Những nghịch lý tồn tại đã từ lâu

Những nghịch lý tồn tại đã từ lâu

 songchi’s blog, RFA

…tại sao đã cầm quyền hơn 7 thập kỷ ở miền Bắc và hơn 4 thập kỷ trên cả nước, nhưng trong rất nhiều khía cạnh, nhà nước cộng sản Việt Nam không thèm học hỏi những cái hay ở những nước đi trước, những nước phát triển, mà cứ để mặc cho những vấn đề tiêu cực, lạc hậu tồn tại hết năm này qua năm khác, và Việt Nam cứ càng ngày càng tụt hậu trong cái bãi lầy luẩn quẩn?

Đọc hai bài báo Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: 40 người dân phải nuôi một công chức(Pháp Luật TP.HCM), và 11 triệu người ăn lương: Ngân sách nào kham nổi?” (VietNamNet).

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói: “Bộ máy nhà nước của chúng ta hiện nay có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức, viên chức.

Nếu cộng cả đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng khác hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước, con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước. Còn nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người. Không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy.

Nước Mỹ có diện tích lớn xấp xỉ 30 lần nước ta, dân số gần gấp bốn lần nhưng đội ngũ công chức của họ chỉ có 2,1 triệu. Nhìn sang Trung Quốc thì chúng ta thấy đội ngũ công chức của họ cũng chỉ chiếm 2,8% dân số.

Như vậy, chúng ta thấy 160 người dân Mỹ chỉ nuôi một công chức, trong khi đó 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức…”.

Chưa kể các tổ chức quần chúng công cần phải cấp kinh phí hoạt động như Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Công đoàn, và Hội Cựu chiến binh, cùng 28 hội đặc thù khác…khiến ngân sách quốc gia rơi vào tình cảnh khó khăn từ lâu nay.

Thử nhìn sang các quốc gia như Bắc Âu nói chung và Na Uy nói riêng, dù giàu có nhưng bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính công rất gọn nhẹ, một phần do các nước này ít dân, họ luôn luôn suy nghĩ làm thế nào để người dân có thể tự gánh bớt việc và nhà nước cũng như các công ty tư nhân khỏi phải thuê nhiều nhân công.

Người dân phải tự làm lấy hết, mọi thứ giao dịch được tiến hành qua internet, ví dụ sử dụng netbank để giao dịch chi tiêu tại nhà không cần phải đến ngân hàng chỉ trừ khi thật cần thiết, tự khai báo số điện hàng tháng qua internet chứ không cần có người đi ghi điện và trả tiền qua tài khoản ngân hàng, khai báo thuế, mua vé máy bay, đặt khách sạn, mua vé xem phim…qua internet. Khi lắp đặt điện thoại, khi sửa chữa bất cứ cái gì từ internet bị trục trặc chẳng hạn…thì gọi điện thoại cho cơ quan, công ty đó để được hướng dẫn và tự làm lấy chứ không có người tới làm thay, còn nếu bất cứ cái gì mà có người tới làm thì giá dịch vụ sẽ rất đắt, cho nên người dân phải tập làm tất cả mọi thứ.

Đã vậy các nước Bắc Âu còn tiến tới mức dùng máy móc để thay thế dần con người trong mọi công việc đơn giản. Ví dụ trong các siêu thị bây giờ bên cạnh các nhân viên ngồi cashier tính tiền cho khách hàng thì có một dãy máy tính tiền tự động, người mua sẽ sử dụng thẻ quẹt mã vạch của các món hàng mình mua và cuối cùng đi qua quầy tự động để trả tiền; đi vệ sinh công cộng bây giờ cũng không mấy nơi có người ngồi thu tiền nữa mà cứ tự động bỏ tiền vào máy, lấy cái giấy có mã vạch rồi quẹt cái mã vạch đó qua một cái máy scan bên ngoài nhà vệ sinh và cửa tự động mở ra cho ta đi vào; đi xem phim thì vẫn có thể mua vé tại rạp hay mua vé qua internet tại nhà, nhưng khi mua vé qua internet bây giờ các rạp họ không in vé ra cho khách như trước nữa mà họ sẽ gửi mã vạch vào điện thoại của người mua, khi đến rạp cứ việc giơ điện thoại có mã vạch ra cho người soát vé họ scan kiểm soát là xong…

Phần lớn mọi thứ chi tiêu bây giờ là bằng thẻ visa card, master card, credit card… chỉ trừ mua những thứ lặt vặt, chính phủ Thụy Điển còn tính đến chuyện trong tương lai gần sẽ hoàn toàn không sử dụng tiền mặt nữa, kể cả mua một chai nước ngọt hay một cái bánh mì. Các nước phát triển đang tiến dần tới một thực tế là tất cả những loại việc đơn giản sẽ giao dịch qua internet hoặc do máy móc tự động làm, con người do đó phải có trình độ, phải có những kỹ năng cao hơn thì mới kiếm được việc.

Mọi thứ chi tiết, giấy tờ hành chính liên quan đến mỗi công dân đều được lưu trữ vào hệ thống tư liệu của nhà nước, mỗi người chỉ cần có số cá nhân (personal number), khi đi tới bất cứ cơ quan nào người ta chỉ cần hỏi personal number là ra mọi thứ thông tin cần thiết.

Trong khi đó, ở những quốc gia lạc hậu mà lại đông dân như Việt Nam thì quá thừa người nên bất cứ việc gì cũng có thể thuê nhân công, từ ghi điện, lắp đặt điện thoại, đủ các loại dịch vụ sửa chữa từ sửa vá quần áo, sửa giày, đồng hồ, máy vi tính… trở đi, cái gì cũng có dịch vụ làm sẵn, kể cả dịch vụ đi du học hay kết hôn với người nước ngoài, muốn học cái gì cũng có người dạy và dạy cái gì cũng có người học.

Như vậy thì phù hợp với hoàn cảnh đông dân của Việt Nam. Và thuận lợi cho những ai có tiền là có đủ dịch vụ cần thiết, có người làm cho mình, mà giá nhân công ở Việt Nam thì rẻ rề, còn ở nước ngoài mà thuê người thì chỉ có chết tiền! Nhưng ngược lại, mặt tiêu cực là tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, khi có một tầng lớp người chỉ cần bỏ tiền ra là thuê được sức lạo động của người khác trong bất kỳ loại công việc gì dù đơn giản, và có một tầng lớp người chỉ chuyên đi làm các loại dịch vụ phổ thông phục dịch người khác. Và khi có thể kiếm sống được bằng những công việc đơn giản thì người ta không có như cầu phải tự học hỏi thêm, nâng cao mình hơn nữa.

Ngoài ra, có những điều đáng nói hơn ở đây. Thứ nhất là nền kinh tế “tiền mặt” ở Việt Nam. Cái này báo chí cũng đã nói nhiều lần. Một nền kinh tế mà mọi thứ giao dịch đều bằng tiền mặt như ở Việt Nam chỉ tồn tại ở những quốc gia lạc hậu, và chính việc giao dịch bằng tiền mặt như thế mới dẫn tới tình trạng là nhà nước không thể kiểm soát được nguồn gốc, đường đi của dòng tiền, tất cả những vấn nạn tham nhũng, hối lộ, trốn thuế, thu nhập không minh bạch, kể cả rửa tiền…mới có cơ hội tồn tại, sinh sôi phát triền đến mức không thể khống chế, tiêu diệt như hiện nay.

Cứ thử nghĩ nếu mọi thứ giao dịch tiền bạc đều đi qua cổng ngân hàng, công khai sờ sờ đó thì những “căn bệnh” trên làm sao mà hoành hành được? Tất nhiên, cũng sẽ có, ngay cả những quốc gia được đánh giá chỉ số minh bạch, trong sạch cao cũng không thể nói là 100% không có tham nhũng hay trốn thuế, rửa tiền, nhưng mức độ ít hơn nhiều vì không dễ thực hiện.

Tuy nhiên, đối với một nhà cầm quyền không minh bạch như Việt Nam và với một bộ máy quen “bôi trơn” bằng tiền, quan chức cho tới cán bộ quen sống bằng “bổng, lậu” nhiều hơn bằng lương, quen “chân ngoài dài hơn chân trong” thì chắc là sẽ không thích như vậy. Chỉ riêng chuyện phải kê khai tài sản thôi cũng đủ chết các quan to quan nhỏ, lộ hết cả bí mật!

Thứ hai là sự rườm rà trong khâu giấy tờ, hành chính, một người dân khi ra đời, lớn lên, đi học, đi làm… ở Việt Nam phải cần không biết bao nhiêu loại giấy tờ, bao nhiêu lần kê khai; mãi đến gần đây mới thấy học theo các nước là đơn giản với số cá nhân personal number và lưu trữ mọi thứ trong hệ thống, nhưng cũng không rõ đã thực hiện được chưa.

Bài báoBắt đầu cấp mã số cá nhân cho người dân từ năm 2016 trên tờ Người đưa tin viết từ năm 2014:

“Theo tính toán sơ bộ của Bộ Tư pháp, việc cung cấp số định danh cá nhân thay cho việc phải khai các thông tin cá nhân, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết thủ tục hành chính sẽ giúp tiết kiệm thời gian điền thông tin, ước tính khoảng trên 461 tỷ đồng/năm. Nếu trừ đi các khoản chi phí tại 4 cấp chính quyền trong các giao dịch hành chính thì mới có thể tiết kiệm được tối thiểu là gần 2.500 tỷ đồng.

Theo thống kê, hiện nay trong số 5.400 thủ tục hành chính các loại thì có tới 1.600 thủ tục yêu cầu khai thông tin cá nhân liên quan tới giấy tờ của công dân. Với quy mô dân số lên tới gần 90 triệu, số lượng giao dịch hành chính công giữa công dân và cơ quan hành chính, sự nghiệp được thực hiện hàng năm trung bình khoảng 600.000 giao dịch/ngày. Phần lớn thủ tục hành chính đòi hỏi công dân phải tự chứng minh về nhân thân thông qua việc xuất trình hoặc nộp bản sao, trong khi mỗi công dân có thể sở hữu khoảng 20 loại giấy tờ…”.

Và cuối cùng, bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính công quá nặng nề ở Việt Nam khiến ngân sách vốn còm cõi ngày càng hụt hơi. Như chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã vạch ra ở trên.

Mỗi người dân phải còng lưng nuôi cùng lúc hai bộ máy nhà nước rồi bộ máy đảng ngày càng phình to, thêm nhiều người, nhiều chức vụ, bên cạnh đó đội ngũ nhân viên ăn lương nhà nước quá đông, rồi đủ các loại tổ chức quần chúng công, hội này hội kia…chịu sao cho thấu. Rồi cũng sẽ đến lúc Việt Nam vỡ nợ mà thôi!

Có một câu hỏi rất đơn giản là tại sao đã cầm quyền hơn 7 thập kỷ ở miền Bắc và hơn 4 thập kỷ trên cả nước, nhưng trong rất nhiều khía cạnh, nhà nước cộng sản Việt Nam không thèm học hỏi những cái hay ở những nước đi trước, những nước phát triển, mà cứ để mặc cho những vấn đề tiêu cực, lạc hậu tồn tại hết năm này qua năm khác, và Việt Nam cứ càng ngày càng tụt hậu trong cái bãi lầy luẩn quẩn?

Nhưng có thể, câu trả lời cũng đơn giản không kém, là nhà nước này không thật tâm muốn cải cách, sửa đổi cái gì hết!

S.C.

Nguồn: http://www.rfavietnam.com/node/3304

xem thêm:

Nói thật không sợ mất lòng

Quốc hội Châu Âu tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền

Quốc hội Châu Âu tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền

Ỷ Lan, thông tín viên RFA
2016-06-10

2016---EU-vote-Plenary-622.jpg

Bản dự thảo Quyết Nghị chung của 6 chính đảng tố cáo Việt Nam vi phạm nghiêm trọng nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam đã được đem ra thảo luận trước khoáng đại Quốc hội Châu Âu ở Strasbourg sáng thứ năm 9-6-2016.

RFA PHOTO/Ỷ Lan

Bản dự thảo Quyết Nghị chung của 6 chính đảng tố cáo Việt Nam vi phạm nghiêm trọng nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam đã được đem ra thảo luận trước khoáng đại Quốc hội Châu Âu ở Strasbourg sáng thứ năm 9-6-2016. Cuộc thảo luận vô cùng sôi nổi với những lời phát biểu nồng nhiệt của các Dân biểu với nhiều bằng chứng lộ liễu đang xảy ra hằng ngày tại Việt Nam.

Đa số thông qua

Sau cuộc thảo luận suốt buổi sáng, lúc 12 giờ trưa Chủ tịch phiên khoáng đại yêu cầu lấy biểu quyết. Hầu như đa số tuyệt đối 751 Dân biểu đại diện 28 quốc gia Châu Âu đồng thanh biểu quyết thông qua Quyết Nghị.

Sau đây là một số phát biểu tiêu biểu sự quan tâm của Quốc hội Châu Âu đối với một quốc gia xa cách mấy mươi nghìn dặm.

