Cú giáng vào nỗ lực TPP của Việt Nam?

Cú giáng vào nỗ lực TPP của Việt Nam?

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh bị nhiều người đàn ông đánh vào đầu và mặt khi bà đi bảo vệ quyền lợi cho các công nhân ở Đồng Nai.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh bị nhiều người đàn ông đánh vào đầu và mặt khi bà đi bảo vệ quyền lợi cho các công nhân ở Đồng Nai.

VOA Tiếng Việt

24.11.2015

Một nhà hoạt động trong nước cho biết bà đã bị “bóp cổ” và “đánh vào đầu” khi tới bảo vệ quyền lợi cho các công nhân “thấp cổ bé họng” ở Đồng Nai, giữa bối cảnh nhiều nhà lập pháp Mỹ bày tỏ hoài nghi về TPP, nhất là vấn đề công đoàn độc lập ở Việt Nam.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh cùng ký giả tự do Trương Minh Đức đầu tuần này tới trao đổi với hàng chục công nhân của một công ty nước ngoài hoạt động ở Việt Nam về việc họ bị “chấm dứt hợp đồng và bị sa thải trái pháp luật”, nhưng cuộc gặp đã nhanh chóng bị giải tán.

Bà Hạnh và ông Đức sau đó đã bị áp giải tới một đồn công an và bị câu lưu trong nhiều tiếng đồng hồ, trước khi được các nhà hoạt động khác tới “giải cứu”.

Người phụ nữ từng nhiều lần lên tiếng đòi quyền lợi cho công nhân kể lại sự việc với VOA Việt Ngữ:

“Tôi đã bị giam hơn 13 tiếng đồng hồ ở trong đồn công an ở Đồng Nai, và họ không đưa ra một lý do bắt tôi vào đó. Tuy nhiên, vào một giờ sáng thì họ đưa ra một văn bản vi phạm hành chính và bắt tôi ký vào, nhưng mà tôi dứt khoát không ký vào cái đó. Tôi chỉ là một nạn nhân đang chịu sự bắt bớ trái pháp luật, chịu sự đánh đập trái pháp luật. Khi ở chỗ công nhân, họ đã lôi kéo và cởi áo của tôi ra, nhưng mà may hai cái tay áo còn dính, nên áo của tôi vẫn còn trên cơ thể. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai, khi họ áp tải trên xe, một tay họ bẻ quặt ra sau và một tay họ bóp cổ để giữ tôi trên xe. Và song song chiếc xe của tôi có một người khác, liên tục đánh vào đầu, vào mặt tôi. Trên đoạn đường vắng, họ dừng lại, họ bảo đánh tôi mềm ra rồi mới đưa về đồn, và nơi đây tôi đã bị đánh rất dã man của năm người đàn ông”.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc để phỏng vấn với lãnh đạo công an phường Long Bình, Đồng Nai, nơi bà Hạnh và ông Đức bị tạm giữ.

Tin cho hay, tài sản cá nhân cũng như các tờ rơi của tổ chức độc lập có tên gọi Lao Động Việt, mà hai người này là các thành viên sáng lập, đã bị tịch thu.

Sự việc xảy ra hơn một tháng sau khi 12 nước, trong đó có Việt Nam, hoàn tất việc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và được chuyển cho quốc hội các nước xem xét, thông qua.

“ Trường hợp của Minh Hạnh bị đánh vào ngày hôm trước là một minh chứng cho việc ngăn cản, tổ chức thành lập các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. Sự ký kết của Việt Nam trong hiệp định TPP mực còn chưa khô vậy mà họ đã ra tay, thẳng tay đàn áp công nhân như vậy.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh.”

Toàn văn của hiệp định này đã được công bố hồi đầu tháng này, trong đó có kế hoạch của Mỹ và Việt Nam về việc tăng cường quan hệ thương mại và lao động.

Nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ phản đối TPP vì lo ngại công ăn việc làm của người Mỹ sẽ rơi vào tay người dân các nước khác, cũng như quan ngại về vấn đề quyền lợi của người lao động ở nhiều nước tham gia TPP, trong đó có Việt Nam.

Về vấn đề công đoàn độc lập khi Việt Nam gia nhập TPP, nhà hoạt động xã hội Đỗ Thị Minh Hạnh nói:

“Những điều khoản TPP đã mở ra một thế giới mới cho các liên đoàn độc lập tại Việt Nam, những công đoàn độc lập tại Việt Nam, cho các công nhân, những người thấp cổ bé họng, người ta không thể nào đủ lời ăn, tiếng nói để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người ta, trong khi các cơ quan chức năng như Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hay những công đoàn của công ty thì thường đứng về phía giới chủ. Trường hợp của Minh Hạnh bị đánh vào ngày hôm trước là một minh chứng cho việc ngăn cản, tổ chức thành lập các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. Sự ký kết của Việt Nam trong hiệp định TPP mực còn chưa khô vậy mà họ đã ra tay, thẳng tay đàn áp công nhân như vậy. Không phải riêng gì Minh Hạnh bị lôi, bị đánh mà những người công nhân bị giật hết tất cả giấy tờ của họ. Thậm chí có những bản hợp đồng của công nhân cũng bị những người này cướp trên tay của công nhân. Đây là một hành động đáng bị lên án”.

Hôm 18/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời chất vất của các đại biểu quốc hội về vấn đề thành lập “công đoàn độc lập” theo cam kết của TPP.

Người đứng đầu chính phủ Việt Nam được báo chí trong nước trích lời nói: “Việt Nam và tất cả các nước tham gia TPP phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của họ tại cơ sở doanh nghiệp. Các tổ chức này sau khi thành lập có thể lựa chọn gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động, và chỉ được hoạt động sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật”.

Tuy nhiên, theo bà Hạnh, công cuộc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân của các tổ chức công đoàn độc lập ở Việt Nam vẫn còn dài.

“Những điểm tốt đẹp về nghiệp đoàn trong TPP vẫn chưa nói lên được điều gì, và thực tế chưa chứng minh được điều đó”, bà Hạnh nói.

VỤ XỬ EM NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN: CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI

VỤ XỬ EM NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN: CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI

FB Tèo Ngu Khìn

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Nguồn: internet

Từ hôm qua đến giờ người cứ bần thần, mãi không viết được. Cảm thấy đau lòng, bức bối xen lẫn phẫn nộ cho cái án 4 năm 6 tháng tù dành cho em trai 15 tuổi Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Những điều luật cụ thể trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam 1999 (viết tắt BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009) cùng những thủ tục tố tụng với những qui định gia giảm dành cho người vị thành niên, đặc biệt từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đề cập trong Bộ luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam 2003 (BLTTHS 2003) cùng với thông tin về giám định tỷ lệ thương tật của những bị hại là công an không đủ thuyết phục tôi rằng cái án kia là công bằng, công tâm, khách quan, mang tính giáo dục, và vì con người.

Tôi chán không muốn nói đến luật lệ, nhất là mảng luật hình sự và tố tụng, của xứ này nữa. Biết bao người đã nói đến tính “phi lý” và “phi nhân” của một số điều trong BLHS 1999, những trình tự thủ tục “làm khó” và “cản trở” cả bị can/bị cáo lẫn luật sư bào chữa trong BLTTHS 2003 và những văn bản dưới luật liên quan.

Tôi chỉ muốn nghĩ đến căn nguyên nguồn cội dẫn đến những hành xử tuyệt vọng của gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Vì sao gia đình em phải đi đến những hành động này? Vì sao cả gia đình, chỉ trừ một em gái của Tuấn mới gần 14 tuổi giờ bơ vơ một mình ngoài đời, còn lại cả gia đình lâm cảnh tù tội? Vì sao thảm cảnh như gia đình em không phải là riêng biệt ở đất nước này? Vì sao rất đông dân oan hàng ngày bám trụ hết cơ quan này đến cơ quan khác để khiếu kiện, kêu oan? Việc gì họ phải vật vạ ngày này qua tháng nọ ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng chịu cái nóng đổ lửa của mùa hè, cái lạnh cắt da xé thịt của mùa đông, mà không nằm nhà cho êm ấm? Hầu hết đều liên quan đến đất đai và những hệ lụy từ đất đai liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng, bồi thường khuất tất.

Ai kết tội tôi là thành phần “phản động” tôi sẵn sàng vui vẻ chấp nhận, nhưng tôi vẫn cứ thẳng thừng mà nói: căn nguyên cho mọi điều trên là từ cái vòng kim cô “sở hữu toàn dân” về đất đai nhưng lại do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Dù có sửa bao nhiêu cái hiến pháp như mới vừa làm với Hiến Pháp 2013 mà không công nhận sở hữu tư nhân về đất đai bên cạnh các loại hình sử hữu khác (phải có sở hữu nhà nước), cùng với luật trưng thu trưng mua minh bạch, thì khiếu kiện đông người liên quan đến đất đai sẽ không bao giờ hết được, dân oan Mai Xuân Thưởng sẽ vẫn là hình ảnh quen thuộc đến buồn nản ở Hà Nội. Cái gốc vấn đề nằm ở hình thức Sở Hữu!

Tôi chỉ muốn nghĩ về khía cạnh giáo dục trong vụ án của em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của em khi cha mẹ mình bị thế, chứng kiến những gì đang xảy ra với gia đình mình như thế, tôi cũng sẽ hành động như em dù biết là liều lĩnh, tuyệt vọng, nhưng “chỉ có súc vật mới ngoảnh mặt lại với nỗi đau của đồng loại mà chăm lo cho bộ da của mình”. Chả có đứa con ngoan nào mà chấp nhận ngồi im nhìn người ta đối xử với cha mẹ và người thân ruột thị của mình đau lòng như vậy. Phải đứng về phía cha mẹ, vì như thế mới đúng là con người.

“Mở thêm một trường học là đóng cửa bớt một nhà tù”. Văn hào Victor Hugo đã đúc kết như thế. Nhưng một khi người ta muốn nhà tù mọc lên nhiều hơn trường học, một khi thay vì tận tâm và nhẫn nại với những biện pháp giáo dục nhân văn nhưng cực nhọc, người ta chỉ đơn giản tống bạn vào tù thì người ta sẽ không những không đạt được mục đích cải tạo, giáo dục đi trước trừng trị. Thậm chí người ta cũng sẽ không đạt được mục đích trừng trị và khuất phục, vì dù có hành hạ được bạn về thể xác nhưng người ta đã thất bại khi làm thế tức là cũng giúp hun đúc một tinh thần bất khuất, trui rèn thêm bản lĩnh đối đầu & đấu tranh trong bạn. Người ta sẽ chỉ “gặt” thêm được những dân oan, thành phần chống đối, chuốc thêm hận thù từ bạn.

Đảng cộng sản Việt Nam liệu sẽ chấp nhận sự đa nguyên?

Đảng cộng sản Việt Nam liệu sẽ chấp nhận sự đa nguyên?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-11-26

Sáng 9-11, tại Trụ sở Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam phối hợp Ban Tuyên giáo T.Ư, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân tổ chức Hội thảo khoa học – thực tiễn: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới đất nước…

Photo Dang Khoa/nhandan.com

Ngày 9/11 báo chí Việt Nam đưa tin là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, báo Nhân dân đã tổ chức một cuộc hội thảo trong đó có nói về vai trò của người Việt ở hải ngoại. Trong cuộc hội thảo này đã có ý kiến đề nghị cho người Việt ở hải ngoại được tham dự bầu cử và ứng cử tại Việt nam. Liệu đây có phải là một tín hiệu cho thấy đảng cộng sản Việt Nam sẽ chấp nhận sự đa nguyên chính trị trong tương lai?

Cũng trong khoảng thời gian diễn ra cuộc cuộc hội thảo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban tuyên giáo Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, Luật sư Vũ Đức Khanh, hiện sống và làm việc ở Canada cho biết ông nhận được điện thoại từ một lãnh đạo rất cao cấp của đảng cộng sản Việt nam, đề nghị cho biết ý kiến về tiến trình dân chủ tại Miến Điện sau khi đảng đối lập thắng lớn. Luật sư Khanh cho biết thêm là cuối buổi nói chuyện, vị lãnh đạo Việt Nam nói rằng ông hy vọng một ngày không xa luật sư Khanh có thể ra tranh cử tại Việt Nam.

Luật sư Khanh nói với chúng tôi rằng:

“Tôi nghĩ rằng chính phủ Hà nội cũng đã có những kế hoạch để mở rộng cái khung chính trị ở Việt Nam, để mà có thể cho một số người Việt ở nước ngoài tham gia vào chính trường Việt Nam.”

Một nhà hoạt động xã hội dân sự trong nước là Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận xét về những lời phát biểu được báo chí Việt Nam trích dẫn trong buổi hội thảo của Mặt trận Tổ quốc:

“Nếu mà có một sự việc như thế diễn ra thì chắc chắn nó là một sự cởi mở hơn. Thực tiễn nó diễn ra như thế nào thì phải đến lúc đấy mới đánh giá được. Nhưng mà ý đồ như thế mà được nói ra thì tôi cho rằng cũng là ý cở mở.”

Ngoài ra Tiến sĩ Nguyễn Quang A còn nói rằng chuyện cho những người Việt sống ở nước ngoài nhưng vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam tham gia bầu cử là một việc đương nhiên.

Trong lịch sử cầm quyền của đảng cộng sản Việt Nam, cũng đã có một số người Việt ở nước ngoài hồi hương hoạt động trong nhiều lãnh vực. Một số cũng có mặt trong guồng máy nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo như ông Lương Văn Lý làm trong ngành ngoại giao tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Ngọc Trân là đại biểu Quốc hội trong vài nhiệm kỳ.

