Để thấy cuộc sống trên trần gian này tràn đầy ý nghĩa cao đẹp tình người, mỗi khi bạn có cơ hội được phục vụ tha nhân vô vụ lợi, bạn sẽ nhận lại nhiều được hơn những gì bạn đã cho đi.
Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland. Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu bé đang giãy giụa gào khóc. Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.
Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé được ông cứu sống ngày hôm qua.
Ông ta nói: “Tôi đến để cảm ơn và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi!”
Ông Fleming đáp: “Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.”
Ông nhà giàu hỏi: “Đây là con trai anh phải không?”. “Vâng.” Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.
Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé: “Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?” Cậu bé nhỏ nhẹ thưa: “Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu.” Nhà quý tộc lại gặng hỏi: “Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?”
Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời: “Dạ thưa ông, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?”
Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình: “Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì”
Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà: “Thưa ông, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!”
Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming: “Hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện.”
Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý.
Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London. Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận.
Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming.
Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming sáng chế ra thuốc kháng sinh Penicillin cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới. Năm 1945, ông được trao giải Nobel về y học.
Vài năm sau, người con trai của ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ thuốc Pénicillin này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu là Winston Churchill. Sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là Thủ tướng trứ danh của nước Anh — Thủ Tướng Winston Churchill.
Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và Thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London. Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.
Điều này chứng minh rằng hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho ra đều sẽ được nhận lại; những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất.
Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !” **************
Có Những Sự Thật Không Cãi Được
Tạp ghi Huy Phương
Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức.
“Trăm năm trồng người…”
Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Đẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Đặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.
“Trăm năm trồng người…”
Một trong những “ranh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em“quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Tàu là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà“bác.”
Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.” (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).
Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt, nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy! Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản.
Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.
Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 39 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai. Sau nữa là cả nước từ 60 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi. Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.
Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội. Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống. Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.
-Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi cả những gì quý nhất.
– Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…
– Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại vì không đi được, hay đang còn kiếm tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.
– Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!
– Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.
– Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.
– Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.
-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.
– Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Đội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,”nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi quốc gia có những cái nhìn thiếu thiện cảm.
Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?
– Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia…
Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.
– Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng,“Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sang giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”
Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.
Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.
Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”
Thầy Thích Viên Lý, trụ trì chùa Điều Ngự (Westminster, California), giải thích với tôi về chuyện “nghiệp” trong giáo lý nhà Phật, tại một cuộc phỏng vấn vào cuối tháng 12/2014.
– HỎI: Nhà nước Việt Nam hay tuyên truyền rằng người tu hành thì cứ lo việc tu thôi chứ lo làm gì việc đời; sư sãi chống lại chủ trương của nhà nước tức là ủng hộ bạo lực và tạo nghiệp xấu… Thầy nghĩ sao về luận điểm đó?
– ĐÁP: Tạo nghiệp là gì? Trước hết phải hiểu nghiệp xuất phát từ đâu. Từ ba nơi, thứ nhất là tâm, tức là ý. Thứ hai là khẩu, tức là lời nói. Thứ ba là hành động.
Mình không muốn những người cướp đất chùa tạo ra những nghiệp bất thiện, sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau. Vì từ bi, thương họ, nên mình phải chặn đứng những hành động tạo ra ác nghiệp. Cái đó (chống cướp đất) là tâm từ bi. Còn mình nói từ bi mà thấy người khác phạm pháp, làm việc tội lỗi, chuốc lấy hậu quả khổ đau, mình không ngăn chặn, thì mình đâu phải là người đang hành giáo lý từ bi?
Tôi lấy ví dụ, thấy một sát thủ cầm súng chuẩn bị sát hại những học sinh vô tội mà mình cứ ngồi “Nam Mô A Di Đà Phật”, chứ không tước lấy khẩu súng đó hoặc không kêu cảnh sát đến cứu các học sinh, thì mình có từ bi hay không? Từ bi nguyên nghĩa là “từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ”. Mình dâng hiến lòng yêu thương đích thực cho tất cả muôn loài chớ không phải là gieo khổ đau, tạo thù oán. Đó là nghĩa của “từ”. Còn “bi”, tức là mình nhổ sạch cội rễ của khổ đau, chứ không phải chỉ trên ngọn. Thấy người khác lâm vào tình cảnh bất công thì mình phải ra tay hành động để cứu thế.
Dường như người cộng sản không hiểu từ bi là gì, sứ mệnh thiêng liêng cao cả của những tu sĩ Phật giáo như thế nào, tôn giáo có nhiệm vụ ra sao đối với xã hội, đất nước. Hoặc giả họ hiểu đấy, nhưng họ cố ý định hướng sai lạc để dễ bề thao túng quần chúng cho họ muốn làm gì thì làm.
– HỎI: Nếu có thể dành cho chính quyền một lời khuyên thì thầy khuyên gì nhà nước Việt Nam?
– ĐÁP: Họ cần ý thức rõ rằng bạo lực không thể chặn đứng cái ác. Nhưng tôn giáo thì có thể. Ở tình trạng lý tưởng, khi con người ý thức rõ được về luật nhân-quả thì không cần có cảnh sát, pháp luật. Tôi lấy thí dụ: Ở Mỹ, dân chúng chạy xe trên xa lộ thường không đi quá tốc độ hay vượt đèn đỏ, vì sợ cảnh sát phạt tiền. Vấn đề là nếu không có vé phạt thì ai nấy có thể tha hồ chạy xe, tạo ra vô số nguy hiểm. Nhưng nếu chúng ta ý thức được hiểm nạn xảy ra đối với bản thân và với người khác thì chúng ta sẽ tự chế. Dù có hay không có cảnh sát nhưng khi đã ý thức được luật nhân-quả, ý thức được nhân là lái xe quá tốc độ, quả là tai nạn, thì chúng ta sẽ đều cố gắng làm sao để bảo vệ chính mình và mọi người.
Nếu mọi người dân đều hiểu được luật nhân-quả thì họ sẽ không làm điều ác, và như vậy thì xã hội sẽ thái bình, đất nước sẽ ổn định.
Nếu chính quyền Việt Nam để cho các tôn giáo chăm sóc đời sống tâm linh đạo đức của dân chúng thì xã hội đâu loạn lạc như ngày nay? Nhà nước không tốn gì cho tôn giáo mà lợi ích tôn giáo mang lại cho đất nước rất lớn lao.
Chúng tôi khuyên họ cố gắng thấy được điều này: Chỉ dùng bạo lực để trấn áp và xem quần chúng như kẻ thù chứ không phải người thân thì họ không thể an ổn được đâu. Nên họ phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến, tôn trọng truyền thống văn hóa, tâm linh của dân. Họ mà làm được như vậy thì các tôn giáo đâu có lý do gì để chống họ? Đằng này, làm mất lòng dân, đàn áp tôn giáo, để tạo sự bất mãn lớn lao thì chắc chắn chế độ không thể nào đứng vững được.
Chính quyền phải hiểu rằng họ có thể che đậy nhiều việc nhưng không che đậy được sự thật, họ có thể trốn tránh nhiều thứ nhưng không thể tránh được luật nhân-quả.
Hãy nhìn Tổng thống Saddam Hussein ở Iraq. Đã có thời đến những cái bồn rửa mặt của ông ta cũng dát vàng, ông ta sống trong nhung lụa, quyền lực. Nhưng do tham vọng và tinh thần chấp ngã, ông ta phải trốn chui trốn lủi mà cuối cùng bị treo cổ. Mạng mất, tài sản tích lũy nhiều chục năm cũng tiêu luôn. Đó là tấm gương nhãn tiền cho những người cộng sản không tin luật nhân-quả mà liên tục làm điều ác. Mình thấy mà thương thay cho họ, cho những kẻ vô minh.
