Dễ, vì ai cũng có thể vào; nhưng cũng khó, vì phải nghiêm túc thực hiện Thánh Ý Chúa. Vả lại, phàm điều gì dễ thì ít giá trị, điều gì khó mới thực sự giá trị cao: “Phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được Nước Thiên Chúa” ( Cv 14, 22 ), thậm chí còn phải từ bỏ chính mình ( x. Mt 16, 24; Mc 8, 34; Lc 9, 23 ).

Muốn vào Nước Trời còn phải có động thái dứt khoát, không được chần chừ hoặc lần lữa: “Vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:16). Động thái dứt khoát rất quan trọng đối với việc “vào Nước Trời”. Dứt khoát còn đòi hỏi phải thực sự can đảm. Một là “vào Nước Trời qua cửa hẹp”, hai là “vào Hỏa ngục qua đại lộ”. Chỉ có hai con đường, nhưng phải chọn một trong hai. Không thể sống hai mặt, lơ lửng con cá vàng, bắt cá hai tay, hoặc “chân trong, chân ngoài”.

Chúa Giêsu nói rõ ràng: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” ( Lc 9, 62 ). Không ai có thể tự biện hộ, và cũng chẳng ai có thể biện hộ giúp, bằng bất cứ lý do gì nữa!

Người Pháp nói: “Vouloir, c’est pouvoir ! – Muốn là được”. Vấn đề là có thực sự muốn và quyết tâm thực hiện để biến ước mơ thành hiện thực hay không mà thôi. Điều đó tùy vào mỗi người, vì Chúa không hề ép buộc, Ngài hoàn toàn cho mọi người tự do !

Thánh Tiến Sĩ Augustinô nói: “Chúa dựng nên con, Chúa không cần con; nhưng Chúa cứu độ con, Chúa cần con”. Nghĩa là phải có sự hợp tác của chúng ta, và Chúa coi sự hợp tác nhỏ bé đó là công trạng đáng giá riêng của mỗi chúng ta.

Lạy Thiên Chúa chí minh, chí công và chí thiện, xin thương tha thứ chúng con về những ước muốn chủ quan hoặc ích kỷ, những ý tưởng không đẹp lòng Chúa. Xin Cha ban Thánh Thần cho chúng con và giúp chúng con luôn mau mắn tuân phục Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VÔ NHIỄM LÀ GÌ?

VÔ NHIỄM LÀ GÌ?

Trầm Thiên Thu

Một số học thuyết của Giáo hội Công giáo bị hiểu lầm là tín điều Vô nhiễm Nguyên tội.  Nhiều người, kể cả nhiều người Công giáo, nghĩ rằng học thuyết đó nói đến việc thụ thai Đức Kitô qua tác động của Chúa Thánh Thần trong cung lòng Trinh nữ Maria.  Sự kiện đó được mừng kính trong lễ Truyền tin (ngày 25-3, trước lễ Giáng sinh 9 tháng).

VO NHIEM

Vô nhiễm nói đến tình trạng Đức Mẹ không mắc Nguyên tội ngay từ lúc Đức Mẹ được thụ thai trong lòng người mẹ, thánh Anna.  Chúng ta mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ vào ngày 8-9, 9 tháng sau ngày 8-12 (lễ Mẹ Vô nhiễm).

LM John Hardon, S.J. (Dòng Tên), trong cuốn Từ điển Công giáo Hiện đại (Modern Catholic Dictionary), ngài nói: “Không phải các giáo phụ Hy Lạp hoặc Latinh dạy rõ ràng về Vô nhiễm Nguyên tội, mà các ngài bày tỏ điều đó một cách mặc nhiên.  Phải mất nhiều thế kỷ để Giáo hội Công giáo nhận biết đặc ân Vô nhiễm Nguyên tội là tín điều, và mãi đến ngày 8-12-1854 Đức Giáo Hoàng Piô IX mới tuyên bố đó là tín điều.

Đức Giáo Hoàng Piô IX viết trong Hiến chế Ineffabilis Deus (Thiên Chúa bất khả ngộ): “Chúng tôi công bố và xác nhận rằng tín điều về Đức Maria, ngay lúc được thụ thai, nhờ đặc ân và đặc quyền của Thiên Chúa Toàn năng, vì công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ nhân loại, được giữ không mắc Nguyên tội, là tín điều được Thiên Chúa mạc khải, và vì thế mỗi tín hữu phải luôn tin vững vàng.

LM Hardon viết thêm: “Đức Mẹ không mắc Nguyên tội là một tặng phẩm hoặc một đặc ân của Thiên Chúa, một ngoại trừ hoặc một đặc ân, điều mà không một thụ tạo nào có được.

Khái niệm sai lầm về Vô nhiễm Nguyên tội

Một khái niệm sai lầm khác là ơn Vô nhiễm Nguyên tội của Đức Maria cần thiết để bảo đảm rằng Nguyên tội không bị truyền qua Đức Kitô.  Điều này không là một phần trong giáo huấn về Vô nhiễm Nguyên tội.  Hơn nữa, ơn Vô nhiễm Nguyên tội thể hiện Ơn Cứu Độ của Đức Kitô hoạt động nơi Mẹ Maria khi đồng công cứu chuộc nhân loại và trong sự tiên liệu của Thiên Chúa đối với sự chấp nhận Ý Chúa nơi Đức Mẹ.

Nói cách khác, Vô nhiễm Nguyên tội không là điều kiện tiên quyết để công cuộc cứu độ của Đức Kitô mà là kết quả của Ơn Cứu Độ.  Đó là cách giải thích cụ thể về Tình yêu Thiên Chúa dành cho Đức Maria, vì Đức Mẹ hiến dâng trọn vẹn, đầy đủ, không chút do dự khi tuân phục Thánh Ý Chúa.

Lịch sử

Lễ Vô nhiễm Nguyên tội có dạng cổ xưa nhất, trở lại từ thế kỷ VII, khi các Giáo hội Đông phương bắt đầu mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ.  Nói cách khác, lễ này mừng Đức Mẹ được thụ thai trong lòng thánh Anna.

Tuy nhiên, lễ Sinh nhật Đức Mẹ không được hiểu như lễ Vô nhiễm Nguyên tội trong Giáo hội Công giáo ngày nay, dù Giáo hội Chính thống Đông phương vẫn mừng.  Lễ này đến Tây phương có lẽ từ thế kỷ XI, lúc đó bắt đầu liên quan việc tranh luận về thần học.  Cả Giáo hội Đông phương và Tây phương vẫn cho rằng Đức Mẹ không mắc Nguyên tội, nhưng có những cách hiểu khác nhau về ý nghĩa.

