Chính trị mà tốt đẹp thì phục vụ hòa bình

ĐTC PHANXICÔ – SỨ ĐIỆP HÒA BÌNH 2019

Ngày Hòa Bình Thế Giới Lần Thứ 52

Chính trị mà tốt đẹp thì phục vụ hòa bình

“Chính trị mà tốt đẹp thì phục vụ hòa bình.

Nó tôn trọng và cổ võ các quyền lợi căn bản của con người,

các thứ quyền lợi đồng thời bao gồm cả các thứ trách nhiệm hỗ tương,

giúp tạo nên một mối liên hệ về lòng tin tưởng và lòng biết ơn giữa thế hệ hiện tai và tương lai”. 

“Hòa bình là ở chỗ tôn trọng từng người, cho dù họ là ai,

tôn trọng luật pháp và công ích,

tôn trọng môi sinh được ký thác cho chúng ta chăm sóc cũng như

tôn trọng sự phong phú của truyền thống luân lý được thừa hưởng từ các thế hệ trước”.

 1- “Bình an cho nhà này”!

Khi sai các môn đệ của mình đi truyền giáo, Chúa Giêsu đã nói với các vị rằng: “Các con vào bất cứ nhà nào thì trước tiên hãy nói ‘Bình an cho nhà này!’ Và nếu nhà đó có con cái của sự bình an thì bình an của các con sẽ ở với họ, bằng không, nó sẽ trở về với các con” (Luca 10:5-6).

Việc mang lại bình an là tâm điểm nơi sứ vụ của các môn đệ Chúa Kitô. Bình an ấy được cống hiến cho  tất cả mọi con người nam nữ đang mong đợi hòa bình, giữa những thảm họa và bạo lực hằn dấu lịch sử của con người (Cf. Lk 2:14). “Ngôi nhà” được Chúa Giêsu nói tới đây là hết mọi gia đình, cộng đồng, xứ sở và lục địa, nơi tất cả mọi tính chất đa dạng và lịch sử của nó. Trước hết và trên hết nó là chính mỗi một cá nhân con người, không phân biệt hay kỳ thị. Thế nhưng nó đồng thời cũng là “ngôi nhà chung”, tức là thế giới, nơi Thiên Chúa đã đặt để chúng ta ở đó và là nơi chúng ta được kêu gọi để chăm sóc và vun trồng.

Bởi thế mà lời chào đầu năm mới của tôi đó là: “Bình an cho nhà này!”

2- Cái thách đố của thứ chính trị tốt đẹp

Hòa bình giống như niềm hy vọng được thi sĩ Charles Péguy tán tụng (Cf. Le Porche du mystère de la deuxième vertu, Paris, 1986). Nó giống như một bông hoa tinh tế đang cố gắng triển nở nơi mảnh đất sỏi đá của bạo lực. Chúng ta biết rằng nỗi khát vọng quyền lực với bất cứ giá nào là những gì gây ra lạm dụng và bất công. Chính trị là một phương tiện thiết yếu để xây dựng cộng đồng cùng các cơ cấu của nhân loại, thế nhưng khi đời sống chính trị không trở thành một hình thức để phục vụ toàn thể xã hội, nó có thể biến thành phương tiện đàn áp, loại trừ, thậm chí hủy diệt.

Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng “nếu ai muốn làm đầu thì họ cần phải trở nên người rốt bét trong mọi người và là đầy tớ của mọi người” (Marco 9:35). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: “việc đảm nhận một cách nghiêm cẩn chính trị ở các cấp độ khác nhau – địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế – đó là việc khẳng định nhiệm vụ của mỗi một cá nhân trong việc thừa nhận thực tại và giá trị của tự do được cống hiến cho họ để hoạt động cùng một lúc cho thiện ích của thành phố, quốc gia và toàn thể nhân loại” (Apostolic Letter Octogesima Adveniens [14 May 1971], 46).

Bởi thế, vai trò chính trị và trách vụ chính trị là những gì liên lỉ thách thức tất cả những ai được kêu gọi phục vụ xứ sở của họ trong việc hết sức cố gắng bảo vệ những ai sống ở đó và tạo nên những điều kiện cho một tương lai xứng đáng và công bằng. Nếu được thực thi bằng việc tôn trọng nền tảng đối với sự sống, tự do và phẩm giá của con người, thì đời sống chính trị mới có thể thực sự trở nên một hình thức bác ái trổi vượt.

3- Đức bác ái và các nhân đức nhân bản: căn bản của chính trị là để phục vụ nhân quyền và hòa bình

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã ghi nhận rằng “hết mọi Kitô hữu được kêu gọi để thực hiện đức bác ái một cách tương xứng với ơn gọi của mình và tùy theo mức độ ảnh hưởng mà họ có được nơi thành đô / pólis... Một khi được tác động bởi đức bác ái, việc dấn thân vì ích chung cho một giá trị cao cả hơn là một vị thế thuần trần tục và chính trị có được… Hoạt động trần thế của con người, khi được đức bác ái gợi hứng và nâng đỡ thì góp phần vào việc xây dựng cái thành đô hoàn vũ của Thiên Chúa, một thành đô là đích điểm của lịch sử gia đình loài người” (Encyclical Letter Caritas in Veritate [29 June 2009], 7). Đó là bản thảo chuơng mà tất cả mọi chính trị gia, bất kể văn hóa hay tôn giáo của mình, có thể đồng ý, nếu họ muốn cùng nhau hoạt động cho thiện ích của gia đình nhân loại, và thực thi những nhân đức nhân bản ấy, giúp duy trì tất cả mọi hoạt động chính trị lành mạnh: công bằng, bình đẳng, tương kính, thành thực, lương thiện, trung tín.

Về vấn đề này, thật là hữu ích khi nhắc lại “Các Phúc Đức của Chính Trị Gia”, được ĐHY Việt Nam Phanxicô Nguyễn Văn Thuận liệt kê, một chứng nhân trung thành với Phúc Âm qua đời năm 2002:

Phúc cho chính trị gia có một cảm quan cao quí và sâu xa ý thức được vai trò của mình.

Phúc cho chính trị gia tỏ ra cho thấy bản thân khả tín.

Phúc cho chính trị gia hoạt động cho công ích chứ không cho tư lợi của mình.

Phúc cho chính trị gia biết một mực nhất trí.

Phúc cho chính trị gia hoạt động cho mối hiệp nhất.

Phúc cho chính trị gia nỗ lực hoàn thành những gì cần phải sâu xa thay đổi.

Phúc cho chính trị gia biết lắng nghe.

Phúc cho chính trị gia không biết sợ hãi.

(Cf. Address at the “Civitas” Exhibition-Convention in Padua: “30 Giorni”, no. 5, 2002)

Hết mọi cuộc tuyển chọn hay tái tuyển chọn, cũng như hết mọi giai đoạn của đời sống chính trị, đều là một cơ hội để trở về với những cứ điểm chính yếu làm nên công lý và luật lệ. Một điều chắc chắn đó là chính trị mà tốt đẹp thì phục vụ hòa bình. Nó tôn trọng và cổ võ các quyền lợi căn bản của con người, các thứ quyền lợi đồng thời bao gồm cả các thứ trách nhiệm hỗ tương, giúp tạo nên một mối liên hệ về lòng tin tưởng và lòng biết ơn giữa thế hệ hiện tai và tương lai.

4- Các thói xấu chính trị

Đáng buồn thay, cùng với những nhân đức của mình, chính trị cũng có những thói xấu nữa, gây ra do bởi thiếu khả năng cá nhân, hay bởi những khiếm khuyết nơi hệ thống và các cơ cấu của nó. Hiển nhiên là các thứ thói xấu ấy nói chung làm cho uy tín chính trị bị tác hại, bao gồm cả những quyết định cùng hoạt động của những ai tham gia chính trị. Những thói xấu gặm nhắm lý tưởng của một nền dân chủ chân chính này khiến cho đời sống công chúng không được hài lòng và đe dọa mối hòa hợp xã hội. Chúng ta nghĩ đến tình trạng băng hoại ở các hình thức khác nhau của nó: nào là biển thủ các nguồn lợi chung, nào là khai thác các cá nhân con người ta, nào là chối bỏ các quyền lợi, nào là coi thường các qui tắc cộng đồng, nào là chiếm thủ bất chính, nào là chứng tỏ quyền lực bằng võ lực hay độc đoán vị quốc, nào là chối từ việc từ bỏ quyền lực. Chúng ta còn có thể thêm vào đó nào là bài ngoại, nào là chủng tộc chủ nghĩa, nào là chẳng quan tâm gì đến môi trường thiên nhiên, nào là tước đoạt các nguồn nhiên liệu vì lợi ích mau chóng, nào là coi thường những con người buộc phải sống lưu vong.

5- Chính trị mà tốt đẹp thì cổ võ việc tham phần của giới trẻ và tin tưởng vào người khác.