Đỗ Mười có hỗn danh là Hoạn lợn, một phần vì ông làm nghể thiến heo trước khi tham gia cách mạng, một phần vì đầu óc ông không vượt được giới hạn của nghể nghiệp nên người dân nhớ tên ông kèm theo cái nghề rất ít người làm.
Cuộc tấn công đánh tư sản Miền Nam do Đỗ Mười chỉ đạo từ trên xuống dưới không cấp nào được vượt quyền ông, cho thấy một tay thất phu khi có quyền hành sẽ trở nên nguy hiểm đến mức nào. Nó làm cả Miền Nam kiệt sức vì mọi công ty xương sống của quốc gia, mọi nhà máy công nghiệp nặng nhẹ, mọi cơ sở thủ công nhỏ lẻ của người dân có chút máy móc trợ lực đều bị phá bỏ.
Gần 30 ngàn chủ nhân những cơ sở ấy hoặc tự tử vì uất ức, hoặc trốn chạy bằng đường vượt biển hay bị áp giải lên rừng sâu nước độc được gọi là kinh tế mới. Lòng người than oán còn hơn trong thời kỳ chiến tranh. Sự hận thù ấy bồi đắp lên cái tên Đỗ Mười như ông bình vôi, mỗi ngày ruột một đặc lại vì sự oán ghét của dân chúng như vôi nhét vào bình, chiếc bình vôi Đỗ Mười đang nằm chỏng gọng chờ ngày phán xét trong sự phấn khởi ngày càng lớn của người dân.
Nếu Đỗ Mười tàn bạo vì tin vào sự tích Xã hội Chủ nghĩa, mông muội và xem thường xương máu nhân dân thì Lê Đức Anh lại xem trọng vai trò đàn anh của Đảng cộng sản Trung Quốc bất kể người đàn anh ấy giết dân chúng, bộ đội Việt Nam như giết ngóe.
Sau sự sụp đổ của Liên sô và khối Đông Âu, Lê Đức Anh trong cương vị Bộ trưởng Quốc Phòng đã tham mưu cho BCT bằng mọi giá phải lập lại quan hệ hữu nghị với Trung Quốc nếu không muốn bị xóa sổ như Liên sô. Là Bộ trường Quốc phòng, Lê Đức Anh đưa ra những con số âm về sức chiến đấu của bộ đội, về vũ khí quân dụng, về địa thế của Việt Nam đối với Trung Quốc và nhất là đồng minh đầy tiềm năng là Liên sô đã không còn nữa.
Bộ Chính Trị bị ông ta dắt mũi vì nỗi ám ảnh Trung Quốc để từ đó Hội Nghị Thành Đô ra đời kéo theo hệ lụy cho đến ngày nay khi Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành ông chủ thực sự của BCT Đảng Cộng sản Việt Nam hết đời TBT này sang đời TBT khác.
Lê Đức Anh còn một tội ác khó dung tha nữa là ra lệnh bộ đội binh chủng công binh không được nổ súng vào lính Trung Quốc trong trận chiến Gạc Ma năm 1988 để kết quả là 64 chiến sĩ làm bia sống cho bọn côn đồ phương Bắc. Nỗi oan ức của họ vẫn chưa được bạch hóa cho tới ngày nay sau khi cuốn sách “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” ra đời chỉ rõ những sai trái của Lê Đức Anh nhưng không ai trong chính quyền này làm tới nơi tới chốn một tội đồ dân tộc với tội danh không thể nào rõ ràng hơn: Phản quốc.
Tội ác của Lê Đức Anh không phải vì tin vào Chủ nghĩa Xã hội mù quáng như Đỗ Mười mà vì hèn nhát sợ chiến đấu với Trung Quốc.
Trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh đã rất sợ hãi khi nghĩ lại cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và những trận chiến dai dẳng trên khắp biên giới phía Bắc sau đó. Ông ta biết chống Trung Quốc thì sẽ mất ghế và mất cả Đảng, mà mất Đảng thì rất nhiều kẻ như ông ta lo sợ, vì thế những đồng chí sát sườn ông ta đã không ngần ngại ủng hộ cho giải pháp đem con bỏ chợ nhằm lấy lòng bọn bất lương miễn sao giữ được Đảng, mà Đảng là nồi cơm là vinh hoa, quyền lực của họ.
Bất kể có sự trừng phạt ở bên kia thế giới cho những kẻ ác ôn hay không, thì Đỗ Mười và Lê Đức Anh đã và đang bị trừng phạt ở cõi này bằng hằng hà phỉ nhổ, nguyển rủa của gia đình nạn nhân chết dưới tay họ. Làm sao kẻ thủ ác thoát được lưới trời cho dù cái lưới ấy chỉ là nước bọt ngày ngày bắn vào hai ngôi mộ hoành tráng được hai dòng họ cố công xây dựng?
Khi thông tin chính thức ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời lúc 10:05 phút ngày 21.09 được công bố, có lẽ chỉ trừ báo chí truyền thông nhà nước phải làm nhiệm vụ tuyên truyền, viết những bài “thương vay khóc mướn” về một trong “tứ trụ triều đình Hà Nội” vừa mới ra đi này, còn lại cả ngày hôm đó và hôm sau, trên mạng xã hội facebook chỉ tràn ngập những status biểu lộ sự vui mừng, hả hê, châm biếm, diễu cợt. Và ở ngoài đời, nhiều người Việt Nam kể rằng thái độ của dân chúng cũng rất thờ ơ, thậm chí có những người cũng không ngần ngại nói huỵch toẹt kiểu như “Mong sao cả đám quan chức ăn tàn phá hại chết hết cho rảnh”!!
Ông Trần Đại Quang không phải là trường hợp duy nhất bị người dân bày tỏ sự thờ ơ hay hả hê khi qua đời. Trước cái chết của một nhân viên công an/cảnh sát cho tới nhiều quan chức, lãnh đạo khác ở nước này, người dân đều có những phản ứng như vậy.
Khác với một số chế độ độc tài, quyền lực tập trung vào tay một nhân vật duy nhất, kể cả ở Nga hay Trung Cộng bây giờ, quyền lực của Putin hay Tập Cận Bình cũng hết sức lớn, ở VN quyền lực lẫn trách nhiệm chia cho “tứ trụ”, rộng hơn là 19 người trong Bộ Chính trị. Trong nhiều năm qua VN không có một khuôn mặt nào thật sự nổi trội và nắm hết mọi quyền lực trong tay, như thời Hồ Chí Minh hay Lê Duẩn. Thi thoảng, trong từng giai đoạn, một người nào đó khuynh loát được nội bộ, nắm được nhiều quyền lực hơn do phe cánh mạnh hơn, như ông Cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có một thời “làm mưa làm gió” và bây giờ, theo như nhiều người nhận xét, quyền lực đang nằm chủ yếu trong tay ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chính vì vậy, người dân không thật sự biết được ai có năng lực hơn ai, ai phải chịu trách nhiệm trực tiếp về từng chủ trương, chính sách hại dân hại nước nào. Mọi bức bối, phẫn nộ đành chia đều!Nên có thể nói, bây giờ ai trong “tứ trụ” hay Bộ Chính trị hay các “Thái thượng hoàng” Lê Đức Anh, Đỗ Mười ra đi thì dân cũng phản ứng như nhau. Lòng dân đã quá chán ngán cái chế độ này.
Đừng bảo dân ác mồm ác miệng. Đừng bảo nghĩa tử là nghĩa tận v.v và v.v…Phải hỏi tại sao lãnh đạo chết mà dân lại mừng, lại hả hê? Vả lại đối với dân đen bây giờ, vũ khí duy nhất của họ chỉ là tiếng cười và sự châm biếm, khi nào họ không cười, không châm biếm nữa mà họ đùng đùng nổi giận, đứng lên xuống đường thì lúc đó mới là lúc cái chế độ này tắt thở!