“ Việc mà đảng cộng sản VN có cởi mở hay không, đặc biệt là về phương diện chính trị, thì tôi cho rằng điều then chốt là điều 4 Hiến pháp. Ngày nào mà họ còn duy trì điều bốn Hiến pháp, tức là ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước và xã hội, thì những sự cởi mở, theo tôi chỉ là những vấn đề tạm bợ

Ông Lý Thái Hùng”

Nhưng cả hai người này đều là đảng viên cộng sản.

Trong bài phát biểu tại cuộc hội thảo của Mặt trận Tổ quốc, một người tham gia hội thảo là Tiến sĩ Bùi Đình Phong có nói rằng cần xóa bỏ những phân biệt đối xử về quá khứ, về giai cấp.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định:

“Nếu chỉ là của một hội nghị của Mặt trận (Tổ quốc) mà người ta chỉ nêu ý kiến thì tôi nghĩ có thể chỉ là ý kiến của một người nào đấy. Tuy rằng nó có thể phản ánh một xu hướng cởi mở hơn nào đó, nhưng mà nếu chưa có một qui định pháp lý nào thì tôi cho là cũng khó để mà đánh giá.”

Ông Lý Thái Hùng, sống tại Mỹ, hiện là Tổng bí thư đảng Việt Tân, một đảng chính trị lớn của người Việt ở hải ngoại cho rằng

“Việc mà đảng cộng sản Việt Nam có cởi mở hay không, đặc biệt là về phương diện chính trị, thì tôi cho rằng điều then chốt là điều 4 Hiến pháp. Ngày nào mà họ còn duy trì điều bốn Hiến pháp, tức là đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước và xã hội, thì những sự cởi mở, theo tôi chỉ là những vấn đề tạm bợ để mà giải quyết những nhu cầu khó khăn của chế độ liên quan đến kinh tế, chính trị, xã hội. Kể cả việc mà họ công nhận một số những người từ hải ngoại về, để tham chính hay tranh cử ở một chức vụ nào đó ở Quốc hội hay chính quyền, thì tôi nghĩ nó cũng chỉ là những biểu tượng để dùng nó mà tuyên truyền.”

Từ trái ông Lý Thái Hùng - Ông Nguyễn Quang A - ông Vũ Đức Khanh

Từ trái ông Lý Thái Hùng – Ông Nguyễn Quang A – ông Vũ Đức Khanh

Theo Luật sư Vũ Đức Khanh thì đảng cộng sản Việt Nam đang tìm cách “giải độc” hình ảnh về họ ở hải ngoại, đặc biệt là đối với cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ, nơi đổ về Việt nam một lượng kiều hối rất lớn, và Hoa Kỳ cũng là quốc gia mà Việt Nam mong muốn xây dựng những quan hệ tốt đẹp.

Khi nói về quan hệ sắp tới giữa đảng cộng sản và những người Việt Nam khác chính kiến với họ, đặc biệt là ở hải ngoại, Luật sư Khanh nói tiếp:

“Việt Nam phải làm lành với quá khứ. Trong tương lai chúng ta phải chấp nhận sự khác biệt của những người khác, cả những người cộng sản lẫn quốc gia, và những người có những tư tưởng khác nữa. Người quốc gia thường hay lo ngại nói rằng người cộng sản quá mưu mô xảo quyệt, từ năm 1945 cho đến nay, cho nên họ rất ngại khi có tiếp xúc với những người cộng sản. Tôi nghĩ là chúng ta nên nhớ rằng 70 năm đã trôi qua, thời điểm 2015 hoàn toàn khác, Việt Nam cũng như thế giới. Đảng cộng sản Việt nam không còn là ma quỉ giống như thời kỳ trước đây nữa. Cho nên chúng ta cũng cần phải mạnh dạn tiếp xúc với những người từ phía đảng cộng sản Việt nam để mà có thể tháo gỡ những khó khăn của Việt Nam hiện tại.”

“ Việt nam phải làm lành với quá khứ. Trong tương lai chúng ta phải chấp nhận sự khác biệt của những người khác, cả những người cộng sản lẫn quốc gia, và những người có những tư tưởng khác nữa

Luật sư Vũ Đức Khanh”

Ông Lý Thái Hùng thì nghi ngờ hơn, đánh giá về sự thay đổi của đảng cộng sản ông cho rằng:

“Đương nhiên đảng cộng sản Việt Nam họ có những thay đổi về bề mặt, nhưng mà thực tế bên trong họ vẫn cố gắng làm sao để duy trì một lực lượng chính trị duy nhất để thống trị trên toàn đất nước. Cho nên trong bối cảnh (tương lai) mà Việt Nam có tự do dân chủ thì đảng Việt Tân sẽ hoạt động với các lực lượng chính trị khác, trong đó có đảng cộng sản hay không thì nó tùy thuộc rất nhiều vào bối cảnh chính trị lúc đó với lá phiếu chọn lựa của người dân.”

Trở lại với cuộc trao đổi giữa Luật sư Khanh và vị lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản Việt nam, ông Khanh có nhận xét:

Có một sự chân thành, nhưng mà đây là trong lĩnh vực chính trị nên chúng ta cũng không biết lấy cái gì mà đo. Nhưng mà bất cứ sự thay đổi nào về cấu trúc chính trị của Việt Nam, đều phải có sự chân thành của tất cả các bên. Nếu chúng ta không vượt qua được sự nghi kỵ thì không đạt được đến điểm nào cả.”

Ngoài ra ông Khanh, hiện là Phó Tổng thư ký của Đảng dân chủ Việt Nam phụ trách ngoại giao, còn cho biết là mặc dầu không có tuyên bố chính thức nào nhưng khả năng là có những cuộc tiếp xúc giữa đảng cộng sản và các khuynh hướng chính trị khác tại hải ngoại.

Trong biến chuyển chính trị ở Đông Âu 26 năm trước cũng đã có tiền lệ là các đảng cộng sản Đông Âu có duy trì sự tiếp xúc với các thành phần đối lập. Tiến sĩ Nguyễn Quang A người sống và học tập lâu năm ở Hungary xác nhận với chúng tôi là ở quốc gia này đã có những quan hệ như thế, đặc biệt ông cho biết là vào năm 1987 đã có 1 buổi họp quan trọng của các thành phần trí thức đối lập, trong đó có sự tham dự của người lãnh đạo đảng cộng sản lúc đó.

Ông Lý Thái Hùng thì nói là ông chưa biết là có những cuộc tiếp xúc như vậy giữa đảng cộng sản hiện nay với các thành phần đối lập về chính kiến ở hải ngoại hay không, nhưng ông cho rằng đó là điều có thể xảy ra khi đảng cộng sản lâm vào khủng hoảng, phải thay đổi.

CON TẠ ƠN CHÚA

CON TẠ ƠN CHÚA

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

(Bài cũ nhưng xin gởi một lần nữa vì thấy có ý nghĩa trong ngày lễ Tạ ơn)

Con tạ ơn Chúa vì chồng của con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp,
bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải bên ai khác.

Con tạ ơn Chúa vì con của con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con,
bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao,
bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ,
bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến kéo đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng trở nên hơi chật,
bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ ở sát bên con, nhìn con làm việc,
bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì nền nhà cần quét, cửa sổ cần lau, màng xối cần sửa,
bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của tháng này lại tăng cao,
bởi lẽ như thế nghĩa là Con đang được ấm áp.

Con tạ ơn Chúa vì cái bà ngồi phía sau con trong Nhà Thờ
hát sai tông lạc nhịp,
bởi lẽ như thế nghĩa tai con còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ rất lớn phải giặt và ủi,
bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp trong người con
nó mệt rũ ra v
ào cuối ngày,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm vào buổi sáng,
bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại, hít thở và cười nói,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang còn sống được thêm một ngày nữa.

Và cuối cùng…

Con tạ ơn Chúa vì đã nhận được quá nhiều E-mails gửi về,
bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con

Con gửi bài này để bạn bè con hiểu rằng:

“Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương,
cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào !”

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

Đạo Đức Lãnh Tụ & Tình Dục Nhân Dân

Đạo Đức Lãnh Tụ & Tình Dục Nhân Dân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Hồ Chí Minh

Chừng ba mươi năm trước, tôi may mắn đọc được bài viết rất công phu của nhà văn Trùng Dương – “Phan Khôi: Ngọn Hải Đăng Giữa Vùng Biển Động.” Trước đó, tôi chỉ nghe danh ông là người mở đường cho phong trào thơ mới ở Việt Nam:

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng ….

Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

Nhờ chị Trùng Dương, tôi mới biết được thêm Phan Khôi từng được mệnh danh là một Ngự Sử Văn Đàn. Ông đã có những đóng góp lớn lao cho làng báo Việt, vào giai đoạn sơ khai. Gần đây, qua biên khảo (Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932) của Linh Mục Thanh Lãng, tôi lại được dịp xem qua quan niệm về nữ quyền vô cùng phóng khoáng (và rất cách mạng) của ông:

“Trong phụ nữ ta có nhiều người chồng chết, ở trong cảnh ngộ rất đáng thương, buồn rầu đủ mọi trăm thứ, vậy mà nói đến truyện cải giá, sợ mang tiếng, nhất định không thì thôi. Có người bóp bụng cắn răng cũng giữ được trót đời ; nhưng có người khôn ba năm dại một giờ, thì ra mang cái xấu lại còn hơn cải giá. Lại thường thấy bà goá nào có máu mặt thì bọn điêu thoa trong làng trong họ lập mưu mà vu hãm cho, để mong đoạt lấy gia tài. Những sự đó đều là chịu ảnh hưởng của cái luật cấm cải giá mà ra ; vậy thì nó chỉ làm hại cho phong hoá thì có chớ có bổ ích gì đâu ? Bởi vậy ta nên phế trừ cái luật ấy đi ; từ rày về sau, trong óc chúng ta, cả đàn bà và đàn ông Việt Nam đừng có cái quan niệm ấy nữa.” (Phụ Nữ Tân Văn số 95,13-8-1931).

Nguồn ảnh: vuisongmoingay

“Cái luật cải giá” khắt khe của thời phong kiến tại Việt Nam – tiếc thay – đã không bị “phế trừ” mà còn trở nên khắt khe hơn,  sau khi cuộc cách mạng vô sản thành công ở xứ sở này:

Ả Định mới hai mươi hai tuổi đã có ba đứa con, nhưng trông còn son lắm. Da trắng, má lúc nào cũng ửng hồng, ngực phây phây như cái thúng. Anh mất, ả nghĩ mình là người của Đoàn thể nên rất giữ gìn. Hơn nữa, gia đình ả có công với cách mạng từ lâu. Bác Hoe Chu, bố chồng, tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội từ năm 1927. Chồng của ả vào Đảng từ khi còn bóng tối. Về làm dâu, ả được bố chồng và chồng giác ngộ, cũng trở thành đảng viên… Không may giữa đường đứt gánh tương tư. Giữ nếp nhà, ả mặc áo sổ gấu, đội nón không vành. Nhưng sức lực càng ngày càng căng ra… Tuy thế, ả vẫn tránh tất cả các trường hợp đàn ông cợt nhả khi gặp riêng trên đường làng… Rồi đến một hôm, trong cuộc họp, anh Cu Kình liếc mắt nhìn ả, ả quay mặt đi. Cứ quay mặt mãi cũng không tránh được cái vòng vây tình ái của anh Cu Kình. Đôi má của ả càng ngày càng đỏ au như con gái dậy thì khiến anh mê như điếu đổ. Anh đón gặp ả trên đường làng, gặp ngoài đồng, gặp ban ngày, gặp ban đêm. Rồi hai người hò hẹn nhau. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Và ả có thai sau bảy năm giữ gìn. Đảng uỷ triệu tập ả lên trụ sở…

 Khi nêu vấn đề khai trừ ả Định, có người gợi ý “chiếu cố quá trình tham gia cách mạng của gia đình”. Nhưng đồng chí bí thư diễn giải một cách kiên quyết: “Tội quan hệ tình ái bất chính là tội rất nặng. Hơn lúc nào hết, trong hoàn cảnh hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, Đảng ta phải thật trong sạch. Đảng viên đi trước làng nước theo sau… (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty Văn Hoá & Truyền Thông Võ Thị, 2007. Bản điện tử do talawas chủ nhật thực hiện).

Cách “diễn giải” của “đồng chí bí thư” về “quan hệ tình ái” , xem ra, có vẻ hơi xa (rời) với cuộc sống của “làng nước.” Sau những lũy tre xanh, người dân Việt vẫn cứ sinh hoạt theo nhịp thở, nhịp tim, và tiếng lòng của họ (thay vì theo ý Đảng) bất kể là vào thời bình hay thời chiến:

Những năm 1965- 1975 nhà mình sơ tán ở làng Đông. Nhớ nhiều người nhưng nhớ nhất anh Đa.

Bây giờ kể chuyện anh Đa thôi, vì anh này hay nhất trong kí ức của mình về cái làng này.

Anh Đa lùn, đen, xấu. Anh Diệu nói cái mặt thằng Đa chành bành giống cái l. trâu.

Anh Đa sống với mẹ già, sau mẹ chết anh ở một mình. Nhà nghèo quá, 24, 25 tuổi rồi hỏi cô nào cũng bị chê.

Anh con liệt sĩ, lại con một, khỏi đi bộ đội. Con trai trong làng ai lớn đều đi bộ đội hết, còn lại dăm ba anh tuổi như anh thôi, chỉ có anh là chưa vợ. Mẹ anh khóc lên khóc xuống, anh vẫn chẳng quan tâm đến chuyện vợ con. Cho đến khi mẹ anh chết anh vẫn độc thân. Mình hỏi anh sao anh không lấy vợ. Anh nói tao để vậy để đàn bà nó thèm…

Anh chỉ làm hai việc: đi đập lúa thuê và nơm cá bán lấy tiền. Cứ mùa lúa là anh đi đập lúa cho các gia đình có chồng con đi bộ đội, một đêm đập lúa được trả vài lon gạo. Thế cũng đủ sống, lại được tiếng giúp đỡ gia đình bộ đội…

Một đêm mình đi thăm túm lươn, hôm đó được nhiều, hơn chục con, mừng lắm hí hửng xách oi về thì gặp anh Đa đi từ nhà chị Thơm ra. Mình hỏi anh đi đâu, anh nói không.