Khi mà việc thực thi quyền lực chính trị chỉ nhắm đến chỗ bảo vệ lợi lộc của một số nhỏ cá nhân đặc biệt nào đó thì tương lai bị tổn thương và giới trẻ có thể đi đến chỗ mất lòng tin tưởng, vì chúng bị đẩy ra ngoài lề xã hội không còn cơ hội để giúp vào việc xây dựng tương lai. Thế nhưng thứ chính trị cụ thể nuôi dưỡng tài năng của giới trẻ và các khát vọng của chúng, thì bình an nẩy nở nơi ánh mắt của chúng và trên khuôn mặt của chúng. Nó trở thành như một thứ bảo đảm đầy tin tưởng mà rằng “tôi tin tưởng vào quí vị và cùng với quí vị tôi tin tưởng” rằng tất cả chúng ta có thể cùng nhau hoạt động cho công ích. Chính trị mà tốt đẹp thì phục vụ hòa bình nếu nó thể hiện nơi việc nhận biết được các tặng ân và các khả năng của từng cá nhân. “Còn gì đẹp hơn là một bàn tay giơ ra chứ? Tức là Thiên Chúa muốn bàn tay cống hiến và nhận lãnh. Thiên Chúa không muốn bàn tay sát hại (cf. Gen 4:1ff), hay bàn tay giáng họa, mà là chăm sóc và giúp đáp cho đời. Cùng với tấm lòng của chúng ta và trí thông minh của mình, cả đôi tay của chúng ta cũng có thể trở thành phương tiện đối thoại” (BENEDICT XVI, Address to the Authorities of Benin, Cotonou, 19 November 2011).

Hết mọi người có thể đóng góp viên đá của mình vào việc xây dựng ngôi nhà chung này. Đời sống chính trị đích thực, được đặt nền tảng nơi luật lệ cũng như nơi các mối liên hệ thẳng thắn và công bằng giữa các cá nhân, thì cảm nghiệm thấy đổi mới bất cứ khi nào chúng ta xác tín rằng hết mọi con người nam nữ và thế hệ biết ôm ấp những gì là hứa hẹn của những năng lực mới về liên hệ, tri thức, văn hóa và tinh thần. Thứ tin tưởng ấy chẳng bao giờ lại là chuyện dễ dàng đạt được, vì các mối liên hệ của con người thì phức tạp, nhất là trong thời đại của chúng ta đây, đang hằn lên một thứ khí hậu bất tin tưởng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi kẻ khác hay những kẻ xa lạ, hoặc từ mối lo âu về mối an toàn bản thân. Thảm thay, nó cũng xẩy ra ở lãnh vực chính trị nữa, nơi những thái độ loại trừ, hay những hình thức chủ nghĩa dân tộc đặt lại vấn đề tình huynh đệ là những gì rất cần đối với thế giới toàn cầu hóa của chúng ta đây. Ngày nay, hơn bao giờ hết, xã hội của chúng ta cần “các nhà tiểu công nghệ hòa bình”, thành phần có thể trở thành những sứ giả và chứng nhân đích thực của Thiên Chúa Cha, Đấng muốn thấy gia đình nhân loại được thiện ích và hạnh phúc.

6- Chối bỏ chiến tranh và chiến thuật sợ hãi

Một trăm năm sau Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt, lúc chúng ta nhớ lại giới trẻ bị chết trong các trận chiến ấy và cảnh thường dân trở nên tan hoang, chúng ta ý thức hơn bao giờ hết về bài học kinh hoàng được cống hiến bởi các cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn: hòa bình không bao giờ chỉ có thể là mức quân bằng giữa quyền lực và sợ hãi. Việc đe dọa người khác là hạ thấp họ xuống thân phận của các sự vật và chối bỏ phẩm giá của họ. Đó là lý do tại sao chúng ta muốn lập lại rằng việc leo thang dọa nạt và việc phát triển bất khả kiểm soát các thứ vũ khí, là những gì phản luân lý và việc tìm kiếm hòa bình đích thực. Nỗi kinh hoàng xâm chiếm những ai mềm yếu nhất là những gì góp phần vào tình trạng lưu vong của cả khối dân chúng muốn tìm kiếm một nơi bình an nào đó. Các bài diễn từ chính trị có khuynh hướng đổ lỗi cho hết mọi sự dữ nơi thành phần di dân và lấy đi niềm hy vọng của người nghèo là những gì bất khả chấp. Trái lại, cần phải tái khẳng định rằng hòa bình là ở chỗ tôn trọng từng người, cho dù họ là ai, tôn trọng luật pháp và công ích, tôn trọng môi sinh được ký thác cho chúng ta chăm sóc cũng như tôn trọng sự phong phú của truyền thống luân lý được thừa hưởng từ các thế hệ trước.

Chúng ta đặc biệt nghĩ đến tất cả những trẻ em hiện đang sống ở những vùng xung đột, và tất cả những ai đang hoạt động để bảo vệ đời sống của mình cũng như để bênh vực các quyền lợi của mình. Cứ 1 trong 6 trẻ em trong thế giới chúng ta bị ảnh hưởng bởi bạo lực chiến tranh, hay bởi các tác dụng của chiến tranh, ngay cả khi các em không ghi danh đầu quân làm thứ lính con nít, hoặc bị giữ làm con tin bởi các nhóm vũ trang. Chứng từ của những ai hoạt động để bênh vực các em cũng như phẩm vị của các em là những gì quí báu nhất cho tương lai của nhân loại.

7- Một dự án cao cả của hòa bình

Vào những ngày này, chúng ta đang mừng kỷ niệm 70 năm Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân Quyền, được thừa nhận sau Thế Chiến Thứ Hai. Theo chiều hướng này, chúng ta cũng nên nhớ lại nhận định của Đức Giáo Hoàng Gioan XXXIII: “Việc con người nhận thức về các quyền lợi của mình dẫn họ tới chỗ bất khả tránh là nhìn nhận cả các nhiệm vụ của họ nữa. Việc sở hữu các quyền lợi này bao gồm cả nhiệm vụ áp dụng các quyền lợi ấy, vì các quyền lợi này là những gì thể hiện một thứ phẩm giá bản vị của con người. Và việc sở hữu các quyền lợi này cũng bao gồm cả việc họ nhìn nhận và tôn trọng các quyền lợi người khác” (Encyclical Letter Pacem in Terris [11 April 1963], ed. Carlen, 24).

Hòa bình thực sự là hoa trái của một dự án cao cả về chính trị, được đặt nền tảng trên mối tương trách và liên thuộc giữa con người. Thế nhưng nó cũng là một thách đố đòi phải được tiếp tục một cách mới mẻ hơn. Nó cần có một tấm lòng và một tâm hồn hoán cải; nó bao gồm cả nội tâm và cộng đồng; nó có 3 chiều kích bất khả phân ly:

– hòa bình với bản thân, bằng cách loại trừ những gì là bất khả uyển chuyển, giận dữ và bất nhẫn; như lời của Thánh Phanxicô Salêsiô nói là hãy tỏ ra “một chút dịu dàng với mình” để cống hiến “một chút ngọt ngào cho người khác”;

– hòa bình với người khác: đó là các phần tử trong gia đình, bạn hữu, kẻ xa lạ, người nghèo và người khổ đau, bằng cách không sợ gặp gỡ họ và lắng nghe những gì họ cần nói;

– hòa bình với tất cả mọi tạo vật, bằng cách tái nhận thức được tính chất cao cả của tặng ân Chúa ban, cùng với trách nhiệm chung riêng của chúng ta, như thành phần cư ngụ trên thế giới này, thành phần công dân và là kiến tạo viên tương lai.

Nền chính trị hòa bình, bằng ý thức và sâu xa quan tâm đến hết mọi trường hợp khiến con người bị tổn thương, bao giờ cũng có thể xuất hứng từ Ca Vịnh Ngợi Khen, thánh vịnh của Đức Maria, Mẹ của Chúa Kitô Cứu Thế và là Nữ Vương Hòa Bình, đã hát lên nhân danh toàn thể nhân loại: “Ngài đoái thương đến những ai kính sợ Ngài qua mọi thế hệ. Ngài đã vung cánh tay ra oai quyền lực; Ngài đã đánh tan người kiêu ngạo với những ý nghĩ kiêu căng của họ. Ngài đã hạ người quyền hành xuống khỏi tòa cao, và đã nâng người hèn mọn lên;… vì Ngài đã nhớ lại lới hứa hẹn thương xót của Ngài, lời hứa hẹn Ngài đã thực hiện với cha ông chúng ta và con cái của các vị cho đến muôn đời” (Luca 1:50-55).

Tại Vatican ngày 8/12/2018

Phanxicô

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/messages/peace/documents/papa-francesco_20181208_messaggio-52giornatamondiale-pace2019.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu   

Khu đất ‘vàng’ Lê Duẫn: Thanh tra CP đòi thu hồi, Bộ Công an ngăn cản

Để xem thằng nào thắng khi cùng tranh chấp khu đất vàng!!!

********

Khu đất ‘vàng’ Lê Duẫn: Thanh tra CP đòi thu hồi, Bộ Công an ngăn cản

Bộ Công an đề nghị TP HCM hủy quyết định thu hồi khu đất vàng 5.000 m2 số 8-12 đường Lê Duẫn.

Vào ngày 10 Tháng Mười Hai vừa qua, theo yêu cầu của Thanh tra chính phủ, TP HCM ra quyết định thu hồi khu đất này, vốn do cựu Phó chủ tịch Thường trực Nguyễn Thành Tài ký quyết định cho thuê sai quy định không qua đấu thầu.

Tuy nhiên, Bộ Công an hôm 18 Tháng Mười Hai cho rằng vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” liên quan đến ông Nguyễn Thành Tài và đồng phạm đang được điều tra, khu đất là vật chứng. Theo quy định, phải đến lúc có phán quyết của toà bằng bản án có hiệu lực mới xử lý được khu đất.

Những sai phạm được nêu ra là những nguyên lãnh đạo nhiệm kỳ trên đã quyết định cho thuê đất không qua đấu thầu, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng.

Những nguyên lãnh đạo này có thể kể ngay là cựu Phó Chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thành Tài, ông Nguyễn Hoài Nam, Bí thư quận 2, ông Đào Anh Kiệt, nguyên giám đốc Sở tài nguyên môi trường, ông Trương Văn Út, nguyên Phó trưởng phòng quản lý đất, Sở tài nguyên và môi trường, tất cả đã bị Bộ Công an VN khởi tố bắt giam ngày 8 tháng Mười Hai vừa qua.