Đối với giáo lý về Nguyên tội, một số người ở Tây phương bắt đầu tin rằng Đức Maria không thể vô tội nếu Đức Mẹ không được cứu thoát khỏi Nguyên tội vào lúc được thụ thai (như vậy làm cho việc thụ thai thành “vô nhiễm”).  Tuy nhiên, một số thần học gia, kể cả thánh Thomas Aquinas, cho rằng Đức Maria không được cứu độ nếu Đức Mẹ không mắc tội – ít nhất là Nguyên tội.

Để trả lời cách phản đối của thánh Thomas Aquinas, như chân phước John Duns Scotus (qua đời năm 1308) đã bày tỏ, đó là Thiên Chúa đã thánh hóa Đức Mẹ ngay lúc Đức Mẹ thụ thai trong sự tiên liệu của Thiên Chúa về việc Đức Mẹ vui nhận mang thai Đức Kitô.  Nói cách khác, Đức Mẹ cũng được cứu độ – ơn cứu độ của Đức Mẹ được hoàn tất ngay lúc Đức Mẹ thụ thai, còn các Kitô hữu là lúc lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

Phát triển lễ ở Tây phương

Sau khi chân phước John Duns Scotus phản đối về Vô nhiễm Nguyên tội, lễ này phát triển khắp Tây phương, dù lễ này vẫn thường cử hành vào lễ Thụ thai của Thánh Anna.  Tuy nhiên, ngày 28-1-1476, Đức Giáo Hoàng Sixtô IV mở rộng lễ này cho toàn Giáo hội Tây phương, và năm 1483 ngài ra vạ tuyệt thông cho những người chống lại tín điều Vô nhiễm Nguyên tội.  Khoảng giữa thế kỷ XVII, mọi sự chống đối tín điều này đều không còn trong Giáo hội Công giáo.

Trầm Thiên Thu

 (Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com)

từ:  langthangchieutim

Vết lăn vết lăn trầm,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 3 Mùa Vọng năm C 13/12/2015

 “Vết lăn vết lăn trầm”,

Hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền
Như có lần chim muông hằn dấu chân
Người đi phiêu du từ đó chưa thấy về quê nhà
Rộng đôi cánh tay chờ mong

Người chợt nhớ mình như đá.”

(Trịnh Công Sơn – Vế Lăn Trầm)

(Galát 3: 10-14)

Trần Ngọc Mười Hai

            Hát bài “Vết lăn tầm”, mà lại hát lên ca-từ đầy khó hiểu như câu “hằn trên phiến đá nâu, thêm ưu-phiền”, thì thật là: hết biết! Hết, không còn biết, cả khi bạn và tôi, ta cứ hỏi: phải chăng   phiến đá ấy là cả một đời người sống ở nhà Đạo, nay rối bời nhiều lời chúc lành/dữ?

Hỏi, là hỏi thế chứ bần đạo đây đã có câu trả lời dù câu ấy không mấy phù hợp với thể-loại thơ/nhạc của những “vết lăn trầm” đầy rêu phong những ưu-phiền như câu hát tiếp:

“Đá lăn vết lăn buồn.

Từ hoang xưa dấu thân anh dã cầm.

Ôi vết hằn ghi trên cồn đá hoang.

Chờ ta da du một chuyến.

Ôi môi hồng xin đừng kể lại tích xưa buồn hơn.

Đợi chờ năm làm gió qua truông thiên đàng”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nghệ-sĩ viết nhạc hôm nay, sao cứ hát những câu như “truông thiên-đường”, “cồn đá hoang” đầy kể lể những “tích xưa buồn” che giấu “thân đau rã mòn…” rồi lại hát:

“Thôi ngủ yên đi con

ngủ đời yên đi con

Che dấu thân đau rã mòn

Ngủ đời yên đi con

như vết thương đau ngủ buồn

Như trùng dương đêm mắt thâm

còn nghe ngóng.

 Đá lăn vết lăn trầm
Từ cơn đau ấy lưu thân mỏi mòn
Ôm mắt thầm van xin lời thánh đêm
Bài ca dao trên cồn đá
Trên ngai vàng quê nhà
Một thời ngủ yên tuổi xanh
Rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình …”

(Trịnh Công Sơn- bđd)

 Chao ôi, toàn là những “vết lăn (rất) trầm” với “cơn đau lúc thân mỏi mòn” “ôm mắt thầm van xin lời thánh đêm”. Thế nhưng, cả khi mình lại vẫn quyết hát thêm đôi giòng chảy đầy ca-từ buồn bã đến độ “chợt thấy hoang-vu quanh mình”, như sau:

Ấy đấy. Một đời nghệ sĩ có “vết lăn” rất trầm và cũng buồn. Còn đây, là nghệ-nhân khoa tin-học lại cũng có những “vết lăn” tuy không “trầm” nhưng vẫn buồn như đoạn văn tự-sự ở bên dưới:

Tôi đã đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt của mọi người , cuộc sống của tôi có lẽ là một mẫu mực của sự thành công. Có lẽ ai cũng nghĩ tôi là một người hạnh phúc!

Tuy nhiên, ngoài công việc ra, tôi chẳng có nhiều niềm vui. Cuối cùng, sự giàu sang chỉ là một thực tế mà tôi phải làm quen với nó và nó cuốn tôi vào dòng chảy của nó, thật đáng buồn khi mình làm nô lệ cho nó!

Tại thời điểm này, nằm trên giường bệnh và nhìn lại toàn bộ cuộc đời, tôi nhận ra rằng tất cả sự công nhận của xã hội và sự giàu sang mà tôi có được đã làm tôi mất đi rất nhiều năm tháng của tuổi trẻ và nó đang dần trở nên vô nghĩa khi tôi đang đối mặt với cái chết sắp cận kề.

Trong bóng tối, tôi nhìn vào ánh sáng màu xanh lá cây từ các máy hỗ trợ cho sự sống và nghe những âm thanh rào rào của hệ thống tiếp oxy đang chạy, tôi có thể cảm thấy hơi thở của thần chết đang về gần hơn …

Bây giờ tôi mới nhận ra rằng, khi chúng ta đã có một công việc, đã tích lũy đuợc một giá trị tài sản nào đó thì chúng ta nên theo đuổi những vấn đề khác mà không liên quan đến tiền bạc …

Nên làm cái gì đó quan trọng hơn: Có lẽ là gia đình, duy trì các mối quan hệ trong cuộc sống, bạn bè, có thể là nghệ thuật, hoặc là tiếp tục theo đuổi một ước mơ nào đó từ ngày còn trẻ ta chưa thực hiện được …

Không ngừng theo đuổi để làm giàu sẽ biến cuộc đời bạn thành 1 vòng xoáy hỗn độn, giống như tôi.