Nhưng nói thật, với tất cả tội ác mà đảng cộng sản đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này thì nhân vật nào còn được chết trên giường bệnh hay chết vì tuổi già là còn phúc! Sau này lại đến lúc những nhân vật còn sống phải ra tòa trả lời về những tội ác đã làm nữa kia! Còn những ai chết rồi cũng chưa xong đâu, mai mốt lịch sử sẽ ghi lại từng người, ai cam tâm làm lính đánh thuê cho ngoại bang, ai đẩy đất nước vào mấy cuộc chiến tranh rồ dại, ai bán nước, ai dâng đất cho Tàu…rành rành còn đó, sách sử nghìn đời ghi chép lại.
Quan chức, chính khách cộng sản đối với nhau
Ở VN, từ đời riêng cho tới tình trạng sức khỏe, lý do bệnh tật của các quan chức lãnh đạo cấp cao luôn luôn là một bí mật đối với dân chúng. Người dân chỉ được biết những gì mà nhà nước cho biết. Ngay cả ngày chết cũng nhiều khi bị ém lại chờ ý kiến, quyết định của Bộ Chính trị rồi mới công bố, như trường hợp ông Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt hay ông Nguyễn Bá Thanh…Nhưng từ khi có mạng internet, có báo chí “lề trái”, dù nhà nước đã ra sức bưng bít nhưng những thông tin rò rỉ, những câu chuyện “thâm cung bí sử” phía sau hậu trường chính trị, trong đó có cả chuyện sức khỏe, bệnh tật của các quan lớn cứ bị rò rỉ, lan truyền trên các trang mạng xã hội và trong dân chúng.
Như ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương từ năm 2012-2015, trước đó là Bí thư thành ủy Đà Nẵng, Chỉ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2003-2013, toàn bộ quá trình bệnh tật, lý do bệnh tật cho tới thực sự chết khi nào đều bị nhà nước này giấu diếm, quanh co. Trong lúc trên mạng xã hội những hình ảnh ông nằm trên giường bệnh điều trị ở nước ngoài với cái đầu cạo trọc, làn da xám ngoét, dấu hiệu của người đang xạ trị bệnh ung thư, hình ảnh chuyến bay từ Mỹ được cho là đưa ông về VN (nhưng không ai thấy mặt ông) cùng với những “tin đồn” về chuyện ông bị các đồng chí đầu độc bằng chất phóng xạ cứ lan truyền không kiểm soát nổi.
Thậm chí dân tình còn đồn rằng ông Nguyễn Bá Thanh đã bị bệnh viện Mỹ trả về vì không còn có thể cứu chữa được, nhưng báo chí nhà nước thì vẫn tiếp tục đưa tin ông về và đang điều trị tại Đà Nẵng, các quan chức vẫn vào thăm, ông còn nói “Tau khỏe mà, có chi mô”, nhưng cũng không có một hình ảnh nào của ông, kéo dài hàng tháng, trước khi nhà nước chính thức công bố ông Nguyễn Bá Thanh qua đời!
Trường hợp ông Trần Đại Quang cũng vậy. Từ năm ngoái dân tình đã đồn đãi về tình trạng sức khỏe của ông. Khi ông phải đi Nhật chữa bệnh lần 1, lần 2, nhà báo Huy Đức đã thông báo trên facebook của mình trong lúc báo chí nhà nước vẫn im lặng. Trong những ngày cuối đời, khi thần sắc ông đã rất kém, ông vẫn phải đóng tròn vai trò của mình là xuất hiện chỗ này chỗ kia, lịch làm việc dày đặc. Một ngày trước khi ông mất, ngày 20.9, nhà báo Huy Đức nhận xét trên facebook:
“Sức khỏe của Chủ tịch nước
Với hình ảnh của Chủ tịch nước xuất hiện trên VTV tối qua và diễn biến chiều nay (20-9-2018), tôi nghĩ, TTX nên bắt đầu phát đi những bản tin đầu tiên về sức khỏe cảu Đại tướng Trần Đại Quang. Lãnh đạo cũng không tránh khỏi quy luật sinh – lão – bệnh… Người dân có quyền được biết và ông cũng nên được đối xử như một con người, ốm thì phải được nghỉ ngơi chữa bệnh.”
Và hôm sau thì ông Trần Đại Quang qua đời. Có lẽ chuyện phải làm việc cho đến tận phút cuối cùng là một trong những lý do khiến ông phải đi sớm như tác giả Đinh Ngọc Thu viết trong bài “Vì sao Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời?” đăng trên trang Tiếng Dân.
Trong một chế độ dối trá, cả đến cái chết cũng phải được đảng, được các đồng chí của mình cho phép. Đó là chưa nói nguyên nhân, lý do thực sự vì sao một số ông lại phải ra đi, có phải do bị các đồng chí của mình hãm hại trong cuộc tranh giành quyền lực như dân tình đồn đãi hay không. Chỉ khi nào có một thể chế minh bạch, được vận hành bởi luật pháp, cộng thêm sự giám sát của báo chí và tiếng nói của nhân dân thật sự có trọng lượng, thì lúc đó những cuộc tranh giành đấu đá hãm hại nhau trong bóng tối mới khó có cơ may xảy ra…
Cọp chết để da, người ta chết để tiếng
Nhớ lại gần đây khi Thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 2008, người từng bị giam cầm ở Hà Nội thời Chiến tranh Việt Nam, đã qua đời sau một thời gian dài điều trị chứng ung thư não ác tính, không chỉ người Mỹ, mà rất nhiều lãnh đạo, chính khách trên thế giới đã bày tỏ niềm thương tiếc, kính trọng. Đặc biệt nhiều người Việt đang sống tại VN, tại Mỹ và nhiều nơi khác cũng bày tỏ sự thương tiếc khi ông qua đời, vì những nỗ lực của ông trong quá trình gác bỏ hận thù, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng như chương trình HO mà ông là tác giả, đã giúp đưa hơn 500 000 sĩ quan quân lực VNCH và thân nhân của họ được định cư trên đất Mỹ.
Còn đối với người dân Mỹ, ông không chỉ là một anh hùng chiến tranh mà còn là một con người yêu nước thực sự, đã cống hiến cả cuộc đời để bảo vệ những giá trị của nước Mỹ, dù trên chiến trường hay trong lòng nước Mỹ. Một chính khách trung thực, có lương tri, có đạo đức, luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên đảng phái, sẵn sàng lên tiếng bào vệ đối thủ chính trị hay chỉ trích những việc làm, sai trái của Tổng thống đương nhiệm cho dù là người cùng đảng Cộng Hòa. Nói về ông, người ta nói về một nhân cách lớn, một con người quân tử, cao thượng, một người yêu nước. Những tính từ đẹp nhất để nói về một con người-một quân nhân và một chính khách.
Không biết khi thấy những phản ứng đối nghịch rất rõ của người VN dành cho một “cựu thù” và cho một quan chức lãnh đạo của chính nước mình như vậy, những con người đang ngồi trên những vị trí cao nhất của đảng và nhà nước cộng sản VN có suy nghĩ gì hay không?
Có lẽ họ cũng biết, nhưng họ vẫn chọn con đường coi như không thấy không biết, một phần vì vẫn còn quá ảo tưởng vào sức mạnh của chế độ, tưởng như chế độ này cứ thế tồn tại mãi nhờ vào bạo lực và sự sợ hãi, một phần do không ai trong số họ đủ tâm, đủ tầm, đủ sức để làm bất cứ một sự thay đổi nào. Họ sợ hãi mọi sự thay đổi. Họ chọn lựa cách dễ dàng là bảo vệ đến cùng những gì đang có.
