Bravo Nghệ An.

Bravo Nghệ An.

Người dân Nghệ An đổ xô đi nghe giảng về thảm họa môi trường hiện nay ..vạch mặt âm mưu của Trung cộng ….

Hơn 50 ngàn người dân Nghệ An đã đến tập trung và nghe các linh mục,đức cha…. giảng về thảm hoạ môi trường hiện nay. Sau những chia sẻ sâu sắc về thảm hoạ môi trường và chỉ ra hiểm hoạ từ bọn Tàu gây nên.Nhắc nhở mỗi người dân cần có nhận thức đúng đắn về thảm hoạ môi trường đã xảy ra.

Trước sự hiện diện của hàng chục linh mục, và trên 5 vạn giáo dân và lương dân, Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp cai quản giáo phận Vinh đã có bài chia sẻ sâu sắc. Ngài dựa trên câu chuyện xung quanh bàn ăn để nói về thảm họa môi trường, về sự thê thảm của “mâm cơm” văn hóa, giáo dục, kinh tế… ở Việt Nam, và chỉ rõ ra nguyên nhân thảm họa môi trường là xuất phát từ Trung Cộng.

Mở đầu bài giảng Đức Cha Nguyễn Thái Hợp nói “Chúng ta đang sống trong thời khắc bi thảm, vì chưa bao giờ đất nước chúng ta trải qua một thảm họa môi trường biển như đã xảy ra cách đây hơn hai tháng.”

Ngài nêu lên đòi hỏi của người dân trước sự thờ ơ và vô cảm của nhà cầm quyềnvới bi kịch của đất nước: “…Hôm nay môi trường đó đã bị nhiễm độc và biển đang kêu lên từ hai tháng qua, nhưng vẫn không có được một giải đáp đâu là nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường, và ai là người đã gây ra thảm họa môi trường. Chúng ta phải tiếp tục can đảm yêu cầu nhà cầm quyền, những người có trách nhiệm với đất nước với đồng bào mình phải công bố nguyên nhân. Công bố càng sớm càng hay! Và yêu cầu ai là người đã gây tác hại cho môi trường biển phải đền bù cho ngư dân thỏa đáng.”

Ngài đã trích dẫn 4 câu thơ trong bài “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình buồn quá phải không anh

Biển bạc rừng xanh cánh đồng lúa biếc

Rừng đã hết và biển thì đang chết

Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…”

Ngài chia sẻ về thực trạng của người dân Miền Trung qua những chuyến đi, thao thức cho thân phận và cuộc sống của ngư dân. Hệ lụy của tình trạng ô nhiễm môi trường đã khiến cho cuộc sống của người dân điêu đứng.

Một cách đầy thi vị và thực tế Đức Cha Hợp đã minh chứng điều đó qua “mâm cơm” của người dân bây giờ. Ngài nói: “bàn ăn của người Việt Nam hôm nay đầy nghi nan. Những món ăn ta nhìn trước mặt đầy nghi vấn, có hóa chất hay không, có yếu tố Trung Quốc hay không?”

Diễn giải thêm về sự tai hại khi quá lệ thuộc Trung Cộng, và thiếu tỉnh táo từ chính quyền, ngài nói: “…Những hàng rẻ đến từ Trung Quốc đang là nguyên nhân thảm họa thực phẩm bẩn, thảm họa môi trường. Ngay cả mua đồ chơi cho trẻ em với hàng rẻ của Trung Quốc. Vô hình trung, chúng ta gây tác hại cho con em chúng ta sau này do những hóa chất của chúng…”

Cần nói thêm, cũng tại Linh địa Trại Gáo vào tối ngày áp lễ 12.06, chương trình diễn nguyện mừng lễ Thánh Antôn với chủ đề “Thập tự đồi cao” đã được tổ chức với sự tham dự của các ca sĩ nổi tiếng: Phan Đình Tùng, Bảo Thy, Siu Black, Nguyễn Hồng Ân, linh mục nhạc sĩ Xuân Đường CSsR, Lệ Thu, Lưu Bá Vĩnh, Đức Thiện, bé Nhật Tiến, Ca đoàn Cecilia giáo xứ Mỹ Yên, Vạn Phần, Cửa Lò… Đêm diễn nguyện là một bữa tiệc với những tiết mục độc đáo và đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Những dịp đại lễ và tập trung đông đảo thế này luôn là một nỗi sợ hãi cho nhà cầm quyền, nên họ đã gia tăng lực lượng để theo dõi cách sát sao các diễn biến sự việc.

Trại Gáo có lịch sử trên 100 năm, là nơi kính thánh Antôn, một vị được Đạo Công Giáo tôn phong như vị thánh tiến sĩ vì những nhân đức cao cả và lòng thương xót tới mọi người. Trại Gáo thuộc giáo xứ Mỹ Yên, là nơi công an CSVN từng bố ráp và đánh đập thô bạo giáo dân vì những đòi hỏi vô lý từ phía nhà cầm quyền.

Cùng sự nhiệt thành của người dân xứ Nghệ, bài giảng của Đức giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp trước hơn 50 ngàn người đã tác động lớn đến nhận thức của quảng đại quần chúng về hiện trạng đất nước.

Fb Maui Tran
Khanh Lam Nguyen

NGHE AN

 

 

 

 

 

NGHE AN 2

 

 

 

 

 

 

DC NGUYEN THAI HOP

Hà Nội: Một bác sỹ tẩm xăng tự thiêu tại nhà riêng

Hà Nội: Một bác sỹ tẩm xăng tự thiêu tại nhà riêng

Mặc dù được gia đình đưa đi cấp cứu tại Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác, nhưng nạn nhận đã tử vong do vết bỏng quá nặng.

Chiều 13/6, tại một căn nhà thuộc khu 7, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội xảy ra một vụ tẩm xăng tự thiêu khiến người dân địa phương xôn xao.

Trao đổi với phóng viên sáng ngày 15/6 , ông Bùi Hữu Quất, Trưởng Công an thị trấn Trạm Trôi xác nhận có vụ việc tự thiêu xảy ra trên địa bàn vào cho biết nạn nhân anh Phan Thanh H (SN 1973) hiện đang là bác sỹ công tác tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng.

Theo ông Quất, vụ việc xảy ra vào khoảng 16h30 phút chiều 13/6. Do buồn chán chuyện gia đình, anh H đã mua xăng về nhà rồi đổ xăng lên người tự thiêu. Sau đó nạn nhân được gia đình đưa đi cấp cứu tại Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác (Hà Đông, Hà Nội) nhưng không qua khỏi.

Vị Trưởng Công an thị trấn cho biết thêm, anh H đã có vợ và hai người con nhưng thời gian gần đây giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên người vợ đã bỏ nhà đi.

Sau khi sự việc xảy ra, gia đình nạn nhân từ chối không khám nghiệm tử thi và đã tổ chức mai táng cho nạn nhân theo phong tục địa phương.

Theo Công lý

Bác sĩ triệu phú khi sắp từ giả cuộc đời

Bác sĩ triệu phú khi sắp từ giả cuộc đời

Dù bạn bao nhiêu tuổi, dù bạn làm nghề gì cũng nên đọc bài này.

Đây là lời tâm sự của một bác sĩ Triệu phú ngành phẫu thuật thẩm mỹ. Bạn sẽ thay đổi khi đọc những dòng chữ này. Quỹ thời gian không còn là bao mà.

Bác sĩ Richard Teo Keng Siang, 40 tuổi, triệu phú ngành giải phẫu thẩm mỹ ở Singapore, phát hiện bị ung thư phổi giai đoạn cuối khi ở đỉnh cao nhất của tiền tài, danh vọng.

Từ nhỏ, bác sĩ Richard Teo luôn đứng đầu trường trong mọi môn học, từ khoa học đến thể thao. Khi vào ngành y, ông chọn giải phẫu thẩm mỹ vì lợi nhuận của nó vượt qua các ngành nghề khác. Ông trở thành một triệu phú chóng vánh.

Tháng 3/2011, bác sĩ Richard Teo được chẩn đoán bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Ông qua đời cuối năm 2012. Câu chuyện cảm động và những lời chia sẻ của ông trước khi mất vài ngày đã và đang được thanh niên khắp nơi theo dõi, lan truyền trên các trang mạng xã hội, được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Dưới đây là trích đoạn những tâm sự của bác sĩ Richard Teo về tiền tài, danh vọng, hưởng thụ… với sinh viên tại khóa Nha khoa D1 ở Singapore, tháng 11/2011, 8 tháng sau khi bị chẩn đoán ung thư:

“Tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới trung bình. Tôi học được từ mọi người xung quanh và môi trường sống rằng có thành công thì mới hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi luôn ganh đua ngay từ nhỏ.

Không chỉ học ở trường giỏi, tôi cần thành công trong mọi lĩnh vực, từ các hoạt động tập thể đến chạy đua. Tôi cần đoạt được cúp, phải được giải cao nhất. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, phẫu thuật mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi đã vào được và đạt học bổng nghiên cứu của ĐH quốc gia Singapore.

BAC SI TEO

Trong khi nghiên cứu, tôi có hai bằng phát minh, một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng tất cả thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Sau khi học hoàn tất, tôi thấy theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn. Tôi quyết định bỏ ngành phẫu thuật mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.

Một người có thể không vui vẻ khi trả 20 USD cho một bác sĩ tổng quát nhưng không ngần ngại trả 10.000 USD để hút mỡ bụng, 15.000 USD sửa ngực… Do vậy, thay vì chữa bệnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp. Công việc làm ăn rất khấm khá. Bệnh nhân đến rất đông. Tôi mướn một, hai, ba rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thể nào là đủ vì tôi trở nên mê muội. Tôi bắt đầu bành trướng sang thị trường Indonesia để làm phẫu thuật cho những người giàu ở đó. Họ phung phí tiền bạc một cách dễ dàng. Làm tiền ở đó quá dễ…

Tôi làm gì với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xe hơi. Thỉnh thoảng tôi dự đua xe ở Sepang, Malaysia. Tôi mua một chiếc Ferrari 430. Sau khi có xe, tôi mua nhà, khu nghỉ mát. Tôi nghĩ phải hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng và bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng Internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp. Đó là tôi của một năm trước đây. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại mình hay vận động mạnh. Tôi đến Bệnh viện đa khoa Singapore và nhờ bạn học chụp cộng hưởng từ để xem có phải bị trật đốt sống hay không. Rồi tôi thực hiện PET scans và được phát hiện đang ở giai đoạn 4 của ung thư phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3-4 tháng tối đa. Tôi chán nản, tuyệt vọng.

Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có – sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa – tất cả những thứ tôi nghĩ mang hạnh phúc – khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari ngủ. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong những tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua.

Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác. Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII. Tôi có một người bạn khá lạ lùng tên là Jennifer. Khi chúng tôi đi bộ, nếu thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ. Tôi thắc mắc tại sao phải làm thế, sao phải bẩn tay chỉ vì một con ốc sên? Sự thật là cô ta đã cảm được rằng con ốc có thể bị đạp nát chết nếu nằm đó. Đối với tôi, nếu không tránh đường thì đáng bị đạp nát, chỉ là luật tự nhiên thôi. Đối ngược nhau quá, phải không?

Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm nhưng tôi không có. Là một bác sĩ trực trong bệnh viện chuyên trị ung thư NUH (National University Hospital), tôi từng chứng kiến bao nhiêu người chết. Tôi đã thấy họ đau đớn và chịu sự tàn phá của cơ thể vì cơn đau. Tôi cũng đã chứng kiến bệnh nhân nhấn nút morphine tiêm vào máu từng giờ từng phút vì không chịu nổi sự đau đớn dày vò. Nhiều bệnh nhân phải dùng oxygene để thở hơi thở cuối cùng. Nhưng đó là công việc. Khi xong việc tôi chỉ muốn chạy ngay về nhà vì nghĩ là đã hoàn tất công việc hằng ngày.

