LẠC LÕNG

LẠC LÕNG

Phạm Đình Trọng

1-12-2015

H1Ảnh: TT Barack Obama đặt hoa tưởng niệm các nạn nhân ở Paris bị khủng bố giết chết. Nguồn: internet

Cuối tháng 11. 2015 không khí tang tóc còn đang bao trùm thủ đô nước Pháp sau vụ khủng bố đẫm máu đêm 13.11.2015 nhằm vào dân lành Paris giết chết hơn 150 dân thường. Cuối tháng 11. 2015, cả thế giới còn đang hướng về nước Pháp, hướng về Paris, chia sẻ đau buồn với người dân Pháp.

Ngày cuối cùng của tháng 11 tang tóc đó của Paris, của nước Pháp, cùng với 150 người đứng đầu nhà nước trên khắp thế giới đến Paris tham dự hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama từ sân bay Orly đến thẳng nhà hát Bataclan, quận 11 trung tâm thủ đô Paris, trung tâm của nỗi đau Paris 13.11.2015, cúi mình tưởng niệm 118 người dân trong nhà hát Bataclan bị khủng bố xả súng giết hại đêm 13.11.2015.

Cũng thời điểm đó, Thủ tướng của nhà nước cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến Paris liền cùng đoàn tùy tùng từ sân bay Charles de Gaulle vội vã đi thẳng một mạch gần 20 km bỏ qua thủ đô Paris, bỏ qua nỗi đau Paris 13.11.2015, đến vườn hoa của thành phố Montreuil, ngoại ô Paris đặt giỏ hoa trước bức tượng nhỏ nửa thân Hồ Chí Minh chỉ cao 50 cm trên trụ đá cao 1,5m.

H3 TT Nguyễn Tấn Dũng đặt hoa trước bức tượng ông HCM ở TP Montreuil, ngoại ô Paris

Tổng thống Barack Obama mang hoa đến viếng ở Bataclan nơi dân lành Paris bị khủng bố giết tàn bạo nhất, khủng khiếp nhất, đẫm máu nhất và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng mang hoa đến viếng Hồ Chí Minh đều là hành xử rất chính trị. Nhưng là hai thứ chính trị khác hẳn nhau.

Đặt chân đến Paris, Tổng thống Barack Obama đến ngay nơi người dân Paris bị khủng bố tàn sát là thứ chính trị vì con Người, hướng đến con Người, thứ chính trị cao cả, chân chính, bền vững của mọi thời đại, mọi dân tộc.

Tổng thống Barack Obama nghiêng mình, cúi đầu trước nỗi đau của người dân Paris, trước nỗi đau của con Người. Trong dáng nghiêng mình của Obama có vóc dáng lớn lao của loài Người..

Đến Paris, đến với thế giới, đến với Nhân loại nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn chỉ biết có lãnh tụ của mình, hối hả mang hoa đến lãnh tụ của đảng mình là thứ chính trị nhỏ nhen, hẹp hòi, chỉ biết có đảng chính trị của mình, không biết đến con Người, không biết đến loài Người, không biết đến thời đại. Đảng chính trị thực chất chỉ là công cụ, là phương tiện để giành quyền lực, để có quyền lực. Thứ chính trị chỉ vì quyền lực, chỉ đế có quyền lực, không vì con Người làm sao có thể là thứ chính trị nhân đạo, làm sao có thể bền vững!

Đứng giữa đám tùy tùng trước bức tượng đá Hồ Chí Minh trong vườn hoa Montreuil hiu quạnh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thật lạc lõng với thế giới, lạc lõng với thời đại, càng lạc lõng với loài Người! Người lãnh đạo đất nươc lạc lõng thì cả dân tộc lạc lõng!

Đảng cộng sản đã và đang làm gì với lịch sử dân tộc?

Đảng cộng sản đã và đang làm gì với lịch sử dân tộc?

Kính Hòa, phóng viên RFA

RFA
2015-11-30

000_Hkg10220419

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rời khỏi lăng cố chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi khai mạc phiên họp thứ hai hàng năm của Quốc hội tại Hà Nội vào ngày 20 tháng 10 năm 2015.

AFP photo

Tạp chí điểm blog do Kính Hòa thực hiện, tập hợp những bình luận của các blogger trên trang cá nhân, trên các trang mạng xã hội,… xung quanh những sự kiện lớn của đất nước.

Đảng Cộng sản và chống đảng cộng sản

Bốn anh Trí, Phú, Địa, Hào.

Chỉ thương anh Trí lao đao đến giờ.

Đảng ta thấy Trí ngu ngơ,

Cho Công-Nông-Trí chung cờ liên minh.

Trông lên liềm, búa hai hình,

Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu !

Quay sang tìm Phú-Địa-Hào,

Thấy ba bụng phệ… đã vào Đảng ta.

Đó là lời thơ của nhà bất đồng chính kiến, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, được tác giả Thiện Tùng trích dẫn trong bài viết của mình trên trang blog Bauxite Việt Nam.

Đoạn thơ tuy ngắn nhưng khái quát một chặng đường dài về tư tưởng của đảng cộng sản Việt Nam. Với sự châm biếm nhiều mỉa mai, tác giả mô tả chặng đường dài của đảng cộng sản bắt đầu từ chủ trương tiêu diệt giai cấp giàu có, đảng đã trở thành bộ máy mà những người giàu có dùng để cầm quyền.

Chặng đường dài đó của đảng, theo Thiện Tùng là một chặng đường nhiều thất bại:

Trên đường dài suốt 85 năm từ khi chủ thuyết Cộng sản du nhập vào Việt Nam 1930-2015, mỗi khi giương cờ hay áp dụng chủ thuyết, Cộng sản đều không thành công – nếu không nói thất bại thảm hại. Điều đó được chứng minh trên mỗi chặng đường: Dưới cờ Đảng, hai cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ-Tĩnh và Nam Kỳ Khởi nghĩa hồi thập niên 30 bị dìm trong biển máu; áp dụng học thuyết Cộng sản tiến hành cải tạo Xã hội Chủ nghĩa,  gây thảm họa ở Bắc Việt Nam từ sau 1954 đến 1975; cải tạo Xã hội Chủ Nghĩa ở Nam Việt Nam từ sau 1975 đến 1986; quyết giữ cái đuôi Định hướng Xã hội Chủ Nghĩa từ 1986 cho đến nay, nếu không cho là thảm họa thì cũng phải nói là tai họa.

Thiện Tùng là một đảng viên kỳ cựu của đảng cộng sản qua nhiều thời kỳ, và đã trả thẻ đảng từ năm 1986.

Nhưng điều nhận định của Thiện Tùng không phải là điều mà những trang sử của đảng tuyên bố bấy lâu nay, là đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành độc lập, và đưa chủ nghĩa cộng sản, theo đảng là rất tiến bộ, đến với dân tộc Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống cho rằng, những người Việt Nam theo đảng cộng sản vì lòng yêu nước của họ, muốn đất nước độc lập, chứ không phải họ theo đảng vì chủ nghĩa cộng sản.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống đặt vấn đề là hiện có những lời phê bình rằng có phải những người theo đảng năm xưa bây giờ chống lại Đảng có phải là những kẻ phản bội hay không?

Ông trả lời:

Khi biết ông cha đã nhầm đường, không lẽ chúng ta lại tiếp tục đi theo một cách mù quáng. Xin đừng ngộ nhận là ông cha đã hy sinh xương máu là nhằm tạo nên một chế độ độc tài như hiện nay. Làm con cháu mà không sửa được cái sai, cái nhầm của ông cha là loại ngu đần, tưởng là có hiếu nhưng thật ra là bất hiếu. Không sớm thì muộn, cách gì rồi dân tộc VN cũng giác ngộ ra chân lý và từ bỏ Chủ nghĩa Mác lê, cách gì rồi chế độ cộng sản cũng sụp đổ hoàn toàn, càng kéo dài nó ngày nào là có tội với dân tộc, có tội với ông cha ngày đó.

Như vậy những người phê phán và vận động từ bỏ Chủ nghĩa Mác lê mới là người yêu nước, yêu dân thật sự, họ chống lại những giáo điều lạc hậu, chống lại sự toàn trị chuyên chính vô sản, chống lại bất công, tàn bạo và áp bức do Đảng Cộng Sản  gây ra, họ thật sự vì tự do và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy họ mới chính là những người tiếp bước sự nghiệp và nguyện vọng của ông cha.

Còn về việc uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây thì đó là lòng chúng ta biết ơn, tưởng nhớ, kính cẩn thờ phụng ông cha và các liệt sĩ chứ không phải là việc nối tiếp và phát triển những sai lầm, không thể là việc tôn thờ những điều dối trá, những tội ác của những kẻ đã lừa dối họ và đang tiếp tục lừa dối chúng ta. Mong các bạn trẻ tỉnh táo, tự suy nghĩ bằng đầu óc của mình, dùng thực tế để kiểm chứng, đừng bị mắc vào vòng tuyên truyền lừa dối.

Khi biết ông cha đã nhầm đường, không lẽ chúng ta lại tiếp tục đi theo một cách mù quáng. Xin đừng ngộ nhận là ông cha đã hy sinh xương máu là nhằm tạo nên một chế độ độc tài như hiện nay.
– Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống

Với ý nghĩa như bài thơ châm biếm của Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, ông Nguyễn Đình Cống kể lại một chuyện mà ông gọi là chuyện lạ của chế độ. Ông kể rằng có một người Việt Nam mà ông quen biết tên là Phạm Văn Viêm đã dịch một tác phẩm từ tiếng Bulgaria sang tiếng Việt vào năm 1990. Quyển sách này do một cán bộ cộng sản cao cấp của nước Bulgaria viết về chủ nghĩa phát xít, về tổ chức độc hại và tàn ác của chủ nghĩa này. Nhưng điều trớ trêu là do bởi quyển sách dịch đó mà ông Phạm Văn Viêm bị nhà nước cộng sản Việt Nam bắt đi mất tích.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống phân tích rằng sự mô tả nhà nước và xã hội dưới chủ nghĩa phát xít trong quyển sách này không khác gì nhà nước và xã hội dưới chế độ cộng sản.

Đó chính là nguyên nhân khiến Phạm Văn Viêm, người dịch giả khốn khổ bị mất tích.

Một trong những nền tảng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản, cũng như của chủ nghĩa phát xít, là sự cổ vũ cho cách mạng bạo lực. Do vậy những tổ chức được lập ra để nắm bạo lực rất quan trọng trong chế độ cộng sản. Đầu tiên là bộ máy công an rất lớn của nhà nước cộng sản. Thứ hai là quân đội trong chế độ cộng sản cũng được dùng để bảo vệ đảng, gắn rất chặt với đảng.