Khu đất ‘vàng’ Lê Duẫn do Cty cổ phần đầu tư Lavenue được thuê và giao đất theo quyết định số 2186 ngày 5/5/2016 của UBND TPHCM. Kết luận của Thanh tra Chính phủ cho biết khu đất này được UBND TP.HCM xác lập quyền sở hữu nhà nước từ tháng 3 năm 1994 nên việc bán, chuyển nhượng quyền sử dụng phải thông qua hình thức bán đấu giá.

Nhưng vào năm 2011, quan chức TP.HCM lúc ấy đã ký quyết định cho công ty Lavenue (có vốn là 2,100 tỷ đồng) thuê khu đất để đầu tư khách sạn, thương mại, dịch vụ với thời hạn 50 năm. Công ty Lavenue được nói đã nộp tiền thuê đất hơn 700 tỷ đồng.

Năm 2018, Thanh tra Chính phủ nhảy vào cuộc điều tra và cho biết thực tế khu đất này trên đường Lê Duẩn có giá trên 400 triệu đồng/m2 vì có tới 3 mặt tiền. Như vậy, số tiền UBND đã cho công ty Lavenue thuê là ít hơn so với số tiền có thể thu được thực tế.
Hiện tại, khu đất này vẫn chưa được chủ đầu tư là công ty Lavenue thi công và chỉ tận dụng làm bãi xe ô tô vì liên quan đến việc thanh tra

Tại sao người CSVN cấp cao không thấy họ lố lăng?

Tại sao người CSVN cấp cao không thấy họ lố lăng?

Nguyễn Ngọc Già
2018-12-18

Hình minh họa. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (giữa hàng trên) phát biểu tại lễ bế mạc Đại hội đảng 12 ở Hà Nội hôm 28/1/2016

Hình minh họa. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (giữa hàng trên) phát biểu tại lễ bế mạc Đại hội đảng 12 ở Hà Nội hôm 28/1/2016

 AFP

Những hình ảnh lố lăng của người CSVN cấp cao trong nhiều sự kiện quốc tế và quốc nội đầy dẫy khắp MXH, nhưng … nó vẫn tiếp diễn và không có dấu hiệu cho thấy họ ngừng lại để suy ngẫm.

Tại sao đến nông nỗi đó?

Có lẽ, quý độc giả biết nhiều về truyện cổ tích Andersen, trong đó có câu chuyện “Bộ quần áo mới của Hoàng Đế” – truyện cổ tích này, chế giễu vị vua vốn luôn thích những lời nịnh bợ.

Ông vua này dường như không thể nào sống nổi, nếu một ngày không được nghe những lời “mật ngọt” êm ả rót vào tai. Cả cuộc đời ông vua, luôn được những lời ton hót, tâng bốc vây quanh và bịt kín như cánh rừng già âm u mà “ánh sáng sự thật” không tài nào rọi tới nổi !

Câu chuyện thú vị vô cùng, bởi tác giả không để độc giả dừng lại ở sự kệch cỡm, thói rởm đời, chất khoe mẽ và tính hãnh hão về trí tuệ uyên bác, cũng như sự thông thái luôn ngập tràn trong tâm trí của tầng lớp cận thần, vương giả vây quanh “đức vua” mà Andersen đã làm cho những thói hư tật xấu đó lan ra khắp muôn nẻo trong chúng dân!

Tác giả H.C Andersen đã “khuếch tán” thói đạo đức giả như “hạt mầm man trá” được ấp ủ dẫn đến sinh sôi rồi lan rộng và thấm sâu vào ngay cả tầng lớp bình dân nhất trong xã hội.

Thói đạo đức giả đi cùng việc chối bỏ sự thật nhằm để tồn tại, để an toàn, để mưu cầu lợi danh và để… mỗi người buộc phải “giống như tất cả” nếu không muốn trở thành một kẻ bị xã hội bỏ rơi và đào thải.

Người dân xứ ấy bằng lòng, hài lòng và thỏa lòng với lối sống như vậy!

Người đi qua tượng Hans Christian Andersen ở trung tâm Copenhagen, Đan Mạch hôm 22/3/2005
Người đi qua tượng Hans Christian Andersen ở trung tâm Copenhagen, Đan Mạch hôm 22/3/2005 AFP

Cho đến một ngày, điều đó dẫn đến tai họa thảm khốc cho “vì vua anh minh” nọ – Ông vua ở truồng trước muôn người mà không hề hay biết! Ngay cả chúng dân cũng ngỡ mình thông thái – tựa như những thức giả uyên bác mới đủ trình độ để nhìn thấy bộ đồ “có một không hai” trên cõi đời! Ngoại trừ một câu bé chỉ thẳng sự thật rằng:

– “Nhìn kìa, đức vua trần truồng!”

Mãi cho đến lúc đó – không vội hơn, không muộn hơn – toàn bộ thần dân xứ đó như sực tỉnh khỏi ‘cơn mê giả dối” mà họ vốn “ngủ vùi” trong nhiều năm.

Andersen viết tiếp:

“Đám đông im bặt. Sau đó, bắt đầu có những tiếng xầm xì nhỏ to:

– Hoàng thượng không mặc gì hết! Có một thằng bé nói như vậy!

“Hoàng thượng không mặc gì hết! Hoàng thượng không mặc gì hết!…”, lời bàn tán mỗi lúc một lớn.

Hoàng đế chợt rùng mình, choáng váng vì ngài thấy hình như họ nói đúng. Nhưng ngài nghĩ: “Ta phải tiến hành cho xong nghi thức của buổi lễ đã”. Vì vậy, nhà vua tiếp tục rảo bước, khuôn mặt thậm chí càng cố lộ vẻ tự hào. Đám tùy tùng theo sau không biểu lộ một chút cảm xúc, tay vẫn nâng đuôi chiếc áo choàng tưởng tượng”. (Hết truyện).

Sự thật không còn chỗ để tồn tại dù là một khoảng không gian nhỏ hẹp nhất trong xã hội dẫy đầy sự man trá, độc ác và bạo ngược.

Ngẫm từ câu chuyện trên, quý độc giả sẽ thấy người CSVN không khác với “vị vua ở truồng”, bởi :

– Sự thật không còn chỗ để tồn tại dù là một khoảng không gian nhỏ hẹp nhất trong xã hội dẫy đầy sự man trá, độc ác và bạo ngược.

– Xã hội đã biến thành một đám đông hỗn độn về tri thức & bát nháo về nhân cách – Sự khốn cùng đó gây ra bởi… nỗi “hân hoan khôn tả” được coi là “tự hào dân tộc” (!)

Vâng! Từ già đến trẻ; từ nam đến nữ; từ bậc “trí giả” cho đến người bình dân v.v… Ngập tràn!

Dường như “đám đông đủ mọi thể loại” đó, không còn biết gì khác ngoài “hương vị ngất ngây” của “men say chiến thắng” lên đến tột đỉnh của… vinh quang – Một loại “vinh quang” chỉ tồn tại trong chốc lát rồi… vội vã tan biến như bọt xà phòng trương phình! Chỉ vậy thôi!

Suy tận cùng, xã hội rữa nát về nhân cách và tan hoang về vật chất như hiện nay cũng do “Sự Thật Đã Rời Bỏ Người Việt Nam”!

Nếu như vị vua trong truyện cổ Andersen không thích nịnh bợ? Mọi người dân xứ đó, có ham hố trở thành “nịnh thần-dân”? Nếu như người CSVN cấp cao không thích tâng bốc?…

…Biết đâu Việt Nam – quê mình – đã… “không khó đỡ” như bây giờ…

Biết tha thứ

Biết tha thứ

(Hình minh họa: Getty Images)

LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com.

Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh

Tha thứ cũng không có nghĩa là quên đi. Và, cũng không phải là chấp nhận, biện hộ, hay vô cảm với lỗi lầm đã xảy ra. Tha thứ ở đây là bỏ đi những thù hận hoặc những tính toán chuyện báo thù: loại bỏ những chịu đựng thương tổn nhưng không bỏ qua lỗi lầm. Người có lỗi có thể không được xóa đi tội lỗi, nhưng chính mình phải được bình an. Khi biết tha thứ là ta biết tự giải thoát cho chính mình.

Tha thứ không thể thay đổi quá khứ nhưng lại mở rộng con đường cho tương lai. Một khi lỗi lầm đã xảy ra thì không thể làm gì để thay đổi nó. Một tách nước đã rơi xuống sàn nhà, vỡ toang thì không thể hốt lại và hàn gắn, nhưng không biết tha thứ thì những đổ vỡ đó sẽ là những rạn nứt từ nhỏ thành lớn trong tâm hồn, mà qua những khe hở đó, ta nhìn đời bằng lăng kính thù hận, giận dữ, hay buồn thảm.

Khoa học chứng ninh rằng tha thứ là điều tốt cho sức khoẻ. Tha thứ rất là khó nhưng là điều lành mạnh, nên làm. Khi ta không biết tha thứ, cơ thể sẽ tiết ra thêm nhưng hormone gây ra stress. Ghim sâu thù hận vào tâm hồn sẽ làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ bị đột quỵ tim. Không biết tha thứ sẽ dễ gây ra bệnh tâm thần như trầm cảm, sợ hãi.

Một nghiên cứu của bác sĩ người Ý, Dr. Pietro Pietrini, cho thấy giận dữ và báo thù chỉ làm cho lý trí bị hạn hẹp, thiếu khả năng nhìn xa trông rộng. Ngược lại khi tha thứ, những trung tâm của não bộ nghiên về sự phán đoán, giải quyết vấn đề khó khăn, khả năng cảm nhận, và tình cảm vị tha sẽ phát triển hơn.