Tôi thực sự không hiểu họ đau đớn như thế nào cho đến khi tôi là bệnh nhân. Nếu được làm lại từ đầu với cương vị một bác sĩ, tôi sẽ đổi khác. Vì tôi đã trải qua cơn đau đớn mà bệnh nhân vấp phải nên tôi rất hiểu họ chịu đựng sự dày vò của đau đớn như thế nào.

Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.

Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng được. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có. Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.

Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn. Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Tôi trở nên mê muội đến nỗi chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa. Bệnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.

Nhiều khi chúng ta quên mất mình cần phục vụ ai. Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai ngoài chính mình. Điều đó đã xảy ra với tôi. Trong khi khám bệnh, đôi khi chúng ta khuyên bệnh nhân chữa trị bệnh không hẳn có, không rõ rệt và ngay cả khi không cần thiết.

Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền.

Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đã nói xấu đồng nghiệp, hạ thấp họ xuống để nâng mình lên. Điều đó đang xảy ra trong ngành y và ở mọi nơi. Tôi thử thách các em không để đánh mất lương tâm mình. Tôi trả giá đắt cho bài học này. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.

Thứ hai là đa số chúng ta khi bắt đầu công việc đều chưa có “cảm giác” đối với bệnh nhân. Cho dù trong bệnh viện hay nhà thương tư cũng có vô số bệnh nhân để chữa trị. Tôi chỉ muốn bệnh nhân rời phòng làm việc của tôi càng sớm càng tốt. Đó là sự thật và trở thành một công việc bình thường hằng ngày.

Tôi đã thực sự hiểu bệnh nhân nghĩ về mình thế nào chăng? Thực ra là không. Nỗi lo sợ và lo âu của bệnh nhân và những thứ khác mà họ đã trải qua. Thực ra tôi cũng không biết đến khi tôi lâm trọng bệnh và đó là một sai lầm to nhất của hệ thống y khoa tân tiến. Chúng ta được huấn luyện để trở thành những chuyên gia y cũng như nha khoa nhưng chúng ta lại không hiểu bệnh nhân cảm nhận chúng ta như thế nào.

Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bệnh nhân.

Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp. Và bây giờ, với chút năng lực còn lại, tôi tìm đến các bệnh nhân ung thư khác vì tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi.

Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bệnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ. Điều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, vật chất… Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ.

Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, hãy với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm đều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ. Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rõ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích mình. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.

Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vậy. Nhưng sự thật, không ai tin, vì nếu tin chúng ta đã sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết thì mình mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe qua thật mơ hồ, nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua.

Đừng để xã hội bảo ban các em cách sống. Đừng để môi trường bắt các em phải làm gì. Điều này đã xảy ra cho tôi. Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc. Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự tốt đẹp cho đời sống của người khác. Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho mình. Sự thật không như tôi đã tưởng.

Tôi xin tóm lược, trong cuộc sống, chúng ta biết sắp xếp thứ tự trước sau càng sớm, càng tốt. Đừng giống như tôi. Tôi không còn cách nào khác và đã phải trả giá đắt cho bài học…”.

*  *  *

Khi một bệnh nhân nhập viện,  bác sĩ luôn luôn thử những thử máu cơ bản là: CBC (Complete Blood Count), Electrolytes, và LFT’s (Liver Function Tests). CBC dùng để xem bệnh nhân có dấu hiệu bị nhiễm trùng, bị thiếu máu hay không. Electrolytes để xem cân bằng của các lượng muối khoáng như sodium, potassium, calcium, mangnessium, nồng độ đường trong máu và các chất chất liên hệ đến sự hữu hiệu của trái thận. Còn LFT’s để xem xét sức khoẻ của lá gan.

Nói về các thử máu để làm gì? Để hiểu là cơ thể của ta rất tinh khôn, tự điều chỉnh những gì chúng ta ăn hay uống vào, để giữ cho cơ thể luôn được…mát! Tất cả những gì đi qua bao tử đều được “rả đám” ra thành những phần tử nhỏ, những gì cần sẽ được hấp thụ và biến chế lại, còn những gì không cần sẽ bị thảy ra ngoài.

Bây giờ hãy bàn về thuốc bổ.

Thuốc bổ, vitamin, được dùng như những chất phụ cho các phản ứng sinh hoá của cơ thể và số lượng cần rất nhỏ. Vì là “phụ gia” cho nên chỉ một mình vitamin không thôi, sẽ không đủ làm cho chúng ta khoẻ! Có nghĩa là, thức ăn là chính, và vitamin chỉ là phụ.

Hầu hết những vitamin mà cơ thể cần hằng ngày đều có trong thực phẩm. Một người khoẻ mạnh trung bình có thể hấp thụ đủ những vitamin cần thiết, với điều kiện là ăn uống cân bằng, mà không nhất thiết là ăn sáng! Chỉ có những cụ già, những người bị bệnh kinh niên, bị ung thư hay AIDS, và phụ nữ mang thai mới cần thêm vitamin. Cho dù cần đi nữa, theo cơ quan FDA, mỗi ngày một viên đa sinh tố (multivitamin) là đủ.

Trong trường hợp bạn uống nhiều vitamin, cơ thể sẽ xem đó như là chất…độc và tìm cách thải ra nước tiểu. Không tin, bạn thử ngửi mùi nước tiểu, sau vài ngày uống vitamin sẽ thấy…thơm lừng…mùi thuốc bổ.

Một vài ví dụ điển hình về thuốc bổ mà nghiên cứu cho thấy uống nhiều chẳng có lợi gì cả.

Trước hết là calcium, “thuốc bổ xương”. Nghiên cứu cho thấy uống thuốc calcium nồng độ cao không làm cho xương cốt rắn chắc hơn. Đúng là trẻ em đang lớn sẽ cần calcium để tăng trưởng. Để cho calcium có thể nhập vào trong xương, cần có những tế bào xương hoạt động. Calcium nhập vào xương còn tuỳ thuộc vào các “hormone xương” khác nhau, kể cả hormone estrogen và testosterone. Khi chúng ta đã qua thời kỳ nhổ giò, những tế bào xương bắt đầu tàn lụi, hormone sút kém đi thì khả năng nhập calcium vào xương chỉ ở mức độ bảo trì, và cần rất ít.

Calcium cũng cần cho sự co thắt của bắp thịt và sự truyền tín hiệu của các dây thần kinh, ở mức độ thấp. Vì thế nồng độ calcium trong máu bao giờ cũng được bảo hoà. Cao hơn mức bình thường, bị thải ra nước tiểu, có khi nghẽn đường ống, sanh ra sạn thận. Đó là lý do tại sao, bác sĩ sẽ thử calcium khi có vấn đề như đã nói ở đầu bài. Lượng calcium tốt nhất ở trong sữa tươi, chứ không phải ở trong viên thuốc! Và, calcium nhập vào xương khi chúng ta…đi bộ!

Liên hệ đến calcium là vitamin D, thật ra là một loại hormone, giúp cho cơ thể hấp thụ calcium, chống bệnh còi xương. Chỉ cần uống một viên vitamin D là đủ cho cả tháng.

Ví dụ khác là so với ăn cá, uống dầu cá cũng không có lợi gì ráo. Những viên thuốc dầu cá không cung cấp đúng lượng omega-3 như quảng cáo so với ăn cá, ăn trái bơ, hay đậu phộng.

Hiệu ứng của nhiều thuốc vitamin khác cũng lần lượt được các nghiên cứu bác bỏ. Lý do là hầu hết các loại vitamin đóng chai chỉ là hoá chất được biến chế bằng các phản ứng hoá học. Cơ thể rất khôn, chỉ cho nhập những vitamin “tự nhiên” chứa trong thực phẫm mà thôi. Điều này làm cho một số công ty sản xuất vitamin tranh nhau cãi là thuốc của mình gần với tự nhiên hơn.

Không có gì gần với tự nhiên bằng chính…tự nhiên!.

Kế đến, hãy nói về thức ăn bổ.

Hằng ngày bạn nghe nhiều quảng cáo là thức ăn này hay thức ăn nọ bổ, khoẻ. Không có gì sai trái cả về những điều được nói, nhưng, có những điều chưa nói đến mà người tiêu thụ cần phải biết.

Một vài ví dụ điển hình nhé.

Ví dụ thứ nhất là nước cam tươi…đóng chai. Đã gọi là tươi tại sao lại đóng chai? Đúng, là nước cam được vắt từ cam tươi thu hoạch đầu mùa, tuy nhiên sau đó được chứa trong những thùng chưa containers có khi cả năm trước khi bán cho người tiêu thụ. Để tăng cường chất sợi fiber trong nước cam, người ta trộn…bột giấy vào trong đó. Ngoài ra, nồng độ đường trái cây fructose rất cao trong nước cam khi hàm lượng nước được cho bay hơi để làm cho ngọt hơn.

Trước khi nêu ví dụ kế tiếp, xin ôn lại kiến thức về…đường. Như đã nêu, một trong những thứ   khi nhập viện là lượng đường trong máu. Bạn có biết, tổng số lượng đường trong máu ở mức bão hoà chỉ vào khoảng một muỗng cà phê đường? Như vậy, khi ăn nhiều đường vào, cơ thể sẽ tìm cách cân bằng và giải quyết lượng đường thặng dư, đa phần là biến thành…mỡ. Đường trái cây fructose còn tệ hơn là đường mía glucose vì nó không tiêu được và phải chạy qua lá gan, nhọc nhằn để biến chế trước khi được tiêu thụ vào tế bào.

Ví dụ kế tiếp là sữa chua “da ua”, tức là yogurt. Đúng là sữa chua tốt cho cơ thể vì có chứa calcium và men sữa giúp tăng cường vi khuẩn tốt trong đường ruột. Tuy nhiên hầu hết sữa chua bán trong siêu thị đều được trộn đường hay trái cây khô cho…bớt chua. Một hủ yogurt có chứa 16 gram đường, trong khi đó cơ quan USDA khuyên mỗi ngày chúng ta chỉ cần có 12 gram đường (4 muỗng) mà thôi. Nên ăn sữa chua tự làm lấy, hay loại sữa chua Greek yogurt.

Liên hệ tới sữa chua là trái cây khô như nho khô chẳng hạn. Nho khô có nhiều trong các loại cereal, ăn sáng cho..bổ. Nho tươi, trái cây tươi trên nguyên tắc, ăn nhiều cũng không tốt vì có chứa đường fructose, nhưng bù lại ta có chất sợi fiber, vitamins, và…nước. Nồng độ đường trong trái cây khô cao hơn trái cây tươi gấp 5 đến 10 lần. Hơn nữa, vì khô, nên chúng ta sẽ ăn nhiều hơn là khi ăn trái cây tươi.

 Ví dụ cuối cùng là sữa đậu nành. Đúng là đậu nành cung cấp nguồn protein và được sử dụng trong nhiều món ăn chay. Tuy nhiên hầu hết đậu nành ở Mỹ là sản phẩm GMF/ GMO (Genetic Modified Foods, Genetic Modified Organism). Thực phẫm GMF, súc vật GMO có DNA được thay đổi để chống…thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dại, chống bệnh tật, hấp thụ nhiều thuốc trụ sinh và hormone. Các bạn chắc đã từng vào Costco hay Home Depot để mua thuốc trừ cỏ dại Round Up? Thuốc này và các loại thuốc trừ sâu được phun “tưới hột sen” vào các loại cây, trái GMF. Dĩ nhiên, vì đã bị thay đổi DNA, các loại cây này không chết vì sâu bọ, và thuốc xịt, nhưng thuốc lại thấm vào cây và truyền vào súc vật và người tiêu thụ.