Chúa đã cho chúng ta các giác quan để cho chúng ta cảm nhận được tình yêu trong trái tim của tất cả mọi người, không nên ảo tưởng rằng tiền bạc sẽ đem lại điều đó.

Bây giờ tôi thật xót xa khi nhận ra rằng thú vui làm giàu đã chiến thắng  tôi, nhưng giờ đây những gì tôi đạt được chẳng thể mang  được nó xuống mồ.

Những gì tôi có thể mang lại chỉ là những kỷ niệm đọng lại bởi tình yêu. Cho nên đến giờ phút này tôi chỉ khuyên bạn một điều là sự giàu có không mang lại đầy đủ hạnh phúc cho con người, chỉ có tình yêu mới  đem lại hạnh phúc, nó  sẽ theo bạn, đi cùng bạn, cho bạn sức mạnh và ánh sáng để vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống và đem lại hạnh phúc thực sự cho bạn.

Cuộc sống có giới hạn, nhưng tình yêu thì không vô hạn và chính nó sẽ tạo cho bạn niềm tin và sức manh để vượt qua vạn dặm, đưa bạn đi đến nơi bạn muốn, giúp bạn vươn tới mọi độ cao. Đó là tất cả những gì có trong trái tim của bạn và trong tay của bạn.

Giường đắt nhất trên thế giới là gì? – Đó là “GIƯỜNG BỆNH” … Bạn có thể sử dụng một người lái xe cho bạn, ai đó giúp bạn cùng kiếm tiền , nhưng bạn không thể có một người nào đó chịu bệnh tật giúp cho bạn được.

Vật chất bị mất đi có thể  làm lại được. Nhưng có một điều mà không bao giờ bạn có thể làm lại được khi nó bị mất đi -đó là “CUỘC ĐỜI BẠN”.

Khi một người đi vào phòng mổ, anh ta sẽ nhận ra rằng có một cuốn sách mà anh ta vẫn chưa hoàn thành việc đọc -“CUỐN SÁCH SỨC KHỎE” mà cuộc sống đã ban cho.

Cho dù trong từng giai đoạn của cuộc đời chúng ta có những lúc rất huy hoàng, nhưng với sự tàn phá của thời gian, chúng ta sẽ phải đối mặt với những ngày đi xuống.

Hãy trân trọng tình yêu cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời, con cái của bạn, tình yêu cho bạn bè …Hãy đối xử tốt với mình. Trân trọng người khác.” (Nguyễn Hoàng Hải dịch)

            Thoạt nghe những lời tự sự kể thế rồi, nghệ-nhân đây lại còn nhủ-khuyên tôi/khuyên bạn hãy thế này/thế nọ, khiến bần đạo nhớ lại lời “trần tình” của lớp người trẻ ở “miệt dưới” xứ Úc Đại Lợi cũng có “vết lăn trầm” nhận-định về cái-gọi-là “ơn lành đầy phúc-hạnh” do Đấng Bề Trên ban cho. Hẳn nhiên, ta cũng nên cân/đo phúc lành ấy; để rồi, lại sẽ thấy: mọi chúc lành từ Chúa gửi đến đều có giá-trị với cá-nhân người nhận ơn.

Dông dài lời ở trên, là để thuật lại những gì gần đây bần đạo vừa nhận ra tâm-tình đạo-hạnh của nhóm người trẻ nọ ở Sydney đã tỏ-lộ trong một lần gặp mặt rất ngắn, vào cuối tuần.

Tình thực mà nói: ở Sydney ngàn năm văn vật, lại vẫn thấy người Úc tuy ít muốn đến nhà thờ/nhà thánh để làm gì nhưng vẫn tỏ-bày đặc-trưng đạo-hạnh trong cuộc sống. Quả là, nhiều lúc “không đi nhà thờ” không có nghĩa: chẳng còn tin vào Chúa/Mẹ, nhưng các người em bé bỏng ở Úc đây vẫn suy-tư chuyện đạo-hạnh, tốt lành rất “phúc thay!”

Có lần, một số bạn trẻ người Úc tự kiểm, thấy mình không làm gì đáng trách dù ít khi bỏ giờ ra mà bàn-bạc về bất cứ đề-tài nào về Đạo. Nhưng, mỗi lần gặp nhau ở đâu đó, nơi trường lớp hoặc hội-đường nhiều loại, họ vẫn bảo nhau tìm về nhận-định của đấng bậc cao siêu nhà Đạo.

Và, người trẻ hôm ấy, đã nghe theo lời đề-nghị của bạn-bè bèn cân đong đo đếm “ơn lành phúc hạnh” qua giòng chảy suy-tư theo kiểu rất lạ sau đây:

“Tôi hay đòi hỏi quá nhiều thứ, nhiều sự.

Cả khi soi gương, thấy hình-hài mình sao đó bèn nói rất đẹp!

Và đôi lúc cũng tỏ cho mọi người biết tình thương mình cần có.

Nhưng, khi dừng chân đứng lại chừng đôi phút

Mình lại cũng đã nhận ra, đó là:

tất cả đồ-đạc chất trong tủ

vẫn còn dư đủ để mình sống rất khá.

Từ quần áo, cả đến thức ăn đặt ở trên bàn

Tôi đây đều nhận-lãnh từ ai đó

Nhưng, tôi chỉ chú-trọng đến nhãn-hiệu và hãng sản-xuất thôi

Mà mình vẫn cứ đòi hỏi như thế, thật quá sức.

Có lẽ, nếu so-sánh mình với chán vạn người khác

Họ còn thua xa hèn kém hơn mình biết bao.

Thế rồi, bỗng dưng tôi tự hỏi lòng mình:

Sao mình vẫn cứ tuyệt vọng, đến là như thế?

Dù có đủ mọi thứ ở trên đời này,

Giàu sang, phú quý, tiền của khá dồi dào

Trong lúc người chung quanh lại không được như thế?

Bất chợt, tôi nắm chặt bàn tay và co những ngón cong vòng

để làm công việc mà nhiều người gọi đó là nhón bắt,

nhưng vẫn không là những thứ mình tìm, mình thích.

Và, những gì chính mình có thể làm ra

hoặc nếu làm được những điều tốt lành

thì chắc chắn rồi ra tôi cũng được chúc phúc.

Không cần biết hình dạng tôi nay thế nào

hoặc tôi đã sở-hữu được những gì?

mà là: đã cho người khác được nhiêu thứ?     