Biết tha thứ là chuyện nói thì dễ mà thực hiện cho được không phải là dễ. Bản năng thù hận và ý chí phục thù đã được “thiết kế” trong cơ thể, não bộ con người. Thật ra, chính nhờ bản năng biết thù hận và biết trả thù đã giúp loài người sống còn, hiện hữu. Ý chí trả thù sẽ làm cho những trung tâm khoái cảm của não bộ được thỏa mãn, như thèm ăn ngọt, ghiền thuốc phiện hay khoái lạc về tình dục chẳng hạn.

Tuy nhiên tương tự như thiện và ác, sự tha thứ cũng là bản tính bẩm sinh của con người. Nhân chi sơ, tính bổn thiện là vậy. Không riêng gì loài người, hầu hết các loài động vật đều biết làm hoà sau khi vật lộn, cấu xé nhau. Sự giải hòa có những lợi ích ví dụ như  làm cho tâm hồn được bình thản và lạc quan hơn.

Biết tha thứ là tự giải thoát, cứu rỗi lấy mình. Theo Louis B. Smedes, “tha thứ là giải thoát một người tù, để khám phá ra rằng, người tù ấy chính là mình”. Chúng ta không những là người tù tự giam lấy mình mà còn nằm trong ngục tù do người khác xây dựng ra từ những lỗi lầm của họ.

Không biết tha thứ, gặm nhấm vào thù hận, ta chỉ để quá khứ đóng khung hiện tại và tương lai. Đổ thừa đổ lỗi, là chạy trốn sự thật. Khi không biết tha thứ ta chỉ nhìn thấy người gây ra tội nhưng không thấy rõ toàn cảnh của vấn đề và sự kiện. Từ đó ta chỉ thấy ta là nạn nhân hơn là ghi nhận sự kiện và tiếp tục con đường trước mặt.

Thế thì, làm thế nào để biết tha thứ?

Tha thứ cần đến một quyết tâm và cả những phương thức để vượt qua những thù hằn, chìm sâu vào quá khứ.

Bước đầu tiên là phải phân tách “câu chuyện thương tâm” đã xảy ra đến với mình như là một người ngoại cuộc nhìn vào. Nhưng, không vội đổ tội cho kẻ khác, làm như thế ta lại tự đặt mình vào vị trí một nạn nhân. Có nghĩa là, vô tư, khách quan với niềm đau, không nên gắn liền với nó, và nghĩ rằng có nhiều người khác đã từng trải qua tương tự như mình.

Kế đến:

1.Tháo gỡ sự giận dữ: Qua những nhận thức và hiểu biết trực quan, ta tự tìm hiểu xem những lỗi lầm đã xảy ra ảnh hưởng thế nào đến chính ta, đến cuộc sống của mình. Đại loại như khi bị đụng xe, nên nhìn kỹ xem xe bị hư như thế nào, nhưng không nên nóng giận với người tài xế bên kia.

2.Quyết định tha thứ: Không có nghĩa là vô cảm với sự kiện. Trở lại chuyện đụng xe, nếu tai hại không nhiều thì nên bỏ qua thôi.

3.Thực hiện sự tha thứ: Hãy chọn một góc độ khách quan để nhìn người gây ra lỗi lầm. Tìm hiểu nguyên nhân và động cơ đã khiến người đó hành động như vậy. Hiểu ở đây không có nghĩa là ta chấp nhận chuyện sai trái, biện hộ cho người ấy, mà hiểu tại sao người ta hành xử như vậy.

4.Tự giải  thoát: Cân nhắc giữa những chịu đựng và đau khổ nếu ta tiếp tục thù hận. Thử đặt mình vào tình huống của những người khác nếu họ phải trải qua giống như mình. Biến niềm đau thành những hành vi thăng hoa, có lợi hơn.

Quan trọng nhất là phải biết tha thứ cho chính bản thân mình, cho những lỗi lầm của chính mình, trước khi tha thứ cho kẻ khác. Đừng tự giam cầm lấy chính mình. Thời gian có thể hàn gắn nhiều đổ vỡ, lỗi lầm, nhưng biết tha thứ sẽ làm cho ta chóng trở lại sự bình an.

Tha thứ đòi hỏi sự hiểu biết chính mình và hiểu vị thế của người khác. Tha thứ đòi hỏi sự can đảm. Can đảm để thay đổi và vượt qua. Trên hết, tha thứ sẽ giải thoát tâm hồn của chúng ta, bỏ lại quá khứ để tiếp tục vào tương lai. (BS. Hồ Ngọc Minh)

Sự bình an của Chúa

Sự bình an của Chúa

 Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Bình an là gì?

Theo từ điển phổ thông

bình an, bình yên, không có chuyện gì

Từ điển trích dẫn

Không xảy ra hoạn nạn, không có gì nguy hiểm. Sầm Tham : “Mã thượng tương phùng vô chỉ bút, Bằng quân truyền ngữ báo bình an”  (Phùng nhập kinh sứ 使) Trên lưng ngựa gặp nhau không sẵn giấy bút, Nhờ anh chuyển lời báo tin được bình an vô sự.
2. Trong lòng bình tĩnh an định.
Lỗ Tấn : “Nhiên nhi ngã đích tâm ngận bình an: một hữu ái tăng, một hữu ai lạc, dã một hữu nhan sắc hòa thanh âm”  (Dã thảo , Hi vọng ) Nhưng mà trong lòng tôi rất bình tĩnh an định, chẳng có yêu ghét, chẳng có buồn vui, cũng chẳng có màu sắc và âm thanh gì cả.

  Bình an của Chúa

Cuối thánh lễ, cha chủ tế nói: Chúng ta chúc bình an cho nhau. Cho nên bình an của mỗi người vô cùng quan trọng. Tâm động, không bình an, lòng lo âu, xao xuyến, bực tức, thù ghét người khác, lòng sân hận, muốn trả thù… Tâm ta không bình an, làm cho ban đêm ta không ngủ được, dĩ nhiên sau một thời gian dài chừng vài tháng sẽ thấy hậu quả của thù ghét, bực tức, đau khổ ảnh hưởng đối với sức khỏe như thế nào?

Có câu chuyện kể như sau:

Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự bình an. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình.

Nhà vua ngắm tất cả bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức tranh vẽ hồ nước êm ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xoá. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ một khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của mình…Bình yên thật sự.

“Ta chấm bức tranh này! – Nhà vua công bố – Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình yên có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó chính là ý nghĩa thật sự của sự bình an. (Sưu tầm)

          Khi tôi đi đến nhà của anh N. khách hàng để bán bảo hiểm nhân thọ, trình bày chương trình để dành tiền cho con, cháu nếu chẳng may mình qua đời. Cha của anh N. từ bên kia đường đi thẳng vào nhà giận dữ, la hét: “Không mua bán cái gì hết, mày đến để gạt con tao hả, tao kêu cảnh sát bắt mày bây giờ”.

Tôi đến để bán bảo hiểm, đem đến cho gia đình anh N. một sự an tâm nếu có mất đi có tiền trả tiền nợ nhà, tiền cho con cái đi học v.v…Tự nhiên bị mắng chửi, bị la lối, hăm dọa kêu “cảnh sát bắt”. Ngay lúc đó tôi không có bình an. Tôi tức giận, tôi dự định gây gỗ lại, nhưng nén cơn giận, leo lên xe, cố gắng bình tĩnh, thở sâu, hít dài hơi và thở ra vài lần như vậy rồi từ từ lái xe đi.

Làm sao có bình an khi bị hăm dọa, chửi rủa vô lý? Khó lắm, phải tập dần dần. Và cần cầu nguyện với Thiên Chúa toàn năng  “xin Chúa giúp cho con được bình an vì chắc là có lý do nào đó nên người ta mới chửi rủa, cự nự, la hét, hăm dọa con như vậy”.

Trong gia đình gây gỗ, cãi vả nhau là sự thường. Nhưng tránh được cãi vả gây gỗ, nặng lời với nhau thì tốt hơn.

Lý do cãi vả, gây gỗ thường là cho rằng cái tôi là đúng là quan trọng còn bạn đời, người thân, người khác đều sai lầm hết.

Không khoan dung, tâm lý thù hận, muốn trả thù, thoả mãn ích kỹ cá nhân thường làm cho con người đó cô đơn, không có ai là bạn thân cả. Chúa nói: “Hãy Yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)”

Trước sự hăm dọa, chửi rủa của người khác nhất là sự chửi rủa, hăm dọa của người thân trong gia đình, của con cháu mới làm cho bậc cha mẹ khó quên.

Vậy làm sao quên, tha thứ để có bình an?

Chúng ta là môn đệ của Chúa, hãy học Chúa Giêsu “hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Vì Chúa chịu đóng đinh trên thập tự còn nói “hãy tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Thông thường, bản tính của loài người, chúng ta không tha thứ cho người khác được, nhưng nếu có ơn Chúa dần dần ta sẽ quên, tha thứ được.

Chẳng những quên, tha thứ mà còn cần yêu thương họ nữa vì chắc chắn trong đời sống tâm lý họ không bình thường cho nên họ mới có tâm lý trả thù “mày hại tao một, tao sẽ trả thù cho mầy đau khổ gấp trăm, gấp ngàn lần tao mới hả dạ”.

Chỉ có yêu thương mới thay đổi chính mình trước rồi mới thay đổi được người khác. Chỉ có yêu thương mới có bình an thực sự mà thôi vì “ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8)”

Phùng Văn Phụng

12/2018

Viện dưỡng lão là ngôi nhà cuối cùng.