Ngoài ra, sữa đậu nành bán ở siêu thị Mỹ còn chứa chất carrageenan làm cho sữa
giống như sữa” có thể gây ra ung thư ruột già
. Riêng đậu nành, có chưa các chất sau đây:

Chất phyto-estrogen, tương tự như hormone nữ estrogen có thể làm xáo trộn chu kỳ kinh nguyệt và làm khó có thai, và thậm chí nghi ngờ tăng nguy cơ ung thư vú.
Chất haemagglutinin, làm cho các tế bào máu chụm lại với nhau, dễ nghẽn mạch máu.
Chất phytic acid ngăn chận sự hấp thụ các chất như calcium, magnesium, chất đồng copper, chất sắt và kẽm.
Chất nhôm, có thể ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, trái thận, và bệnh mất trí nhớ Alzheimer.
Chất isoflavones- genistein and daidzein, có thể kích thích tăng trưởng các tế bào ung thư vú.
Chất goitrogens, làm giảm sự hoạt động của tuyến giáp thyroid, gây ra suy tuyến giáp.

 Dĩ nhiên, thông tin của bài viết này không nhằm doạ nạt bạn đọc, không được ăn đậu nành, uống nước cam, ăn sữa chua hay uống thuốc bổ… Tuy nhiên, tôi khuyên bạn nên giữ những thuốc bổ và đồ ăn bổ ở mức tối thiểu.

Ăn uống đồ bổ nhiều chưa hẳn là khoẻ. Ăn đồ cao lương mỹ vị chưa hẳn là tốt. Bổ nhiều quá chỉ có hại cho sức khoẻ mà thôi.
BS Hồ Ngọc Minh

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng”

 “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng”
Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê.
Non nước ơi! Hồn thiêng của núi song.
Kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa.”

(Nguyễn Văn Đông – Mấy Dặm Sơn Khê)

 (Cách Ngôn 31: 10-31)

Trần Ngọc Mười Hai

Thế đó, một tưởng tượng! Khi bọn đàn em bé nhỏ là chúng tôi, cuối cùng lại cũng được tin Đức Giáo Tông nhà mình lập ban nhiên-cứu cho phép phụ-nữ làm Phó Tế.

Ấy đấy, một hiện-thực! Khi đám con cháu trong nhà bọn tôi, nhân chuyến “hành-hương đô-thị” sà vào quán sách nhỏ có bầy bán một số “cảo chỉ” về thần-học. Và, cháu “tóm” được cuốn “Mary Magdalene, her story and myths revealed”

Này đây, một thao-thức! Bỗng nảy-sinh trong đầu của bầy tôi đây là bần-đạo cứ mải suy về thân-phận và vai-trò của bậc nữ-lưu lâu nay cứ là “thấp cổ bé họng” về tư-tưởng.

Nhưng thật ra, các vị này mới là người sâu-sắc nhưng ít nói, chỉ mỗi làm và làm. Và, khi các vị đã làm là làm cho ra nhẽ. Rất thật tình. Đâu ra đó.

Và đây, một ý-lực! Vốn dĩ hiển-hiện từ câu hát tưởng chừng như vẩn vơ, chinh-chiến, chóng qua. Nhưng, đích-thực là tâm-huyết của giới văn-chương, văn-nghệ chỉ thích hát và hát. Hát, nhưng lời “vẩn vơ”/”vớ-vẩn”! Ai hiểu được thì tốt. Ai chậm hiểu hay không không hiểu, cũng không sao. Ý-lực ấy, nay như thế này:

“Bao giấc mơ giữa khung trời phiêu lãng,
Chờ mùa Xuân tươi sang,

những mùa thắm chưa sang
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây,
Chốn phương trời ấm lạnh

hòa chung mái nhà tranh.

Anh như ngàn gió,

hát ngược xuôi, theo đường mây,
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương,
Nước non còn đó một tấc lòng,
không mờ xóa cùng năm tháng,
nhớ ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên,

Khoác lên vòng hoa trắng,

cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh,
giữa khung trời gió lộng,

nghìn sau tiếc nghìn xưa.”

(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Vâng. Đúng thế. “Anh như làn gió, hát ngược xuôi, theo đường mây…” Ôi! Toàn là những lời nhè nhẹ, bay bổng theo làn gió, “giữa khung trời phiêu-lãng…” Và những là: “Cầm tay nhau đi anh! Tơ trời quá mong-manh!”, “Vui đấu tranh”, “Nghìn sau tiếc nghìn xưa!”

 Quả có thế. Nghìn sau/hôm nay, sẽ lại có người tiếc nghìn xưa sao không hát “Chị hỡi chị!” , “Chờ mùa Xuân tươi sáng”, “Những mùa thắm chưa sang!..” Ấy đấy, có hát hoặc có nêu lên những ý-lực đầy “phiếm” hôm nay, cũng chỉ để “phiếm” chuyện đời rồi sẽ “phiếm” cả chuyện Đạo, về những điều “lạo-xạo” đáng phiếm, rất hôm nay. Như chuyện nữ-phụ nhà Đạo nay được nâng nhấc lên bậc “Nữ-phó-tế”, như thông-tin vừa hé mở.

Thế nhưng, ở Đạo mình, vẫn thường có những đấng bậc rất-ư-là “Kỳ-đà cản mũi” cũng tiêu-cực không kém ai, qua luận-điệu sau đây:

“Ở thời đầu, Giáo-hội ta có nhiều phụ-nữ làm phó-tế, hoặc nói đúng hơn, nhiều Nữ thừa-tác-viên năng-nổ. Thế nhưng, các bà đây lại không là phó-tế theo nghĩa thời hiện-đại, tức quyền-năng hoặc chức thánh như Phó-tế đích-thực. Các bà vẫn chỉ mang tư-cách giáo-dân, mà thôi. Cũng nên biết rằng: theo tiếng Hy-Lạp, thì danh-xưng Phó-tế hoặc “diakonos” là ngôn-từ nói chung mang ý-nghĩa của người nâng-dỡ/giùm giúp hoặc tôi-tớ, chứ không nhất thiết bao-hàm việc nhận-lãnh chức thánh, nào hết.

 Thánh Phaolô cũng nhắc đến các nữ thừa-tác-viên trong thư ông gửi giáo-đoàn Rôma, vào thời đó, như sau:

 “Tôi xin giới thiệu với anh chị em đây, chị Phêbê, người chị em của chúng ta, là nữ-trợ-tá Hội-Thánh Kenkhơrê. Mong anh chị em tiếp đón chị trong Chúa cách xứng-đáng, như dân thánh đối-xử với nhau. Chị có việc gì cần đến anh chị em, xin anh chị em giúp đỡ, vì chính chị cũng đã bảo-trợ nhiều người, kể cả tôi nữa.”

Xem thế thì, cụm-từ “Nữ trợ-tá” dịch ở đây, vào thời đó, chỉ có nghĩa như người nữ chuyên phụ-giúp công-việc này khác, theo nghĩa rộng, mà thôi.

 Kịp đến thế-kỷ thứ 3, nhiều xứ/nhiều vùng ở trời Đông, cũng thiết-lập hoặc ủy-thác chức Nữ-Phó-tế như thế để trợ-giúp các công việc như: bảo-ban/dạy dỗ hoặc thanh-tẩy phụ-nữ, thăm kẻ liệt là nữ-phụ cần tắm gội/chùi rửa thân mình hoặc trao ban Mình Thánh Chúa cho những người như thế. Vậy nên, các vị náy bèn thiết-lập một nhóm-hội/đoàn thể trong Giáo-hội như Hội Phụ-nữ chuyên-trách lo cho các bà góa. Ở một số chốn miền, các nữ-phụ gia-nhập nhóm/hội này đều trải qua nghi-thức có dính-dự động-tác đặt tay lên thân mình người cần đặt.

 Các nữ-phó-tế như thế, không lĩnh-nhận chức thánh nào hết và hoàn toàn khác với linh-mục hoặc phó-tế thực-thụ theo nghĩa đã định ở tông-sắc Apostolic Constitutions ban hành vào năm 400 sau Công-nguyên…

 Chức-năng, vai-trò và ý-nghĩa của nữ-phó-tế lại rất cao được tạo cho vai trò khác nhau tùy nơi tùy vùng. Riêng Hội thánh Ai Cập, Maronite và Slav khi trước tuyệt nhiên không thấy có vai-trò và sự hiện-hữu của chức sắc nào như thế. Và Hội thánh La-tinh ở 5 thế-kỷ đầu đời, cũng không thấy có chức-vị nữ-phó-tế nào như thế hết. Các khác-biệt này, cho thấy: ở các phần đất Giáo hội La-tinh không thấy có chức-năng nữ-phó-tế nào giống thế. Về ý-nghĩa cũng như vai-trò của chức này này, rõ ràng còn chứng-tỏ rằng không có bí-tích nào tạo cho vai-trò của các vị này, do bởi thần-học và kỷ-luật cần-thiết của các thánh-tích đều mang tính phổ-cập trên khắp miền đất của Giáo-hội Đạo Chúa.” (X. Lm John Flader, Why women won’t be deacons”, The Catholic Weekly Question Time 22/5/2016, tr. 8).    

 Giả như ngài là đấng bậc thanh-thoát, phóng-thoáng như tác-giả cuốn “Mary Magdalene, her history and myths revealed” , rày đã bộc-lộ những điều như: “Vốn dĩ từng bị Giáo-hội Công-giáo La-Mã đẽo/gọt và tạo chân-dung như người tội-lỗi, Maria Magđalêna nay được hồi-phục chức-năng về vị-thế đáng kính-trọng tước-vị và năng-lực của Chị suốt thời Cổ Sử rất trang-trọng. Thậm chí, ngày hôm nay, rất nhiều đấng/bậc công-nhận Chị, là: vào buổi Đức Chúa sinh-thời, Chị từng là môn-đệ gần cần Đức Giêsu nhất hạng và là người được chỉ-định công-việc chuyển-tải thông-điệp của Ngài vào với thế-giới, cách đặc-biệt.” (X. Karen Ralls, Mary Magdalene, her history and myths revealed, Shelter Harbor Press 2013, bìa 4)

Và, đúng như nhận-định của vị Tổng Giám mục nọ khi bàn về tính-chất “tiêu-cực” mà nhiều đấng bậc trong Đạo vẫn coi người nữ-phụ là “nguồn-cội” của ác-thần/sự dữ, như sau:

“Ngang qua truyện ở vườn Địa-Đàng, hình-phạt đã được định rõ cho con người. Với Ađam, hình-phạt dành cho ông là phải “cạp đất: để kiếm sống. Qua nhân-vật Evà, từ nay mọi nữ-phụ sẽ phải kéo dài sự đau-khổ khi sinh đẻ. Riêng loài rắn, sẽ phải bò sát bụng trên mặt đất đến muôn đời. Và, mọi loài phải rời bỏ chốn Địa Đàng, không còn sống ở hoa vườn nữa.

 Và cuối cùng, mọi loài cùng giòng dõi/cháu con của chúng được lập-trình đi vào cõi chết. Từ nay, sự chết trở-thành phận hèn của mọi loài. Tính phổ-cập của sự chết rày sẽ chứng-thực cho tính phổ-cập của lỗi/tội đầu thời nguyên-tổ đem chết chóc đến với thế-giới của Thiên-Chúa. Lỗi/tội ban đầu ấy được coi như bản-chất con người làm sa-đoạ mọi nhân-thân khiến cuộc sống con người không còn khả-năng tái-lập quan-hệ mật-thiết với Thiên-Chúa, được nữa.

 Câu truyện về “Địa-đàng Trần-gian” này, đã đi vào lịch-sử nguyên-thủy từng làm, tức bảo rằng: lý do khiến ác-thần/sự dữ và cái chết là những dấu-hiệu hằn in lên nhân-loại là sự bất-tuân của phụ nữ. Tông-đồ Phaolô chắc-chắn đã đóng góp vào định-nghĩa nói ở trên.