Trong những ngày trước đại hội đảng cộng sản toàn quốc, nhà văn Phạm Đình Trọng quan sát thấy có đến 20 phần trăm ban chấp hành trung ương đảng, bộ phận nắm quyền lực tối cao thực sự của đất nước hiện nay, là những người đến từ quân đội và công an.

Tổ quốc hay đảng?

Nói về quan hệ giữa đảng cầm quyền và đất nước, và Tổ quốc, nhà văn Phạm Đình Trọng viết tiếp:

Đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền cũng chỉ là một tổ chức xã hội nhất thời và luôn biến động. Tổ chức đảng có lúc thịnh, lúc suy, lúc tồn tại, lúc tiêu vong.

Chỉ có Tổ Quốc, Nhân Dân là vĩnh hằng, bất biến, là một giá trị vĩnh cửu, cao cả, thiêng liêng của một đất nước và của từng người dân. Nhưng những người cộng sản đã thần thánh hóa, tuyệt đối hóa đảng của họ, đưa đảng của họ, một tổ chức chính trị nhất thời, sai nhiều hơn đúng, tội nhiều hơn công lên trên những giá trị cao cả, thiêng liêng, bất biến là Tổ Quốc, là Nhân Dân. Họ đã biến quân đội, sức mạnh bảo vệ đất nước thành sức mạnh bảo vệ đảng, biến pháp luật và công an, công cụ bảo đảm sự lành mạnh của xã hội thành công cụ bảo vệ đảng.

Mùa đại hội đảng năm nay, người dân lại được chứng kiến những người cộng sản đang hối hả học bài học giữ ngôi của các vương triều phong kiến. Cha truyền con nối của vương triều là để giữ ngôi vua. Cha truyền con nối chiếc ghế quyền lực của những người cộng sản hôm nay là để giữ đảng.

Câu hỏi Tổ quốc hay đảng được Tiến sĩ Hà Sĩ Phu phân tích trên trang blog Dân Quyền, qua câu chuyện Bộ giáo dục Việt Nam dự định biến môn lịch sử trở thành một phần nhỏ kết hợp với các môn học khác. Trong bài phân tích đó ông cho rằng môn lịch sử vốn đã bị đảng cộng sản Việt Nam biến thành một lĩnh vực mang nhiều tính chính trị, nay lại nhập vào các môn như giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng lại sẽ càng bị tính đảng lấn lướt hơn nữa. Và điều quan trọng ông nhấn mạnh là phần lịch sử chống Trung quốc xâm lược vốn là quan trọng nhất trong quá khứ của dân tộc Việt Nam, sẽ dần dần bị các thế hệ tương lai của người Việt quên đi.

Ông Hà Sĩ Phu lo lắng cho tương lai lệ thuộc vào Trung quốc như giới bloggers vẫn bàn tán về một âm mưu sát nhập Việt Nam vào Trung quốc bấy lâu nay. Mặc dù vẫn chưa có những dẫn chứng cụ thể về thuyết âm mưu đó, nhưng ông cũng dẫn ra một nguồn tin nói rằng từ thời ông Lê Khả Phiêu còn đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam, các cán bộ đảng cộng sản Trung quốc đã khuyên các người đồng chí Việt Nam của họ rằng nên viết lại lịch sử Việt Nam!

Số phận của Lịch sử Việt Nam!

Câu chuyện về số phận của môn lịch sử Việt Nam đã trở thành đề tài lo âu nhất của bloggers, nhà báo Việt Nam trong tuần qua.

Blogger Người Buôn gió phản biện lại nguyên nhân mà những người chủ trương giảm tầm quan trọng của môn lịch sử đưa ra. Những người này nói rằng sở dĩ họ muốn kết hợp môn lịch sử với các môn khác là vì hiện nay học sinh không thấy ham thích học môn học này. Người Buôn Gió cho rằng Nguyên nhân môn lịch sử VN không thu hút được học sinh, bởi nó được soạn  theo ý đồ chính trị của Đảng CSVN, của Ban tuyên giáo ĐCSVN.

Mùa đại hội đảng năm nay, người dân lại được chứng kiến những người cộng sản đang hối hả học bài học giữ ngôi của các vương triều phong kiến. Cha truyền con nối của vương triều là để giữ ngôi vua.
– Nhà văn Phạm Đình Trọng

Đó cũng là nội dung nói về việc đảng cộng sản chủ trương đưa chính trị vào môn lịch sử mà Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã đề cập đến.

Trong nội dung môn lịch sử được giảng dạy ở các trường phổ thông tại Việt Nam hiện nay, giai đoạn từ khi đảng cộng sản Việt Nam được thành lập vào năm 1930 trở về sau là được mang ra giảng cho học sinh nhiều nhất, mặt dù giai đoạn này chỉ chiếm 1 phần rất nhỏ trong lịch sử 4 ngàn năm của dân tộc, hay thậm chí so với 2 ngàn năm tính từ những trang sử bằng chữ viết ra đời. Hơn nữa giai đoạn này cũng được giảng dạy theo quan điểm của đảng cộng sản mà thôi. Chuyện này làm giới blogger và cư dân mạng Việt Nam dấy lên phong trào thách thức nhà nước Việt Nam hãy giảng dạy lịch sử theo nhiều góc nhìn khác nhau.

Cách giảng dạy lịch sử như thế của đảng cộng sản được blogger Viết từ Sài gòn cảnh báo:

Cái giá của một nền chính trị mà trong đó ký ức dân tộc, lịch sử dân tộc bị chính trị hóa, sau đó đánh lệch hướng và tẩy não, thay thế bằng cái bóng của chế độ cầm quyền sẽ là sự vong nô của tương lai.

Nhưng trong những ngày mà những người yêu lịch sử dân tộc đang rất bi quan thì tác giả Kim Ngọc Cương viết bài Tổ quốc và chế độ, trong đó khẳng định rằng:

Dân tộc Việt Nam không bao giờ vì Chế độ mà để mất Tổ Quốc.

Không một thế lực nào có thể xóa được Lịch sử đau thương mà kiêu hãnh của Dân tộc Việt Nam.

Chúng tôi xin mượn lời Kim Ngọc Cương làm phần kết cho chương trình điểm blog hôm nay.

Những kẻ chủ mưu bắn chết ngư dân Việt Nam là ai?

Những kẻ chủ mưu bắn chết ngư dân Việt Nam là ai?

Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2015

Luật sư Nguyễn Văn Đài

RFA

(

(Thuyền của ngư dân Quảng Ngãi ra khơi đánh bắt cá tại Trường Sa)

Báo chí VN đã đưa ra nhiều giả thuyết rằng những kẻ tấn công và bắn chết ngư dân Trương Đình Bảy của tỉnh Quảng Ngãi có thể là người Philippin, có thể là những tên cướp biển???

Nhưng chưa có tờ báo nào dám đặt sự nghi ngờ rằng những kẻ chủ mưu giết ngư dân VN là Trung Quốc, còn những kẻ thực thi mệnh lệnh hoặc được thuê mướn thì có thể là người của bất kỳ quốc gia nào.

Và tôi cho rằng giả thuyết này hoàn toàn đúng bởi xét mọi khía cạnh về tranh chấp trên biển Đông trong những năm vừa qua.

Thứ nhất, không thể là mưu đồ của Philippin.

Bởi trong những năm qua, mặc dù giữa Việt Nam và Philippin có tranh chấp về quần đảo Trường Sa. Nhưng cả hai bên đều là thành viên ASEAN, có nhiều lợi ích chung hơn là tranh chấp. Đồng thời cả Việt Nam và Philippin vừa công khai, vừa âm thầm ủng hộ nhau trong việc chống lại sự bá quyền của Trung Quốc. Philippin cần Việt Nam và ngược lại, do vậy đây không thể là âm ưu và hành động của Philippin trong vụ giết ngư dân này.

Người dân Philippin đều có dân trí cao, họ hiểu ngư dân Việt Nam là bạn chứ không phải là kẻ thù của họ. Cho nên chỉ những kẻ dùng rất nhiều tiền thì mới có thể mua chuộc và sai khiến họ, trong trường hợp những người mang quốc tịch Philippin bắn ngư dân Việt Nam.

Thứ hai, không thể là cướp biển.

Bởi những thông tin được gia đình nạn nhân và báo chí đưa tin, thì những kẻ tấn công không có hành động cướp tài sản. Đồng thời tài sản của những ngư dân cũng không có gì đáng giá để mạo hiểm tấn công và cướp bóc. Những kẻ tấn công chỉ với mục đích giết người rồi bỏ chạy.

Mục đích của những kẻ giết người là gì?

Mục đích của chúng là gây ra sự hoang mang sợ hãi cho những người ngư dân Việt Nam đã, đang và sẽ đánh cá ở khu vực quần đảo Trường Sa. Làm cho ngư dân Việt Nam không dám tiến hành các công việc mưu sinh, bỏ ngư trường truyền thống của biết bao thế hệ người Việt Nam.

Ai là kẻ hưởng lợi khi ngư dân Việt Nam bỏ Trường Sa?

Trong những năm qua, Trung Quốc tiến hành xây các đảo nhân tạo trên các đảo chìm mà họ đã cưỡng chiếm của Việt Nam. Họ từng bước biến chúng thành các căn cứ quân sự, nơi sinh sống cho người dân Trung Quốc. Và mục đích cuối cùng biến khu vực Trường Sa thành lãnh thổ, lãnh hải hợp pháp của Trung Quốc.

Như vậy, Trung Quốc sẽ độc chiếm ngư trường đánh bắt cá ở Trường Sa khi mà ngư dân Việt Nam bỏ cuộc vì sợ hãi.

Bởi vậy, tôi có thể khẳng định rằng, cho dù bất kể những kẻ thực thi việc bắn chết ngư dân Trương Đình Bảy vào ngày 28 tháng 11 là người mang quốc tịch nước nào. Thì kẻ chủ mưu, ra lệnh hay thuê mướn cũng đều là Trung Quốc.

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-01-29

Báo chí TQ có hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ

Báo chí TQ có hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ

RFA/Google map

Your browser does not support the audio element.

Báo chí Trung Quốc lại tiếp tục gây hấn Việt Nam với những bài viết cho rằng Bắc kinh có thể tấn công thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 1 giờ từ đảo Chữ Thập, nơi họ công khai xâm chiếm của Việt Nam trước đây. Hành động khiêu khích nước lớn này xảy ra liên tục nói lên điều gì khi Việt Nam luôn luôn nhẫn nại chịu đựng? Mặc Lâm phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an để tìm hiểu thêm quan điểm của một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.

Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng báo chí Trung Quốc đang có chiến dịch khiêu khích Việt Nam khi hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông nghĩ thế nào về những luận điệu này và phía sau nó là gì ạ?