Giả như tôi cân đong phúc lành mình lĩnh-nhận

nhưng lại quên mất cuộc đời mình phải sống,  

hoặc giả tôi chỉ thích người đời luôn cảm tạ tôi

hơn chọn thái-độ sống rất phúc/hạnh,

rồi quên đi niềm tự-hào của bạn bè hoặc ai đó

thì xin gửi đến Chúa khi Ngài xét đoán bạn và tôi

khi ấy, tôi và bạn sẽ thấy cửa phúc-hạnh nay rộng mở…” 

(X. Roxanne Moussalem, From Attitude to Gratitude, Australian Catholics Xuân 2015, tr. 6)

             Xem thế thì, phúc hạnh hoặc lời chúc phúc sẽ là và luôn là: điều mình lĩnh-nhận một khi mình cho đi. Cho thật nhiều, cả những của cải vậtchất lẫn tinh-thần. Cho hết và cho hết. Rồi ra, ta và người sẽ thấy mìnhđầy phúc-hạnh để còn sống.

Hãy cứ cho đi. Cho thật nhiều, những gì mình trân-trọng, để rồi sẽ nhận ra điều mà bậc thánh-nhân hiền-lành khi xưa từng tỏ-bày, thấy rất rõ:

             “Thật thế, những ai dựa vào những việc Luật dạy phải làm

thì đều chuốc lấy lời nguyền rủa,

vì Kinh Thánh viết: Đáng nguyền rủa thay

mọi kẻ không bền chí thi-hành tất cả những gì chép trong sách Luật!

Vả lại, không ai được nên công-chính trước mặt Chúa nhờ Lề Luật,

đó là điều hiển nhiên.

Vì người công-chính nhờ đức tin sẽ được sống.

Thế mà, Lề Luật không lệ thuộc đức tin,

nhưng ai thực-hành điều Luật dạy,

thì nhờ đó sẽ được sống.

Đức Kitô đã chuộc ta cho khỏi bị nguyền-rủa vì Lề Luật,

khi, vì chúng ta, chính Ngài đã trở nên đồ bị nguyền rủa,

vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay, kẻ bị treo trên cây gỗ!

Như thế là: nhờ Đức Giêsu Kitô,

dân ngoại cũng được hưởng phúc-lành dành cho ông Abram,

và nhờ đức tin, ta nhận được ơn Chúa hứa, tức là Thần Khí.”

(Thư Galát 3: 10-14)

Xem thế thì, Thần-Khí Chúa là: ơn lành phúc-hạnh Chúa phú ban cho ta, và mọi người. Xem thế thì, cuộc đời người đầy những phúc hạnh, như nhiều người từng cảm-nghiệm trong đời mình.

Xem thế thì, người trẻ cũng như già, đều đã hiểu được điều đó, tức: những phúc hạnh mình nhận-lãnh là do Thần-Khí Chúa ở với ta.

Thế nghĩa là: không chỉ mỗi mình ta, chỉ mỗi người Công-giáo hoặc Chính-thống-giáo, Tin Lành mới là người hưởng “ơn mưa-móc” phúc-hạnh, vào mọi lúc. Mà, cả những người sống “ngoài luồng”, ngoài Đạo, đều được thế.

Bàn về phúc lành hoặc còn gọi là sự chúc-phúc, có thày tư-tế Do-thái nọ sống ở Sydney, lại đã bàn bạc về những mà đồng-đạo của ông từng tin-tưởng về “phúc lành của Chúa” và từ Chúa, như sau:

“Các tư tế bên Do-thái-giáo như chúng tôi đây không có thói quen ban phép lành hoặc chúc phúc cho ai hết. Đúng hơn, chúng tôi có thể nói: chỉ mỗi Thiên-Chúa là Đấng ban phúc lành hoặc chúc phúc cho mọi người, mà thôi. Tuy nhiên, Do-thái-giáo chúng tôi cũng có một câu kinh hoặc loại chúc lành bằng công-thức đọc lên như sau: ‘Chúng con ca ngợi Đức-Chúa vĩnh-hằng. Là, Khởi-Nguyên của vũ-trụ vạn-vật Đấng dựng nên thiên-nhiên cùng là Đấng tạo ánh sáng từ lửa cháy, Đấng từng mang cơm bánh lấy từ trái đất đến mọi loài và là Đấng tạo cây tráo từ vườn nho.’

Quả là,  Đạo chúng tôi cũng có nói đến sự chúc phúc, nhưng chúng tôi không là người phú-ban mọi chúc lành cho người khác. Mà, chúng tôi nhận-biết có Đức Chúa trong cuộc sống của chúng tôi. Thay vì xin Đức Chúa can-thiệp, lời kinh Do-thái-giáo giúp nhận ra rằng chúng ta đều có trách-nhiệm về mọi công-việc của Đức Chúa.

 Chúng tôi coi mình chỉ là công-cụ của Đức Chúa để Ngài thực-hiện mọi việc trong mọi người trên thế-giới. Nói thế theo nghĩa Ngài chữa-lành người ốm đau/tật bệnh, giải-phóng tù-nhân hoặc cứu-vớt người tỵ-nạn từ thuyền, công-việc chúng tôi làm là dùng chính-trị, truyền-thông báo chí tàu cứu-hộ hoặc làm mọi việc để biến thế-giới này trở nên tốt đẹp hơn, thôi. Nói chung thì, chúng tôi là bàn tay để Đức Chúa sử-dụng trong mọi việc…” (Xem Angelique Milevski, Asking God’s Blessing, Australian Catholics số Xuân 2015 tr. 16-17).

Thế thì, không cần biết, ai nói hay làm đẹp hơn ai. Chỉ cần hỏi bạn và hỏi tôi đôi điều rằng: ta đã làm và từng làm được những gì cho người khác, hoặc cho thế-giời này, nên đẹp đẽ.

Không cần hỏi bất cứ ai, hoặc mọi người rằng: anh hoặc chị đã cho ai, cho những gì, để làm gì mà là cho cách “nhưng-không”, tức không cần biết người nhận là ai, ở đâu bao giờ chứ?

Không cần xin bạn hoặc tôi, cứ tiếp tục “ban phép lành” hoặc chúc phúc cho nhau, cho mọi người. Mà, chỉ cần khích-lệ mình/khích-lệ người đừng quên nhau, đừng quên giây phút phút đầy phúc-lành người khác tặng.

Người khác đây, có thể là người bạn trăm năm mình thương mến, nhưng đã quên. Cũng có thể, là ai đó, trong một lần giận hờn hoặc sao đó, như truyện-kể-để-minh-hoạ rằng: có những phúc hạnh mình đang có nhưng vẫn quên, như sau:

“Truyện rằng:

Ngày vợ anh đồng ý rời khỏi nhà. Công ty phải giải quyết một vài vấn đề, anh bảo cô đợi ở nhà,trưa về anh sẽ giúp cô chuyển nhà,chuyển đến căn hộ chung cư anh mua cho. Đồng nghĩa với việc cuộc hôn nhân kéo dài 20 năm sẽ kết thúc tại đây.

