Công cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam (Bài 2: Thực trạng Việt Nam)

Công cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam (Bài 2: Thực trạng Việt Nam)

nguyenvubinh

RFA

Nhận định về thực trạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một việc rất khó. Đối với những người bàng quan, không hiểu về cộng sản và dòng chảy của cộng sản Việt Nam thì thực tế hiện nay chỉ là những khó khăn tạm thời, hoặc đó là sự “hết đà” trong đổi mới…nếu như có một sự đổi mới, cải cách  nào đó, thì tình hình sẽ thay đổi và mọi cái sẽ lại tốt đẹp. Nhưng nếu nhìn nhận Việt Nam là một chế độ cộng sản, sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu, có sự điều chỉnh để tồn tại và duy trì chế độ cộng sản toàn trị thì chúng ta sẽ có một kết luận khác về thực trạng Việt Nam hiện nay. Có thể nói rằng, chế độ cộng sản độc tài toàn trị ở Việt Nam đã đi hết chu kỳ tồn tại của nó. Tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam hiện nay đều chỉ ra rằng, chế độ này đã chết, nhưng chưa được công bố và mang đi chôn. Nó cần một biến cố để khẳng định và công nhận sự kết thúc của chế độ. Biến cố đó sẽ đến trong những ngày tháng sắp tới.

Nhưng trước hết, cần phải nói rõ, chế độ cộng sản hiện nay đã chết là theo nghĩa bóng, chết về động lực. Chỉ khi xảy ra biến cố làm sụp đổ chế độ, lúc đó mới là chết theo nghĩa đen. Và tôi mạnh dạn dùng từ chết bởi vì thời điểm xảy ra biến cố đã rất gần, cận kề trong tương lai.

Vấn đề cơ bản và quan trọng nhất, là vấn đề kinh tế. Sau khi cơ chế kế hoạch hóa phá sản, nhà cầm quyền Việt Nam đã thực hiện chính sách đổi mới kinh tế. Nếu chỉ nhìn vào văn kiện đại hội đảng VI của đảng cộng sản Việt Nam, có thể nói, đó là bước ngoặt đáng hoan nghênh mà đảng cộng sản muốn thực hiện. Tuy nhiên, số nguời hiểu được và ủng hộ không đủ để chính sách đổi mới trở thành trào lưu thực chất. Nó nhanh chóng chuyển thành thủ thuật, thủ đoạn để duy trì chế độ độc đảng, độc tài toàn trị và cơ hội trục lợi lớn của bộ máy cầm quyền. Nền kinh tế Việt Nam, về tuyên truyền là theo kinh tế thị trường nhưng đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý của kinh tế thị trường. Vi phạm nghiêm trọng và dễ thấy nhất là vi phạm về quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, quan trọng nhất là sỡ hữu tư nhân về đất đai. Từ vi phạm sở hữu tư nhân về đất đai, đã làm biến dạng toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và cả nền kinh tế. Sau này vi phạm sở hữu tư nhân về đất đai còn gây ra hệ lụy khủng khiếp về mặt xã hội (cướp đất – dân oan). Quy luật cung cầu, thị trường quyết định giá cả hàng hóa cũng bị vi phạm khi giá những mặt hàng thiết yếu như điện, nước, xăng dầu do nhà nước quy định…cấu trúc của nền kinh tế, với 60-70% nguồn lực ưu tiên dành cho doanh nghiệp nhà nước, mà hiệu quả đóng góp chỉ được 30-40% giá trị tổng sản lượng. Doanh nghiệp tư nhân bị o ép, hắt hủi đầu tư chỉ 30-40% nhưng làm ra 60-70% GDP. Tóm lại, với tất cả những vi phạm nghiêm trọng về nguyên lý kinh tế thị trường, về cơ chế cấu trúc, về chính sách nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trong trạng thái tan hoang, nợ gấp đôi GDP, giá trị làm ra không đủ cho tiêu dùng của quốc gia trong thời điểm hiện tại. Điều nguy ngập nhất, và cơ sở để nói, nền kinh tế Việt Nam đã chết, chính là động cơ lợi nhuận. Hiện nay, có thể khẳng định, hầu như không một ngành nghề nào, không một doanh nghiệp nào làm ăn có lãi trong cơ chế và môi trường này. Người ta tính toán rằng, nếu một doanh nghiệp nào làm ra, hoặc kinh doanh một sản phẩm, thì chỉ khi có lãi gấp 4-5 lần giá trị sản phẩm (tức là làm ra, hoặc mua 1 bán 4-5) mới hi vọng có lãi, tồn tại được trong môi trường ở Việt Nam. Chính vì phải chi phí cho các yếu tố phi lý, cho luật, lệ và tham nhũng nên doanh nghiệp hiện nay không thể có được lợi nhuận. Động cơ lợi nhuận đã bị triệt tiêu, và nền kinh tế chết ở điểm này. Người dân đã không bỏ vốn ra để sản xuất kinh doanh nữa.

Về chính trị – xã hội, nhà cầm quyền Việt nam vẫn giữ nguyên độc quyền lãnh đạo, vẫn ngăn cản mọi quyền công dân cơ bản của con người như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội. Đồng thời, do lệ thuộc Trung Quốc trên nhiều khía cạnh, dẫn tới sự nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam trước các hành động thôn tính, xâm lấn hải đảo, vùng biển, vùng trời. Thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam trước việc Trung Quốc xâm lấn các đảo ở Hoàng Sa, Trường sa, ngăn cản, tấn công ngư dân ngay trong ngư trường Việt Nam, và gần đây nhất là kiểm soát vùng trời, máy bay Việt nam rơi không rõ nguyên nhân…đã làm người dân hết sức phẫn nộ. Không những vậy, việc vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường biển miền Trung, thảm họa cá chết và công khai đàn áp người dân xuống đường tuần hành vì môi trường càng làm cho người dân sục sôi căm hờn. Bản thân những người trong guồng máy cũng ngày càng hiểu ra những bất cập của nhà cầm quyền Việt Nam. Hàng ngày họ được tiếp xúc, được thông tin qua hệ thống Internet, mạng xã hội về tất cả sự thật đi ngược lại những điều họ được dạy, phải nghe. Những thực tế trần trụi hàng ngày hàng giờ tác động khiến cho sự cật vấn lương tâm của họ càng thêm gay gắt. Cộng với thông tin về số nợ công, tình trạng tham nhũng…đã làm họ mất phương hướng và nảy sinh tâm trạng rã đám và buông xuôi. Đến một lúc nào đó, khi họ cảm nhận được, sự níu giữ, duy trì một chế độ tồi dở là tội ác và vô vọng thì khi đó họ không còn động lực để duy trì, bảo vệ chế độ nữa. Quá trình này đang xảy ra và ngày càng áp đảo trong chính hệ thống thống trị hiện nay.

Như vậy, về cơ bản, sự cạn kiệt nguồn lực sẽ quyết định sự tồn vong của chế độ cộng sản Việt Nam. Tất cả các khía cạnh, lĩnh vực và phương diện của thực tế cuộc sống đều báo hiệu sự vượt ngưỡng chịu đựng của người dân. Tuy vậy, vẫn cần một cú huých, một biến cố làm vỡ tung sức chịu đựng của người dân, làm rã đám và buông xuôi ngay cả những kẻ đã và đang trấn áp người dân khi đã nhận ra sự vô vọng của việc níu giữ, bảo vệ chế độ. Việt Nam đang chờ một biến cố như vậy trong tương lai rất gần./.

Hà Nội, ngày 18/6/2016

N.V.B

Ngôi nhà tạm

Ngôi nhà tạm

Mưa!…

Tôi chạy nhanh thật nhanh vào trong nguyện đường để trú mưa, thế là cơn mưa đầu tiên của mùa hạ lại đến thật thật vội vã. Mưa lộp độp bên cánh cửa sổ, mùi mưa thật dễ chịu và thật bình yên. Tôi đứng lặng người nhìn xung quanh, tĩnh lặng và thật nhẹ nhàng. Bất chợt, tôi thấy 1 luồng ánh sáng vàng chiếu qua mắt tôi, ánh sáng nơi Thánh Thể Chúa.

Nhìn ngôi nhà tạm bé nhỏ có một Giêsu đang ở đó cô đơn đợi tôi, một Giêsu đã từ bỏ ngai vàng quyền quý của một vị Vua để khiêm nhường đến với con người tội lỗi và sống cùng họ, cùng trải qua những gian khổ, khó khăn chỉ với một mong ước đưa họ trở về , để họ được tự do với tội lỗi và sống hạnh phúc làm con Thiên Chúa.

TroChuyen-Voi-Chua

“ Chúa chờ con có lâu không? ”

Đó là điều tôi muốn thưa cùng Chúa, tôi thấy một cảm xúc lâng lâng khó tả nhưng rồi lòng tôi lại rối bời và chẳng thể tập trung lại nữa. Cảm xúc chợt đến như cơn mưa đầu mùa hạ kia và lại đi thật nhanh khiến lòng tôi trống rỗng. Phải chăng những lo lắng việc học hành, lo toan của cuộc sống làm tôi trở nên bộn bề và chẳng còn một góc nhỏ nào cho Chúa nữa. Cả ngày loay hoay trong đống giấy tờ và ôm chiếc máy tính ngồi làm đồ án để rồi tôi chẳng biết rằng những giờ cầu nguyện hay viếng Chúa nơi nhà nguyện tôi cũng dành tâm trí cho đồ án luôn.

Lặng yên nhìn vào đền thờ trong lòng tôi, tôi chợt hỏi mình đã bao lâu rồi tôi không dành giờ để dọn dẹp, sửa sang ngôi nhà tạm bé nhỏ đơn sơ này, ở nơi đó vẫn có một Giêsu chờ tôi từ lúc sớm hôm đến khi đêm về. Nơi nhà tạm bé nhỏ đấy tôi đã thưa bao điều cùng Chúa, những lúc vui, lúc buồn, những lúc yêu mến hay thất vọng.

GMVNGHCGTG_Full_734232424

“Chúa ơi, sao con lại tính toán thời gian với Chúa cơ chứ?”

Tôi thấy lòng mình nhẹ lại, một cảm giác yên vui và bình an đang lan truyền trong con người.

Là một Ứng Sinh đang trong quá trình tìm hiểu Ơn gọi, chắc chắn sẽ có lúc này lúc khác, những khi tôi thấy mình tràn đầy niềm vui và tình yêu Chúa. Tôi nghĩ rằng sẽ chẳng có gì có thể làm mất đi tình yêu của tôi đối với Ngài. Nhưng không phải, cũng nhiều lần lòng tôi thật trống trải cô đơn, để tôi nhận ra rằng chính những giây phút đó dặn tôi phải bám chặt vào Chúa hơn hơn nữa.

maxresdefault

Lạy Chúa, con biết con yếu đuối lắm, đã không biết bao nhiêu lần con đã phản bội Ngài u mê trong tội lỗi. Xin đưa tay để dắt con đi qua những nẻo đường đầy gian khó, xin dạy con biết sắp xếp thời gian để chẳng khi nào con quên Chúa dù 1 giây, để ngôi nhà tạm của lòng con luôn có Ngài và con cùng trò chuyện. Amen.