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì đây không có vấn đề gì mới. Sách lược của Trung Quốc chưa kể lịch sử 4.000 năm với họ, chỉ kể từ mùng 1 tháng 10 năm 1949 tới giờ và có lẽ mãi mãi về sau cũng thế thôi.

Trước hết chúng ta phải nhận diện họ là ai cái đã. Nói theo tiếng Nga Trung Quốc họ là ai? (китай, кто ты?) Đến giờ chúng ta vẫn mơ hồ về chuyện này, vẫn bị một cái bóng ý thức hệ nó đè lên lợi ích dân tộc. Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả. Làm gì có cái chuyện cộng sản như ông Marx ông Lenin khuyến khích Trung Nam Hải làm cái trò vớ vẩn như vậy được? Điều thứ nhất là phải nhận thức cho rõ.

“ Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả

Thiếu tướng Lê Văn Cương”

Điều thứ hai bản chất của họ là “mềm nắn rắn buông”. Trong 2.500  năm lịch sử khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không dám lấn nhưng khi Việt Nam tỏ ra yếu kém, hèn yếu nhu nhược thì nó lấn. Đấy là quy luật mà không chỉ riêng Việt Nam cả thế giới đều thế cả chỗ nào rắn thì bỏ chỗ nào mềm thì rấn tới.

Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi. Chuyện đe dọa tấn công thành phố Hồ Chí Minh không phải bây giờ mà trước đây họ đã có đưa ra kịch bản đánh và chia đôi Việt Nam từ Nghệ Tỉnh trở ra là một phương án, chia đôi Việt Nam từ Nam Trung Bộ là một phương án và người ta làm rất nhiều rồi chứ không phải bây giờ đâu ạ.

Các phương án ấy chuẩn bị đầy đủ và được tung ra trên báo Hoàn Cầu và các báo khác để thử xem phản ứng của Việt Nam thế nào. Ở Việt Nam còn khối người còn sợ Trung Quốc, đến giờ phút này vẫn sợ. Cho nên đây là đòn gió nếu mà sợ thì nó làm thật, còn không sợ thì họ sẽ tính lại. Cái trò của Trung Quốc là vừa nắn vừa thăm dò nhưng cái này không có gì mới cả đâu ạ, bản chất Trung Quốc là thế rồi. Điều thứ ba tôi muốn nói là không có gì mới.

“ Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi

Thiếu tướng Lê Văn Cương”

Điều thứ tư là chúng ta phải phản đối vì chúng ta không phản đối thì họ tiếp tục. Phản đối có nhiều cách. Tờ Hoàn Cầu là báo của đảng chứ không phải là báo lá cải vì vậy Bộ ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phải gửi công hàm cho Trung Quốc hỏi họ xem tại sao các ông lại có những việc như vậy? Những việc này đi ngược lại tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã ký với ông Trương Tấn Sang vào tháng 6 năm 2013. Nó cũng đi ngược lại tuyên bố của ông Lý Khắc Cường ký với ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2013.

Mấy chuyện này thì phải nói chứ chúng ta im lặng như thế là sao? Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phải gửi công hàm cho Vương Nghị yêu cầu các ông không nên tung những loại như vậy lên báo chí, làm cho người Việt Nam hiểu sai Trung Quốc và kích động lên chủ nghĩa dân tộc, nó đi ngược lại những điều các ông cam kết. Chúng ta phải phản đối chứ? Tại sao chúng ta không phản đối, thiếu gì cách? Cho nên nếu chúng ta lùi thì họ tiến, cuộc đời chỉ đơn giản như vậy thôi. Có lẽ Trung Quốc đang cảm thấy Việt Nam đang lùi đang sợ họ thì họ lấn chứ có gì đâu!

Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải 9 trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng 900 ngàn người cố kết với nhau, quan điểm của tôi không có gì mới cả.

Sau 44 năm tôi nghiên cứu Trung Quốc thì cái trò này không có gì. Tôi rất buồn vì không biết tại sao chúng ta không có phản ứng. Bây giờ các nhà khoa học có nói đến đâu.

“ Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải 9 trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng 900 ngàn người cố kết với nhau

Thiếu tướng Lê Văn Cương”

Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, về câu hỏi tại sao chúng ta không có bản lĩnh có thể xuất phát từ các vấn đề yếu kém nội tại của chúng ta như vũ khí, kinh tế, tiền bạc và là một nước nhỏ cho nên chính phủ có thể là đang…

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Hoàn toàn không phải, hoàn toàn không phải…anh nhớ rằng năm 938 Ngô Quyền dành độc lập trong trận Bạch Đằng thì lúc ấy sức mạnh nhà Tống là hai mươi mà Việt Nam chỉ có một. Cái trận Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1077 khi ấy phương Bắc là ba mươi mà ta chỉ một. Trận Xương Giang Chí Linh năm 1426 Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi ấy triều đại rực rỡ nhất Trung Quốc cũng là ba mươi ba với một nhưng Việt Nam cũng vẫn thắng đấy ạ. Đấy là chưa nói trận nhà Thanh năm 1789 với Nguyễn Huệ đánh không còn cái lai quần, khi ấy nhà Đại Thanh đang ghê gớm lắm ta vẫn thắng cơ mà….cho nên không phải! không phải vì ta thiếu vũ khí, ta thiếu người.

Có lẽ chúng ta thiếu ý chí, có lẽ như vậy. Chính cái này mới quan trọng chứ chạy theo vũ khí thì 1.000 năm nữa Việt Nam vẫn không bì với Trung Quốc được. Phải có ý chí, phải có bản lĩnh chính trị, phải có quyết tâm chính trị. Cái này Trung Quốc mới sợ chứ làm sao trang bị mà đuổi kịp họ? Trung Quốc bây giờ đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga, họ chỉ sợ ý chí của Việt Nam thôi.

Ý chí người dân quy tụ 90 triệu người trong nước và tám tỷ người trên hành tinh này, đấy là sức mạnh vô địch mà Trung Quốc không thể muốn làm gì thì làm được. Chứ còn mấy cái tàu ngầm thì có đủ sức răn đe gì đâu, không ăn thua. Tất nhiên vẫn phải sắm, vẫn phải có máy bay, tàu ngầm tên lửa nhưng những cái này không có ý nghĩa gì cả. Nếu như 90 triệu người mà rời rạc không quy tụ về một mối thì tất cả vũ khí đều chẳng có ý nghĩa gì hết.

Trung Quốc không bao giờ sợ Việt Nam trang bị những loại tàu ngầm tên lửa vớ vẩn ấy. Họ sợ nhất là 90 triệu người này một khối sắt đá.

Mặc Lâm: Xin Thiếu tướng một câu hỏi nữa là một trong các biện pháp đối phó với Trung Quốc thì người trong nước cho rằng Việt Nam nên liên minh với các nước trong khu vực để tạo thành một sức mạnh nhằm đối phó với Trung Quốc hữu hiệu hơn, ông thấy ý tưởng này đưa ra vào thời điểm hiện nay có thích hợp hay không?

“ Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga

Thiếu tướng Lê Văn Cương”

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.

Trung Quốc phải hiểu thấu người Trung Quốc, Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.

Bây giờ đặt ra cuộc thảo luận nói thẳng như thế này chứ không dấu diếm gì cả. Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.

Nhà nước phải chơi bài ngửa với người dân, công khai và minh bạch. Với thế giới cũng thế.

Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng rất nhiều về những bộc bạch này.

MÙA VỌNG: MÙA TRÔNG ĐỢI TRỜI MỚI ĐẤT MỚI…

MÙA VỌNG: MÙA TRÔNG ĐỢI TRỜI MỚI ĐẤT MỚI…

LM Anphong Trần Đức Phương

 “Ta sẽ tạo dựng một Trời Mới Đất Mới; những gì đã qua sẽ không còn được nhớ đến nữa, sẽ không còn ở trong tâm trí ai nữa…  Trời Mới Đất Mới được tạo dựng sẽ tồn tại trước nhan Ta như thế nào, dòng dõi các con và tên các con cũng sẽ tồn tại như vậy” (Isaia 65, 17; 66, 22).

“Bây giờ tôi thấy một Trời Mới và Đất Mới; vì trời cũ và đất cũ đã qua đi…  Sẽ không còn sự chết nữa; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa; vì những điều cũ đã qua đi” (Khải Huyền 21, 1-4).

Mua Vong

“Ngày của Chúa đến như kẻ trộm.  Ngày đó các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị tiêu hủy… Nhưng theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta đang mong đợi một Trời Mới Đất Mới, nơi công lý ngự trị.  Trong khi mong chờ ngày đó, anh em hãy cố gắng hết sức để sống làm sao cho tinh tuyền, không vết nhơ tội lỗi và an bình trước mặt Chúa! (II Phêrô 3-9).

Chúng ta bắt đầu Năm Mới theo Lịch Phụng Vụ Giáo Hội từ Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng.  Mùa Vọng, ngày xưa thường gọi là “Mùa Áp” (theo tiếng Latinh là Adventus, ra tiếng Anh là Advent; từ động từ Advenire, có nghĩa là “đến gần”).  Trong lịch Phụng Vụ của Giáo Hội Việt Nam bây giờ gọi là “Mùa Vọng”, với ý nghĩa là Mùa “trông đợi”, “mong chờ”.

Vậy chúng ta trông đợi, mong chờ điều gì?

Thực tế, Mùa Vọng là mùa để chúng ta chuẩn bị tâm hồn xứng đáng trong niềm mong chờ mừng Lễ Giáng Sinh sắp tới.  Tuy nhiên, phụng vụ Mùa Vọng cũng nói với chúng ta, qua các Bài Đọc Sách Thánh trong các Thánh Lễ, hãy chuẩn bị tâm hồn trong sự chờ đợi Chúa đến viếng thăm mỗi người chúng ta vào lúc chúng ta “qua khỏi đời nầy (qua đời) và đó là lúc “chúng ta không ngờ.”  Như trong bài Phúc Âm Chúa Nhật I Mùa Vọng (Năm B), Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Chúng con hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, vì chúng con không biết lúc đó là lúc nào” (Matcô 13, 33).  Và trong Bài Đọc II (Côrintô 1, 3-9), Thánh Phaolô cũng nói với chúng ta: “Chúng ta mong chờ Chúa Kitô, Chúa chúng ta, tỏ mình ra…” và mong rằng “chúng ta bền vững đến cùng, không có gì đáng trách trong ngày Chúa Kitô, Chúa chúng ta ngự đến…”

Xa hơn nữa, Phụng vụ Mùa Vọng cũng chuẩn bị tâm hồn chúng ta để đón chờ ngày “cuối cùng của thế giới nầy, ngày “tận thế!” ngày đó cũng là ngày “không ngờ”, ngày mà “các tầng trời rung chuyển”, ngày mà “Con Người sẽ ngự đến đầy quyền năng và uy nghi cao cả!”  (Bài Phúc Âm, Chúa Nhật I Mùa Vọng, Năm C).  Tuy nhiên đối với những ai có lòng tin nơi Đấng Cứu Thế, và sống theo Phúc Âm của Ngài, thì ngày đó, không đáng kinh khiếp, nhưng lại là “Ngày Giải Thoát” để bước vào miền hạnh phúc viên mãn của cuộc sống “trường sinh, vinh hiển”, một “Trời Mới Đất Mới” (Xin xem Isaia 65, 17; 66, 22 và sách Khải Huyền 21, 1-4).