Viện dưỡng lão là ngôi nhà cuối cùng.

Ngày mai, tôi phải đi viện dưỡng lão…

Không phải bất đắc dĩ, thì tôi cũng không muốn đi viện dưỡng lão đâu. Nhưng mà từ khi sinh hoạt hàng ngày không còn có thể tự xoay xở, mà con gái vừa làm việc bận rộn vừa phải chăm sóc các cháu, không rảnh để quan tâm đến mình, đây dường như là sự lựa chọn duy nhất đối với tôi.

Điều kiện sống ở viện dưỡng lão không tệ: Một mình một gian phòng sạch sẽ, được lắp các đồ điện đơn giản thực dụng, đầy đủ các loại phương tiện giải trí; đồ ăn cũng ngon miệng; phục vụ rất chu đáo, bày trí xung quanh cũng rất đẹp.

Tuy nhiên giá cả đắt đỏ, tiền hưu của tôi nhất định không đủ trả. Nhưng tôi còn có nhà riêng của mình, đem bán nó đi, tiền cũng không còn là vấn đề nữa. Nhưng tài sản còn lại, trong tương lai tôi muốn để dành cho con cái. Con cái lại rất hiểu chuyện, chúng nói: “Tài sản của mẹ thì mẹ tùy ý sử dụng, không cần lo cho bọn con”. Số tiền còn lại đúng là tôi muốn chuẩn bị để vào viện dưỡng lão.

Sống trong nhà, kim chỉ cái gì cũng không thiếu, rương hòm, ngăn tủ, ngăn kéo đều đầy ắp các loại đồ dùng. Quần áo bốn mùa, đồ dùng bốn mùa, chồng chất như núi; tôi thích sưu tầm, tem sưu tầm đã thành từng chồng lớn, ấm tử sa cũng đã hơn mười cái. Còn có rất nhiều vật linh tinh cất giấu, nào là ngọc bích, hạt óc chó, vật trang sức. Đặc biệt là sách, cả một mặt tường là giá sách, chật kín đầy ắp; rượu ngon thì Mao Đài, Ngũ Lương, rượu Tây cũng phải mấy bình.

Còn có nguyên bộ đồ điện gia dụng, dụng cụ nấu nướng, nồi niêu xoong chảo, củi gạo dầu muối, đủ loại đồ gia vị, nhét chật đầy phòng bếp; còn hơn chục cuốn album ảnh, nhìn một phòng tràn đầy đồ vật, tôi cũng thấy phát rầu!

Viện dưỡng lão chỉ có một gian phòng, một cái tủ, một cái bàn, một giường, một ghế sô pha, một tủ lạnh, một máy giặt, một TV, một bếp điện từ, một lò vi ba, căn bản không có chỗ để lưu giữ của cải mà mình tích lũy.

Trong chớp mắt, tôi đột nhiên cảm giác được, những của cải này đều là dư thừa, chúng cũng không thuộc về mình…

Tôi chẳng qua là nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát, chúng trên thực tế chỉ thuộc về thế giới này, những sinh mệnh lần lượt lướt qua ta, cũng chỉ là quần chúng.

Cố Cung là của ai, hoàng đế cho rằng là của trẫm đấy, nhưng bây giờ nó là của nhân dân, của xã hội, chỉ có thể trở thành lịch sử.

Tôi bỗng nhiên hiểu ra: Tại sao Bill Gates muốn đem cho toàn bộ tài sản của mình; tại sao Jack Ma tuyên bố muốn tặng toàn bộ đồ cất giữ cho viện bảo tàng? Đó là bởi vì bọn họ hiểu rồi: Tất cả vốn dĩ không phải của họ!

Bọn họ chẳng qua là nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát, sinh không mang theo, chết không mang đi, chi bằng tích đức làm việc thiện lưu lại phúc cho con cháu. Đó mới thật là sáng suốt!

Một phòng đồ đạc của tôi, thật muốn đem hiến tặng, nhưng lại không nỡ. Phải xử lý chúng trở thành một vấn đề khó khăn, con cháu lại chẳng dùng được bao nhiêu.

Tôi có thể tưởng tượng, lúc cháu mình đối mặt với những ‘bảo bối’ tôi khổ tâm tích lũy thì sẽ đối xử thế nào: Quần áo chăn đệm toàn bộ đều vứt đi; hơn chục cuốn album quý báu bị đốt bỏ; sách bị coi như phế phẩm bán đi; đồ cất giữ không có hứng thú sẽ bị dọn sạch; đồ gỗ lim trong nhà không dùng, cũng sẽ đem bán giá rẻ. Giống như phần cuối Hồng Lâu Mộng:“Chỉ còn lại trắng xóa một mảnh, thật sạch sẽ!”

Tôi quay lại nhìn đống quần áo như núi, chỉ lấy vài bộ thích mặc; đồ dùng phòng bếp chỉ chừa lại một bộ nồi niêu chén bát. Sách chọn lấy vài cuốn đáng đọc; ấm tử sa chọn lại một cái để uống trà. Mang theo chứng minh thư, giấy chứng nhận người già, thẻ y tế, hộ khẩu, đương nhiên còn có thẻ ngân hàng, vậy là đủ rồi!

Đây chính là toàn bộ gia sản của tôi! Tôi đi rồi, từ biệt hàng xóm, đem trả ngôi nhà này lại cho thế giới này!

Đúng vậy, đời người chỉ có thể ngủ một giường, ở một gian phòng, dù nhiều hơn nữa đều là để nhìn chơi. Nhân sinh trên đời, quả thật không cần quá nhiều, đừng quá coi trọng vật chất, bởi vì tất cả cuối cùng đều phải trả lại cho thế giới này! Chi bằng xem nhiều sách, ở bên cạnh người thân, yêu mến bạn bè bên cạnh, làm cho thế giới này bởi vì có tấm lòng yêu thương của bạn mà trở nên càng tốt đẹp.Tâm Quán

Tuệ Tâm

No automatic alt text available.
Image may contain: plant, tree and outdoor
Image may contain: 1 person
Image may contain: one or more people and indoor
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting and outdoor

Một Cơn Giận…

  Một Cơn Giận…

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.
Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
– Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
– Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
– Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
– Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không.
Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
– Tôi đi từ phố hàng Bún.
– Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
– Allez! Đi về bót!

Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rùng mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cái xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.
Tôi nhất định đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
– Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
– Bác Dư có nhà không?
– Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
– Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
– Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
– Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:
– Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.
– Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
– Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
– Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
– Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp. Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà. Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:
– Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

Thạch Lam

From: KimBằngNguyễn & Do Tan Hung

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT CUỒNG LOẠN VỚI CHIẾN THẮNG CỦA ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ QUỐC GIA?

Hoa Kim Ngo and Hảo Võ Thị shared a post.
Image may contain: 2 people, people smiling, people on stage, crowd and outdoor
Image may contain: 7 people, people smiling, child and outdoor
Image may contain: 1 person, smiling, crowd
Image may contain: 16 people, indoor
Image may contain: 1 person
Mạc Van Trang

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT CUỒNG LOẠN
VỚI CHIẾN THẮNG CỦA ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ QUỐC GIA?

Đội tuyển BĐVN cách đây 10 năm (2008) và nay (2018) mới giành được 2 lần Cup vô địch của một giải đấu gồm 10 đội tuyển quốc gia thuộc “vùng trũng” nhất của bóng đá thế giới. Vậy sao người Việt lại ăn mừng những chiến thắng này đến mức phải gọi là “cuồng loạn”!? Đặc biệt là chiến thắng, được huy chương Bạc của đội tuyển U23 tại giải U23 Châu Á hồi tháng 1/2018, toàn dân đổ ra đường, Quốc Hội, Chính Phủ, chính quyền các địa phương tổ chức đón các cầu thủ cứ như những người anh hùng chinh phục Sao Hỏa trở về! Trong khi đội U23 Uzbekixtan vô địch thì trở về trong không khí rất bình thường. Mấy trận đội tuyển VN thắng ở giải Vô địch châu Á và được xếp thứ 4; rồi những trận Bán kết giải AFF Cup 2018, đội tuyến BĐVN thắng Philippines, Mã Lai, cũng hàng triệu người “đi bão”, hỗn loạn giao thông, gây ra cái chết cho mấy chục người, hàng trăm người thương tích, một cách vô nghĩa và rác rưởi đầy phố phường… Người ta chở cả nhà trên xe máy, cả trẻ nhỏ, cụ già, phóng như điên; người ta phất cờ, thổi kèn, đánh trống, gõ nồi xoong…; người ta hò hét đến thất thanh, cháy cổ “Việt Nam vô địch”! “Việt Nam vô địch, đéo cần nói nhiều”!… Ở các làng quê hang cùng, ngõ hẻm đến nhiều người Việt Nam ở nước ngoài cũng “tụ tập đông người”, hò hét, nhảy múa, reo mừng chiến thắng…

Vì sao người Việt lại “máu” bóng đá đến vậy nhỉ? Mình đã có ý kiến rằng, nên đổi tên nước thành “CỘNG HÒA BÓNG ĐÁ VIỆT NAM” sẽ thấy “Thế nước đang lên”; sẽ có “Đại đoàn kết toàn dân tộc”; sẽ “Phát huy được tiềm năng, thế mạnh và mọi nguồn lực cho phát triển”; sẽ “Hòa quyện lòng yêu nước với tình yêu bóng đá” để dân ta “sẵn sàng hy sinh để bảo vệ màu cờ sắc áo của Tổ quốc”; sẽ có tinh thần chống ngoại xâm “Quyết tử cho Tổ quốc bóng đá quyết sinh”!… Và có lý do để gào thét “Tự hào Việt Nam hỡi, Tự hào Việt Nam ơi”, một cách không dối lòng…
Vì sao nhỉ?.