Cũng như từ trước đến nay, đảng và nhà nước cộng sản luôn luôn lựa chọn con đường dễ dàng nhất, có lợi nhất cho mình, bất chấp lợi ích của đất nước, dân tộc, bất chấp những xoay chuyển của thời cuộc khách quan, dòng chảy của lịch sử…Hậu quả là cả đất nước này, dân tộc này phải đi trên con đường khó khăn nhất, chậm chạp nhất và tổn thất nhất để giành lại Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc.
Nhưng hậu quả ấy còn đến với chính đảng và nhà nước cộng sản chọn lựa đàn áp nhân dân để bảo vệ chế độ đến cùng thay vì tự thức tỉnh và thay đổi, đó là chính họ đã đóng cửa con đường quay về trong hòa bình với nhân dân. Bạo lực, thù hận do đó khó mà tránh khỏi.
Cuộc đánh tư sản sắt máu của Đỗ Mười đã “tạo ra” loại con cái đấu tố cha mẹ ruột mình. Lý Mỹ (điển hình) là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 (cuộc đánh tư sản do Đỗ Mười chỉ huy) nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình…
X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải…
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu…
Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng nằm trong số đó.
Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3, dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.
Hôm đó, Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép, khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của Đỗ Mười, hôm đó được giáp mặt, quả đúng vậy.
Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.
Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Đỗ Mười nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. (Rất cần phải nhắc lại cái kế hoạch X-1 do hung thần Đỗ Mười đề xuất: Sĩ Quan Ngụy tù Trung Úy trở lên, Công chức từ cấp Chánh Sự Vụ trở lên: “Tử hình”. May mà tuị Pol Pot làm quá nên bị cả Thế Giới nguyền rủa và lên án nên CSVN mới chùn tay). Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…ông vừa nói vừa chém tay vào không khí.
“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm (đúng là nhà nước vét hết để chở ra bắc vì dân bắc sống sung sướng trong thiên đường XHCN nên các cửa hàng trống rỗng, thực phẩm phải mua bằng tem phiếu, vải được phân phối mỗi năm 4 mét/người). Chính là bọn tư sản thương nghiệp! Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. (thực ra chính CS đã đầu nậu). Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”
Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép sủi bọt. Tay vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa. Lúc đầu mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, Đỗ Mười bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.
Đỗ Mười vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”
Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.
Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ khởi đầu!
Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn-sê-vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”
Chúng tôi ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tuyệt đối bí mật”.
Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn. Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần, nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!
Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.
Bên cạnh các chiến dịch đánh tư sản, Hà Nội còn áp dụng thêm một số biện pháp có tính toán nhằm triệt tiêu mầm mống tư sản ở miền Nam thông qua cái gọi là “kinh tế mới”
Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.
Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết đánh tư sản!
Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B. ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch. ở nhà máy dệt Thắng Lợi.
Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngắn: Lý Mỹ.
Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.
Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978).
Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!
Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh, và qua sự khích động của Đỗ Mười.
Trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc có con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong chiến tranh, được những gia đình buôn bán, giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sản ân nhân của mình. Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978, người bị gọi là tư sản, con buôn xấu xa như vậy. Người ta, vỉ ngu dốt như Đỗ Mưởi, đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.
Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới).
Đỗ Mười đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.
Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định” (Nguyễn Văn Linh trăn trở cuộc đổi mới).
Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời Đỗ Mười bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Đỗ Mười đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.
Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, Đỗ Mười không để lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp, biến Sàigòn và miền Nam thành những vùng đất chết!” .
Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kể: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”. Đỗ Mười là người đố kỵ với Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!… Anh Mười, anh ấy rất võ biền. Các cuộc họp tôi nói, anh ta thường chặn lời tôi…” (Làm người là khó).
Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Ủy viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).
Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá !”.
Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp. Cũng đúng thôi, vì ông Mười xuất thân từ nghề hoạn lợn thiến heo sau đi theo cách mạng. Ông đâu có được học hành gì, bởi thế những suy tư và hành động của ông là suy tư và hành động của những tên lưu manh, vô lại, khi bỗng nhiên có chức, có quyền.
Năm nay Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói vẫn phải nuôi con mọn do cô hộ lý sinh ra và nói là con của ông??? Không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!
Khi Việt Nam Và Tàu “Một Tổ Quốc, Một Văn Hóa” – Nguyễn Thị Cỏ May
Trong gần đây, nhiều người nói tới năm 2020, Việt Nam sẽ lệ thuộc Tàu (1) vì sẽ trở thành “một vùng tự trị” hay “một tỉnh lẻ” của Tàu. Khi nói về ngày mai này, người ta nhắc lại “Hội nghị Thành Đô” tuy văn bản qui định việc này, không biết có ai thấy không?. Nhưng nói về “ảnh hưởng đậm” hay “lệ thuộc” Tàu thì trong nhiều sách vở và báo chí của chế độ, không thiếu những lời như “Việt Nam và Trung quốc sông liền sông, núi liền núi” hoặc “môi hở răng lạnh” và, nhất là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, hay lời của Trường Chinh kêu gọi người Việt Nam hảy bỏ chữ quốc ngữ vì chữ này là của thực dân đem tới, không phải chữ của ta, hãy trở về học chữ Hán (2), còn trong sách vở xưa, thì “Việt Nam và Trung Quốc đồng văn, đồng chủng”. Thực tế sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ trả lời. Chỉ còn 2 năm nữa mà thôi.
Ngày nay, có điều chắc chắn, rõ ràng, ai cũng có thể ghi nhận không cần bàn cãi là hướng đi của Việt Nam do đảng cộng sản lèo lái vẫn lấy Tàu làm khuôn vàng thước ngọc. Việt Nam phải giống Tàu, phải bám theo sát Tàu. Tập Cận Bình là chuẩn mực. Qua 2 lần tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng, vào tháng 1-2018, trước Quốc Hội và đông đảo các nhà báo: “những đảng viên đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện Tam quyền phân lập là bị tác động bởi bọn phản động, phải bị khai trừ ra khỏi đảng”, và tiếp theo, trong tháng 7, nặng lời hơn: “Những kẻ đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ CNXH, đòi Tam quyền phân lập, đều là bọn bất hảo” (chớ không phải kẻ có lý luận như Trọng), ai cũng nhận thấy đường lối lệ thuộc Tàu của Trọng thể hiện rất rõ: “Việt Nam với Tàu là một. Một chế độ, một văn hóa”.
Giờ đây, chúng ta thử hình dung cái “một” đó là gì, như thế nào, qua chính sách của Tập Cận Bình?
Không thể dân chủ hóa chế độ
Theo Giáo sư Jean-Pierre Cabestan, chuyên viên về Tàu, nhận xét mang tính kết luận “Ở Tàu, cá nhân làm giàu và tiêu thụ là ưu tiên, trước sự cần nới rộng tự do và những quyền chính trị”.
Trong quyển sách mới xuất bản (Demain la Chine: Démocratie ou Dictature?, Gallimard, Paris, 3/2018), ông Cabestan cho rằng khả năng của dân chúng Tàu thích nghi và sự đồng thuận trong nội bộ đảng cộng sản để duy trì quyền lực là sẽ không cần phải thay đổi chế độ hiện tại. Mặc dầu như vậy là không phù hợp v ới xu thế thời đại, xung đột mạnh với nền dân chủ Tây phương. Nhiều học giả Tàu cũng lo ngại nghĩ rằng chính trị và xã hội được tự do để lần lần sẽ dân chủ hóa chế độ là điều khó tránh làm cho đất nước bị xáo trộn, mất ổn định.
Sau Đại hội đảng cộng sản Tàu thứ XIX đưa Tập Cận Bình lên làm Hoàng đế Tàu suốt đời, phân tách những khả năng thích nghi và đổi mới của một chế độ, ông Cabestan quả quyết Tàu “không thể dân chủ hóa” được. Chẳng những “dân chủ hóa không thể được”, mà ông còn cho đó, đúng hơn, là một “chế độ độc tài”.