Mùa Vọng cũng là Mùa để chúng ta sống lại lịch sử ơn cứu độ, đặc biệt qua các Bài Đọc Cựu Ước, thường trích ra từ Sách Tiên Tri Isaia, một vị Tiên tri lớn trong Cựu ước, sống vào khoảng hậu bán thế kỷ VIII trước Chúa Giáng Sinh.  Tiên tri đã được linh ứng và tuyên sấm về ngày Đấng Cứu Thế đến, mặc thân xác loài người và sống giữa nhân loại như một con người để chia sẻ thân phận con người như chúng ta, rao giảng Tin Mừng tình thương và Ơn Cứu Độ, chịu bao khổ hình, và chết trên Thập Gíá để đền tội và cứu chuộc nhân loại tội lỗi; rồi Ngài đã sống lại và lên Trời vinh hiển để mở đường cứu rỗi cho mọi người tin theo và sống theo tinh thần Tin Mừng mà Ngài đã rao giảng.  Ngài được sinh ra từ lòng một Trinh Nữ và được gọi là Emmanuel, có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.”  Tiên tri Isaia đã loan báo trước: “Này một Trinh Nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai….”  (Bài đọc I, Chúa Nhật IV Mùa Vọng, Năm A).

Tiên tri Asaia cũng nói đến Đấng Cứu thế như một “Hoàng Tử Hòa Bình” và triều đại của Ngài là một thời đại Thanh bình: “Người ta sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cầy, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm.   Nước này sẽ không còn tuốt gươm để chống nước kia” (Bài đọc I, Chúa Nhật I Mùa Vọng, Năm A).  Đó cũng là thời đại của tình yêu thương, hòa hợp: Sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; bò con, sư tử và chiên sẽ sống chung với nhau; các trẻ thơ sẽ chăn dắt đoàn thú vật; bò con và gấu ăn chung một nơi…” (Bài Đọc I, Chúa Nhật II Mùa Vọng, Năm A).

Nhưng để có thể đi vào Thời đại của Đấng Cứu Thế trong một “Trời Mới Đất Mới”, mỗi người phải sửa đổi cuộc sống cho ngay thẳng, lương thiện, sống công chính và yêu thương.  Tiên tri Isaia đã hô hào: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa cho ngay thẳng, hãy lấp các hố sâu và bạt mọi núi đồi.  Con đường cong queo, hãy sửa cho ngay thẳng, con đường gồ ghề, hãy san cho bằng; rồi vinh hiển của Chúa sẽ xuất hiện; mọi người sẽ thấy vinh quang của Thiên Chúa …” (Bài đọc I, Chúa Nhật II, Mùa Vọng).  Thánh Gioan Tiền Hô cũng nhắc lại lời này để kêu gọi mỗi người chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Cứu Thế: “Hãy ăn năn thống hối, vì nước Trời đã gần đến.  Chính Người là Đấng Tiên Tri Isaia đã loan báo: Có tiếng kêu trong hoang địa: hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng…” (Phúc Âm Chúa Nhật II, Mùa Vọng, Năm A, B, C).  Đó cũng là tinh thần chúng ta đọc thấy trong thư II Phêrô 3-9: “Thiên Chúa kiên nhẫn đối với anh em; vì Ngài không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn mỗi người đi đến chỗ ăn năn hối cải…”

Vậy trong tinh thần “dọn đường Chúa đến…”, chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau để mỗi người cùng biết nhìn nhận chính mình là con người yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội, sống khiêm tốn, hòa hợp yêu thương để Nước Bình An của Chúa có thể đến trong tâm hồn mỗi người, mỗi gia đình và lan tỏa ra trên tòan thế giới chúng ta.  Để đến ngày mừng Chúa Gíáng Sinh, chúng ta có thể cùng với các Thiên Thấn ca hát:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho loài người được Chúa Yêu thương” (Luca 2, 14).


L
M Anphong Trần Đức Phương

Một kết thúc buồn . . .

Thanh Vo đã chia sẻ bài viết của Khanh Tran.

Khanh Tran

Khi nhìn thấy cô gái ấy, chân tôi gần như khuỵu xuống. Tôi thấy đau đớn, hổ thẹn và hối hận vô cùng.

TRUYEN NGAN HAY

Mới đây, tôi vô tình gặp lại người yêu cũ của con trai trong dịp đến thăm người bạn từ thời trẻ. Tuy 7 năm không gặp nhưng chỉ nhìn thoáng qua, tôi vẫn nhận ra cô gái từng một thời yêu thương con trai tôi say đắm.

7 năm gặp lại nhưng lại trong hoàn cảnh vô cùng khó xử. Hà – người yêu cũ của con trai tôi và giờ là con dâu của bạn thân tôi. Khi nhìn thấy tôi, sau vài phút ngỡ ngàng ban đầu cô chào hỏi tôi một cách lịch sự rồi đưa con lên gác. Còn tôi, chỉ biết run run cầm chén nước bà bạn đưa cho mà không nói nổi câu nào.

Tôi có một con trai và một con gái. Hà từng yêu và ở bên cạnh con trai tôi 5 năm trời. Ngày con trai đưa Hà về ra mắt tôi đã không ưng ý chút nào. Hà gầy, nhỏ nhưng lại khá thông minh.

Tôi không thích Hà chỉ vì hồi đó tôi đang nhắm cho con trai tôi một đám khác có điều kiện hơn Hà. Khi thấy con dẫn Hà về ra mắt tôi liên tục phản đối. Tôi lấy đủ mọi lý do phản đối, từ chuyện không hợp tuổi, quê xa đến việc Hà xuất thân trong gia đình nghèo khó, bố mẹ làm nông, anh chị em có trình độ học vấn thấp.

Mặc con trai làm đủ mọi cách tôi vẫn một mực phản đối. Con gái tôi khi đó đang làm việc trong Sài Gòn cũng bị tôi gọi ra để khuyên bảo anh trai. Thời gian đầu, Hà vẫn lui tới nhà mặc sự khó chịu của tôi.

Con gái cũng đứng về phía tôi thường xuyên gây khó dễ cho Hà, thậm chí có lần con bé nghe mẹ còn mắng Hà trước mặt khách. Con trai tôi thấy vậy nhất mực phản đối và đòi ra ở riêng. Thời gian đó không khí trong nhà tôi lúc nào cũng căng thẳng, con trai tôi ở lỳ bên ngoài không chịu về.

Biết không lay chuyển được ý chí của con trai, tôi bàn với con gái xin cho mình một bệnh án giả nói tôi bị bệnh nặng. Vì con gái tôi làm bác sĩ nên làm tờ giấy này không mất nhiều thời gian. Khi nhìn thấy bệnh án của tôi, con trai vô cùng đau đớn. Và để chiều lòng tôi, nó rốt cuộc cũng đồng ý chia tay Hà.

Sau khi con trai chia tay Hà xong, tôi tìm mọi cách thu xếp cho con trai vào Nam một thời gian để quản lý công ty cho gia đình em trai tôi. Thời gian nó đi, Hà có đến nhà tôi một lần. Cô ấy nói đã mang thai và mong tôi đồng ý để con Hà có cha, có bà nội. Không thèm nghe Hà giải thích, tôi và con gái vẫn một mực đuổi cô ấy ra khỏi nhà và nghiêm cấm không được gọi điện báo cho con trai tôi.

Tôi đã dựng lên câu chuyện con trai tôi vào Nam chuẩn bị lấy vợ để tống Hà khỏi nhà tôi trong buổi chiều mưa gió đó. Vì lòng tự trọng, vì sự hận thù với tôi nên có lẽ Hà không liên hệ với con trai tôi một lần nào nữa.

Vài năm sau con trai tôi lấy vợ, vợ nó là cô gái tôi đã chọn. Tuy nhiên, cưới nhau đã lâu hai đứa vẫn chưa có con, nguyên nhân là do con dâu tôi. Con gái tôi sống cùng một người đàn ông nhưng không được gia đình chồng đồng ý nên chưa một lần được tổ chức đám cưới.

Ở tuổi 60, khi mọi người đã có cháu ôm thì gia đình tôi sống trong cảnh lạnh nhạt. Nhà chỉ có 3 người lớn lúc nào cũng đi ra đi vào như những cái bóng. Nhìn cậu bé Hà bế trên tay tôi bỗng thấy lòng mình thắt lại, nó giống con trai tôi như hai giọt nước. Sau buổi hôm đó, Hà có chủ động hẹn gặp tôi một lần. Hà nói đứa trẻ Hà bế chính là đứa bé năm đó Hà mang thai. Chồng Hà đã cưu mang hai mẹ con Hà từ cái ngày mưa gió tôi đuổi Hà ra khỏi nhà đó. Cậu ấy bị vô sinh nên đã đưa Hà về sống cùng, cho Hà một mái ấm và cho đứa trẻ một người cha.

Hà hi vọng tôi và gia đình đừng bao giờ đến làm phiền cuộc sống của Hà và con trai. Tôi cảm thấy hối hận vô cùng, tận đến cuối đời tôi vẫn phải hứng chịu nghiệp chướng tôi đã tự gây ra cho mình và gia đình.

NGƯỜI SÀI GÒN

NGƯỜI SÀI GÒN

Lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. Chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… Ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ. Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. Không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại. Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu.

Chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: Xích lô !

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: Anh chị đi đâu ?

-Cho ra Bến xe Miền Tây. Nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết Bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: -15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: -Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: -Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà !

Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng.

Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia xẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá !

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí.

Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống , bẩn chết đi được , nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? ( mua ly giấy , uống xong vứt : mời các người ấy về Saigon mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.

Bi giờ còn vậy nữa không? cũng còn, nhưng mà nếu bà con không gặp người như vậy ở Sàigòn là vì những người bà con gặp đó không phải là người Sàigòn!

S.T.

NỤ CƯỜI BIẾT ƠN .