1. Có phải vì người Việt YÊU BÓNG ĐÁ? Hình như không phải! Nếu yêu bóng đá thực lòng, thì những trận đấu của các CLB đã kín sân, chứ không lèo tèo khán giả ở nhiều trận đấu; nếu yêu bóng đá, đã có nhiều người dân mua cổ phiếu của các CLB bóng đá và gắn bó với đội bóng cả lúc thành công lẫn khi sa sút, khó khăn… Nếu yêu bóng đá, người ta sẽ hứng thú thưởng thức vẻ đẹp của bóng đá; sẽ chú ý đến việc phân tích chuyên môn của các trận đấu; sẽ quan tâm đến tài năng, nghệ thuật, phẩm chất của mỗi cầu thủ… Và như thế lý trí sẽ cân bằng với cảm xúc, không có chuyện phát cuồng rồ dại khi đội nhà thắng và khùng điên khi đội nhà thua…

2. Vì “MÁU THÀNH TÍCH? “Thi đua lập thành tích”, “Đón danh hiệu…”, “Đón Huân chương”, “Mừng chiến thắng” …đã ăn vào máu người Việt Nam rồi! Từ 1946, Cụ Hồ phát động “thi đua tăng gia sản xuất và giết giặc lập công”; “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”! Nhờ nghệ thuật tài tình đó, mà chính phủ chỉ có “hai bàn tay trắng” đã làm nên bao kỳ tích trong kháng chiến chống Pháp và những năm sau hòa bình 1954 ở miền Bắc. Chẳng có gì ngoài những lời động viên, mấy tờ Giấy khen, mấy cái Huy hiệu mà huy động được bao nhiêu nhiệt huyết của người dân quên mình vì “thành tích”! Giai đoạn ấy, làm được như vậy là là kỳ tài!
Nhưng “bài học thi đua” áp dụng vào phong trào Hợp tác xã nông nghiệp, rồi “người người thi đua, nhà nhà thi đua, ngành ngành thi đua”… suốt 60 – 70 năm qua đã làm hỏng tất cả! Tất cả đều thành giả dối ở mức độ nào đó! Tất cả không quan tâm đến chất lương và quá trình làm ra sản phẩm, mà chỉ chạy theo thành tích hão huyền, dối trá, được tô vẽ hào nhoáng. Từ đứa trẻ mẫu giáo đã cố ép mình theo cô để được “Phiếu bé ngoan”; học sinh lên lớp 100%, thi THPT đỗ 98% đến 100%, một lớp có 100% HS tiên tiến, trong đó 80% tiên tiến xuất sắc… Rồi GDP tăng trưởng nhất nhì thế giới; rồi xuất khẩu hàng đầu; vốn FDI đổ vào VN nhất khu vực; Rồi “Sài Gòn như Singapore”, “Hà Nội như Paris”, tỉnh nào cũng là “Đầu tàu”, là “Trung tâm … của thế giới”; rồi những “Quả đấm thép”, rồi dấy lên phong trào” Khởi nghiệp, sáng tạo”, “Đi đầu trong cách mạng 4.0”… nghe dậm dật cả người! Nhưng tỉnh ra thì thấy đất nước tan hoang “rừng vàng, biển bạc”; môi trường sống bị hủy hoại; dân ta gánh một núi nợ chất chồng; nhìn vào đâu so sánh với các nước trong khu vực cũng thua kém, cũng tụt hậu ngày càng xa. Chả có “thành tích” gì là thật, là để ăn mừng xứng đáng, là để tự hào đúng nghĩa…Buồn bực quá! Tủi hổ quá!… Ôi đây rồi: Đội BĐVN chiến thắng! Đó là sự thật! Thật 100%, có trọng tài quốc tế công nhận! Truyền hình công khai, khắp các nước khu vực! Vậy là bao nhiêu tủi hổ dồn nén bùng lên, “vỡ òa”, giải tỏa bao ẩn ức, bùng cháy bao khát khao, hy vọng, không sao kìm nén nổi nữa! Người ta gào to lên “Việt Nam vô địch”, “Việt Nam chiến thắng”, “Tự hào Việt Nam”… tự đáy lòng, trào dâng cảm xúc thật, nước mắt tràn mi; không phải ngượng ngùng, xấu hổ… Bao nhiêu năm khao khát mới có một THÀNH TÍCH THẬT để tự hào! Nỗi niềm là thế.

3. Vì “MÁU LỄ HỘI”? Người Việt vốn có truyền thống sinh hoạt cộng đồng quần tụ đông vui. “Ăn no rồi lại nằm khèo; hễ thấy trống chèo, vác bụng đi xem”. Thấy ở đâu ồn ào, “có đám” là phải chạy đến hòa vào đám đông. Đám ma, đám cưới, đám rước… đám gì cũng đông. “Theo thống kê của Bộ VH- TT- DL, hiện cả nước có 7.966 lễ hội. Tính ra, trung bình mỗi ngày diễn ra khoảng 22 lễ hội. Tức là bình quân mỗi giờ, ở Việt Nam lại có một lễ hội được tổ chức” (https://laodong.vn/…/infographic-nhung-con-so-khung-ve-le-h…). Lễ hội là phải càng đông vui, càng chen vai thích cánh, “mông chạm mông, vú cọ vú”, càng thích; là phải cờ phướn rợp trời, loa loa vang điếc óc, chiêng trống inh tai, hò reo ầm ĩ… mới thỏa lòng! Vậy là “Lễ hội mừng chiến công bóng đá” đáp ứng được “máu lễ hội” của người Việt.

4. Vì “ĐƯỢC XẢ STRESS”. Cuộc sống “phóng thể” lao theo bao nhiêu cám dỗ, gặp bao nhiêu thất bại, căng thẳng, lo hãi… khiến nhiều người tâm trạng bất an. “Theo thống kê của Bộ Y tế vào năm 2017, tại Việt Nam, có khoảng 15% dân số mắc các rối loạn tâm thần phổ biến liên quan tới stress, 3 triệu người bị rối loạn tâm thần nặng. Còn thông báo tại Viện Sức khỏe tâm Thần cho thấy có 30% dân số Việt Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%. (https://baomoi.com/bao-dong-gia-tang-benh-ly-ve-…/c/27714755..). Với tình trạng tâm thần như vậy, khi được tự do xả tress, người ta sẽ trở nên hưng cảm thái quá, khó kiểm soát nổi hành vi… Người ta thấy nhiều người nhảy nhót trên nóc ô tô đang chạy; có cô gái cởi phăng hết quần áo; nhiều chàng trai phóng xe máy đến rợn người; những đám đông uống bia rượu xả láng; nhiều đoàn người phất cờ, trống chiêng, hò hét “đi bão” gần hết đêm, chẳng biết là mình đi đâu, để làm gì!

5. Vì “ĐƯỢC CHÍNH TRỊ HÓA”? Ở Việt Nam, biểu tình chống Trung cộng chiếm biển đảo, giết hại ngư dân; biểu tình phản đối Formosa hủy diệt môi trường; biểu tình lên án chặt phá cây xanh; biểu tình chống cưỡng chế phá nhà, cướp đất… Tất cả những hành vi chính đáng của người dân như trên, nhưng gây lo hãi cho chính quyền, đều bị đàn áp dã man. “Cấm tụ tập đông người”! “Đi biểu tình là do các thế lực thù địch xúi giục, thuê tiền”! “Là bị kẻ địch lợi dụng lòng yêu nước”; “là chống phá chế độ”; “Là âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”!…Thậm chí chính quyền còn nuôi một đội quân chuyên đi canh cổng, ngăn chặn không cho nhiều người dân ra khỏi nhà, sợ đi biểu tình. Xã hội căng thẳng, bức bối…
Thế mà ăn mừng chiến thắng của bóng đá thì tha hồ tụ tập đông người, hàng triệu người xuống đường biểu tình hô “Việt Nam vô địch”, càng làm các quan chức chế độ khoái chí. Và chính họ mới lợi dụng sự cuồng dại vì bóng đá của người dân để “Tôn vinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc”, mới hò hét “Thế nước đang lên”; mới bắt các cầu thủ đến “Chào Thủ tướng”, “Chào Chủ tịch Quốc hội”… để các vị được PR không mất tiền. Bóng đá đang bị Chính trị hóa: Đi biểu tình cổ vũ bóng đá là “yêu nước”; đi biểu tình chống xâm lược, tham nhũng là “phản động”! Vậy là tình yêu bóng đá bị lợi dụng, nống lên thành “yêu nước”, “tự hào dân tộc” để khỏa lấp đi bao nhiêu nỗi xấu hổ, tủi nhục, đắng cay của đất nước này.

Nhưng có một niềm an ủi và hy vọng: Sự “cuồng vọng bóng đá”, cho thấy dân ta vẫn có một sức sống tiềm ẩn, sẵn sàng vùng lên mãnh liệt, vì một cái gì đó chạm vào lòng yêu nước, tự hào dân tộc chính đáng. Dân tộc này vẫn chưa chịu câm nín, lụi tàn, chỉ mê lầm tí thôi!
17/12/2018
Mạc Văn Trang

Tố Hữu, vai kép nịnh trong tuồng chèo!

 

Tố Hữu, vai kép nịnh trong tuồng chèo!

Tố Hữu (Hình: Cadn.com.vn)

Huy Phương

Có hai lý do để cho Việt Nam ngày nay là một đất nước có nhiều tượng đài và nhà lưu niệm nhiều nhất trên trái đất này, thứ nhất là để lưu lại những vết tích của những người Cộng sản, sợ rồi một ngày kia sẽ mai một, hai là chủ trương “có làm có ăn” của viên chức đảng ngày nay.