Nói đó là một chế độ độc tài vì quyền lực thật sự được thể hiện ở con người Tập Cận Bình, đứng đầu một đảng duy nhất cai trị nước Tàu theo một mô hình đổi mới độc đoán.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước cộng sản đã lần lược thay đổi theo dân chủ. Nhưng Tàu là trường hợp khá đặc biệt. Ngoại lệ chăng? Liệu Tàu sẽ đứng vững được bao lâu khi Tàu hoàn toàn không nghĩ tới từng bước tiến lên theo hướng dân chủ trong lúc thế giới tranh chấp nhau với những ý hệ ngày càng công khai?
Tập Cận Bình chủ trương mở cửa ra thế giới, tiếp xúc với những nước dân chủ nhưng vẫn chống lại những nước này, tìm cách áp đặt tương quan lực lượng có lợi cho mình. Tập tìm cách xuất cảng mô hình Tàu ra thế giới, nhất là nhắm những nước kém mở mang. Không phải chỉ để bảo vệ chế độ hay củng cố tính chính thống của chế độ, mà đó chính là tham vọng bá chủ thế giới của Tập Cận Bình.
Khi nói dân chủ, người Tàu cũng nói họ có dân chủ. Chế độ ở Tàu của họ là chế độ dân chủ. Thứ dân chủ tốt hơn dân chủ tư bản cả vạn lần. Nhưng thứ gọi là dân chủ ở Tàu đó lại từ chối nhân quyền, từ chối những quyền căn bản như quyền bầu cử tự do, quyền lập đảng, tự do thông tin, tự do phát biểu, công khai ngân sách của đảng cộng sản…
Đừng quên mô hình độc tài của Liên Sô. Chế độ Tàu là một copie lénino-staliniste: 1 đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện và triệt để, chọn đảng viên “uu tú” (cốt cán) cầm quyền, đàn áp mọi chống đối, nhất là không tha những người có ý muốn thay đổi chế độ theo dân chủ tự do thật sự.
Kinh tế phát triển, Tàu sẽ thay đổi theo dân chủ?
Tuy ngày nay, chế độ độc tài ở Tàu không còn như trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ nhưng đó vẫn là một chế độ cực kỳ phản động. Thật ra chế độ cộng sản là phản động. Nhiều nhà phân tích cho rằng tham nhũng và khủng hoảng kinh tế như tăng trưởng xuống, công nợ tăng, thất nghiệp đông, sẽ làm cho chế độ sụp đổ. Thật ra khả năng thích nghi của dân chúng sẽ giúp chế độ tồn tại – nhất là giới dân chúng biết dựa vào chế độ làm giàu vẫn là lực lượng bảo vệ chế độ vững mạnh. Đồng thời Tập quan tâm thực hiện những thay đổi kinh tế nhưng vẫn lo sợ những nhà đầu tư tư nhân sẽ gây ra nhiều rủi ro cho chế độ nên Tập càng kiểm soát đảng chặc chẽ hơn.
Ngày nay, Tập biết mình có nhiều kẻ thù nên Tập phải tìm cách nắm trọn quyền lãnh đạo trong tay suốt đời. Buông đảng ra là chết. Chỉ yên tâm khi nào Tập loại được hết kẻ thù, đào tạo một thế hệ nối tiếp biết trung thành với Tập. Nhưng liệu toan tính này có vượt quá tầm tay một cá nhân hay không?
Tóm lại, nhìn vào thực tế ở Tàu, người ta thấy rõ đó là chế độ độc tài nhưng sẽ bền vững nhờ ở khả năng biết thích ứng của đảng CS, kiểm soát được xã hội, và dân chúng thấy yên lòng, sống được, còn có lắm kẻ làm giàu. Điều này trước đây, mơ cũng không có. Và hơn hết, dân Tàu không biết dân chủ, văn hóa Tàu không có dân chủ. Người Tàu chỉ biết mong đợi ở một minh quân nên ở Tàu không có sự đòi hỏi dân chủ, tự do quan trọng trong dân chúng.
Tàu và Việt Nam là “một”, do đó chế độ ở Việt Nam chỉ sẽ thay đổi chỉ khi nào dân chúng Việt Nam hiểu dân chủ, cần đòi hỏi dân chủ, để tự mình cai trị chính mình, tự mình giữ gìn và bảo vệ đất nước nguyên vẹn cho mình.
Về văn hóa, tuy ngày xưa, học chữ Nho, học văn hóa Tàu nhưng cái học đã được Việt hóa rất căn bản nên giữa 2 nền văn hóa vẫn có nhiều khác biệt.
Một Văn hóa
Những người học chữ Nho thời xưa theo lối nhồi sọ của Tống Nho, không kịp suy nghĩ, đều nằm lòng Việt Nam và Tàu “đồng văn, đồng chủng”. Trân trọng chữ Tàu vì đó là chữ của thánh hiền. Thấy một miếng giấy chữ Tàu lăn lốc trên mặt đất vội lượm lên đem đốt. Không dám bỏ bậy.
Ngày nay, dưới sự cai trị của đảng CSVN, chữ Tàu, tiếng Tàu bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam rộng rãi với một ưu thế mới. Học tiếng Tàu như một ngoại ngữ là bình thường, không mang ý nghĩa lệ thuộc văn hóa. Nhưng nếu người Việt Nam tiếp thu văn hóa Tàu theo tinh thần Tống Nho thì sự lệ thuộc này mới kinh khủng hơn mất đất do dời cột mốc biên giới, mất đảo, mất biển… Mất văn hóa là mất chính người Việt Nam!
Thật ra văn hóa Tàu có mặt đẹp của nó nên nó mới tồn tại tới ngày nay. Nhưng về chính trị, Tàu có những tấm gương tuân phục vua/tôi vô cùng rùng rợn. Khi lệ thuộc văn hóa thì dĩ nhiên Việt Nam sẽ phải được học thứ văn hóa chính trị này để thể hiện ý nghĩa “một văn hóa” theo chính sách xâm lược cố hũu của Tàu.
Đây, Cỏ May tôi xin kể một câu chuyện lịch sử tàu để minh họa thứ văn hóa chính trị ghê rợn của Tàu.
Chuyện kể:
“Vua Tề hoàn Công nhờ có Quản Trọng, Bảo thúc Nha và nhiều trung thần hào kiệt giúp sức nên đã dựng lên cơ nghiệp bá vương, xứ sở cường thịnh, dân chúng ấm no. Quản Trọng được mọi người kính trọng và biết ơn, Tề Hoàn Công đã coi ông như một người cha và luôn gọi ông là Trọng Phụ, và không cho phép mọi người gọi tên huý hoặc tên thật của Quản Trọng. Cùng làm việc trong cung đình, còn có nịnh thần như Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương.
Thụ Điêu thì tự thiến mình để xin vào cung hầu hạ, vì thế vua rất cảm động và thương yêu cách đặc biệt.
Dịch Nha có tài nấu ăn và là người nấu ăn riêng của vua. Một hôm vua nói, các món sơn hào hải vị và trân châu bát bửu ta đều đã dùng qua, có món đã làm ta thật chán. Chỉ duy có món thịt người là ta chưa được nếm thử bao giờ.
Ngay ngày hôm sau, Dịch Nha liền dâng lên vua một món thịt chế biến rất hấp dẫn. Ăn xong, nhà vua hết lời khen ngon và hỏi thịt gì. Dịch Nha nói, đó là thịt đứa con 3 tuổi của hạ thần”.