TMD

Chuyện lượm được ở đám giỗ ông Võ Văn Kiệt (phần 2)

Chuyện lượm được ở đám giỗ ông Võ Văn Kiệt (phần 2)

FB Lưu Trọng Văn

16-6-2016

Anh Ba một thời hét ra lửa. Ảnh: internet.

Tiếp theo phần 1: Chuyện lượm được ở đám giỗ ông Võ Văn Kiệt

Chắc chẳng khó gì với bạn đọc của gã để đoán ra người cao lớn có bước chân khập khiễng kia là ông Ba Dũng – dngười quyền lực của quốc gia một thời.

Nhìn bước khập khiễng của ông vì còn mang trong chân nhiều mảnh đạn thời chiến, trở về với đời thường không phải tiêm thuốc giảm đau như bấy lâu nay mỗi khi xuất hiện trước công chúng hay trước các chính khách thế giới để chứng tỏ oai phong, lẫm liệt của mình, gã thấy… động lòng.

Điều gì đã tạo nên cái bi hài của bước chân khập khiễng rất thật và bước chân bành bạch ngang tàng kia?

Thuốc giảm đau ư?

Thời thế đã đổi thay ư?

Sự thật và dối trá ư?

Tuỳ mỗi người theo góc độ mà mình biết thông tin thật giả tới đâu mà chủ quan cảm nhận thôi, gã không thể đưa ra nhận định của gã khi chính mắt mình chứng kiến khuôn mặt phần nào mệt mỏi và bước chân khập khiễng của ông lúc này.

Hiếu Dân dẫn ông Ba Dũng vào gian thờ ông Võ Văn Kiệt để ông Ba Dũng thắp nhang như dẫn ông Tư Sang cách đây không lâu. Chả biết khi ông Ba Dũng thắp nhang cho ân nhân của mình, người mà có không ít lần ông nói là ông coi như cha của mình cạnh kề nén nhang mà ông Tư Sang thắp trước đó làn khói vương lên có quyện, có xoắn với làn khói của cây nhang do ông Tư Sang thắp không?

Gã cứ lẩn thẩn với ý nghĩ liệu có là bi kịch cho ông Kiệt ở chỗ, cả hai ông Ba và Tư đều từ một ông thầy và chính ông thầy ấy sau này ba người mỗi người một ngả.

Khi thắp nhang xong trở lại nơi có tiệc đám giỗ, ông Ba Dũng bắt tay nhiều quan khách. Chắc ông cũng thừa biết lúc này qua cử chỉ, cái cười gượng mà ra… gạo hoặc ra cám, sự hồ hởi hay sự lơi lơi, ai thật tình, ai giả dối với ông. Điều này thì ông khó mà biết được khi mới đây thôi, ông còn ở trên đỉnh chót vót quyền lực.

Ông Ba ngồi vào cái ghế mà ông Tư vừa bỏ đi. Và rồi cũng như ông Tư khi ngước lên phát hiện ra cái bàn bên rìa với gs Tương Lai cùng những trí thức thời nào cũng bị cho là… đối lập như Huỳnh Tấn Mẫm, Huỳnh Kim Báu, ông bèn đứng dậy và bước những bước chân mạnh mẽ hơn khi xuất hiện ban đầu khập khiễng, đến bên cái bàn-ốc đảo ấy.

Ông khẽ cười rồi lần lượt bắt những bàn tay còn quẩn quanh vương vít mùi da thịt bàn tay của ông Tư Sang.

Chỉ khác, khi bắt tay Lê Công Giàu ông không nói như ông Tư: Tên là Giàu mà nghèo. Có thể trong ông từ lúc nào không biết nữa cái câu nói đó đã thành dĩ vãng rồi chăng?

Ồi, hên cho ông vì đã không nói câu nói như ông Tư Sang nên khỏi phải nhận cái câu hỏi “toé loe con bò kéo xe” của gã là, anh Ba ơi vậy tên anh là Dũng nhưng có “dũng” không? Như gã từng hỏi “anh Tư ơi tên anh là Sang nhưng có “sang” không?”.

Ừ nhỉ, nếu xảy ra tình huống ấy thì sao? Gã tin với cá tính thẳng toẹt của ông thể nào ông cũng cười hà hà và hỏi ngược như một câu trả lời: Mắc mớ gì mà không dũng?

Chỉ khác nữa là khi ông bắt tay gs Tương Lai thì ông gs vươn người đứng dậy chứ không ngồi yên một chỗ như khi bắt tay ông Tư Sang. Theo gs Tương Lai thì đó là gs muốn tỏ rõ một thái độ. Gã tôn trọng chuyện thích hay không thích của bất cứ ai.

Còn một điều không khác ông Tư Sang là khi bắt tay gã nhìn cử chỉ của ông, ông không thể nhớ gã là ai. Nếu gã nhắc lại khi ông là chủ tịch Kiên Giang kiêm trưởng ban chống buôn lậu, gã tới gặp ông phản ánh tại cảng Hòn Chông gã phát hiện buôn lậu ô tô từ Singapore, thì may ra ông sẽ nhớ tới gã, vì lúc ấy ông đã rất “dũng” mà nói rằng: Ở tỉnh tôi lúc này không buôn lậu thì lấy cái gì mà sống.

Thôi chuyện qua lâu lắm rồi.

A, còn một điều không khác ông Tư nữa là tay ông Ba khi bắt cũng rất chặt và ấm. Sự thật như thế thì gã phải nói như thế còn ai tự cảm thấy đó là sự trớ trêu nào đó về thời cuộc thì đó là việc của họ.

Sau màn chào hỏi khá thân tình ấy ông Ba trở về bàn chính giữa dành cho mình mà ngồi bên cạnh ông là ông Lê Hồng Anh với bộ lông mày rậm rịt rất riêng mà trong bộ chính trị bộ lông mày của ông Nguyễn Thiện Nhân cũng không sánh bằng.

Lúc này xuất hiện luật sư Trương Trọng Nghĩa và vợ là nhà báo Thế Thanh cùng giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM Phan Thanh Bình. Ông Nghĩa, người luôn hăng hái có ý kiến phản biện quyết liệt và hừng hực đem tiếng nói bức xúc của người dân trên diễn đàn QH vừa tái trúng cử QH. Ông dướn tròn cặp mắt kể gã nghe, hôm gặp cử tri để vận động bầu cử, ông bất ngờ khi có cử tri hỏi ông vì sao lại để vợ mình đi biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Ông đã trả lời: Tôi là ĐBQH tôi phải lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người dân. Vợ tôi cũng là một người dân.

Ông Phan Thanh Bình có khuôn mặt còn tươi rói, trẻ trung nhưng tóc thì bạc phơ. Ông thuộc trường phái như gs Tương Lai nói là “không đổi trắng thay đen”, và như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tóc cũng bạc phơ, là “ thì… mình thế nào cứ để thế”. Riêng gã, gã nghĩ ông Bình không dám “trở ngói” cho tóc đen vì sợ….vợ. Ông đẹp trai ăn nói có duyên đứng trước giảng đường mà lại tóc đen nhanh nhánh nữa thì ối em sinh viên mê tít, về nhà vợ hành cho phải biết. Mỗi lần gã gặp ông Bình lại nhớ câu thơ của nhà thơ Viễn Phương, cha ông, mà thời bé tẹo gã rất thích:

Nhớ lắm em ơi, nhớ lắm những ngày

Sống ở hầm ăn cơm vắt uống nước chai

Mỗi tối đem cơm mắt em lấp láy

Từ yêu nhau chỉ gặp mặt dưới sao trời

Ông Bình trúng Trung ương hai khoá, cả hai lần người ta đồn rầm là ông sẽ lên chức bộ trưởng Bộ GD và ĐT, nhưng rốt cuộc cả hai lần ông đều tại vị ở ĐH QG. Ông nói đùa với gã: Tôi là anh ba cơ nhỡ. Rồi ông nói nghiêm chỉnh: Thực ra hạnh phúc của tôi là được truyền lửa cho sinh viên.

Hội của luật sư Trương Trọng Nghĩa và giáo sư Phan Thanh Bình vừa rời khỏi bàn của gã thì lập tức giáo sư Trần Hồng Quân cựu bộ trưởng bộ GD và ĐT tới. Ông Quân lúc này ốm o khác xa một quý ngài bộ trưởng oai phong thuở nào. Gã nhớ một người bạn giảng dạy ở ĐH Bách khoa TP HCM kể rằng, trong lần tiếp xúc với các giảng viên các trường đại học, ngài bộ trưởng có nói rằng, nền giáo dục nước ta rất ưu việt. Một giảng viên trẻ đã hỏi lại ông: Vậy tại sao bộ trưởng không cho con mình học ở trong nước để thừa hưởng tính ưu việt đó mà lại cho con học ở nước ngoài?

Câu hỏi khó quá. Gã nghĩ nếu bây giờ nghe câu hỏi hóc ấy thì ông cựu bộ trưởng sẽ hồn nhiên mà phá lên cười…cả trừ lẫn cộng.

Gã nhòm qua bàn ông Ba Dũng đang ngồi. Lúc này bên trái ông xuất hiện ông Trương Hoà Bình và bên phải ông là cái ghế trống mà ông Lê Hồng Anh đi đâu không biết, kề cận cái ghế trống ấy là ông Đinh La Thăng. Ông Đinh La Thăng ngồi quay lưng với bàn gã ngồi, còn ông Trương Hoà Bình thì ngồi đối diện và ông dễ dàng nhận ra nhà thơ Nguyễn Duy và nhóm của gs Tương Lai. Gã thấy ông uỷ viên Bộ Chính trị vừa được Đại hội Đảng 12 bầu kiêm phó thủ tướng thường trực vừa được QH bầu đi đến cái bàn rìa . Mái tóc hơi xoăn, nụ cười thường trực trên môi ông vui vẻ lắm, bắt tay các thành viên của cái bàn…ốc đảo này. Ông tỏ ra đặc biệt thân tình với Nguyễn Duy và hẹn Nguyễn Duy một cuộc nhậu.

Gã khá ngạc nhiên cử chỉ của người từng là trùm an ninh và hiện phụ trách mảng nội chính này đối với nhóm của gs Tương Lai. Với vai trò của ông, đương nhiên ông quá rành từng kiến nghị, tuyên bố, thư ngỏ, bài viết không theo đúng ý Đảng của các ông Tương Lai, Huỳnh Kim Báu, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu này. Vậy thì với nụ cười sởi lởi, ánh mắt tươi vui cái bắt tay chân tình của ông dành cho những đối tượng kia nói lên điều gì?