Khanh Tran đến XIN HÃY NHỚ ĐẾN CÁC LINH HỒN

NỤ CƯỜI BIẾT ƠN .

ME TERESA

Một buổi tối nọ, Mẹ Têrêsa mang theo về nhà mấy bệnh nhân Mẹ gặp bên lề đường, trong đó có một bà già bị bệnh nặng lắm. Mẹ Têrêsa tình nguyện săn sóc bà ấy với tất cả tình thương sẵn có trong tâm hồn. Khi đặt bà lên giường, bà ấy siết chặt tay Mẹ và mỉm cười thật tươi, một nụ cười thật đẹp mà Mẹ chưa từng gặp thấy trên khuôn mật nào khác, một nụ cười thật tế nhị. Bà ấy nhìn Mẹ Têrêsa với tất cả vẻ trìu mến và chỉ kịp thốt lên tiếng “Cám ơn!” Rồi bà lão nhắm mắt tắt thở.

Mẹ Têrêsa nhìn bà ấy và tự hỏi: Nếu tôi ở trong trường hợp bà ấy, tôi sẽ nói gì? Dĩ nhiên tôi sẽ tìm sự chú ý của người khác, hoặc tôi sẽ nói “Tôi lạnh, tôi đói, tôi khát nước . . .”

Nhưng người đàn bà ấy thì không làm như thế ! Bà ấy đã cho Mẹ Têrêsa một món quà lớn hơn cả sự chăm sóc của Mẹ đã dành cho bà. Bà ấy đã biết tặng Mẹ lòng yêu mến biết ơn qua nụ cười tươi đẹp đó.

….
Trích trong < NHỮNG TRUYỆN MẸ TÊRÊSA KỂ: >

Raymond Aron và Tôi

 Raymond Aron và Tôi

Tác giả : Đoàn Thanh Liêm

Doan Thanh Liem

I — Tóm lược : Thân thế và Sự nghiêp.
(Raymond Aron : 1905 – 1983)

Raymond Aron sinh năm 1905 tại Pháp, ông là con của vị luật sư gốc Do Thái. (Xin viết tắt cho gọn : RA). Ông là người đương thời và cũng là bạn đồng môn với Jean – Paul Sartre, khi cùng theo học tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm (Ecole Normale Superieure) ở Paris. Cả hai vị này, mỗi người mỗi vẻ, đều để lại một sự nghiệp đồ sộ, làm vinh dự cho nước Pháp vào nửa sau của thế kỷ 20. Ngay sau khi tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm, RA đã được sang bên nước Đức nghiên  cứu thêm về Triết học, Xã hội học, và trở về dậy học tại một trường trung học ở miệt tỉnh. Ông  đậu bằng Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ một cách dễ dàng, và được các bạn đồng môn đánh giá là có trí  thông minh vượt trội, ngang ngửa với Jean-Paul Sartre.

RAYMOND ARON 1

Vừa mới bắt đầu lên dậy bậc Đại học, thì chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) xảy ra. Và
sau khi nước Pháp bại trận năm 1940, thì RA phải lưu vong sang nước Anh. Tại đây RA đã nhận  làm chủ biên cho Tập san “La France Libre” (Nước Pháp Tự Do) do Chánh Phủ lưu vong của  Tướng De Gaulle chủ trương. Hết chiến tranh, RA tham gia vô ngành báo chí và viết cho báo Le  Figaro là một tờ báo vào loại hàng đầu của Pháp với lập trường “thiên hữu”. Từ giữa thập niên 1970, thì ông sang viết cho tuần báo Express. Đồng thời ông cũng dậy ở Đại học Sorbonne, Học viện Chính trị (Sciences Po.), nhưng vẫn tham gia viết báo. Có thể nói RA vừa là nhà giáo, mà cũng vừa là nhà báo.

RA không những dậy học ở Pháp, mà ông còn được mời đi dậy ở Đức, ở Mỹ và tại nhiều nước
khác nữa. Ông còn được mời đến dậy ở Collège de France (Học viện Pháp quốc) là cơ sở giáo
dục bậc cao nhất của nước Pháp.Về sự nghiệp viết báo, thì ông đã có nhiều công trình biên khảo  được đăng trên những tập san chuyên môn hàng đầu của thế giới, kể cả trong bách khoa toàn thư Enclycopedia Britannica. RA còn là tác giả của trên 40 cuốn sách, mà phần đông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Anh, và được rất đông người đọc mến chưộng.

Khác với Sartre là người có lập trường thiên về phía cộng sản, RA phân tích mổ xẻ rành mạch
những khuyết điểm, sai lầm tai hại của phe cộng sản, nhất là tại Liên Xô.Vào thập niên 1950-60, phần đông giới trí thức ở Pháp thiên vị về phía công sản, do vậy mà RA bị coi là ở phe thiểu số. Dầu vậy, ông vẫn kiên định trong lập trường chống độc tài cộng sản, và không bao giờ tỏ ra có sự chao đảo như một số nhà trí thức khác ở Âu châu thời sau chiến tranh. Cũng vì thế, mà Raymond Aron đã không được bầu vào trong Hàn Lâm Viện của Pháp, danh dự mà ông rất xứng đáng được trao tặng.

Những phân tích, nghiên cứu của ông rất nghiêm túc, chính xác theo tinh thần khách quan của giới hàn lâm khoa học. Điều này đã được thực tế xã hội chứng minh rành rành, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Đông Âu và ở chính Liên Xô vào cuối thập niên 1980, nơi mà xưa kia phe cộng sản vẫn tung hô là “thiên đường của chủ nghĩa xã hội”. Chỉ tiếc là đến lúc đó, thì Aron đã ra người thiên cổ mất rồi (ông qua đời năm 1983)

• Cuốn sách “L’opium des intellectuals” (Nha phiến của giời trí thức) xuất bản năm 1955 lúc ông vừa 50 tuổi, được coi là một công trình biên soạn thời danh, gây chấn động khắp thế giới, cùng lúc với 2 cuốn khác là cuốn “Giai cấp mới” của Milovan Djilas người Nam Tư và cuốn “Doctor Zhivago” của văn hào Nga mà được giải thưởng Nobel về Văn chương là Boris Pasternak. Khác với văn hào Andre’ Malraux là người chỉ biết xưng tụng tôn vinh De Gaulle, mà cũng khác với Jean Paul Sartre là người luôn thiên về phe cộng sản, Aron thật sự nghiêm túc trong sự phân tích khoa học về các vấn đề chính trị xã hội có tầm mức ảnh hưởng toàn cầu. Là nhà báo, ông có cơ hội tiếp cận thường xuyên với tình hình thực tế khắp nơi trên thế giới, và trao đổi với các đồng nghiệp trong ngành truyền thông, cũng như gặp gỡ tiếp súc với giới lãnh đạo chính trị tại nhiều nước. Mà cũng vì là nhà giáo, Aron cũng rất thận trọng, khúc chiết mạch lạc trong cách trình bày lý luận của mình nơi các bài giảng cho sinh viên tại Sorbonne, cũng như cho sinh viên tại Mỹ, tại Đức v.v… Chính Henry Kissinger, một bậc kỳ tài của Đại học Harvard, mà còn phải tôn Raymond Aron là sư phụ của mình, như được ghi trong Lời Giới thiệu cuốn Hồi ký RA, bản dịch sang tiếng Anh xuất bản năm 1990.

Raymond aron 2

Raymond Aron rất chững chạc trong lối phát biểu, cũng như trong lối viết. Ông không bao giờ
dùng những lời “đao to búa lớn” như Sartre là người sử dụng những từ ngữ miệt thị vô trách
nhiệm đối với giới tư bản trưởng giả, như là chữ “cochons, salauds” (đồ con heo, đồ đểu giả)
nhằm mỵ dân, lôi cuốn giới trẻ người non dạ. Hoặc đưa ra những khẩu hiệu như: “l’enfer, c’est
les autres” (người khác là địa ngục đối với ta) v.v…Về đời sống gia đình riêng tư, Aron cũng rất mực thước, phải chăng, vợ chồng con cái thuận hòa êm thắm. Khác hẳn với Sartre vốn là người  thường tự cho mình được quyền ở ngoài vòng cương tỏa của luân lý xã hội, tha hồ tung hoành vối lối sống phóng túng, bất cần đời, coi thường cái khuôn khổ luân thường lễ giáo xưa nay của xã hội.

Về cuối đời của ông, học giới tại nước Pháp đã thành lập một trung tâm nghiên cứu lấy tên ông là: “Centre de Recherches Politiques Raymond Aron – CRPRA” đặt tại Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội (Ecole des Hautes Etudes des Sciences Sociales – EHESS ). Trung Tâm được khởi sự từ năm 1982, đúng một năm trước khi RA qua đời vào năm 1983, và sau này được hoàn chỉnhnhằm khuếch trương công cuộc nghiên cứu thâm sâu về khoa học xã hội, đặc biệt dành cho giới sinh viên bậc cao học và tiến sĩ. Mỗi năm lại có việc Trao Giải Thưởng Raymond Aron cho các công trình nghiên cứu xuất sắc về các đề tài đã được RA khai mở. Cho đến nay, vào tháng 12/2007, thì đã có tới 38,120 vị ân nhân đóng góp cho Trung tâm CRPRA này

Gần đây học giới ở Pháp đã phục hồi lề lối nghiên cứu khoa học xã hội theo “truyền thống
Raymond Aron”, đó là tách việc nghiên cứu khoa học xã hội ra khỏi sự chi phối của “ý thức hệ” như các trí thức phe tả thường lấn áp trong thời kỳ sau chiến tranh thứ hai, với cao điểm của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và tư bản. Và đây chính là sự đóng góp vĩ đại của RA trong lãnh vực học thuật và tư tưởng hiện đại trên thế giới ngày nay.

Có thể nói RA đã góp phần rất đáng kể trong việc phát triển ngành xã hội học chính trị (political sociology) nối tiếp truyền thống của những Alexis de Tocqueville, Max Weber, Joseph Schumpeter v.v…Và RA cũng giống như Karl Popper là những người đều chủ trương sự cải thiện xã hội bằng phương thức bất bạo động, kiên nhẫn và khiêm tốn, chứ không bằng lối cưỡng bức sắt máu như của cộng sản. Cái khẩu hiệu “Piecemeal Social Engineering” của Karl Popper hiện nay đang được người môn đệ nổi danh từ London School of Economics, là George Soros khai triển và ứng dụng qua chủ trương của cơ quan “Open Society Institute” (OSI) với trụ sở chính đặt tại New York, để góp phần phục hồi Xã hội Dân sự tại các nước Đông Âu và Nga kể từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ gần 20 năm nay.

II — Raymond Aron và Việt Nam … và Tôi.