Dân biểu Jose Ignacio Fera: (Liên minh Tự do và Dân chủ Châu Âu, người Bồ Đào Nha)

Cho đến bao giờ Liên Âu còn được phép tự mãn với chế độ độc tài như Venezuela và Việt Nam? Cả hai nhóm quốc gia này khởi đầu tên nước bằng chữ “V”. Nhưng không phải là chữ V của sự chiến thắng (Victory), mà là chữ V của sự độc ác (Villainy).
-DB Jose Ignacio Fera

“Tại Nhà nước độc đảng Việt Nam, kể từ năm 1975 Đảng Cộng sản cai trị trên 90 triệu dân, không cho phép bất cứ ai thách thức lãnh đạo Đảng và kiểm soát Quốc hội cũng như các toà án. Tại Việt Nam, tự do dân sự, tự do ngôn luận và nhân quyền là những khái niệm không được nghiêm chỉnh thừa nhận, và những vi phạm các nhân quyền cơ bản xảy ra hằng ngày.

Ngài Thích Quảng Độ, một Tăng sĩ Phật giáo được đề cử Giải Nobel Hoà bình năm nay 2016, là một tù nhân vì lương thức được Ân xá Quốc tế công nhận, đã trải qua hơn 30 năm tù đày cho sự đối lập ôn hoà chế độ Cộng sản. Ngài từng tuyên bố, tôi xin trích :

‘Một xã hội văn minh chẳng bao giờ cho phép bất cứ chính phủ nào, với bất cứ ý thức hệ hay chế độ chính trị nào, xúc phạm các nhân quyền phổ quát và cô lập nhân dân sau bức màn sắt khi nại cớ “không can thiệp” vào nội bộ các quốc gia.’

Thưa quý vị đồng viện, cho đến bao giờ Liên Âu còn được phép tự mãn với chế độ độc tài như Venezuela và Việt Nam? Cả hai nhóm quốc gia này khởi đầu tên nước bằng chữ “V”. Nhưng không phải là chữ V của sự chiến thắng (Victory), mà là chữ V của sự độc ác (Villainy).”

Dân biểu Demermaeker: (Đảng Bảo thủ và Cải cách Châu Âu, người Bỉ)

“Việt Nam mang hai bộ mặt khác nhau. Một bộ mặt trẻ trung, năng nổ, còn bộ mặt kia là nhà nước độc đảng — sự kiểm soát của Đảng Cộng sản là toàn triệt. Chế độ phản ứng theo đường lối hoang tưởng trước mọi phê phán, và các nhà bloggers, các tín đồ tôn giáo hay ai khác đều bị đàn áp. Thật quá rõ chuyện Việt Nam phục tùng ông Anh Cả Trung quốc. Linh mục Nguyễn Văn Lý vừa được thả, nhưng biết bao người khác vẫn còn bị giam giữ. Ngài Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã bị giam nhốt trên 30 năm. Chúng tôi kêu gọi Liên Âu hãy áp lực trả tự do cho Ngài.”

Nữ Dân biểu Frédérique Ries: (Liên minh Tự do và Dân chủ Châu Âu, người Bỉ)

2016-06-09-MEP-vote-yes-400.jpg

Biểu quyết thông qua Bản dự thảo Quyết Nghị chung của 6 chính đảng tố cáo Việt Nam vi phạm nghiêm trọng nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam tại Quốc hội Châu Âu ở Strasbourg sáng thứ năm 9-6-2016. RFA PHOTO/Ỷ Lan.

“Thưa ông Chủ tịch. Các cuộc biểu tình tiếp nối tại Việt Nam sau vụ tai tiếng môi sinh đã như châm lửa vào thuốc súng trong tháng tư. Bản Quyết nghị của chúng tôi hiển nhiên tố cáo cuộc đàn áp tàn bạo do chính quyền chỉ huy, rồi cuộc viếng thăm của Tổng thống Obama tháng năm vừa qua quả thực đã được sử dụng như bằng chứng ngoại phạm để nhà cầm quyền tiếp diễn bắt bớ tuỳ tiện. Khắp mọi ngày, các nhà báo, các bloggers, các người hoạt động bảo vệ nhân quyền, các lãnh đạo tôn giáo bị bắt bớ. Đây là điều chẳng có chi ngạc nhiên khi Việt Nam bị báo động đỏ trên thang hạng thế giới về đàn áp tự do báo chí.

Chúng tôi không ngừng tố giác các vi phạm nhân quyền tiếp diễn và chúng tôi yêu sách trả tự do cho những ai bị vất vào sau chấn song sắt, như trường hợp Ngài Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo và biểu tượng của phong trào Phật giáo Việt Nam. Ngài bị cướp mất tự do một cách liên tục cho tới nay kể đã 34 năm tròn. Nay Ngài đã 88 tuổi.

Thưa ông Chủ tịch. Hiện nay Ngài Thích Quảng Độ bị quản thúc không lý do, không xét xử tại Saigon. Sức khoẻ Ngài khá suy kiệt. Chúng tôi yêu cầu khẩn cấp Bà Mogherini đặt hết uy lực của vị Bộ trưởng Ngoại giao và An ninh Liên Âu để đạt cho được việc trả tự do cho Ngài Thích Quảng Độ và những tù nhân khác. Xin cám ơn.”

Nữ Dân biểu Barbara Lochbihler: (Đảng Xanh, người Đức)

“Cuộc thảo luận hôm nay đến từ cuộc đàn áp hung bạo những cuộc biểu tình tiếp theo thảm hoạ môi sinh. Liên Âu đã mở cuộc điều tra độc lập về những nguyên nhân của thảm trạng. Nhưng cũng là điều quan trọng để bảo đảm cho sự đền bù các nạn nhân, và tất cả những ai bị bắt bớ qua những cuộc biểu tình phải được trả tự do, bởi vì đơn giản là họ sử dụng quyền tự do ngôn luận. Đã nhiều năm nay chúng ta chứng kiến sự gia tăng các nỗ lực của Việt Nam để bắt bớ hay bịt miệng những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền như trường hợp Nguyễn Văn Đài bị bắt một ngày sau cuộc Đối thoại nhân quyền Liên Âu. Điều cho thấy Việt Nam sử dụng nhà tù để bịt miệng nhân dân.”

Dân biểu Csaba Sogor: (Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, người Hung Gia Lợi)

Dự thảo lần thứ 5 Luật Tôn giáo và tín ngưỡng trình lên Quốc hội là một sự vi phạm Công ước Nhân quyền quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
-DB Csaba Sogor

“Dự thảo lần thứ 5 Luật Tôn giáo và tín ngưỡng trình lên Quốc hội là một sự vi phạm Công ước Nhân quyền quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Thật quá rõ, các điều luật trong Dự thảo Luật sẽ hành xử như công cụ đầy quyền lực để kiểm soát với những giới hạn rộng rãi trong việc hành đạo hay tín ngưỡng tại Việt Nam. Liên Âu cần thúc đẩy Việt Nam viết Dự thảo Luật Tôn giáo mới tuân thủ những nghĩa vụ của Việt Nam theo điều 18 của Công ước Quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị, nhằm bảo đảm việc hành đạo cho bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng nào tại Việt Nam không bị điều kiện hoá theo cách xử lý của nhà nước công nhận hay không, đăng ký hay chấp thuận.

Trên tất cả, tự do cơ bản về tôn giáo hay tín ngưỡng phải được trở thành thực tại ở Việt Nam.”

Trong cuộc tiếp xúc riêng với Dân biểu Ramon Tremosa i Bacells, người Tây Ban Nha là một trong những người bảo trợ cho bản Quyết Nghị, khi được hỏi liệu Việt nam không cải tiến về nhân quyền, thì  Hiệp ước Tự do mậu dịch đang ký kết giữa Liên Âu và Việt Nam sẽ ra sao ? Ông trả lời:

“Theo tôi, tôi nghĩ rằng Hiệp ước Tự do mậu dịch Liên Âu – Việt Nam cần chận đứng, bao lâu Việt nam không chịu tôn trọng nhân quyền. Và tôi nghĩ rằng quan điểm này được nhiều bạn đồng viện ở Quốc hội Châu Âu ủng hộ. Cho nên chúng ta phải theo dõi cẩn thận bằng cách nào Hiệp ước này tiến triển, vì đây là vấn đề tối ư quan trọng đối với chúng ta.”

Những điểm quan trọng

Bản Quyết Nghị Quốc hội Châu thông qua hôm nay có những điểm yêu sách quan trọng như:

Điều 2, Kêu gọi chính phủ Việt Nam chấm dứt tức khắc mọi cuộc sách nhiễu, hăm doạ, đàn áp các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, xã hội, môi sinh ; nhấn mạnh rằng chính quyền phải tôn trọng quyền hoạt động thông qua sự phản kháng ôn hoà và trả tự cho tất cả những người bị bắt trái phép ; đòi hỏi trả tự do tức khắc cho tất cả các nhà hoạt động bị bắt tuỳ tiện như Lê Thu Hà, Nguyễn Văn Đài, Trần Minh Nhật, Trần Huỳnh Duy Thức và Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ;

Điều 4, Tố cáo sự kết án và tuyên án nặng nề đối với các nhà báo và các bloggers như Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Thị Minh Thuý và Đặng Xuân Diệu và kêu gọi trả tự do cho họ;

Điều 6, Biểu tỏ mối quan tâm về sự cân nhắc của Quốc Hội đối với Luật Hội và Luật Tôn giáo và tín ngưỡng vốn trái chống với các tiêu chuẩn quốc tế về tự do lập hội và tự do tôn giáo hay tín ngưỡng;

Điều 8, Tái kêu gọi việc xét lại một số điều luật đặc thù trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam đã được sử dụng để triệt tiêu tự do ngôn luận ; nhận thấy điều đáng tiếc trong con số 18 nghìn tù nhân được ân xá ngày 2-9-2015 chẳng có một người nào là tù nhân chính trị ; tố cáo những điều kiện giam giữ và nhà tù tại Việt Nam và yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam bảo đảm không giới hạn quyền được luật sư bào chữa;

Điều 10, Kêu gọi nhà cầm quyền chấm dứt đàn áp tôn giáo và sửa đổi Luật tôn giáo để tái hồi địa vị pháp lý của những tôn giáo không được thừa nhận ; kêu gọi Việt Nam thu hồi Dự thảo lần 5 Luật tôn giáo và tín ngưỡng, hiện đang bàn thảo tại Quốc hội, và chuẩn bị Dự thảo Luật Tôn giáo mới tuân thủ theo các nghĩa vụ của Việt Nam đối với Điều 18 của Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị ; kêu gọi trả tự do cho Mục sư Nguyễn Công Chính, Trần Thị Hồng và Ngô Hào;

Điều 14, Kêu gọi Chính phủ Việt Nam tiếp cận mời Thủ tục đặc biệt LHQ, đặc biệt mời Báo cáo viên đặc nhiệm LHQ về Tự do ngôn luận và Báo cáo viên đặc nhiệm LHQ về tình trạng những người đấu tranh bảo vệ nhân quyền;

Điều 16, (…) Nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại nhân quyền giữa Liên Âu và Việt Nam, đặc biệt nếu cuộc đối thoại này được thi hành cụ thể ; nhấn mạnh rằng cuộc đối thoại này phải mang lại hiệu quả và định hướng thành tựu;

Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á Châu tại Quốc hội Châu Âu, Strasbourg.

 

Tìm thấy chất cực độc trong cá nục ở biển miền Trung

Tìm thấy chất cực độc trong cá nục ở biển miền Trung
Nguoi-viet.com
QUẢNG TRỊ (NV) – Mẫu cá nục trong kho đông lạnh của một cơ sở thu mua hải sản ở huyện Vĩnh Linh được lấy sau thời điểm cá chết hàng loạt ở miền Trung có chất phenol cực độc và cấm dùng trong thực phẩm.

Cá nục tại Quảng Trị bị phát hiện có chứa chất cực độc. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)

Báo Tuổi Trẻ chiều ngày 10 Tháng Sáu loan tin, ông Trần Văn Thành, giám đốc Sở Y Tế tỉnh Quảng Trị, xác nhận vừa có phúc trình gửi Ủy Ban Nhân Dân tỉnh về việc phát hiện chất phenol trong mẫu cá nục đông lạnh lấy tại một cơ sở thu mua hải sản ở huyện Vĩnh Linh sau khi vùng biển này xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt.

Theo phúc trình này, cơ quan chuyên môn của Sở Y Tế tỉnh vừa có kết quả xét nghiệm sáu mẫu cá lấy tại kho đông lạnh của bà L.T.T. (trú thị trấn Cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh). Tại thời điểm kiểm tra ngày 7 Tháng Sáu, trong kho đông lạnh của bà T. có 110 tấn cá, gồm 70 tấn cá nục, 10 tấn cá ngừ, 20 tấn cá trích, cá sòng và 10 tấn cá lẫn lộn khác.

Sáu mẫu kiểm nghiệm gồm một mẫu cá ngừ, một mẫu cá trích, một mẫu cá sòng, ba mẫu cá nục. Trong ba mẫu cá nục thì có một mẫu được chủ cơ sở thu mua trước thời điểm xảy ra cá chết hàng loạt và hai mẫu được thu mua sau thời điểm cá chết hàng loạt tại Quảng Trị.

Kết quả, cơ quan chuyên môn xác định mẫu cá nục lấy sau thời điểm cá chết hàng loạt có chất phenol với hàm lượng 0.037mg/kg. Đây là chất cực độc và cấm dùng trong thực phẩm.