Chịu.

Gã chỉ ghi nhận chứ không thể đưa ra được lời nhận xét sao cho hợp, cho đúng những vấn đề cực kì nhậy cảm và tế nhị này. Có người sẽ bảo chính trị nó là như thế. Tuỳ!

Nguyễn Duy kể gã nghe, hồi trước do làm những bài thơ có “vấn đề” về đất nước, Nguyễn Duy bị an ninh theo dõi. Trực tiếp ông Trương Hoà Bình tiếp xúc với Nguyễn Duy thế quái nào ngài chỉ huy an ninh lại mê thơ và trở thành bạn nhậu tâm đắc của Nguyễn Duy. Rồi đường ai nấy đi, ông Bình họ Trương vù vù thăng tiến quan lộ, Nguyễn Duy vẫn bình chân như vại, thơ phú cùng rượu nút lá chuối làng Vân. Để rồi thỉnh thoảng hội ngộ lại chỉ thơ và … rượu.

Khi ông phó thủ tướng trực về lại chỗ của mình thì tới lượt bí thư Thành uỷ Đinh La Thăng, người đang gây cơn sốt trong truyền thông, thế giới mạng cũng như công chúng về một loạt hành động, tuyên bố hợp lòng dân của mình. Mặc dù có nhiều người quen của gã còn nghi ngờ ông họ Đinh này, riêng gã, gã chỉ đơn giản nghĩ, dù quá khứ người ta thế nào, nếu hôm nay bằng hành động người ta đang tích cực vì dân thì mừng quá đi chứ, thì mắc mớ gì mà không đưa cả hai tay lên ủng hộ.

Ông Thăng đưa hai tay bắt tay Huỳnh Tấn Mẫm một thủ lĩnh của thanh niên mà một thời ông Thăng là một cốt cán tích cực ở Thuỷ điện sông Đà. Ông Thăng mới đây đã vào thăm ông Mẫm khi ông Mẫm chữa tim.

Gã nghe loáng thoáng gs Tương Lai nói với ông Thăng:

– Tôi có gửi một bức thư cho anh…

– Dạ, em có nhận được ạ. Xin lỗi anh, nhiều việc quá, em chưa trả lời được. Xin anh thông cảm.

Gã nói với ông Thăng, gã cùng tiến sĩ Trương Đình Hiển đang bàn về cách thức tổng thể chống hạn, chống lũ ở đồng bằng Cửu Long và chống ngập ở Sài Gòn. Ông Thăng chăm chú nghe rồi cho gã số điện thoại . Vẫn giọng rất nhún nhường ông nói: Có gì anh cứ gọi cho em. Em chơi thân với Lưu Trọng Ninh thời anh Ninh làm phim ở sông Đà. Gã không thể ngờ một con người cao lớn đi đâu thấy sự bất bình của dân là thét ra lửa với những quan chức vô cảm, vô trách nhiệm gây nên sự bất bình ấy lại nhỏ nhẹ đầy chất nho nhã như thế.

Thỉnh thoảng gã lại liếc nhìn về phía bàn ông Ba Dũng. Không hiểu sao lúc này ông ngồi nhõn mình. Có lẽ ít khi giữa đám đông mà ông lại chỉ ngồi một mình như thế. Gã thấy ông cầm chiếc khăn trắng đưa lên mắt lau cái gì đó ở mắt.

Gs Tương Lai đột ngột chống gậy đứng dậy. Gs nói với gã: Tôi muốn nói với ông Ba một câu.

Khi ông Tương Lai tới bên ông Ba, đây là lần đầu tiên suốt đám giỗ ông Kiệt, vị giáo sư già tuổi 80 có biệt danh là “Tương Lai” luôn đau đáu những “Mênh mông thế sự” này mới dời khỏi ghế của mình đi sang bàn khác, thì bàn ông Ba đã có sự trở lại của các ông Trương Hoà Bình, Đinh La Thăng , Phan Thanh Bình, Trần Hồng Quân. Còn ông Lê Hồng Anh hình như đã lặng lẽ ra về.

Vị gs già không ngồi chiếc ghế trống bên phải ông Ba mà ông Lê Hồng Anh đã đi và cũng không hiểu sao ông Đinh La Thăng không ngồi vào thế chỗ cho gần ông Ba hơn. Nhưng ông Ba đang dở chuyện với một ông nào đó gã không biết tên, nên gs quay qua ông Thăng và nói với ông Thăng:

– Giáo sư Hồ Ngọc Đại hôm kia có điện thoại cho tôi hỏi tôi có đúng là Đinh La Thăng nói “Giáo dục là khoa học không phụ thuộc ý chí chính trị” không? Tôi bảo, đúng vì tôi xem trên báo, và biết có thể báo sẽ bị rút bài nói này nên đã lưu lại, ông muốn đọc nguyên văn tôi sẽ chuyển cho ông. Giáo sư Hồ Ngọc Đại nói…

– Dạ, thế nào ạ?

– Xin lỗi anh trước, giáo sư Hồ Ngọc Đại nói với tôi: Thằng ý khá đấy mày ạ. Rồi giáo sư nhấn mạnh thêm, nói được câu ấy là khá lắm đấy.

Đột nhiên giáo sư Trần Hồng Quân đứng bật dậy nói:

– Lẽ ra anh Thăng nên nói thế này thì đúng hơn, giáo dục là khoa học không phụ thuộc vào ý chí cá nhân của người làm chính trị.

Ông Thăng tỏ ra lúng túng trước câu sửa lưng của ông cựu bộ trưởng giáo dục này. Nhưng ông chọn im lặng và một nụ cười tất nhiên rõ ràng là gượng.

Ông Ba đã xong chuyện với với ông nào đó mà gã không biết tên, quay người lại nắm tay gs Tương Lai. Gs vỗ tay lên vai ông Ba, nói:

– Hôm nay, anh thong thả (gã chú ý là ông gs cố ý không dùng từ thanh thản hay lui về), tôi đến nói với anh một câu thôi: Anh nhớ ngày mùng 1 tháng giêng năm 2014 anh cho phát đi bản “Thông điệp đầu năm” thì mùng 2 BBC và RFA phỏng vấn tôi. Tôi nói tôi ủng hộ thủ tướng khi ông nói “Không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng của đất nước lấy tình hữu nghị viển vông và lệ thuộc”.

– Có, tôi có biết cuộc phỏng vấn đó. Câu đó tôi nói đúng như thế. Tôi nghĩ thế và tôi nói như thế và tôi nhất quán điều đó, cho đến hôm nay tôi vẫn như thế.

Gs Tương Lai nói tiếp:

– Câu trên là anh nói ở Shangri-La, tôi lưu ý với BBC và RFA câu anh viết trong Thông điệp: Động lực tạo ra từ Đại hội Sáu đã cạn rồi, muốn phát triển thì phải có động lực mới. Động lực mới đó phải được tạo ra bằng Dân chủ và Nhà nước pháp quyền. Dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp song sinh của thể chế chính trị hiện đại. Gộp cả hai câu đó lại, tôi cho đây là một đột phá về tư duy chính trị mà đất nước đang cần. Tôi quyết liệt ủng hộ cho bước đột phá đó. Vì vậy, hôm nay tôi đến để khẳng định lại với anh đó phải là lựa chọn của đất nước.

Ông Ba mỉm cười. Ông Thăng cười rất tươi. Ông Phan Thanh Bình đưa điện thoại lên chụp vị gs già bên ông cựu thủ tướng và nói:

– Tôi chụp nhưng không đưa lên facebook đâu.

Gã nhớ lại có lần gs Tương Lai kể với gã sau cuộc gặp vào tháng 7.2014 của gs và một số trí thức tên tuổi với ông Ba khi gs nhắc đến hai câu nói nổi tiếng kia của ông Ba, gs đã nói thẳng với ông Ba: Anh sẽ đi vào lịch sử nếu thực hiện những điều anh nói. Còn không thì anh sẽ là tội đồ của lịch sử.

Riêng gã, gã rất tiếc rằng có lẽ vì sự tế nhị nào đó khi ông Ba đã không còn ở vị trí quyền lực nữa nên gs đã không nhắc lại câu nói mà theo gã là của Lịch sử này đối với bất cứ ai đang nắm vận mệnh dân tộc, đất nước.

Trời đột ngột mưa to.

Gã cùng gs Tương Lai ra sảnh để về. Đột nhiên có một ông lạ hoắc gã chưa từng biết oang oang nói:

– Ông gs, ông đứng lại để tôi bắt tay ông một cái nào.

Sau khi ôm lấy gs, ông quay ra nói với mọi người :

– Ông này mới là người yêu nước chân chính!

Gã nhận thấy ông gs cố nén nước mắt. Gã hỏi nhỏ một người quen:

– Ông kia là ai?

– Một người dân cùng quê với ông Võ Văn Kiệt ở Vĩnh Long.

Lên xe, gs Tương Lai nói với gã:

– Tôi gần đất xa trời rồi, câu nói của ông ấy là câu làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc nhất trong đời của tôi đấy ông Văn ạ.

Hãy làm cho báo chí TỰ DO

Hãy làm cho báo chí TỰ DO

Nguyễn Khắc Mai

  1. Xin đăng lại bài báo của Phan Đăng Lưu:

VỀ TỰ DO BÁO CHÍ

Phan Đăng Lưu

Tự do báo chí không bao giờ có hại cho nhà cầm quyền vì nhiều lẽ:

  1. Khi các báo được tự do xuất bản, thì chỉ những tờ báo có dân chúng ủng hộ, mới có thể sống, còn không thì chết, hoặc sống ngắc ngoải, chẳng có ảnh hưởng gì đáng sợ.
  2. Một tờ báo đã sống, đương nhiên, nó đại diện cho một tầng lớp dân chúng, nó diễn đạt tất cả hoài vọng và chí hướng của đám dân ấy. Nhà cầm quyền muốn cai trị được hoàn thiện, không thể bỏ qua những hoài vọng hoặc chí hướng của đám dân này. Tất nhiên cũng cần đọc hết tờ báo ấy.
  3. Mỗi tờ báo, nói vượt qua trình độ dân chúng, kêu gọi dân chúng làm những việc tày trời, không bao giờ dẫn đạo được dân chúng, sẽ bị dân chúng gạt qua bên mặt trận thù địch.
  4. Một tờ báo sống một cách mạnh mẽ, có ảnh hưởng trong dân chúng, đưa ra những vấn đề trái ngược với quyền lợi của nhà cầm quyền, cũng chẳng có hại cho cuộc trị an. Nó chỉ là một tiếng còi báo trước cho chánh phủ hãy thay đổi chánh sách cai trị để chuộc lòng dân.

Căn cứ vào những lẽ đó, chúng tôi quả quyết rằng Tự Do báo chí không bao giờ có hại cho nhà cầm quyền. Có hại chăng là một chánh sách cai trị hẹp hòi, đi ngược với sự tiến hóa của dân chúng mà thôi. /.