 Cả đến bậc hiền-nhân quân-tử tử như đấng thánh Âu-Tinh vốn dĩ từng là Giám-mục thành Hippo cũng làm thế vào thế-kỷ thứ 5. Ngài làm thế, đến độ trở-thành “đá tảng” cho tư-duy của mình. Và qua ngài, lại được trù-định để thống-trị tư-tưởng của mọi Kitô-hữu suốt ngàn năm có lẻ. Mãi đến hôm nay, lối đối-xử một cách tiêu-cực với phụ-nữ và giới-tính đã trở-thành đặc-trưng lớn, nếu không muốn gọi là hùng-vĩ, trong cuộc sống đạo-đức của con người.

 Cả một hệ-thống rộng lớn về thần-học vẫn dựng-xây trên cốt truyện được kể lại như thế. Ta vẫn có thói-quen qui-chiếu phụ-nữ với cái-gọi-là con quỉ dữ cám-dỗ đám đàn ông thanh-tao, lịch-lãm. Phụ-nữ vẫn được gọi là “trái cấm không nên đụng tới”, là thứ mà thân-xác đàn ông vẫn thèm thuồng. Nữ-phụ lâu nay vẫn được định-nghĩa như con người đồi-bại, như kẻ gây ô-uế phá-hủy sự lành-thánh của nhân-loại. Các bà còn bị phiền-trách như người làm cho phái nam ra bất-lực.

 Do bởi câu truyện lỗi/tội đầu đời này mà tính lành-thánh nơi văn-minh Âu-Tây bị liên-lụy, luôn tìm cách tránh né phụ-nữ, và đi đến tình-trạng vô-giới-tính. Lòng trung-trinh nơi phụ-nữ và tình-trạng độc thân/sống một mình nơi nam-nhân được coi như cung-cách cao-sang hơn. Ngay đến hôn-nhân, cũng được coi là một nhượng-bộ tội/lỗi, như ta thấy trước đây, như chọn-lựa ban đầu dành cho người yếu kém, mềm dịu.

 Thánh Giêrônimô khi xưa là người dịch Kinh thánh khá xuyên-suốt, nhưng ông sẽ được nhớ nhiều do bởi trường-hợp ông cũng đã rơi vào tình-trạng bế-tắc trong lúc dịch-thuật, nhất thứ là khi ông nhận thấy rằng hôn-nhân chỉ mang tính cứu-độ là khi “sản-sinh ra quá nhiều trinh-nữ”. Tuyên-bố này đã khiến tôi phải nhắm mắt làm ngơ đâm nghi-ngờ tài dịch kinh-thánh của nhiều học-giả.     

 Xem như thế, thì phụ-nữ quả thật từng là sự dữ/ác thần đến tận xương-tủy. Và, đó cũng là thông-điệp của Đạo Chúa và điều đặc-biệt là sự/việc ấy lại xây-dựng trên câu truyện của Evà.” (X. TGm John Shelby Spong, The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers, 2005 tr. 91)

Nói gì thì nói, chừng như nhiều vị đi Đạo quên rằng Kinh-thánh Cựu-Ước cũng từng tuyên-dương đặc-tính khôn ngoan/tốt-đẹp của phụ nữ trong câu nói nổi bật ở sách Châm-ngôn sau đây:

“Tìm đâu ra một người vợ đảm đang?

Nàng quý giá vượt xa châu ngọc.
Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng,

chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc.
Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc

chứ không gây tai hoạ cho chồng.
Nàng tìm kiếm len và vải gai,

rồi vui vẻ ra tay làm việc.
Giống như những thương thuyền,

nàng đem lương thực về từ tận phương xa.
Nàng thức dậy khi trời còn tối,

cung cấp phần ăn cho cả nhà,

và sai bảo con ăn đứa ở.
Nàng để mắt đến một thửa ruộng và tậu lấy;

nàng dùng huê-lợi đôi tay mình làm ra
mà canh tác một vườn nho.
Nàng thắt lưng cho chặt,

luyện cánh tay cho mạnh-mẽ dẻo-dai.
Nàng thấy công việc sinh nhiều lợi nhuận,

đèn trong nhà thắp sáng thâu đêm.
Nàng tra tay vào guồng kéo sợi,

và cầm chắc suốt chỉ trong tay.
Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ

và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.
Nàng không sợ người nhà bị lạnh vì tuyết sương,

bởi cả nhà đều được mặc hai áo.
Nàng tự tay làm lấy chăn mền,

nàng mặc toàn vải gai, vải tía.
Chồng nàng được tiếng thơm nơi cổng thành

khi ngồi chung với hàng kỳ-mục trong dân.
Nàng dệt vải đem bán,

cung cấp dây lưng cho nhà buôn.
Trang-phục của nàng là quyền-uy danh-giá,

nàng mỉm cười khi nghĩ đến tương-lai.
Nàng khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói

và dịu-hiền khi dạy-dỗ bảo-ban.
Nàng để mắt trông nom mọi việc trong nhà,

bánh nàng ăn là do mồ hôi nước mắt nàng làm ra,
con nàng đứng lên ca-tụng nàng có phúc,

chồng nàng cũng tấm-tắc ngợi-khen :
“Có nhiều cô đảm-đang,

nhưng em còn trổi-trang gấp bội.”
Duyên-dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.

Người phụ nữ kính sợ Đức Chúa

mới đáng cho người đời ca tụng.

Hãy để cho nàng hưởng những thành-quả tay nàng làm ra.

Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng

do những việc nàng làm.”

(Châm ngôn 31: 10-31)

Nhận-định của nhà Đạo từ ngàn xưa là như thế. Như thế, cũng không có nghĩa là sự thể vẫn cứ thế đối với mọi người ở Đạo Chúa đến bây giờ. Chí ít, là các đấng bậc vị vọng trong Giáo Hội Công-giáo La Mã.

Thế nên, Đức Phanxicô nay ngỏ ý muốn thiết-lập một Ủy-ban Giáo-hoàng chuyên nghiên-cứu tái-lập chức-năng/vai-trò của Nữ Phó-Tế xưa, chửa biết chừng. Có thể, là: các vị ấy sẽ là Thừa-tác-viên nữ năng-nổ như Thánh-Nữ Maria Magđalêna, là cộng-sự-viên thân-cận với Đức Giêsu. Cũng có thể, các vị đây sẽ được phong-chức Phó-tế vĩnh-viễn, cũng rất hay. Dưới ánh mặt trời này, chẳng có gì là không-thể-và-có-thể, hết.

Hãy cứ đợi chờ, để rồi sẽ xem sự việc diễn-tiến theo cách nào. Trong khi chờ và đợi việc Giáo-hội mình trả lại chức-năng/danh-dự lẽ đáng phải có từ hệ-cấp thần-quyền Vatican, tưởng cũng nên quay về với vườn hoa truyện kể, để xem người ngoài Đạo nghĩ gì và nói gì các nữ-phụ ở trần-gian lan-man, đôi lời rằng:

      “Trong một chiều đi dạo quanh công-viên, ông Jones tình cờ gặp gỡ và có cuộc trò chuyện vô cùng ăn ý với một bà lão. 

 Chỉ sau 15 phút, cả hai phát hiện ra họ có rất nhiều điểm chung về tuổi tác, khu vực sinh sống, sở thích, và đều đang độc thân. Đến khi trời sụp tối, ông Jones nhìn bà lão thật lâu và nhẹ nhàng nói:

-Marcia, thú thật từ trước đến nay tôi chưa bao giờ gặp được người nào hợp với mình như bà vậy. Tôi có thể mạo muội hỏi bà hai câu hỏi rất quan trọng này không?

 Bà lão nghe thế cảm-động đáp:

-Dĩ nhiên là được rồi! Ông đã cho tôi một khoảng thời gian thật sự rất thoải mái.

-Tôi thấy chúng ta vô cùng hợp nhau, vậy liệu bà có đồng ý dọn về sống chung với tôi suốt quãng đời còn lại không? – Ông Jones khẽ cầm tay Marcia khẩn thiết nói.

Bà lão thẹn thùng gật đầu rồi hỏi:

-Thế còn câu hỏi quan trọng thứ hai là gì?

Ông Jones liền thở phào nhẹ nhõm, từ tốn nói tiếp:

-À, chẳng qua là bây giờ bà đỡ tôi đứng dậy được không? Tôi ngồi lâu quá không đứng dậy được nữa rồi!” (Truyện kể gặp thấy tràn lan trên trang mạng, rất vi-tính)

Nói gì thì nói, khi đến lúc và đã đến thời, người người, nhất thứ là nam-nhân, lại sẽ tâm-sự rất thật với nữ-phụ nọ, dù chưa quen biết nhiều, để đòi một sự hỗ-trợ cần-thiết như bao giờ, trong đời.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta lại sẽ hiên-ngang hát lên những ca-từ dù rất buồn để thấy rằng: khi có người đến thăm, dù là chiến-hữu hoặc thần dân thôi, ai cũng vẫn nhận ra rằng:

“Bao giấc mơ giữa khung trời phiêu lãng,
Chờ mùa Xuân tươi sang,

những mùa thắm chưa sang
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây,
Chốn phương trời ấm lạnh

hòa chung mái nhà tranh.

Anh như ngàn gió,

hát ngược xuôi, theo đường mây,
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương,
Nước non còn đó một tấc lòng,
không mờ xóa cùng năm tháng,
nhớ ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên,

Khoác lên vòng hoa trắng,

cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh,
giữa khung trời gió lộng,

nghìn sau tiếc nghìn xưa.”

(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn hát lên

Những lời nhẹ nhàng như thế,

Rất triền-miên

ở đời người.

“Tay run-rẩy, nhưng không vì gió lạnh,

“Tay run-rẩy, nhưng không vì gió lạnh,

Bỗng để rơi trên cỏ nắm vàng hương.

Ta vừa thấy một linh-hồn mỏng-mảnh,

Níu vai ta, đòi trả lại yêu-đương.”

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương) 

Mai Tá lược dịch.

Linh-hồn mỏng mảnh, là những thứ người người vẫn để rơi. Rơi gì thì rơi, đừng rơi vãi hoặc đòi trả lại yêu-đương là thứ cả người đời lẫn trong Đạo, vẫn trân-trọng.

Cảnh huống những “rơi vãi” cũng đã diễn ra trình thuật hôm này, là bối-cảnh trong đó Đức Giêsu ngồi một mình, nơi chốn vắng để nguyện cầu. Chúa làm thế, mỗi khi có sự kiện quan trọng xẩy đến với Ngài ở trần thế.

Có thể, nhiều người sẽ hỏi: nếu quả thật Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, sao Ngài lại phải nguyện cầu? Ngài cầu với ai? Cho ai? Cầu, là cầu chuyện gì? Những câu hỏi đại loại, đều do ý niệm ta có, rất hạn hẹp. Nguyện cầu, trước hết và trên hết, là: hiệp thông mật thiết với Chúa. Trong đó, bao gồm cả việc lắng tai nghe, cùng chuyện vãn. Nhiều tình huống nguyện cầu, trong đó ta chẳng cần nói lên điều gì. Nguyện cầu, có thể chỉ là: chìm đắm trong bối cảnh vây quanh bằng sự hiện diện của Chúa, mỗi thế thôi.

Rõ ràng là, Đức Giêsu vẫn nguyện cầu cùng Cha Ngài. Ngài cầu nguyện, để được đối thoại chuyện vãn với Cha Ngài. Để, có được sự hài hoà kết hợp với những điều Cha vẫn muốn Ngài có và làm. Cả vào lúc Ngài thực hiện những điều lạ kỳ như nhân rộng cá, và bánh cho người người, ăn đỡ đói. Cả khi dân con tính chuyện tôn vinh Ngài làm Vua.

