Những Sự Thật Thú Vị Về Vatican Khiến Bạn Bất Ngờ

















Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
















MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?
Mary Ann Getty

Maria Mađalêna có một ảnh hưởng bền bĩ lâu dài, gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ, tội nhân lẫn các thánh và cả những môn đệ của Đức Kitô qua nhiều thời đại. Tiếng tăm này không thể dễ dàng giải thích dựa vào các thông tin về bà trong Kinh Thánh. Điều Tân Ước nói về bà thật ít ỏi và gây thất vọng, đơn giản chỉ gọi bà là Maria Mađalêna hay Maria thành Magđala, nhưng có một chi tiết nhỏ thật có ý nghĩa và thách đố. Cả bốn Tin Mừng đều khẳng định bà là môn đệ gương mẫu cho mọi thời đại.
Có điều gì đó bí ẩn và hấp dẫn về người phụ nữ này trong các Tin Mừng. Một người phụ nữ mà tên riêng không đi kèm với tên một người đàn ông nào khác ngay trong Tân Ước thì đó là điều thật có ý nghĩa. Khi xếp bà riêng ra thì hoặc bà là một nhân vật ngoại thường hoặc có vấn đề gì ở đây. Có lẽ chính vì thế mà óc tưởng tượng bình dân đã “điền vào chỗ trống” và gán ghép bà với những phụ nữ khác trong Tân Ước, tạo nên một khối tù mù. Trước khi xem các Tin Mừng nói gì thì chúng ta hãy xem thử những gì mà các Tin Mừng không hề nói.
Bà không phải là ai
Thỉnh thoảng Maria Mađalêna bị đồng hóa cách sai lầm với người phụ nữ xức dầu thơm lên chân Chúa Giêsu. Sự đồng hóa này lại càng thêm phức tạp bởi vì người ta thường nhầm lẫn câu chuyện xức dầu với một người phụ nữ tội lỗi, một cô điếm. Và góp phần khiến vấn đề trở nên tệ hại hơn là hình ảnh của Maria Mađalêna và một người phụ nữ bị cáo buộc ngoại tình trong Tin Mừng Thánh Gioan lại nhập nhằng với nhau.
Trong câu chuyện Khổ Nạn, dầu mục đích sử dụng câu chuyện khác nhau, cả bốn Tin Mừng đều nói về một phụ nữ xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Mc 14, 3-9; Mt 26, 6-13), Thánh Marcô và Matthêu đưa trình thuật nói về một phụ nữ vô danh xức dầu cho Chúa Giêsu có ý nói về cuộc mai táng của Ngài. Lúc ấy Chúa Giêsu đang ở nhà của ông Simon người phung hủi, ở Bêthania gần Giêrusalem. Thánh Gioan cũng thuật lại câu chuyện xức dầu chân Chúa Giêsu không lâu trước cái chết của Ngài, xác định người phụ nữ là Maria thành Bêthania, bà làm thế để tỏ lòng biết ơn Chúa Giêsu đã làm cho em bà là Lazarô sống lại. Maria là một tên gọi rất thông dụng và có lẽ chính vì thế mà hai bà tên Maria đã bị hòa lẫn vào nhau trong truyền thống Kitô giáo sau đó.
Thánh Luca kể về một phụ nữ vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu khi Ngài đang ngồi bàn ăn trong khi đang thực hiện sứ vụ (Lc 7, 36-50) chứ không phải lúc cuối đời. Lúc ấy Chúa Giêsu đang dùng bữa tối tại nhà ông Simon người Pharisiêu. Có lẽ Maria Mađalêna đã bị nhầm lẫn với người phụ nữ này bởi vì Maria Mađalêna lần đầu tiên được gọi đích danh trong câu chuyện tiếp liền ngay sau trình thuật xức dầu của Thánh Luca (Lc 8, 2). Góp phần để tạo thêm nhầm lẫn là người phụ nữ này đôi khi được miêu tả là người tội lỗi công khai (một cái tên thanh tao để gọi nghề làm điếm), người đã đổ nước mắt vì thống hối và hành động vì lòng hối hận. Thế nhưng người phụ nữ xức dầu chân Chúa Giêsu là một phụ nữ vô danh trong Tin Mừng Thánh Luca, và nếu bà được ghi nhớ chỉ vì “tội lỗi” của mình hơn là tình yêu đưa dẫn đến hành động xức dầu chân Chúa, thì điều đó vừa trái với ý nghĩa của dụ ngôn mà Chúa Giêsu vừa mới nói đến trong dịp này lại vừa không phải là mục đích của Thánh Luca khi kể lại câu chuyện.
Vấn đề càng thêm phức tạp khi có một vài thủ bản Tin Mừng Thánh Gioan (7, 53 – 8, 11) nói về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và gán ghép chị này với Maria Mađalêna. Một truyền thống lâu đời trong văn chương và nghệ thuật Kitô giáo đã vẽ nên một Maria Mađalêna là người tội lỗi ăn năn, sau khi gặp được Chúa Giêsu thì bà đã trải hết phần đời còn lại để khóc than tội lỗi mình. Thế nhưng các Tin Mừng không hề gán ghép Maria Mađalêna với người phụ nữ tội lỗi, hoặc tệ hơn nữa là một cô điếm.
Các Tin Mừng nói gì
Trong các Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca, bà được gọi là Maria Mađalêna hay “Maria Magđala” (xem Mt 27, 56.61; 28, 1; Mc 15, 40.47; 16, 1,9; Lc 8, 2; 24, 10). Thánh Gioan gọi bà là “Maria thành Magđala”, một thành phố vô danh trong Kinh Thánh (xem Ga 19, 25; 20, 1.18). Vài người cho rằng đó là thành phố Magađan (xem Mt 15, 39; Mc 8, 10), một thành phố nằm bên bờ Tây của Biển hồ Galilê, giữa Tiberia và Capharnaum.
Maria thành Magđala được ghép với một địa danh chứ không phải với tên của bất kỳ người đàn ông nào bên cạnh Chúa Giêsu. Trong thế giới Tân Ước, người phụ nữ thường gắn liền với chồng, cha, con trai hoặc anh em của họ. Như vậy, người phụ nữ vô danh đã theo Chúa Giêsu và hiện diện dưới thập giá đơn giản chỉ được gọi là “bà mẹ của các con trai ông Zêbêđê.” Tên gọi Zêbêđê xuất hiện ở đây không phải vì ông hiện diện dưới chân thập giá cùng với vợ con ông, những người đã theo Chúa Giêsu từ Galilê cho đến Giêrusalem. Song chính ông được nêu tên chứ không phải bà vợ đầy lòng tin của ông.
Maria thành Nazareth, Maria và Martha thành Bêthania được gắn liền với thành phố quê hương của họ nhưng đồng thời cũng được gắn liền với người đàn ông: Maria với Giuse, Maria và Martha với Lazarô. Còn Maria Mađalêna chính là môn đệ và tông đồ của Chúa Giêsu. Không có hàng chữ nào nói lên vai trò này của bà trong Tân Ước. Đúng ra, các Tin Mừng chỉ phác họa Chúa Giêsu là người thâu nhận “những người học việc” (“môn đệ”). Sau thời gian học tập với vị Tôn Sư, các môn đệ này được “sai đi” (ý nghĩa của từ “tông đồ”) để rao giảng và hành động với thẩm quyền của Chúa Giêsu. Từ các Tin Mừng, chúng ta biết rằng các môn đệ được kêu gọi. Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng họ phải làm nhân chứng, tiếp tục sứ mệnh mà Chúa Giêsu đã khởi đầu. Các môn đệ được đòi hỏi phải theo Chúa Giêsu và kiên trì cho đến chết. Họ đã tin và rao giảng sự phục sinh.
Ơn gọi của Maria
Có vài môn đệ được kêu gọi từ bỏ cuộc sống đang đà thuận lợi. Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan đã “bỏ mọi sự” mà theo Chúa Giêsu (Mc 1, 18). Lêvi (hay Matthêu) là người thu thuế đã lập tức đứng dậy đi theo Chúa Giêsu (Mc 2, 13-14; Mt 9, 9). Những người khác đã bỏ lại bệnh tật và khiếm khuyết của mình và “ơn gọi” của họ thật sự là một phép lạ đúng nghĩa. Người mù gặp được Chúa Giêsu và được chữa lành. Kể từ đấy ông đã “đi theo Người trên con đường người đi” (xem Mc 10, 52). Tương tự như vậy, Maria Mađalêna sau khi được trừ “bảy quỷ,” đã đi theo Chúa Giêsu (xem Lc 8, 2; Mc 16, 9). Thánh Luca kê tên bà trong số mấy phụ nữ được trừ quỷ và chữa lành bệnh tật đã đi theo Chúa Giêsu từ Galilê đến Giêrusalem, chăm sóc cho Ngài.