(Báo Dân Tiến số 10-11-1938).

  1. Đôi điều về tác giả bài báo. Phan Đăng Lưu quê Nghệ An, sinh năm 1902, mất năm 1941, trong một gia đình nho học, yêu nước. Ông từng có sở học Hán học, đi thi hương, khoa thi cuối cùng 1918, từng học Quốc học Huế, trường Canh nông thực hành (Tuyên Quang). Làm việc ở Sở Canh nông nhiều tỉnh, tham gia Đảng Tân Việt, rồi chuyển sang lập trường cộng sản, ủy viên BCH TW (1937), rồi ủy viên thường vụ Trung ương – tức Bộ Chính trị (1938). Từng bị Pháp bắt giam ở Ban Mê Thuột. Từ cuối 1940 khi từ Bắc vào chỉ đạo Khởi nghĩa Nam kỳ, bị Pháp bắt, xử tử hình năm 1941 tại Hóc Môn.

Ông từng viết báo, xuất bản nhiều sách tuyên truyền chủ nghĩa Mác. Đây là bài báo ông viết trên tờ Dân Tiến, tờ báo của cộng sản ở Huế.

  1. Bài báo ngắn, chỉ có bốn ý bênh vực cho Tự do báo chí. Lý lẽ thực dụng, không giống như Các Mác từng viết cả mấy trăm trang sách “Tranh luận về Tự do báo chí”, mà dẫu rất bác học, rất tâm huyết, nhiều giá trị, vẫn bị các đảng cộng sản vứt vào sọt rác! Các Ban Tuyên huấn của các đảng cộng sản có cái tệ là một mặt cứ treo ảnh ông Mác ở hội trường mặt khác lại “ị” vào trước tác của Tổ sư của mình.

Về bài báo Tự do báo chí của Phan Đăng Lưu cũng thế. Tôi tin rằng ông Trọng hay ông Huynh chắc chưa bao giờ đọc bài báo của bậc tiền bối của mình. Và khi họ không tiếp nhận được tư duy dẫu còn thô sơ, nhưng đã phản ảnh một khuynh hướng tư tưởng có thật ở Việt Nam, họ đã làm gì? Họ hiện ra là những kẻ vọng ngoại, sùng bái những tư tưởng Mác Lê, Mao ít, Mao nhiều. Và người ta không thể nghĩ khác rằng họ đang quản lý báo chí với những tư tưởng và mô hình nô dịch. Trong trường hợp này chính họ là kẻ phản bội lại tư tưởng, lý tưởng của những bậc tiền bối của mình.

Dẫu sao Phan Đăng Lưu cũng đã sớm đề xướng một tư tưởng tiến bộ hợp lý, một yêu cầu vẫn rất kim nhật kim thì (ngay hôm nay, ngay thời này!). Một Dân tộc để độc lập, để phục hưng, để sánh vai không lép vế, không lệ thuộc, không bị trói mình lẽo đẽo chạy theo cỗ xe bá quyền Đại Hán làm hại làm nhục mình, không thể không có tự do báo chí. Một xã hội trăn trở để thoát khỏi đói nghèo lạc hậu, mất nhân tính, thoát khỏi sự suy đồi mất nhân cách, vươn lên làm người tự do, đạt tới dân trí và văn hóa, vừa giàu có về vật chất vừa mạnh mẽ về tinh thần, nói như mơ ước của Nguyễn Đình Thi “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”… nhất định phải có tự do báo chí.

Nếu nhà cầm quyền cộng sản hiện nay đã đánh mất và phản bội lại những tư tưởng tiến bộ của tiền bối sáng lập đảng thì tự do báo chí vẫn là một yêu cầu khách quan của dân tộc và thời đại. Một bộ phận trí thức và thanh niên cấp tiến đã tiếp nhận xu thế này và họ đã cho chúng ta niềm tin rằng lương tri của dân tộc, của xã hội vẫn tồn tại.

Đọc lại “Về tự do báo chí” của Phan Đăng Lưu, không thể không khẳng định rằng dân ta, xã hội ta, chính quyền thật sự của dân do dân vì dân, ngày nay rất cần có tự do báo chí.

Những người cầm quyền hiện nay hãy nghe Phan Đăng Lưu: “Chúng tôi quả quyết rằng tự do báo chí không bao giờ có hại cho nhà cầm quyền”.

Tất nhiên phải nói cho rõ: nhũng kẻ cầm quyền phản dân hại nước luôn dị ứng với tự do báo chí.

Viết nhân cái ngày gọi là ngày báo chí cách mạng, mà đã là cách mạng thì không có tự do, như nhà báo chó Như Phong, chỉ có nhà báo chó, không làm gì có báo chí tự do.

Báo chí tự do phải là báo chí của con người tự do!

N.K. M.

Quan chức cho con đi du học: dấu hiệu của tham nhũng

 Quan chức cho con đi du học: dấu hiệu của tham nhũng

tuankhanh

 RFA

“Tiền tham nhũng có thể dùng để trả học phí cho các trường nước ngoài”

Một bài viết trên tờ Times of London (Anh) vừa lên tiếng trong ngày 11/06/2016, cho biết nhiều trường đại học và tư thục đang bị cáo buộc là nhận các học sinh du học đến Anh, nhưng làm ngơ hoặc im lặng về nguồn gốc của các lượng tiền lên đến hàng triệu bảng Anh, nhiều khả năng là tiền tham nhũng, tiền bẩn từ các nước khác.

Ngành giáo dục Anh chỉ hợp tác và đưa ra ánh sáng được 9 trường hợp trong số 382.000 báo cáo cho chính quyền, qua các đợt điều tra về rửa tiền đến từ nước ngoài, trong niên khóa 2014-2015. Các nhà hoạt động chống tham nhũng nói rằng đã có một lỗ hổng để các luồng tiền tham nhũng được “rửa” thông qua các trường trung học và cao đẳng, đại học, mà những nơi này giờ cần có nghĩa vụ báo cáo những nghi vấn cho Cơ quan tội phạm quốc gia để ngăn chặn và giám sát chặt chẽ loại tiền này.

Các nhà hoạt động nhằm vận động minh bạch các nguồn tiền này nói rằng hệ thống giáo dục của những quốc gia phát triển đang là điểm đến cho cá nhân tham nhũng ở nhiều nước. Việc đưa con cái đi du học đang thịnh hành, nhằm để tạo danh thơm cũng như chuyển hợp pháp tiền bạc tham nhũng, tiền bẩn qua ngã đóng học phí cho trường học và các trường cao đẳng, hiến tặng tiền cho các khoa trường đại học, hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu.

Đừng ngạc nhiên khi các quốc gia nghèo khó ở Châu phi hay các nước luôn lên giọng thù ghét phương Tây hoặc chế độ tư bản như Trung Quốc, Iran, Việt Nam… thậm chí là Bắc Triều Tiên, con cái các quan chức, lãnh đạo… vẫn được âm thầm đưa đi du học ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Thụy Sĩ… với những chi phí lớn đi kèm như xe, nhà riêng… lên đến hàng triệu Mỹ kim.

Câu hỏi đơn giản, là với mức lương tuyên bố rất cần kiệm của nhiều quan chức – cụ thể như ở Việt Nam – làm sao họ có thể cho con cái lần lượt đi du học, sắm sửa mọi tiện nghi mà chính người bản xứ lao động cật lực cũng phải ngạc nhiên. Không khó để điều tra, cái khó là làm sao luôn tỉnh táo trước những chương trình chống tham nhũng ở các quốc gia đó luôn kêu vang, mà thực chất là để trình diễn trước đám đông.

Ngay ở Trung Quốc, từ các hồ sơ báo cáo về các quan chức tham nhũng đã chuyển một lượng tiền lớn ra nước ngoài, người ta thấy rằng việc muốn minh bạch không khó. Tân Hoa Xã cho hay hiện đã có hơn 4.000 quan chức tham nhũng mang theo 5 tỉ nhân dân tệ đang cùng gia đình sống ung dung ở nước ngoài như Mỹ, Canada, Úc, New Zealand… là một trong những vấn đề nhức nhối cảnh báo. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm trong thế giới tham nhũng và đào thoát của quan chức chế độ độc tài.

Bản tin nhận định rằng, thông lệ và dễ nhận ra, các quan chức đó “thông qua tuyến du học của con cái đưa vợ con đi trước, bản thân vẫn ở trong nước tiếp tục vơ vét rồi lặng lẽ đi sau, vào thời điểm nào đó”.

Chỉ riêng tại Anh, học phí du học đã đóng góp 7 tỷ bảng cho nền kinh tế Anh mỗi năm, trong đó 2,3 tỷ bảng là học phí và sinh hoạt cá nhân của giới du học sinh tại London. Các nhóm chống tham nhũng ở Anh con sinh hoạt phí số đó cũng lý giải phần nào chuyện giàu có bất thường của các bộ phận tuyển chọn sinh viên.

Hiện tại ở Anh, học sinh nước ngoài đến từ các quốc gia có vấn đề tham nhũng như Nga và Trung Quốc, đang chiếm hơn một phần ba học sinh tại các trường nội trú.

Những báo cáo về nạn rửa tiền tham nhũng qua du học, đang dấy lên nhiều mối quan tâm tầm quốc tế. Thậm chí, việc các trường đại học nhận các khoản đóng góp từ các nhân vật gây nhiều tranh cãi, cũng là lý do để mọi người xét lại giá trị của đồng tiền đó. Chẳng hạn như đại học Cambridge từng nhận tiền tài trợ cho chương trình nghiên cứu Ukraine từ Dmitry Firtash, người sau đó bị buộc tội hối lộ ở Mỹ. Robert Barrington, giám đốc của Cơ quan Minh bạch Quốc tế Vương quốc Anh (Transparency International UK) nói rằng ngành giáo dục hôm nay cần phải đóng một vai trò lớn hơn nữa trong việc minh bạch tài chính.

Cơ quan cho thuê nhà trong London, nằm trong vùng Kensington và Westminster nói rằng sinh viên giàu có ở nước ngoài có “nhiều tiền mua nhà hơn cả những người của công ty chúng tôi, kể cả những người đang làm trong ngành ngân hàng”.

Nhiều năm nay, các khu người Việt giàu có, với các chủ nhân trẻ và bí ẩn đến từ Việt Nam, cũng là đề tài bàn tán ở Mỹ hay ở Úc. Thậm chí những người Việt định cư lâu năm, thành đạt kể từ khi vượt biển năm 1975 cũng phải ngạc nhiên về mức độ mua sắm, tiêu xài của những “người mới đến” này.

Quê hương là… mùi nước mắm

Quê hương là… mùi nước mắm
Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Cá chết trong nước, ngoài nước quý bà nội trợ đổ xô đi mua nước mắm.