Buổi sáng ngồi trong phòng làm việc, anh bồn chồn,thấp thỏm. Đến trưa, anh vội vã về nhà. Căn nhà được dọn dẹp sạch sẽ, vợ anh đã đi mất rồi. Trên bàn đặt chiếc chìa khóa nhà anh mua cho cô , sổ tiết kiệm 500 triệu đồng và một bức thư cô viết cho anh.

Đây là bức thư đầu tiên mà cô viết cho anh:

“Em đi đây, em về nhà mẹ. Chăn em giặt phơi khô rồi đấy, cất ở ngăn cuối cùng bên trái tủ quần áo. Trời lạnh anh nhớ lấy ra đắp. Giày da tất cả em đều đánh xi rồi nhé, nếu anh không tự mình đánh được thì mang đến tiệm ông Tư đầu ngõ ấy. Sơ mi treo ở phía trên, vớ, thắt lưng ở trong ngăn kéo phía dưới tủ. Mua gạo nhớ mua gạo tám thơm của Thái Lan, anh nhớ vào siêu thị mua nhé, mua bên ngoài anh không thạo người ta bán hàng giả cho đấy. Dì Hai mỗi tuần đều đến dọn dẹp nhà cửa một lần, cuối tháng anh nhớ gửi tiền cho dì ấy. Còn nữa, đồ cũ cứ cho ông Tư đầu ngõ nhé, ông ấy gửi về quê cho bọn trẻ con,chắc chúng nó sẽ vui lắm.

Dạ dày anh không tốt, em đi rồi anh nhớ uống thuốc đều đặn. Thuốc em nhờ người ta mùa từ Quảng Bình, có lẽ cũng đủ dùng nửa năm. Anh ra ngoài thường quên mang theo chìa khóa nhà, em gửi một chùm ở chỗ bảo vệ, lần sau nếu quên thì đến đấy lấy nhé. Buổi sáng đi ra ngoài anh nhớ đóng cửa sổ, mưa tạt vào sẽ làm ướt nhà đấy. Canh cá lóc, là món mà anh thích, thì em để trong tủ lạnh. Anh về nhớ hâm lại rồi hãy ăn nhé.

Gửi anh,

người em yêu nhất ”

 Những dòng chữ xiêu vẹo nhưng tại sao nó cứ như những viên đạn bắn vào trái tim anh, mỗi viên đều mang theo tấm chân tình xuyên thẳng vào ngực – đau nhói.

Anh từ từ đi vào nhà bếp. Mỗi đồ vật ở đây đều lưu giữ dấu tay, hơi thở của cô. Anh chợt nhớ về 20 năm trước, anh làm ở công trường xây dựng dầm mưa dãi nắng. Những ngày tháng bần hàn của cuộc đời đều có cô bên cạnh. Nhớ lại bát canh cá lóc nóng hổi đã sưởi ấm trái tim anh trong những ngày mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, nhớ lại giây phút anh đã từng hứa với lòng mình nhất định sẽ mang lại hạnh phúc suốt đời cho cô.

Anh quay người , nhanh chóng khởi động xe. Nửa tiếng sau, cuối cùng anh cũng tìm thấy cô đang đợi tàu trở về quê. Anh giận dữ nói: “Em muốn đi đâu? Anh làm việc mệt mỏi cả ngày, về đến nhà, đến cơm nóng cũng không có mà ăn. Em làm vợ như vậy à? Về nhà với anh ngay”

Anh trông rất hung dữ và thô lỗ. Đôi mắt cô ướt nhòe, cô đứng lên, ngoan ngoãn theosau anh đi về nhà. Giọt nước mắt xen lẫn niềm vui ……Cô không biết rằng, lúc này đi trước cô, anh đang dằn lòng cố kìm nén những giọt nước mắt …Suốt quãng đường từ nhà đến đây, anh thực sự rất sợ, sợ không tìm thấy cô, sợ từ đây sẽ mất cô mãi mãi.

Anh tự trách mình sao lại ngu ngốc đến vậy, hóa ra đánh mất cô ấy cũng giống như anh đánh gãy xương sườn của mình…Hai mươi năm đồng cam cộng khổ, hai người đã buộc chặt cuộc đời mình vào nhau, mãi mãi không thể tách rời.

Tại thời điểm sai lầm, địa điểm sai lầm, chỉ cần gặp được đúng người, tất thảy mọi thứ đều sẽ đúng. Giàu có thực sự không phải số tiền trong thẻ ngân hàng, mà là nụ cười hạnh phúc trên khuôn mặt bạn. Tiền nhiều hay ít không quan trọng,quan trọng là tìm được một người toàn tâm toàn ý yêu thương bạn.

Trên thế giới này , hạnh phúc nhất là 3 từ “ta yêu nhau”. Hiểu được bản thân mình muốn gì, thế giới mới có thể hiểu được bạn.”(truyện do ST sưu tầm)

Nghe kể rồi, giờ đây mời bạn và cũng mời tôi, ta cứ thế hát nhạc buồn của người viết có tên họ là Trịnh, vẫn cứ vui như chưa từng thấy “vết lăn trầm” cuộc đời mình, là thế. Nên, đã hát rằng:

“Vết lăn vết lăn trầm,
Hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền
Như có lần chim muông hằn dấu chân
Người đi phiêu du từ đó chưa thấy về quê nhà
Rộng đôi cánh tay chờ mong

Người chợt nhớ mình như đá.

Đá lăn vết lăn buồn.

Từ hoang xưa dấu thân anh dã cầm.

Ôi vết hằn ghi trên cồn đá hoang.

Chờ ta da du một chuyến.

Ôi môi hồng xin đừng kể lại tích xưa buồn hơn.

Đợi chờ năm làm gió qua truông thiên đàng”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 Vâng. “Truông Thiên-Đàng” vẫn còn đó, nỗi buồn. Buồn, chỉ vì mình không nhìn ra nó, mà chỉ thấy những là “vết lăn trầm” rất cuộc đời. Mà thôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng từng lăn theo

Vết lăn trầm cuộc đời

Rất nhiều ngày.    

Niềm vui bất tận, ở nơi đây

Tin Mừng (Lc 3: 10-18)

 Bấy giờ dân chúng lũ lượt đến xin ông Gioan làm phép rửa, họ hỏi ông rằng:

“Chúng tôi phải làm gì đây?

Ông trả lời:

Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông:

“Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?” Ông bảo họ: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” Binh lính cũng hỏi ông: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?” Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.”

Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia! Ông Gioan trả lời mọi người rằng:

“Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.”

Ngoài ra, ông còn khuyên dân nhiều điều khác nữa, mà loan báo Tin Mừng cho họ.