Thứ văn hóa chính trị tuân phục vì quyền lợi riêng tư này thật kinh khủng. Ngày xưa, để làm vui lòng nhà vua muu cầu quyền lợi cho mình, Dịch Nha đã không ngần ngại làm thịt con dâng cho nhà vua đổi món ăn. Điều này, về ý nghĩa chính trị, không khác gì lắm khi trước đây Hồ Chí Minh đã long trọng “sông liền sông, núi liền núi” và “môi hở răng lạnh”, trước sau chỉ nhằm thực hiện tham vọng lãnh tụ, phục hận quá khứ gia đình. Tới Lê Duẩn xua mười triệu thanh niên Việt Nam vào lửa đạn (3) cũng chỉ để “phục vụ Liên Sô và Trung Quốc”. Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng và đảng cộng sản sẵn sàng đem đất nước dâng cho vua tàu Tập Cận Bình để đổi lấy sự giàu có.
Bắt đầu từng bước thực hiện thứ văn hóa chính trị tuân phục, Trọng đã mở rộng cửa cho Tàu tràn ngập qua Việt Nam, cho thiết lập khắp nơi nhà máy Tàu xả thải phá hủy môi trường đất nước, bán những vùng đất quan trọng về chiến lược cho Tàu cộng khai thác đời đời.
So sánh với giết con, tự thiến của thời xưa để được làm quan thì tội ác của Hồ Chí Minh, của Lê Duẩn, của Nguyễn Phú Trọng sau này mới thật là tày trời hơn cả vạn lần. Đặc tính của thứ văn hóa chính trị Tàu xưa nay là ác. Nhìn lại chế độ Mao để đừng quên có 80 triệu người Tàu chết, từ Vạn Lý Trường Chinh, những bước Đại Nhảy Vọt đến Cách Mạng Văn Hóa. Vậy khi Việt Nam lệ thuộc Tàu cộng, cái ác đó sẽ đem áp dụng ở Việt Nam, đời sống dân chúng sẽ lầm than đến đâu? Như dân Tây Tạng, dân Ngô Duy Nhỉ?
* Ghi chú:
(1) Khi nói Việt Nam sẽ bị lệ thuộc Tàu, rất nhiều tác giả Việt Nam dẫn chứng “lời ” của Hồ Chí Minh nói với Đại diện của Mao Trạch Đông là 2 tướng Trần Canh và Vị Quốc Thanh năm 1926 và bốn năm sau, năm 1930, nhân lúc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, đươc Hồ Chí Minh lập lại một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai: “Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa.”.
Rất tiếc xuất xứ của lời này không được rõ ràng lắm. Hơn nữa, năm 1926, chỉ có chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.
(2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng Lao Động, Văn thư số 284/LĐ đang trên Nhật báo Tiếng Dội, 5/1951, Sài gòn.
(3) Duẩn vâng lệnh Mao làm chiến tranh biển người. Lý thuyết chiến tranh biển người của Mao là “Càng nhiều người bị giết, cách mạng càng thành công” (D.Acemoglu và J.A.Robinson, “Tại sao các quốc gia thất bại”, NXB Trẻ, 2013, trang 545).
Về mười triệu người chết trong chiến tranh do Lê Duẩn được bà Bảy Vân xác nhận trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Xuân Hồng (BBC). Bà Bảy Vân nói thêm nếu Tàu không giúp, Lê Duân sẽ phải hy sinh người dân thêm nữa, để giải phóng cho được Miền nam.
Lòng dân là yếu tố quyết định tính bền lâu của một thể chế. Xã hội đang chuyển hướng từ tin tưởng ĐCS sang tin tưởng lực lượng dân chủ, đó là điều không thể phủ nhận. Điều đó cho thấy sự kết thúc một triều đại sẽ tới, không sớm hay muộn. Triều đại mà được đặt nền tảng trên sự ngu muội của dân tộc thì triều đại đó phải đổ. Bởi vì sự ngu muội không thể ở mãi với dân tộc được, dân phải vứt nó vào lúc nào đó.
CS có thấy được điều này không? Họ thấy và đang điên cuồng chống lại sự chuyển hướng đó. Nhưng khổ nỗi, tầm của họ không tới và giờ họ đang bế tắc trong vấn đề lôi kéo lòng tin nhân dân về phía mình. Dùng công an đe doạ làm dân sợ không được phép nói sự thật chỉ là giải pháp tình thế để ngăn chặn sự chuyển biến tư tưởng thành bùng phát sức mạnh mà thôi. Bức tường sợ hãi là một bức tường không bền vững, rồi cũng tới lúc dân xô đổ nó và kết liễu độc tài CS, chắc chắn là vậy.
Bản chất của sự chuyển biến trong dân là sự khai thông nhận thức. Khi con người đã hiểu biết, nếu kéo họ lại con đường ngu muội bằng tuyên truyền giả dối là điều không thể. Anh nông dân thất học khi đã được học hành thành trí thức thực thụ thì không ai có thể biến anh ta thành kẻ ngu dốt như trước đó được nữa. Tương tự vậy, khi dân đã biết sự thật, biết suy xét đúng sai thì ĐCS dùng tuyên truyền dối trá để kéo họ về với ngu muội là không thể. Nếu Hồ Chí Minh mà chết trong thời này thì dân cũng ăn mừng chứ chẳng riêng gì cái chết của Trần Đại Quang. Thời 1969 dân miền Bắc ngu muội, nhưng nay không phải thế. Đấy là điều tất yếu, ĐCS nên thẳng thắn nhìn nhận. Nhưng khổ nỗi, Ban Tuyên Giáo ĐCS chỉ toàn là những bộ óc ngu muội nên không thấy được xu hướng tất yếu này mà kiên trì nhồi sọ bằng giả dối nên đã thất bại và nhờ đến công an và nhà tù để hỗ trợ.
Thế thì ĐCS phải làm gì là thích hợp trong trường hợp này? Chỉ có thể lượn theo nó mà tồn tại. Nghĩa là ĐCS sẽ phải thay đổi mình cho cuộc chơi chung toàn cầu và cuộc chơi chung bình đẳng trong nước. Hãy làm như Liên Xô thì đó là con đường vẹn toàn cho ĐCS và nó cũng đảm bảo quyền lợi cho cựu đảng viên ĐCS. Như ta biết, Boris Yelsin hay Vladimir Putin đều là cựu quang chức CS. Nếu cố chấp đi ngược dòng lịch sử thì cái kết sẽ là Nicolae Ceaucescu của Romani mà thôi. Cái hậu thế nào đó là do CS lựa chọn hôm nay.
Nếu Trung cộng bị suy tàn, tan rã do thất bại trên chiến trường thương mại thì công lớn nhất chính là giám đốc của Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng – giáo sư kinh tế và chính sách ông Peter Navaro, tác giả của cuốn sách “Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action” tạm dịch là “Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu”. Cuốn sách này có sự đóng góp của Greg Autry,
Điều đặc biệt hơn chính là “nghệ thuật dùng người” của Donald Trump, sau khi thắng cử, ngày 21/12/2016 ông Trump đã bổ nhiệm ông Navaro, một đảng viên của Đảng Dân chủ vào vị trí làm giám đốc của Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng, một vị trí mới được tạo ra trong ngành hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ để “cố vấn” cho Trump phá thế “chết bởi Trung cộng”. Xin điểm lại các nội dung chính trong cuốn sách Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu” như sau:
Trung cộng đang tấn công trên mọi mặt trận bằng mọi thứ vũ khí sẵn có, từ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và thao túng tiền tệ đến tình báo và tấn công tin tặc. Khắp nơi trên thế giới, Trung cộng cũng đang làm bất cứ mọi giá để chiếm đoạt nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, thậm chí điều đó có nghĩa khuyến khích các chế độ nguy hiểm nhất thế giới truyền bá vũ khí hạt nhân.
Ngay trong lòng nước Mỹ, người Mỹ bị hàng nhập cảng độc hại của “chú Rồng” giết chết hay gây tổn thương. Những loại hàng nhập cảng này là thực phẩm có chất độc, đồ chơi nhiễm độc, thuốc có độc.