Chúng ta nên nhớ rằng hiện nay Tố Hữu đã có một nhà lưu niệm tại Hà Nội, khánh thành năm 2009, vì sao Thừa Thiên lại khùng điên dựng thêm một nhà tưởng niệm nữa?

Nhưng trước hết Tố Hữu là ai?

Tư Lành Nguyễn Kim Thành sinh năm 1920  gốc ở làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên- Huế. Người ta xem Tố Hữu như một nhà thơ tiêu biểu cho Cộng Sản Việt Nam, và tự cổ chí kim chưa có ai nhờ thơ mà “ăn nên làm ra” như Tố Hữu. Ông đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN, Phó Thủ Tướng.

Trong nước hô hào cho rằng “việc xây dựng nhà lưu niệm Tố Hữu là một việc làm “mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với sự nghiệp cao quý của nhà thơ!” Sự nghiệp cao quý đó là gì? Nhà văn Nguyễn Trọng Khang trong nước đã ca tụng rằng: “Thứ khiến hậu thế nhớ về họ, làm hậu thế mê say cả khi người viết nó không còn trên thế giới này nữa, đấy chính là những tác phẩm. Chỉ cần tác phẩm sống thì nhà văn còn sống, dẫu nơi lưu trữ những tác phẩm ấy có trong một cung điện, một viện bảo tàng hay chỉ trong căn nhà nhỏ trên một ngọn đồi hoang vu đi nữa.”

Thật sự là những bài thơ của Tố Hữu còn sống không? Hình tượng Staline, Lenin đã bị chôn vùi bên kia trời Âu. Ở Trung Cộng người ta công nhận Mao Trạch Động đã mắc phải lỗi lầm khi cầm quyền và đã làm nhiều tội ác trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Hồ Chí Minh đã phơi bày nhiều tội ác và các bản chất xấu xa, phàm tục và dối trá của y. Những bài thơ tanh mùi máu của một thời chém giết, đấu tố, của Tố Hữu ngày nay không còn ai muốn nhớ nữa! Những tác phẩm ấy thực sự đã chết, thì nhà thơ này cũng đã chết theo. Người ta thường nói Tố Hữu là người học trò thân cận của Hồ Chí Minh, và là người làm thơ ca tụng Hồ Chí Minh nhiều nhất. Trong thế giới Cộng Sản, những người viết văn, làm thơ này được gọi là “văn công”, “văn nô” không còn chút liêm sỉ. Ca tụng làm cho chính người được ca tụng, cũng phải lấy làm ngượng.

Thợ nịnh, trên đời này, khó có ai qua mặt Tố Hữu. Trong thơ Tố Hữu, trên thân thể “bác Hồ” từ sợi tóc trên đầu cho đến ruột gan, đôi dép râu đi dưới chân “bác” đều là những thứ thơm tho, siêu phàm.

Tóc- “Bác về tóc có bạc thêm – Năm canh, bốn biển có đêm  nghĩ nhiều.”

Mắt- “Đôi mắt Bác hiện lên cười phấn khởi – Ta lớn cao lên bay bỗng diệu kỳ”

Tay và Trán- “Trông đàn con đó vẫy hai tay – Cao cao vừng trán ngời đôi mắt”.  “Trán mênh mông thanh thản nụ cười …”.

Mắt- “Nhớ ông cụ mắt sáng ngời- Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường.”

Bàn tay- “Bàn tay con nắm tay Cha – Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng”.

Máy đánh chữ- Chiếc gậy- “Máy chữ thôi reo nhớ ngón đàn – Thong dong chiếc gậy gác bên bàn.”

Đôi dép râu- “Còn đôi dép cũ mòn quai gót – Bác vẫn thường đi giữa thế gian!”

Áo- “Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị .”

Cho đến thanh gỗ trong nhà sàn, chiếc chiếu, cái tủ cũng là đề tài cho Tố Hữu: “Nhà gác đơn sơ một góc vườn. Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn. Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối. Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn.”

Cả con cá trong ao: “Cá ơi! Em có biết không. Trọn đời Bác nặng một lòng vì dân!”

May mà Bác không thích nuôi chó!

Đó là xu nịnh trong thơ. Còn ngoài đời Tố Hữu là tay nịnh hót có hạng.

Sách chép, trong một buổi hội, Hồ Chí Minh yêu cầu Tố Hữu ngâm một bài thơ tặng hội nghị. Tố Hữu khôn khéo nói rằng: – “Thưa Bác, thưa các đồng chí. Bác chỉ thị cho tôi đọc một bài thơ với các đồng chí, nhưng mà tôi nghĩ chúng ta vừa được nghe bài thơ hay nhất, những lời nói rất là ấm áp của Bác với tất cả chúng ta hôm nay. Vì thế nên bất cứ câu thơ nào có vần có nhạc cũng đều vô duyên trong lúc này!”

Trong một lần khác, Hồ Chí Minh nói với Tố Hữu:

– “Chú không được sùng bái cá nhân.”

Tố Hữu: – “Dạ, chỉ sợ sùng bái không đúng thôi, nhưng mà sự sùng bái của chúng ta là lòng kính yêu vô hạn của tất cả chúng ta đối với Bác là hoàn toàn chính đáng!”

Những lời lẽ tâng bốc này được các cán bộ cao cấp đứng chung quanh nham nhở vỗ tay hoan hô nhiệt liệt y như lúc Hồ Chí Minh sàm sỡ ôm nữ diễn viên Trà Giang trước mặt “triều đình” vậy.

Không phải Tố Hữu chỉ nịnh Hồ Chí Minh mà là tên nịnh quốc tế, ca ngợi các lãnh tụ phong trào Cộng sản thế giới như Liên Xô của Stalin (Yêu biết mấy nghe con tập nói, Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!) Trung Cộng của Mao Trạch Đông (Chào Trung Quốc, giang sơn hùng vĩ, Quê Hồng quân vạn lý trường chinh! Hôn các anh xưa, những người chiến sĩ. Đầu đỏ ngôi sao, không sợ thác ghềnh), Cuba của Fidel Castro (Lởn vởn ngoài khơi những bóng ma. Hai con tàu Mỹ ngó dòm ta. Ô hay, bay vẫn ngu hoài vậy! Chẳng thấy Cu-ba đứng đấy à?) và cả Ba Lan (Em ơi, Ba Lan mùa  tuyết tan.Đường bạch dương  sương trắng nắng tràn. Anh đi, nghe tiếng  người xưa vọng. Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn!)

Vì nhu cầu của đảng, Tố Hữu kể lại, khi làm bài thơ “Bà má Hậu Giang” năm 1941 và bài “Lá thư Bến Tre” năm 1962, ông chưa từng đặt chân đến Nam Bộ, chưa hề biết đất Bến Tre. “Nghĩ đến phong trào đấu tranh trong đó, muốn góp một tiếng nói đồng cảm mà thôi… Lúc bấy giờ cứ nghĩ Bến Tre chắc phải rất nhiều tre, không ngờ sau này đất nước thống nhất, vô mới hay ở đó chỉ có dừa!”

Nhà thơ Xô Viết Mayakovsky có trường ca “Lê Nin” nổi tiếng viết về vị lãnh tụ Cộng Sản, thì Tố Hữu có trường ca “Theo chân Bác” được viết năm 1970. Trong khi đánh giá về vai trò lớn lao của nhà thơ Mayakovsky, Stalin đã từng nói: “Mayakovsky là nhà thơ ưu tú nhất của chủ nghĩa xã hội!” nhưng Hồ Chí Minh, dù được tâng bốc lên mây xanh,  chưa bao giờ khen thơ Tố Hữu! (Nguyên Hạnh) Chính Tố Hữu cũng công nhận điều này.

“Trong tập phê bình tiểu luận ‘Chân dung và đối thoại’, nhà thơ Trần Đăng Khoa nói rằng Tố Hữu đã thừa nhận “Bác chưa bao giờ khen thơ tôi”. Điều này như có vẻ hơi lạ!

Qua nhận định của Trần Đăng Khoa thì:

“Tố Hữu thường tự hào cho mình là người giác ngộ sớm, giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng và có nhãn quan chính trị tốt. Tệ hơn, ông tin rằng người lãnh đạo cộng sản nào cũng vĩ đại. Sai lầm lớn nhất của ông là lớn tiếng khen Stalin và Mao. Trong khi đó, Hồ Chí Minh có vẻ không hề đánh giá cao Mao và Stalin, chưa từng nhắc đến tên hai vị này trong bất cứ bài nói hay bài viết nào.”

Trong bài “Sáng tháng Năm,” Tố Hữu ca ngợi Hồ Chí Minh nhưng kết thúc ông làm một câu làm Hồ Chí Minh phật lòng:

“Việt Nam có Bác Hồ. Thế giới có Stalin. Việt Nam phải tự do. Thế giới phải hòa bình!”

Hồ Chí Minh luôn là người cao ngạo, tự cho mình là anh hùng, đâu muốn đứng sau Stalin!

Không phải làm thơ ca tụng máu, Tố Hữu, trong thời gian làm Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, cầm đầu công tác văn hóa văn nghệ, tuyên truyền được coi là đao phủ thủ không nương tay, mang món nợ máu với nhóm Nhân Văn–Giai Phẩm.

Y đã lên án: “Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm.”

“ Nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” phản đối sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ, chúng đòi “trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ”, thực ra chúng đòi đưa quyền lãnh đạo văn nghệ vào tay bọn phản cách mạng.” Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và tư sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!”