Cả lúc ấy, Ngài vẫn ẩn mình, thoát nhanh lên đồi cao chốn vắng, mà nguyện cầu. Nguyện cầu, ở Vườn Lặng Thinh trước ngày dấn bước vào cuộc Thống Khổ, buổi Tiệc Cuối. Ngài vẫn luôn nguyện cầu, vào mọi lúc. Nguyện và cầu cho môn đệ cho kẻ tin, những người dõi bước chân mềm của Ngài, thời mai hậu.

Trình thuật hôm nay, không chỉ diễn tả mỗi việc nguyện cầu, của Đức Chúa. Nhưng, còn tỏ cho mọi người biết: Ngài là ai. Thế nên, khi Ngài hỏi: “Dân chúng nói Thầy là ai?” thánh Phêrô đã trả lời thay cho tất cả.

Trả lời, là mô tả mối tương quan giữa môn đệ/người người với Thiên Chúa: “Ngài là Đấng Mêsia, Con Thiên Chúa!” Công khai nói điều này, thánh Phêrô muốn minh xác rằng: Thầy là Đấng Thiên Sai, mọi người hằng đợi trông. Tuy nhiên, Thầy căn dặn: nay chưa là lúc để nói cho mọi người biết, về Thầy.

Phải nhận rằng, đã từ lâu đồ đệ Chúa vẫn được dạy: các con là muối cho đời. Là ánh sáng cho muôn dân. Rằng: người người chưa sẵn sàng để nhận biết Tin Vui Bình An ấy. Người người vẫn chưa rõ biết Tin Mừng về Đấng Mêsia đã đến. Người người còn ngong ngóng Đấng Thiên Sai nào khác khả dĩ giải thoát họ khỏi ách thống trị của kẻ thù. Để, có thể trở về trong chiến thắng, như lòng mong ước.

Ở đây lại thấy khác: Chúa lại chọn hoàn tất cuộc khổ nạn. Lại để người đời coi như tội phạm. Chỉ lúc ấy, đồ đệ Ngài mới được phép tiết lộ Ngài là Đấng Mêsia, mà nguời người lâu nay trông ngóng.

Cũng vào lúc ấy, mọi người bắt đầu sửng sốt khi Ngài khẳng định: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều. Bị kỳ mục thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9: 22). Từ lúc ấy, đồ đệ Chúa nhận ra rằng: Đấng Mêsia không là vị anh hùng cái thế. Cũng chẳng là thủ lãnh của nhóm hội nào nổi dậy chống lại thế lực thù địch, đang trấn áp. Ngài là Đấng bị dân con đầu đàn chối bỏ, xử tội và hành quyết. Nhưng, Ngài vẫn được sức mạnh quyền uy Ở Bên Trên tôn vinh. Bằng chiến thắng.

Chiến thắng, với Đức Kitô, chỉ mang trọn ý nghĩa khi Ngài hoàn tất trong yêu thương. Trung tín. Bất bạo động. Ý nghĩa này, được bài đọc I diễn tả bằng từ ngữ rất ngôn sứ: “Thiên Chúa sẽ đổ ơn xuống cho nhà Đavít và cư dân Giêrusalem (và các thế hệ tiếp nối). Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đâm thấu, như người ta khóc than đứa con một.” (Dcr 12: 10). Lời sấm đây, được thánh Gioan trích dẫn ở bài Thương Khó, mãi về sau.

Cử hành Tiệc Thánh mỗi tuần, vẫn chưa đủ. Bởi, một khi đã nhận biết Chúa là Đấng Mêsia. Đã, cảm xúc/xót thương thấy Ngài bị nhục mạ, khổ hình đến nỗi chết và sống lại. Ta còn được kêu mời làm đồ đệ dõi bước theo Ngài, nữa. Theo ngài, ngang qua biến cố thời đại. Bằng phương thức thực tiễn. Nghĩa là: biết từ bỏ chính mình. Biết vác lên vai thập giá cuộc đời mỗi ngày. Biết theo chân Chúa, mà rao truyền Tin Vui An Bình.

Với người đời, từ bỏ chính mình là chuyện không dễ thực hiện. Và, không phải lúc nào cũng có thể làm được. Với nhà Đạo, từ bỏ chính mình là chấp nhận con người mình để khuyến khích lòng tự tin, nơi ta.

Bởi, một khi đã tự tin, ta sẽ tự khẳng định. Và, tìm ra phương cách tốt đẹp hầu thực hiện điều mình nhất quyết. Quyết loan truyền sự thật. Quyết thực hiện tình thương. Tôn trọng tự do. Có thế, ta mới có thể làm mọi việc vì người khác, cho người khác chứ không chỉ riêng mình. Ở đây nữa, yêu thương nhận thức và chấp nhận chính con người mình không là quay trở ngược về lại chính mình. Hoặc, phát triển lòng vị kỷ, nhỏ nhen. Nhưng, có yêu mình trước, mới yêu mến người khác.

Vác lên vai thập giá cuộc sống mỗi ngày, là: mở lòng mình ra với giá trị Tin Mừng Chúa gửi đến cho mình. Vác thập giá, không có nghĩa là: ra đi tìm những gì khiến mình/khiến người khổ đau, buồn phiền. Mà là, chấp nhận những gì đến với mình bằng đường lối tích cực dựng xây. Biết nhận ra tình yêu và ân huệ của Chúa, qua kinh nghiệm hằng ngày, dù đắng cay.

Bước theo Chúa, như thánh Phaolô khuyên nhủ, là: “mặc lấy” Đức Kitô. Mặc lấy, như ta mặc chiếc áo trắng tinh ngày thanh tẩy, khi bước ra khỏi giếng rửa tội. Bởi, khi lĩnh nhận ơn thanh tẩy, ta đã gia nhập vào gia đình thánh thiêng, có người anh/người chị, là con chung của Đức Chúa.

Bởi, nơi gia đình Ngài, không phân biệt ai Do Thái, ai Hy Lạp. Nơi gia đình con cái Chúa, chẳng hề có chuyện kỳ thị nam/nữ, nô lệ hay tự do. Nhưng, tất cả đã là người anh, người chị, người em cùng nhà. Không thành kiến cũng chẳng rẽ chia, bè phái, đố kỵ. Tất cả đem đến cho nhau tình yêu. Đem cho nhau công lý hòa hợp và bình an. Cho hết mọi người. Ở đời.  

Trong suy-tư/cảm-nghiệm về tình-huống rất như thế, ta hãy trở về với lời thơ được trích-dẫn, để thấy được lòng người cũng có lúc, rất khôn nguôi, rằng:

“Ta vừa thấy một linh-hồn mỏng-mảnh,

Níu vai ta, đòi trả lại yêu-đương.

Lòng chơ-vơ, rùng-rợn nỗi kinh-hoàng,

Lòng cay-đắng tưởng vô-cùng bất-tuyệt.”

Chơ-vơ, rùng-rợn và kinh-hoàng, còn là tình-huốn người để luột mất ý/lời của Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, rất vấn-vương mọi người, trong cõi đời.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch.

Bị ném bom nguyên tử, vì sao người Nhật không hô hào tiêu diệt nước Mỹ?

Nhân chuyện cộng đồng mạng tranh cãi về vai trò của ông Bob Kerrey tại ĐH Fulbright, xin mời đọc lại một bài viết cũ mà … không cũ, bởi những thông tin trong bài vẫn còn là bài học quý giá cho lãnh đạo Việt Nam.

Nếu lãnh đạo VN học được bài học này, đã không có những quan chức như bà Tôn Nữ Thị Ninh, quyết “tống cổ” ông Bob Kerrey ra khỏi ĐH Fulbright và Việt Nam. Nếu lãnh đạo VN học được bài học này từ người Nhật, người dân VN đã không phải trả giá suốt mấy chục năm qua.

 Bị ném bom nguyên tử, vì sao người Nhật không hô hào tiêu diệt nước Mỹ?

 Theo Secretchina

Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng

Tướng quân MacArthur là danh tướng của Mỹ. Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật muốn xé xác ông, còn ông cũng hận người Nhật thấu xương.

Vào 2:5 chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua.

Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình.

Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản.

Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là“quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”.

Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”.

Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.

Theo Secretchina

Nguyễn Phú Trọng có thể làm như Obama

Nguyễn Phú Trọng có thể làm như Obama
Ngô Nhân Dụng

Nguoi-viet.com

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng muốn chứng tỏ ông cũng thân thiện với dân Việt Nam không thua gì ông Barack Obama. Obama đi ăn bún chả là gần gũi với người Hà Nội sao? Ông Trọng cũng mới đi thăm một cửa hàng bán thịt, rất nhiều thịt chứ không phải chỉ có mấy miếng chả! Ban Tuyên Giáo chọn một tấm hình ông đưa lên mạng. Ông đứng trước một dẫy thịt treo lủng lẳng, coi phong độ hơn cảnh Obama cầm chai bia tu ngon lành. Ông chỉ thua Obama trong một chi tiết nhỏ, là không đứng khoác vai chụp hình với ông bán thịt và mấy khách hàng. Nhưng trông bộ áo được là ủi thẳng thớm của ông, suốt đằng sau chỉ thấy một cái đuôi các đồng chí bận đồ lớn mà không có ma nào đang mua thịt, thì người dân phải thông cảm. Có lẽ anh hàng thịt đứng sau quầy cũng là một đồng chí công an, bữa nay nhận công tác mới vì không cần đem dùi cui đi đánh bọn dân biểu tình chống Trung Quốc!

Có lẽ ông Nguyễn Phú Trọng chọn đến quầy bán thịt là vì “Chiến Dịch Chống Thực Phẩm Bẩn” đang tố cáo họ đã tìm ra), chỉ trong vòng ba tháng, 500 vụ bán thực phẩm bẩn (tức là hư, mất vệ sinh, thiu thối. Trong bức hình đưa lên mạng, ông Trọng đang đưa bàn tay lên như tuyên thệ: “Tôi xin long trọng thề rằng mấy miếng thịt này chưa ôi!”

Hành động thăm dân của ông Trọng chứng tỏ ông đang thực hiện lời ông kêu gọi các đảng viên Cộng Sản trong hội nghị công tác dân vận, được tổ chức ngay sau khi ông Obama rời Việt Nam. Ông dạy các đảng viên rằng vấn đề đầu tiên cần quan tâm là “chăm lo đời sống, hạnh phúc của nhân dân. Ðây là mục đích thiêng liêng, là lý tưởng cao quý của đảng, là vấn đề quyết định sự tín nhiệm, gắn bó của nhân dân đối với đảng.” Bởi vì, ông nhắc lại lời Nguyễn Trãi, “Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước!” Nói được câu đó là Nguyễn Phú Trọng không thua gì Obama dẫn hai câu thơ Lý Thường Kiệt.

Dân Việt Nam lập tức đem so sánh Nguyễn Phú Trọng với Obama. Ông Lê Tân đưa bức hình đồng chí Trọng thăm hàng thịt lên trang mạng, lại chú thích rằng: “Trọng Lú bắt chước Obama hỏi thăm dân tình!” Ông còn viết cả một bài thơ để diễn tả ý đó. Có thể nói, dư luận dân Việt, nhất là giới trẻ, có phần thiên lệch. Cảm tình của họ nghiêng hẳn về phía Obama! Dư luận thiên vị cũng vì hành động của ông Trọng có vẻ khác thường. Khi đi Hà Tĩnh giữa lúc cá chết giạt vào trắng xóa bờ biển, ông Nguyễn Phú Trọng chỉ tới trò chuyện với ban giám đốc công ty Formosa mà không thèm quá bộ đi hỏi người dân một câu nào!