Ông Thành cho biết, đã chỉ đạo lấy tiếp các mẫu cá đông lạnh ở các kho khác để kiểm nghiệm, đồng thời tiêu hủy số cá nục có chất phenol này.

Nói với báo Tuổi Trẻ chiều cùng ngày, ông Hồ Sĩ Biên, chi cục trưởng Chi Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm tỉnh Quảng Trị, cho biết phenol là chất hóa học cực độc thường chỉ dùng trong công nghiệp tẩy rửa, tuyệt đối cấm sử dụng trong thực phẩm, ngay cả trong việc sản xuất bao bì cũng không được sử dụng. Chỉ cần ngửi, hay sử dụng chất cực độc này thì sẽ bị ngộ độc cấp, tiêu chảy, rối loạn ý thức, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.

“Với hàm lượng 0.037mg/kg như trong mẫu cá nục này thì chưa đủ gây ngộ độc cấp nhưng nguy hiểm ở chỗ nếu tích lũy nhiều chất này thì có thể gây chết người,” ông Biên biện minh nhằm giảm áp lực dư luận. (Tr.N)

Xem thêm:

Quảng Trị phát hiện 30 tấn cá đông lạnh cực độc(VOA)

 “Ta có cả hàng ngàn giáo sư tiến sĩ, chả lẽ chỉ việc này mà không tìm ra nguyên nhân? Hay có sự bao che của nhà cầm quyền? Nếu chúng ta không xử lý kịp thời, điều tra rõ nguyên nhân và nhờ quốc tế can thiệp giúp đỡ để giải độc môi trường, thì có thể hàng thập kỷ sau chất độc mới có thể dịu bớt được.

Anh Thái Văn Dung.”

  “Đang lúc cá chết, chưa biết cá chết vì đâu mà lại đi ứng xử kiểu ngồi chồm hổm ăn để khuyến khích dân ăn, lại đi cởi áo tuột quần lao ra biển tắm. Đó là những việc làm ngu quá mức cần thiết.

Blogger Trương Duy Nhất.”

“Loài cỏ cây man rợ”

 “Loài cỏ cây man rợ”

Loài ma quái ngu si!
Ta yêu em lầm lỡ
Bây giờ đường nào đi!”

(Nhạc: Phạm Duy – Ta Yêu Em Lầm Lỡ)

 (1Corintô 11: 8-9)

Trần Ngọc Mười Hai

Nếu chỉ nghe có bấy nhiêu câu thôi, thì cũng chẳng có gì là lầm lỡ. Chẳng có gì để hát được rằng: “Em là cây cỏ úa, ta là loài ma hoang!”.

Thế đấy, là tình-tự âm nhạc, rất lầm lỡ, chỉ thấy những: “cỏ úa” với “ma hoang”. Nhưng, nếu bạn và tôi, ta cứ thế đi vào giòng nhạc có những ca-từ kỳ lạ, như: “man-rợ”, “sầu bi”, “ngu si” lại sẽ còn nghe các chữ với nghĩa ghê rợn đến như sau:

 “Em yêu ma quỷ dữ
Đã đến gieo sầu bi
Em là cây cỏ úa
Em đến gieo buồn thương!
Ta cho em tất cả
Hỡi nụ hôn tình đầu!
Bây giờ tình tan vỡ
Ta còn lại thương đau.”

(Phạm Duy – bđd)

Thế đấy là lời lẽ trong âm-nhạc của nghệ sĩ họ Phạm, rất ghê rợn. Nhưng, không ghê và cũng chẳng rợn bằng những lời được phát-biểu ở nhà Đạo rất Rôma, ngày hôm ấy, như sau:

“Hôm 25.05.2015  Đức Hồng Y Turkson, Chủ Tịch Hội Đồng Toà Thánh về Công Lý và Hoà Bình đứng ra tổ chức Hội Nghị Quốc Tế về chủ đề “Phụ Nữ và Lộ Trình Phát Triển Hậu 2015: Những Thách Đố Cho Những Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững” từ ngày 22 đến 24.5 vừa qua. Đây là một Hội nghị bàn về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội và Xã hội. Đức Thánh Cha Phanxicô là vị Giáo Hoàng rất quan tâm đến vị trí của phụ nữ trong Giáo hội và xã hội hôm nay. Ngài dự định sẽ có những thay đổi lớn lao trong Giáo triều khi đặt phụ nữ làm trưởng một văn phòng nào đó tại Vatican.

 Trong một đoạn thư gửi đến Hội nghị, ĐTC đã có những lời khích lệ như sau: “Nhiều người nam nữ muốn đóng góp cho Lộ Trình này, khi họ làm việc để bảo vệ và cổ võ sự sống, và chiến đấu chống đói nghèo, những hình thức nô lệ và những bất công mà người phụ nữ ở mọi thời đại, và trên khắp thế giới phải gánh chịu thường xuyên.”

 Người phụ nữ đang phải đối diện với nhiều thách đố và khó khăn khác nhau tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Ở Phương Tây, đôi khi họ vẫn còn bị đối xử phân biệt trong công việc; họ vẫn thường bị buộc phải chọn lựa giữa công việc và gia đình; họ thường xuyên phải chịu đựng tình trạng bạo lực gia đình trong vai trò là vợ sắp cưới, vợ, người mẹ, người chị em và bà. Ở các nước nghèo và đang phát triển, phụ nữ mang lấy những gánh nặng nề nhất: chính họ là những người phải vượt nhiều dặm đường để kín nước, cũng là những người thường phải chết khi sinh, là những người bị bắt cóc cho những khai thác tình dục hoặc buộc phải kết hôn khi còn trẻ hoặc ngược lại với ý muốn của họ. Đôi khi họ thậm chí bị khước từ quyền sống chỉ đơn giản vì là phái nữ.”

 Hội nghị cũng bàn về việc bảo vệ sự sống và khuyến khích cộng đồng quốc tế cùng nhau tôn trọng sự sống của con người ngay từ lúc thụ thai. Sự sống là quyền bất khả xâm phạm và ai được phép tước đoạt quyền này.

 Trong lá thư, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng tái khẳng định như sau: “Sự sống tự bản chất có liên hệ với các vấn đề xã hội. Khi chúng ta bảo vệ quyền sống – từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên– là chúng ta bảo vệ phẩm giá con người. Bảo vệ con người thoát khỏi những thảm hoạ của đói và nghèo, bạo lực và bách hại.”

 Đức Phanxicô cũng có những lời khích lệ công việc của Hội Đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa Bình, cách riêng cá nhân Hồng Y Turkson như sau: “Xin cho công việc của hiền đệ được đánh dấu trước hết và trên hết bởi một khả năng chuyên môn, không tìm tư lợi hay những hoạt động giả tạo, nhưng bằng sự cống hiến đại lượng. Bằng cách này hiền đệ sẽ làm tỏ lộ muôn vàn ơn huệ mà Thiên Chúa ban tặng là những điều mà phụ nữ phải mang lại, trong khi khích lệ những người khác cổ võ sự nhạy bén, hiểu và đối thoại trong những mâu thuẫn lớn nhỏ đang cần giải quyết, trong việc chữa lành các vết thương, trong việc nuôi dưỡng hết mọi hình thức sự sống ở mọi cấp độ xã hội, và trong việc mặc lấy lòng thương xót và sự dịu dàng là điều mang lại sự hoà giải và hiệp nhất cho thế giới của chúng ta. Tất cả điều này là một phần của “sự khôn ngoan nữ tính” là điều mà xã hội của chúng ta đang rất cần đến.” GNsP (theo news.va)

 Các đấng bậc trong nhà Đạo có phát-biểu hoặc nói năng với con dân mọi người, thì cũng chỉ đến thế là cùng. Còn gì ghê rợn bằng ta nghe thêm lời thơ ở ca-từ nhạc-bản trên, như sau:

Ta yêu em lầm-lỡ,

Ôm vòng tay dại-khờ.

Em là loài hoang-thú

Ta vất vả tinh-khôn.

Loài phù-hoa mắt mờ.

Bạc vàng phấn son mơ.

Nơi mộ hoang lạc thú.

Em bước hỏng lửng-lơ

Ôi! chông gai đầy lối

Cất bước đi về đâu?

Một lần ta lầm-lỡ

Trăm đường còn sầu đau!

(Phạm Duy – bđd)

Nói cho đúng, những ca-từ hoặc tâm-tình phát-biểu của đấng bậc trong Đạo/ngoài đời, cũng chưa ghê và rợn bằng truyện kể nhẹ từng định-nghĩa với định-hình người nữ-phụ ở trần-gian như sau:

“Nữ-phụ là cái chi chi? Dẫu có ra gì, cũng chẳng làm sao.

Phụ-nữ người/ngợm thế nào? Cứ để mắt đọc và rồi thấy ngay.

Thấy là thấy thế này đây:

 Phụ nữ là gì ư?

Là thiên-thần, nắm giữ sự thật và giấc mộng nhiều giả-tưởng.

Nữ-phụ, là mớ bong-bong toàn những mâu-thuẫn với đối-chọi,

Là, kẻ sợ bóng sợ gió, sợ cả con ong vò vẽ lẫn chuột bọ.

Nhưng, nàng lại có thể một mình ra tay tóm cổ tên vô-lại đột-nhập vào nhà.

Nàng chua như giấm, ngọt như nụ hồng,

Nàng hôn ta có thể cả giây phút dài, rồi lại hỉnh mũi như người không quen.

Gặp cơn giận dữ, nàng dập ta như chơi, nhưng có lúc lại nhẹ nhàng như tơ lụa

Nàng mạnh hơn cả rượu nồng, êm hơn giòng sữa óng ả, buổi nắng ráo.

Đôi lúc nàng cũng trả đũa lẫn trả-thù, có khi nàng cũng buồn/vui lẫn lộn,

Nàng thù ghét ta như thứ nọc độc nhưng lại yêu ta như mụ điên…

Và, nàng còn là gì nữa? Hãy cứ tự tiện mà thêm thắt…”

(trích điện-thư cổ mang giòng chữ rất Anh-ngữ: What a woman!)

Ấy đấy, một định nghĩa về…nữ-phụ. Nhưng, không phải thứ nào cũng đúng hết. Bởi, có lập cả ngàn trang tự-điển cũng không thể nào nói hết về phụ-nữ với nữ-phụ chốn dân-gian, phàm trần.

Không tin ư? Bạn và tôi, ta cứ mở email hàng tuần mà các lão ông gửi tung-toé, đến tràn đồng. Hãy cứ đọc rồi ắt biết, không cần phê. Và, đọc thêm nữa, sẽ thấy những giòng chảy như câu hát, rất thế này:

 “Ta yêu em vất vả
Ôi! lần cuối lần đầu
Em là cành gai sắc
Cho thịt nát xương đau.

Yêu em nên mất cả
Vỡ nụ hôn tình đầu
Yêu là sầu chất chứa
Yêu còn được là bao?
Người ngoảnh lưng dấu mặt
Cuộc đời mới đi xây
Đi van xin hạnh phúc
Nô lệ nào rủi may.

Ta thương em nhỏ bé
Với giấc mơ bạc vàng
Em là cây cỏ úa
Ta là loài ma hoang.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Hát, thì hát thế. Chứ, có ma nào lại tin như thế?

Vâng. Thôi thì, có hát mấy cũng cứ kệ. Chỉ xin bạn và tôi, ta cứ đi vào giòng chảy âm thầm gồm những lời lẽ rất ghê rợn về nữ-phụ ở ngoài đời, đến độ thế. Cũng có thể, thân-phận người nữ-phụ ngoài đời, hoặc trong Đạo còn tệ hơn thế đấy.

Thôi thì, tệ hay không tệ hơn thế, ta vẫn cứ tìm-hiểu thêm đôi chút để còn cảm-thông/thông-cảm với người chị, người em ở chốn Nước Trời là thánh-hội rất hôm nay, như thế này. Trước hết, là lời Kinh Sách rất như sau:

“Đức Chúa là Thiên-Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ cho nó một trợ-tá tương-xứng với nó. Đức Chúa là Thiên-Chúa lấy đất nặn ra mọi dã-thú, chim trời và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh-vật là gì, thì tên nó sẽ là thế. Con người đặt tên cho mọi súc vật, chim trời và dã-thú, nhưng con người không tìm được cho mình một tr-tá tương-xứng. Đức Chúa là Thiên-Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên-Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn-bà, vì đã được rút từ đàn-ông ra.” (Sáng Thế Ký 2: 18-23)

Và, thư thứ nhất thánh Phaolô gửi cộng-đoàn Côrintô, lại cũng viết:

“Thật vậy, không phải người nam tự người nữ mà có, nhưng người nữ tự người nam. Cũng chẳng phải người nam được dựng nên vì người nữ, nhưng người nữ vì người nam” (1Corintô 11: 8-9)

Theo Kinh Sách Do-thái-giáo, người nữ được tạo-thành không theo hình-ảnh Thiên-Chúa, mà chỉ là “chiếc-xương-sườn-cụt-của-nam-nhân mang-ảnh-hình Thiên-Chúa. Thế nên, sở dĩ có ác-thần/sự dữ nơi gian-trần này, là doqua ngươi phụ nữ. Nói cách khác, với thế-giới do nam-nhân khuynh-loát đồng thời là thần-thánh sánh với mọi loài, cả đến nữ-phụ, thì: phụ-nữ đồng-nghĩa với những gì thấp kém, yếu hèn, hoặc hạ tầng bết bát.