Phan Khôi, Trần Duy, Thụy An, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt… đã bị mạt sát, trù dập đến chết hay thân tàn, ma dại… ngày nay chưa bao giờ được phục hồi danh dự, Cộng Sản lại muốn vinh danh Tố Hữu, dựng lên cái xác chết thối tha, bị dân tộc nguyền rủa, để làm gì?

Sau này khi làm Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế, Tố Hữu đã có một “sáng kiến để đời” là phát hành tờ giấy bạc $30.00. Dư luận cho rằng một ông Phó Thủ Tướng mà chưa biết hệ thập phân (hệ đếm cơ số 10) là hệ đếm dùng số 10 làm cơ số.

Tố Hữu thể hiện khuôn mặt của vai kép nịnh trong gánh tuồng chèo, với hình dung của một kẻ tiểu nhân, chuyên luồn cúi (tâng bốc nịnh bợ lãnh tụ) để thăng tiến và dèm pha người trung trực (vụ nhân văn giai phẩm.)

Xác chết như thế tưởng đã được chôn sâu dưới ba thước đất, nay lại được chế độ này dựng lại thây ma, tổ chức đình đám, kèn trống giữa thái độ lạnh nhạt, coi khinh của quần chúng! Đó là  những chuyện không lạ vẫn thường xảy ra trong chế độ Cộng Sản!

(*) Chữ dùng của GS. Ngô Bảo Châu

Biểu hiện một quốc gia thất bại

BIỂU HIỆN MỘT QUỐC GIA THẤT BẠI 
(15/12/2018)
Nhân Trần
_________

Trong những ngày tháng cả đất nước đang sục sôi về giải bóng đá AFF Cup này, tôi mới chợt ngộ ra một quốc gia thất bại có biểu hiện ra làm sao. Đó là điều mà bao lâu nay tôi vẫn mơ hồ, cứ canh cánh trong lòng, tôi hoài nghi và cố đi tìm một lý thuyết vững chắc để giải thích cho việc này.

Thất bại là khi ta không làm được việc gì đó, ta bỏ cuộc, phó mặc số phận. Ta dựa vào chiến thắng bên ngoài để tự an ủi mình và huyễn hoặc mình cũng có cảm giác của người chiến thắng.

Với cách hiểu này, tôi có thể nói lên một niềm tin vững chắc rằng khi con người ta thiếu thốn thứ gì đó người ta thèm khát có được nó bất chấp mọi quy phạm đạo đức và luật pháp. Nhất là khi điều đó được coi là hợp pháp thì sự cuồng nộ lại càng sôi sục.

Người Việt Nam thèm khát một chiến thắng

Ngoài đường, những dòng người nối đuôi nhau, trên những chiếc xe có gắn cờ đỏ sao vàng. Những con người mặc áo đỏ đầu đeo băng rôn đỏ, trên má dán cờ đỏ phóng nhanh vượt ẩu bấm còi xe ầm ĩ. Họ một lòng một dạ hướng về phía sân vận động Mỹ Đình, nơi có 11 cầu thủ sắp ra sân. Họ tưng bừng như ngày hội, họ hô hào, hò hét làm náo loạn đường phố. Trong tiếng kèn, tiếng nhạc, tiếng còi xe inh ỏi, cả thành phố như một cuộc lên đồng tập thể. Và trên hết, họ coi những hành động đó là “yêu nước”.

Đằng sau những gương mặt in hình cờ đỏ sao vàng kia là gì? Tôi cho rằng đó là một sự thiếu thốn về tinh thần, một sự thèm khát chiến thắng mà không ai có thể tự giải thích được.

Tâm lý học đám đông đã cho biết rằng những con người yếu đuối, mờ nhạt họ chỉ mong muốn tụ hợp nhau lại để làm cho họ mạnh mẽ hơn. Họ muốn hòa vào đám đông có cùng cảnh ngộ để tạo nên một sức mạnh khủng khiếp. Tâm lý đám đông sẽ làm nhòa đi ranh giới giữa lý trí và cảm tính do ý thức cá nhân đã bị nhạt nhòa trước trùng trùng điệp điệp màu sắc tương đồng. Người ta muốn ăn mặc giống nhau, trang điểm giống nhau để có được sức mạnh cá nhân trên nền của sức mạnh đám đông mà bấy lâu nay mình đã mất.

Sự vô thức về cái đã mất được khơi lại trong một sự kiện không lấy gì làm to tát, một sự kiện quá đỗi bình thường cứ lặp đi lặp lại từ năm này qua năm khác. Năm nào chả có bóng đá, năm nào Việt Nam chả chơi ở tứ kết đến chung kết, hết giải này đến giải kia. Vậy tại sao lần nào bóng đá cũng tạo nên một sự kiện cuồng nhiệt như vậy? Sự thật là đã quá lâu rồi Việt Nam không có chiến thắng.

Chiến thắng là một cảm giác được thỏa mãn, một tinh thần sảng khoái, tự hào và kiêu ngạo. Chỉ có chiến thắng mới khiến người ta có cảm giác được đứng trên đỉnh của vinh quang để nhìn thế giới với con mắt đầy kiêu hãnh. Chiến thắng của đội tuyển Việt Nam khi ấy được đánh đồng với chiến thắng của dân tộc, của đất nước.

Bỏ qua mọi khía cạnh thế nào là yêu nước. Tôi chắc chắn rằng yêu bóng đá không phải là yêu nước. Sự cổ vũ cuồng nộ đội tuyển bóng đá Việt Nam không phải là yêu nước. Mà bởi vì họ yêu chiếc cup vàng, yêu sự vô địch, yêu một chiến thắng từ trong sâu thẳm tâm hồn họ luôn bị thất bại. Điều đó cứ lặp đi lặp lại hằng ngày, từ năm này qua năm khác. Giới nhà báo cộng sản dựa vào đó để gắn mác lòng yêu nước và gọi tên nó là tinh thần dân tộc.

Nếu đội tuyển Việt Nam thua thì sao, họ vẫn yêu chứ? Tôi không dám chắc. Nhưng tôi dám chắc rằng sau những trận chung kết thất bại sẽ chẳng còn ai bàn tán về nó nữa. Mỗi người thấy tự vấn lương tâm về việc làm của mình ngày hôm qua vì niềm tin đã bị phản bội. Những lá cờ đỏ sao vàng cùng băng rôn khẩu hiệu đêm qua mua với giá vài trăm nghìn thì sáng sớm nay đã nằm gọn trong xe rác.

Trong lúc này đây, tiếng nói của mỗi cầu thủ trên sân có sức nặng hơn hàng trăm bài phát biểu của ngài Chủ tịch nước. Người ta lo lắng cho tinh thần và thể lực của từng cầu thủ. Người ta bàn tán về gia đình, tình yêu, đời sống cá nhân, những pha kiến tạo, những bàn thắng của từng cầu thủ. Những kẻ đam mê chiếc cup vàng kia đang phô bày kiến thức về bóng đá, đang bình luận rôm rả về chiến thuật, chiến lược, huấn luyện viên người Hàn, về các ông bầu. Những phân tích sắc sảo đột biến đó không có chỗ cho chính trị, cho đặc khu, cho luật an ninh mạng, cho dân oan, cho những người hoạt động dân chủ, cho những chính sách kinh tế đang tước đi miếng ăn của họ hàng ngày. Họ biết điều ấy chứ, nhưng họ làm gì được, họ bảo nhau hãy cẩn thận khi đụng tới nó. Họ dùng trí thông minh và tài năng phân tích, tổng hợp của mình để thể hiện với nhau về bóng đá. Lấy bóng đá làm điểm tựa còn sót lại cuối cùng của niềm vui cuộc sống.

Vậy họ đã mất đi cái gì?

Họ mất đi quyền tự do được biểu tình nên họ tràn ra đường bất chấp luật pháp ngăn cấm tụ tập. Sau mỗi trận bóng đá thực chất là một cuộc biểu tình được hợp pháp hóa.

Họ mất đi “niềm tin lớn” nên họ trông cậy 11 cầu thủ để mong muốn có một niềm tin lớn để thỏa mãn. Bản chất là họ mất đi một sự gắn kết về tinh thần chung.

Họ mất đi sức mạnh bởi suốt ngày họ bị một sức mạnh vô hình lớn hơn đè nén họ không thể gọi tên nó ra vì họ sợ khi nói tên nó ra họ có thể vào trong trại giam an dưỡng dài dài.

Hơn hết, họ cần mất đi sự tỉnh táo bởi suốt ngày họ phải vật lộn với lý trí để kiếm sống, mưu sinh, tranh đấu. Khi áp lực cuộc sống đè nặng lên vai họ là họ cần phải quên đi lý trí để xả stress (đặc điểm này tồn tại trong các quán Bar, vũ trường, hầu đồng).

Sự thất bại của từng cá nhân được biểu hiện như trên là gì khác ngoài sự thất bại của một dân tộc. Một dân tộc chỉ khao khát chiến thắng, chỉ khao khát vô địch bởi họ đã chìm đắm trong thất bại từ rất lâu rồi.

Dù sao tôi vẫn mong các cầu thủ của đội tuyển Việt Nam chiến thắng để thỏa mãn cơn thèm khát vô địch bấy lâu nay.

BAOTIENGDAN.COM
Biểu hiện một quốc gia thất bại Bởi AdminTD – 15/12/2018 Tweet Share 0 +1 Pinterest 0 Email Nhân Trần 15-12-1018 Trong những ngày tháng cả đất nước đang sục sôi về giải bóng đá AFF Cup này, tôi mới chợt ngộ ra một quốc gia thất bại có biểu h…