Là một nhà báo thượng thặng, ông chú trọng đến chuyện chiến tranh Việt nam ngay từ hồi cuối thập niên 1940. RA có kể lại chuyến viếng thăm VN vào năm 1953, nhưng coi như không có mấy tiếp xúc với chính quyền Bảo Đại trong dịp này. Mãi đến năm 1968, RA mới chú ý đến tài liệu của cựu Đại sứ Phạm Duy Khiêm, người bạn cùng học chung ở Cao Đẳng Sư Phạm hồi 40 năm trước. Bản thông báo của Đại sứ Khiêm về cuộc thảm sát ở cố đô Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 rõ ràng là có sức thuyết phục đối với giới trí thức ngay thẳng, lương thiện như Aron, sự kiện mà tác giả đã ghi lại khá chi tiết trong cuốn hồi ký với tựa đề nguyên văn là : “Cinquante ans de reflexion politique” (Năm mươi năm suy ngẫm chính trị). Nói chung, thì lập trường của RA đối với cuộc chiến tranh VN trong suốt 30 năm là “thiên hẳn về phía Mỹ và Tây Âu”, chứ không có thiên vị về phe cộng sản như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre v.v…

ARON-Raymond_NB

Tư tưởng của RA được giới trí thức miền Nam VN theo dõi, tán thưởng. Cụ thể như Luật sư
Trần Văn Tuyên, học giả Nguyễn Hiến Lê, các giáo sư Vũ Quốc Thông, Nguyễn Văn Bông,
Nguyễn Ngoc Huy …, các nhà báo Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quý
Toàn v.v…Phần đông học giới ở VN hồi trước 1975 đều tỏ ra rất khâm phục cái lối lý luận sắc
bén, khúc chiết, vô tư và thẳng thắn của vị giáo sư khả kính và khả ái này. Đã có một vài bản
dịch sách của RA, nhưng hầu hết giới trí thức của ta thời ấy đều đọc trực tiếp từ nguyên tác bằng tiếng Pháp. Sinh viên các ngành thuộc khoa học xã hội ở miền Nam hồi trước 1975 phần đông cũng đều được học tập về môn xã hội học chính trị, mà RA là một giáo sư tiêu biểu cho sự chính xác, trung thực và sắc xảo.

Bản thân tôi, thì bắt đầu “mê Raymond Aron” từ năm 65-66, lúc đang say sưa với công tác xã hội trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon. Cuốn “18 lecons sur la societe industrielle” là tài liệu của khóa giảng tại Sorbonne và tiếp theo là cuốn “Lutte des classes” và cuốn “Democratie et Totalitarisme” đã làm tôi say mê theo dõi cái môn phân tích xã hội học về phương diện chính trị của vị “đại sư” này.

Rồi sau 1975, với nhiều thời gian rảnh rỗi, tôi lại hay ra chợ sách phía sau rạp Đại Nam để tìm kiếm thêm sách đọc về loại này. Nhờ vậy mà tích lũy thêm được một số kiến thức vững vàng hơn, mà thời trước vì bận rộn với chuyện làm ăn, tôi đã không có dịp trau dồi, học tập để bắt kịp với sự tiến bộ của ngành khoa học xã hội này.

bertrand russellBertrand Russell

Tôi có dịp thường xuyên trao đổi với cụ Nguyễn Hiến Lê, và được cụ cho đọc thêm nhiều cuốn sách chỉ có trong tủ sách riêng của cụ.Vào năm 1979-80, cụ có cho tôi cuốn sách “Les
désillusions du progres” do RA viết năm 1969. Đây là bản Pháp văn của mục phân tích về “tình hình xã hội đương thời” tác giả đóng góp cho Encyclopedia Britannica. Cụ đã đọc rất kỹ và ghi chú bằng bút chì trên lề nhiều trang sách. Tôi thật cảm động vì lời đề tặng của cụ cho tôi như sau : “ Xin tặng ông Đoàn Thanh Liêm. Xin ông giữ làm kỷ niệm – NHL”.

A/ — “ Nước Pháp là Nước Pháp, không có tĩnh từ”

Năm 1981, lần đầu tiên Đảng Xã Hội Pháp có đại diện là Francois Mitterand được bầu làm
Tổng Thống. Lúc đó RA đã già yếu rồi, nhưng ông cũng đóng góp một bài báo gây chấn động với nguyên văn tựa đề như sau : “La France, c’est la France ou la Republique Francaise; sans adjectifs” ( Nước Pháp là nước Pháp hay Cộng Hòa Pháp quốc, chứ không cần thêm một tĩnh từ nào khác). Tư tưởng này đã nung nấu trong tôi suốt bao nhiêu năm, vì kể từ năm 1976, đảng cộng sản đã tự ý ngang nhiên đổi tên nước Việt nam thành “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN” (Socialist Republic of VN – SRV). Tức là người cộng sản đã gắn cái chủ nghĩa xã hội của họ vàodanh tánh của nước Việt nam đã có từ ngàn đời do cha ông chúng ta xây dựng tạo thành và truyền lại cho thế hệ chúng ta ngày nay. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Jean Paul Sartre

Tuy nhiên vào thời đó, chế độ cộng sản còn quá hung hãn, bạo ngược. Với lại hoàn cảnh chiến tranh với Trung quốc, tại Cambodia; cho nên anh em trí thức chúng tôi cũng chưa thể làm cái gì cụ thể nhằm góp phần chấn chỉnh lại tính thế được. Mà phải đợi đến sau 1986 với phong trào “Đổi mới” từ Liên Xô lan tới Đông Âu và dĩ nhiên cũng bắt đầu ảnh hưởng tới Việt nam, thì chúng tôi mới bắt đầu thảo luận trao đổi với nhau về những chuyện căn bản của đất nước, của dân tộc. Và với sự sụp đổ của cộng sản tại Đông Âu cuối năm 1989, cùng với sự rệu rã của hệ thống Xô Viết tại chính nước Nga, thì vào đầu năm 1990, tôi đã soạn thảo một văn bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản” chỉ ngắn gọn trong nửa trang giấy, nhằm góp phần vào việc làm “guideline cho việc soạn thảo một bản Hiến pháp mới cho nước Việt Nam sau này”. Xin ghi lại điểm 1 trong văn bản này như sau :

“Điểm 1 : Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của các tổ chức tôn giáo”.

Cũng vì bản văn 5 điểm này, mà công an đã theo dõi và bắt giữ tôi, khi tôi mới từ Saigon bay ra Đà nẵng vào ngày 23/4/1990. Rồi họ đưa tôi ra xét xử trong phiên tòa ngày 14/5/1992 tại tòa án Saigon, với bản án 12 năm tù về tội “Tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội”, y hệt như các vụ xử linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài gần đây vậy.

B/ — Tranh chấp chủng tộc, chứ không phải tranh đấu giai cấp.

Tôi vẫn còn nhớ lối biện luận của RA, là: Hầu hết các tranh chấp trên thế giới ngày nay đều
phát sinh từ chuyện “tranh chấp chủng tộc” (lutte des races) chứ không phải là “tranh đấu giai cấp” (lutte des classes) như người cộng sản thường chủ trương. RA nêu ra trường hợp tranh chấp đẫm máu ở Bắc Ái nhĩ lan, căng thẳng ở Québec, Canada v.v…, thì đều là tranh chấp chủng tộc lồng trong sự khác biệt tôn giáo, chứ không hề có sự đấu tranh giai cấp tại các nơi như thế này. Điều này lại càng sáng tỏ hơn trong trường hợp của Bosnia, Kosovo sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Nam tư vào đầu thập niên 1990..

Đó là lý do tại sao tôi viết “Điểm 2” trong “Bản văn 5 điểm” ghi trên .

“Điểm 2 : Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống lịch sử và văn hóa khác nhau

Như vậy nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa”.
Tại phiên tòa, chánh án Lê Thúc Anh gọi tôi: “Anh là thứ cáo già chính trị”, vì chủ trương “đa
nguyên, đa đảng” mà khôn khéo ngụy trang trong điểm này. Cũng như Đại tá Quang Minh trong lúc điều tra, thì lại gọi tôi là thứ “assassin de genie” – ông nói nguyên văn tiếng Pháp như vậy – (Kẻ sát nhân ngoại hạng). Nói chung là người cộng sản vẫn còn rất “dị ứng” (allergic) với loại suy nghĩ rất bình thường trong bất kể xã hội dân chủ, tự do nào.

(Ghi chú : Toàn văn Bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản ” sẽ được ghi nơi “Phần Phụ lục” kèm theo bài viết này.)

III — Đôi lời tâm tình .

Bài viết này được chuẩn bị vào cuối năm 2007. Năm hết, Tết đến, tác giả xin được ghi ra ít lời tâm tình sau đây :

Năm 2008 là năm kỷ niệm 25 năm ngày qua đời của Raymond Aron. Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn đối với vị giáo sư và tác giả khả kính là người đã soi sáng, hướng dẫn rất nhiều cho kẻ hậu sinh, cả về phương pháp luận (methodology), cả về nội dung những khám phá tìm kiếm của ông trong lãnh vực khoa học xã hội hiện đại. Đọc RA, tôi thấy toát ra một tinh thần nhân bản cao độ, một tác phong cao quý của bậc mô phạm, và nhất là sự kiên trì nhẫn nại hiếm có nơi lớp người trí thức thường bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh ý thức hệ tại Âu châu thời kỳ sau thế chiến thứ hai.Có thể nói RA là một thứ sĩ phu quân tử ở phương Tây.

Tiếp theo, người viết cũng xin bày tỏ niềm thương tiếc và quý mến đặc biệt đối với Luật sư Trần Văn Tuyên, Học giả Nguyễn Hiến Lê là những vị đã chỉ dẫn cho tôi trong các vấn đề chính trị xã hội mà Raymond Aron đã nêu lên. Tác giả cũng không thể nào quên được nhà báo Đỗ Ngọc Yến, là người đã tặng cho tôi khá nhiều sách báo, trong đó có cuốn Hồi ký Raymond Aron, bản dịch tiếng Anh – mà nhờ đó tôi đã có thể đào sâu được nhiều chi tiết chính xác cho bài viết này.

Sau cùng tác giả còn muốn ghi nhận cái công lao của Anh Vũ Ngọc Trân là thân phụ của nhạc sĩ Trường Kỳ vì đã chuyển cho cuốn Hồi Ký RA nguyên tác tiếng Pháp vào đầu năm 1990 ở
Saigon. Lúc đó tôi đã say sưa đọc cuốn sách này. Nhưng chưa kịp trả lại anh Trân, thì tôi bị công an bắt giữ. Và khi ở trong tù, tôi đã ân hận vì không kịp trả cuốn sách cho anh Trân. Nay anh lại vừa mới ra đi vài năm gần đây tại Saigon. Nhưng chắc anh cũng thông cảm cho hoàn cảnh bất khả kháng của tôi, khiến làm thất lạc mất cuốn sách quý này.Chuyện này có vài chi tiết lý thú khác nữa, người viết xin được kể lại đày đủ hơn trong một dịp khác, bởi lẽ bài này hiện đã quá dài rồi.