Truy-tầm nền văn-minh phương Tây cũng như đạo-giáo thời kim/cổ, phần lớn đều nói lên cùng một ý-niệm thuần-nhất, rất như thế. Chẳng hạn như, triết-gia Plato trích lời Socrates khi xưa bảo: “Anh có biết là trong thế-gian này, người nam bao giờ cũng tốt/lành nhiều bề hơn người nữ chứ?” Triết-gia Xenôphôn vốn là học trò của Socrates lại cũng bảo: “Đàn-bà lý-tưởng là người thấy càng ít càng tốt, nghe càng ít càng hay và đừng hỏi gì nhiều, mới là điều tuyệt-diệu.”

 Kinh/Sách Ấn-giáo có nói: “Với người nữ, thì: việc cao-cả nhất là tự-diệt mình, khi chồng chết.” Trong khi đó, truyền-thống Ấn-độ lại cũng khuyên: “Lề-luật cấm phụ-nữ không được làm học-trò Đức Vệ-Đà.” Và, luật Manu Ấn-độ cũng khuyên-răn: “Khi nhỏ, phận gái phải làm tôi đòi cha đẻ của mình. Đến khi khôn lớn, thuộc về chồng và khi chồng chết, lại tùy thuộc con cái. Là đàn-bà, không ai được sống tách riêng một mình, bao giờ hết.”

 Theo Phật-giáo, sở dĩ đàn-bà phải sống đời nữ-lưu khổ sở, là bởi kiếp trước họ nặng nợ nhiều thứ. Thế nên, kinh Phật cũng có lời: “Con mong đời sau sống kiếp nam-nhân người phàm.” Đến như kinh Koran của đạo Hồi, cũng quan-niệm người nữ chỉ bằng phân nửa nam-nhân; và đàn bà bao giờ cũng là người hay quên sót. Bởi, bản-chất con người họ lại rất kém khi phân-biệt tốt/xấu.

Tìm-hiểu nguyên-do tại sao người nữ lại chịu cảnh “thấp cổ bé họng” đến như thế, các nhà nghiên-cứu nhận ra rằng: rất nhiều lý-do ta có thể nại ra, viết không hết. Tựu-trung thì, mọi việc tập-trung vào các lý-do chính sau đây: thời xưa, nhân-số phụ-nữ gia-tăng không nhiều như nam-giới là vì mỗi khi phải đấu-tranh thi-đua với nam-nhân, phụ-nữ bao giờ cũng thua thiệt và luôn luôn thuộc giai-cấp thấp/hèn ở dưới. Đằng khác, do cơ-thể các bà dễ bị thương-tổn khi cưu-mang sinh đẻ và cho con bú, nên các bà bao giờ cũng bị gọi là “phái yếu”, hết.

Tóm lại, từ thời tiền-sử cho đến thời du-mục/nông-nghiệp, phụ-nữ được ví như “Bà Mẹ Đất” tượng-trưng cho sự sinh-sôi/nảy-nở và phát-triển. Khi nam-giới trở-thành thần-thánh sống ở cõi trên cao chót vót chín tầng mây vần-vũ, họ mới ban ơn “mưa móc” rắc/tưới tinh-khí cho nữ-giới thụ-thai, sinh-sản làm lợi cho nghề nông cung-cấp ngũ cốc, thực phẩm nuôi sống rất nhiều đời.

Có nhiều thời, nữ-giới được coi là “người tù của chiến-tranh” biến thành chiến-lợi-phẩm cho đám quân/binh dành chiến-thắng. Do đó, họ có rất ít quyền-hành, cả quyền được sống ngang bằng, đồng-đều trong xã-hội do nam-nhân quản-cai. Ở vào lợi-thế như thế, nam-nhân lại coi đó như quyền-lợi Trên ban khiến họ có quyền được hưởng như thế, không áy náy.

Xem thế thì, vô hình chung, tác-giả kinh-thánh Do-thái-giáo lại vẫn coi nữ-giới ngang bằng loài thú, dù cũng do Đức Chúa tạo-thành. Mà, đã là loại thú, thì họ thuộc quyền nam-nhân đầu đời là Ađam. Ađam đặt tên cho người nữ cũng một kiểu như ông đã đặt tên cho mọi loài.

Duy có điều là: người nữ không được phép san-sẻ cùng một trạng-huống, vinh-quang và hình-ảnh của Thiên-Chúa. Ađam do Thiên-Chúa tạo thành, còn Evà-nữ-nhân-đầu-đời lại là khúc xương sườn cụt, rút từ cơ-thể của Ađam là nam-nhân. Dù, Evà là người có quan-hệ bàng-tộc với Ađam, tức hơn hẳn mọi loài nào khác, nhưng bà vẫn cứ phải theo lệnh của người bạn đời mình, đem cho anh ta mọi hạnh-phúc, sướng vui cả thể xác lẫn tinh-thần.

Thế đó, câu truyện tạo-thành của hai nhân-vật nam và nữ mang tính rất hư-cấu, nhưng lại được nền văn-minh cũng như đạo-giáo Đông/Tây ấp-ủ tự ngàn xưa, khó phai nhạt. Và, họ vẫn coi đó là thứ “sự thật” khó vứt bỏ. Và, đó lại là nền-tảng của thứ thần-học xưa cổ trong thánh hội, qua nhiều thời-đại. Và, đó cũng lại là triết-thuyết về sự sống, rất văn-minh theo Âu/Mỹ ta không thể xoá bỏ được.

Tốt hơn hết, chi bằng ta cứ trở về với đời sống bình-thường của thời-đại cách-mạng khoa-học vi-tính/truyền-hình; để rồi hy-vọng vào ngày mai sáng sủa lại có cuộc cách-mạng lớn vực dậy khúc xương sườn cụt nay trở-thành lý-tưởng cho đời sống rất nam-nhân, của con người. Quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi ta đi vào vùng trời truyện kể có những chương-đoạn làm nền hỗ-trợ cho một cuộc vui sống rất nên làm.

Truyện kể nhẹ, là giòng chảy đầy kể lể như thế này:

“Truyện rằng:

 Hôm ấy, người vợ đang nấu ăn trong nhà bếp, ông chồng bèn chạy đến đứng ngay bên, nhắc tuồng bằng những câu nghe quen quen:

-Này em! Hãy cẩn thận khi nấu nướng. Ơ kìa, giời ơi! Sao em lại cho ít muối thế, làm sao ngon được?” “Ấy chết! Nước sôi rồi, em cho thịt vào nổi đi kẻo muộn.

Người vợ lúc nào cũng nghe bấy nhiêu câu liên quan đến chuyện bếp núc là nghề của nàng, bèn đáp:

-Anh làm ơn bước ra ngoài nhà một chút có được không? Nấu nướng là nghề của em mà!

-Ấy! Ấy! Em có biết là các tay đầu bếp giỏi, nổi tiếng trên thế-giới đều là đàn ông không? Anh cũng thuộc một trong những người như thế đấy.

-Thế, anh có biết biệt-tài của đàn-bà phụ-nữ ngoài chuyện để đái ra, còn hơn đàn ông biết nhiều chuyện không? Đầu bếp đàn ông chỉ được vài mống, còn đàn-bà chúng em ai cũng làm được nhiều thứ mà đàn ông không biết làm. Lại chẳng được cái tích-sự gì, chỉ mồm mép thôi, không?

-Ừ đúng đấy! Lâu rày mình đâu biết những chuyện rõ như ban ngày ấy, nhỉ?…”  

 Vâng. Có những chuyện khác-biệt giữa đàn-ông/đàn-bà rõ như ban ngày, mà đàn ông nhiều người đâu đã biết. Biết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta hãy hát ca-từ vui/buồn ở trên như chấp-nhận cuộc sống có vui/có buồn rất đầy đủ. Để rồi, lại sẽ ngẩng đầu cao hướng về phía trước mà tự-hào. Tự hào rằng, dù nam hay nữ, ta vẫn hiên-ngang sống vui, sống mạnh, sống vững-chãi mãi về sau.

Vâng. Hiểu thế rồi, nay ta lại hát những câu như:

“Ta yêu em vất vả.
Ôi! lần cuối lần đầu,
Em là cành gai sắc.
Cho thịt nát xương đau.

Yêu em nên mất cả.
Vỡ nụ hôn tình đầu.
Yêu là sầu chất chứa.
Yêu còn được là bao?
Người ngoảnh lưng dấu mặt.
Cuộc đời mới đi xây.
Đi van xin hạnh phúc.
Nô-lệ nào rủi may.

 Ta thương em nhỏ bé
Với giấc mơ bạc vàng
Em là cây cỏ úa
Ta là loài ma hoang.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Dù, có là hay không là “cỏ úa” hay “ma hoang”, ta đây đàn-ông vẫn là đàn-ông, hoặc đàn-bà vẫn cứ là đàn-bà, chẳng ai thua ai kém ai đến một chữ.

 Trần Ngọc Mười Hai

Và những quyết tâm

Coi mọi người không thua mình.

“Tôi cứ tưởng bây giờ tôi đã chết,

 “Tôi cứ tưởng bây giờ tôi đã chết,

Trước dung-nhan Thượng-Đế, xét tội/công.

Xin tha-thứ bao tội lỗi chất-chồng

Những chối bỏ, khinh chê người tật/bệnh.

Kẻ già nua, thơ trẻ Ngài truyền lệnh

Người bơ-vơ hèn mọn chính là Ta.”

(Dẫn từ thơ Nguyên Đỗ)

Mai Tá lược dịch.

Bơ vơ hèn mọn. Tật bệnh, lũ trẻ thơ. Và, người nữ-phụ chất-chồng nhiều tội-lỗi, Chúa thứ tha. Chúa tha thứ, Ngài thẩm-định mọi việc không do quá-khứ, hệ-lụy mà do biết từ-bỏ những gì lôi kéo người người xuống bùn đen. Bùn đen hôm nay, mon men đến gần với Chúa, để được tha-thứ. Tin Mừng cho thấy diện-mạo hai nhân-vật: một Biệt-phái tên Simôn, một nữ-phụ gọi tắt là Maria. Biệt-phái theo ngôn-ngữ Do-thái-giáo, là “người tách riêng”. Vào thời của Chúa, người Biệt phái như thế rất đông. Đông đến 6 ngàn người. Và, họ ở rải-rác trên toàn cõi Palestine.

Hôm nay, Biệt Phái Simôn mời Đức Kitô đến nhà, phải chăng để huênh hoang khoe chòm xóm: mình quen lớn. Hay, chỉ muốn thách thức thái độ và lời dạy của Đức Kitô, thôi? Điều này, không rõ. Nhưng, chúng ta đều biết, Đức Giê-su không chọn người để đến thăm. Ngài nhận lời đến với người giàu – kẻ nghèo, dù Biệt Phái. Với giới kinh sư, thu thuế, và người phạm tội, rất đáng ghê. Vào nhà Biệt Phái Simôn, ta thấy dường như ông ta cố ý để ngỏ cửa, và tiếp đón hời hợt như muốn đặt Đức Kitô vào tình trạng lúng túng, khó xử. Cửa để ngỏ, khiến người nữ phụ tội lỗi dễ đi  thẳng vào bên trong, để gặp Chúa. Dù không đuợc mời, nhưng chị vẫn đến. Chị đến, để xem Đức Kitô đối xử ra sao với đám tội phạm. Lạm dụng tình.

Cử chỉ của người nữ phụ tội lỗi, những là: xõa tóc, đổ dầu thơm lên chân. Rồi còn, hôn chân Chúa và khóc lóc, làm đẫm ướt chân Ngài. Cảnh tượng này, có lẽ đã gây xúc phạm đối với những người công chính hiện diện, buổi hôm ấy. Trình thuật kể rõ chi tiết, để nêu lên hai thái cực của hai loại người tội lỗi. Hai thái cực này, có thể gây khó chịu cho nhân vật chính được mời, là Đức Kitô.

Lỗi của Biệt Phái Simôn, là: tuy mời Đấng Thiên Sai Đức Chúa, nhưng ông lại không làm thủ tục xã giao đúng với qui cách của nhà chủ, tức: ông ta đã không rửa chân, không ôm hơn hoà bình. Không đổ dầu lên tóc. Cả đến cử chỉ sám hối – ăn năn, cũng không. Cảnh trí trong truyện, còn dẫn đến tình huống gay hơn: khi Chúa quay về phía người nữ phụ từng phạm lỗi khi trước, Ngài nói: “Tội của chị nhiều thật đấy, nhưng đã được tha; bằng chứng là chị đã yêu mến nhiều.” (Lc 7: 47)

Trình thuật Phúc âm, ngay từ đầu cho thấy: các xử sự của Đức Kitô rất nhẹ nhàng. Tự do. An bình. Ngài không tỏ dấu hiệu bất an. Lúng túng. Cũng chẳng ra lệnh cho người nữ phụ phải ngưng ngay các hành vi dễ gây ngộ nhận, ra như thế. Bởi, với người đời, chị luôn bị coi là người tội lỗi, mà lại dám có cử chỉ khiếm nhã, với Đấng Hiền Từ, Yêu Thương là Đức Kitô, sao? Thay vì nổi giận hoặc ngượng ngùng trước những động tác hơi xỗ sàng ấy, Đức Kitô đã không khiển trách chị; trái lại, Ngài tuyên bố: tội của chị đã được tha. Tuyên bố như thế, chẳng phải là: Chúa muốn chứng tỏ quyền uy của Ngài, là tha tội. Nhưng, qua hành động ấy, Ngài muốn nói với mọi người, rằng: lòng tin-yêu và hối cải của người phạm lỗi đã đem lại cho họ sự thứ tha. Tha thứ ấy, nay được thể hiện qua việc đổ tràn tình thương tiếp diễn, ngay sau đó.