Người Việt Nam không thiên vị. Bà con ta đã nhìn thấy một nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu cường quốc số một thế giới, biểu lộ một phong cách bình dị, cởi mở, thân thiện một cách tự nhiên, không cần cố gắng đóng trò. Những người dân Việt Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn đã đứng đón ông từ sân bay trở về và tiễn ông đi. Hàng trăm ngàn người Sài Gòn tự nguyện xếp hàng, cầm cờ Mỹ, mang băng rôn tự viết tay, treo hình ảnh chào Obama. “Họ đón ông như đón một người thân đi xa trở về,” blogger Nguyễn Quang Chơn viết, và tự hỏi: “Ôi bao giờ trên đất nước tôi xuất hiện một người lãnh đạo có nhân cách, có văn hóa, có tài, có tình, như ông?”

Bao giờ nước Việt Nam có những người lãnh đạo như vậy? Có phải vì trong 90 triệu dân không có ai đủ thông minh, thích giản dị, thương yêu mọi người như Barack Obama hay không?

Nghĩ như vậy là oan cho dân tộc Việt Nam! Nước ta có hàng triệu người tài cán và tử tế không kém gì ông tổng thống Mỹ bây giờ. Nhưng họ không có cơ hội. Những người trong đảng Cộng Sản ngoi lên được cái ghế lãnh đạo thì không hề tập lối sống như các ứng cử viên tổng thống hay đại biểu Quốc Hội ở một nước dân chủ. Bởi vì họ cũng không có cơ hội “tập huấn” phong cách đó.

Ông Barack Obama là sản phẩm của một xã hội quen sống trong tự do dân chủ. Ông đã ngoi lên bằng những công việc phục vụ cộng đồng, đi quét nhà trong những xóm nghèo, đi bưng com mời những người đói. Khi muốn thành nghị sĩ, ông đã phải chinh phục lòng tin và tình thương của hàng triệu cử tri. Ðời sống chính trị một nước tự do bắt buộc các ứng cử viên phải tập lối sống gần gũi với người dân.

Cho nên người Việt Nam được thấy một vị tổng thống Mỹ biết đùa cợt, biết tỏ ra kính trọng người đối diện dù đó là một sinh viên hay một bà chủ quán bún chả. Ngay cả khi đứng trên bục đọc diễn văn, một bài diễn văn mở đầu một chuyến công du, Obama vẫn biểu lộ phong thái đó. Ông Vũ Tú Thành, một cựu nhân viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam nhận xét: “Ông ta có khả năng tiếp cận với từng người một trong một gian phòng 2,000 người – tuyệt vời!… Nhiều người Việt Nam đang khát khao muốn nhìn thấy cảnh đó… Có một niềm ngưỡng mộ giống như trong tín ngưỡng.” Trong tín ngưỡng, khi người ta tin một người là tốt, là đáng kính trọng, người ta ngẩng lên nhìn (ngưỡng) với tình yêu không ngần ngại (mộ).

Nhắc đến chuyện tôn giáo. Dù nhiều người chỉ trích việc đưa ông Obama tới ngôi chùa mang mầu sắc đạo giáo gốc Trung Hoa, một Phật tử vẫn nêu lên trên mạng hình ảnh một Obama “khi vào chánh điện lễ Phật, ông đã tự cúi mình xuống cởi bỏ giày!” Người chú ý đến cử chỉ bình thường đó còn viết một bài “kệ tán thán” để khuyên mọi người noi theo: “Lành thay tổng thống Mỹ – Cởi giày vào chánh điện – Chấp tay kính lễ Phật – Với thân tâm thanh tịnh.” Tại sao vị Phật tử này nghĩ rằng ông Obama, một tín hữu Tin Lành, trong lúc chắp tay vái bàn thờ Phật cũng đang sống “Thân tâm thanh tịnh?”
Yêu nên tốt, ghét nên xấu. Chỉ một tâm lý tín ngưỡng mới đưa tới cách nhìn chủ quan như thế. Nêu lên thái độ của vị Phật tử trên, để chúng ta thấy ông Obama đã chạm tới được những trái tim của bao nhiêu người Việt Nam!

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, người bưng bún chả cho ông Obama ăn trong quán, nói với nhà báo ngoại quốc: “Tôi mong muốn có một người lãnh đạo giống ông ta.” Muốn nước mình có một người lãnh đạo giống ông ta! Câu nói đơn sơ, buột ra cửa miệng của một phụ nữ 24 tuổi khiến mọi người phải so sánh Obama với các lãnh tụ Cộng Sản vẫn đưa mặt lên truyền hình mỗi ngày. Người ta nhìn thấy trong đoạn phim cảnh Obama và Trần Ðại Quang cùng đứng trả lời các nhà báo. Obama thoải mái nhìn thẳng vào mắt mỗi phóng viên đặt câu hỏi. Còn Trần Ðại Quang đứng trơ cứng như cây gỗ khô, khi trả lời mắt thì vẫn nhìn đâu đâu!

Trong cuộc gặp gỡ giữa ông Obama và giới trẻ ở Sài Gòn, chỉ vài tiếng đồng hồ, các bạn trẻ được thấy một “phong thái” Obama hiển hiện. Chắc họ không ngờ con người một tổng thống nước Mỹ lại bình dị, gần gũi như vậy. Khi một nữ sinh viên cho biết đang học tại tiểu bang Montana, ông Obama hỏi thăm thời tiết lạnh ở đó, “Cháu tới Montana vào Tháng Giêng không? Montana đẹp tuyệt, có những ngọn núi rất cao. Thế cháu có tập câu cá không? Có à? Còn tập cưỡi bè trôi trên thác, suối nữa? Cháu thật tuyệt!”

Những câu đối đáp này không nhà chính trị nào có thể sắp đặt trước, không ai có thể soạn ra và viết sẵn, chỉ cần đọc lại. Khi một ông tổng thống đứng trước hai ngàn người trẻ tuổi, sẵn sàng ứng khẩu giải đáp bất cứ câu hỏi nào, người ta thấy một người lãnh đạo có bản lĩnh, hiểu biết rộng đủ mọi đề tài, trong lòng thành thật không có ý lòe ai, cũng không sợ ai hơn mình, cho nên đủ tự tin đối đáp trong mọi hoàn cảnh. Khác hẳn những ông thủ tướng hay chủ tịch nước khi ra nước ngoài lúc nào cũng chỉ biết mở bài diễn văn viết sẵn ra đánh vần từng chữ!

Nhưng trong đoạn đối thoại với cô sinh viên Ðại Học Montana, ông Obama còn cho thấy khuynh hướng tự nhiên là chú trọng đến cá nhân người đối diện. Ông không hỏi cô học môn gì, có hấp thụ được những hiểu biết mới mẻ hay không, có thích chế độ, xã hội nước Mỹ hay không. Ông hỏi cảm tưởng cô về khí hậu, về phong cảnh, về trò giải trí! Ðó là cách giao tiếp của một con người với một con người.

Cho nên giới trẻ Sài Gòn đã nhìn thấy trước mặt họ một người có thể ngồi uống bia và trò chuyện bên vỉa hè với mình. Một người “chơi được!” Nhiều họa sĩ đã vẽ chân dung ông Obama đưa lên mạng. Coi những bức vẽ này, ta thấy nhiều hình vẽ ông mỉm cười, có lúc trầm ngâm hay nghiêm nghị. Nhưng họa sĩ sinh viên Thịnh Thánh Thiện ở Quảng Nam đã vẽ một Obama đang nháy mắt, trều môi làm hề. Lê Công Duy Tính ở Gia Lai vẽ Obama đang nhỏ lệ. Những cách nhìn tinh nghịch, đùa cợt này biểu lộ tình thân, cho thấy người họa sĩ cảm thấy gần gũi nhân vật mình vẽ, có thể cười đùa, trêu chọc được.

Phong cách ứng xử của Obama không có một ban tuyên giáo nào tạo ra được. Ông ta chinh phục được lòng người, chinh phục những cử tri Mỹ khi ông tranh cử. Ðã quen rồi, năm nay qua Việt Nam ông lại chiếm được trái tim ái mộ của bao nhiêu người mà ông không bao giờ cần lá phiếu.

Tất cả chỉ vì Obama là sản phẩm của một xã hội tự do dân chủ. Ở đó, những người làm chính trị phải đi xin từng lá phiếu của dân. Lên cầm quyền thì phải làm sao cho dân đừng “chửi.” Họ không cần một đàn công an văn hóa sủa hàng ngày ca tụng họ, cũng không cần bịt mồm bịt miệng những người bất đồng chính kiến. Mà ai muốn bịt miệng người khác cũng không được!

Ông Nguyễn Phú Trọng có thể bắt chước ông Obama được hay không? Muốn tạo được một phong thái bình dị, thành thật và cung kính, ông Trọng phải bắt đầu lại cuộc đời chính trị của mình. Phải xin phiếu của dân, phải chinh phục trái tim và đầu óc của hàng triệu người bằng hành động. Nhưng trên hết, phải tự thay đổi bản thân mình, biết đặt của khát vọng của người dân và giá trị con người lên trên quyền lợi phe đảng mình. Những người lãnh đạo muốn tập lối sống như vậy thì nước Việt Nam phải sống tự do dân chủ.

Thay đổi này chắc khó lắm, ông Nguyễn Phú Trọng chắc không đủ thời giờ. Nhưng ông có thể giúp cho các nhà lãnh đạo tương lai của nước ta tập lối sống đó. Trong một thế hệ, nước Việt Nam sẽ có những người lãnh đạo với phong cách đáng mến không thua ông Obama!

Thân Mỹ cứu nước!

Thân Mỹ cứu nước!

Bùi Minh Quốc

Tên đầy đủ của bài này là: Thân Mỹ, chống bành trướng, chống độc tài, cứu nước, cứu nhà, cứu mình!

Tinh thần ấy, ý chí ấy đã hiển thị hùng hồn chưa từng có từ gương mặt ánh mắt nụ cười và phong thái của hàng ngàn hàng ngàn người dân Việt tự nguyện, tự động, chủ động đầy hào hứng nhiệt thành cùng nhau đi đón chào Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đến thăm Việt Nam (22 tháng 5.2016 – 25 tháng 5.2016).

Tôi tin rằng người dân ý thức rất rõ, khi giơ tay vẫy chào Obama là chào mừng sự kết hợp các giá trị truyền thống Việt với các giá trị Mỹ (và phương Tây).

Giá trị truyền thống Việt: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”…, “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.

Giá trị Mỹ và phương Tây: Tự do, dân chủ, nhân quyền. Đây cũng đồng thời là giá trị phổ quát của toàn nhân loại mà nhân dân tại tất cả các quốc gia chưa có dân chủ đang hàng ngày hàng giờ hướng tới.

Tôi tin rằng người dân ý thức rất rõ: một chàng trai gốc Phi có tên Barack Obama xuất thân bình dân trở thành Tiến sĩ luật rồi Thượng nghị sĩ và Tổng thống Mỹ chính là biểu hiện tính ưu việt của nền dân chủ Mỹ mà bất cứ ai, bất cứ thế lực nào dù ác ý đến đâu cũng không thể tìm cách gì hạ thấp.

Sự kết hợp các giá trị truyền thống Việt với các giá trị Mỹ và phương Tây đã được nhân dân Việt Nam viết lên ngực mình bằng tám chữ máu:

TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT!

Với cuộc viếng thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, sự nghiệp thân Mỹ, chống bành trướng, chống độc tài, cứu nước, cứu nhà, cứu mình của nhân dân Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn thuận lợi vượt bực. Tôi thấy nhân dân đã cùng nhau tận dụng điều kiện thuận lợi mới này để bắt tay vào những công việc cụ thể, thiết thực.

Công việc bao trùm là đẩy mạnh dân vận, đảng vận, nghị vận, binh vận để xây dựng LỰC LƯỢNG CÔNG DÂN MỚI (từ MỚI ở đây là để phân biệt người dân trong chế độ độc tài toàn trị tuy có danh nghĩa công dân nhưng thực chất vẫn chỉ là một thứ thần dân dưới ách “Vua tập thể” = Bộ Chính trị & Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam).