Các chứng nhân làm chứng cho điều họ thấy và nghe. Các môn đệ được kêu gọi làm chứng cho Nước Trời đã đến trong lời nói và hành động của Chúa Giêsu. Họ được trao ban nhiệm vụ (xem Mt 10; Lc 9 – 10) và được sai đi để làm điều Chúa Giêsu đã làm (Lc 10, 1.3.9). Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải trở nên đất tốt để “khi nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, họ nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả” (Lc 8, 15). Lời dạy này phù hợp với những miêu tả về Maria Mađalêna, sau khi được trừ quỷ, đã kiên trì và trung thành theo Chúa Giêsu cho đến khi Ngài chết trên thập giá, ngoài ra còn lấy nguồn lợi tức của riêng mình để chăm sóc cho Ngài và các môn đệ khác với tình chân thật và lòng quảng đại.
Theo Thánh Marcô, lời dạy cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước cuộc Khổ Nạn là “Hãy tỉnh thức!” (Mc 13, 36). Họ đã chứng kiến sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu và cuối cùng là sự phục sinh của Ngài. Thế nhưng các tác giả Tin Mừng nhìn nhận rằng các đấng môn đệ nam nhi đã không thể “tỉnh thức” với Chúa Giêsu dầu chỉ một thời gian ngắn ngủi trong Vườn Cây Dầu. Vậy mà bà Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã “tỉnh thức” để trông xem cuộc đóng đinh và rồi nán lại để “nhìn xem” xác Ngài được đặt ở đâu. Thánh Matthêu nói rằng Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã ra mộ từ sáng sớm ngày Phục Sinh để “trông chừng” ở đấy (xem Mt 27, 55-56.61; 28, 1.8-10). Họ đã “xem thấy” ngôi mộ trống. Cuối cùng, theo ba Tin Mừng Nhất Lãm, những phụ nữ này đã nghe sứ điệp phục sinh và về thuật lại cho những người khác. Họ đã được “sai đi” làm sứ giả hay tông đồ cho các môn đệ khác.
Chứng nhân và sứ giả
Marcô đã xếp đặt bà Maria Mađalêna và những phụ nữ khác đứng dưới chân thập (Mc 15, 40-41). Sử dụng Tin Mừng Marcô, Thánh Luca đã đặt ngay tâm điểm sứ vụ của Chúa Giêsu đoạn văn nói về những phụ nữ đi theo Ngài từ Galilê cho đến Giêrusalem để nói lên đức tin và sự kiên trì của họ (Lc 8, 1-3). Còn theo Thánh Luca, tại Bữa Ăn Tối Cuối Cùng, Chúa Giêsu nhắc đến các môn đệ như là những người cùng đứng với Ngài trong cơn thử thách, “một lòng gắn bó với Thầy giữa lúc gian nan” (Lc 22, 28). Maria Mađalêna chắc chắn là một trong số người đó.
Bất kỳ khi nào được nêu tên (ngoại trừ Ga 19, 25-27), Maria Mađalêna đứng đầu danh sách những phụ nữ đi theo và hầu hạ Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng Thánh Gioan, các phụ nữ này đã rời bỏ tuyến hậu phương để xuất hiện dưới chân thập giá. Chỉ trong Tin Mừng Thánh Gioan thì nhóm phụ nữ này gồm có cả “thân mẫu Chúa Giêsu,” cùng với chị của thân mẫu Chúa Giêsu là bà Maria vợ ông Clopas, và Maria Magđala” (Ga 19, 25). Được sự ttháp tùng của các phụ nữ này cũng như người Môn đệ Chúa yêu (theo chứng từ của Tin Mừng thứ tư), “thân mẫu Chúa Giêsu” đến sát cây thập giá đủ gần để nghe Chúa Giêsu trăn trối mình cho người môn đệ ấy chăm sóc. Maria Mađalêna cũng đứng gần đấy, chứng kiến cái chết và lắng nghe Ngài như bà đã từng làm trong suốt cuộc đời mình.
Trái hẳn với các môn đệ nam nhi đã bỏ Chúa Giêsu mà chạy trốn, Maria Mađalêna cùng những người đồng hành phụ nữ không chỉ chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu mà còn nán lại để xác minh nơi chôn cất. Và các bà đã quay trở lại ngôi mộ để xức dầu thơm xác Ngài vào lúc sáng sớm sau ngày Sabbath. Sau khi được Chúa Giêsu hiện ra, Tin Mừng Nhất Lãm nói rằng bà Maria Mađalêna đã đi và nói cho các môn đệ khác biết sự việc đã xảy ra thế nhưng họ không tin phụ nữ (Mc 16, 20; Lc 23, 49). Dường như các môn đệ không tin vì họ xưa nay vốn chẳng tin chuyện phụ nữ.
Trong Tin Mừng Gioan, Maria Magđala đi ra mồ “từ lúc sáng sớm khi trời còn tối.” Thấy tảng đá che cửa mồ đã lăn sang một bên, bà chạy đi báo cho Simon Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu (Ga 20, 1-2). Cả ba chạy trở lại ngôi mộ rồi các môn đệ trở về (Ga 20, 9). Maria vẫn ở lại, khóc lóc (Ga 20, 11). Cuối cùng, Chúa Giêsu hiện ra và nói chuyện với bà (20, 11-18). Bà đã về và báo cho các môn đệ rằng: “Tôi đã thấy Chúa” và kể lại những gì Ngài nói với bà (Ga 20, 18). Trong Tin Mừng Thánh Gioan, không thấy có ám chỉ nào nói rằng Phêrô và những môn đệ khác không tin Maria hoặc bà là một chứng nhân không đáng tin vì là phụ nữ. Gioan chỉ nói rằng Phêrô và Môn đệ Chúa yêu đã chạy ra mộ để nhìn tận mắt, và người môn đệ Chúa yêu đã tin. Gioan dường như bóng gió rằng Phêrô không tin ngay lập tức. Maria Mađalên đã thấy chính Chúa Giêsu và lòng tin của bà được khẳng định trong nhiệm vụ được giao là nói cho những người khác biết về sự phục sinh của Chúa.
Vài kết luận
Các Tin Mừng đã phản ảnh một tranh luận trong xã hội ở thế kỷ đầu tiên về giá trị chứng từ của những người phụ nữ. Sự chắc chắn và nhất quán của các Tin Mừng về tính đáng tin cậy của những phụ nữ và đặc biệt của Maria Mađalêna cho thấy rằng các cộng đoàn tín hữu của Chúa Giêsu đã có một nhãn quan mới về phụ nữ và chỗ đứng của họ trong một xã hội mới và trong Giáo Hội. Một cách rất có ý nghĩa, các Tin Mừng đã ghi lại sự thất bại thảm hại của các đấng môn đệ nam nhi trong “giờ khắc” gay cấn nhất, rồi tiếp theo đó là họ đã không tin Maria Mađalêna cùng những phụ nữ khác đã vội vã chạy về loan tin Chúa Giêsu phục sinh cho họ.
Kinh Thánh thoát thai trong một nền văn hóa gia trưởng phụ quyền. Trong nền văn hóa như vậy, người ta nói về phụ nữ không mấy tích cực. Để vượt qua bối cảnh này, cần phải thẳng thắn khi nói về các đấng môn đệ nam nhi cư xử như thế nào vào thời khắc cao điểm trong cuộc tự hiến của Đức Giêsu và giải thích vai trò cần thiết của các phụ nữ cũng trong thời điểm ấy. Trong suốt Tân Ước, đặc biệt là các Tin Mừng, hình ảnh tích cực của các phụ nữ vẫn còn là một tiếng nói muốn được giải thích và trả lại tính xác thực.
Maria Mađalêna đã bị đánh giá sai thậm chí bị khinh khi, qua nhiều thế kỷ chúng ta đã đánh mất hoặc bỏ qua vai trò của bà như là người tông đồ đầu tiên. Mặc dầu các bình luận về bà vẫn còn dè dặt để chỉ nói điều ít nhất, cả bốn Tin Mừng đều đồng ý rằng bà Maria Mađalêna đã ở dưới chân thập giá, nơi ngôi mộ trống và là một trong những chứng nhân đầu tiên về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Bà đã trở thành người mà phụng vụ mùa Phục Sinh gọi là “Apostola Apostolorum” (Tông đồ của các Tông đồ).
Mary Ann Getty
LM Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
From: KittyThiênKim
httpv://www.youtube.com/watch?v=ugkbWPsBuMk
Formosa & sự im lặng khó hiểu của các cơ quan chức năng

Mẹ Nấm (Danlambao) – Tính đến nay gần trọn một tuần người dân và báo chí vào cuộc phát hiện các địa điểm chôn lấp chất thải đưa về từ nhà máy Formosa tại Hà Tĩnh. Các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Đưa Tin, Vietnamnet… tập trung đưa tin hàng ngày, riêng báo Tài Nguyên Môi Trường – cơ quan ngôn luận của Bộ TNMT im lặng sau khi trích dẫn vài phát biểu an toàn của Phó thủ tướng và Bộ trưởng đầu ngành.