Tình yêu và tội lỗi, hai điều không thể đi chung, cùng sống tương hợp với nhau. Càng không thể hiện diện trong cùng một nhân vị. Nhưng ở đây, người nữ phụ đã bày tỏ lòng chị đã tin-yêu Chúa thật sự. Nên, vì tình thương ấy, mọi lỗi phạm của chị đã trở thành những sơ xuất chị làm trong quá khứ. Hiện tại, khi được thứ tha, tâm hồn chị trở nên trong trắng. Rất nhiều. Xem thế thì, tình thương yêu xóa bỏ được mọi tì vết dù rất lớn, trong quá khứ. Quá khứ, không quan trọng. Hiện tại, mới cần quan tâm.

Thời nay, người đời thường chú trọng đến những gì người khác đã làm trong quá khứ. Vẫn cứ chụp lên đầu những người làm điều sai quấy bằng các nhãn hiệu/tên gọi rất khắt khe. Dù, họ đã biết đổi thay. Khắt khe quá, khiến đương sự dù có muốn, cũng không thoát khỏi các tai tiếng về các lỗi phạm, thời quá khứ. Và cứ thế, tiếng xấu cứ đeo bám họ suốt chuỗi ngày còn lại. Với Chúa, quá khứ tội lỗi không còn là vấn đề. Điều Ngài quan tâm, là: biết hối hỗi. Và, từ nay không làm thế.

Trong tâm tình này, tay trộm nghèo treo cạnh Chúa trên đồi cao hôm ấy, cũng đã ý thức. Hắn biết kêu gọi tình thương Chúa tha thứ. Nên, được Chúa hứa cho về với Ngài, nơi cõi phúc. Có lẽ, nhiều người sẽ cho đây là chuyện bất công, Chúa đã làm? Nhưng hãy nhớ rằng: ý niệm công bằng của Chúa, không là công bằng trần gian, ta vẫn hiểu. Thử hỏi: nếu Chúa không tha thứ; không đặt nặng đến hành vi ta làm trong hiện tại, thì e rằng người người sẽ không khỏi lúng túng về các lỗi phạm thời đã qua, của mình.

Đây còn là ý chính ở bài đọc 1. Nếu chỉ kể những việc mình làm trong quá khứ, thì Đavít sẽ là tay tội phạm tày trời. Hết cướp vợ người khác, lại giết người không gớm tay, không buông tha cả những đầu xanh vô tội. Nhưng, Đavít đã biết sám hối và đổi thay, nên ông được Yavê Chúa thứ tha. Nhờ sám hối – đổi thay, Đavít đã đi vào vòng tay ôm thương yêu của Chúa. Đúng như lời tiên tri Nathan nói: “Về phía Chúa, Người đã bỏ qua tội của ngài rồi.” (2Sm 12: 13).

Một lần nữa, Thiên Chúa cho thấy: Ngài muốn cải hóa người phạm lỗi, chứ không xử phạt. Xử phạt là hành vi hủy hoại. Chúa chẳng bao giờ hủy hoại ai. Một thứ gì. Ngài muốn mọi người trở nên một. Một thân mình. Một cộng đoàn yêu thương. Cộng đoàn biết sống hài hoà. Bình an. Trong nội tâm.

Tư tưởng này, thánh Phao lô cũng bộc bạch ở bài đọc 2. Tất cả mọi người hãy củng cố niềm tin vì đã có tình thương yêu tha thứ của Chúa, với mình. “Người được nên công chính không phải nhờ đã làm những gì luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Kitô.” (Gl 2: 16). Đó là khác biệt giữa lối hành xử của Simôn Biệt Phái và Maria, người nữ phụ đầy lỗi phạm.

Hôm nay, tất cả mọi người, công chính cũng như có tội, nhờ có niềm tin thương mến nơi Chúa, nên đã được cứu rỗi. Tin, không là động thái của tri thức. Tin, cũng không phải là mớ tín điều mọi người cần giữ. Nhưng, trước hết và trên hết, tin chính là hành động của những người biết yêu thương. Tin tưởng vào điều gì. Vào người nào.

Nếu agapè (lòng mến) là ngôn từ chỉ định tình Cha thương yêu, thì pistis (lòng tin), là đường lối để ta đáp lại tình yêu thương ấy. Ta không thấy Chúa, cũng không bao giờ biết được Ngài, nhưng vẫn tin vì đã dựa vào các trình thuật/truyện kể, nơi Phúc Âm. Ở nơi đó, Chúa đến với ta,qua xác hèn phàm trần bằng xương bằng thịt, của Đức Kitô. Nhờ đó, ta có bước dài củng cố lòng tin mà dâng hiến trọn mình để Ngài chăm sóc. Mến thương. Tựa như người nữ phụ tội lỗi đã làm, hôm nay. Và như thánh Phaolô khuyên nhủ, tin vào Đức Kitô đã cải hoán cuộc đời của chúng ta.

Như thánh Phaolô, luật lệ không còn mang ý nghĩa gì, đối với ta. Luật lệ, sẽ không là chuyện cần thiết ta phải có, khi cuộc sống của mọi người đã có tình thương yêu hướng dẫn. Ai yêu thật sự, chẳng bao giờ làm điều sai quấy. Ác độc. Dù họ có vi phạm những chấm phết của luật lệ. Và, khi đã yêu, thì luật lệ tự khắc sẽ được tuân thủ. Nói khác đi, nếu chỉ giữ luật mà không yêu thương, thì kết cuộc cũng sẽ đưa đến những hậu quả thảm khốc, không ngừa trước.

Chính vì thế, mà thánh Phaolô  -người Biệt Phái hăng say săn bắt người phạm luật Do Thái thuở trước-  đã biết từ bỏ luật lệ của nhóm mình để trở về hiến tặng trọn đời mình cho Đức Chúa. Và khi đã hiến trọn chính mình, thánh nhân dám nói lên câu để đời: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2: 20). Hôm nay, cuộc sống và lời rao giảng của thánh nhân đã trở thành gương sáng, cho ta theo.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch.

HÃY SÁM HỐI ĂN NĂN

HÃY SÁM HỐI ĂN NĂN

Trong tiểu thuyết “Giường đàn bà” đã kể lại những cuộc tình bị đồng tiền làm hoen ố.  Tình yêu chỉ là một món hàng mà người có tiền hay không có tiền đều dùng nó để mua bán trao đổi.  Câu chuyện xoay quanh các nhân vật: Mạch – một phóng viên trẻ, đang học đại học, là nhân tình của một tổng biên tập giàu có và đa tình – người trả tiền nhà và đóng học phí cho cô.

Sau khi tan vỡ mong ước được làm mẹ do người tình một mực đòi cô phá thai, cuộc sống tinh thần của Mạch bị đảo lộn.  Cô quyết định trả thù người tình bằng cách cặp với Bob – một nhà văn nghèo đang tìm kiếm vốn tài trợ cho bộ phim mà anh chuyển thể kịch bản từ tiểu thuyết của mình.

Tình yêu khó khăn giữa Mạch và Bob vừa nhen nhóm đã bị những giá trị vật chất trong cuộc sống lấn lướt và dập tắt.  Bob phải ngủ với bà Thẩm Xán – một chủ doanh nghiệp giàu sang để hòng moi tiền đầu tư làm phim.  Mạch bị sự giàu sang và phong trần của giám đốc đẹp trai Trần Tả – chồng của Thẩm Xán – quyến rũ.  Bob chấp nhận cầm tiền của Trần Tả để bỏ rơi Mạch. Mạch bị Thẩm Xán đánh ghen tới trụy thai…

Tiểu thuyết hé lộ một phần sự thật về cuộc sống tàn nhẫn ở các thành phố lớn, hiện đại – nơi giá trị vật chất chiến thắng giá trị đạo đức và con người không vượt qua nổi chính mình.  Đồng tiền trôi nổi cũng kéo theo phận người nổi trôi đầy sóng gió nghi nan.  Con người lao vào vòng xoáy của vật chất đến vong thân chính mình.  Con người đã quên mất mục đích sống của mình nên cũng đánh mất phẩm giá làm người của mình.

Nhân loại hôm nay dường như người ta chỉ cần tiền và bằng mọi cách kiếm ra tiền.  Vì tiền mà người ta bỏ ra ngoài tất cả những giá trị đạo đức, tình yêu, lòng chung thuỷ….  Cuộc sống nếu đề cao đồng tiền lên trên mọi thứ luân lý, đạo đức thì đó là một xã hội suy đồi, nơi đó con người khó mà có những giây phút hạnh phúc đích thực, mà chỉ là những hạnh phúc giả tạo, mong manh dễ tan vỡ mà thôi.

Điều đáng tiếc cho xã hội hội hôm nay là người ta mất ý thức về tội.   Người ta đề cao tự do đến nỗi luôn làm theo ý mình mà gạt bỏ lề lật của Chúa hay những luân thường đạo lý.  Người ta luôn dùng mục đích để biện minh cho phương tiện, cho dù đó là phương tiện xấu xa, đê tiện.  Có biết bao cô gái trẻ bán thân vì lý do để lấy tiền trang trải cho gia đình, hay cho việc học bản thân.  Có biết bao người ngoại tình vì để đền ơn cho kẻ giúp đỡ thi ân.  Có biết bao người phá thai vì đông con, vì nghèo đói…  Có phải vì nghèo đói để rồi mình có thể làm tất cả mọi chuyện cho dù đó là những chuyện phi nhân thất đức hay không?  Có phải vì tiền mà mình có thể loại bỏ luân thường đạo lý hay không?  Cuộc sống nếu không còn những giá trị đạo đức sẽ là một bể khổ đối với con người.  Vì con người luôn phải đối đầu với biết bao con người xấu, với biết bao tệ nạn xấu.  Xã hội loài người sẽ hỗn loạn nếu con người đặt vật chất lên trên mọi giá trị tinh thần.  Nếu con người đề cao vật chất thì người ta sẽ dễ dàng chà đạp lên nhau chỉ vì một chút vật chất tầm thường mau qua.

AN NAN

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có một tấm lòng sám hối chân thành như Đa-vít, hay như người phụ nữ tội lỗi đã khóc dưới chân Chúa và lấy tóc mà lau chân Chúa.  Họ đều là những con người có quá khứ tội lỗi.  Họ đều mang thân phận yếu đuối của con người.  Họ đã phạm tội nhưng họ đã biết trỗi dậy.  Cuộc đời họ đã ngụp lặn trong biết bao đam mê lầm lạc nhưng lương tâm luôn làm họ cắn rứt.  Họ đã từng chọn những phù phiếm trần gian hơn là những giá trị đạo đức.  Thế nhưng, họ không có bình an tâm hồn khi sống xa luật Chúa để lao vào những chuyện phi nhân thất đức.  Họ đã trở về với lòng sám hối chân thành.  Đa-vít đã mặc áo nhặm để sám hối ăn năn.  Người phụ nữ đã quyết tâm đập bể bình ngọc như phá bỏ những hào nhoáng, phù phiếm mau qua.  Họ đã nhận ra giá trị đích thực của con người là biết làm chủ chính mình, biết giữ được phẩm giá làm người của mình.  Một con người có lý trí để biết đâu là thiện là ác, có ý chí để hướng dẫn hành vi mình đi theo lẽ phải.  Giá trị của con người là biết làm chủ bản thân để sống đúng với phẩm giá làm người, với luân thường đạo lý.  Nếu con người không còn khả năng làm chủ bản thân để đi theo lề luật thì con người đâu hơn loài vật.  Nếu con người sống chỉ biết tranh giành nhau danh lợi thú trần gian thì con người đang tự đầy đọa mình trong khổ ải trần gian.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết chọn Chúa hơn là những vinh hoa phú quý trần gian.  Ước gì mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng nói sự thật như Đa-vít để thật lòng ăn năn trở về với Chúa.  Nguyện xin Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót xin giúp sức để chúng ta can đảm sám hối và canh tân đời sống mỗi ngày một tốt hơn.  Amen.

LM Jos Tạ Duy Tuyền

“Một số người Việt đạo đức giả”

 “Một số người Việt đạo đức giả”

Cập nhật : 14:35 | 05/05/2016

“Người Việt Nam thật là đạo đức giả. Họ than phiền và tức giận về những gì đang xảy ra với những con cá nhưng chính họ lại đang phá hoại đất nước của họ”, một người nước ngoài nhận xét.

Dịp lễ 30/4 và 1/5, nhiều điểm du lịch trong nước đón hàng nghìn lượt khách mỗi ngày. Không chỉ chịu cảnh quá tải, nhiều nơi du khách khi đi tham quan, mua sắm, ăn uống thiếu ý thức đã xả rác bừa bãi, tràn lan. Kết thúc kỳ nghỉ, hình ảnh đọng lại tại các địa điểm du lịch là rác và rác.