Chúng ta đi mang theo quê hương nhưng nhiều khi quên mang theo nước mắm. Ở đâu cũng có gạo, thịt, cá, tôm, rau cải, bột, đường, nhưng không phải ở đâu cũng tìm ra nước mắm. Những người di tản đến Orange County, California, năm 1975 đi Los Angeles, kiếm được chai nước mắm đem về, mừng rơn. Bây giờ, cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã đông vui, không khó để có được chai nước mắm, có khi còn mắm nêm, mắm lóc, mắm ba khía… chẳng khác chi ở một ngôi chợ làng.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Chén nước mắm dùng trong mâm cơm được coi là nét đặc biệt trong chuyện ăn uống của người Việt Nam. Miền Bắc và miền Trung thường dùng nước mắm nguyên chất với các loại ớt, nhưng vào miền Nam thì người ta dùng “nước mắm pha,” có đường, chanh, ớt, tỏi pha nước, không mặn, nên khi ăn ốc, ăn bánh khọt, người ta “húp” cả nước mắm. Nước mắm pha để ăn các loại bánh làm từ bột của xứ Huế quả là muôn vàn rắc rối, không thể dùng một cách nhầm lẫn được. Do vậy nước mắm để ăn bánh bột lọc khác với nước mắm ăn bánh ướt tôm chấy, nước mắm ăn bánh bèo không dùng để ăn với bánh nậm.

Nước mắm không phải là món nước chấm, mà là một món ăn chính. “Ngày mưa bão, trên mâm thường trứng luộc.” (dầm trong một chén nước mắm – nhà nghèo thì một phần trứng mà có đến ba phần nước mắm) hay như một câu nói bình dân xứ Huế: “Nói cho lắm cũng nước mắm – dưa cải, nói cho phải cũng dưa cải – nước mắm!” Đó là món ăn nghèo khổ nhất! Không cao lương mỹ vị, thì bữa cơm với chén nước mắm cũng xong! Thời Pháp thuộc, người ta dùng “tỉn” để chứa nước mắm chứ chưa có chai để đựng nước mắm phổ biến như bây giờ.

Với tôi, từ thuở nhỏ đến lúc bạc đầu, bữa cơm nào cũng phải có chén nước mắm ớt nguyên chất. Đến dùng cơm nhà bà con hay bạn thân, thì cứ nói thẳng: “Đừng quên chén nước mắm ớt của tôi nghe!”

Tôi có một người bạn người Huế đi du học bên Tây rất sớm, lại lấy vợ đầm, suốt đời phải bỏ lại “nước mắm” sau lưng. Thời gian sau này khi đi du lịch một mình sang Mỹ, anh lại có cơ hội “tắm lại trong dòng sông cũ,” được chan nước mắm thả dàn, tâm sự là nhớ mẹ khôn nguôi! Bây giờ thấy những bà nội trợ Việt Nam ở Mỹ đi chợ, chất đầy những chai nước mắm lên xe đẩy, mới thấy nước mắm gắn bó với con người Việt Nam ra sao!

Sau năm 1975, khi miền Bắc “mới được giải phóng,” dân chúng chưa có được chai nước mắm mà ăn. Người ta lừa vị giác và thị giác của con người bằng loại nước mắm XHCN làm bằng nước muối và lá chuối khô. “Nhà sản xuất” nấu nước muối lên, bỏ vào nồi một hai ngọn lá chuối khô, loại nước này ngả màu nâu rất đẹp không khác gì màu nước mắm, đậm nhạt tùy thời gian nấu lá chuối khô trong nồi. Màu thì giống nước mắm thật, còn mùi thì phải tưởng tượng ra!

Ví như hôm nay, bạn sửa soạn ra đường, nhưng chẳng may vấy phải vài giọt nước mắm trên áo, thì phải vội vàng vứt cái áo ngay, vì cái mùi “hôi” của nó, nhưng sao chúng ta lại mê nước mắm, đến đỗi bữa cơm không có nước mắm thì thành bữa cơm vô vị, và nói đến người Việt Nam thì phải nhắc đến nước mắm. Tôi không chịu nổi mùi Fromage Camembert của xứ Normandie ra sao, thì Tây cũng sợ mùi nước mắm Phú Quốc đến như thế! Mùi vị của mỗi nơi là văn hóa, nên cũng đừng bắt người ngoại quốc phải thích văn hóa của mình.

Đứng ở xa thì OK, nhưng đến gần thì không mê nổi.

Người Hoa, Triều Tiên, Philippines, Nhật, Khmer, Indonesia, Malaysia, Lào… có mắm mà không có nước mắm như Việt Nam và Thái Lan, nhưng các bạn đi Thái Lan rồi, hay ăn nhà hàng Thái ở Mỹ, trong bữa cơm có thấy chén nước mắm đâu! Vậy thì cứ xem nước mắm như là món “quốc hồn quốc túy” của xứ mình, chứ không phải là phở hay chả giò như nhiều người nói, bằng chứng là người Mỹ ăn phở được, nhưng ăn nước mắm thì không, trừ những anh chàng phương Tây số nặng nợ, lẽo đẽo theo cô gái Việt Nam, chỉ vì… mùi nước mắm!

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3,400 km, nếu tính gồm các đảo, đầm phá và các cửa sông chịu tác động mạnh của thủy triều thì số chiều dài bờ biển đến 11,409 km. Với địa hình giáp “biển bạc” như thế, cá ăn không hết nên nẩy sinh ra nghề làm nước mắm, mà không giống một quốc gia nào trên thế giới. Monaco chỉ có 4 km tiếp giáp với biển không có nước mắm đã đành, sao Canada có bờ biển dài 202,080 km cũng chỉ có maggi.

Không có sách sử nào nói về lịch sử, cội nguồn của nghề làm nước mắm, chỉ biết đây là một nghề cha truyền con nối, truyền thống gia đình, thì nói một cách hàm hồ, chỗ nào có người Việt sinh sống gần biển là chỗ đó có làm nước mắm. Nói một cách khác, vào nhà người Việt, thịt cá chưa biết ở đâu nhưng phải có chai nước mắm trong nhà bếp.

Tại Việt Nam, các vùng miền duyên hải đều làm nước mắm. Thì cứ đi một dọc từ Bắc chí Nam, từ Cát Hải, Hải Phòng, cho đến miền Trung là Nam Ô, Vạn Giã, Phan Thiết, vào cực Nam là Cà Mau, Phú Quốc.

Nước mắm có thể làm từ con cá nục, nhưng ngon là nước mắm làm từ con cá cơm. Nước mắm ngon là loại nước mắm nhĩ, tức lá nước mắm tinh chất nhỏ những giọt đầu tiên. Trước năm 1975, người ta còn được ăn nước mắm “óc trâu” lợn cợn những chất béo của cá. Những loại nước mắm ăn vào nghe nhức nhối cả chân răng. Người ta còn nói, nước mắm ngon, bỏ hạt cơm vào thì hạt cơm nổi lên mặt.

Thời đó con người còn trong sạch, ngay thẳng, chưa được dạy điều xảo trá, điêu ngoa, nên dân còn được ăn miếng ngon, giọt nước mắm không hề có chút hóa chất, con gà con vịt, miếng thịt, ngọn rau còn tinh chất, không hạnh phúc sao?

Bây giờ nghe tin cá chết, dân Việt Nam ùn ùn đi mua nước mắm, vậy nước mắm chính là mùi vị quê hương Việt Nam không thể thiếu.

Bài thơ “Quê Hương” của Đỗ Trung Quân mặc dầu có nói đến cầu tre, cánh diều… nhưng vẫn còn chung chung, chỉ có hình ảnh mà chưa có mùi vị.

Theo tôi, nếu nói đến quê hương Việt Nam thì phải nói thêm:

“Quê hương là mùi nước mắm

Đi xa ai cũng nhớ nhiều!”

LỜI KHUYÊN CAN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP LINH ỨNG NHANH VẬY SAO?

LỜI KHUYÊN CAN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP LINH ỨNG NHANH VẬY SAO?

Phạm Hoài Nam added 8 new photos.

Khi 2 dự án bô xít Tây Nguyên (Nhân Cơ, Tân Rai) được lên kế hoạch và sau đó là dự án titan ở Bình Thuận cùng đệ trình Chính phủ dưới quyền Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngay lập tức nhận được sự phản biện, lúc này Đại tướng Võ Nguyên Giáp dù đã 100 tuổi và nằm trên giường bệnh nhưng ông vẫn lo lắng với những việc lớn của đất nước, đích thân Người đã viết kiến nghị dừng các dự án bô xít này gửi Bộ Chính trị, nội dung tâm thư có đoạn: “Vì sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước, khai thác bô xít sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội và về an ninh quốc phòng”, đặc biệt các dự án được giao cho nhà thầu Trung Quốc là không thể tin tưởng! Cùng thời điểm, hàng trăm nhân sỹ, trí thức đã đồng loạt ký đơn kiến nghị, hàng chục cuộc hội thảo khoa học diễn ra, thế nhưng người ta gạt hết và tất cả dự án đều được triển khai!
Tháng 10/2014 sự cố vỡ đê quai hồ thải quặng bô xít ở Tân Rai là dấu hiệu cho thấy sự bất ổn về vấn đề an toàn môi trường và cái gọi là công nghệ nhà máy hiện đại nhất thế giới! Cùng với đó là hàng trăm nghìn công nhân Trung Quốc sang làm việc kéo theo các vấn đề xã hội và an ninh phức tạp, các nhà máy này của Trung Quốc đều sử dụng người của họ, họ làm gì ở trong đó thì chúng ta không cần biết hoặc có muốn cũng không thể biết. Rõ ràng, câu chuyện lợi ích phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng và cái bẫy công nghệ giá rẻ ắt hẳn đã là bài học đắt giá mà ai cũng thấy trước, thế nhưng đó không phải là vấn đề, tiền nhà nước mà! Hàng năm, ngân khố quốc gia thì cứ phải è cổ ra bù lỗ liên tục và con số lỗ sơ bộ cho các dự án bô xít vào năm 2015 được báo cáo Quốc hội là 35,7 triệu USD, số lỗ thực tế thì chỉ có trời mới biết! Nhưng dù có lỗ thì không phải là vấn đề, quá lắm thì chỉ là bài học rút sợi dây kinh nghiệm mà thôi, đó là việc của cán bộ; còn người dân thì lại lo lắng đến sự an nguy của mình, bởi các hố chứa bùn đỏ bô xít nằm ngay ở nóc nhà Đông Dương ấy không biết sẽ xử lý như thế nào, nó cứ như một quả bom nguyên tử chứa chất độc hại chờ ngày khai hoả, nhìn cái quai đê thôi thì ai cũng hiểu nếu bị vỡ tiếp thì ắt hẳn vùng Tây Nguyên, miền Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ của nước ta đã nằm trong tầm ngắm của dòng thác lũ bùn đỏ!
Sự cố vỡ đập chứa bùn đỏ titan vào ngày hôm qua 16/6/2016 ở Bình Thuận là giọt nước tràn ly, hàng trăm nghìn tấn bùn đỏ tràn ra đường, tràn vào vườn, vào nhà và chảy thẳng ra biển! Có những chổ ngay trong sân nhà dân bùn đỏ lấp dày hơn cả gang tay. Đấy sự thật ngay trước mắt là bùn đỏ cứ tràn như lũ ống đầu nguồn về vậy thì cây trồng nào sống nổi, nguồn nước chắc chắn bị nhiễm độc, môi trường sinh thái biển, du lịch biển, kinh tế biển chắc chắn cũng bị ảnh hưởng, việc khắc phục hậu quả của nó chắc chắn còn lâu dài mới làm được. Lâu nay, những ai có chính kiến, có sự phản biện cách chính sách thì ngay lập tức bị quy kết là lập trường tư tưởng không vững vàng, là chống phá đất nước, thế nhưng những điều mà người dân đã dám can gián thì lãnh đạo không làm giờ hậu quả nó sờ sờ ra đấy thì trách nhiệm này ai sẽ đứng ra nói với người dân, với đất nước đây?
Giờ thì ông cựu Thủ tướng đã nghỉ hưu, về quê ráng làm người tử tế rồi, những người khác có trách nhiệm thì bàng quang thế sự; chỉ khổ thân bác Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đương nhiệm trọng trách trên vai, phải chi từ đầu người ta nghe lời can gián của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì đâu nên nỗi. Dẫu biết rằng lịch sử không chỉ được viết trên trang sách, nó còn có sức sống mãnh liệt hơn qua câu chuyện truyền miệng của người đời, thôi thì những gì mắt thấy tai nghe, dân biết cả đấy, lo gì!