Minh thấy anh mặc cái áo bộ đội dài gần đến gối (anh lùn mà). Nghi nghi, mình kéo vạt áo anh lên, chim cò phơi ra cả, hoá ra anh không mặc quần. Mình ngạc nhiên nói sao vào nhà người ta lại không mặc quần, anh cười phì một tiếng rồi bỏ đi.

Nguồn ảnh minh họa:trannhuong

Nhà chị Thơm một mẹ một con, chồng đi bộ đội, thằng cu con chị mới hơn 4 tuổi. Mình nghi lắm. Mình lẻn theo anh Đa.

Anh Đa lại vào nhà chị Hà. Chị Hà có chồng hy sinh, vừa báo tử năm ngoái. Chị vẫn say sưa sinh hoạt đoàn, biến đau thương thành hành động cách mạng, hăng hái phát biểu lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu…v.v. Bà con làng xóm khen lắm, vẫn nói với con gái con dâu: đó, sang nhà con Hà mà coi.

Mình vào sau hồi nhà chị Hà Tối quá không thấy gì, chỉ nghe chị kêu hệt như mèo kêu. Mình chặn anh Đa ở cổng nhà chị Hà nói em biết rồi nha. Anh Đa túm cổ áo mình nói mày nói tao giết.

Về sau, lần nào đi nơm anh vừa nơm suất của anh, vừa nơm suất của mình. Mạ mình toàn khen thằng Lập dạo này nơm cá giỏi. Hi hi.

Làng Đông có chừng 4-5 trăm nóc nhà, hơn 1 trăm nóc là nhà hoặc là vợ bộ đội hoặc là vợ liệt sĩ. Không biết anh Đa chui vào bao nhiêu nhà trong số 100 nóc nhà ấy, chỉ biết suốt cuộc chiến tranh 1965-1975, tối nào cứ đến 3-4 giờ sáng anh Đa lại mặc cái áo bộ đội dài đến đầu gối, không thèm mặc quần, đi hết nhà này đến nhà kia, 5 giờ sáng thì về.

Mình hỏi sao anh không mặc quần. Anh nói mặc mần chi, cởi vô cởi ra mệt. ( “Anh Cu Đa” –  Nguyễn Quang Lập).

Một anh trai làng “lùn, đen, xấu” và “mặt  chành bành giống cái l. trâu” mà còn “bận” đến cỡ đó thì anh Ba Duẩn (“ngọn đèn cháy sáng 200 nến”, soi khắp Bắc/Nam) làm sao mà rảnh rang cho được:

Tháng 7-1986 Duẩn chết, dân đứng hai bên đường đếm mấy bà tổng goá. Chúng khẩu đồng từ bảo nhau cái bà tre trẻ mặc áo dài đen dắt đứa con be bé kia đứt đuôi là vợ tư! Ấy, chưa kể những bà bị gạt xuống nữa chứ. Cho lên cả thì khéo phải một hai xe nữa…

 Ngày ấy nếu blogger nhiều như ba chục năm sau thì trên mạng cử là lũ lụt lời bình về sức mạnh tính dục của Lê Duẩn.

Rõ ràng là có nỗi sự riêng tư thầm kín của thân thích ông, sau cái chết của ông, vị hoàng đế đỏ từng làm run sợ và đau khổ biết bao con người. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Những vị “hoàng đế đỏ” kế tiếp (Đỗ Mười, Lê Khả , Nông Đức Mạnh) cũng đều là những nhân vật mà sinh hoạt tình dục của họ khiến cư dân mạng phải tốn không ít thời giờ. Điều may mắn là đất nước  bước vào “thời mở cửa” (chả còn phải giấu diếm gì, và muốn dấu cũng không thể được) nên không có tình nhân nào bị biến thành nạn nhân – bị xe tông bể sọ – như bà Nông Thị Xuân ngày trước nữa.

Ảnh: vietnamnet

Cũng từ thời đổi mới, quan niệm về sinh hoạt tình dục của toàn dân rất nới (và rất mới) – theo thông tin của tờ Việt Báo: “Việt Nam Tỷ lệ nạo phá thai cao hàng đầu thế giới.”

Tờ Vietnamnet thì đưa ra một con số khiêm tốn và nhẹ nhàng hơn, chút xíu: “Hiện Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ 5 thế giới.”

Tại sao Việt Nam lại đứng đầu thế giới, hay toàn khu vực về tỷ lệ nạo/phá thai như thế? Tôi trộm nghĩ thế này, đúng sai xin được công luận quan tâm để vấn đề thêm được tỏ tường: chắc tại ở những quốc gia khác không có một vị lãnh tụ đạo đức như Hồ Chí Minh nên dân chúng không phải học tập và làm theo tấm gương của Bác.

Chuyện về những hậu duệ và truyền thống gia tộc.

Chuyện về những hậu duệ và truyền thống gia tộc.

 Đoàn Thanh Liêm

* * *

Từ xa xưa cha ông chúng ta vẫn thường nói: “Cha mẹ hiền lành để đức cho

con”. Và trong dân gian, người ta cũng hay nhắc đến câu “Phúc đức ông bà”,

hay câu “Nhờ âm đức tổ tiên” v.v… Những câu nói thông dụng này đều mang

một ý nghĩa nòng cốt là: Lớp hậu sinh tức là người đến sau thì thường được

thụ hưởng những điều tốt lành do cha mẹ, ông bà để lại cho thế hệ của mình.

Vì thế mà có nhiều gia đình đã có những đóng góp lớn lao tích cực cho xã hội

và được người đời xưng tụng là “danh gia vọng tộc”.

Ngược lại, cũng có trường hợp mà cha mẹ lại là người ăn ở bất lương thất

đức, thì con cái sẽ phải gánh chịu những hậu quả xấu xa, tệ hại – như được

diễn tả trong câu tục ngữ “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Nhiều gia thế

lâm vào cảnh lụn bại thảm thương, mất hết uy tín trong xã hôi bởi vì có

những người con gây ra những điều tàn bạo độc ác đối với bà con lối xóm.

Do đó mà họ bị người đời khinh chê ghét bỏ và gọi đó là những thứ “nghịch

tử”, “phá gia chi tử”.

Nhân dịp đầu xuân Bính Thân 2016 năm nay, tôi xin được góp phần trình bày

về chuyện liên hệ giữa lớp hậu duệ với truyền thống gia tộc – dựa vào những

tài liệu cụ thể qua những sách báo đã được phổ biến xưa nay.

Trước hết, xin kể chuyện về vài gia tộc đã định cư lập nghiệp lâu đời qua

nhiều thế hệ trên đất Mỹ. Sau đó sẽ trình bày về một gia tộc ở Việt nam.

I – Về gia tộc của hai người Mỹ sinh sống cùng thời là ông Jonathan Edwards

và ông Max Jukes

 Jonathan Edwards (1703 – 1758) là một vị mục sư, học giả tinh thông cả

khoa học, triết học lẫn thần học mà lại có một đời sống tâm linh đạo hạnh rất

sâu xa vững chắc. Ông được sự quý trọng của giới trí thức đương thời ở Mỹ

vào nửa đầu của thế kỷ XVIII. Qua đến thế kỷ XX, ảnh hưởng tinh thần đạo

đức của ông vẫn còn có sức lôi cuốn đặc biệt đối với phong trào canh tân

Thiên chúa giáo theo truyền thống Tin lành ở nước Mỹ.

Cha của ông là Timothy Edwards cũng là một vị mục sư ở Connecticut và mẹ

của ông là Esther Stoddard cũng là con gái của vị mục sư Solomon Stoddard

ở Massachusetts.

Bà vợ của ông là Sarah Pierpont thì là con của ông James Pierpont là người

sáng lập Đại học Yale. Bà Sarah cũng còn được tiếng là một người rất đạo

đức lành thánh. Ông bà Edwards có tất cả 11 người con.

  • Đặc biệt là ông bà để lại cho xã hội nước Mỹ một lớp hậu duệ gồm nhiều

người vừa có tài năng nổi trội, vừa có đức hạnh đáng quý. Xin ghi chi tiết

như sau đây.

1(1) – Hậu duệ của ông bà Jonathan Edwards

Vào năm 1900, tức là sau gần 150 năm kể từ ngày ông Edwards qua đời, thì

một tác giả tên là Albert E Winship cho ấn hành một cuốn sách có nhan đề là:

“Jukes-Edwards: A Study in Education and Heredity”.

Trong cuốn sách này, tác giả cho biết đã tra cứu tìm hiểu đến 1,400 hậu duệ

của ông bà Edwards và tìm thấy có đến hàng mấy chục vị là giáo sĩ, 13 vị

làm Viện trưởng Đại học, 65 vị là giáo sư cùng nhiều vị có thành tích nổi trội

khác nữa.

Xin kê khai một vài danh tính: Aaron Burr cháu ngọai là vị Phó Tổng Thống

thứ ba của nước Mỹ phụ tá cho Tổng thống Thomas Jefferson, các nhà văn O.

Henry và Robert Lowell, Đệ nhất Phu nhân Edith Roosevelt của Tổng thống

Ted Roosevelt, các Viện trưởng Đại học Timothy Dwight, Jonathan Edwards

Jr, và Merrill Edwards Gates v.v…

1(2) – Hậu duệ của ông bà Max Jukes.

Trái lại, tác giả cũng tìm hiểu 1,200 hậu duệ của một “nhân vật phản diện” là

người cùng thời với ông Jonathan Edwards, đó là ông Max Jukes người gốc

Hòa Lan ở New York. Xin chú ý: Cái tên “Max Jukes” này do tác giả đặt ra

để thay thế cho tên thật của một người thuộc lọai xấu xa “tội lỗi” (guilty) –

nhằm tránh gây bối rối phiền muộn cho gia tộc của chính đương sự. Và cũng

vì thế mà tác giả đã không hề nêu rõ danh tính của bất kỳ người nào trong gia

tộc của nhân vật “Max Jukes” này nữa. Tác giả chỉ ghi rõ bằng tiếng Anh thế

này: “Max Jukes, a New York Dutchman”

Trong số hậu duệ của ông “Max Jukes” này, thì có đến trên 300 người thuộc

lọai “nghèo khó chuyên nghiệp” (professional paupers), 50 phụ nữ xấu xa

trắc nết (women of ill repute), 7 kẻ sát nhân (murderers), 60 trộm cắp thường

xuyên (habitual thieves) và 130 tội phạm bị kết án khác nữa (convicted

criminals) v.v…

Để bạn đọc có thêm ý niệm nhằm so sánh với các nhân vật có danh tiếng

khác mà cũng sinh sống vào thế kỷ XVIII như Jonathan Edwards – tức là

cách nay đã đến 3 thế kỉ – thì tại Việt nam phải kể đến nữ sĩ Đoàn Thị Điểm,

học giả Lê Quí Đôn; tại Pháp có những văn hào Rousseau, Voltaire,

Montesquieu; tại Anh có triết gia David Hume, kinh tế gia Adam Smith v.v…

Sau 300 năm, thì số hậu duệ dàn trải trong 15 thế hệ (bình quân mỗi thế hệ

cách nhau là 20 năm) của mỗi người trong các nhân vật này có thể lên đến

hàng nhiều ngàn người. Nếu các nhà nghiên cứu mà ra công sức tìm kiếm các

chi tiết về hậu duệ của những nhân vật xuất chúng đó, thì chắc chắn sẽ tìm ra

được nhiều điều rất bổ ích lý thú vậy.

Tiếp theo, xin trình bày về một gia tộc ở Việt nam chúng ta.

II – Về ba thế hệ trong gia đình của nhà ái quốc Phan Châu Trinh tại Việt

nam (1872-1926).

Vào đầu thế kỉ XX, lúc nước ta còn bị thực dân Pháp đô hộ, thì có hai nhà ái

quốc rất nổi tiếng và được tòan dân kính phục mến chuộng, đó là các cụ Phan

Bội Châu gốc ở Nghệ An và Phan Châu Trinh gốc ở Quảng Nam. Đã có rất

nhiều tài liệu sách báo viết về hai nhân vật kiệt xuất này rồi, nên trong bài

này, tôi chỉ viết riêng về ba thế hệ trong gia đình của cụ Phan Châu Trinh mà

thôi.

2(1) – Thế hệ thứ nhất: Ông Bà Phan Châu Trinh và Lê Thị Tỵ.

Hai ông bà cưới nhau vào năm 1896 và sinh hạ được ba người con gồm một

con trai và hai con gái. Bà Lê Thị Tỵ sinh năm 1877 thua ông 5 tuổi, nhưng

bà mất sớm vào năm 1914 ở tuổi chưa đến 40 – giữa lúc đó thì ông và người

con trai lớn đang ở bên Pháp, còn hai người con gái thì hãy còn nhỏ tuổi.

Được tin bà mất, ông Phan Châu Trinh vô cùng xúc động và làm một câu đối

khóc bà bằng chữ Hán được dịch nghĩa như sau:

“Hai mươi năm cầm sắt vắng teo, dãi gió dầm mưa, nhìn ảnh làm chồng,

một mực nuôi con lau lệ nóng.

Dưới chín suối bạn bè han hỏi, dời non lấp biển có ai giúp tớ, nhìn lo mình

lão múa tay không”.