Các công ty khổng lồ của Mỹ đã và đang hợp tác với các công ty quốc doanh Trung cộng để hủy diệt ngành sản xuất Mỹ và cuối cùng thì thật mỉa mai là chính họ đang hủy diệt họ.
Hình thức “chủ nghĩa tư bản ươn ngạnh” của Trung cộng kết hợp với vũ khí bảo hộ mậu dịch và vũ khí mậu dịch trái luật để đẩy lùi từng việc làm một của các ngành công nghiệp Mỹ. Sự phát triển quân sự táo bạo của Trung cộng đang chạy đua về hướng đối đầu với Mỹ. Trong khi đó, giới hành chính, chính trị và thậm chí giới khoa bảng của Mỹ vẫn yên lặng về mối đe dọa đang tới gần.
Hàng ngàn nhà bất đồng chính kiến mạng thông tin của Trung cộng đang bị giam cầm trong các trại “Google Gulags”. (Gulags là tên gọi tắt của Tổng cục Lao động cải tạo Liên Xô thời độc tài khát máu Stalin).
Tin tặc Trung cộng đang gia tăng các hoạt động tấn công tin tặc vào nền quốc phòng Mỹ và các công ty chủ chốt của Mỹ.
Tiền bị giảm giá của Trung cộng đang gây thiệt hại cho Mỹ, châu Âu và sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Vạch mặt giới truyền thông Mỹ trong đó có những siêu sao như Tom Friedman và Nicholas Kristof của tờ New York Times, James Fallows của The Atlantic Monthly, và Fareed Zakaria của Newsweek đã bóp méo câu chuyện về Trung cộng.
Trước hiểm họa “Chết bởi Trung cộng” mà ông Navaro và Greg Autry đã phát hành vào ngày 15/5/2011, tức vào thời điểm “giữa nhiệm kỳ đầu” của tổng thống Obama, tuy nhiên những lời “cảnh báo” của cuốn “Death by China” vẫn không được chính quyền Obama quan tâm mặc dù tác giả của nó là ông Navaro, một đảng viên của Đảng Dân chủ.
Chỉ đến khi ông Trump lên làm tổng thống Mỹ thì Navaro cùng với học thuyết “Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu” mới được Trump trọng dụng, thực thi. Không chỉ riêng ông Trump, riêng nước Mỹ mới cảm nhận những gì mà ông Navaro đã tiên liệu mà cả thế giới giờ đây cũng đã “sáng mắt – sáng lòng” khi chứng kiến các “đối tác – bạn vàng” của Trung cộng rơi sâu vào suy thoái kinh tế, chảy máu tài nguyên,… và trên hết là sự xâm lược mềm thông qua việc truyền bá văn hóa Đại Hán.
Thật phúc cho nhân loại khi nước Mỹ đã lựa chọn ông Trump làm tổng thống và ông Trump đã biết trọng dụng Peter Navaro làm “mưu thần” dù hai ông không cùng một đảng. Khi sách lược của Navaro được Trump thực thi hiệu quả, nó sẽ tạo ra hiệu ứng domino trên toàn cầu, các nước đã và đang giao dịch kinh tế – quân sự với Trung cộng sẽ xa lánh, ghẻ lạnh với Trung cộng, điều này sẽ giúp cho Mỹ nhanh chóng “giết chết chú Rồng” quái vật, đốt cháy đại công xưởng “Made in China 2025”, xóa sổ ảo vọng “Nhất đái nhất lộ” của tặc tử Tập Cận Bình.
Xin gửi lời cảm ơn đến Peter Navaro và Donald Trump, những chiến binh nước Trời đã vung kiếm chém bay đầu con “Rồng quái vật” Trung cộng.
Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v.v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Leon Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt.
Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:
– Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?
Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Ðiển” của Ðào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.
Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Ðô Bi – Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!
Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Ðình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.
– Anh mua bánh bò, bánh tiêu?
Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:
– Anh có bán… trả góp không?
– Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?
– Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.
Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Ðô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của Thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.
Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:
– Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho Thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.
– Nhưng…
– Ðừng ngại, chị trả góp dần sau nầy cũng được.
Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.
– Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!
Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :
– Thầy bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!
Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:
“Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là Tấm lòng”.
“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.”
“vì Người đang dạy các môn đệ rằng :”
Thưa Thầy Giêsu, những lời Thầy dạy xa xôi mù mịt quá
nên Thầy có dạy vài lần nữa thì các ông cũng “không hiểu” vì trong tâm trí lòng dạ các ông còn đang “đang say men chiến thắng”,
các các ông đã chứng kiến bao việc Thầy làm quá là hiển hách,
bao lời nói của Thầy làm cho các ông kinh sư và Pharisêu câm họng,
bao điều Thầy giảng dậy làm cho dân chúng há mồm trợn mắtngỡ ngàng ngạc nhiên…
Thầy mà làm vua thì đất nước Do thái sẽ trở nên siêu cường quốc, chẳng đất nước nào dám hó hé và chẳng có sức mạnh nào địch nổi.
Vậy các điều Thầy dạy,các ông môn đệ “không hiểu” thì có gì ngạc nhiên đâu.
Tại sao các ông “sợ” nhỉ ?
Có phải Thầy lại “mắng” cho là “ngu muội, ngu tối” (Mc 6,52 ; 7,18) không ?
Có phải biết mình đầu óc bã đậu ruột đặc như bí mà đâm ra sợ không ?
Có phải cái “nội lực” trong Thầy mạnh quá làm thành khoảng cách nên sợ không ?
Có phải sợ Thầy không cho ngồi trên ghế cao bên tả bên hữu để cai trị trong “vương quốc” của Thầy không ?
Có phải sợ bị Thầy đuổi về không cho đi tu ý quên không cho đi theo Thầy nữa không ?
Tin Mừng ông Mác-cô cứ thẳng thừng như thế đấy. Đã không hiểu lại còn cộng sợ nữa thì thành ra “cần lù” (cù lần).
Thế mà thực tế Thầy lại dùng đến những kẻ “cù lần” nhỉ ?
“Tình yêu không biết đến sợ hãi ; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4,18)
“Ai tiếp đón một em nhỏ”
người ta hay nghĩ đến em nhỏ với dáng vẻ bên ngoài như đẹp đẽ dễ thương, hồn nhiên đơn sơ thật thà, dễ bảo dễ dạy, biết vâng lời cha mẹ, chưa biết phạm tội, luôn luôn kính trọng người trên…
Nếu Tin Mừng cũng chỉ dạy bảo người ta giống trẻ nhỏ như thế thì có gì là độc đáo đâu, mà có tập sống trở lại cái thuở trẻ thơ thì cũng chỉ là ngây thơ… cụ, ngô ngố cả đám đấy thôi.
Nhưng là tiếp đón một người đói không có gì ăn, tiếp đón một người nghèo không có nhà cửa ẩn mình, không có quần áo che thân bị rét mướt…
những con người bị lệ thuộc như một đứa trẻ phải nương tựa vào cha mẹ vì nó không có khả năng đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của bản thân nó.
“Vì danh Thầy”.
Nhiều người hiểu lầm vì danh Thầy nên vẫn cứ tuyên bố rằng tôi tha thứ cho nó là vì Chúa, nếu không vì Chúa thì tao đập vỡ sọ. Nói chung là tôi làm công làm phúc cho người ta vì Chúa…
Ôh ! một thứ “lạc đạo” buồn cười thật !
Người được tha thứ hay cho ăn cho mặc cũng chẳng vui vẻ gì vì họ lấy danh Chúa ra mà lập công cho mình thôi. Họ tha thứ như một kẻ cả, đứng ở trên để ban phát xuống.
Có khi nào yêu như Chúa yêu không ?
Có khi nào có tình yêu nhưng-không (vô điều kiện) không ?
Có khi nào có tình yêu dâng hiến chính bản thân mình không ?
Có khi nào cho đi mà không tính toán hay vụ lợi không ?