HINH 1HINH 2HINH 3HINH 4

“Ngày đẹp nhất đời tôi,” Ba anh em cùng làm linh mục

 “Ngày đẹp nhất đời tôi,” Ba anh em cùng làm linh mục

BA LINH MUC
Ba anh em ruột được cùng nhau trên bàn thánh, kể từ ngày 04-6, khi người em út nhà Strand được chịu chức linh mục.

Linh mục tân chức Vincent Strand cho biết ‘Sự kiện này thật là rất phấn khích mà rất đỗi bình an.’

Cha đã theo bước hai người anh của mình.

Linh mục Jacob Strand, anh kế, thì cho biết, ‘Mọi người luôn luôn ngạc nhiên khi biết chuyện. Rất hiếm có cả ba anh em đều được chịu chức linh mục.’

Cha Jacob đã chịu chức từ bốn năm trước.

‘Tôi rất phấn khích cho em mình. Tôi nhớ ngày mình được chịu chức, một ký ức thật đẹp. Đây thật sự là một ngày đẹp nhất trong đời mình.’

Người anh cả, linh mục Luke Strand, đã được chịu chức cách đây bảy năm.

‘Tôi ngạc nhiên mỗi ngày khi Chúa cho tôi ơn trọng là được làm linh mục, nên khi các em của tôi cũng theo ơn gọi bàn thánh, và cũng tìm được niềm vui ở đó, thì lòng tôi quá sức vui mừng.’

Dù cho ba anh em cùng theo đường ơn gọi, nhưng mỗi người có con đường và thời điểm khác nhau.

Cha Vincent cho biết, ‘Nếu phải chỉ ra một địa điểm nảy sinh trong tôi cảm nhận ơn gọi làm linh mục và tu sỹ dòng Tên, thì đó chính là nơi này. Nhà nguyện thánh Joan thành Arc ở Đại học Marquette. Tôi từng ở đây khi còn là sinh viên thạc sỹ ở Marquette, dự định sẽ kết hôn, có gia đình, và làm bác sỹ.’

Nhưng rồi, cha cảm nhận một sức lôi kéo đến một cuộc sống khác.

‘Thật là một niềm vui vô cùng, nhưng cũng là sự tự do mà tôi chưa từng được cảm nghiệm trước đó.’

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tấm lòng vàng của những “Nguyễn Thị Năm”

Tấm lòng vàng của những “Nguyễn Thị Năm”

Phạm Đoan Trang

Có những ý kiến bi quan cho rằng người Việt Nam là một dân tộc không xứng đáng được dân chủ, bởi vì “tự do đâu cho một bầy súc vật” (thơ Pushkin).

Sau mỗi cuộc biểu tình, cũng có rất nhiều người buồn, nản, tủi thân, vì một số lý do chung: sự tàn ác và đểu cáng của an ninh, dân phòng, khiến anh em bỏ chạy tán loạn và quá nhanh khi mới chớm có mùi trấn áp. Nhưng có lẽ, trên tất cả, người ta buồn vì thấy số “quần chúng” vô cảm quá đông, sự vô cảm lan tràn trong xã hội, khiến phong trào dân chủ vốn đã yếu lại càng yếu và bị cô lập khỏi xã hội; những nhà hoạt động dân chủ chỉ như một thiểu số cô đơn.

Có thể tôi ngây thơ, nhưng tôi không buồn cũng không nản. Bởi vì tôi tin vào hai điều: 1. Mọi sự thay đổi lớn trong xã hội đều bắt đầu từ một thiểu số, cái thiểu số ấy ban đầu tất nhiên rất cô độc, cô đơn. 2. Người tốt ở Việt Nam chưa bao giờ hết cả, mặc dù rất hiếm. Suy cho cùng, xã hội của chúng ta tồn tại được cho đến ngày nay là nhờ sự lương thiện của một thiểu số vẫn là nền tảng.

Và tôi khẳng định, phong trào dân chủ ở Việt Nam hiện nay tồn tại được, bất chấp những yếu kém tự thân của nó và đàn áp của công an, là nhờ sự giúp đỡ thầm lặng của hàng trăm, hàng nghìn người – những người mà tôi gọi đùa là “Nguyễn Thị Năm” của các nhà dân chủ.

Nhưng chắc chắn họ sẽ không bao giờ phải chịu số phận bi thảm của Nguyễn Thị Năm, vì thể chế tương lai của Việt Nam không thể là một thể chế phi nhân như cộng sản.

Nó không như cộng sản, do đó sẽ không có chuyện “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”; nói cách khác, sẽ không có chuyện chính quyền trích ngân sách nhà nước ra để “tri ân các chiến sĩ dân chủ”. Sẽ chẳng có chuyện “cộng điểm thi đại học” cho các con ông cháu cha của các nhà dân chủ, chẳng có chuyện tặng nhà, hiến đất, hay dành bất kỳ sự ưu tiên nào cho họ.

Nó không như cộng sản, do đó nó sẽ không trả thù, không bức hại, không cải tạo an ninh, dư luận viên và những người ủng hộ chế độ cũ, thậm chí không bắt họ phải viết kiểm điểm kiểm thảo.

Nhưng nó không như cộng sản, do đó nó sẽ không tàn sát ai và sẽ không để xảy ra một thảm kịch Nguyễn Thị Năm nào nữa.

Riêng cá nhân tôi thì sẽ nhớ ơn những tấm lòng vàng như thế mãi mãi.

* * *

Tôi nhớ người đã đưa chúng tôi vào công trường xây dựng trong một đêm mưa vào tháng 4/2015, để trốn sự truy tìm và canh gác của công an, mai còn đi tuần hành cây xanh. Người đó, trước đó chỉ biết chúng tôi sơ sơ qua mạng, nhưng anh đã giao cả xe máy cho chúng tôi, thậm chí mời cả lũ một bữa ăn tối rất ngon, trong những ngày ngột ngạt.

Tôi nhớ người nhân viên thầm lặng ở một đại sứ quán nọ. Khi đó tôi đang phải phiên dịch cho thân nhân của hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng, trong tình trạng cả đêm trước không ngủ. Dịch tiếng Anh pháp lý rất khó, nhất là hệ thống pháp luật Việt Nam và phương Tây lại có nhiều khác biệt. Khi tôi gần như gục xuống vì quá mệt, tôi nhớ người nhân viên ấy đã nói nhỏ chỉ vừa đủ cho tôi nghe: “Để mình giúp”. Và đó đã là một cuộc chạy tiếp sức, khi người này muốn ngã xuống thì người kia bước tới. (Chắc những nhà hoạt động ít ai hiểu rằng nhân viên Việt Nam ở tất cả các đại sứ quán phương Tây đều chịu một sức ép đáng kể từ phía an ninh, nên chỉ như vậy thôi đã là một sự dũng cảm lớn).

Tôi nhớ những trí thức người Việt ở nước ngoài, đầu tóc bạc trắng mà hơn nửa đời vẫn mãi nghĩ về quê hương. Nhớ những người Việt ngày ngày đi làm nơi công sở, nhà hàng bên Cali, tối về vào facebook đọc tin Việt Nam và buồn bã, bất lực, thương xót dân trong nước. Họ gửi tiền về ủng hộ người trong nước nhiều tới mức tôi tưởng như họ đi làm, ngoài để trang trải những chi phí căn bản ra thì còn lại thu nhập là để nuôi “anh chị em ở quê nhà”.

Tôi nhớ những đồng nghiệp báo chí đã len lén đi theo tôi (và công an) trong một lần tôi “được” công an mời cafe, năm 2012, lý do là vì “anh em sợ ‘chúng nó’ đưa Trang đi mà không ai biết, nên anh em đứng ngoài tìm cách chụp ảnh, ghi lại”.

Tôi nhớ những buổi làm việc với công an xong, khi tôi bật máy điện thoại, thấy hàng chục cuộc gọi nhỡ của đồng nghiệp.

Tôi nhớ người bác sĩ đã mổ vết thương cho tôi, cũng như nhớ những người bạn trên mạng đã đến thăm tôi, dúi phong bì vào tay tôi mà nước mắt rân rấn.

Và hôm nay tôi viết những dòng này không phải là ngẫu nhiên. Tôi viết bởi vì tôi cũng đang rân rấn nước mắt, khi biết tin một vị bác sĩ – cũng là một “Nguyễn Thị Năm” của phong trào dân chủ – đã mắc bệnh hiểm nghèo.

Từ cách đây cả chục năm, khi còn chưa ai dám… chữa bệnh cho “phản động”, thì ông đã chữa miễn phí cho hàng chục người. Ông giúp tất cả, mà không một lời kể công.

Ông có nói với tôi rằng ông không sợ chết – thì có bác sĩ nào sợ chết? Nhưng ông muốn sống, bởi vì ông thấy mình cần phải sống qua ba chế độ: Việt Nam cộng hòa, Việt Nam cộng sản, và một thể chế nào đó sau này, nếu được là “sự tận cùng của lịch sử”, tức nền dân chủ, thì tuyệt vời.