*     *     *

 “Niềm vui bất tận, ở nơi đây”

Mai Tá lược dịch.

Anh chị em, có bao giờ về thăm nông trại nào đó vào một mùa hè nóng bỏng không? Nếu có, chắc anh chị em cũng có kinh nghiệm không ít về chuyện khan hiếm nước, như thế nào. Bản thân tôi, có nhiều dịp từng về quê thăm nông trại của ông chú ruột.

Lúc ấy, chúng tôi gồm chừng 6, 7 người anh em họ, phần đông sống ở thị thành, về đây lưu lại sống trọn kỳ nghỉ. Một lần về là một lần thấy vui. Duy có điều mà chúng tôi cứ nhắc nhau mãi: phải cẩn trọng, khi sử dụng nước!

Dường như, chúng ta quen sử dụng lượng nước tắm gội bao giờ cũng gấp đôi dung lượng của người anh em sống ở vùng sâu vùng xa, nơi thôn xóm.

            Tôi nhớ mùa hè năm ấy ở miệt dưới, bà con chúng ta đã phải trông chờ hầu như suốt chín tháng trời ròng rã vẫn không thấy một giọt rơi vãi những nước mưa. Mãi về sau, vào buổi bóng xế hôn hoàng hôm đó, chúng tôi mới thấy cảnh “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”.

Và, từng đám mây vần vũ từ đâu đến. Chốn thiên đàng như rộng mở. Và sau đó, từng khối và từng khối nước ào ào trút xuống đến độ chúng tôi không biết lấy gì để hứng. Tựa như một hoạt cảnh, anh em chúng tôi vụt dậy chạy nhanh ra đứng ngồi nơi lộ thiên, quyết vui hưởng ơn mưa móc tràn đầy những nước, và nước.

Chẳng một ai muốn cất nên lời. Anh em chúng tôi, đứng đó tận hưởng những giọt vắn giọt dài, đầy ân sủng. Mình mẩy chúng tôi ai nấy đều ướt sũng như chuột trong hang ngập nước, nhưng vẫn cứ đứng mà đón nhận ơn mưa móc. Vạn vật, chừng như chỉ mong mỗi một điều là được triền miên tắm gội, toàn bằng nước .

Trong thư thánh Giacôbê hôm nay, hình ảnh mong chờ cơn nước lũ đổ xuống trên ta, được coi như ví dụ để hiểu rõ thế nào là sự chờ đợi ngày Đức Kitô đến lại. Đây, là hình ảnh sắc nét nhất, về Mùa Vọng.

Mỗi năm, vào mùa này, ta đều liên tưởng đến cảnh trí, qua đó nhân loại ao ước chờ mong dấu hiệu về cuộc sống mới, nơi Yêsu Đức Chúa. Nhiều thế hệ cứ thế trôi qua, nhưng dân con nhà Đạo vẫn ngước nhìn lên bầu trời rộng mở, ngong ngóng kỳ vọng có được dấu hiệu nào đó cho thấy: hôm nay là ngày ơn cứu độ của Đức Chúa đổ tràn hồng ân, cho muôn dân.

Thế rồi, vào buổi tối trời hôm ấy, theo cách thức không ai có thể mường tượng được; không kèn không trống, một Hài Nhi đã lao vụt về với thế giới gian trần, để lập nên triều đại cuối cùng, cho tình yêu của Đức Chúa.

Mùa Vọng không là thời gian, qua đó chúng ta giả tảng cho rằng Giêsu Đức Chúa vẫn chưa vội đến với thế giới gian trần. Và, chúng ta là những người đầu thực hiện ngày Chúa đến, dịp Giáng sinh. Mùa Vọng ở đây, phong phú hơn thế nhiều.

Đây, là lúc ta nhớ đến những gì đã xẩy ra, cả vào lúc trước ngày Ngài ngự đến. Và, liên tưởng kỹ lưỡng hơn, ta sẽ thấy mình cần Đức Chúa cứ thế lại đến. Ngài cứ đến, đến hoài đến mãi, trong cuộc sống thường nhật của mỗi người.

Bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng hôm nay, cho thấy rõ các nông gia mục đồng, chẳng bao giờ bỏ qua hoặc để lỡ cơ hội thiếu cẩn trọng, vì mùa mưa chợt đến. Chúng ta được bảo là, nhờ sũng ướt với tình thương yêu của Đức Chúa, nên ta được kêu mời làm bất cứ điều gì có thể được, ngõ hầu nhớ đến những người anh người chị trong thế giới đang què quặt, đui mù, hoặc điếc lãng.

Những người phong người cùi, đói nghèo, hoặc khốn khổ. Những người bị giam hãm bỏ rơi, cho đến chết.

Mùa Vọng còn nhắc ta rằng: qua nghênh đón Đức Kitô đến lại, ta có trọng trách chăm lo cho đàn con của Ngài nữa. Chúng ta nên tỏ ra hết mực độ lượng với mọi người. Bởi, Đức Chúa, Đấng đang hiện diện nơi Đức Kitô, đã đối xử rất nhân từ độ lượng với tất cả mọi người, trong chúng ta.

Và, lòng nhân từ khoan dung của ta với mọi người, sẽ tồn tại mãi như tín hiệu thật sắc nét. Ngõ hầu, chứng tỏ rằng: ơn cứu độ của Chúa đã biểu lộ cho mọi người. Ơn Ngài, biểu lộ không bằng lời, nhưng chính bằng hành vi, xử sự.

Tham dự cử hành ngày Cha Giáng Hạ, chúng ta cầu mong  lĩnh hội từ nơi Đức Kitô, lòng quảng đại rộng lượng để thấy được, là: chốn hoang vu sa mạc chính là nơi hoa quả tình thương nở rộ nơi mọi người, vào mọi thời. Hoa quả nở rộ, để không chỉ một số người được may mắn sống trong vũng lầy đầy nước; nhưng tất cả đều đầy tràn ơn sung mãn. Ơn Chúa gửi đến hết mọi người, mọi thời.

Ta sẽ sống lạc quan, đại độ với mọi người vì Giêsu Đức Chúa vẫn lạc quan ở tốt với ta. Và, vì sự tốt lành của ta sẽ là dấu chỉ cho sự cứu rỗi của Thiên Cha, sẽ được mọi người nhận thấy nơi hành vi của ta. Hành vi, chứ khơng phải nơi lời nói.

Cầu và mong sao, ngày Cha đến mọi người có được niềm vui bất tận. Niềm vui Cha ban, không kể sang/hèn, giàu nghèo. Không cần chức tước phẩm trật, dân con nhà Đạo, hay người dưng/khách lạ. Tất cả đều chung mái ấm gia đình nhà Chúa rất thân thương, và êm ấm.

 Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

Thêm hậu thuẫn cho vụ kiện Biển Đông

Thêm hậu thuẫn cho vụ kiện Biển Đông

Biểu tình chống Trung Quốc tại thành phố Makati, phía đông Manila, Philippines, ngày 12/11/2015.

Biểu tình chống Trung Quốc tại thành phố Makati, phía đông Manila, Philippines, ngày 12/11/2015.

Trà Mi-VOA

04.12.2015

Philippines tiếp tục nhận thêm sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế trong vụ kiện bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc chiếm trọn Biển Đông.

Italy là nước mới nhất vừa lên tiếng hậu thuẫn con đường theo đuổi pháp lý của Manila trong cuộc tranh chấp ngày càng căng thẳng.

Truyền thông Philippines loan tin tại cuộc họp ở Rome hôm 3/12, Thủ tướng Matteo Renzi và Tổng thống Sergio Mattarella của Italy đã lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ Tổng thống Begnino Aquino về việc Philippines đưa tranh chấp Biển Đông ra nhờ tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc phân xử.

Trước Italy, một số nước khác cũng đã lên tiếng bày tỏ ủng hộ hành động của Manila trong đó có Hoa Kỳ và Việt Nam.

Theo giới phân tích, bất kỳ phán quyết chung cuộc nào của tòa chống lại Trung Quốc cũng không có giá trị cưỡng hành, chế tài, hay trừng phạt vì chưa có một cơ chế thực thi các phán quyết như vậy.

Tuy nhiên, theo một nhà nghiên cứu Biển Đông từ Việt Nam, thì dù sao đi nữa một phán quyết ủng hộ Philippines trong vụ này sẽ là một bất lợi rất lớn cho Bắc Kinh:

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc:

“Nếu Philippines thắng, lý luận của Trung Quốc sẽ bị bẻ gãy trước cộng đồng quốc tế. Việc này cũng có ý nghĩa tích cực với Việt Nam. Dựa vào phán quyết của tòa, Việt Nam sẽ củng cố hệ thống lý luận và dữ kiện của mình trong một phiên xử tương lai nếu khởi kiện Trung Quốc. Cho dù Trung Quốc không đồng ý, đó cũng là một thắng lợi về mặt chính trị để chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Trung Quốc không bao giờ tuân thủ luật pháp quốc tế dù miệng vẫn nói như thế”.

Luật sư Vũ Đức Khanh, một chuyên gia tại Canada nghiên cứu vấn đề Biển Đông và luật quốc tế, chia sẻ quan điểm cho rằng Việt Nam được lợi rất nhiều trong vụ kiện của Philippines:

“Trong vụ kiện này, Việt Nam có lợi rất nhiều vì là cơ sở cho các cuộc đàm phán, nếu có. Phán quyết của tòa sẽ là thắng lợi lớn cho công pháp quốc tế và các nước liên quan. Những quyết định về pháp lý sẽ là cơ sở cho những quyết định về đàm phán”.

Năm 2013, Manila đệ đơn kiện điều mà họ gọi là tuyên bố chủ quyền thái quá và vô căn cứ của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Tháng 10 vừa qua, tòa trọng tài ở La Haye ra phán quyết khẳng định có quyền phân xử vụ này cho dù Trung Quốc nhất mực không chịu tham gia vào tiến trình vụ kiện.

Tuần rồi, Philiipines vừa trình bày các lập luận của họ trước tòa.

Tháng trước, trưởng ngành an ninh Indonesia loan báo nước ông cũng có thể đưa bản đồ 9 đoạn của Bắc Kinh ở Biển Đông ra tòa.

Một hành động tương tự được trông đợi từ lâu ở Việt Nam, nhưng tới nay, Hà Nội chưa tỏ dấu hiệu cho thấy có ý định này, khơi dậy nhiều sự chỉ trích về chính sách không đủ cứng rắn đối với quốc gia cộng sản anh em mà chính phủ Hà Nội đang bị lệ thuộc rất nhiều.

Bàn về chữ nhục thời bây giờ

Bàn về chữ nhục thời bây giờ

VietTuSaiGon

RFA

Chữ “nhục” hay chữ “vinh” không phải mới có bây giờ. Nếu không nhầm, cặp phạm trù đối lập này có từ thời con người bắt đầu ý thức được mối tương quan giữa bản thân với xã hội chung quanh họ. Đương nhiên tùy vào từng bối cảnh, hoàn cảnh mà cặp phạm trù này mang những cái tên khác nhau. Nhưng xét về mặt ý niệm, khái niệm, có lẽ không có gì khác.

Hai chữ “nhục” và “vinh” cũng tùy thời mà người ta định nghĩa, tùy vào kiến văn, tùy vào tri thức và lòng tự trọng cũng như tư tưởng của mỗi người mà có cách định nghĩa về nó. Đây là chuyện vừa nhạy cảm vừa khôi hài, đôi khi cười ra nước mắt. Tuy bên ngoài tưởng như không có gì quan trọng nhưng nó lại liên quan đến những khái niệm khác như “sang” và hèn”. Thậm chí, trên một chừng mực nào đó, có sự tương hỗ, bổ sung giữa hai cặp phạm trù này.

Sở dĩ phải nói chữ “nhục” hay chữ “vinh” là tùy thuộc vào sở tri và định nghĩa của mỗi cá nhân là vì bản chất của “vinh” và “nhục” vẫn chưa bao giờ thay đổi, “nhục” là “nhục” mà “vinh” là “vinh” nhưng do cách định nghĩa, sở tri của mỗi cá nhân lại nên hai chữ này bị đánh tráo, xáo trộn thường xuyên, thời đại nào cũng có kẻ đánh tráo, xáo trộn. Thời đại tốt thì số kẻ đánh tráo, xáo trộn này ít, thời đại tồi tệ thì người ta đua nhau đánh tráo, xáo trộn, tự lừa mị bản thân để được thỏa mãn.

Thời đại Cộng sản xã hội chủ nghĩa, hai chữ nhục và vinh bị đánh tráo thê thảm. Sở dĩ hai chữ này bị đánh tráo bởi khái niệm sang và hèn đã bị đánh tráo trước đó. Hay nói cách khác là hệ qui chiếu về chữ nghĩa, về vị thế xã hội thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa hầu như bị sao chép 100% hệ qui chiếu thời phong kiến. Trong khi đó, thời đại toàn cầu hóa, cách nhìn, cách tiếp cận cũng như phương vị của mỗi cá nhân không còn bị giới hạn trọng một hệ tư tưởng độc tài, toàn trị như trước. Chính vì khả năng mở rộng này mà hệ qui chiếu thời Cộng sản trở nên lỗi thời, khủng hoảng.