Ông cũng làm một câu đối thay cho con trai đang ở với ông để “khóc mẹ”

giọng điệu thật là lâm ly thống thiết nguyên văn như sau:

“Con tưởng mẹ, mẹ ơi! Mẹ đau con chẳng biết, mẹ mất con chẳng hay, biển

rộng trời cao, nghìn dặm luôn trông tin mẹ mạnh;

Mẹ thương con, con rõ! Con ở mẹ nhọc lo, con đi mẹ nhọc nhớ, ơn dày nghĩa

nặng, trăm năm đành để nợ con mang”.

Một người cháu trong gia đình có kể lại rằng: “Hồi cụ Phan còn đang làm

quan trong triều đình tại Huế, thì đã có ý định cưới thêm một bà vợ khác theo

như tập tục đa thê vẫn còn thịnh hành vào thời kỳ đó. Thế nhưng có lần ông

cụ về thăm gia đình vẫn còn sinh sống tại miền quê ở Quảng Nam, thì thấy cụ

bà đi làm ruộng về rất trễ, mà quần áo thì lấm lem xộc xệch, coi bộ thật lam

lũ tất bật vất vả. Thấy vậy, ông cụ đâm ra cảm thương, mủi lòng và nhất

quyết từ bỏ cái chuyện đi cưới thêm một bà vợ lẽ nữa. Vì thế mà ông cụ chỉ

có một dòng con duy nhất mà thôi…”

2(2) – Thế hệ thứ hai: Những người con của ông bà Phan Châu Trinh.

Ông bà có tất cả ba người con gồm một con trai và hai con gái. Xin ghi chi

tiết về từng người con như sau

A – Con trai đầu Phan Châu Dật (1897 – 1921)

Vào năm 1911, ở tuổi 14 cậu Dật theo cha sang bên Pháp. Tại đây, cậu được

đi học và nhờ siêng năng nên học hành tiến bộ, đã thi đậu văn bằng Tú Tài và

còn chịu khó đi làm việc thêm để giúp cha nữa. Nhưng không may, cậu bị lao

phổi và tuân theo lời cha vào năm 1919 thì về lại Việt nam để chữa bệnh và

qua đời tại đây năm 1921. Cậu Dật chưa kịp lập gia đình, nên ông bà Phan

Châu Trinh đã không có cháu nội.

B – Con gái lớn là Phan Thị Châu Liên (1901 – 1996)

 Trong gia đình, bà Châu Liên còn có tên là Cô Đậu. Bà lập gia đình với giáo

sư Lê Ấm là vị thày giáo nổi tiếng dạy học lâu năm tại Huế và Quy Nhơn. Bà

là người sống thọ nhất (95 tuổi) trong số 3 người con của cụ Phan.

Vào năm 1914 khi bà cụ Phan Châu Trinh mất, mà ông cụ và anh trai Châu

Dật còn ở bên Pháp, thì cô Đậu mới được 13 tuổi, ấy thế mà sau ít năm cô

Đậu đã có thể lấy được tấm chồng danh giá là vị giáo sư được nhiều người

tôn vinh là ông Đốc Ấm. Ông bà Lê Ấm sinh được nhiều người con, tất cả

đều được học hành tươm tất.

Suốt thời kỳ của chính quyền quốc gia, ông bà vẫn ở miền Nam và không ai

nói gia đình bà Châu Liên có gặp khó khăn gì với cơ quan an ninh cả – mặc

dầu trong nhà ông bà lại có mấy người con lớn đi ra miền Bắc họat động cho

cộng sản. Ông Lê Ấm mất ở Đà nẵng năm 1976 vào tuổi 80.

C – Con gái út là Phan Thị Châu Lan (1904 – 1944).

Bà con gái út Châu Lan này còn có tên là Cô Mè. Bà lập gia đình với ông

Nguyễn Đồng Hợi gốc cũng ở Quảng Nam và là một tham tá công chánh

(agent technique). Cũng giống người chị Châu Liên, bà Châu Lan mới được

10 tuổi khi mẹ mất vào năm 1914 và cha thì ở mãi bên nước Pháp – ấy thế

mà sau này bà cưới được người chồng có trình độ chuyên môn và nghề

nghiệp danh giá như ông Hợi – với việc làm bảo đảm trong cơ quan chính

quyền Pháp ở Nam kỳ và Cambodia cho đến năm 1945. Ông bà có đông con

mà sau năm 1954, thì hầu hết các con đi theo cha tập kết ra miền Bắc. Không

may bà Châu Lan mất sớm vì bệnh vào năm 1944 lúc mới có 40 tuổi.

Còn ông Hợi, thì có tài liệu ghi là ông được kết nạp vào đảng cộng sản năm

1947 lúc còn ở miền Nam. Ông mất ở Hà nội năm 1969 vào tuổi 70.

2(3) – Thế hệ thứ ba: Các người cháu của ông bà Phan Châu Trinh.

Cụ Phan chỉ có 3 người con, nhưng mà lại có đến tất cả là 13 cháu ngọai là

con của 2 người con gái Châu Liên và Châu Lan. Xin ghi ra những chi tiết về

các người cháu ngọai này như sau.

A – Những người con của bà Phan Thị Châu Liên và ông Lê Ấm.

Ông bà Lê Ấm có tất cả 7 người con gồm 1 trai và 6 gái với tên theo thứ tự

lớn nhỏ như sau đây: Lê Thị Khoách, Lê Thị Kinh, Lê Thị Lộc, Lê Khâm, Lê

Thị Sương, Lê Thị Chi và Lê Thị Trang.

Trong số này, có 3 người tập kết ra miền Bắc mà đặc biệt 2 người được nhiều

người biết đến qua những việc làm và tác phẩm để lại. Ba người đó là bà Lê

Thị Khoách, Lê Thị Kinh và Lê Khâm.

*Bà Khoách chị cả là giáo sư sinh ngữ ở Đà nẵng sau năm 1954. Do họat

động theo cộng sản bị bại lộ, nên phải chạy ra ngòai Bắc và sau năm 1975 thì

về làm trong ngành giáo dục ở Quảng Nam. Bà đã qua đời từ ít lâu nay.

*Bà Kinh sinh năm 1925, còn lấy tên là Phan Thị Minh đã giữ chức vụ Đại

sứ tại Italia vào thời gian 1982 – 1990. Hiện nay đã nghỉ hưu. Bà được nhiều

người biết đến gần đây vì là tác giả bộ sách lớn với nhan đề “Tuyển tập Phan

Châu Trinh qua những tài liệu mới” xuất bản vào năm 2000 – 2002.

*Ông Lê Khâm người con trai độc nhất, sinh năm 1930 là một nhà văn với

bút hiệu là Phan Tứ. Ông lấy tên Tứ, vì hồi nhỏ trong nhà vẫn gọi ông là Bốn

tức là người con thứ tư sau ba người chị. Nhà văn này được biết đến qua

nhiều tác phẩm đã được xuất bản ở Hà nội. Ông qua đời năm 1995 ở Đà

nẵng.

Còn lại 4 người con gái khác, thì họ vẫn ở miền Nam với cha mẹ và sinh họat

làm ăn bình thường, tất cả đều phục vụ trong ngành Y tế của chánh phủ Việt

nam Cộng hòa – mà không nghe nói có họat động gì liên hệ với cộng sản cả.

Trong số này, hiện có bà Lê Thị Sương cùng gia đình định cư tại Mỹ theo

người chồng là cựu sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

B – Những người con của bà Phan Thị Châu Lan và ông Nguyễn Đồng Hợi.

Ông bà Nguyễn Đồng Hợi có tất cả 6 người con gồm 2 con gái và 4 con trai

với danh tính theo thứ tự lớn nhỏ như sau: Nguyễn Châu Sa, Nguyễn Đông

Hà, Nguyễn Đông Hải, Nguyễn Châu Loan, Nguyễn Đông Hồ và Nguyễn

Đông Hào.

Châu Sa sinh năm 1927, tên Sa là vì sinh ra ở Sa Đéc. Đông Hà, tên là Hà vì

sinh ra ở Hà Tiên. Còn lại, thì tất cả đều sinh ở Cambodia. Hai người con lớn

đều là cán bộ cộng sản có tên tuổi thường được khen tụng trong các sách báo

tuyên truyền của chế độ cộng sản.

Đặc biệt là bà Nguyễn Châu Sa sau này đổi tên là Nguyễn Thị Bình với nhiều

chức vụ lớn như Bộ Trưởng Ngọai Giao, Bộ Trưởng Giáo Dục và Phó Chủ

Tịch Nhà Nước. Bà Châu Sa thành hôn với ông Đinh Khang cũng là một sĩ

quan cán bộ cộng sản cao cấp trong quân đội (1923 – 1989). Hai vợ chồng có

hai người con nay đều đã trưởng thành.

Còn Nguyễn Đông Hà nằm vùng ở miền Nam và bị bắt giam ở Côn Đảo cho

đến ngày 30/4/1975. Đông Hà đã qua đời ít lâu nay trong thập niên 1990.

Còn lại những người con khác trẻ hơn, thì họ đều theo cha ra ngòai Bắc và có

người còn được đi du học ở ngọai quốc nữa.

Vào năm 1995, bà Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình có đến thăm trại tù

Z30D ở Hàm Tân, Phan Thiết. Nhưng cán bộ ở đó đã bố trí không đưa bà đến

chỗ giam giữ tù nhân chính trị chúng tôi – mà chỉ đưa bà đến khu dành riêng

cho các tù nhân phụ nữ mà thôi. Đó là lần duy nhất mà tôi trông thấy rõ mặt

bà Bình từ khỏang cách chừng 30 mét.

Một nhà báo kỳ cựu có thuật lại rằng: Khi nói chuyện riêng với bà Bình, thì

bà tỏ ra có tinh thần cởi mở, phóng khóang. Nhưng đến khi đưa micro ra để

ghi lời phát biểu của bà, thì bà lại nói y chang như lập trường quan điểm

chính thức của đảng cộng sản. Thật đúng là người cán bộ cộng sản nào thì

cũng làm cái trò “chuyên môn đóng kịch” như vậy thôi. Họ luôn có “lối sống

hai mặt” – che dấu suy nghĩ và tình cảm riêng của mình trước công chúng.

Bà Bình đã nghỉ hưu từ lâu và năm 2012 bà có cho xuất bản cuốn Hồi ký với

nhan đề “Gia Đình, Bạn Bè, Đất Nước” – kèm theo rất nhiều hình ảnh vừa

đen trắng, vừa có màu. Cuốn sách này mới được dịch sang tiếng Anh và được

ấn hành ở Việt nam vào giữa năm 2015.

III – Để tóm lược lại.

1 – Vì khuôn khổ của bài báo có giới hạn, người viết chỉ cố gắng trình bày sơ

lược ngắn gọn về ba thế hệ của nhà ái quốc Phan Châu Trinh mà thôi. Tác giả

không tìm hiểu đến thế hệ thứ tư, thứ năm trong gia tộc cụ Phan (tức là lớp

con, lớp cháu của thế hệ thứ ba là cháu ngọai của cụ). Mặc dầu qua đến thế

kỷ XXI hiện nay, thì lớp người này cũng đã trưởng thành và có người đã ở

vào lứa tuổi 50 – 60 và đã có thành tích sự nghiệp nào đó nữa rồi.

2 – Như đã ghi ở trên, trong gia tộc cụ Phan thì có người con rể là ông Hợi và

nhiều người cháu đều họat động theo cộng sản. Những người này về mặt

khách quan mà xét, thì rõ ràng là họ đã ra sức tiếp tay góp phần vun đắp cho

cái chế độ độc tài toàn trị hủ lậu hiện nay. Đúng là mấy hậu duệ đó đã không

tiếp nối cái lý tưởng Dân quyền nhân bản và Dân chủ khai phóng của cụ

Phan Châu Trinh. Đó là một điều thật đáng tiếc lắm lắm vậy.

Dầu sao, thì cái thực tế khách quan phũ phàng như thế đó đã là một chuyện

dĩ lỡ của lịch sử, đã vuột khỏi tầm tay của chính các đương sự đó rồi.

Bây giờ, thì chỉ còn lại hy vọng ở lớp người thuôc thế hệ thứ tư, thứ năm và

sau nữa – với tinh thần cởi mở tiến bộ và tấm lòng nhân ái đôn hậu – thì họ có

thể có những đóng góp tích cực tốt đẹp hơn cho đất nước và dân tộc Việt nam

chúng ta mà thôi.

3 – Về mặt tài liệu tham khảo, thì ngòai các tư liệu có sẵn trên Internet, còn

có hai cuốn sách đáng chú ý sau đây:

A – Jonathan Edwards – A Life

By George M. Marsden

Yale University Press ấn hành năm 2003

Sách dày trên 600 trang, bìa cứng.

B – Nguyễn Thị Bình – Hồi Ký

Gia Đình – Bạn Bè – Đất Nước

Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang, bìa giấy.

Costa Mesa California cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

HAPPY THANKSGIVING

        Tạ ơn trời – hôm nay tôi còn sống
        Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
        Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
        Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả !
        Tạ ơn các bạn gần xa
        Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều.
        Emails nhận được bao nhiêu
        Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.
HAPPY THANKSGIVING

* – Cám ơn tất cả các bạn đã cho tôi biết bao kỷ niệm buồn vui, những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được.

*. – xin cám ơn tất cả … những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi từng biết mà chưa quen.
* – Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, để nhận ra cuộc sống này thật vô cùng ý nghĩa …

* – Cám ơn những dòng thơ, dòng nhạc, đã giúp tôi tìm vui trong những phút giây chán nản buồn phiền nhất, để quên đi những sầu muộn âu lo, để thấy cuộc đời này vẫn còn có chút gì đó để nhớ, để thương.