Sáng 18/7/2016, báo Thanh Niên đưa tin “Phát hiện thêm 10 điểm chôn trộm chất thải của Formosa”(1). Trả lời vấn đề này, ông Dương Tất Thắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho rằng: sự cố chôn lấp chất thải của Formosa là một bài học rất lớn đối với Hà Tĩnh và để giải quyết vấn đề này phải cần một quá trình lâu dài.“Chúng tôi đã phải trả một cái giá không tính toán được liên quan đến vấn đề môi trường môi sinh, dư chấn tâm lý của người dân, thiệt hại cả tinh thần, vật chất”
Thật ra, các lãnh đạo và các quan chức không ai phải trả giá gì cho sự quan liêu, thiếu trách nhiệm và tính tham lam vô độ của các cá nhân, tổ chức đã tiếp tay cho Formosa đầu độc môi trường. Người phải trả giá bằng sức khỏe, bằng những mối lo ngại sẽ bị ảnh hưởng trong tương lai là nhân dân – những người đang sống chung với thảm họa. Tháng 4, cá chết biển chết, người lay lắt vì mất nghề, vì bỏ biển. Chưa có một động thái xử lý rõ ràng và hướng khắc phục hậu quả nặng nề đã xảy ra thì các sai phạm lần lượt bị báo chí phơi bày.
Theo công bố của ông Trần Hồng Hà – Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường thì nhà máy thép Formosa đã mắc phải 53 vi phạm trong quá trình cho chạy thử nghiệm. Không có thêm thông tin cụ thể gì về các điểm vi phạm này.
Quá trình xử lý Formosa vẫn đang được chia thì tương lai, nghĩa là “sẽ xử lý theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên ở đây, với thỏa thuận đền bù 500 triệu đô la, đại diện chính phủ Việt Nam đã đứng ra kêu gọi nhân dân “khoan hồng” cho kẻ hủy diệt.
Đến nay, sau hàng loạt tình tiết mới, chưa thấy đại diện của cơ quan chức năng nào đứng ra phát biểu.
Tại sao các cơ quan chức năng im lặng?
Câu hỏi này có lẽ không quá khó để trả lời.
Xin mượn lời Người Quan Sát trong bài viết “Formosa nhận lỗi, đảng nhận tiền – nhân dân nhận thảm họa” để nhắc chúng ta nhớ và biết mình phải làm gì:
“Formosa nhận lỗi nhưng chưa nhận tội. Cũng không cho biết trong những lỗi đó đã thải xuống biển những chất độc gì và hàm lượng bao nhiêu. Đảng nhận tiền nhưng không biết những thiệt hại đối với môi trường đến kinh tế, sức khoẻ và đời sống của người dân nghiêm trọng ra sao. Đảng cũng cương quyết không nhận lỗi lẫn nhận tội khi đã biết rõ nguyên nhân cá chết cả tháng trước, nhưng vẫn phớt lờ để ngư dân ra biển, vẫn không một cảnh báo chính thức về hiểm họa tiêu thụ thức ăn hải sản có nguy cơ nhiễm độc. Chỉ có người dân là đóng vai trò nạn nhân lẫn khán giả và nhận thảm họa trong bi kịch Cá Chết Formosa.” (2)
Đừng im lặng, hãy lên tiếng yêu cầu khởi tố các cá nhân liên quan đến thảm họa môi trường mang tên Formosa.
18.7.2016
Người xưa có câu: “Phúc thủy nan thu” (nước đổ khó hốt, ). Lời nói ra cũng giống như bát nước hắt đi, nước một khi đã đổ đi thì không thể nào thu lại, lời một khi đã nói ra thì không cách nào thu về. Cho nên một lời trước khi nói ra không thể không suy nghĩ thận trọng. Nói chuyện là một nghệ thuật, dù là lời hay ý đẹp cũng phải đắn đo “vuốt mặt nể mũi”, bạn nói tốt cho người này có khi lại đắc tội với người kia, như thế chưa hẳn đã là cao minh. Nói điều không tốt khiến đôi bên nghe xong đều mất hứng thì đương nhiên là không nên nói. Lời không tốt không nên nói, vậy những lời thế nào là không tốt và không nên nói ra?
Có người bình thường thích nói những lời chán nản làm người khác nhụt chí, thật ra cuộc sống rất cần những lời cổ vũ động viên từ người khác, cho dù không có ai khích lệ thì cũng phải tự khích lệ chính mình. Bản thân không cổ vũ chí hướng của mình, trái lại còn nói ra những lời thoái chí thì đương nhiên sẽ tự mình rơi vào suy sụp.
Con người đang lúc tức giận thường không tự chủ được mà nói ra những lời giận dữ, có lúc làm tổn thương người khác, có khi lại làm tổn thương chính mình. Người ta khi đang tức giận thì cần nhất là giữ được tỉnh táo, không nên tùy tiện phát ngôn, vì lời nói lúc nóng giận thường rất khó nghe, vì vậy nhất định đừng nên nói.
Khi không hài lòng, người ta thường nói ra những lời bất mãn, oán giận ông chủ, oán giận bạn bè, thậm chí oán giận cả người nhà. Nếu bạn thường xuyên nói những lời oán trách, người khác nghe được sau này sẽ mượn đó làm đề tài để nói những điều thị phi về bạn, khiến bạn phải đối phó với người này, đối phó với người kia, cuối cùng tự mình làm khổ mình, bạn việc gì phải khổ như vậy?
Có người lỗ mãng nói năng tùy tiện, không biết bao dung tôn trọng người khác, thường hay nói những lời tổn thương người khác, có lúc “hại người ích ta”, nhưng cũng có khi “hại người hại mình”. Lời nói tổn thương người khác có thể chỉ là nhất thời, nhưng nhân cách của mình đã bị người ta xem thường rồi đó, tổn thương ấy là vĩnh viễn!
Có người khi nói chuyện thường thích tuyên truyền về bản thân, tự mình quảng cáo rùm beng, tự mình thổi phồng chính mình, người khác nghe xong nhất định không đồng tình. Cho nên khoe khoang chính mình thực tế cũng chẳng được lợi ích gì, trái lại còn làm mình bị tổn thương. Con người muốn vĩ đại thì phải làm những việc vĩ đại, vĩ đại ấy là phải để người khác nói, không thể tự nhận được đâu, bản thân mình khiêm tốn là tốt hơn cả.
Phật giáo giảng “Ngũ giới”, “cấm nói dối” là một trong năm giới cấm này. Nói dối tức là “thấy mà nói không thấy, không thấy mà nói thấy, đúng mà nói là sai, sai mà nói là đúng”, nói một cách đơn giản thì đó là những lời không thật. Truyện ngụ ngôn “Sói đến rồi” (hay “Chú bé chăn cừu”) từng nói về hậu quả nghiêm trọng của việc nói dối. Một ví dụ khác, vốn dĩ chỉ có 1 chiếc máy bay, lại nói thành 11 chiếc, cuối cùng biến thành 91 chiếc, đây chính là những tin đồn thất thiệt, chuyện bé xé ra to, cũng tương tự như là nói dối.
Trên đời này có lắm điều bí mật, từ gia đình đến công ty không đâu là không có, nghiệp vụ có bí mật nghiệp vụ, quốc gia có bí mật quốc gia. Hiện nay các quốc gia đều rất coi trọng việc bảo mật, nếu tiết lộ bí mật quốc gia thì bạn sẽ bị xử lý nghiêm khắc và chịu hình phạt nặng nề. Cho nên chúng ta cần phải tạo thành thói quen giữ bí mật, không được tùy tiện phát ngôn. Trước khi nói ra những chuyện bí mật, bạn phải nghĩ đến những hậu quả xấu có khả năng xảy ra, hiểu rõ tính nghiêm trọng của nó thì sẽ không dám tùy tiện ăn nói lung tung.
Mỗi người đều có những chuyện riêng tư, việc riêng của mình đương nhiên không muốn người khác biết, việc riêng của người khác cũng không thể mang ra nói lung tung. Cho dù bạn có nói ra hết chuyện riêng của người khác mà họ không phản kháng lại thì cũng đã bộc lộ tính cách không nhân hậu của bạn rồi. Con người sống trong nhà không chỉ để che mưa che nắng mà còn vì an toàn, nhưng chủ yếu nhất là để đảm bảo sự riêng tư. Người ta mặc quần áo một phần là để giữ ấm nhưng quan trọng là để che đậy thân thể, giấu đi những riêng tư của mình. Vì thế, nếu muốn tôn trọng lẫn nhau thì không được tiết lộ những việc riêng tư của người khác.
Ngoài những điều kể trên, đương nhiên còn có rất nhiều điều không nên nói và không nên làm, thận trọng với những lời nói của mình cũng chính là đang “tu khẩu” (tu cái miệng của mình), bằng không chính bạn đang hủy đi phúc đức của mình đấy!
Chị Nguyễn Kim Bằng gởi
Nguyễn Khắc Mai
No-U là một nhóm thanh niên đầy nhiệt huyết và tinh thần dân tộc, yêu nước. Họ trẻ trung, hoạt bát, thông minh và nhạy cảm trước thời cuộc. Tôi cho là hơn hẳn lũ người luôn rêu rao về những cái gì là “đại cục, tiểu cục”. Khi “Tàu” cộng sản trong cơn hưng phát liền giương vây, vỗ cánh bành trướng ở Biển Đông, chiếm đảo, chiếm biển, uy hiếp Việt Nam và các nước nhỏ trong khu vực, vạch ra cái đường chữ U, còn gọi là đường lưỡi bò, hòng liếm gọn vùng biển quốc tế và vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước khác, thì họ tập họp nhau lại trong một các tên rất nghịch ngợm và “sái”, để bênh vực chủ quyền của Đất Nước, phản đối chủ trương và hành động bất lương, vô đạo, ngang ngược của Trung Quốc. Cái “sái” là theo nghĩa tiếng Việt, no u là no đòn, u trán, bươu đầu vì bị “côn đồ” được cấp phép hành hung, đàn áp. Còn theo nghĩa tiếng Anh là không chấp nhận và đấu tranh để xóa bỏ cái đường chữ U sai lầm và ngang ngược của Trung Quốc; họ là những chàng trai, cô gái rất xứng danh là tuổi trẻ của Thủ đô ngàn năm văn hiến, của Sài Gòn tài hoa và anh dũng.
Họ nhiều lần bị hành hung, bị đàn áp, bắt bớ, thật vô thiên, vô pháp, bất chấp đạo lý, luật lệ. Gần đây khi họ họp nhau đá banh, ra về, Lã Việt Dũng, một kỹ sư trẻ có tài, có tâm, có tầm, một No-U Hà Nội đã bị du côn (không biết có phải du côn không, hay là công an đội lốt) chặn đường hành hung khiến anh bị thương phải vào viện điều trị.
Giờ đây, sau khi Tòa trọng tài quốc tế PCA ra phán quyết bác bỏ “đường chữ U” do Trung Quốc xưng xưng áp đặt, chúng ta càng thấy các em No-U thật thông minh, dũng cảm, các em biết sống vô ngã, quên mình vì nghĩa lớn. Hành động của các em thật rõ chính nghĩa, chính khí của Việt Nam, luôn cảnh giác trước dã tâm của kẻ thù của Dân của Nước. Các em hơn hẳn lũ người không bao giờ nhìn xa hơn cái lỗ mồm của mình, biến thành lũ vong nô, hành xử cứ như là tay sai tiếp tay tiếp sức cho kẻ thù của Dân của Nước, đàn áp vô đạo những người yêu nước, có lương tri.
Chính quyền Hà Nội hãy thể hiện chính nghĩa của dân tộc, thể hiện mình là chính chứ không phải là tà. Một chính quyền biết tôn trọng những người có lương tri, có tinh thần yêu nước, dũng cảm, không nhỏ nhen, ích kỷ, luôn biết đặt cao những giá trị, biết hành xử đúng, tốt và đẹp, chính quyền ấy sẽ được trọng thị trong mắt của người dân, sẽ thể hiện phẩm chất văn hóa của mình.
Phải dừng ngay những hành vi côn đồ và trừng trị những kẻ nào đã ra lệnh và hành động bất lương, bất nghĩa đối với những người dân yêu nước, lương thiện, đối với các em No-U.
Tôi thành tâm mong ước chính quyền Hà Nội biết xin lỗi và biết cảm ơn những công dân tử tế của mình./.
N. K. M.

Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.
Trong bài “Vietnam’s rising repression”, đăng trên tờ New Mandala mới đây, giáo sư Zachary Abuza, một nhà Đông Nam Á học, cho rằng những sự đàn áp của chính quyền Việt Nam đối với những người bất đồng chính kiến càng lúc càng gia tăng và càng lúc càng tinh vi. Ông tóm tắt những sự đàn áp ấy vào năm chiến thuật chính:
Thứ nhất, trấn áp những luật sư thường đứng ra bảo vệ và bào chữa cho những người đối kháng bị chính quyền bắt giữ và đem ra xét xử. Tiêu biểu nhất cho những luật sư này là Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài và Võ An Đôn.
Thứ hai là sử dụng những tội danh khác, phổ biến nhất là tội danh trốn thuế, để đánh lạc hướng dư luận là ở Việt Nam không hề có tù nhân lương tâm.
Thứ ba là sử dụng công an chìm để hành hung những nhà hoạt động dân chủ và những người hay lên tiếng phê phán chế độ, kể cả các nhà báo đang tiến hành các cuộc điều tra việc công an đàn áp dân chúng. Theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền, riêng trong năm 2014, đã có tới 14 nhà báo bị hành hung.
Thứ tư là gia tăng kiểm duyệt trên mạng lưới internet. Việt Nam được xem là quốc gia có hệ thống kiểm duyệt truyền thông khắt khe nhất thế giới.
Cuối cùng, thứ năm là tập trung bóp chết những trang blog có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng.
Theo tôi, trong năm chiến thuật được Zachary Abuza nêu lên ở trên, hai chiến thuật sau cùng có thể được gộp làm một: Trấn áp những tiếng nói đối kháng trên mạng lưới internet. Có ba hình thức trấn áp chính: Một là dựng tường lửa, đặc biệt với các trang web đặt trụ sở ở hải ngoại; hai là dùng tin tặc để tấn công các trang web thù nghịch; và ba là bắt bớ những blogger có nhiều ảnh hưởng như trường hợp của Trương Duy Nhất (2 năm tù), Phạm Viết Đào (15 tháng tù), Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh (bị bắt ngày 5 tháng 5 năm 2014, chưa xét xử) và Nguyễn Quang Lập (bị bắt và tạm giam 2 tháng, đã thả).
Ngoài các chiến thuật mà Zachary Abuza nêu trên, tôi nghĩ còn một chiến thuật khác chính quyền Việt Nam gần đây sử dụng nhiều để đàn áp những người bất đồng chính kiến: Trục xuất họ ra khỏi đất nước, chủ yếu là đẩy họ sang Mỹ. Cho đến nay, họ đã trục xuất bốn người: nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ (ngày 23 tháng 2 năm 2011), luật sư Cù Huy Hà Vũ (ngày 7 tháng 4 năm 2014), blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (ngày 21 tháng 10 năm 2014) và gần đây nhất, blogger Tạ Phong Tần (ngày 19 tháng 9 năm 2015).
Việc đưa các nhà bất đồng chính kiến từ nhà tù đi thẳng sang Mỹ có ba lợi ích cho họ: Một là đáp ứng được các yêu sách từ phương Tây, chủ yếu là từ Mỹ; hai là chứng tỏ họ có tinh thần nhân đạo, và ba là để vô hiệu hoá những nhà bất đồng chính kiến ấy. Hai lợi ích đầu tương đối dễ thấy. Tôi chỉ xin phân tích lợi ích thứ ba.
Trên nguyên tắc, sống ở nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ, các nhà bất đồng chính kiến ấy sẽ được tự do hơn. Họ muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, không ai cấm cản được họ cả. Hơn nữa, họ cũng được sự ủng hộ của nhiều người trong cộng đồng, nhờ thế, họ dễ tập hợp thành một lực lượng với những tầm vóc nhất định. Nhưng tự do cũng là một con dao hai lưỡi. Lưỡi kia của tự do là: người ta mất tư cách nạn nhân, những người bị đày ải trong lao tù của bạo chính. Mất tư cách nạn nhân, người ta cũng mất cả tư cách là anh hùng bởi anh hùng chỉ được thể hiện trong điều kiện đối diện với thử thách và đặc biệt, với sự áp bức. Sống ở hải ngoại, tự do phơi phới, không ai có thể anh hùng hơn ai được. Khái niệm anh hùng của những người bất đồng chính kiến trở thành một thuộc tính của quá khứ, một thứ vang bóng một thời. Hơn nữa, sống ở nước ngoài, người ta cũng mất cả tư cách chứng nhân; tiếng nói của họ, do đó, cũng mất sức nặng của người trong cuộc.
Nói cách khác, mất cả ba tư cách nạn nhân, anh hùng và chứng nhân, người ta mất tất cả. Họ trở thành bình thường như bao nhiêu người bình thường khác. Họ lại thua những người bình thường khác ở chỗ: Họ ra ngoại quốc muộn hơn, gặp nhiều khó khăn trong tiến trình hội nhập vào cuộc sống mới hơn, bởi vậy, với một mức độ nào đó, họ cũng mất thế giá hơn. Đó là chưa kể trong môi trường tự do ở hải ngoại, người ta rất dễ bộc lộ những sự nghi ngờ hay đố kỵ nhắm vào những người mới từ Việt Nam sang: Họ là “tay sai” hay “sứ giả” của Việt Cộng sang phá hoại cộng đồng. Trường hợp của Nguyễn Chí Thiện trước đây là một ví dụ. Lúc còn trong nước, ông là một nhà thơ anh hùng; sang Mỹ, ông chỉ còn là một nhà thơ. Không những vậy, ông còn đối diện với những tin đồn thất thiệt, trong đó, có tin đồn ông chỉ là một Nguyễn Chí Thiện… giả.
Trong bài “Chuyện Cù Huy Hà Vũ sang Mỹ” đã đăng trên blog này năm ngoái, tôi có nêu lên kinh nghiệm của nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Lúc còn ở trong nước, các tác phẩm văn học cũng như các bài viết về chính trị của Dương Thu Hương được đón nhận nhiệt liệt. Từ năm 2006, bà sang sống hẳn ở Pháp. Sống ở đâu thì Dương Thu Hương cũng vẫn là Dương Thu Dương thôi. Vẫn thông minh, sắc sảo, thẳng thắn và tài hoa. Không có gì thay đổi. Nhưng rõ ràng là sự tiếp nhận của những người chung quanh, từ cộng đồng người Việt đến cộng đồng quốc tế, đã thay đổi: Bà chỉ còn là một nhà văn chứ không phải nhà văn đối kháng nữa. Với bà, người ta hờ hững dần. Và bà cũng im lặng dần.
Mà không phải chỉ có Dương Thu Hương. Lớn hơn Dương Thu Hương rất nhiều, nhà văn Alexander Solzhenitsyn, giải Nobel văn chương năm 1970, bị trục xuất khỏi Nga vào năm 1974; và sau một thời gian ngắn sống ở Tây Đức và Thụy Sĩ, ông được mời sang Mỹ. Ông định cư ở Mỹ cho đến năm 1994, khi chế độ cộng sản đã sụp đổ tại Nga, ông mới về nước. Trong gần 20 năm ở Mỹ, Solzhenitsyn chỉ sống một cách lặng lẽ ở một địa phương khuất lánh heo hút. Trừ sự ồn ã ở vài năm đầu, sau đó, dường như người ta quên mất ông, hơn nữa, có khi còn bực bội vì ông. Một số quan điểm của ông, lúc còn nằm trong nhà tù Xô Viết, được xem là dũng cảm; lúc đã sống ở Mỹ, ngược lại, lại bị xem là cực đoan.
Cả Solzhenitsyn lẫn Dương Thu Hương đều không phải là những người làm chính trị. Họ chỉ là những nhà văn, khi còn trong nước, được xem là đối kháng. Nhưng ngay cả khi là một nhà văn, người ta còn không được nghe, huống gì chỉ là một người hoạt động chính trị? Cơ hội để được nghe chắc chắn sẽ hiếm hoi hơn nhiều.
Bởi vậy, việc trục xuất những người bất đồng chính kiến ra khỏi nước được xem là một cách vô hiệu hoá họ. Chiến thuật này đã từng được Liên Xô sử dụng thường xuyên trong suốt thời chiến tranh lạnh.
Bây giờ đến lượt Việt Nam.
TÂM TƯ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC THỜI SỰ CỦA GIÁO HỘI
Lời người dịch: Đọc trong tập san S.J.M. tôi thấy bài của một linh mục viết về thời sự Giáo hội rất thiết thực và sâu sắc, rất đáng cho các Kitô hữu dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân cùng suy tư. Xin chia sẻ với độc giả.
Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng Nhà Hưu Dưỡng linh mục Cần Tho
1.1 Cho Chúa Kitô.
Ôi Chúa Kitô, Chúa đẹp nhất trong con cái loài người, con yêu Chúa!
Ôi Chúa Kitô, Chúa là nạn nhân đến nỗi không còn hình tượng là người nữa và mình đầy thương tích, con yêu Chúa, ôi, con càng yêu hơn biết bao!
1.2 Cho Giáo hội.
Ôi Giáo hội trong sạch và vô nhiễm tội, Giáo hội là Hiền thê của Con chiên không tì vết, con yêu Giáo hội.
Ôi Giáo hội bị chia rẽ và bệnh tật, Giáo hội là Hiền thê của Đấng vô tội bị xé xác, con yêu Giáo hội, ôi, con càng yêu hơn biết bao!
1.3 Cho linh mục.
Ôi đúng vậy! đã mất đi bao thời giờ, lạy Chúa!
2.1 Ngoài kia có bao nhiều kẻ trần truồng….
“Lạy cha, Con van xin Cha để chúng nên một, như Cha và Con là một …”
2.2 Ngoài kia mọi người đang đói!
Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn!
Tất cả anh em hãy cầm lấy mà uống!
2.3 Ngoài kia có những trái tim đang chết.
A! Tôi yêu Giáo hội có muôn ngàn gương mặt biết chừng nào, Giáo hội là mẹ tôi có muôn mặt! Tôi yêu Giáo hội được xây móng trên Phêrô và nghiêng mình trên Gioan. Tôi yêu Giáo hội chú mắt vào Đức Maria như ánh sao và nhận ra mình rất đúng nơi Tôma.
“Chúa sẽ không bẻ gẫy cây sậy bị giập, Chúa sẽ không dập tắt tim đèn còn leo lét, mà sẽ xét xử trong tất cả sự trung trực”.
Đó là trò chơi độc ác đối với những ai khám phá rằng cuộc sống không phải là một trò chơi! Tốt hơn là người ta xóa bỏ những cách gọi tên không được kiểm tra. Và ban đêm, người ta xây tường – Ô, đúng vậy, đúng là việc làm của ban đêm! – Đáng lẽ là khắp nơi người ta phải xây các cây cầu.
2.4 Ngoài kia có những người đang chết đuối.
Chúa chẳng cho mưa xuống trên người lành và trên cả người dữ sao?
3.1 Tôi yêu Giáo hội không có các giai cấp và không có các nhãn hiệu. Nhưng tôi cũng yêu Giáo hội như Giáo hội hiện đang là: có các bức tường và các nhãn hiệu. Phải chăng đó là cách tốt nhất để chữa lành Giáo hội?
3.2 Tôi yêu Giáo hội cởi mở toàn vẹn, không đe dọa, không ngờ vực, không lãnh đạm. Nhưng tôi yêu Giáo hội như Giáo hội hiện đang là: với những mánh lới và loại bỏ những sợ hãi và những chuyện gây hiếu kỳ. Phải chăng đó là cách tốt nhất để làm cho Giáo hội đẹp hơn?
3.3 Tôi yêu Giáo hội biết cảm thương đang đứng dưới chân mọi người bị đóng đinh vào thập giá. Nhưng tôi cũng yêu Giáo hội còn cứng cỏi, Giáo hội loại trừ mà không lắng nghe và không còn biết khóc với kẻ khóc nữa. Phải chăng đó là cách tốt nhất để làm cho Giáo hội mềm mỏng hơn?
Tóm lại, tôi không yêu một người mẹ mà tôi mơ, tôi mơ một người mẹ mà tôi yêu.
From: vongtaysongnguyen
Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Tĩnh tâm hay cấm phòng là những chữ trong nhà đạo chỉ về một sinh hoạt thường xuyên của Hội Thánh dành cho các Kitô hữu nhằm giúp người ta có thời gian nghỉ ngơi, khôi phục, củng cố đời sống tâm linh và định hướng cho cuộc sống. Có khi người ta dùng thời gian tĩnh tâm hay cấm phòng để suy nghĩ về một tình huống quan trọng nào đó hoặc để xin một ơn cần thiết cho chính mình. Tùy hoàn cảnh sống mà người ta chọn lựa thời điểm các cuộc tĩnh tâm và thời gian tĩnh tâm. Đối với các Tu Sĩ, tĩnh tâm trở thành một chương trình sống bắt buộc được ghi vào
khoản lề luật Dòng.
Tôi vừa tham dự tĩnh tâm cùng với một Đan Viện trong khoảng thời gian 10 ngày. Mười ngày tách biệt khỏi cuộc sống thường nhật, ẩn mình trong bầu khí tĩnh lặng, nghiêm trang và thánh thiện của đời sống đan tu đã cho tôi rất nhiều cảm nghiệm và niềm vui làm khỏe mạnh tâm hồn.
Khung cảnh tràn ngập cây xanh, không gian thoáng đãng, tiếng chim hót rộn vang mỗi sáng, những tia nắng trong lành ban mai xuyên qua cành lá, tiếng chuông chiều trầm mặc ngân vang, những bóng dáng của các Đan Sĩ ẩn hiện thấp thoáng thầm lặng, cảm giác đi chân trần trên những phiến gạch sạch sẽ đã giúp tôi tìm lại được sự nhẹ nhàng, bình an và thanh thản.
Mỗi ngày, khi bóng tối còn dày đặc không gian, khi những giọt sương đêm vừa hình thành kết tụ, khi muôn loại còn đang thiếp ngủ say, khi đồng hồ sinh học đang tiến vào khoảng thời điểm nghỉ sâu nhất, thì tiếng chuông đã đột ngột ngân vang giữa đêm vắng, một giọng nam chắc khỏe xướng lên “Nào ta hãy chúc tụng Chúa” cả Đan Viện bừng lên lời đáp “Tạ ơn Chúa”.
Ta có thể nghe thấy tiếng nhảy của đôi chân xuống sàn nhà, ánh đèn từng căn phòng bừng sáng lên, tiếng ho đầu ngày, tiếng nước chảy… Mười lăm phút sau tất cả đã có mặt ở Nhà Nguyện. Nhẹ nhàng từng chiếc bóng trong tu phục với áo khoác ngoài, các Đan Sĩ bắt đầu một ngày mới, một ngày “cầu nguyện và lao động” (Ora et Labora – châm ngôn của đời đan tu).

Tiếng chiêng thủng thỉnh ngân lên, kéo dài và vang dội, dứt tiếng chiêng, giờ kinh ban mai khởi sự. Một ngày họ dành hơn 6 tiếng cho việc cử hành Phụng Vụ thờ phượng Thiên Chúa, tất cả các giờ kinh Phụng Vụ: Kinh Ban Mai (Kinh Sáng), Kinh Trưa Giờ Ba, Giờ Sáu và Giờ Chín, Kinh Chiều, Kinh Tối và Kinh Đêm (Kinh Sách), Thánh Lễ.
Ngoài các giờ Phụng Vụ thờ phượng, các Đan Sĩ còn có giờ suy ngẫm, giờ lần chuỗi Mai Khôi, giờ đọc sách thiêng liêng và chầu Thánh Thể. Có thể nói toàn thời gian họ dành cho việc cầu nguyện và thờ phượng Chúa. Một ngày họ lao động để mưu sinh ít giờ, ngay cả trong lao động họ cũng phải giữ luật thinh lặng những khi cần thiết.
Có một câu chuyện vui không biết có thật hay không. Một Đan Sĩ nọ lo thư viện, ông ta lấy cuốn sách bị ẩm ướt ra và đưa cho vị Đan Sĩ làm bếp, ông ra dấu bảo người bạn tu hơ cuốn sách trên lửa cho khô sách, nhưng vì giữ luật không nói nên vị kia tưởng bạn mình nhờ đốt sách, ông ta quăng cả cuốn sách vào bếp cháy tiêu!
Mỗi tuần khi thay đổi phiên làm việc, các Đan Sĩ lo làm bếp, giúp bàn ăn, lo đọc sách vào giờ cơm, họ lần lượt ra trước cộng đoàn trong Nhà Nguyện, mọi người cầu nguyện cho những vị này chu toàn trách nhiệm phục vụ của mình trong lòng yêu mến, những vị ra khỏi phiên làm việc cũng ra trước cộng đoàn xin lỗi vì những sai lầm hoặc thiếu sót trong việc bổn phận. Sứ mạng của họ là cầu nguyện cho mọi người, cho Hội Thánh, cho toàn thế giới. Bảng ghi lời xin cầu nguyện dày đặc các tờ giấy của khách thập phương đến xin ơn…
Mấy ngày nay, không gian sống ở Đan Viện Thiên An Huế dậy sóng, từ lâu rồi, nhà cầm quyền lấy nhiều mảnh đất của Đan Viện này làm khu vui chơi khai thác kinh doanh, làm thu hẹp không gian sống của Đan viện, làm mất việc lao động mưu sinh của các Đan Sĩ, phá vỡ bầu khí trầm lắng cô tịch của Đan Viện. Gần đây họ tiếp tục lấy nốt các phần đất còn lại của hơn 100Ha rừng thông sở hữu của Đan Viện từ khi thành lập.
Một đoạn video lan truyền trên mạng hình ảnh các Đan Sĩ quỳ cầu nguyện khi nhà cầm quyền hạ cây Thánh Giá biểu tượng của Kitô giáo trên đỉnh một đồi thông, trong video này có cảnh một nhân viên nhảy lên cánh phải Thánh Giá khi đã bị hạ xuống, ông ta đập vỡ cánh tay bên phải của Chúa Giêsu.
httpv://www.youtube.com/watch?v=0QtpQGj461I
Không chỉ Thiên An Huế, nói riêng về Đan Viện, nhiều Đan Viện đã bị lấy một cách thô bạo như vậy, Nhà Kín Hà Nội, Nhà Kín Thanh Hóa, Nhà Kín Bùi Chu… Sau năm 75 ở miền Nam, Đan Viện đầu tiên bị xóa sổ là Đan Viện Phước Sơn Thủ Đức, Đan Viện này ngày nay trở thành trường Cảnh Sát Nhân Dân, tên hành chánh đổi là quận 9. Hai chữ Phước Sơn còn nguyên nên có những anh cảnh sát khoe mình học ở trường Phước Sơn ra. Học ở Phước Sơn là học cầu nguyện, học yêu thương chứ không phải học để đi… cướp đất người khác !
Đúng khi ngồi viết những hàng chữ này, Kinh Sách của Hội Thánh đang suy niệm về cuộc đời và sự nghiệp của Ngôn Sứ Elia (1V 17, 1 tt. Tuần thứ 15 Thường Niên), hôm nay Thứ Tư là câu chuyện vua Akháp cướp vườn nho của Navot, vườn nho của gia tộc nhọc công khai phá, gia đình Navot chăm sóc giữ gìn. Vua Akháp đã cướp bằng cách xui người vu khống tội cho Navot, lập tòa án xử tử hình, ném đá Navot, rồi cướp vườn nho làm vườn rau !
Có lời Đức Chúa phán với ông Êlia, người Títbe, rằng: “Ngươi hãy đứng dậy, xuống gặp Akháp, vua Ítraen, ở Samari. Này, nó đang ở trong vườn nho của Navốt, vì nó đã xuống chiếm đoạt vườn nho ấy. Ngươi hãy nói với nó rằng: “Đức Chúa phán thế này: Ngươi đã giết hại, lại còn chiếm đoạt nữa ư ? ngươi hãy nói với nó, Đức Chúa phán thế này: Tại chính nơi chó đã liếm máu Navốt, thì chó cũng sẽ liếm máu ngươi” (1V 21, 17 – 19).
Ai sẽ là Elia những ngày tháng này của chúng ta ?
Lm. VĨNH SANG, DCCT,
thứ tư 13.7.2016
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.
Không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,1).
Với trí khôn và sự khéo léo Thiên Chúa ban, con người ra sức khám phá tiềm năng phong phú của trái đất, vừa biến nó trở thành những phương thế phục vụ cho đời sống của con người, vừa bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên sao cho hài hòa với sự vận hành của thiên nhiên. Với ý nghĩa đó, con người thật sự vừa là chủ, theo nghĩa là đại diện chính thức, nắm toàn quyền trên công trình sáng tạo, có quyền sở hữu trên các thành quả lao động và trí tuệ, vừa là quản lý trung tín và khôn ngoan đối với môi trường thiên nhiên mà Thiên Chúa đã trao vào tay con người. Vì thế, con người phải chứng tỏ có đủ khả năng, bản lãnh xứng với kỳ vọng của Thiên Chúa để thi hành trách nhiệm Thiên Chúa giao phó.

Hơn bao giờ hết, ngày nay con người đã thấm thía với những cách hành xử thô bạo, tham lam và ngu dốt đối với thiên nhiên, cái nôi và môi sinh duy nhất để con người sống và tồn tại. Con người không thể sống và tồn tại nếu không tôn trọng và quý mến môi trường thiên nhiên, được hiểu là tất cả các sinh vật sống trong đó, thực vật cũng như động vật, đất, nước, sông ngòi và đại dương, cũng như những trật tự vận hành nên thời tiết khí hậu của các vùng, miền khác nhau trên trái đất. Mọi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của con người đều phải gắn liền với mối quan tâm bền vững, tránh làm tổn hại đến môi trường thiên nhiên và các sinh vật sống trong đó.
Thông điệp Laudato Si (Chăm sóc ngôi nhà chung) của Đức Phanxi cô như muốn triển khai rõ ràng, cụ thể hơn những gì Giáo Huấn Xã Hội của Giáo hội Công giáo, chương 7, bàn về Bảo vệ môi trường, ở trên bình diện quốc tế. Ngài khẩn thiết kêu gọi sự chú ý của mọi người, ra khỏi sự vô cảm, tận tâm và tận lực chung sức với nhau chữa lành những tổn thương của trái đất, nhất là gieo ý thức tôn trọng và bảo vệ môi trường thiên nhiên như vấn đề sinh tử. Ngài nói: “Chúng ta cần đến sự liên đới toàn cầu cách mới mẻ… cần đến các tài năng và đấn thân của tất cả mọi người, để làm tốt những gì con người đang lạm dụng, gây tổn thất cho sáng tạo của Thiên Chúa” (LS, số 14)
Chủ nhân ông ngu dốt, tham lam và vô trách nhiệm.
Xã hội Việt Nam hôm nay, dưới góc độ xem xét thái độ của con người đối với môi trường thiên nhiên cho thấy cơn khủng hoảng ghê rợn đang càn quét những giá trị có nguyên nhân chính yếu từ việc con người phủ nhận vai trò của Thiên Chúa là chúa tể, là đấng xét xử muôn loài và không còn yêu quý món quà thiên nhiên Thiên Chúa ban tặng.
Loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm, chỉ biết chạy theo tham vọng bất chính, bất nhân, con người phá vỡ trật tự hòa điệu do Thiên Chúa thiết lập trong vũ trụ; không tuân thủ luật lệ Thiên Chúa, lấy đó làm nguyên lý, làm chuẩn mực tuyệt đối trong mọi hành vi đối xử với tha nhân và với môi sinh; bị cuốn hút vào men say chiếm hữu và tham lam một cách ngu dốt và vô trách nhiệm, con người càng đày đọa nhau vào mọi thứ thảm họa khủng khiếp chẳng thể thoát ra.
Có thể coi đó là những thứ hình phạt giáng trên con người do sự chống cưỡng những luật hài hòa trong thiên nhiên mà Thiên Chúa đã thiết định. Hình phạt của tội lỗi giáng trên chính những kẻ phạm tội và làm liên lụy đến những người khác, đến cái nôi của sự sống. Việc khai thác có tính tận diệt các tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất đai, thủy hải sản…đã gây ra hiệu ứng nhà kính, sa mạc hóa, bão tố, lũ lụt,… phải chăng là đòn “gậy ông đập lưng ông” của vạn vật chống lại tội lỗi con người, hối thì đã muộn?
Đã có nhiều sự phân tích và đánh giá sơ khởi về tác động môi trường, về đời sống và điều kiện kinh tế của người dân sống quanh vùng, những tác động lợi và hại, trực tiếp và gián tiếp, trước mặt và lâu dài trong thời gian qua Fomosa, khi nhà máy luyện gang thép Formosa cố ý xả thải những chất độc hại ra môi trường thiên nhiên, gây những tổn thất không thể bù đắp lại cho con người và môi trường, đặc biệt hệ sinh thái ở biển.
Theo “Thời báo Kinh tế Saigon”, với công suất ở giai đoạn 1 là 15 triệu tấn thép/ năm, Formosa sẽ thải ra môi trường: khí thải gần 36 triệu tấn/năm, nước thải các chất ô nhiễm trên 28.000 tấn/năm, chất thải rắn gần 9 triệu tấn/năm chưa qua xử lý.
Nếu tính tổng lượng phenol và xyanua trong nước thải của Formosa trước khi xử lý khoảng 120 tấn/năm hay 0,36 tấn/ngày. Như vậy, trong năm ngày nhà máy mất điện, không xử lý được nước thải, tổng lượng phenol và xyanua đã thải ra biển Vũng Áng mà Bộ TN-MT công bố là nguyên nhân chính gây ra thảm họa cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế trong tháng 4-2016 vừa qua, là 1,82 tấn (giả định chạy theo công suất của giai đoạn 1). “Chỉ” 1,82 tấn phenol và xyanua trong năm ngày mà phá hủy gần như toàn bộ rạn san hô trên 200 cây số bờ biển miển Trung mà có khi cần đến cả trăm năm để phục hồi, hàng triệu ngư dân miền Trung và gia đình của họ bị đẩy vào thảm cảnh bế tắc và không thể nói trước được tương lai của họ thế nào.
Nếu tính theo giấy phép xả thải mà Formosa đã được cấp với lưu lượng 45.000 mét khối/ngày, chỉ riêng với nồng độ phenol hay xyanua cho phép là 0,585 mg/l, thì tổng lượng phenol và xyanua sẽ thải ra biển Vũng Áng trong điều kiện Formosa vận hành ổn định và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép sẽ là 17,37 tấn/năm, tức là lớn gấp 9,5 lần so với lượng thải của năm ngày gây ra thảm họa. Thử hỏi có sinh vật nào còn tồn tại và biển sẽ ra sao trong vòng 70 năm nhà máy Formosa được cấp phép hoạt động?.
Sau nước thải là khí thải. Chỉ riêng khí CO2 thải ra của Formosa đã đạt đến 34,5 triệu tấn/năm, so với tổng lượng phát thải khí nhà kính năm 2020 của tất cả các ngành sản xuất và xây dựng là 68,3 triệu tấn/năm, chiếm đến trên 50,5% tổng lượng phát thải khí nhà kính trong toàn bộ các ngành sản xuất và xây dựng tại Việt Nam! (không kể ngành công nghiệp sản xuất năng lượng), theo báo cáo dự báo phát thải khí nhà kính của Bộ TN-MT năm 2014.
Và sau đó là những thảm họa do thiên tai như hạn hán, lũ lụt xảy ra khắp cả nước trong thời gian qua với cường độ tác hại ngày càng lớn góp phần làm nghiêm trọng thêm tác động do biến đổi khí hậu đến mức nào?
Còn những chất ô nhiễm độc hại khác như, bụi và khí kim loại gần 1 triệu tấn/năm có nguy cơ rất cao gây ra các bệnh về đường hô hấp, trong đó có ung thư phổi. Khí SO2 và NOx là những khí gây ra mưa axit, làm suy giảm chất lượng đất, chất lượng nước, giảm năng suất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cũng đạt đến lượng phát thải theo thứ tự là 33.000 tấn/năm và 34.500 tấn/năm.
Có hai điều đáng nói về QCVN 51:2013/BTNMT, đó là quy định chỉ tiêu dioxin/furan chỉ được áp dụng từ ngày 1-1-2017, và nồng độ bụi cho phép cao gấp 2-5 lần so với hướng dẫn của IFC (100 mg/Nm3 so với 20-50 mg/Nm3, trong đó IFC đề nghị áp dụng 20 mg/Nm3 khi trong bụi phát hiện có các kim loại độc hại). Dioxin, thành phần chính của chất độc màu da cam mà không lạ gì với người dân Việt Nam, là tác nhân gây chết người, ung thư và để lại nhiều di chứng về sức khỏe cho nhiều thế hệ; Dioxin/Furan là những hợp chất có độc tính cao nhất được biết trong khoa học cho đến nay.

Ngay cả bụi phát sinh từ các ống khói nhà máy liên hợp sản xuất thép có tính chất là bụi lơ lửng (SPM), trong đó hàm chứa rất nhiều các kim loại nặng độc hại khác nhau như asen, thủy ngân, cadmi, chì, niken, crôm, kẽm, mangan… Vậy thì, dioxin/furan độc hại như thế, sao chỉ yêu cầu áp dụng từ ngày 1-1-2017? Bụi lơ lửng phức tạp với nhiều kim loại nặng độc hại như thế, dựa vào đâu để cho phép thải với nồng độ quá cao so với tiêu chuẩn quốc tế?
Ngoài ra, hiện nay giấy phép xả thải chỉ mới được áp dụng cho nước thải và chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại, còn giấy phép xả thải cho khí thải chỉ được áp dụng sau ngày 1-1-2018, theo quy định trong Nghị định số 38/2015/NĐ-CP. Với nguy cơ ô nhiễm do khí thải của Formosa Hà Tĩnh như hiện nay, rõ ràng không có lý do gì phải trì hoãn việc áp dụng giấy phép xả thải cho khí thải đến sau ngày 1-1-2018. Việc áp dụng giấy phép xả thải cho khí thải càng sớm càng tốt sẽ góp phần ngăn ngừa thảm họa môi trường do ô nhiễm không khí từ Formosa Hà Tĩnh có thể gây ra cho đồng bào miền Trung…
Chỉ có Bộ TN-MT với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp và cao nhất trong Chính phủ về các lĩnh vực môi trường, tài nguyên nước, biến đổi khí hậu… mới có thể trả lời những câu hỏi đó.
Tới hôm nay, dư luận lại “dậy sóng” một lần nữa vì có sự “cấu kết” giữa ông Lê Quang Hòa, Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Quản lý môi trường đô thị Kỳ Anh và nhà máy Formosa với việc chôn lấp khỏang 100 tấn chất thải trong trang trại của ông ở phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, nơi rất gần nguồn nước cấp cho người dân ở đây. Chưa biết kết quả thế nào, có đúng với số liệu phân tích, thông số đo lường hay vẫn “đúng quy trình”,” ở trong ngưỡng cho phép”, có thể trồng cỏ, nuôi bò, thả dê làm nguồn thực phẩm, như việc các quan chức Đà Nẵng tắm biển, ăn hải sản khi chưa có kết quả nguyên nhân vụ cá chết, để khuyến khích người dân trước đây?