Với kiểu quan niệm về sang và hèn của thời phong kiến, cứ sang dành chỉ những kẻ làm quan, sống bên trên xã hội, hèn là những thứ dân, không có chức quyền trong xã hội. Cái quan niệm này đem chụp y như vậy lên thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Người dân vẫn cứ quan niệm người sang là phải ngồi trên xã hội, phải được làm quan, phải có chức này chức nọ. Chính vì kiểu quan niệm đầy chất võ đoán như vậy mà hầu hết người dân luôn tỏ ra nễ phục những kẻ làm quan. Và đây là cơ hội để bọn làm quan thả sức làm càn. Vì có làm càn cỡ nào thì họ vẫn cứ là hạng sang. Họ vẫn cứ là những kẻ “vinh dự” bởi họ là quan, họ được sang.

Trong khi đó, bản chất của chữ sang không phải nằm ở chỗ anh ngồi đâu mà là anh làm gì. Chính hành động cao thượng, đẹp đẽ và nhân văn của con người mang lại cho ncon người sự sang trọng. Một người ăn xin chẳng hạn, ông ta xin được một ổ bánh mỳ nhưng thấy người ăn xin khác đói giống mình nhưng chưa có bánh mỳ, ông bẻ nửa ổ để chia sẻ với người ăn xin kia. Hành động này sang trọng và cao quí gấp triệu lần một kẻ giàu có, làm quan cao chức trọng rút ra vài trăm USD tặng cho em chân dài nào đó trong bàn nhậu để đi ăn phở hoặc đi mua thỏi son.

Nhưng trong thời lộng giả thành chân, ít ai thấy được sự sang trọng của người ăn mày nếu không muốn nói trong con mắt thiên hạ, người ăn mày vẫn mãi là người ăn mày cho dù họ có bỏ hết túi tiền ra để cho người khác nghèo khó hơn họ. Nhưng kẻ làm quan ăn trên ngồi trốc chỉ cần cho ai một thứ gì để diễn kịch thì không riêng gì dư luận xã hội mà ngay cả báo chí nhà nước cũng xông vào ca ngợi họ như một điển hình cao quí. Trong khi đó, ít ai suy tư về giá trị thật của hai món quà, một của người ăn mày phải dầm mưa dãi nắng, phải đánh đổi cả sức khỏe, cuộc đời và số phận để có được nó và cho một cách không cần suy nghĩ khi thấy đồng loại khốn khó hơn mình. Còn cái gọi là sang trọng kia, có thể là nguồn tiền tham nhũng, hối lộ, đục khoét tài sản nhân dân, trộm cắp tài nguyên quốc gia… Nhưng khi mang cho ai đó thì cố gắng đánh tiếng cho to tát. Nhưng người đời vẫn nhầm lẫn đó là sang trọng, là lòng tốt. Người ta đã hoàn toàn nhầm lẫn khái niệm giữa sang và hèn.

Bởi chính sự nhầm lẫn khái niệm giữa sang và hèn nên người ta cũng nhầm lẫn dây chuyền giữa nhục và vinh. Một gia tộc có nhiều con cháu làm quan, không cần biết con cháu của họ đã làm gì để được làm quan, trình độ cỡ nào, liêm khiết hay tham ô… Cứ nghe làm quan là thấy vinh cả dòng, càng nhiều người làm quan và chức quan càng lớn thì càng vinh dự, càng tự hào. Thậm chí mới hôm qua con hoạn lợn, bữa nay lên làm bộ trưởng, làm nghị gật hay hôm qua làm anh y tá quèn, bữa nay lên làm bộ trưởng, thủ tướng, không biết gì ngoài thủ đoạn và chui luồn, cố chấp, tài phiệt… Nhưng vẫn thấy rằng đây là niềm vinh dự của tổ tiên.

Những trường hợp như Nguyễn Lân Thắng hay Anh Chí, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Tần, Điếu Cày, Trương Duy Nhất… và rất nhiều trí thức yêu nước khác, hễ cứ nghe những người này bị hành hung, bị bắt nhốt, gán tội để bỏ tù thì ngoại trừ một nhóm nhỏ trí thức trong xã hội thấy bất bình nhà cầm quyền, đồng cảm với người bị hại… Đa phần còn lại đều cho rằng điều này là nhục nhã, tù tội là nhục nhã. Họ không cần biết trắng đen, tốt xấu… Và họ cũng chưa bao giờ định nghĩa được chữ vinh và chữ nhục cho chính xác.

Chính cái nền giáo dục thối nát của chế độ cụng như những chủ trương lớn của đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại suốt mấy mươi năm nay đã làm cho đa số nhân dân trở nên mù quáng và u muội, không thể phân biệt được đâu là nhục, đâu là vinh.

Và cũng chính cái chế độ này mới tạo ra được những con người ngồi ghế bí thư, ghế chủ tịch, thậm chí ghế bộ trưởng, tiền bạc rủng rỉnh, xe cộ láng cóng, nhà năm bảy cái vẫn cứ khai man mình là hộ nghèo để được hưởng trợ cấp. Làm quan hách dịch, tham lam, vô cảm, bị dân lên facebook nhận xét có gương mặt kênh kiệu thì thay vì tự sữa, tự thấy nhục, người ta lại tìm để trả thù bằng cách phạt người nhận xét và những ai đồng cảm, sau đó ra bộ tha thứ. Đến nước này, chỉ có những kẻ bị liệt dây thần kinh mắc cỡ và không thể hiểu được thế nào là nhục mới có thể trơ tráo và hợm hĩnh đến độ như vậy.

Quan lớn ăn lớn, quan nhỏ ăn nhỏ, quan bé tí ăn theo kiểu bé tí, tất cả đang tùng xẻo, xâu xé quốc gia, ăn trên mồ hôi nước mắt của trí thức, của lao động nghèo và cả của những người tứ cố vô thân, quanh năm mặc quần thủng đít phải vá đi vá lại trăm bề… Ăn thông qua thuế, đâu có ai hiểu chuyện này, mà có hiểu thì cũng vậy thôi!

Khi cả một hệ thống quan lại từ trung ương xuống địa phương xem sự nhục là bình thường, đánh tráo nỗi nhục thành cái vinh thì thử hỏi đất nước này sẽ ra gì? Và cách tốt nhất để trả đất nước về trạng thái bình thường là những người không biết nhục cần phải lùi về sống tầng đáy xã hội, để từ đó họ lớn khôn, trưởng thành mà hiểu được thế nào là làm người, thế nào là nhục là vinh. Chỉ có như vậy mới hy vọng đất nước này tiến bộ! Mặc dù chỉ là hy vọng!