Vì danh Thầy là trả lời những câu hỏi này đấy. Có vì danh Thầy như thế thì khi tiếp đón “người nhỏ” mới là tiếp đón chính Thầy và tiếp đón Thầy là tiếp đón chính Cha của Thầy.
“Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
Qua cuộc tử nạn của Đức Giêsu thì Ngài đã cho các ông thấy :
phục vụ là dâng hiến chính bản thân mình và Ngài đến trần gian giống như một trẻnhỏ, lệ thuộc vào gia đình khi còn nhỏ…
ba năm đi rao giảng thì lệ thuộc vào người ta, họ có vui vẻ đó nhận hay từ chối… và kết thúc cuộc đời là hoàn toàn phó nộp trong tay người đời.
Một bản án bất công như chiên con bị đem đi xén lông, làm thịt…không rên la trách cứ.
Tóm lại : Tất cả mọi chuyện kể trên chỉ được giải đáp khi diễn tiến Thầy Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị đội mạo gai, bị vác thập giá… bị treo trên cây thập tự chết tất tưởi “và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”.
Người đã tỏ mình ra cho các ông nhiều nơi nhiều cách nhiều lần khác nhau và từ đó… các ông mới À ra ! tức là đến lúc các ông thôi “không hiểu” nữa vì nay lòng dạ tâm trí đã bừng mở ra rồi.
Và cũng từ đây các ông đã trở nên những chứng nhân hùng hồn sốngđộng và sẵn sàng hiến dâng chính mạng sống mình, bước theo con đường Thầy Giêsu đã đi.
Chẳng sợ “con ma” nào cả !
“Hỡi những kẻ ngoại tình, các người không biết rằng : yêu thế gian là ghét Thiên Chúa sao ?
Vậy ai muốn là bạn của thế gian thì tự coi mình là thù địch của Thiên Chúa”.
Người đứng đầu nhà nước, ông Trần Đại Quang vừa mất vào sáng ngày 21.09, kết thúc chuỗi bi cực vào cuối đời.
Ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang (Chủ tịch nước) mất, khi cuộc chiến đốt lò nhằm vào đơn vị cũ của ông vẫn đang diễn ra,… Và nhiều người tin rằng, sự ra đi lần này sẽ khiến cho nhiều kẻ vui mừng, bao gồm cả những nhóm lợi ích đang tồn tại.
Người từng một thời hét ra lửa ở cương vị Bộ trưởng Bộ Công an, oai phong lẫm liệt ở lễ Tuyên thệ Chủ tịch nước,… đã sớm xuống dốc về mặt thần thái và sức khỏe, và chưa hết nửa nhiệm kỳ, người dân chỉ thấy một Chủ tịch nước héo khô về mọi mặt.
Suy cho cùng, ai cũng sẽ chết, nhưng tựu trung có cái chết vang danh, cảo thơm và có cái chết để làm nhiều tai tiếng và khinh bỉ của người đời. Có lẽ, hơn ai hết, vào những ngày cuối đời, ông Chủ tịch nước đã phải lắng nghe được lương tri và cái bi thảm nhất của con người quan chức XHCN, giờ khắc mà mạng sống như những ngọn nến thắp lên trong đêm bão.
Là một người đứng đầu nhà nước, nhưng cái quyền được chăm sóc sức khỏe bản thân cũng không có. Đó phải là một quan điểm mang tính bịa đặt, xuyên tạc không? Không, vì tính trong nửa tháng trở lại đây, một người hom hem tiều tụy, gầy sọp, viền môi đã đổi sắc, khẩu hình có hiện tượng co dúm lại nhưng phải buộc phải gồng mình để làm ‘nhiệm vụ chính trị’, nói đúng hơn vào những ngày cuối đời, ông Chủ tịch nước buộc trở thành một xác chết biết đi.
‘Tao khỏe, có chi mô’, câu nói đầy bi đát của ông Nguyễn Bá Thanh ngày nào giờ vận đúng ông Trần Đại Quang. Nhưng so với ông Thanh, thì ông Quang còn bi đát hơn nhiều.
Ngày 18.09, ông Chủ tịch nước còn cùng với Bộ Chính trị họp cho ý kiến về các đề án chuẩn bị trình Hội nghị TW 8.
Ngày 19.09, ông Chủ tịch nước hom hem trong bộ comple rộng thùng thình tiếp Chánh án TAND tối cao Trung Quốc.
Ngày 20.09, một lá Thư chúc Tết Trung thu được ký bởi ông Chủ tịch nước.
Nghĩa là trước khi mất 3 ngày, ông Chủ tịch nước buộc phải dùng chút hơi tàn, lực kiệt để đảm nhiệm vai trò ‘Chủ tịch nước’.
Có điều nào phi nhân bản hơn đến thế?
Vấn đề, nếu ông Chủ tịch nước xin nghỉ thì ai sẽ chấp nhận, hoặc bản thân ông có chấp nhận không khi những di sản ông tạo ra trước đó đang bị ‘đốt’, có vẻ ông gắng gượng sống để chống đỡ? Đặc biệt là sự vụ liên quan đến Vũ ‘nhôm’ và những sai phạm bị phanh phui trong nội bộ Bộ Công an?. Hay đây chỉ là cách ‘hành hạ nhau’ bằng việc vắt kiệt sức hơi tàn của ‘địch thủ’ trong những ngày cuối đời? Hay đơn thuần, ông Chủ tịch nước muốn chứng minh bản thân mình là một đảng viên mẫu mực, người sẽ cống hiến đến hơi thở cuối cùng?
Có vô vàn lý do đặt ra, nhưng suy cho cùng, ông Chủ tịch nước phải trả một cái giá rất đắt trên thành cao quyền lực.
Tiếp theo là, ai sẽ thay thế ông Chủ tịch nước? Người đó sẽ như thế nào, có phải là một Bí thư thành ủy phía Nam để làm hài lòng về tính trung lập trong Bộ Chính trị? Hay là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hiện thời, người với những câu nói vô thưởng, vô phạt? Hay là Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư, người có sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề áp dụng đặc khu ở Việt Nam? Có lẽ với nhiều người, trong hệ thể chế XHCN, thì bất kỳ ai lên thay, cũng sớm trở thành ‘cột mục ruỗng’. Do đó mà ngay cả chuyện tang lễ là chuyện buồn, Quốc tang là chuyện trọng đại, nhưng sự mất mát của người đứng đầu Nhà nước trong bối cảnh BOT vẫn còn nhiều, biệt phủ vẫn còn tồn tại, và thuế xăng dầu vừa mới tăng,… thì buồn nào đáng hơn?
Nỗi buồn và nghi vấn
Dân buồn về xã hội trì trệ, thuế phí tăng cao hơn việc một ông Chủ tịch nước không có quá nhiều thành tích nổi bật cho xã hội qua đời, nhưng cũng với sự ra đi lần này, hẳn để lại nỗi buồn rất lớn đối với những người nằm trong phe phái của ông, những người đang đối diện với cuộc chiến đốt lò. Bởi từ nay, lá chắn Chủ tịch nước đã không còn tồn tại, và câu chuyện dọn dẹp sạch sẽ củi lò trong Bộ Công an và những vụ việc có liên quan đến Bộ này trong thời gian tới sẽ được tăng tốc hơn.
Và điều bi đát đọng lại là, ngay cả khi mất đi, cái năm sinh trên bia mộ của ông Chủ tịch nước cũng không được trở về chính xác, gian dối ám vận vào cả khi nằm xuống. Cuộc đời của ông Trần Đại Quang, xét cho cùng, ‘Ham hố tiền bạc (trọng ngân) nhưng không chịu tu nhân tích đức, khiến cho phúc mỏng (bạc phúc) thì của nả, tài sản cũng mất hết. [một câu nói vô danh]’.