Vì những con người đó, mà tôi thấy cuộc đời này đáng sống biết bao, và Việt Nam phải thay đổi.

Nguồn: FB Phạm Đoan Trang

QUÊ HƯƠNG

Trong phút giây nào đó của cuộc đời ở hải ngoại, không biết người ta có bao giờ một lần nhớ quê hương.

QUÊ HƯƠNG
Quê hương mình đẹp quá anh biết không?
Có lục bình hoa tím ngắt dòng sông
Có lũy tre làng hàng dừa xanh bát ngát
Có hương thơm mùi lúa mới trổ bông.
*-*-*
Quê hương mình anh có còn nhớ không?
Tiếng mẹ hát ru trẻ thơ bên võng
Giữa trưa hè oi bức nắng tháng năm
Giọt mồ hôi lẫn nước mắt thành dòng.
*-*-*
Quê hương mình anh ơi có nhớ không?
Tháng sáu trời mưa đường biến thành sông
Chiều tan sở cha dắt xe dẫn bộ
Đôi vai gầy chỉ trùm tấm ni- lông
*-*-*
Quê hương mình anh hứa sẽ về thăm?
Có cô gái làng bên vẫn âm thầm
Đêm đêm thao thức chờ bên song cửa
Bóng người đi ngày ấy đã biệt tăm.
*-*-*
Quê hương mình đẹp quá phải không anh?
Có con sông nước vẫn chảy trong xanh
Có cô lái neo đò trên bến đợi
Muốn qua sông nhưng sao dạ chẳng đành…
Cỏ Tím 17/6/2016

QUE HUONG

VIỆT NAM: CHƯA BAO GIỜ NHƯ LÚC NÀY!

VIỆT NAM: CHƯA BAO GIỜ NHƯ LÚC NÀY!

Lâu nay, đối với các hành động xâm chiếm biển đảo trên Trường Sa và Hoàng Sa; những lần lén lút dời cột mốc ở biên giới phía Bắc nước ta của Trung Cộng, tôi thực tình ít quan tâm và không mấy xúc động. Tất nhiên tôi đồng ý rằng những hành động xâm lấn này làm tổn thất lớn cho quyền lợi quốc gia Việt Nam; xét về lâu dài, chính là tổn hại đến lợi ích cụ thể về tài nguyên và địa chính trị cho nhiều thế hệ người Việt Nam.

Chỉ vậy thôi, tôi thường cố tránh cho mình sự lún sâu vào tinh thần cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi nhìn nhận các sự kiện này, với tư cách là một người bảo vệ nhân quyền. Nhân quyền không có biên giới, kể cả cái biên giới dân tộc mà chủ nghĩa quốc gia dân tộc cố tình dựng nên.

Thế nhưng đối với mạng sống của con người thì tôi có thái độ đặc biệt khác. Tôi thực sự phẫn nộ đến độ muốn cái chính quyền hèn nhát, bẩn thỉu này ngay lập tức sụp đổ để dân tôi không phải chết trên chính vùng biển cha ông họ bao đời nay vẫn đánh bắt cá. Chưa bao giờ sinh mệnh ngư dân Việt Nam lại thê thảm như trong chế độ độc tài cộng sản này.

Đối với tôi, ngàn mét đất ngoài đảo hay vùng biên giới dù quý đến đâu cũng không bằng một mạng người. Đất, đảo, biển có thể lấy lại một ngày nào đó khi Việt Nam có một chính quyền dân chủ, có một vị thế đáng nể trọng trên trường quốc tế. Còn mạng sống của ngư dân và những nỗi đau để lại cho gia đình họ là thứ không thể lấy lại được. Nhân phẩm và tự do của con người đã bị tổn thương sẽ khó bù đắp.

Bởi vậy, hơn bảy mươi ngày trước đây, khi sự cố Formosa xảy ra, tôi bàng hoàng và thấy mọi thứ như sụp đổ trước mắt. Có thể cơn trầm cảm thai kỳ khiến cảm xúc của tôi về sự cố chết người này thêm trầm trọng. Nhưng có thể nói rằng, chưa bao giờ có sự kiện nào xảy ra cho Việt Nam mà tôi từng chứng kiến khiến tôi hoang mang và đau đớn như thế.

Tôi lên tiếng cho dân chủ và đấu tranh cho nhân quyền là vì lẽ gì, nếu không phải là hy vọng một Việt Nam tốt đẹp hơn, đáng sống hơn cho con cháu mình? Tôi có thể chạy trốn sang một quốc gia khác để tìm cuộc sống tốt đẹp, đó không nhất thiết là Úc, Anh, Hoa Kỳ…ngay cả Thái Lan, Cambodia, Miến Điện bây giờ còn đáng sống hơn Việt Nam cả chục lần. Nhưng có hạnh phúc nào hơn cho người Việt Nam là được sống sung túc và tự do trên chính mảnh đất mình sinh ra?

Tôi ước ao xây dựng một gia đình hạnh phúc ở ngay trên xứ sở mà chúng tôi bị đàn áp mấy chục năm nay. Để chứng minh cho điều gì? Để chứng minh: những ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu rỗi. Tôi tin con cháu mình sẽ được nhìn thấy một Việt Nam tự do. Việt Nam đang đối mặt với những nguy cơ quá lớn mà một sự thay đổi chậm trễ có thể dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn, thậm chí là diệt vọng. Nhưng chính lòng tự tôn, danh dự và niềm hy vọng giữ cho tôi luôn đứng thẳng trước cường quyền, giữ cho ngọn lửa hy vọng vẫn cháy trong tôi.

Thế rồi, thảm hoạ biển chết xảy ra khắp các tỉnh vùng Bắc và Trung Trung Bộ khiến cá chết ngập các bãi biển, nghề biển phá sản, du lịch đình đốn, chưa có con số chính xác về con số người chết và ngộ độc do ăn cá nhiễm độc. Chính quyền Việt Nam vẫn né tránh câu trả lời nghiêm túc bằng những lời lẽ ngu xuẩn nhất, từ chối sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, lừa phỉnh dân chúng tiếp tục ăn hải sản có độc tố chết người…

Trong ba mươi năm cuộc đời mình, tôi chưa từng thấy sợ hãi như thế. Cái chết đang lù lù tiến đến. Nhưng không giống với súng đạn, chúng ta có thể nghe tiếng nổ và nhìn khói lửa mà chạy. Đằng này, chúng ta không biết được chúng ta ăn phải cái gì, di truyền lại cho con cháu những đoạn DNA khuyết tật nào và khi nào chúng ta sẽ chết vì ung thư và con cháu nhiều thế hệ sau sẽ bị thiểu năng trí tuệ hay mang những mầm mống bệnh tật khác . Cái chết bay lơ lửng trên đầu hàng chục triệu người và theo gót chúng ta, nó tiến về tương lai mà không gì ngăn cản được.

Trời đất ơi! Đó chính là cái chết, thưa các bạn, không phải chỉ là vài cơn nôn ói khiến chúng ta phải nhập viện đâu, mà là biến đổi gen cho chính chúng ta và truyền khuyết tật lại cho con cháu chúng ta. Các bạn có thể hờ hững: vậy thì không ăn cá nữa là được. Ừ, thì không ăn hải sản nữa, nhưng làm sao nhịn ăn muối , mắm và nhiều chế phẩm có muối khác? Và ai biết số cá chết đó đã đi đâu, ai biết muối chúng ta mua được mang từ đâu tới, với cái kiểu quản lý thực phẩm đểu cáng như hiện nay ở Việt Nam?

Ừ thì rừng vàng biển bạc chẳng còn, chúng ta im lặng. Hạn hán, lũ lụt do chính quyền cộng sản và thân tộc đốn phá rừng làm giàu; bùn đỏ bauxite tàn phá đất trồng và khu dân cư, chúng ta im lặng. Nhưng đến từng hạt muối thấm vào huyết quản hằng ngày mà còn chứa đầy kim loại nặng thì chúng ta còn sống nổi nữa không? Chúng ta hèn nhát vì sợ nhà tù cộng sản. Nhưng sao chúng ta lại không sợ cái chết ung thư đang lù lù tiến đến trong từng bữa ăn?

Những người đấu tranh cho dân chủ nhân quyền dấn thân, ngồi tù, thậm chí đã mất mạng vì niềm hy vọng một Việt Nam tốt đẹp hơn. Nhưng Việt Nam có thể nào tốt đẹp được, Việt Nam còn có tương lai gì với những đứa trẻ dị tật, thiểu năng từ trong bụng mẹ?! Đau đớn quá thể! Tôi đánh mất cả sự tỉnh táo và nhiều lần nói sảng khi nghĩ đến viễn cảnh đó. Hai tháng rồi, tôi mới đủ tỉnh táo để viết những dòng này.

Không kinh hoàng sao được, khi bữa ăn cho sinh viên, cho thế hệ rường cột nước nhà trong tương lai lại có cá mang giòi? Ai dám chắc cá đó không phải là cá chết vì độc tố được vớt lên ngoài biển chết? Các bữa ăn của trẻ con trong các nhà trẻ và trường học nội trú thì sao? Cá nhiễm độc sẽ chỉ lòng vòng trong các bữa ăn của dân nghèo Việt Nam thôi. Rồi sau đó nó sẽ lòng vòng trong nhiễm sắc thế dân Việt Nam đến trăm năm sau. Lúc đó ai dám tự hào: dân Việt “thông minh”, khi ngay cả lành lặn bình thường còn chưa được? Có những nỗi đau nếu chúng ta không phẫn nộ thì chúng ta không còn là con người đúng nghĩa, thưa các bạn.

Một điều nữa khiến tôi đau đớn: thảm hoạ môi trường này sẽ đẩy những ưu tiên nhân quyền (ưu tiên hoạt động của tôi bao lâu nay) thành thứ yếu. Ai còn quan tâm đến những tù nhân bị ngược đãi trong tù, những phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình, những cộng đồng tôn giáo thiểu số ở vùng sâu vùng xa bị trấn áp… Khi mạng sống chúng ta bị đe doạ, khi bệnh tật dày vò cuộc sống hằng ngày của gia đình chúng ta, khi chúng ta bị đói ăn, khi chúng ta khổ sở chạy ăn từng bữa vì nguồn thực phẩm và thu nhập từ biển bị huỷ hoại hoàn toàn…thì các quyền tự do chính trị và dân sự, xã hội dân sự, chế độ pháp trị, nền dân chủ sẽ trở thành những điều xả xỉ nực cười. Người dân Việt Nam, đặc biệt là dân nghèo và ở nông thôn vốn đã thờ ơ với các giá trị và định chế nói trên, nay họ càng lãnh cảm với tự do và nhân quyền. Có thể nói không ngoa, thảm hoạ môi trường Vũng Áng và các sự cố môi trường diễn ra trên khắp cả nước đã đẩy Việt Nam trở về thời trung cổ, về mặt nhận thức. Nên nhớ, không bắt đầu từ nhận thức, không sự thay đổi nào diễn ra cả.