Cuộc sống này, đôi lúc mình cũng cần nên biểu lộ tình thương yêu của mình , bằng một hành động gì đó cụ thể, dù chỉ là một lời nói, một Email, một tấm thiệp hoặc một cái hug vì tình thương là phải được cho đi và sẽ được đón nhận, bởi lỡ mai này, những người thương của mình không còn nữa, thì ngày lễ Tạ Ơn có còn ý nghĩa gì nữa không ?

Xin cám ơn cuộc đời ….

Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy,

Cho con còn ngày nữa để yêu thương .

S.T.

Qua bản án dành cho em bé 15 tuổi, người dân biết chế độ này đang phục vụ ai!

Qua bản án dành cho em bé 15 tuổi, người dân biết chế độ này đang phục vụ ai!

AFR Dân Nguyễn

25-11-2015

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Ảnh: internet

Hình ảnh cậu bé Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi tại phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân một tỉnh miền tây Nam Bộ ngày hôm qua, khiến tôi cứ liên tưởng tới hình ảnh của em Phước trong bài thơ Mầm Hận: “Nuôi đi em cho đến lớn đến già/ MẦM HẬN ấy trong lồng xương ống máu/ Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu/ Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng”.

Đó là bốn câu kết của một bài thơ mà tôi và có lẽ cả những người đồng trang lứa với tôi đều đã học thuộc lòng từ những năm tháng “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”. Đó là bài thơ của Tố Hữu, nhà thơ “viên đá tảng” của văn học cách mạng. Bài thơ miêu tả nỗi lòng của nhà thơ cách mạng khi chứng kiến cảnh Phước, một em bé đi ở đợ, bị chủ rày mắng đuổi đi.

Em len lét cúi đầu tay sách gói/ Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te/ Vẫn chưa thôi lời đay dứt nặng nề/ Hàng dây tiếng rủa nguyền trên miệng chủ/ Biết không em nỗi lòng anh khi đó/ Nó tơi bời, đau đớn lắm em ơi!...”

Cậu bé đang ở độ tuổi “ngày hai buổi đến trường. Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ…”, ngày hôm qua đã phải ra hầu tòa, đứng trước vành móng ngựa, chỗ dành cho những kẻ giết người cướp của, hiếp dâm, buôn cái “chất chết trắng”, chỗ của những kẻ mất hết tính người!

Vì sao em phải ra hầu tòa, đứng vào vành móng ngựa như một tội phạm? Vì em bị buộc tội “cố ý gây thương tích”. Bản án dành cho em là nghiêm khắc, với 4 năm 6 tháng tù! Bản án này khiến những người dự phiên tòa xử em ngày hôm qua bỗng nhớ đến bản án dành cho những viên công sai, công cụ của đảng khi xuống tay tra tấn dã man, dẫn đến những cái chết thương tâm của người dân tại đồn công an, cũng bị kết án không quá “khung” 4 năm. (còn bản án dành cho em là 4 năm 6 tháng).

Bản án mà chế độ chụp lên cuộc đời em ngày hôm qua, cũng lại khiến mọi người liên tưởng tới phiên tòa mấy năm trước mà Tòa Án Nhân Dân xử một kẻ gần sát tuổi trưởng thành, (chỉ còn ít ngày nữa là hắn đủ 18 tuổi), là kẻ sát nhân máu lạnh xuống tay sát hại cả một gia đình, trẻ già hắn cũng không tha, đều là đối tượng của tử thần do kẻ máu lạnh này mang đến. Hắn là Lê Văn Luyện, một kẻ giết người cướp của mà tội ác do hắn gây ra khiến cả xã hội rúng động và kinh tởm…; Nhưng hắn không bị lãnh khung hình phạt cao nhất mà hầu hết dư luận xã hội muốn dành cho y. Điều đáng nói là, khi tòa cũng như nền tư pháp VN xử kẻ sát nhân máu lạnh này với bản án quá nhẹ so với tội ác mà hắn gây ra, được giải thích là nhằm  “thể hiện tính nhân đạo của chế độ” (!?), Vì hắn là trẻ vị thành niên!

Bọn công an tra tấn gây ra những cái chết tức tưởi cho những người bị chúng bắt vào đồn chỉ với những “tội” nhẹ hều, lãng xẹt, mà cuối cùng chúng cũng chỉ phải nhận cái án 4 năm tù vì “làm chết người trong lúc thi hành nhiệm vụ”.

Người anh hùng nông dân Đoàn Văn Vươn, chưa cần nói tới lý do chống lại bọn công an, lính cụ Hồ cùng những tên cán bộ của đảng, chỉ cần xét tới hậu quả mà hành động chống lại đó gây ra là quá nhẹ. (“Chỉ nhằm đánh động dư luận”). Vài tên công an và lính sây sát do đạn hoa cải, mà vết thương nhẹ đến mức không đáng nhập viện, chỉ cần bôi thuốc vào chỗ vết sây sát. Vậy mà mấy anh em nhà anh Vươn bị khép tội “giết người”!

Chúng xúm vào đánh hội đồng anh Vươn, từ chính quyền, công an, tới tòa án…

Một câu hỏi được đặt ra, tại sao hôm qua anh Đoàn Văn Vươn, một cựu chiến binh, người công dân lao động kiểu mẫu, không quản khó khăn, vươn lên làm giàu cho mình và cho quê hương, luôn chấp hành tốt pháp luật, và hôm nay, em Tuấn, một trẻ vị thành niên, luôn có hạnh kiểm tốt ở trường, ngoan ngoãn ở nơi xóm làng, lại bị lãnh những bản án nặng nề, mà tòa án nhân dân giải thích, nhằm thể hiện “tính nghiêm minh của pháp luật”!?

Câu trả lời đây: Anh Vươn chống lại bọn cướp ngày. Khổ nỗi bọn cướp ngày đó lại được đảng trang bị vũ khí, tư tưởng, và làm theo chỉ thị, nghị quyết của đảng, của “chính quyền nhân dân”. Anh Vươn chống lại chúng, cũng có nghĩa chống lại “người thi hành công vụ”, cũng có nghĩa chống lại đảng…

Giết người cướp của, hiếp dâm… gây trọng án, đại án, đều còn mênh mông cơ hội để xem xét đến các “tình tiết giảm nhẹ”, điển hình như Lê Văn Luyện. Những người mà Luyện xuống tay hạ sát tàn bạo, có ông già, có đứa trẻ mới biết đi…, nhưng tất thảy nạn nhân đều là Nhân Dân. Luyện chống lại Nhân Dân, chứ không chống lại “người thi hành công vụ”.

Còn cậu bé trong phiên tòa tại Long An hôm qua, còn bé lắm. Bản án mà tòa án nhân dân vừa tuyên, những kẻ phục vụ chế độ nghĩ rằng, thật “thích đáng” cho cậu – kẻ dám “động đến lông chân” của chế độ! Nhưng cũng qua bản án đó, người dân biết chế độ này đang phục vụ ai. Kết án em, quan tòa đã gián tiếp kết án chế độ này!

Nếu chỉ nhìn thấy một cậu bé bị chủ rày la, đuổi đi, không thuê làm con sen, làm thằng giúp việc nữa, mà nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã thốt lên: “Biết không em nỗi lòng anh khi đó/ Nó tơi bời đau đớn lắm em ơi”.

Thì hôm nay, nếu đội mồ sống dậy, ông nhà thơ này phải gào lên, phải thét lên trước bao cảnh đời oan khuất đến uất nghẹn như em Tuấn ngày hôm nay?

Và ông sẽ dành lời an ủi, vỗ về gì cho em Tuấn, tù nhân bé bỏng tội nghiệp?

Nuôi đi em cho đến… muôn đời

Mầm hận này trong lồng xương ống máu…???

Phải chăng ông sẽ tiếp tục ươm cái MẦM HẬN mà ông đã “ươm” trong tâm hồn non nớt của Phước năm xưa, trong TÙ NHÂN BÉ THƠ hôm nay?

Tội ác đẻ ra tội ác. Hận thù sinh ra hận thù. Đó là LUẬT NHÂN QUẢ; Đảng CSVN đang hưởng những trái đắng từ cây hận thù mà họ gieo trồng bấy lâu đã đành, mà chính Nhân Dân VN cũng đang phải hứng chịu hậu quả từ những “mầm hận” như thế.

“Hãy tha thứ cho họ vì họ không biết điều họ làm”. Đức Chúa Jesus đã xin Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình trên cây thập tự.

Ở trong tù, người tù bé thơ đừng căm hận những kẻ gieo họa cho mình và gia đình mình nhé.

Mọi người cầu nguyện cho em bình an, cầu nguyện cho ngay cả những kẻ vừa khoác vào cổ em bản án khắc nghiệt, bởi họ “không biết điều họ làm”.

Phạm Minh Vũ: “Tôi sẽ không từ bỏ con đường tranh đấu cho đến khi VN đa đảng”.

Phạm Minh Vũ: “Tôi sẽ không từ bỏ con đường tranh đấu cho đến khi VN đa đảng”.

Hòa Ái, phóng viên RFA

Cựu tù nhân Phạm Minh Vũ Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
MInh-620

Cựu tù nhân Phạm Minh Vũ

RFA photo

Cùng với Lê Thị Phương Anh và Đỗ Nam Trung bị Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh Đồng Nai truy tố tội theo điều 258 Bộ Luật Hình sự VN hồi tháng 2 năm 2015, Phạm Minh Vũ là người trẻ nhất và thụ án tù lâu nhất. Hòa Ái có cuộc trao đổi ngắn với cựu tù nhân lương tâm sinh viên, 23 tuổi này để nghe chia sẻ của anh về lý tưởng đấu tranh tự do dân chủ cho VN.

Hòa Ái: Xin chào Phạm Minh Vũ. Trước hết, thay mặt ban Việt ngữ đài RFA, Hòa Ái gửi lời chúc mừng bạn được tự do sau khi thụ án 18 tháng tù  vì tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Bạn có thể cho biết trong đợt biểu tình rầm rộ của công nhân chống Trung Quốc hồi tháng 5 năm ngoái, bạn có mặt ở Bình Dương với mục đích gì?

Phạm Minh Vũ: Khi giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc kéo sang VN, tôi nhận được thông tin ở Sài Gòn có cuộc biểu tình lớn nhưng ở Bình Dương, Đồng Nai lại có sự đập phá cho nên tôi thấy tình hình như vậy nên tôi muốn đến để đưa tin. Tôi đã vào Sài Gòn và xuống Đồng Nai trong ngày 15 tháng 5 năm 2014. Vừa xuống thì bị bắt giữ cho đến kết án luôn.

Hòa Ái: Vậy khi ra tòa, bạn bị buộc tội theo Điều 258 với những bằng chứng nào?

Phạm Minh Vũ: Người ta dùng những bằng chứng chẳng hạn tôi có nhận sự trợ giúp của anh em vì có kêu gọi anh em cùng làm từ thiện. Tôi nhận sự trợ giúp khi ốm đau và tôi có hoàn cảnh. Rồi, có những phát ngôn trên Facebook. Đây là 2 lý do chính để người ta kết án tôi.

Hòa Ái: Và trong đợt biểu tình của công nhân chống Trung Quốc mà bạn có mặt thì tòa không có bằng chứng cụ thể nào để chứng minh bạn “chống phá Nhà nước” phải không”?

Phạm Minh Vũ: Dạ vâng. Tôi đến đó chỉ để quan sát và cập nhật thông tin chứ không có làm gì khác.

Hòa Ái: Bạn là người phải chịu bản án cao nhất trong nhóm 3 người bị xét xử cùng với Lê Thị Phương Anh và Đỗ Nam Trung. Trong suốt 18 tháng thụ án, bạn gặp những trở ngại khó khăn nào?

Phạm Minh Vũ: Theo tôi nghĩ thì trong nhà tù VN thì hầu như ở đâu cũng thế. Vì VN không có nhân quyền cho nên chẳng phải nói nhiều hơn nữa. Có rất nhiều khó khăn ạ.

Hòa Ái: Thời gian thụ án của bạn đã kết thúc. Thông tin ra tù của bạn cũng được loan đi trên các trang mạng xã hội và được nhiều người quan tâm. Bên cạnh những lời chia sẻ chúc mừng, Hòa Ái ghi nhận cũng có không ít các bạn thanh niên trẻ trong nước nhận xét không tốt về bạn vì bạn là hình ảnh xấu, gây ảnh hưởng không tốt cho giới sinh viên…Nếu như được cơ hội tiếp xúc với họ, bạn sẽ nói gì?

Phạm Minh Vũ: Dạ, tôi nghĩ mỗi người có quan điểm riêng. Người ta nhìn vấn đề nếu chưa sát vì chỉ nhìn theo góc độ từ bên ngoài. Tôi nghĩ đa số sinh viên VN đều có sự giáo dục từ mầm non cho đến học ở cấp cao hơn trong quá trình nhồi nhét  tư tưởng cho nên phản ứng của họ như vậy là bình thường. Nếu tôi được gặp những người như thế thì tôi sẽ giải thích những hành động việc làm của tôi hầu như không sai trái. Mục đích của tôi chỉ nhằm muốn VN tiến bộ hơn. Đơn giản tôi chỉ chống Trung Quốc nhưng nhà cầm quyền lại bắt tôi. Theo tôi đó là hành động đàn áp.

Hòa Ái: Theo Hòa Ái biết, bạn từng theo học trường về lãnh vực phát thanh truyền hình, bạn có thể chia sẻ một chút rằng bạn chọn học ngành truyền thông vì ngành này đang phát triển mạnh ở VN, có thể nói là một trong những ngành thời thượng hay bạn chọn vì bạn muốn sử dụng truyền thông như một phương tiện để cất lên tiếng nói trung thực trong thời buổi VN hiện nay?