Đặc biệt là tại các khu du lịch biển như bãi biển Quất Lâm (Nam Định), bãi biển Hải Tiến (H.Hoằng Hóa, Thanh Hóa), bãi biển Cồn Vành (Thái Bình), Khu vực tắm biển tại xã đảo Tam Hiệp, huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam….du khách thản nhiên xả rác vô tư trên bờ biển.

 HINH RAC 1
Hình ảnh chụp tại Cồn Vành, Thái Bình (Ảnh: Nguyễn Thị Hiền).

Trong khi vụ việc cá chết hàng loạt ở miền Trung đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về hiện tượng ô nhiễm môi trường biển thì hình ảnh xả rác bừa bãi càng khiến nhiều người bức xúc.

Trần Hùng John, chàng Việt kiều Mỹ cảm thấy buồn và xấu hổ khi nhìn những hình ảnh mà bạn bè quốc tế đăng trên nhiều diễn đàn khác nhau về việc xả rác của người Việt. Người nước ngoài cho rằng người Việt đạo đức giả vì vừa than phiền tức giận về những gì xảy ra với những con cá thì chính họ lại đang phá hoại đất nước bằng cách xả rác bừa bãi.

Trong kỳ nghỉ vừa rồi ở Việt Nam, Hùng còn tận tai nghe thấy một người bố nói với con nhỏ của anh ta là “cứ vứt rác xuống đường đi”.

 RAC 2
Bờ biển dài trải đầy rác (ảnh zing)
 HINH RAC 3
Khu vực tắm biển tại xã đảo Tam Hiệp, huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam cũng rơi vào tình trạng ngập ngụa rác (Ảnh: Thiên Sơn).

Hùng John chia sẻ: “Trong khi cả nước đang tranh luận về vụ cá chết ở miền Trung, tôi muốn được nhắc mọi người nhớ rằng chính con người Việt Nam chúng ta vẫn là thủ phạm lớn nhất đang phá huỷ đất nước. Thật buồn nhưng đúng là như thế. Đã đi dọc Việt Nam hai lần, số lượng rác và mức ô nhiễm mà tôi nhìn thấy làm tôi rất buồn và giận. Vứt rác bừa bãi quá nhiều, sông và suối bị nhiễm bẩn, đốt rác và các nguyên liệu khác bừa bãi… còn nhiều nhiều việc như thế. Một đất nước xinh đẹp đang bị làm ô nhiễm bởi chính con người của nó.

Chắc chắn sẽ có nhiều tranh luận ví dụ như Việt Nam vẫn đang phát triển, hoặc cơ sở hạ tầng còn kém nhưng tất cả những điều đó chỉ là nguỵ biện cho một thực tế đơn giản là không có nhiều người ở đây quan tâm đến môi trường, hoặc không đủ quan tâm để hành động. Và sẽ chẳng có gì thay đổi, thậm chí cả sau sự cố về cá này”.

“Tôi đoán là một vài người sẽ cảm thấy bị xúc phạm nhưng đây là một sự thật rất thật. Trước khi Việt Nam cần được cứu khỏi bất cứ thế lực bên ngoài nào, thì Việt Nam cần phải tự cứu khỏi mình trước”, Hùng John nói.

 HINH RAC 4
 HINH 5
 HINH 6
Ở đâu có bóng dáng khách du lịch, ở đó có rác (nguồn ảnh phượt)

Rất nhiều độc giả khác cũng bày tỏ sự bức xúc với hành động xấu xí, thiếu ý thức của người Việt khi đi du lịch.

“Lối sống ăn đâu xả đấy, vô văn hóa …lớp người này không được dạy dỗ giáo dục nên coi thường mọi quy định vì cộng đồng, đến nay cũng chưa phải đã muộn chúng ta cần giáo dục lớp trẻ từ khi còn nhỏ ở cả gia đình, nhà trường, xã hội mới mong có tương lai không còn người xả rác nơi công cộng”, một độc giả bày tỏ.

“Dân mình ý thức kém! Đó là thực tế. Cần phải phạt nặng bằng tiền và lao động công ích! Bắt dọn sạch chỗ rác anh vừa vất và chỗ khác nữa, nếu có do không bắt được! Sau đó nêu đích danh, nơi làm việc, ảnh (tùy trường hợp), đặc biệt những người viên chức, người có học thức, tuổi đời từ 18 – 55. Chỉ có thế đất nước này mới sạch đẹp!”, một độc giả khác tiếp lời.

K . Minh

“CÒN NHẢY KHẬP KHIỄNG CHO ĐẾN BAO GIỜ ?”

“CÒN NHẢY KHẬP KHIỄNG CHO ĐẾN BAO GIỜ ?”



Tuần lễ thứ 10 mùa Thường Niên và một nửa tuần 11 năm chẵn, bài đọc một trong mỗi Thánh Lễ hằng ngày kể cho chúng ta câu chuyện về Ngôn Sứ Elia trong sách Các Vua quyển thứ nhất, thuộc phần thứ hai (1V 17, tt.).

Elia là một ngôn sứ “lớn” nổi tiếng thời Cựu Ước, với thân phận Ngôn Sứ, ông đã trải qua biết bao gian khổ khi thi hành sứ mạng của mình, Khi mở ra những trang Kinh Thánh trong những ngày này, mới thấy Lời Chúa có sức mạnh sống động làm sao, chúng ta cùng nhau đọc để suy nghĩ và chọn lựa cách sống hôm nay.

Tên tuổi Elia gắn liền với tên tuổi một vị vua tên là Akháp, vị vua này nổi tiếng là gian ác và bạc nhược, triều đại của Akháp là triều đại mở màn dẫn đến cuộc lưu đày đau đớn của dân tộc Do Thái ở Babylon bởi một “con hùm xám miền cận đông” Nabucôđônôso. Dưới thời Akháp, Israel phân rã, bên trong thì kinh tế phá sản, đạo đức suy đồi, luật pháp rối loạn, luân lý xuống cấp, lòng người chán nản, phân rẽ dân tộc, bất công lan tràn, ngoài biên cương thì Babylon gầm gừ đe dọa thôn tính.

Bạc nhược, Akháp, vị vua đắm mình trong tửu sắc, ông xây dựng cung điện nguy nga với những vật liệu quý hiếm mà ông mua được bằng sưu cao thuế nặng của dân. Vàng bạc, đá quý ông thu tích về để tận hưởng sự giàu sang, tài sản của ông kếch sù, đất đai của ông rộng mênh mông…

Gian ác, Akháp là thủ phạm trong vụ án cướp đất của ông Navôt. Lòng tham không đáy của Akhap được sự tiếp ứng đầy thủ đoạn hèn mạt của hoàng hậu Isave, Họ đã dựng lên vụ án vu khống ghép tội Navôt rồi cướp vườn nho của Navôt, vườn nho là gia sản kế thừa của gia tộc Navôt, là đất thiêng, là linh vật của tổ tiên Navôt truyền lại. Điều đau đớn là “dân chúng, kỳ mục và thân hào cư ngụ trong thành làm theo lệnh bà Isave” (1V 21, 11).

Suy đồi, Akháp xây đền thờ cho Baal, tổ chức lễ bái, buộc dân phải cúng tế trong các đền thờ của dân ngoại mà Akháp đã xây để thỏa lòng các bà vợ dân ngoại của Akháp. Khi được nhắc nhở trở về với Chúa, ông còn lươn lẹo: “Tôi không dám thử thách Đức Chúa” (Is 7, 12).

Không quan tâm đến vận mệnh đất nước, Akháp mải mê vui thú với những trò chơi hoang tưởng của mình, say sưa bên các mỹ nhân, để mặc bọn quan quyền địa phương tung hoành ức hiếp người, gây bất công tràn lan trên cả dân tộc.

Giữa tình trạng nhiễu nhương đó, Ngôn Sứ Elia xuất hiện, dù rất cô độc nhưng ông vẫn mạnh mẽ lên tiếng cảnh báo Akháp. Kết quả là Elia phải chạy trốn quyền lực thế gian mà sống cô độc trong một khe núi. Trong cơn túng cực, Kinh Thánh nói Đức Chúa nuôi Elia bằng cách cho một con quạ đen mang bánh và thịt đến cho ông.

Ông uống nước nơi khe núi, nhưng đến một ngày, nước trong khe ấy cũng cạn khô. Dám chống lại cường quyền, Elia đã phải trả giá bằng một cuộc lẩn trốn trong gian nan (17, 2 tt.).

Không từ bỏ sứ mạng ngôn sứ của mình, một lần nữa Elia xuất hiện, trong cuộc thách đố sống còn giữa việc thờ phượng Thiên Chúa và bái lạy Baal. Đứng trước một lực lượng thật đông đảo của đối phương, 450 thầy cúng của Baal, phía sau họ là thế lực của hoàng hậu Isave, Elia không khiếp sợ,

Elia cất tiếng cảnh báo toàn dân và nặng lời với sự hèn nhát, ngu xuẩn và lòng dạ hẹp hòi mà người dân cứ mãi câm lặng chịu đựng: “Các ngươi nhảy khập khiễng hai chân cho đến bao giờ ?” (18, 21). Nhảy khập khiễng, cách nói về một lối sống hèn nhát, tư lợi, ích kỷ, thiếu tầm nhìn, chấp nhận thỏa hiệp với thần ngoại, thỏa thuận với sự dữ.

Giận bọn bái lạy thần ngoại một, Elia giận dân Israel mười. Tuy chiến thắng lẫy lừng hiển nhiên trong cuộc thách đố, nhưng dân vẫn không mở mắt. Một lần nữa, trong cô đơn, Elia trốn chạy cuộc truy sát của bà Isave. Trốn ở núi Carmen, ông than thở: “Lạy Đức Chúa, đủ rồi, xin cất mạng tôi…” Chỉ còn Chúa cho Thần Sứ đến an ủi ông, mang bánh và sữa đến cho ông và nhắc nhở ông “phải ăn và uống, đường còn quá dài”, ông ngồi dậy, chấp nhận ăn uống và tiếp tục chấp nhận sứ mạng ngôn sứ đầy cay đắng của mình (19, 1 – 8).

Câu chuyện về một vị Ngôn Sứ còn dài, kéo theo những chi tiết chuyển tải nhiều giá trị thiêng liêng mà lúc này đây sao quá sống động với thực tế của quê hương đất nước. Mỗi người tin được mời gọi đọc và chọn lựa thái độ của mình trong xã hội. Chẳng có thể tách chuyện Đức Tin ra khỏi những vấn đề xã hội, chẳng thể tách chuyện tinh thần ra khỏi chuyện sống chết cơm áo gạo tiền, chẳng thể tách chuyện chính trị ra khỏi chuyện thiêng liêng mầu nhiệm.

Khi đọc Kinh Thánh thấy có cái gì đó cay nồng trong khóe mắt như những giọt nước của biển mặn đau thương.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

10.6.2016

Bộ Chính trị, Bộ Công An cùng toàn dân cần gấp rút giáo dục lại toàn ngành Công An

Bộ Chính trị, Bộ Công An cùng toàn dân cần gấp rút giáo dục lại toàn ngành Công An

Blog VOA

Bùi Tín

10-6-2016

"Bạn dân". Ảnh Reuters.

Nhà nước Việt Nam đã có Hiến pháp và Luật nói về nhiệm vụ của các lực lượng Công An nhân dân.

Nhiều đơn vị Công An nhân dân được tuyên dương Anh Hùng trong chiến tranh cũng như trong thời bình.

Trong bất kỳ trụ sở Công An cũng có khẩu hiệu: ‘’Công An là Bạn Dân’’. Còn có cả các khẩu hiệu như ‘’Công An là thanh Bảo Kiếm bảo vệ cuộc sống an bình của Nhân dân’’, hay: ‘’Công An thức để canh giữ giấc ngủ thanh bình của nhân dân’’, là những khẩu hiệu rất hay ho, đẹp về ý nghĩa nhân văn.

Thế nhưng mấy chục năm gần đây, cùng với sự xuống cấp của đảng CS VN, cùng sự sa sút phẩm chất chính trị và đạo đức của bộ máy đảng và Nhà nước, lực lượng Công an Nhân dân nhìn chung cũng xuống cấp một cách tương ứng, thậm chí rõ ràng và nặng nề nhất so với các ngành khác của nền vô sản chuyên chính, như các ngành quân đội, hành chính, kinh tế, tài chính, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, xã hội…Có thể khẳng định Công an là lực lượng ‘’ mất dạy ‘’ nhất; biên chế cồng kềnh nhất – gần một triệu cán bộ ăn lương, hơn 400 viên tướng công an thời bình, trong khi thời chiến tranh chỉ có 5 viên tướng Công an, phong cấp lu bù, kỷ luật lỏng lẻo, là gánh nặng nhất cho biên chế và ngân sách.

Từ là bạn dân trên khẩu hiệu, công an đã trở thành những người xa lạ, nhạt nhẽo, dân không muốn gần, những kẻ nhũng nhiễu, áp bức, quấy quả, làm tiền, gây tai họa cho người dân lương thiện trong cuộc sống hàng ngày. Không phải ngẫu nhiên mà người dân bình thường coi công an là ‘’ tai họa cho dân ‘’, là thế lực cậy quyền thế để áp bức, gây chuyện, móc túi, làm tiền. Lẽ ra Công an phải đứng về phía người dân lương thiện chống kẻ xấu, kẻ ác, kẻ tham trong xã hội thì trong phần lớn trường hợp họ lại bao che, bảo vệ, về hùa với kẻ xấu làm hại người ngay, gây nên không biết bao nhiêu đau khổ, oan khiên, uất ức trong dân chúng.