Westminster California, cuối tháng 12, năm 2007.

Đoàn Thanh Liêm
* * *
PHỤ LỤC

• Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản .
Điểm 1 :
Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của
các tổ chức tôn giáo.

Điểm 2 :
Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hóa và lịch sử khác nhau.
Như vậy, nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa.

Điểm 3 :
Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái của dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp VN sẽ
được xây dựng trên những nguyên tắc đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Điểm 4 :
Về phương diện kinh tế, vai trò của Nhà nước là làm trọng tài để bảo vệ công bằng xã hội và trật
tự xã hội.
Như vậy, Nhà nước không thể vừa làm trọng tài, vừa làm một bên đương sự trong các hoạt động
kinh doanh làm ăn được (không thể vừa thổi còi, vừa đá banh).
Hệ quả là hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm tới mức tối thiểu.

Điểm 5 :
Thể hiện tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với
mọi vi phạm do cá nhân, hay do tập thể gây ra.
Nghiêm cấm mọi sự tùy tiện báo ân, báo oán.
Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp.

Làm tại Saigon, Tháng Hai năm 1990

Đoàn Thanh Liêm

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

Ban mục vụ TTXH Kontum

11/28/2015

Ngày 27/11/2015 vừa qua, Ban Mục Vụ Truyền Thông Xã Hội Giáo phận Kontum có dịp gặp Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo Phận Kontum, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chập thuận đơn xin nghỉ hưu theo Giáo luật 104,1 từ ngày 07.10.2015.

Sau 12 năm coi sóc Giáo phận Kontum, Đức Cha đã chia sẻ những tâm tư, ước nguyện cũng như những trăn trở và thao thức của mình.

PV: Con xin kính chào Đức Cha! Lời đầu tiên con xin cảm ơn Đức Cha đã dành thời gian cho ban mục vụ truyền thông xã hội của Giáo phận để chia sẻ những tâm tư, tình cảm cũng như những trăn trở, thao thức của Đức Cha trong vai trò Giám mục Giáo phận trong thời gian qua.

PV: Trước hết, Đức Cha có thể chia sẻ cho chúng con những kỉ niệm sâu sắc nhất của Đức Cha trong thời gian làm Giám mục của mình?

Đức Cha: Xin chào cha và anh chị em.

Kỷ niệm thì nhiều. Với tôi, giờ phút này, tôi nhớ tới những người, những sự việc đã xảy ra ở nhiều nơi trong Giáo phận, nhất là ở những vùng sống “3 không” – không nơi thờ phượng, không linh mục, không sinh hoạt tôn giáo bình thường.

PV: Chúng con được biết, Đức Cha là một trong những người rất có hồn tông đồ, hay đúng hơn là lửa tông đồ, vậy trong những năm qua Đức Cha đã quan tâm, ưu tiên đến hoạt động Tông đồ trong Giáo phận như thế nào và điều gì làm cho Đức Cha thật sự hài lòng?

Đức Cha: Tôi đã chọn bậc thang giá trị đời mục vụ và truyền giáo theo thứ tự ưu tiên như sau :

1- Trước nhất là : Đào tạo nhân sự, đặc biệt giới trẻ, từ đó có ơn gọi linh mục tu sĩ thừa sai.

2- Thứ đến : góp phần nâng cao mực sống người dân.

3- Thứ ba là : Xây dựng cơ sở như nhà cửa, nơi thờ tự….

PV: Xin Đức Cha có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm Tông đồ của mình cho chúng con.

Đức Cha: Nói về kinh nghiệm sống, tôi nghĩ tới 2 điều :

1- Nghĩ ngay tới Chúa Giêsu 3 Đ : Sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi! Tôi cố noi theo Ngài bằng cách đến thăm được càng nhiều anh chị em khắp mọi miền càng tốt! Với tôi : “Đường là nhà, xe là giường, máy bay là khách sạn”. Đến với dân để học làm người với dân : đó là khởi điểm của sứ vụ loan báo Tin Mừng.

2- “Chúa là chủ lích sử”. Ngay cả trên thập giá, Ngài cũng tha thứ và từ nấm mồ, Ngài đã phục sinh. “Chúa luôn viết chữ thẳng trên đường cong!”.

PV: Kết thúc thời gian coi sóc Giáo Phận Kontum trong vai trò Giám mục, bên cạnh những tâm tình về những điều Đức Cha vừa chia sẻ, vậy đâu là những trăn trở, thao thức của Đức Cha về công tác mục vụ của Giáo phận và cần phải quan tâm, ưu tiên hơn nữa?

Đức Cha: Điều tôi ưu tiên quan tâm hiện nay là : Làm sao đem Tin Mừng yêu thương và sự thật đến cho mọi người, cách riêng cho giới trẻ trong xã hội hôm nay? Cho tôi hỏi nhỏ : Anh chị em có thể ngồi viết lách hoặc dễ dàng đọc sách hay suy gẫm giữa nơi ồn áo náo nhiệt không? Tâm trạng tôi lúc này cũng thế!

Này nhé Đất Nước : Nhờ phương diện truyền thông hiện đại, nhiều sự kiện tiếp diễn làm cho những người thiết tha với đồng bào quê hương Việt Nam, KHÔNG THỂ vô cảm. Mật ước Thành Đô, với tôi, vẫn là một thắc mắc và một bận tâm : Nó có thật không? Nhà hữu trách tới nay không một ai lên tiếng? Những người bị ghép cho danh hiệu “phản quốc, bán nước”, không một ai cải chính!? Với những ai tha thiết tới tiền đồ Đất Nước không thể dửng dưng! Nếu đúng như mạng Internet nói, thì quả là khủng khiếp và nguy to! Nếu đúng thì thời điểm 2020 nó lù lù xấn tới nơi rồi! “Người phương bắc đang hiện diện như da beo” khắp nơi trên Đất Việt – từ hàng hoá cho chí con người – phải chăng là những dấu đáng nghi ngại?! Nghĩ đến đó làm sao an tâm chỉ lo cho việc đạo, việc riêng….!!! Mất Nước, mọi chuyện khác hoá ra “nhỏ”và rồi ở với ai, với kiếp nô lệ mới!? Mất nước là mất tất cả! Tôi có bi quan quá không?

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ và tự hỏi : Lớp trẻ – tương lai của Giáo Hội và Xã Hội – đang được hấp thụ một nền giáo dục nào? Một nền giáo dục quá nặng tính vật chất, công khai chống Trời (Thiên Chúa) chống Đất (môi trường sinh thái), một nền giáo dục coi nhẹ lịch sử và nặng tính chính trị phe phái, báo trước một tương lai đen tối cho mọi người cũng như cho tiền đồ Đất Nước. Các anh chị có nghĩ vậy không?

PV: Chúng con ghi nhận tất cả những tâm tình và thao thức của Đức Cha cũng như bao tâm tư của những người mang trong mình ý thức hệ, đều quan tâm, trăn trở với các thế hệ trẻ. Thưa Đức Cha, trải qua một thời gian khá dài trong vai trò Giám mục chánh tòa Giáo Phận Kontum, chắc hẳn Đức Cha có nhiều kinh nghiệm trong việc coi sóc Giáo phận, vậy Đức Cha có muốn chia sẻ một vài điều đối với vị Tân Giám mục, người sẽ kế nhiệm Đức Cha trong thời gian tới?

Đức Cha: Chúa Thánh Thần sẽ nói với Ngài. Khẩu hiệu Giám Mục của Ngài “Caritas in Veritate : Lòng Mến Trong Sự Thật” đã nói quá rõ con đường phục vụ Ngài đã chọn. Chính khẩu hiệu giới thiệu Ngài sẽ là một người mục tử khôn ngoan và hiền lành như lòng Chúa mong muốn vậy! (x. Mt 11, 29)!

PV: Một lần nữa chúng con rất cảm ơn về những chia sẻ thân tình và cởi mở của Đức Cha vừa rồi. Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành trên Đức Cha. Xin Đức Cha tiếp tục cầu nguyện để Giáo phận chúng ta ngày càng đón nhận nhiều hồng ân Thiên Chúa và mỗi Kitô hữu luôn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình./.

BAN MỤC VỤ TTXH

Giáo Phận Kontum thực hiện

Anh vất áo choàng, đứng phắt dậy

Anh vất áo choàng, đứng phắt dậy

danchuahiepthong

Chỉ trong niềm tin vào Chúa, người ta mới tìm được niềm vui và ơn giải thoát thực sự…

Bà Jo Scaggs, giáo sĩ thuộc một giáo phái Tin lành, được mời đến dự lễ Giáng sinh được tổ chức ngoài trời tại Grace Camp, một trung tâm điều trị bệnh cùi ở Nigeria. Đó là lần đầu tiên bà thấy được một số rất đông người cùi. Nhìn đâu cũng thấy người cùi, rất nhiều người bị bệnh cùi gặm nhấm và hủy hoại thân thể, nhưng khuôn mặt ai cũng bày tỏ niềm vui, mắt họ sáng lên khi hát thánh ca.

Đến phần công bố Lời Chúa, một người cùi không còn ngón tay nào lên đọc Sách Thánh. Ông phải lật các trang sách bằng một cái que buộc vào cổ tay. Sau bài giảng, vị mục sư mời mọi người chia sẻ về các ân phúc Chúa ban cho mình. Người không còn ngón tay đứng lên nói rằng: “Tôi muốn cảm tạ Chúa vì Ngài đã cho tôi bị cùi”.

Trước sự ngạc nhiên của bà Jo Scaggs, anh giải thích thêm: “Nếu tôi không bị cùi, có thể tôi đã không bao giờ biết Chúa Giêsu, không bao giờ cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho tôi sâu xa đến thế. Còn thực tế là bây giờ tôi đang bị bệnh cùi, có thể tôi sẽ không bao giờ được chữa lành, nhưng tôi lại cảm nghiệm được tình yêu của Chúa luôn đổ tràn trên tôi qua biết bao người đang săn sóc cho tôi…”

Bước vào cuộc đời, ai cũng phải đối diện với nhiều đau khổ từ thân xác đến tâm hồn. Đau khổ dường như không buông tha cho ai, cả người tin vào Chúa: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi tới bao giờ? Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ? Tới bao giờ hồn con vẫn còn lo lắng và lòng con ủ rũ đêm ngày? Tới bao giờ kẻ thù con thắng mãi” (Tv 12,2-3)?