Phạm Minh Vũ: Khi tôi suy nghĩ và quyết định học Trường Phát thanh- Truyền hình I thì tôi có suy nghĩ đắn đo nhiều. Tôi mong muốn VN có tự do báo chí hơn nên tôi muốn tham gia học ở trường đó để có tư tưởng lập trường trung lập khi phát ngôn hoặc những đóng góp trong vấn đề định hướng dư luận ở VN được thẳng thắn hơn chứ không phải bị  theo kiểu của “Dư luận viên” đưa vào “văn hóa-quy củ” của Đảng cầm quyền.

Hòa Ái: Câu hỏi sau cùng là nhà trường nơi bạn học không đồng ý cho bạn đến học nữa và thân phận của bạn là một cựu tù nhân lương tâm, bạn nhận thấy con đường mình chọn đi để thay đổi VN được dân chủ hóa hơn, văn minh hơn mà bị tù đày, điều này có khiến cho bạn bị nản lòng không? Hay sau bản án tù này thì bạn càng mạnh mẽ để dấn thân?

Phạm Minh Vũ: Xã hội VN là một xã hội chuyên quyền độc tài do Đảng CSVN cầm quyền, cai trị. Chỉ khi nào Đảng CSVN từ bỏ quyền lực, chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì lúc đó tôi mới ngừng con đường đấu tranh.

Hòa Ái: Cảm ơn thời gian chia sẻ của bạn Phạm Minh Vũ dành cho đài ACTD. Ngay trước khi bạn bị bắt, Hòa Ái được biết thân phụ của bạn vừa qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo. Nhân đây, Hòa Ái kính lời chia buồn cùng bạn và gia đình. Cầu chúc bạn sức khỏe và mọi sự bình an. 

ĐỈNH CAO BẤT NHÂN

ĐỈNH CAO BẤT NHÂN

 Huỳnh Ngọc Chênh

Đến dự phiên toà xét xử Nguyễn Mai Trung Tuấn có thầy giáo chủ nhiệm năm lớp 9 là năm học cuối cùng của cuộc đời học sinh của em.

Thầy cho biết liên tục từ lớp 6 đến lớp 9 em là học sinh ngoan luôn luôn đạt hạnh kiểm tốt. Mẹ em, bị cáo của phiên toà trước, cũng xuất hiện trước toà cho biết em là đứa con ngoan hiền trong gia đình, tuy còn nhỏ nhưng đã biết giúp đỡ cha mẹ và lo lắng cho em.

Điều gì đã đẩy một cậu bé ngoan hiền như em vào con đường chống lại cả một hệ thống cơ quan quyền lực?

Phát biểu tại toà, ông Nguyễn Trung Cang, cha em đã nói nếu chính quyền địa phương vận dụng quyết định 3047 và 2282 (?) thay vì các quyết định 3629 và 2772 liên quan đến đền bù giải toả thì đã không đẩy gia đình ông vào bước đường cùng như hôm nay: mất đất, tan nhà, hai vợ chồng vào tù và đứa con 15 tuổi bé bỏng của ông cũng đối diện với phiên toà.

Miếng đất mà gia đình ông sinh sống trên đó từ bao đời, nhờ vào đó mà gia đình ông mới mở quán buôn bán làm ăn mang đến nguồn thu nhập để nuôi hai con ăn học. Cướp miếng đất đó đi không những là cướp đi chỗ ở duy nhất mà còn triệt tiêu phương tiện sinh sống từ bao lâu nay của gia đình ông.

Gia đình ông quyết liệt chống lại lệnh cưỡng chế vì sự vận dụng phi lý của chính quyền địa phương và vì không còn con đường sống.

Sáng ngày 14/4/2015 là ngày lực lượng cưỡng chế đến trấn áp gia đình bất hạnh đó, cậu bé Trung Tuấn quá thương cha mẹ không thể cắp sách đến trường được. Cậu quyết định ở lại nhà với… bom xăng và ná cao su để ngăn cản lực lượng cưỡng chế hùng hậu được vũ trang đến tận răng theo như tư duy trẻ con của cậu.

Cậu đã ném bom xăng xuống mặt đường trước cửa nhà với hy vọng ngăn cản không cho lực lượng hung dữ đó vào nhà bắt cả nhà cậu đi. Đám lửa nhỏ nhoi ấy cũng không ngăn cản được ai, cậu hoảng hốt dùng đến ná cao su bắn vào đoàn người cưỡng chế. Nhưng cậu cũng chẳng bắn trúng được ai.

Khi lực lượng cưỡng chế do trung tá công an dẫn đầu tràn vào thì ngôi nhà bùng lên bốc cháy. Hoảng loạn cũng bùng lên. Hoảng loạn đến mức viên trung tá chỉ huy cũng quay lưng bỏ chạy ra ngoài. Trong bối cảnh đó, lại vang lên các tiếng thét của lực lượng cưỡng chế: Bắt lấy nó, bắt lấy nó!

Cậu bé không còn biết suy nghĩ gì nữa, sẵn ca axit của ba cậu dùng để chế bình ăc quy xe (ba cậu làm nghề sửa xe) để gần đó, cậu đã chụp và tạt ra ngoài, ngẫu nhiên trúng vào lưng ông trung tá công an đang xoay lưng bỏ chạy vì hoảng loạn.

Nếu thương tật của ông trung tá ở mức 30% thì Tuấn đã vô tội. Nhưng luật sư Nguyễn Văn Miếng cho rằng có vấn đề trong chuyện giám định thương tật. Cơ quan giám định của địa phương chưa khách quan, thủ tục giám định có sai trái, bản kết quả giám định đưa ra toà là bản sao chứ không phải bản chính, hai giám định viên được luật sư yêu cầu ra làm chứng cũng không có mặt… Luât sư Miếng nghi ngờ mức thương tật 35% mà giám định đưa ra, cái mức vừa đủ khít để cò thể truy tố Tuấn về hành vi tấn công gây ra thương tích.

Trực tiếp nghe phiên toà (qua loa bắt ra ngoài) tôi thấy cả một hệ thống toà án đang truy bức cậu bé. Từ chủ toạ phiên toà, đến hai vị hội thẩm đến công tố viên đều đặt ra những câu hỏi áp chế, mớm cung để gài cậu bé từ hành vi không cố ý thành hành vi cố ý.

Luôn miệng những người này dùng từ “trừng trị”, “răn đe” khi xét hỏi cậu bé 15 tuổi.

Bản án đã tuyên y như mức mà công tố viên đã hăm hở đề nghị. Tất cả những bào chữa hợp lý của luật sư Miếng đều bị gạt bỏ.

Cả một hệ thống vào cuôc một cách thô thiển, thô bỉ và tàn bạo đến bất nhân để đẩy một gia đình dân lành vào bước đường cùng.

Phiên toà kết thúc, tôi đứng lên và bắt gặp ngay cô bé Nguyễn Mai Thảo Ly – em gái của Tuấn. Em cố gượng cười để tôi chụp ảnh, nhưng miệng em cứ méo dần đi. Mắt em buồn rười rượi. Em sẽ đi về đâu khi không còn nhà, không còn cha, không còn mẹ và không còn cả người anh trai thương yêu, sẵn sàng đi chăn vịt để kiếm tiền nuôi em đi học khi cha mẹ đã vào tù.

clip_image002

Em gái Thảo Ly của bị cáo 15 tuổi.

clip_image004

Đến dự phiên toà “công khai” bên ngoài hành lang là đông đảo dân oan từ khắp mọi miền.

clip_image006

Công an khắp mọi nơi bám theo người dân đến dự phiên toà.

H.N.C.

Nguồn: https://www.facebook.com/ho.lytien.1?pnref=story

ĐÃ 13 Lần DÂN VIỆT ĐẠI THẮNG GIẶC PHƯƠNG BẮC Xâm Lăng

ĐÃ 13 Lần DÂN VIỆT ĐẠI THẮNG GIẶC PHƯƠNG BẮC Xâm Lăng

A. Trong mấy ngàn năm qua, đặc biệt từ khi tộc Hoa du mục hiếu chiến thành hình ở phương Bắc, từ năm 1046 ttl, người Tộc Việt chuyên trồng lúa nước, hiếu hòa, ở phương Nam, luôn bị giặc Hoa cướp bóc, xâm lăng.

Không kể những cuộc xâm lấn nhỏ, đã có 13 lần phương Bắc xua đại quân xâm lấn phương Nam, đặc biệt Việt Nam. Nhưng trong tất cả 13 lần đó, Dân Việt đều đại thắng các đoàn quânPhương Bắc. Đã mười ba lần, Dân ta đại thắng !

Lần thứ 1 : Năm 1218 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc ÂN, Đức PHÙ ĐỔNG

Theo sách vở Trung Hoa, năm 1218 ttl, Ân Cao Tôn đã đánh Quỷ Phương, vùng Đồng Đình. Ân Cao Tôn đóng quân tại đất Kinh, phía tả ngạn sông Dương Tử. Sau 3 năm, Ân Cao Tôn ‘không thắng’. [Nhà Ân còn được gọi là Nhà Hậu Thương].

Theo Truyền kỳ Phù Đổng của Việt Lạc, Ân Cao Tôn đã xâm lấn nước ta ba năm và đã bị đánh bại.

* Như thế, theo Truyền kỳ Phù Đổng, cách đây 3200 năm, dân Việt Lạc đã là một quốc gia vững mạnh. Nước nầy đã có tổ chức chặt chẽ, có vua quan, có làng xã, có cúng tế, có lúa gạo, có vải áo, có lũy tre… đã đúc được ngựa sắt, roi sắt, đã có tinh thần dân tộc cao độ… và, theo sách vở Trung Hoa, đã chiến thắng giặc Ân vào thời kỳ hùng mạnh nhất của chúng.

[Vào thời kỳ nầy, tộc Hoa chưa thành hình. Phải hơn 100 năm sau, bộ lạc Chu mới gom góp các bộ lạc du mục khác ở vùng Thiểm Tây, và thành lập Nhà Chu. Từ đó, tộc Hoa mới thành hình và phát triển].*1

*     *

Lần thứ 2 : Năm 214 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TẦN

Năm 214 ttl, Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên của Trung Hoa, sai tướng Đồ Thư kéo 50 vạn quân xâm lăng vùng đất Việt Lạc. Nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Đây là đoàn quân tinh nhuệ vừa giúp Tần Thủy Hoàng đánh chiếm sáu nước và thành lập nước Trung Hoa.

Nhưng mấy năm sau, Đồ Thư đã bị quân Việt đánh bại, quân giặc chết quá nửa, Đồ Thư bị giết.*2

* Theo cách hành quân của Trung Hoa, mỗi người lính đem theo một phu phục dịch. Số người vận chuyển lương thực cũng không được kể là lính. Vì vậy, số người Trung Hoa xâm nhập có thể nhiều gấp 3 lần con số quân lính được kể tới, dầu là con số trung thực.

*     *

Lần thứ 3 : Năm 181 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TÂY HÁN

Năm 181 ttl, triều Hán sai Long Lân hầu Chu Táo kéo quân sang xâm phạm Lĩnh Nam, đánh Nam Việt. Theo sách vở Trung Hoa, quân Hán không chịu được thủy thổ phương Nam, nhiều người phải bịnh tật, bởi vậy phải thua chạy về bắc. Sau đó, triều Hán xét việc Nam chinh không lợi, nên không đánh nữa (!).*3

*     *

Lần thứ 4 : Năm 40 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA ĐÔNG HÁN và TÁI CHIẾM TOÀN THỂ VÙNG ĐẤT VIỆT LẠC, Đức TRƯNG NỮ VƯƠNG – ĐẠI ĐẾ ĐỒNG ĐÌNH LĨNH NAM

Năm 30 dl, Hán Quang Vũ áp đặt chế độ trực trị trên vùng đất Việt Lạc. Do đó, toàn dân Việt vùng lên kháng chiến, và bầu Đức Trưng Trắc là Thủ Lãnh. Sau 10 năm, Dân ta đã đánh đuổi toàn bộ quân Tàu ra khỏi vùng đất Việt Lạc, chiếm lại 65 thành.

Thời gian qua, sách sử Trung Hoa đã giảm thiểu vùng đất và sức mạnh của dân Việt thời đó. Ngày nay, đã có đủ chứng cứ xác định vị trí, tình hình và vùng đất bao la của việc quân dân Việt đánh chiếm lại 65 thành, và đánh bại đại quân hùng hậu của hoàng đế Quang Vũ nhà Hán.

Thời đó, vùng đất Việt Lạc nay là Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, và một phần Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến của Trung Hoa, xuống tới Hải Vân… Và Hán Quang Vũ đã phải vận dụng toàn thể binh lực của ‘thiên triều’.

Đức Trưng Nữ Vương đáng được tôn hiệu ĐAI ĐẾ ĐỒNG ĐÌNH LĨNH NAM.*4

*     *

Lần thứ 5 : Năm 541 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA LƯƠNG, Đức NAM VIỆT ĐẾ

Năm 541 dl Đức Nam Việt Đế, húy là Lý Bôn,  đánh đuổi quân trú đóng Trung Hoa, giành độc lập. Năm 544 xưng là Nam Việt Đế, niên hiệu Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Lập ra Nhà Tiền Lý.

Đây là lần đầu tiên sách sử Trung Hoa ghi lại quốc hiệu và niên hiệu của dân ta.

Nhà Tiền Lý kéo dài 61 năm, từ 541 tới 602 dl.*5 

*     *

Lần thứ 6 : Năm 938 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA NAM HÁN, Đức NGÔ NAM ĐẾ

Từ năm 906 dl, Đức Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự trị khỏi tay người Trung Hoa. Truyền được 3 đời.

Năm 938, vua Trung Hoa Nam Hán sai thái tử là Hoằng Tháo kéo quân xâm lấn. Với trận cọc gỗ bọc sắt trên sông Bạch Đằng, Đức Ngô Nam Đế, huý là Ngô Quyền, đã đại thắng quân Hán, giết chết thái tử Hoằng Tháo. Hoàng đế Nam Hán là Lưu Cung cũng kéo quân tiếp ứng theo đường bộ. Nghe tin, ông khóc và rút về.*6

*     *

Lần thứ 7 : Năm 981, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TỐNG Lần 1, Đức LÊ ĐẠI HÀNH

Năm 981 dl, vua Tống sai tướng Hầu nhân Bảo kéo quân xâm lấn, theo hai đường bộ và thủy. Vì vua nước ta là Đinh Tuệ mới 8 tuổi, nên quân sĩ tôn tướng Lê Hoàn lên ngôi, tức là Đức Lê Đại Hành. Với một trận Chi Lăng, quân ta phá tan đoàn quân Tàu, giết Hầu nhân Bảo. Đoàn quân giặc theo đường biển vội vàng rút lui.*7

*     *

Lần thứ 8 : Năm 1076, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TỐNG Lần 2, Đức LÝ NHÂN TÔN, Danh Tướng LÝ THƯỜNG KIỆT

Năm 1072 dl, vua Lý nhân Tôn lên ngôi. Vì vua mới 7 tuổi, nên việc quân đều ở trong tay danh tướng Lý Thường Kiệt.

Năm 1075, Lý thường Kiệt và Tôn Đản kéo 10 vạn quân tái chiếm vùng châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, [vốn thuộc vùng đất Việt Lạc], nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây.

Năm 1076, vua Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết kéo hơn 30 vạn quân sang xâm lấn Nước ta. Nhưng chúng bị đánh tan ở sông Như Nguyệt. Giặc Tàu kéo tới hơn 30 vạn, chỉ còn 2 vạn 8 trở về !*8

*     *

Lần thứ 9 : Năm 1258, ĐẠI THẮNG Giặc MÔNG CỔ Lần 1, Đức TRẦN THÁI TÔN

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, chìếm đóng từ Á sang Âu.

Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lý tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành. [Ngột Lương Hợp Thai là công thần thứ 3 của Nhà Nguyên, từng tham gia các trận đánh chiếm nước Kim, nước Đức, Ba Lan, Bagdad, và diệt nước Đại Lý].

Vua Trần thái Tôn lo sợ, hỏi ý kiến Trần Thủ Độ. Trần thủ Độ khẳng khái : “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo !”.

Chỉ mấy ngày sau, vua Trần thái Tôn dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu. Trên đường rút lui, quân Mông Cổ còn bị quân ta chận đánh tan tành ở vùng Qui Hóa.*9

*     *

Lần thứ 10 : Năm 1284, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÔNG NGUYÊN Lần 2, Đức TRẦN NHÂN TÔN, Danh Tướng HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Năm 1271 Hốt Tất Liệt (Khubilai) trở thành Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ, đổi quốc hiệu thành Nguyên. Năm 1279, quân Nguyên chiếm trọn đất Trung Hoa. Đế quốc Mông Cổ bao trùm 40 quốc gia từ Á sang Âu.

Năm 1284, Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan (Toghan), cùng với các danh tướng Toa Đô (Suodu), Ô Mã Nhi, kéo 50 vạn quân xâm lăng Đại Việt. Quân Nguyên còn có thủy binh từ Chiêm Thành đánh lên. Khi đó, toàn thể quân Đại Việt chỉ có 20 vạn.

Trước tình hình nguy biến, nhiều người muốn hàng hoặc tìm kế hoãn binh. Nhưng các tướng Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư cương quyết xin đem quân trấn giữ.

Vua Trần Nhân Tôn liền triệu tập các bô lão trong dân tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến. Toàn thể đồng thanh xin Đánh !

Trước thế giặc quá mạnh, quân ta phải rút về Vạn Kiếp. Ở phía Nam, quân Nguyên từ Chiêm Thành cũng đã chiếm Nghệ An.

Vua Nhân Tôn lại lo sợ, ‘muốn hàng để cứu muôn dân’. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáp : “Bệ Hạ nói câu ấy thật là lời nhân đức. Nhưng Quê hương Dân tộc thì sao ? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã !”

Thoát Hoan dùng đại bác bắn phá, và vào được Thăng Long. Triều đình ta chạy về Thanh Hóa.

Khi đó tướng Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan dụ hàng và hỏi : “Có muốn làm Vương không ?” Trần Bình Trọng quát to : “Ta thà làm quỷ Nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc !”

Tháng 5 năm 1285, tướng Trần Nhật Duật phá được quân Toa Đô ở cửa Hàm Tử.

Sau đó, tướng Trần Quang Khải đưa quân đi thuyền từ Thanh Hóa ra đánh tan quân Nguyên ở bến Chương Dương, rồi dùng phục binh chiếm lại Thăng Long.

Đức Hưng Đạo Vương thì đem quân đánh ở Tây Kết, và giết được Toa Đô. Quân ta bắt được 3 vạn quân Nguyên và vô số chiến thuyền, khí giới.

Hưng Đạo Vương lại sai phục kích chận mọi đường quân Nguyên có thể rút lui, và tự mình dẫn đại quân lên Bắc Giang đánh Thoát Hoan. Quân Nguyên thua chạy, tới bến Vạn Kiếp bị phục kích, chết quá nửa. Thoát Hoan trốn thoát về Tàu.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, in năm 1697 dl, quân Nguyên kéo qua 50 vạn và sáu tháng sau, chỉ còn 5 vạn rút về.*10

*     *

Lần thứ 11 : Năm 1287, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÔNG NGUYÊN Lần 3, Đức TRẦN NHÂN TÔN, Danh Tướng HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Cuối tháng 12 năm 1287, Thoát Hoan lại theo hai đường thủy bộ, kéo thêm 50 vạn quân xâm lấn, với hơn 800 chiến thuyền, cùng với đoàn tàu 100 chiếc chở lương thực. [Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư]. Phía Đại Việt có khoảng từ 20 tới 30 vạn quân.

Quân Nguyên chiếm được Thăng Long, nhưng sợ bị cắt đường liên lạc, nên tập trung ở Vạn Kiếp.Bộ chỉ huy của Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng.

Tướng Trần Khánh Dư đưa quân phục ở bến Vân Đồn và phá tan đoàn thuyền lương.

Tháng 3 năm 1288, cạn lương, Thoát Hoan sai Ô mã Nhi mở đường theo sông Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương lại dùng kế đóng cọc bịt sắt xuống sông Bạch Đằng (như Đức Ngô Quyền năm 938 dl).

Với trận Bạch Đằng, quân ta tiêu diệt hoàn toàn thủy quân của giặc Nguyên. Nghe tin thủy quân tan vỡ, Thoát Hoan kéo chạy về qua vùng Bắc Giang và Lạng Sơn, và cũng bị quân Đại Việt chận đánh tan tành.*11

*     *

Lần thứ 12 : Năm 1428, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MINH, Đức LÊ THÁI TỔ

Năm 1406, giặc Minh kéo quân xâm lấn nước ta. Nhà Hồ thua. Giặc Minh, với Trương Phụ, bắt đầu chính sách đồng hóa dân ta với dân Tàu…

Năm 1418, nông dân Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa, tự xưng là Bình Định Vương, gởi hịch kể tội giặc Minh và nêu rõ mục đích đánh đuổi quân giặc cướp nước.

Năm 1426, sau 8 năm gian khổ, với nhiều lần nguy cấp, Bình Định Vương thắng trận Tụy Động, và bao vây thành Đông Quan, Thăng Long.

Cuối năm 1427, giặc Minh lại đưa thêm 2 đạo quân sang đánh Đại Việt. Đạo quân do Liễu Thăng cầm đầu với hơn 10 vạn lính, 2 vạn ngựa. Đạo quân do Mộc Thạnh dẫn 5 vạn lính và 1 vạn ngựa. Nhưng tại Chi Lăng, quân ta giết Liễu Thăng, phá tan toàn bộ quân tiếp viện của giặc, bắt sống hơn 3 vạn quân Tàu. Mộc Thạnh nghe tin, bỏ chạy. Quân Nam theo đánh, giết hơn 1 vạn giặc Minh.

Nghe tin, Vương Thông đang chiếm đóng Đông Quan [Thăng Long], viết thư cầu hòa, và xin cho chúng rút quân về Tàu. Số tù binh, hàng binh và vợ con được thả về Tàu lên hơn 10 vạn người.*12

*     *

Lần thứ 13 : Năm 1789, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÃN THANH, Đức QUANG TRUNG

Năm 1788, Tôn Sĩ Nghị kéo 20 vạn quân Nhà Thanh, chia làm 3 đạo, tiến đánh Đại Việt, chiếm đóng Thăng Long.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang ở Huế, được tin, tính chuyện tiến đánh. Quan quân xin Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung.

Đức Quang Trung kéo quân ra tới Nghệ An, nghỉ 10 ngày để mộ thêm lính. Tất cả được 10 vạn quân và 100 con voi.

Đức Quang Trung cho ăn Tết sớm, đêm 30 sẽ kéo quân đi, và hẹn ngày mùng 7 Tết sẽ ăn Tết lại tại Thăng Long.

Trận đánh thần tốc đã phá hết các đồn giặc, đến nỗi chúng không kịp báo tin cho nhau. Chỉ trong mấy ngày, quân ta đánh chiếm từ Giản Thuỷ, tới Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi… Sáng mùng 5 Tết, quân ta vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, lên ngựa tháo chạy. Giặc Tàu chạy theo, chết đuối chật sông Hồng. Các đạo quân giặc ở phía Bắc cũng tất tả rút chạy. Tất cả đều chỉ trong 5 ngày.*13

*     *     *     *

B1. TỔNG KẾT SƠ KHỞI

Như vậy, chỉ kể những lần Trung Hoa xua đại quân xâm lấn Nước Nam, dầu sách vở Trung Hoa đã giấu bớt quân số vì bị thất trận, tổng số các đoàn quân xâm lăng Trung Hoa đã có hơn 40 danh tướng, hằng ngàn đại tướng, và hơn 450 vạn quân sĩ. [Theo con số thông thường, tức là hơn 4.500.000 giặc]. Đang khi đó, kể cả dân số, tài nguyên, quân sĩ, phương tiện chiến đấu… dân ta không bao giờ tương xứng với quân Trung Hoa xâm lược. Nhưng bất cứ lần nào, Đại Việt cũng đại thắng !

*     *

B2. TRUNG HOA : TÊN KHỔNG LỒ CHIẾN BẠI

Điểm đáng chú ý là trong 900 năm vừa qua, trong khi Việt Nam đánh bại mọi cuộc xâm lăng của Trung Hoa, thì chính Trung Hoa lại bị Kim, Mông, Mãn,Âu, chiếm đóng và thống trị.

Đáng chú ý hơn nữa, tuy tình hình thay đổi tùy thời, nhưng trong tất cả những lần xâm chiếm Trung Hoa đó, từ Kim, đến Mông, Mãn… lần nào thực lực xâm lấn, kể cả dân số, lãnh thổ, sản lượng, kỹ thuật, chiến cụ, quân đội… cũng đều không bằng một phần mười của Trung Hoa đương thời. Nhưng Trung Hoa đã luôn là kẻ chiến bại.

Ngoài ra, những nhóm người man di và ít oi đó, lại thống trị Trung Hoa vĩ đại tổng cộng hơn 500 năm. Kim 108 năm (1126-1234 dl), Mông 134 năm (1234-1368 dl), Mãn 267 năm (1644-1911 dl), trong đó có 72 năm chung với Âu (1839-1911 dl). Đó là chưa kể từ năm 1949 dl tới nay, dưới gọng kềm chủ nghĩa Cộng sản của Âu.

Trong suốt hơn 5 thế kỷ đó, kể cả hiện nay, người dân Trung Hoa buông xuôi, khuất phục, còn giới nho sĩ Trung Hoa lại chỉ biết phủ phục tuân lịnh ‘vị Thiên tử’ ngoại xâm để thẳng tay hành hạ và đàn áp người dân.

* Thực vậy, Trung Hoa luôn là tên khổng lồ chiến bại. Nguyên nhân chính là ách thống trị của bọn ‘thiên tử, thiên triều’ tham tàn bạo ngược, đã biến người dân Trung Hoa thành những tên nô lệ đói ăn truyền kiếp.Trong suốt 3000 năm qua, hơn 99% người dân Trung Hoa chì là những tên nô lệ đói khát, tự ti, khiếp nhược, không lý tưởng, không nhân phẩm, chỉ biết tham lợi bất chấp thủ đoạn.

Khi mọi người dân chỉ là những tên nô lệ đói ăn truyền kiếp, khiếp nhược, không ý chí, không tinh thần dân tộc, không đoàn kết… thì sức mạnh trình diển của bọn quan quyền ‘thiên triều’ Trung Hoa cũng chỉ là cái vỏ mỏng manh che đậy sự rời rạc của hàng tỉ mảnh vụn vị kỷ, hèn nhát. Chiếc bong bóng căng cứng nầy sẽ sớm vỡ tan với chỉ một thoáng cọ xát.

Đây là thực tế lịch sử ngàn năm, và cũng là hiện tại.*14

*     *

B3. ƯU THẾ CỦA CHÚNG TA

Hơn nữa, trong tất cả mọi cuộc chiến chống Phương Bắc, Tổ Tiên chúng ta đã chỉ tự sức chiến đấu đơn độc một mình. Các Ngài đã không có bất cứ một yểm trợ nào do bất cứ từ đâu tới. Nhưng bất cứ lần nào, Việt Nam cũng đại thắng Trung Hoa ! Tất cả 13 lần, đều đại thắng.