Trong con mắt nhân dân, lực lượng công an là một loại kiêu binh vô giáo dục, hãnh tiến, được nuông chiều quá đáng và đang lộng hành khắp nơi. Các gia đình và thanh niên đút lót để tránh vào quân đội theo nghĩa vụ, chạy chọt để vào ngành hay trường Công an, coi đó là cách tiến thân thuận lợi dễ dàng nhất, kiếm chác nhanh và chắc nhất theo động cơ cá nhân chủ nghĩa. Xã hội bệ rạc thêm từng ngày.

Những năm gần đây Công an có những bước suy đồi nghiêm trọng và tệ hại ghê gớm, đó là ngày càng hung hãn trong việc đàn áp các công dân yêu nước chống bành trướng, mạnh tay đánh đấm, đá, giẫm đạp, bẻ quẹo tay những người đòi dân chủ, dân quyền, bất kể cụ già 70 tuổi, phụ nữ yếu đuối, em bé 3, 4 tuổi, hay người ốm đau. Chúng còn thông đồng vói bọn du côn, đầu gấu, lưu manh hung hãn để cùng đàn áp dân lành, chửi bới nhân dân bằng lời lẽ tục tĩu như bọn đầu đường xó chợ, gây thương tích có khi nặng và gây thương vong trong không ít trường hợp.

Hiện nay, trong nước và ngoài nước, ai cũng thấy rõ sự tha hóa của ngành Công an VN đã đến độ xã hội không còn chịu nổi.

Toàn xã hội đã lên tiếng báo động, đòi hỏi Bộ Chính trị, Ban chấp hành TƯ, Quốc hội khóa XIV…phải nhìn cho rõ tình hình nghiêm trọng đến mức nào để chấn chỉnh gấp, giáo dục lại toàn bộ lực lượng Công an từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới.

Nếu Tổng bí thư vẫn ‘’lú’’, Bộ Chính trị vẫn ù lỳ, Quốc hội vẫn vô cảm, thì các tổ chức xã hội dân sự hãy cùng nhau trao đổi, kịp thời phổ biến các hành động bạo lực của ngành công an, qua các bài viết, đơn tố cáo, hình ảnh sống động như cảnh Công an bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý giữa phiên tòa, cảnh Công an đạp giày lên mặt thanh niên, cảnh các tử thi công dân chết trong đồn Công an với thương tích rõ ràng, cùng tên tuổi những kẻ phạm tội…

Phổ biến thật rộng bài hát “Anh là ai?” của nhạc sỹ Việt Khang chất vấn Công an cũng là việc cần thiết có tác dụng.

Hãy trưng ra khẩu hiệu: “Công An là bạn dân như thế này ư”, “Công an là bạn hay là Tai họa cho Dân?’’. Chúng ta hãy mở một đợt tuyên truyền về ngày Liên Hợp Quốc đã lấy làm “Ngày Quốc tế chống bạo hành của cơ quan Công an”.

-International Day against Police Brutality 15/3 được thực hiện hàng năm từ ngày 15/3 năm 1997.

Các bạn trẻ hãy sưu tầm và phổ biến “Công ước chống tra tấn của LHQ’’ – UN Convention against Torture, được thông qua tháng 12 / 1984, Việt Nam tham gia ký ngày 7/4/2013 và thông qua để thực hiện từ ngày 5/2/2015.

Theo nội dung hai văn kiện pháp lý trên, cơ quan Công an không được ép cung, mớm cung, xỉ vả, chửi bới vô lễ, đánh đập bằng dụng cụ hay tay chân, đấm đá …, người bị cáo phải được coi là vô tội cho đến khi có kết luận của tòa án xử công khai có luật sư và có tranh tụng theo luật. Những người phạm tội ở bất cứ ở cấp bậc nào cũng phải xét xử đúng theo luật định. Tư pháp trong nước không xử vì không có công tâm, không đánh tin cậy, công dân có quyền đưa ra một tòa án quốc tế, hay đưa ra Liên hợp Quốc.

Đã có thí dụ sống như Tòa án Tây Ban Nha đã nhận đơn để thụ lý của công dân Tây Ban Nha gốc Trung quốc kiện cựu Thủ tướng Lý Bằng về các bệnh viện TQ cưỡng bức cướp phủ tạng của phạm nhân Pháp Luân Công như gan, mật, thận, mắt để bán giá cao. Trung Quốc đang nao núng về chuyện này.

Một thí dụ nữa là cựu độc tài Chi Lê Pinochet đã bị bắt ở Anh quốc và bị giam tại Anh 500 ngày trong hai năm 1999 va 2000, ở nhà tù Anh về ‘’tội diệt chủng, khủng bố và tra tấn’’ do các công dân Chi lê gốc Anh và các công dân Tây Ban Nha khởi kiện, hắn được cho tự do vì ốm nặng, trở về Chi lê chết năm 2006. Khi 91 tuổi.

Năm 2015, đã có một số tên cai ngục hung tợn ở Nga và Rumani bị xét xử thêm về các tội tra tấn và mưu sát tù nhân thời xã hội chủ nghĩa bị tố cáo và xác minh, tuy có tên nay đã 92 và 89 tuổi, vẫn không thoát tội, vì nhân dân có trí nhớ rất lâu và rất chính xác.

Các việc làm trên đây chắc chắn sẽ răn đe kẻ xấu và ác, hạn chế các hành động hại dân hại nước, đánh thức lương tâm một số kẻ vẫn còn biết tự trọng cũng như gia đình, bố mẹ, vợ chồng con cái họ, bảo vệ cuộc đấu tranh chính nghĩa và các cuộc biểu tình xuống đường của công dân ta ngày càng đông đảo và kiên cường.

“TÂM SỰ CỦA MỘT VIỆT KIỀU”

“TÂM SỰ CỦA MỘT VIỆT KIỀU”

Tác giả Huỳnh Vũ:

Tôi không bênh vực những tiếp viên hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn.

Tôi thực sự thương hại họ, vì “Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua

Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện “ăn cắp“, khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học “ăn cắp”, giáo sư “ăn cắp” công trình trí tuệ của người khác, học sinh, sinh viên “ăn cắp” bảng điểm, “ăn cắp” bằng cấp bằng phong bì.

Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị lãnh đạo “ăn cắp” tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quĩ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ăn cắp đất của nông dân, họ ăn cắp tiền phạt giao thông, họ ăn cắp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình.

Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô ca sĩ, hoa hậu, người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe khủng , nhà khủng, tôi thương hại họ quá, họ cũng bị “ăn cắp” trinh tiết, bị “ăn cắp” phẩm giá, anh ạ . Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.

Khi về VN, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lô. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình. Những người công an trẻ đó cũng bị “ăn cắp” lương tâm?

Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt.

Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là “Bút Máu“.

Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công ly có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị “ăn cắp” nhân tính mất rồi.

Trong xã hội, toàn là “ăn cắp”, vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, Vì văn hóa “giả vờ” là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.

Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu nhưng “giả vờ” đó là công sức lao động tay chân và trí tuệ hay quà tặng của cô em “kết nghĩa”. Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm “con kết nghĩa ” của cô ta quá. Thế mà có những lãnh đạo, ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, UỶ Ban Diều Tra, Quan Tòa “Thiết Diện Vô Tư”, Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của “cô em kết nghĩa” đó!

Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà khủng, quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa…….

Công chúa mặc áo đầm hồng ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ công chúa là một chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm.

Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

“Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì?
Hễ có phong bì thì Nó “Thank you”

Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người VN như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi. Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể “ăn cắp” lương tâm, phẩm giá và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một “CON NGƯỜI” không phải chỉ “giả vờ ” “làm người” đang sống.

Con cá, chủ nghĩa dân tộc với những lằn roi

Con cá, chủ nghĩa dân tộc với những lằn roi

Tuấn Khanh

7-6-2016

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Trong phút chốc, con cá ở Việt Nam trở thành một hình tượng mang tính cấm kỵ. Từ cuối tháng 4, khi khu công nghiệp luyện thép Formosa, Hà Tĩnh, đầu độc biển Việt Nam và quan chức các cấp của chính phủ bày tỏ một thái độ che đậy đến kỳ cùng, con cá bỗng nhiên trở nên là một thứ dễ khích động cảm giác của người dân. Vì vậy, trong danh sách của muôn vàn thứ khác bị điểm danh, con cá bị chụp ảnh, lăn tay và đánh số như một tội phạm mới mẻ.

Trong tạp chí Đẹp số tháng 6/2016, diễn viên Hứa Vĩ Văn được mời chụp ảnh với chiếc áo có hình con cá. Thế nhưng sự tinh ý trước thời cuộc của những người kiểm duyệt, họ đã biến con cá thành con ốc. Dĩ nhiên, lý do ngụy trá ấy là “cho đỡ phần nhạy cảm”.

Sự kiện này làm tôi nhớ lại xiết bao, hơn 10 năm làm báo của mình trong hệ thống truyền thông nhà nước, mà cách kiểm duyệt – hay nói đúng hơn là sự sợ hãi dẫn đến điểm trung thành hèn hạ của rất nhiều người có chức vụ, khiến đời sống luôn trở thành những diễn tiến thô bỉ qua lưỡi hái kiểm duyệt.

Nhà thơ lừng danh người Nga Yevgeny Yevtushenko, từng cay đắng nói rằng “Khi sự thật bị thay bằng im lặng, sự im lặng đó chính là lừa dối” (When truth is replaced by silence, the silence is a lie). Dù là một tài năng vượt bậc của nước Nga thời Cộng sản, nhưng kể từ khi có ý kiến minh bạch về cuộc đời, về bạn bè mình, ông bị trục xuất khỏi Viện văn học Liên bang Xô Viết vì tư tưởng “chủ nghĩa cá nhân” vào năm 1956. Trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1965, Yevtushenko bị cấm xuất cảnh vì dám mở lời khen ngợi Boris Pasternak, cũng như vì quan điểm chính trị của ông. Tên ông cũng bị đục khỏi báo chí Nga Sô, kiểm duyệt không khác gì những con cá vô danh của Việt Nam.

Quả thật, khi người ta im lặng, hay sự im lặng được diễn đạt bằng cách nói vòng vo, hăm dọa… đó cũng chính là dấu hiệu của sự lừa dối.

Cũng như những lời cấm kỵ về nhiều thứ mà trước nay không hề có văn bản chính thức nào, con cá Việt Nam trở thành tội phạm. Mọi ngày trong thành phố, những ai mặc những chiếc áo có hình cá, vẽ lên mặt một con cá hoặc diễn đạt một hình thức nào đó, có khái niệm cá, đều bị các thành phần an ninh chìm, lực lượng áo xanh, áo cứt ngựa nhìn ngó như kẻ thù. Không ít những người trong đó bị bắt giữ, đánh đập, ép nhận tội nào đó vu vơ cho thích hợp hoàn cảnh.

Năm 2014, trong tình hình giàn khoan HD981 của Trung Quốc kéo đặt gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, bà Thế Thanh, cựu giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Sài Gòn, cho in một loạt áo thun có in chữ Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam để kêu gọi sự quan tâm của mọi người. Công an văn hóa đã đến gặp và yêu cầu bà nếu đã lỡ in rồi, thì không được phát tán rộng rãi nữa. Hôm sau, Anh H., một người làm việc trong báo Sài Gòn Tiếp Thị, vui mừng mặc chiếc áo đó đi làm. Vừa đi được một đoạn, anh bị 2 thanh niên to khỏe, ép xe chặn lại giữa đường và buộc phải cởi chiếc áo đó ra. Giằng co được một lúc, anh H. sợ trễ giờ làm nên phải quay về thay chiếc áo khác.

Một chương trình ca nhạc được dự định tổ chức để gom quỹ cho các gia đình các liệt sĩ Gạc Ma, với các bài hát đã cố làm làm nhạt nhẽo, bởi chỉ hát loanh quanh về biển, cũng bị người phụ trách kiểm duyệt ở Sở Văn hóa Thông tin Sài Gòn là Võ Trọng Nam từ chối, với lý do “nhạy cảm lắm”. Trong suốt 74 ngày giàn khoan HD981 ngạo nghễ trụ trên biển, những người tức giận với cách ngang ngược của Trung Quốc đã xuống đường phản đối. Kết quả là họ bị bắt, bị đánh, bị công an đến nhà sách nhiễu, triệu tập… với mục đích để làm giảm sự nhạy cảm – mà cần hiểu ở đây là nhạy cảm phiền lòng cho Bắc Kinh.

Trớ trêu thay, lòng yêu nước, chủ nghĩa dân tộc lại phải nhận những lằn roi. Trong lịch sử Việt Nam, đi qua mọi thời kỳ, việc vẫn tồn tại được quốc gia hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương suốt hàng ngàn năm dù vô vàn lần bị xâm lược từ nhiều phía, cũng chỉ bởi người Việt có được một tài sản trân quý vô giá, đó là chủ nghĩa dân tộc. Thật đau lòng khi hôm nay, mỗi ngày lại nhìn thấy lòng yêu nước, con người với chủ nghĩa dân tộc sôi sục từ ngàn năm trước truyền lại, vẫn không từ nan để dấn thân, mỗi ngày lại nhận những lằn roi càng nặng nề thú tính hơn.