Nhưng chỉ trong niềm tin vào Chúa, người ta mới tìm được niềm vui và ơn giải thoát thực sự, “Vì Đức Chúa phán thế này: Reo vui lên mừng Gia-cóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân! Nào loan tin, ca ngợi và công bố: “Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn sót lại của Ít-ra-en!” Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo” (Gr 31,7-8).

Tin Mừng Đấng Cứu Thế đem đến cho nhân loại chỉ đơn giản là rao giảng tình yêu muôn đời Thiên Chúa đã dành cho họ: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3). Tình yêu đó nối kết nhân loại với Thiên Chúa trong mối tình thân mật của một người cha dành cho con mình: “Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng” (Gr 31,9).

Vâng, Ngôi Lời đã làm người, sống giữa nhân loại, để “chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. (…) Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4,14-16).

Tin Mừng cho nhân loại là được mạnh dạn đến gần Chúa, vì chính Người đã gọi, đã đến với sự cùng cực của mỗi người: “Người ta gọi anh mù và bảo: “ Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy” (Mc 10,49).

Vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu là dấu chỉ của một niềm tin mạnh mẽ. Niềm tin của anh đã cứu anh, anh nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

Đó là niềm tin đem ơn cứu độ đến cho nhân loại hôm nay, niềm tin đó làm cho mỗi người nhìn thấy và phân định được điều thực sự có giá trị trong dòng đời để vất bỏ ngay, vất bỏ dứt khoát và mạnh mẽ những gì thế gian coi trọng để đi theo Đức Kitô trên con đường Người đi.

Dọc miền sông Rhine, một trong những con sông dài và quan trọng nhất Âu châu, truyện xưa kể lại chuyện một thanh niên đói lử, quần áo mong manh, cực nhọc, suốt ngày làm việc trên những con đường lổn nhổn, gồ ghề. Đêm đó, mắt anh nhìn thấy cánh cửa sáng ngời của toà lâu đài gần đó, tai anh lắng nghe âm thanh lễ hội với những dòng nhạc từ đó phát ra như cảnh thiên đàng đối với cuộc đời lao khổ của anh.

Anh bỏ nhà ra đi từ khi còn trẻ, và từ nhiều năm đã không còn nghe biết gì về nhà của mình nên không biết rằng lâu đài lộng lẫy đó là của cha anh mà anh là người thừa kế.

Anh đánh liều đến hỏi xin cho được trú qua đêm. Ở cổng, anh gặp lão giúp việc. Lão nhận ra anh ngay và dẫn anh vào buổi liên hoan. Tại đó, anh được mặc áo người thừa kế với một di sản lớn lao. Cuộc đời anh thay đổi, bóng tối khép lại sau lưng!

Còn lớn lao hơn thế là gia sản quí báu và hạnh phúc vĩnh cửu của tôi. Không có niềm tin, tôi không thấy gì cả.

Sao tôi không vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu để được nhìn thấy?

Lm. HK

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

TTT/ Soha News

Hải Võ

29-11-2015

H1

Hôm 13/11, tàu tiếp tế Hải Đăng 05 của Việt Nam đã bị tàu chiến số 995 của Trung Quốc vây ép và chĩa súng khi đi qua khu vực đá Xu Bi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế công kích chưa từng thấy

Thuyền trưởng tàu Hải Đăng 05 Trần Văn Nga cho biết, khoảng 9h30 sáng 13/11, khi tàu tiếp tế này đi ngang qua bãi đá Xu Bi (bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép-PV) khoảng 12 hải lý thì Trung Quốc điều một tàu nhỏ ra đuổi.

Đến khoảng 11h cùng ngày, hai tàu hải cảnh số hiệu 2305 và 35115 của Trung Quốc xuất hiện và tổ chức vây ép từ mũi và đuôi tàu Việt Nam.

Trao đổi với chúng tôi, chuyên gia Kiều Tỉnh – nguyên Trưởng phân xã TTXVN tại Bắc Kinh và Hồng Kông – chỉ ra, vụ việc diễn ra trong thời điểm chỉ 1 tuần sau chuyến thăm Việt Nam, Singapore của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (5-7/11) và trước thềm các hội nghị cấp cao ở Đông Nam Á từ 18/11.

Ông Kiều Tỉnh phân tích: “Vừa rời Việt Nam ngày 6/11 thì ngày 7/11 ông Tập Cận Bình tuyên bố ở Singapore rằng ‘các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ đại, và chính phủ Trung Quốc phải nhận trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và các lợi ích hàng hải hợp pháp’.

Sau đó, từ 12 đến 14/11 thì Trung Quốc cho hàng trăm tàu cá ra vây 5 tàu cá Việt Nam, phá nát hơn 40 tấm lưới ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Vụ tàu Trung Quốc vây ép và chĩa súng vào tàu tiếp tế Việt Nam cũng xảy ra trong thời gian này.

Trung Quốc ngụy biện đây là vùng biển ‘mập mờ, không rõ’ nên khó tránh va chạm đáng tiếc. Nhưng thực tế, đây là hành động có ý đồ, có hệ thống và vẫn diễn ra thường xuyên, tuân theo chiến lược chung của Bắc Kinh tại biển Đông.”

Trước đó, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường – Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế (CSSD) – cho rằng tuyên bố trên của ông Tập “là luận điểm quan trọng nhất mà Trung Quốc sử dụng”.

Theo ông Trường, bối cảnh cộng đồng quốc tế chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trong khu vực đã khiến đích thân người đứng đầu nhà nước Trung Quốc phải nhiều lần nhắc lại luận điệu vô căn cứ này trong thời gian qua.

“Trung Quốc đã phải dùng đến ‘đại bác’ (Tập Cận Bình-PV) để củng cố những lập luận sai trái của mình trước đây,” Tiến sĩ Trường đánh giá về phát ngôn của ông Tập tại Singapore hôm 7/11.

Quan trọng hơn, chuyên gia Kiều Tỉnh nhận định trong bối cảnh quốc tế thời gian qua, nhất là trước Hội nghị thượng đỉnh APEC (18-19/11) tại Philippines, Bắc Kinh đã phải tìm cách thỏa thuận để vấn đề biển Đông không lên bàn nghị sự.

“Nước chủ nhà APEC Philippines thỏa thuận với Trung Quốc không nêu vấn đề biển Đông trong chương trình nghị sự, nhưng rất nhiều nước đều nêu vấn đề này. Điều này khiến ông Tập Cận Bình bị cô lập và khó chịu.

Ngoài ra, khi đoàn Việt Nam sang tham dự hội nghị APEC tại Manila, ta và Philippines đã ký văn kiện nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện.”

Ông nói thêm: “Còn hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) diễn ra sau đó tại Malaysia mà Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đi dự được truyền thông quốc tế bình luận là thắng lợi lớn của ASEAN.

Lý do bởi lần đầu tiên trong khuôn khổ hội nghị này, Trung Quốc đã bị tất cả các lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương công kích về vấn đề biển Đông.

Trong đó, Bắc Kinh bị chỉ trích về việc không tuân thủ luật pháp quốc tế, làm ảnh hưởng đến tự do hàng hải trên biển Đông.”

Tham gia các hội nghị cấp cao khu vực này, Mỹ và đồng minh thân cận đều tuyên bố “mạnh tay” hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Nhà Trắng cho biết Mỹ sẽ hỗ trợ 119 triệu USD để giúp ASEAN tăng cường an ninh trên biển trong năm tài chính 2015 và thêm 140 triệu USD trong 12 tháng tới. Mỹ cũng tái khởi động hoạt động tuần tra trên biển Đông.

H1

Bắc Kinh “ngôn hành bất nhất” chẳng có gì lạ

Trong bối cảnh Bắc Kinh bị cô lập bởi cộng đồng quốc tế châu Á-Thái Bình Dương về vấn đề biển Đông mà “đại bác” Tập Cận Bình đã phải “mở loa”, sự kết hợp của quân đội nước này bằng các “họng pháo thật” uy hiếp, đe dọa sai trái tàu thuyền láng giềng trên biển Đông không khó giải thích.

Ông Kiều Tỉnh đánh giá trong bối cảnh như vậy, có thể lý giải được động cơ hành động ngang ngược, phi pháp những ngày qua của Trung Quốc, bên cạnh ý đồ lớn của Bắc Kinh.

Ông cho biết: “Trước sự cô lập của cộng đồng quốc tế, tuyên bố mạnh miệng của Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân tại EAS bao biện cho các hành động trái phép trên biển Đông cũng chỉ để có lệ và ‘nhai lại’ luận điệu cũ.”

“Chính quyền Trung Quốc có quyền và khả năng giành lại những quần đảo, rạn san hô bị các nước láng giềng chiếm đóng trái phép. Nhưng chúng tôi không làm như vậy. Chúng tôi đã kiềm chế rất nhiều vì mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông,” Lưu Chấn Dân lớn tiếng tại EAS.

“Phản ứng này không có gì đặc biệt hay mới mẻ, chủ yếu nhằm phát đi thông điệp thách thức rằng ‘Trung Quốc làm gì thì vẫn sẽ tiếp tục làm’,” ông Kiều Tỉnh nhận xét.

Bên cạnh đó, theo chuyên gia Kiều Tỉnh, một vấn đề nữa cũng khiến Bắc Kinh bất mãn trong thời gian qua là việc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã bị “tụt hậu” trước Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường cũng cho rằng việc Trung Quốc hành động trái với những tuyên bố hữu hảo với Việt Nam như vụ chĩa súng vào tàu tiếp tế hôm 13/11 không còn là điều lạ lẫm.

Theo ông Trường: “Trước sau gì Trung Quốc cũng gây hấn và tìm cách chiếm những con đường biển giao thông, tiếp tế của ta. Điều này đã nằm trong ý đồ của Bắc Kinh và họ sẽ tiếp tục nếu không có sức ép từ cộng đồng quốc tế để ngăn chặn.”

Ông Kiều Tỉnh bổ sung: “Từ trước đến nay Trung Quốc vẫn hành động kiểu ‘ngôn hành bất nhất’ như vậy và chính truyền thông của họ cũng quan ngại về điều này.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 15/10/2011, hai bên đã thỏa thuận 6 điểm về Biển Đông thì tới tháng 6/2012, Trung Quốc đã bất chấp thỏa thuận, tiến hành thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam.

Cũng như vậy, hai bên đã thỏa thuận 3 biện pháp tăng cường hợp tác trên biển khi ông Lý Khắc Cường thăm Việt Nam tháng 10/2013, nhưng chưa được bao lâu thì tháng 5/2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải dương 981 vào tác nghiệp trái phép ngay trong thềm lục địa của Việt Nam.”