Về phần chúng ta, hiện nay, chúng ta lại đang được yểm trợ từ khắp nơi. Trước hiểm họa Trung Hoa bành trướng, xâm lăng, trộm cướp, gian manh, phá hoại các nền kinh tế, lũng đoạn các thể chế… mọi người, mọi dân nước trên toàn thế giới, đều sẵn sàng tiếp tay chúng ta triệt hạ mối họa chung là Giặc Trung Hoa. Bạn hữu chúng ta lại nhiều ưu thế hơn Giặc Tàu.

Với bất cứ giá nào, ở bất cứ phương diện nào, các cường quốc hiện đại không thể nhường Trung Hoa cưỡng đoạt vị thế hùng mạnh nhất thế giới, nhất là khi toàn thể binh lực Trung Hoa cũng không bằng một phần nhỏ các hạm đội đối nghịch…

Hơn nữa, toàn thể dân Việt hiện nay, ở khắp làng xóm hang cùng ngõ hẻm, đều nôn nức vùng lên chiến đấu Đánh Giặc Tàu. Tinh thần dân tộc và đoàn kết chưa từng bộc lộ rõ ràng và mạnh mẽ như hiện nay. Mọi người đều sẵn sàng.

Cũng phải kể thêm mấy triệu người Việt trên thế giới cũng đang sẵn sàng đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, và nhất là trí lực, chuyên môn, kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm, và ảnh hưởng… ở mọi lãnh vực ngoại giao, chính trị, kinh tế, tài chính, quân sự, xã hội… Tất cả đều được huy động tối đa để Đánh Giặc Tàu !

Chúng ta có nhiều ưu thế hơn Tổ Tiên chúng ta gấp bội.

CHÚNG TA cũng sẽ ĐẠI THẮNG giặc TÀU, lần thứ 14.

*     *     *     *

GHI CHÚ

*1412. Ký số của Bài trong danhgiactau.com.

*1 – Đọc bài 1106. Tộc Việt Thời Hùng 3, đoạn 4.2; và bài 1107. Việt và Hoa Thời Hùng 4A, phần 1.

*2 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, do Trần Trọng Kim, nxb Trung Tâm Học Liệu, Sàigòn 1971, q1, tr 18. – Đọc bài 1108. Việt và Hoa Thời Hùng 4B-C, đoạn 3.3].

*3 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 30; Việt Sử Toàn Thư, do Phạm văn Sơn, nxb Thư Lâm, Sgn 1960, tr 89. – Về thủy thổ phương Nam, đọc bài 1110. Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam, đoạn 6.3.

*4 – Đọc bài 1110. Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam. – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 39-40.

*5 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 53-56.

*6 – Đọc thêm nt, q1, tr 66-68.

*7 – Đọc thêm nt, q1, tr 89-90.

*8 – Đọc thêm Vân Đài Loại Ngữ, do Lê Quý Đôn, (viết năm 1773 dl), nxb Tự Lực, Sgn 1974, tr 174-175, dẫn Nhị Trình Di Thư, do Trình Di, và Uyên Giám, do Hoàng đình Kiên.

*9 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 126-128.

*10 – Đọc thêm nt, q1, tr 137-150; Việt Sử Toàn Thư, tr 246-248.

*11 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 151-161.

*12 – Đọc thêm nt, q1, tr 217-234.

*13 – Đọc thêm nt, q2, tr 130-134.

*14 – Về chủ thuyết Thiên Tử Thế Thiên và hệ quả, đọc bài 1413. Nguy Cơ Đại Họa và Tử Huyệt của Trung Hoa.

_____________________

Nguyễn Thanh Đức 2013.

TẠ ƠN LÀ MỘT TÂM TÌNH

TẠ ƠN LÀ MỘT TÂM TÌNH

TA ON

Mỗi mùa Lễ Tạ Ơn, Thanksgiving, người ta hay nhắc đến chuyện người phung cùi trở lại cám ơn Ðức Kitô trong Phúc Âm Luca.

Trên đường lên Jêrusalem, Ðức Giêsu đi ngang qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilêa.  Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phung cùi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa, và kêu lớn tiếng:  “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.”  Thấy vậy, Ðức Giêsu bảo họ:  “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Ðang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn họ thấy mình được khỏi liền quay trở lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dưới chân Ðức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Ðức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc. 17: 11-19).

Tôi nghĩ câu chuyện tạ ơn của người phung cùi không dừng lại ở đây.  Không dừng lại ở lời tạ ơn Chúa mà thôi.  Nó gọi ta đến một đường cong sâu hơn và xa xôi hơn.  Tạ ơn là tâm tình đòi hỏi một tấm lòng.  Tâm tình này là bản phiên dịch của một nội tâm.  Chính bản phiên dịch nội tâm này nói trung thực cho ta biết mình là ai.

Tôi muốn nhìn vào nội tâm người phung cùi, để đi tìm chiều kích lời tạ ơn của anh ta với Ðức Kitô. Nó đến từ một đường cong sâu xa nào?

Bối cảnh văn hóa, tôn giáo, lịch sử.

Người Do Thái trong thời Chúa Giêsu không chấp nhận những người phung cùi sống trong làng.  Họ phải sống cô lập ngoài sa mạc, xa xôi ngoài cánh đồng.  Khi gặp Ðức Giêsu, họ cũng đứng “từ đàng xa” chứ không dám lại gần.  Họ bị coi là những kẻ tội lỗi, bị Thiên Chúa giáng án phạt.  Hiểu như thế mới thấy nỗi cô đơn của kẻ mang bệnh tật này.  Trong thời đại ấy, người Do Thái cũng không chấp nhận chung sống với người ngoại giáo.  Họ đối nghịch đến độ thù hận nhau.

Cộng đoàn những người cùi.

Theo mạch văn của đoạn Kinh Thánh, Chúa hỏi: “Còn chín người kia đâu.”  Như vậy chín người kia cộng với anh cùi đến tạ ơn Chúa, tất cả mười người.  Tại sao có mặt người cùi ngoại giáo trong cộng đoàn những người cùi Do Thái?  Tại sao những người cùi Do Thái lại để người cùi xứ Samaria theo mình nhập bọn?  Ðoạn Kinh Thánh trên tường thuật là “một người trong bọn họ.”  Cụm từ “một người trong bọn họ.”  Cho thấy chín người Do Thái Giáo và một người Samaria đã sống chung, đi chung một con đường, là một cộng đoàn.

Chuyện này dường như cũng không xa lạ giữa hoàn cảnh xã hội hôm nay.  Trong những hành trình gian khổ, dường như người ta vượt qua mọi biên giới để sống với nhau.  Có những tình nghĩa vợ chồng, khi nghèo khó, họ sống đời đùm bọc nhau.  Cùng nhau đẩy chiếc xe đạp chở ngô khoai.  Cùng nhau chèo một con đò, buôn thúng bán bưng nuôi con.  Rồi có thể họ mất nhau khi mỗi người có một địa vị, một công ty riêng.  Lúc lâm nạn, người ta vượt qua biên giới chủng tộc, tôn giáo, để cứu nhau. Rồi người ta xây nên những thành trì, những bức tường tôn giáo khi người ta có đền thờ riêng.

Tại sao trong cộng đoàn mười người cùi này lại có một người ngoại giáo.  Tại sao họ chung sống với nhau?

Khổ đau dường như có một giá trị rất sâu trong câu chuyện này.  Rất nhiều trường hợp, khi hết yếu đuối, hết nghèo khó, họ xa nhau.  Trên đường đi tạ ơn này, chín người kia đi về một phía, người Samaria đi về một phía.  Không còn một cộng đoàn những người cùi khác tôn giáo.

Với chín người cùi, họ có thể liên kết lại để cô lập người cùi Samaria.  Nhưng ở đây, họ chung sống, chấp nhận người cùi khác tôn giáo này.  Dường như trong cô đơn tận cùng vì bị xã hội chối bỏ, họ được đốt cháy hết những địa vị, tên gọi, và khi được bóc trần đến phẩm giá sau cùng, họ thấy họ giống nhau ở một tên gọi duy nhất là làm người.

Giá trị cùng đích sau hết vẫn là: Làm người.

Dường như tôn giáo cũng rất cần luôn luôn được thanh tẩy để khỏi bám bụi.  Những giá trị ngoài nhân đức như đền thờ, tổ chức, ảnh hưởng, rất có thể đưa con người xa cách nhau.

Mọi tôn giáo đều tìm cách dạy con người ý nghĩa của cô đơn, đau khổ.  Nhưng ý nghĩa đẹp nhất của đau khổ và cô đơn lại là vượt qua mọi tôn giáo để đùm bọc nhau cho con người bớt cô đơn và đỡ khổ đau.

Rồi tình yêu cũng thế.  Tình yêu cũng cần thanh tẩy.  Những giá trị ngoài nhân đức như nhan sắc, địa vị, vàng bạc, rất có thể sẽ đưa con người xa cách nhau.  Trong đời sống, ai cũng cần chịu ơn nhau.

Phải nghèo một chút để biết xin.

Phải yếu một chút để biết nương tựa.

Nhìn lại, người cùi xứ Samaria, trong “bọn họ”, anh ta là thiểu số, anh chỉ có một thân, một mình.

Tôi nghĩ anh ta trở lại tạ ơn Thiên Chúa vì đời anh quen tâm tình tạ ơn rồi.  Ngay những ngày sống chung với chín người kia, biết mình thiểu số mà được chấp nhận, anh ta đã sống lòng biết ơn đó.  Tạ ơn là một bản phiên dịch nội tâm của anh.

Câu chuyện cộng đoàn mười người cùi được chữa lành rất đẹp vì họ đã sống với nhau.  Nếu sau khi được chữa lành, tất cả đều trở lại tạ ơn Thiên Chúa thì câu chuyện kết thúc quá lý tưởng.  Tại sao chín người kia không trở lại?

Rất có thể chín người kia không quen tâm tình tạ ơn.  Rất có thể họ chấp nhận người cùi Samaria như là cho ơn hơn là lãnh nhận.

*********************

Tôi thụ phong linh mục năm 1989.  Cũng năm này tôi được gởi qua trại Palawan, Philippines giúp đồng bào tỵ nạn.  Những ngày đó, chúng tôi đã có những kỷ niệm đẹp, tôi đã viết bài “Palawan Mùa Phật Ðản”, năm 1992, đăng trong báo Ðường Sống.

Năm 1995 tôi rời trại tỵ nạn.  Tôi xa khúc đường trong trại, một bên có hương trầm nhà Chùa, một bên có tiếng chuông nhà Chúa.  Rồi một hôm, mười năm sau, kỷ niệm lại về như nghe tiếng mõ tụng kinh quen thuộc ngày nào đó, bên Chùa.  Ðó là vào ngày 28 tháng 12 năm 2004.  Sau lễ Giáng Sinh, tôi đang giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn các Sơ Ðaminh Việt Nam ở Houston.  Tôi nhận được một lời nhắn trong chiếc phôn cầm tay:

Dạ, kính linh mục Nguyễn Trọng Tước.

Ðây tôi là Thích Thông Ðạt từ San Jose gọi chúc mừng trong mùa Giáng Sinh với New Year.  Chúc mừng linh mục dồi dào sức khỏe.  Happy Merry Christmas.  Happy New Year.  Dạ, kính linh mục.  Khi nhận được message xin cho gặp số phôn 408-926-1998.  Kính chúc mừng linh mục trong mùa Chúa Giáng Sinh cũng như đầu năm mới.

Kính linh mục.

Tôi hết sức ngạc nhiên.  Một Thầy bên Chùa đã mười năm xa cách.  Từ ngày Thầy rời trại tỵ nạn Palawan, bằng ấy năm không hề gặp lại nhau.  Mười năm không liên lạc.  Bỗng dưng Thầy tìm phôn gọi tôi, vì Thầy muốn chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Những kỷ niệm xa xưa.

Kính Thầy Thông Ðạt,

Những ngày ở trại tỵ nan, những ngày ấy chúng ta có nhiều kỷ niệm quá nhỉ.  Vào mùa Phật Ðản và Giáng Sinh, năm nào chúng ta cũng có những món nợ.  Chúng ta cho nhau mượn cái trống, mấy sợi giây đèn.  Các em Thiếu Nhi cho nhau mượn mấy mét vải, cái đầu lân để làm văn nghệ.  Chúng ta đã nợ nhau tình thương mến.

Thời gian đã xa xôi quá, như đang xóa nhòa dần đi.  Bỗng dưng mười năm sau, Thầy tìm điện thoại, gọi chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Mười năm là thời gian dài lắm đó Thầy ạ.  Thế là tôi lại “nợ” Thầy.

Thánh Phaolô đã căn dặn các tín hữu của ngài: “Các con hãy nợ nhau tình thương mến” (Rom. 13: 8).  Bây giờ chúng ta đã xa những ngày tỵ nạn cho nhau mượn cái bát, tô cơm.  Thầy Thông Ðạt có thể nay đã có chùa riêng, có đoàn Phật Tử đông đảo.  Chả ai phải mượn ai.  Chùa của Thầy chăng rợp hoa đèn ngày lễ.  Chả ai cần ai.  Thầy gọi điện không là để mượn gì cả, cũng chẳng hỏi tôi có mượn cái đầu múa lân không, chỉ để chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Thầy gọi điện vì nhớ về khung trời tỵ nạn có những kỷ niệm bên bờ đời sống.  Tình thương mến.

Có những cặp vợ chồng nay mỗi người là một giám đốc.  Chẳng ai phải nhờ ai.  Có những anh em, không ai phải cậy ai.  Xa những ngày nghèo túng rồi.  Không ai phải dựa ai.  Ðầy đủ.  Mà sao cứ như có nỗi vắng trong lòng.

Hay là người ta thiếu nhau món nợ tình thương mến?

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J. –

Trích tập suy niệm Ðường Ði Một Mình