Trung cộng không cần một viên đạn đã nắm gọn Việt Nam trong tay, từ đầu não chính trị, kinh tế, biển đảo…bây giờ là vấn đề môi sinh. Không khó nhận ra, đây chính là nỗ lực níu giữ không cho Việt Nam tiến về thế giới dân chủ tự do, bởi họ không muốn một Việt Nam dân chủ sát nách mình. Lưu ý rằng, với một chính quyền độc tài sắc máu ở trung ương, các tập đoàn và công ty đa quốc gia của Trung cộng đồng thời cũng nhận lãnh nhiệm vụ tình báo và vai trò chính trị được đảng Cộng sản Trung Quốc giao phó.

Về phần người dân Việt Nam, lên tiếng hay là chết? Chúng ta đã chịu đựng quá lâu và quá đủ rồi. Có thể các bạn chưa hiểu dân chủ, minh bạch, nhân quyền, pháp trị…là gì. Nhưng nói ngắn lại, dân chủ, minh bạch, nhân quyền, pháp trị…chính là việc chính quyền phải trả lời chính xác về nguyên nhân và hậu quả của các thảm hoạ mà đất nước phải đối mặt, phải nghiêm túc khắc phục hậu quả, mạng sống của người dân phải được bảo vệ, sinh kế của người dân phải được ưu tiên, tiền cứu trợ nạn nhân không vào tay quan chức chính quyền, lãnh đạo nhà nước không dùng lời lẽ ngu xuẩn để lừa gạt người dân, việc kiểm soát thực phẩm độc hại được tuân thủ…

Đối diện với một tiền đồ đen tối cho cả đất nước, mỗi người dân đều có nhiệm vụ lên tiếng cho sự thay đổi theo cách của mình. Các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ quá ít ỏi so với dân số hơn chín mươi triệu dân Việt Nam. Chính chúng tôi đôi lúc cảm thấy cô đơn giữa rừng người im lặng. Chúng tôi vẫn biết rằng nhiều người yêu mến chúng tôi và không ưa gì cái chính quyền thối nát này. Nhưng cái sự yêu mến và không ưa đó không mang lại sự thay đổi thiết thực nào cho Việt Nam, cũng chính là cho tương lai con cháu chúng ta cả. Trách nhiệm cứu lấy Việt Nam thuộc về toàn dân Việt Nam, bằng những hành động cụ thể hơn. Hoặc chúng ta lên tiếng cho một sự thay đổi triệt để, hoặc chúng ta và con cháu mình sẽ chết từ từ dưới cái ách độc tài và nô lệ Trung cộng. Chúng ta phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình!

Huỳnh Thục Vy
Buôn Hô 17/6/2016

NUOC SACH

Dự đoán Trung Quốc sẽ tấn công, nếu phán quyết về các yêu sách biển Đông chống lại họ

Dự đoán Trung Quốc sẽ tấn công, nếu phán quyết về các yêu sách biển Đông chống lại họ

WSJ

Nguy cơ về tâm trạng nạn nhân của Trung Quốc

Tác giả: Andrew Browne

Dịch giả: Song Phan

14-6-2016

Trung Quốc đang xây đảo nhân tạo trên Biển Đông. Nguồn: Financial Times

THƯỢNG HẢI – Trong những giờ phút chót chờ đợi phán quyết về các yêu sách bao trùm ở biển Đông của Trung Quốc, một Bắc Kinh ngày càng điên cuồng, tổ chức cuộc tấn công ngoại giao quanh ba lập luận cốt lõi: toà án do Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn không có tư cách pháp lý để xử vụ án, nước Mỹ đã chủ mưu tất cả các rắc rối và Trung Quốc là nạn nhân.

Đặc biệt lưu ý đến lập luận cuối cùng trong số này. Nếu đúng như dự đoán, tòa trọng tài phán quyết chống lại Trung Quốc thì sẽ có một phản ứng dân tộc mạnh mẽ.

Nó sẽ được nâng cao bởi cảm giác sâu sắc Trung Quốc là nạn nhân—sự kết án mà phương Tây, dẫn đầu là Hoa Kỳ, ra sức ngăn chặn sự trỗi dậy của họ và nô dịch dân tộc họ thêm một lần nữa. Niềm tin đó thường khuấy động cảm xúc bạo lực công chúng, chẳng hạn như lúc máy bay chiến đấu của Mỹ vô tình bị đánh bom nhầm tòa Đại sứ Trung Quốc tại Belgrade năm 1999. Lần này không thể loại trừ một phản ứng quân sự.

Washington đang có tín hiệu e ngại Trung Quốc có thể sẽ tuyên bố một vùng nhận dạng phòng không trên biển Đông, tương tự như điều mà họ đã lập ra trên biển Hoa Đông vào năm 2013. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, nhìn về phán quyết sắp tới, cảnh báo rằng Washington sẽ xem xét một hành động như vậy là “khiêu khích và gây mất ổn định”. Máy bay chiến đấu Trung Quốc đã hai lần bay gần một cách nguy hiểm các chuyến bay giám sát của Mỹ trong những tuần gần đây, theo Lầu năm Góc.

Một vụ kiện có tính cột mốc sinh ra từ những cảm giác bị tổn thương của Philippines, họ đã tiến hành các thủ tục pháp lý ba năm trước đây sau khi hải quân Trung Quốc chiếm giữ thực tế một ngư trường giàu tôm cá ngoài khơi đảo chính Luzon, kết thúc với sự biểu hiện tâm trạng thương tổn của Trung Quốc.

“Trung Quốc là nạn nhân trong vấn đề biển Đông”, Duơng Yến Di (Yang Yanyi), đại sứ Trung Quốc tại Liên minh châu Âu viết. Vụ kiện này là “một hành động xấu xa”, Từ Hoành (Xu Hong), tổng giám đốc Sở Điều ước và Luật pháp của Bộ Ngoại giao nói. Từ Bộ (Xu Bu), đại sứ Trung Quốc tại Hiệp hội các nuớc Đông Nam Á, cho rằng âm mưu đằng sau hậu trường là một nuớc Mỹ “độc tài và độc đoán” vốn “không thể chịu đựng được nuớc khác thách thức bá quyền toàn cầu của mình”.

Manila đã thách thức các yêu sách của Trung Quốc đối với một vùng biển rộng lớn—khoảng 80% biển Đông—bên trong “đường chín đoạn” chạy viền theo các nuớc ven biển, bao gồm hàng trăm đảo, đá, rạn san hô và bãi cát.

Tòa trọng tài không được yêu cầu để quyết định về chủ quyền mà chỉ về tình trạng pháp lý của đảo tranh chấp và các rạn đá; Bắc Kinh tranh cãi rằng hai vấn đề này là không thể tách rời và đã từ chối tham gia vào vụ trọng tài.

Để hậu thuẫn các yêu sách lãnh thổ, Trung Quốc đã tìm cách kiểm soát tuyến đuờng biển thương mại sầm uất nhất này của thế giới bằng cách xây các rạn đá nửa chìm, thành các đảo giả, có đặt đường băng dài có thể cho máy bay chiến đấu lớn nhất đáp xuống. Tuyến đường biển tràn ngập với các đội tàu bán quân sự của Trung Quốc. Tàu hải quân màu xám ẩn khuất ở phía sau. Các pháo tên lửa chỉ lên bầu trời; các trạm radar rà quét tới chân trời.

Các nuớc ven biển, dõi theo việc mở rộng này, đang đổ xô đi mua vũ khí và cầu xin Hoa Kỳ bảo vệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại mô tả chính mình không phải là kẻ săn mồi mà là con mồi.

Logic của họ như thế này: Những mỏm đá rải rác là của Trung Quốc “từ thời xa xưa”, do đó các trọng tài của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển ở The Hague, không phải là việc của họ để thụ lý vấn đề; các nước như Philippines và Việt Nam, thèm muốn dầu dưới đáy biển, bắt đầu lấy từng chút và từng miếng lãnh thổ Trung Quốc trong các thập niên 1960 và 1970 và xây dựng trên đó, cũng giống như Trung Quốc đã làm; gần đây, Tổng thống Obama lại hậu thuẫn việc xâm lấn của họ với việc “chuyển trục” quân sự sang châu Á.

Các kể lể về việc bị hiếp đáp là trung tâm của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc mà nhà sử học truy nguợc tới cuối thế kỷ 19, khi Trung Quốc bị lục quân và hải quân Nhật đánh thua. Trước đó, các quốc gia phương Tây cũng đã buộc Trung Quốc phải quỳ gối trong cuộc chiến tranh nha phiến. Nhưng bây giờ Trung Quốc gục ngã truớc một cuờng quốc châu Á nhỏ hơn. Đòn ác nghiệt đó đã làm cả nuớc bừng tỉnh.

Mặc dù có sức mạnh hiện đại, Trung Quốc không bao giờ tìm lại được đầy đủ lòng tự trọng của mình.

Mối hận quốc sỉ sâu đậm là điểm khởi đầu của “Giấc mơ Trung Quốc” của chủ tịch Tập Cận Bình, nó tưởng tượng ra sự hồi sinh vẻ vang về địa vị ưu việt truớc đây của đất nước này. Và ở biển Đông, nó đã tạo ra một hỗn hợp mâu thuẫn của sự phách lối vênh vang với sự phòng vệ khúm núm.

Các đốm lãnh thổ tranh chấp có thể không đáng kể, nhưng đó không phải là điểm chính. Đối với Trung Quốc, “mỗi tấc đất” quê hương là thiêng liêng, như các tuyên truyền viên của Đảng cộng sản luôn nhấn mạnh, và mỗi vụ ‘xâm phạm’ của các đối thủ là một lời nhắc nhở họ về “thế kỷ quốc sỉ”.

Trung Quốc lo sợ rằng, nếu Manila thắng vụ kiện ở The Hague, Hà Nội và Jakarta có thể bị cám dỗ để bắt chước khởi kiện. Bắc Kinh đã tuyên bố sẽ phớt lờ phán quyết của tòa, thậm chí chấp nhận nguy cơ tự gán chính mình là kẻ ngoài vòng pháp luật quốc tế và hy sinh thẩm quyền về đạo lý.

Chúng ta sắp bước vào một giai đoạn có khả năng nguy hiểm hơn của một cuộc tranh giành vùng biển lớn vốn đã trở thành đại diện cho một cuộc thi thố rộng lớn hơn giữa siêu cường Mỹ đã thành và một kẻ mới nổi ở châu Á muốn hơn thua.

Hãy coi chừng một Trung Quốc tự cảm thấy bị hiếp đáp; một cường quốc nhìn quay trở lại, phiền muộn, bực bội có khả năng tung đòn mang tính hủy diệt nhiều hơn một cuờng quốc tự tin về vị trí của mình trên thế giới.