Vận động trên bề nổi công luận và vận động thầm lặng từ cơ sở lên mọi cấp thông qua mối quan hệ của từng công dân, từng gia đình, từng tổ chức cả Lề Đảng lẫn Lề Dân.

Vận động để thống nhất nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng có tính quyết định của tiến trình dân chủ hoá là phải XÂY DỰNG CHO BẰNG ĐƯỢC LỰC LƯỢNG CÔNG DÂN MỚI.

Nhân dân đã tự xác định NGƯỜI CÔNG DÂN MỚI:

Là người có ý thức rõ rệt về các quyền và trách nhiệm của mình;

Là người có ý thức làm chủ, ý chí làm chủ, kỹ năng làm chủ; làm chủ trong mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói và việc làm, trước hết là làm chủ tiếng nói chính trị, kinh tế và văn hoá, làm chủ lá phiếu;

Là người thấy rõ các quyền công dân cơ bản của mình như “quyền tự do ngôn luận”, “quyền tự do báo chí, xuất bản”, “quyền tự do biểu tình”, “quyền tự do hội họp, lập hội, lập nghiệp đoàn”, “quyền tự do ứng cử bầu cử” về hình thức cũng được long trọng ghi trong Hiến pháp nhưng dưới chế độ toàn trị này đã bị thủ tiêu trên thực tế; công dân phải có trách nhiệm tự đứng lên tích cực chủ động thực hiện các quyền ấy; công dân phải đòi Nhà nước thực hiện trách nhiệm của Nhà nước là tạo môi trường thuận lợi để người dân thực thi các quyền con người của mình, đòi Nhà nước chấm dứt việc hạn chế trên thực tế các quyền đó dưới mọi hình thức.

Các bài học lịch sử đã chỉ rõ: muốn đẩy nhanh tốc độ xây dựng LỰC LƯỢNG CÔNG DÂN MỚI đạt hiệu quả cao, phải tiến hành có tổ chức.

Đúng vậy, tổ chức, tổ chức và tổ chức.

Nhân dân đã từng có bề dày trải nghiệm và vô vàn sáng kiến về tổ chức. Mỗi tổ chức bao giờ cũng bắt đầu từ một số rất ít những con người thức tỉnh sớm, dám dấn thân với động cơ trong sáng, tìm đến nhau như tìm tri âm tri kỷ, và tự nguyện kết chặt với nhau thành một nhóm trung kiên chí cốt, nguyện thành tâm hiến trọn đời mình cho sự nghiệp chiến đấu vì Tổ Quốc và Quyền Dân.

Có vô vàn hình thức tổ chức.

Người dân đang khôn khéo tiến hành lập tổ chức từ những cách làm dễ nhất đến ít dễ hơn, đến khó hơn. Từ Câu lạc bộ (viết tắt: CLB, loại tổ chức không cần xin phép), đến các hội đoàn ra đời bằng cách tự hiện thực hoá quyền tự do lập hội đã ghi trong Hiến pháp.

Đã ra đời CLB VÌ MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHOẺ NGƯỜI DÂN. Rồi sẽ tiếp tục ra đời các CLB và hội đoàn hết sức phong phú với mọi kiểu dạng và nội dung hoạt động. Đó có thể là:

CLB cựu đảng viên yêu nước vì dân

CLB XÂY DỰNG NGƯỜI CÔNG DÂN MỚI

CLB Công dân tự ứng cử vào Quốc hội

CLB xây dựng các địa bàn dân cư với lượng Công dân – cử tri mới từ thiểu số trở thành đa số

v.v.

Có thể xây dựng những CLB, hội đoàn toàn quốc.

Cũng có thể từng địa phương tích cực chủ động xây dựng các CLB, hội đoàn của địa phương mình.

Rồi tiến tới liên kết thành một MẶT TRẬN CÔNG DÂN VIỆT NAM MỚI.

Tôi tin rằng nếu từng người từng ngày tích cực chủ động vào cuộc thì trong một thời gian không quá lâu, Mặt trận này sẽ có khoảng 30-40 triệu thành viên.

Đây sẽ là lực lượng quyết định cho sự nghiệp THIẾT LẬP QUYỀN LÀM CHỦ THỰC SỰ của nhân dân Việt Nam trên đất nước Việt Nam

Đà Lạt tháng 6/2016

B. M. Q.

Báo động: Người Trung Quốc đã lập căn cứ sát nách Cửa Việt-Quảng Trị


Vị trí khu vực bị Trung Quốc thâu tóm trên bản đồ toàn cảnh (bấm vào để phóng to).

Vị trí khu vực bị Trung Quốc thâu tóm trên bản đồ toàn cảnh (bấm vào để phóng to).

Trong một bài bình luận mới đây trên website của Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc, một học giả Trung Quốc đã nói huỵch toẹt âm mưu của Bắc Kinh một khi chiến tranh Trung – Việt nổ ra là sẽ tìm cách chia cắt Việt Nam từ phía biển.

Xin trích một đoạn trong bài “Học giả Trung Quốc bày mưu chia cắt Việt Nam từ phía biển” trên trang Giaoduc.net ngày 19/4/2016:“…Một khi lực lượng hải quân ngoại bang triển khai từ trên biển thì về mặt địa hình, Việt Nam như ‘dưa hấu gặp dao sắc’, có thể bị tấn công đổ bộ từ bất kỳ địa điểm nào dọc theo đường bờ biển đất liền… Nói cách khác, nếu Việt Nam để mất quyền kiểm soát Biển Đông thì bố trí quân sự của Việt Nam ở miền Bắc mất hẳn chỗ dựa, đầu đuôi khó ứng cứu cho nhau…”

Mặc dù Trung Quốc có thể tấn công đổ bộ từ bất kỳ địa điểm nào dọc theo bờ biển Việt Nam, nhưng tất nhiên họ sẽ nhắm đến những vị trí xung yếu nhất về an ninh quốc phòng.

Đó là những vị trí đáp ứng được ít nhất một trong những tiêu chí sau: (I) thuận tiện cho việc đổ bộ – vùng biển nơi đổ bộ phải đủ sâu cho tàu trọng tải lớn cập bờ, cho phép cả binh lính lẫn các loại vũ khí hạng nặng đổ bộ; (II) nếu đổ bộ thành công, Trung Quốc , họ sẽ khống chế được một khu vực rộng lớn có tầm quan trọng chiến lược; (III) chỉ cần một lực lượng quân sự vừa phải là đủ sức chia cắt Việt Nam tại đó; và (IV) tại vị trí đối diện bên kia biên giới Lào – Việt hoặc Campuchia – Việt Nam, Trung Quốc cũng thiết lập được căn cứ phố hợp, nhằm khi chiến tranh nổ ra, nó sẽ hiệp đồng tác chiến với lực lượng đổ bộ từ biển vào (hoặc với cả lực lượng nằm vùng tại vị trí đổ bộ) để hình thành nên một gọng kìm nguy hiểm.

Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm lĩnh được hoặc đang tìm cách chiếm lĩnh nhiều vị trí xung yếu nằm dọc theo bờ biển Việt Nam như Vũng Áng (Hà Tĩnh), Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Hải Vân (Thừa Thiên – Huế), Silver Shores (Đà Nẵng), Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh), hay Châu Thành (Hậu Giang), v.v.

Cách đây hơn 2 năm, chúng tôi đã từng báo động về việc Trung Quốc sắp lập căn cứ tại Cửa Việt thông qua một “dự án kinh tế” của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam – một công ty sản xuất thức ăn gia súc, thuỷ sản và chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, vốn thuộc tập đoàn C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm. Nhờ sự lên tiếng kịp thời của công luận, dự án này hiện đang bị tạm dừng.

Tuy nhiên, nếu ai đó vội tin rằng Trung Quốc vì thế mà đã từ bỏ âm mưu lập căn cứ ở Cửa Việt thì nhầm to. Đơn giản, Cửa Việt là một trong không nhiều nơi dọc theo bờ biển Việt Nam hội đủ cả 4 tiêu chí nêu trên. Vì thế, nó đã lọt vào “mắt xanh” của các ông chủ Trung Nam Hải từ lâu.

Trong dịp trở lại thăm Cửa Việt vừa qua, chúng tôi lại phát hiện ra là Trung Quốc đang lập một căn cứ khác sát nách cảng Cửa Việt thông qua thủ đoạn núp bóng người Việt để thâu tóm một doanh nghiệp thuỷ sản ở địa phương – đó là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế tại thôn Phú Hội, xã Triệu An, huyện Triệu Phong.

Trước kia, đây là một cơ sở thuộc Công ty Thuỷ sản Quảng Trị, một doanh nghiệp nhà nước. Năm 2005, Công ty Thuỷ sản Quảng Trị bị phá sản. Năm 2007, UBND tỉnh Quảng Trị giao cơ sở thuỷ sản này cho một doanh nghiệp nhà nước khác là Công ty Xi măng Quảng Trị. Sau 3 năm trực thuộc Công ty Xi măng Quảng Trị và không hoạt động gì, đến năm 2010, cơ sở này lại được bán cho Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế. Và đến Tết Bính Thân vừa rồi, nó đã bị Trung Quốc thâu tóm thông qua một người Việt tên là Hoà, quê ở Thanh Hoá, với mức giá 8 tỷ VNĐ.

Hiện nay, các ông chủ người Hán đang gấp rút sửa sang lại nhà xưởng và xây dựng khu nhà ở cho công nhân trong khi tiếp tục hoàn thiện các thủ tục pháp lý còn lại để cho ra đời một doanh nghiệp Trung Quốc trá hình tại khu vực hết sức nhạy cảm về an ninh quốc phòng này.

Vị trí do người Trung Quốc kiểm soát bao gồm 2 khu: khu văn phòng + nhà ở công nhân và khu nhà xưởng. Tổng diện tích 2 khu này lên tới khoảng 9.000m2.

Người dân địa phương cho chúng tôi biết, nền móng khu nhà ở công nhân được xây hết sức kiên cố và đặc biệt là sâu khác thường: khoảng cách từ nền nhà xuống đáy móng lên đến 2,3m. Các hố móng được lấp đầy cát trắng, với các ống nhựa cắm xung quanh, nghĩa là lượng cát đó có thể được hút ra bất cứ lúc nào để trở thành một hệ thống hầm ngầm bí mật.

Khu vực đã bị Trung Quốc thâu tóm và các vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng xung quanh (bấm vào để phóng to).

Khu vực đã bị Trung Quốc thâu tóm và các vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng xung quanh (bấm vào để phóng to).

Trước khi rơi vào tay Trung Quốc, đây là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế.

Trước khi rơi vào tay Trung Quốc, đây là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế.

Khu văn phòng & nhà ở công nhân (bên trái) và khu nhà xưởng (bên phải) nhìn từ cầu Cửa Việt.

Khu văn phòng & nhà ở công nhân (bên trái) và khu nhà xưởng (bên phải) nhìn từ cầu Cửa Việt.

Khu nhà ở công nhân với nền móng được xây dựng kiên cố khác thường và sâu tới hơn 2,3m.

Khu nhà ở công nhân với nền móng được xây dựng kiên cố khác thường và sâu tới hơn 2,3m.

Từ Cửa Việt lên cửa khẩu Lao Bảo chỉ khoảng 80km, giao thông rất thuận tiện nhờ tuyến đường nhựa lớn nối với quốc lộ 9 chạy thẳng lên Lao Bảo. Bên kia cửa khẩu Lao Bảo là tỉnh Savanakhet, một địa bàn tập trung rất nhiều người Hán cùng các “dự án kinh tế” của họ trên đất Lào.[i] Một khi chiến tranh Việt – Trung nổ ra, lực lượng Trung Quốc từ Savanakhet đánh sang và lực lượng ngoài biển phối hợp với đội quân nằm vùng ở Cửa Việt đánh vào sẽ tạo nên một gọng kìm vô cùng nguy hiểm, đe doạ chia cắt Việt Nam ở khu vực này.