Chủ nghĩa dân tộc là hành trang không ai bị bắt phải mang vác. Nhưng nếu là người của một quốc gia, nếu không có chủ nghĩa dân tộc chảy trong dòng máu,  ắt phận người chỉ là kẻ ăn bám, trục lợi, vong bản hoặc lưu cư cho một âm mưu. Đâu ai buộc Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng. Nguyễn Thái Học… phải chọn hy sinh thân mình vì những người không quen biết, vì những bờ cõi của tổ quốc mà họ chưa hề đặt chân đến. Thậm chí, Trương Công Định còn quyết liệt tuyên bố vào năm 1862, về một chế độ đã chấp nhận đầu hàng và thuận làm kẻ dưới của ngoại bang, rằng “Triều đình không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc chúng ta”.

Chủ nghĩa dân tộc cuộn trào trong dòng máu, khiến mỗi con người chỉ cần biết yêu cuộc sống và đất nước này thôi, cũng đã lẫm liệt, vượt lên mọi thứ quan lại với bổng lộc và những lời xảo trá.

Tháng 4/2016, tôi có nhận lời thiết kế giúp cho một chiếc áo thun, giúp cho một phong trào kêu gọi ý thức tiết kiệm nước ở nông thôn miền Tây. Áo sẽ phát cho nhiều sinh viên tham gia mặc trong ngày vận động về bảo vệ nguồn nước trong tình trạng hạn, mặn. Bản logo thiết kế in áo, tôi viết khẩu hiệu “Giữ nước như người miền Tây”, sau khi đưa đi cho ban giám đốc một trường đại học duyệt, đã bị đổi lại vô cùng đơn điệu là “Hãy tiết kiệm nước”. Khi dò hỏi, tôi ngẩn người khi biết được một vị trí thức, có chức có quyền, nói rằng “nghe giữ nước có vẻ nhạy cảm quá”.

Từ Hoàng sa, Trường sa rồi đến con cá, đến nguồn nước… những gì của quê hương này cứ như đang tuột dần ra khỏi bàn tay nắm tuyệt vọng của ý thức dân tộc. Hôm nay, đến “giữ nước” mà đã là nỗi sợ hãi của người có học thuộc chính quyền, thì mai sau, dân tộc này sẽ về đâu?

Tháng 5/2016, tôi nhìn thấy trên mạng xã hội, những thanh niên khỏe mạnh được chính quyền nuôi dạy, bịt mặt, giấu mình trong đám đông và xông vào đánh đập dã man những người biểu tình, chỉ vì họ đòi minh bạch một môi trường sống của những người cách xa họ cả ngàn cây số. Những người bịt mặt đó, nghiến răng, hét vào bộ đàm “ĐM, đập chết mẹ tụi nó”.

“ĐM, đập chết mẹ tụi nó”. Mẹ của ai? Mẹ của những người yêu nước? Mẹ của những người đã thề không phản bội quê hương này cần phải bị đập chết?

Trong các lý luận về sự hình thành các nhà nước. Chủ nghĩa dân tộc là đối trọng gay gắt với chủ nghĩa cộng sản mà Karl Marx đề ra. Bản chất của thuyết Karl Marx là dựng một nhà nước từ sự phân hóa giai cấp và cai trị, không cần phân biệt gì khác. Còn Chủ nghĩa dân tộc dựa trên tinh thần quốc gia và giống nòi để hình thành nhà nước phục vụ. Hôm nay, những lằn roi đang giáng xuống ở Việt Nam, có phải là chỉ dấu của sự xung đột đến hồi khốc liệt giữa Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa dân tộc?

Có thể những thanh niên yêu nước xuống đường hôm qua và hôm nay rồi cũng sẽ chết một ngày nào đó trong cuộc sống rất đỗi phù du này. Nhưng trước họ, những người mẹ miền Trung cũng mòn mỏi chết với bờ biển đầy chất độc ngoại bang. Cá giẫy chết. Người thoi thóp. Những lằn roi hận thù tự dàn dựng vào cá-vào đảo-vào biên giới-vào ý thức-vào người cứ quất vào lịch sử đất nước này, có phải là những cú tát như cơ hội để người người cùng sực tỉnh, rằng, nếu không có ý thức về đất nước, tổ tiên, dân tộc, như những con cá vô danh vô định, mai này rồi chúng ta sẽ trôi dạt về đâu?

Hoa Kỳ lại “đi đêm” với Hà Nội

Hoa Kỳ lại “đi đêm” với Hà Nội

Nguyễn Dư (Danlambao)  Những người làm chính trị hoặc theo dõi chính trị trong giai đoạn gần cuối của hiệp định Paris năm 1973 chắc không ai mà không biết đến hai chữ “đi đêm”. Đi đêm là tiếng lóng mà Dinh Độc Lập thường dùng để ám chỉ sự mờ ám và khuất tất của hai nhân vật chủ chốt trong Hiệp định Paris: ông Henry Kissinger và Lê Đức Thọ.

Người ta kể rằng: trong giai đoạn cuối, trước và sau khi Hoa Kỳ ép ông Thiệu ký vào bản hiệp định nhượng bộ, người của bộ ngoại giao Hà Nội và ông Kissinger thường hay lui tới những nơi vũ trường, nhà hàng vào những đêm cuối tuần để tiệc tùng ăn chơi. Họ thương lượng, ngã giá trên sự đau khổ, mất mát, rồi bán đứng luôn người lính Việt Nam Cộng Hòa và người dân miền Nam Việt Nam sống trong giai đoạn đó; chưa kể hơn năm mươi tám ngàn quân lính Mỹ đã hy sinh. Rồi hơn hai năm sau thì Sài Gòn sụp đổ, là chuyện đương nhiên phải đến. Có thể, đến bây giờ chắc người Mỹ nhận ra rằng bỏ rơi đồng minh miền Nam Việt Nam và rút quân khỏi Philippines là một sai lầm lớn về chiến lược ở Đông Nam Á chăng?

Lần này ông tổng thống Mỹ lại… đi đêm bằng chuyên cơ đến Hà Nội, là có một sự sắp xếp và tính toán trước trong nhiều năm giữa hai bên. Hà Nội đón tiếp tổng thống Mỹ trong sự dè dặt và im lặng của tiếng đại bác thường dành cho các nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia có thể nói là đứng hàng đầu thế giới. Rồi với bộ mặt sáp cứng đờ và cặp mắt láo liên của Trần Đại Quang ra vẻ như lạnh nhạt, mất tự nhiên làm cho người ta có cảm tưởng khách chủ động đến hơn là nước chủ nhà mời. Người Mỹ không cần đòi hỏi nghi thức đón tiếp danh dự trong cách thức ngoại giao. Cái mà họ cần là quyền lợi chiến lược của họ to lớn hơn nhiều trong tương lai mà quốc gia họ hướng tới.

Qua cách thức ngoại giao, làm cho người ta biết thêm là có một sự thỏa thuận ngầm. Cộng sản Việt Nam sợ cộng sản Trung Quốc giống như thỏ sợ sói. Sợ đến nỗi phải tránh né, không dám gọi đúng tên! Và trong chuyến đi này, ông tổng thống Mỹ cũng bóng gió, nhưng không đích danh chỉ trích Trung Quốc. Không sợ sao được khi mà nếu có xung đột xảy ra giữa Trung Quốc với Việt Nam, đặt trường hợp có đầy đủ vũ khí tối tân trong tay, nhưng đối đầu với Trung Quốc trong lúc này thì cũng giống như lấy trứng chọi đá. Việt Nam sợ mất lòng Trung Quốc trong lúc thế cô, sức yếu; đồng thời muốn đi đêm với Mỹ để được nhìn nhận làm đồng minh và được che chở.

Còn một cái mà họ sợ nữa là sợ… nhục. Sợ nhục với người lính Quốc gia, người miền Nam; và đến bây giờ thì họ lại sợ nhục với cả một dân tộc mà họ đang lãnh đạo. Đối với cộng sản, việc trở cờ theo Mỹ là một nỗi nhục của lịch sử, là một cái nhục cho những thế hệ mai sau.

Lần này người Mỹ lại “đi đêm”, bán đứng những người hoạt động về dân chủ, nhân quyền chỉ vì quyền lợi nước Mỹ. Tại sao phải gọi là “bán đứng”. Bởi lẽ, trước đây chính quyền Mỹ lúc nào cũng đưa ra điều kiện về nhân quyền, đặt lên hàng đầu với nhà cầm quyền Việt Nam: muốn bãi bỏ cấm vận vũ khí thì trước tiên phải tôn trọng nhân quyền. Đùng một cái tổng thống Mỹ tuyên bố bãi bỏ cấm vận vũ khí, và có thể trong tương lai sẽ đi đến hợp tác quân sự giữa hai bên. Không phải đơn phương mà người mỹ dễ dàng quyết định như thế, mà là có sự cân nhắc, có thăm dò và có chuẩn bị ngầm từ nhiều năm qua.

Qua một thời gian dài, Hà Nội bị Trung Quốc đè đầu cỡi cổ, người Mỹ nắm rõ điều đó cho nên trong lúc này là đúng thời điểm, tổng thống Mỹ đến Việt Nam khơi dậy lòng yêu nước dân tộc là thượng sách và cũng để người cộng sản nhận ra đâu là bạn đâu là thù. Qua cách đón tiếp, chào đón của người dân Sài Gòn – Hà Nội thì đã trả lời rõ ràng với người Mỹ điều đó.

Điều kiện về nhân quyền hay giải quyết những tồn đọng trong chiến tranh của người Mỹ, hai bên đặt ra chỉ là một bước để hai nước cựu thù tiến lại gần nhau; để thăm dò và có thể đi thêm những bước tiếp theo; đến khi đạt được mục đích chung thì những cái đó trở thành thứ yếu. Nhưng chúng ta điều biết, khi mà cộng sản đạt được những gì trên bình diện ngoại giao có lợi, thì họ nuốt lời cam kết rất dễ dàng; đôi khi cũng thực thi những cam kết cầm chừng chỉ để qua mắt thiên hạ mà thôi.

Cái hơi hướng của việc “đi đêm” còn làm cho người ta dễ nhận ra thêm nữa là lời phát biểu đại khái của tổng thống Mỹ: “Việt Nam là một quốc gia độc lập, tự chủ và không một quốc gia nào có thể áp đặt ý chí của họ lên các bạn hoặc quyết định số phận của các bạn”. Tức là phải hiểu ngầm rằng người Mỹ sẽ không “áp đặt ý chí của họ”, không can thiệp vào chuyện nội bộ của mỗi quốc gia; số phận (về nhân quyền) của các bạn phải tự quyết định. Thế thì tại sao trước đây người Mỹ lại can thiệp, “áp đặt ý chí của họ” lên Hà Nội về nhân quyền mà giờ đây lại phớt lờ?! Lời lẽ, đại ý của ông tổng thống Mỹ trong câu nói này, các nhà ngoại giao Hà Nội cũng thường sử dụng để trả lời về nhân quyền khi có bất cứ một quốc gia nào muốn chỉ trích, chất vấn họ vi phạm.

Hà Nội biết Mỹ cần Cam Ranh hơn là điều kiện về nhân quyền, cho nên đã có sự thỏa thuận ngầm giữa hai bên. Thế thì họ đàn áp những người đấu tranh cho nhân quyền thậm tệ mà bất cần đến liêm sỉ trước mặt người Mỹ và quốc tế đang hướng về Việt Nam theo dõi trong chuyến đi này của tổng thống Mỹ là chuyện đương nhiên. Và rồi đây Mỹ sẽ không còn can thiệp “áp đặt ý chí của họ” lên nhà cầm quyền Việt Nam nữa!

Việc thả cha Lý, một người tù nổi tiếng về vi phạm nhân quyền của Hà Nội là một màn kịch ngoại giao “rửa mặt”, phô trương tính cách nhân đạo rẻ tiền, không thuyết phục được ai bởi vì cha Lý không còn bao lâu nữa cũng sẽ mãn hạn tù.

Người dân ai cũng biết, cộng sản Việt Nam hiện thời nợ như chúa chổm, thế thì tiền đâu cho họ mua vũ khí trang bị đủ để chống lại Trung Quốc?

Có thể Hà Nội chọn Mỹ làm đồng minh trong lúc này, sẽ đặt ra điều kiện với người Mỹ khác hơn ngày xưa Mỹ là đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa.

Người cộng sản thường hay luận rằng: “Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền”. Đúng, thế cho nên nếu có hợp tác với Mỹ thì cùng lắm cho mướn quân cảng Cam Ranh để đổi lấy vũ khí chứ không để “mất chủ quyền”. Và người Mỹ cũng đã học được bài học lịch sử từ quá khứ: Can thiệp sâu, đổ quân vào miền Nam Việt Nam là một việc làm sai lầm, sa lầy về chính trị. Người Mỹ không chiếm lãnh thổ hay đất đai của bất cứ một quốc gia nào cả; khác với ông “bạn vàng” của Hà Nội xa lắm.

Nguyễn Dư

danlambaovn.blogspot.com