Vẫn biết điều đáng sợ nhất là con người phải ra trước tòa Thiên Chúa để trả lẽ về những gì nó đã làm. Thiên Chúa Là Đấng thi hành công lý. Người xét xử, phân định tội phúc công minh, nhưng Người còn là Cha giàu lượng thương xót, Người luôn biểu lộ tình thương ngay cả khi sửa trị lỗi lầm của con người. Điểm độc đáo của công lý của Thiên Chúa là chú trọng mục đích giáo dục để cải hóa, cứu chữa và phục hồi phẩm giá của tội nhân, chứ không nhắm vào mục tiêu trừng phạt và báo thù như công lý con người. Công cuộc hòa giải tội nhân với Thiên Chúa do Chúa Kitô thực hiện (LS, số 100) là sự phối hợp diệu kỳ giữa hai điều tưởng chừng mâu thuẫn, vì yêu thương mà không có công lý chỉ là thứ tình yêu mù quáng và công lý nếu thực thi với quả tim vô cảm là thứ công lý của hận thù
Vì vậy, việc cổ vũ và giáo dục ý thức cộng đồng chung sức bảo vệ môi trường vừa là trách nhiệm pháp lý theo nguyên tắc công ích xã hội, vừa là một sự thức tỉnh lương tâm cộng đồng đứng trước nguy cơ hủy diệt, nhưng trước hết chính là để bảo vệ phẩm giá của mình trong tư cách là chủ tể trái đất.
Việc học hỏi Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội Công giáo và Thông điệp Laudato Si của Đức Phanxi cô nhắm mục đích ấy cũng như tin tưởng khả năng con người có thể sửa chữa những lỗi lầm trong quá khứ, tài bồi thêm vẻ đẹp sự sống của trái đất và gìn giữ cho thế hệ tương lai một hành tinh xanh, một ngôi nhà chung là môi trường thiên nhiên.
13/7/2016
Jos. Ngô Văn Kha, C.Ss.R.
PHẢI CHĂNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG TÔI ĐÃ CHẾT?
EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.
Triết gia J.P. Sartre đã khẳng định: “Tha nhân là hỏa ngục.” Dường như lời phát biểu này được thốt ra trên môi miệng của một người đang trong cơn bấn loạn và mất bình an. Ông đã phóng chiếu cái nhìn nội tâm lên ánh mắt của tha nhân để rồi ông chỉ nhận ra tha nhân coi mình như một sự vật chẳng hơn chẳng kém. Có thể nói, tư tưởng này phần nào đã dẫn lối cho những chủ trương sống phóng túng và bất cần sự hiện hữu của tha nhân. Và như thế, tha nhân đang phải đối diện trong tình trạng dở sống dở chết chẳng làm tôi mủi lòng. Phải chăng lòng thương xót trong tôi đã chết?
Chúng ta đang sống trong một xã hội đề cao duy vật hưởng thụ, “chân lý bằng với chân giò”, “nhân phẩm chỉ ngang giá thực phẩm” thì đâu là bậc thang giá trị để định hướng con người thăng tiến? Gặp một người bị nạn giữa đường, tôi dừng lại và cúi xuống ra tay thi thố lòng thương xót, nào ngờ lại bị chính nạn nhân trở mặt cướp của giữa ban ngày, hay đứng trước một cuộc ẩu đả, người này vô tay, người khác lấy máy quay phim chụp hình, mặc cho nạn nhân bị đe dọa đến tính mạng… Đứng trước những tình cảnh bi đát đại loại như thế, Đức Phanxicô phải kêu gào nhân loại: Hãy tránh tình trạng toàn cầu hóa sự dửng dưng. Phải chăng lòng thương xót trong tôi đã chết?
Tôi đã rảo quanh trên khắp nẻo đường dương thế để tìm những tâm hồn có lòng thương xót. Tôi đã thấy một gã xe ôm gầy nhom đang chở một ả mua hương bán phấn trên đường X. Bỗng thình lình gặp một chàng thiếu niên bị tai nạn dọc đường, họ quyết định cứu giúp nạn nhân. Họ cho lên xe chở vào bệnh viện gần đó để cấp cứu. Vì máu ra quá nhiều, người phụ nữ này đã cởi áo mình ra để băng bó vết thương nạn nhân. Nàng đã cứu người bất chấp thân thể lõa lồ của mình. Đến bệnh viện, y tá nghi ngờ đây là một ca “có vấn đề”, cô chần chừ và e ngại. Một lát sau, cô đòi tiền tạm ứng để nhập viện, cả ông xe ôm và cô điếm móc tiền trong túi ra nhưng không đủ, buộc ông này phải đi cầm chiếc xe cũ kỹ tại một tiệm cầm đồ. Ông đã cứu người bất chấp sự an toàn là chiếc xe làm phương tiện nuôi sống bản thân và gia đình. Cả hai đang chờ tin tức mới thì được báo tin: Nạn nhân cần tiếp máu trực tiếp vì máu ra quá nhiều. Một lần nữa cả hai lại xung phong xét nghiệm máu để có thể cứu sống nạn nhân. Họ bất chấp mọi nguy hiểm bản thân để cứu sống người khác… Tôi đã tìm thấy lòng cảm thương giữa một xã hội đua chen đi tìm thú vui hưởng thụ. Phải chăng chỉ có những con người bị xã hội coi thường vì làm những việc tay chân thấp kém, hay bị xã hội sỉ nhục vì bán thân nuôi mình, những con người bị tổn thương ấy lại có một tấm lòng quảng đại? Họ là niềm hy vọng cho những người thiện chí vì họ đã bất chấp thân thể, bất chấp sự nguy hiểm bản thân để thực thi lòng thương xót.
Thật vậy, lòng thương xót là hoa trái của tình yêu mà Thiên Chúa đặt để trong lòng con người, không thể chết. Nó như một lớp than hồng đang tạm thời bị bao phủ bởi một lớp tro nào đó; lớp tro của nền văn hóa hưởng thụ, văn hóa sự chết hay một ý thức hệ nào đó…
Lòng thương xót là mầm thiện mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng người; nó chỉ chết khi nào con người không còn tồn tại trên thế gian này. Tất cả chúng ta đều được mời gọi làm cho mầm sống ấy đơm hoa kết trái trong cuộc đời để nỗi đau được vơi đi và niềm vui tăng trưởng mãi.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng để làm gì em biết không? – để gió cuốn đi… Chúng ta cần để gió cuốn đi những lớp tro vị kỷ và để cho lòng thương xót như lớp than hồng sưởi ấm tấm lòng con người. Nhờ đó, sự lạnh lùng băng giá, sự thờ ơ lãnh đạm, toàn cầu hóa sự dửng dưng… không còn cản bước tiến của chúng ta trên đường hành thiện, thực thi lòng thương xót.
Nếu đã xác quyết: tư tưởng dẫn đến hành động, chúng ta sẽ không để cho tư tưởng: tha nhân là hỏa ngục tồn tại trong tâm trí mình. Mặc dù, có đôi khi nó là tiếng nói nội tâm của ta trong một quãng đời đen tối nào đó; nó cũng không được quyền làm ta ngã quỵ mà thỏa hiệp với những chủ trương thế tục. Con người sẽ sống ra sao nếu không còn lòng thương xót? Tha nhân không là hỏa ngục nhưng một thế giới vắng bóng lòng thương xót là hỏa ngục trần gian. Đúng thế, Tha nhân là nạn nhân đang chờ ta thi thố lòng xót thương.
Cục than hồng của lòng thương xót có thể sưởi ấm một con tim giá lạnh và thắp sáng một cõi lòng u mê. Nhưng nó cũng có thể làm tổn thương cho ai đụng chạm vào nó. Lòng thương xót khả dĩ chữa lành nhiều vết thương, đồng thời, có nguy cơ làm tổn thương hơn những tâm hồn tế nhị.
Lòng thương xót là quà tặng mà Thiên Chúa đã trao cho mỗi người, đòi buộc ta phải trao ban. Tuy nhiên, trao ban cách nào là cả một nghệ thuật nếu không, chúng ta dễ ảo tưởng mình là một kẻ trên cao có quyền ban phát: đó là lòng thương hại. Có thể nói, thi thố lòng thương xót là một nghệ thuật phát xuất từ con tim, nghĩa là nó không những đòi hỏi một thái độ thấu cảm mà còn phải hiểu lý lẽ của con tim mình mà đến với tha nhân; một người đã từng bị tổn thương dễ dàng tìm cách để băng bó những tấm lòng tan nát. Người ấy đáng được Chúa chúc phúc: Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.