Những căn cứ ven biển của Trung Quốc không chỉ nguy hiểm về mặt quân sự mà, giống như đại thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra ở Miền Trung thời gian qua, chúng còn âm thầm đầu độc môi trường biển, khiến ngư dân – những “cột mốc chủ quyền” trên biển – không còn tha thiết với việc ra khơi để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Về lâu dài, tình trạng ô nhiễm môi trường biển sẽ làm thui chột nòi giống Việt trong tương lai.

Trong khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn không ngớt tụng niệm câu thần chú “4 tốt, 16 vàng”, lãnh đạo Bộ Quốc phòng vẫn chìm đắm trong vòng xoáy kim tiền cùng các màn “giao lưu quốc phòng” với “bạn” thì những gọng kìm của chủ nghĩa Đại Hán vẫn đang ngày đêm âm thầm siết chặt dải đất hình chữ S của chúng ta.

*Ảnh trong bài: Lê Anh Hùng

_______

Ghi chú:

[i] Đây là thông tin mà chúng tôi đã tìm hiểu từ những người hay qua cửa khẩu Lao Bảo sang đất Lào.

* Blog của Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Cựu Bộ trưởng bị tố nâng đỡ con trai

Cựu Bộ trưởng bị tố nâng đỡ con trai

 

Ông Vũ Huy Hoàng thôi chức Bộ trưởng Công thương từ 4/2016

Cựu Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng bị chất vấn về việc đưa con trai là Vũ Quang Hải vào các vị trí lãnh đạo bộ và doanh nghiệp từ 2011 tới nay.

Trong lần bổ nhiệm mới nhất hồi tháng Hai 2015, ông Hải, sinh năm 1986, được đưa vào vị trí Phó tổng giám đốc Tập đoàn Bia Sabeco, một trong những tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước.

Báo chí lúc đó đưa tin nhưng không đặt nghi vấn.

Tuy nhiên chỉ sau khi ông Vũ Huy Hoàng thôi chức bộ trưởng vào tháng 4/2016 các kênh thông tin mới bắt đầu hướng chú ý vào các quyết định của ông.

Hiệp hội Đầu tư Tài chính Việt Nam (Vafi) trong lá thư đề ngày 13/6/2016 đặt câu hỏi về việc ông Vũ Quang Hải, mà Vafi nêu đích danh là con trai của ông Vũ Huy Hoàng, nhanh chóng được bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng trong Bộ Công thương.

Phó chủ tịch Vafi Nguyễn Hoàng Hải được các báo trong nước dẫn lời, nói việc chất vấn vào thời điểm này là do tại thời điểm ông Vũ Quang Hải được bổ nhiệm ở Sabeco, ông “có nhiều việc gia đình không kịp triển khai” trong lúc Vafi cần tìm hiểu luật trước khi chất vấn.

Chủ tịch Vafi Đặng Văn Thanh từ chối trả lời BBC Tiếng Việt với lý do “mọi nội dung đều đã được viết đầy đủ trong thư”, theo đó nói trước khi gửi thư tới ông Vũ Huy Hoàng, họ đã nêu câu hỏi với Bộ Công thương “từ hơn một tháng nay” nhưng “chỉ nhận được sự im lặng và lẩn tránh của Bộ Công thương”.

‘Tự nguyện thôi vai trò’

Ông Vũ Huy Hoàng giữ chức Bộ trưởng Công thương từ 8/2007

Theo Vafi, ông Vũ Quang Hải lần lượt được đặt vào các vị trí Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính Dầu khí (PVFI), Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xuất khẩu thuộc Cục Xúc tiến Thương mại, hàm Phó vụ trưởng, và tiếp đến là Phó tổng giám đốc Tập đoàn Bia Sabeco.

Vafi nêu câu hỏi về tính hợp pháp của việc bổ nhiệm tổng giám đốc PVFI và trách nhiệm của ông Hải trong việc làm thua lỗ tại PVFI trong hai năm ông Hải làm lãnh đạo.

Vafi cũng đặt câu hỏi về cơ sở pháp lý bổ nhiệm ông Hải lên vị trí mang hàm phó vụ trưởng trong thời gian “đang chịu án kỷ luật tại PVFI”, điều mà Vafi cho là “hoàn toàn sai quy định của nhà nước”.

Thư chất vấn của Vafi viết rằng ông Vũ Quang Hải được trao chức tổng giám đốc PVFI khi mới 25 tuổi và “chẳng có thành tích gì, chẳng có tài năng gì” đã khiến “dư luận thắc mắc”, và hậu quả là kết cục làm ăn thua lỗ khiến “thuyền trưởng cao chạy xa bay”.

Lá thư được đồng sao gửi tới nhiều địa chỉ khác nhau, trong đó có Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng và Thanh tra Chính phủ, viết rằng ông Hải đã về “nằm mai phục tại Cục xúc tiến thương mại” một năm để rồi “người hùng PVFI lại xuất hiện tại Sabeco với lý lịch mới như là ‘thần đồng về quản trị doanh nghiệp'”.

Vafi cũng “đề nghị cựu Bộ trưởng hãy nhanh chóng… khuyên bảo con mình tự nguyện thôi vai trò” tại Sabeco bởi nếu không thì “bản thân Bộ Công thương cũng không đỡ nổi” việc bổ nhiệm “hoàn toàn sai trái” đó.

Cùng lúc với việc bị Vafi gửi thư chất vấn, ông Vũ Huy Hoàng cũng đang đối diện với cáo buộc đã can thiệp để trì hoãn công tác thanh tra một số dự án của tập đoàn kinh tế nơi con ông được cử về.

Báo Dân trí nói rằng vào cuối năm 2015, Bộ trưởng Hoàng đã ‘ can thiệp kế hoạch thanh tra Sabeco‘.

Báo này nói ông Hoàng đề nghị “điều chỉnh kế hoạch” do Sabeco trong năm 2016 phải “triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng”, trong đó có việc phải “làm việc với thanh tra Bộ Tài chính” và xác nhận bản thân Bộ Công thương “đã tiến hành thanh tra” các dự án của Sabeco mà Bộ Xây dựng nhắm tới.

Bà Tô Linh Hương (áo hồng) từng được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Vinaconex khi mới 24 tuổi

Cũng Dân Trí cùng ngày đăng bài tố giác: “Với chức vụ là thành viên Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc Sabeco, năm 2016, khoản lương và thù lao mà ông [Vũ Quang] Hải nhận được khoảng 1,19 tỷ đồng, chưa kể có thể nhận thêm 250 triệu đồng tiền thưởng”.

Trước đây, Việt Nam từng có trường hợp bổ nhiệm người trẻ, là con một lãnh đạo cao cấp đương chức, vào vị trí quan trọng trong một tổng công ty lớn của nhà nước.

Tô Linh Hương trở thành chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng (Vinaconex – PVC) vào năm 2012, khi mới 24 tuổi. Bà Hương là con gái ông Tô Huy Rứa, khi đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng CSVN, ủy viên Bộ Chính trị. Bà Hương đã rời vị trí này chỉ hai tháng sau ngày nhậm chức.

Tuy nhiên, đây dường như là lần đầu tiên có chuyện việc bổ nhiệm con lãnh đạo bị chất vấn công khai.

Ông Vũ Huy Hoàng làm Bộ trưởng Công thương hai nhiệm kỳ, tổng cộng chín năm.

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Tác giả:  Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Hỏi: Trong bài trước cha đã nói  đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích,  phụng vụ .v.v. Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.
Trả lời:

Vâng,  như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu,  đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là Kitô Giáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian,  đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms ) hoặc những cải  cách tôn giáo  (reformations) đáng tiếc xảy ra trong thế kỷ  16, khiến cho KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma,chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.

Cho đến nay, mới chỉ có một số khá đông giáo sĩ và tín đồ Anh Giáo và Tin Lành  trở về với Giáo Hội Công Giáo,  còn các nhóm ly khai trên  vẫn chưa hiệp thông trọn vẹn được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có rất nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I- Chính Thống  (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống “Orthodoxy“, theo ngữ căn (etymology) Hy lạp ” orthos-doxa“, có nghĩa là  “ca ngợi đúng” (right-praise), “tin tưởng đúng ” ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô Giáo đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính (sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo được truyền lại từ các Thánh Tông Đồ để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy)

Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ “orthodoxy” được dùng để chỉ các giáo đoàn có chung lập trường bảo vệ các chân lý tinh tuyền của Kitô Giáo để đối nghịch với  lý thuyết của cá nhân hay của nhóm nào  bị coi là lạc giáo hay tà giáo .

Nhưng  sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội  Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054  giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo hoàng Leo IX, vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học  và quyền bính, thì  danh xưng “Chính Thống” ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã  nữa . Sau này, Giáo Hội “Chính Thống” Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia,  Lithuania,  Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine…Vì thế,  ở mỗi quốc gia này đều  có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là  người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)

Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul  được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương. Cách nay 6 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu)  đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh  em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn “lôi kéo” các  tín hữu  Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã năm 1991, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga công khai  hành Đạo.

Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo Đông-Tây năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương ( The Greek Church and the Holy See=Rome)  nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh  em  này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng  đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong em ngài, Thánh Anrê (Andrew)  sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có chung nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession) -và do đó- có các Bí tích hữu hiệu như nhau.

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là  Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople-  bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ “ Filioque” ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng “Chúa Thánh Thần bởi  Chúa Cha, và Chúa Con mà ra”.

Giáo Hội Chính Thông Đông Phương chỉ muốn nói : Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần đồng bản thể trong Mầu Nhiệm Thiên  Chúa Ba Ngôi ( Holy Trinity) là điều Giáo Hội Công Giáo cũng tuyên xưng, nhưng  Chính Thống Đông Phương chỉ  không đồng ý với Công Đồng Nicêa tuyên xưng :” Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra“.

Ngoài ra , Giáo Hội Chính Thống  cũng không công nhận các tín điều về  Đức Mẹ  Vô Nhiễm  Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố  với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.

Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm 1966.

Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội  thì họ  dùng  nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

2- Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp  khi cử hành phung vụ  trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu trên thế giới.

3- Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ:  Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại  được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).

Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.

Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế,  giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: “Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiêp thông này sâu xa đến nỗi “chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô” (x.SGLGHCG, số 838).

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli  và các nước Bắc Âu và bắc Mỹ  sau đó.

1- Ở góc độ thần học,

Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại  việc ban ân xá (indulgences) và vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể,  Xức dầu thánh, chứng hôn).

Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi, hay nhờ ân xá để được tha các hình phạt hữu hạn  đều vô ích và vô giá trị. Họ chủ trương  chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: “không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21).

Nói khác đi, không phải cứ rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.

Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng Kinh Thánh  vì họ chỉ  tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2-  Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.

Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ “ không được gọi ai dưới đất  là cha là thầy vì anh  em chỉ có một Cha là Cha trên trời” mà thôi. Vì họ hiểu câu này hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là ‘lạc giáo=heretical” vì đã cho gọi Linh mục là “ Cha” (Father, Père, Padre)!.

Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này,  Công Đồng Vaticanô II,  trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium,  đã dạy rằng; “ Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô  vì đã sinh  ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn.” (1 Cor 4: 15; LG. số 28).

Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu Kinh Thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người, thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng:

Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy.” (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng  Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ “anh chị em “trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood)  và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.

Sau hết, về mặt quyền  bình, các giáo phái Tin lành đều biệt lâp nhau và cùng  không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.Và đây là trở ngại lớn cho việc hiệp thông (communion) và hiệp nhất (unity) với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:

Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) do đó, không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.

Đa số các nhóm này  chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người tân tòng.(catechumen). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện  trong nhiều thập niên qua.

Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (communion) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng các Tông đồ.

Ước mong những giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn