Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập (1911-2001)

Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập (1911-2001)

Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập (GS. Ngô Tằng Giao) (Hồi ký)

 

 

TƯỞNG NIỆM CHA NGUYỄN VĂN LẬP
Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt

     Cha Nguyễn Văn Lập qua đời tính đến tháng 12 năm 2014 thời đã 13 năm trời trôi qua.
     Nhân dịp kỷ niệm này nơi đây ghi lại 2 bài tưởng niệm về Cha của Giáo sư Ngô Tằng Giao:
     1. Đất trời Đà Lạt mãi còn ghi (2002)
     2. Bài nói chuyện trong buổi giới thiệu tập sách “Tưởng Niệm Đức Ông Nguyễn Văn Lập”
     do Hội Ái Hữu Đại Học Đà Lạt tổ chức tại Mason District Center, Virginia, USA, ngày 1-6-2003.

Bài viết:

ĐẤT TRỜI ĐÀ LẠT MÃI CÒN GHI

     Thủ đô Hoa Thịnh Ðốn đang chuyển mùa. Những ngày nóng bức sắp trôi qua. Trên bầu trời đã thấy lờ lững những đám mây Thu. Người Ðà Lạt cũ cảm nhận được ngay cái lạnh đang ve vuốt trên đôi má, trên làn da, cái lạnh dễ thương chi lạ của núi đồi Lâm Viên thuở nào…

     Từ khi qua tới đất Hoa Kỳ hình như tôi chỉ mới trông thấy được mặt trăng từ khi dọn về ở tại căn nhà này. Một căn nhà nhỏ bé, xa nơi phố thị. Tôi vui vì chỉ cần bước đi ít bước là đã có thể hòa mình vào thiên nhiên. Tôi đã nhiều lần mải mê đứng lặng nhìn về những dãy núi chập chùng nơi chân trời xa mà thả hồn nhớ về Ðà Lạt thân thương, nơi tôi đã chất chồng bao nhiêu là kỷ niệm trong gần một phần tư thế kỷ sống liên tục tại chốn này… Hơn một chục năm trước 1975 và hơn một chục năm nữa sau 1975.

     Kỷ niệm vui buồn lẫn lộn. Nhưng những hình ảnh về Viện Ðại Học Ðà Lạt thì đối với tôi vẫn muôn đời thi vị, khó mà phai lạt… Tôi có dịp “làm quen” với Viện Ðại Học này vài năm sau khi tôi lên lập nghiệp tại Ðà Lạt. Ðó là lúc tôi tham gia vào Ban Giảng Huấn của trường Chính Trị Kinh Doanh. Vị khoa trưởng lúc đó là Giáo sư Trần Long. Qua sự giới thiệu của Giáo sư Trần Long mà tôi được hân hạnh gặp Linh Mục Nguyễn Văn Lập. Ngài là Viện Trưởng.

     Cha Lập hay mời các giáo sư dùng cơm. Ðây là dịp để gặp gỡ và chuyện trò. Tôi và các vị khác trong ban giảng huấn thường vui vẻ nhận lời vì Cha Lập rất thoải mái và vui tính. Cha cho uống rượu lễ và câu chuyện nổ như bắp rang. Cha có vẻ là một “nhà ngoại giao” hơn là một thầy giáo hoặc thầy tu. Có lần thấy tôi thích rượu lễ Cha đã cho mấy chai mang về (nghe nói rượu này được nhập cảng nguyên thùng lớn từ Vatican qua).

     Tôi cũng đã có dịp “làm báo” cho Cha. Hình như tờ báo cũng mang tên “Thụ Nhân”. Báo khổ lớn và được gửi in ở nhà in Lâm Viên trên khu Hòa Bình. Tôi lo bài vở, hình ảnh và ấn loát. Hôm phát hành là một ngày đại hội gì đó của Viện. Báo ra được vài số thì trao cho người khác lo tiếp hay “đình bản” tôi không còn nhớ rõ nữa…

     Cha Lập lúc đó trông “bệ vệ” với cái bụng của Ngài tỏ ra rất “có tư thế”, chúng tôi thường nói đùa như vậy. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi Cha. Ðã lâu lắm tôi không có dịp gặp Cha từ khi Cha rời Viện Ðại Học Ðà Lạt để lãnh nhiệm vụ khác. Mãi sau này tôi mới có dịp xem hình Cha chụp khi Cha qua thăm anh chị em Thụ Nhân bên Pháp. Hình chụp tại quán Ðào Viên (quận 13 – Paris) vào ngày 16-10-1994. Sau này được xem thêm những bức hình chụp Cha trong dịp xây cất Nhà Hưu Dưỡng cho Cha tại Việt Nam, thấy Cha già đi nhiều. Khuôn mặt khắc khổ, phong sương và… đầy vẻ suy tư. Tuy nhiên Cha vẫn giữ được nụ cười đầy nhân hậu, cởi mở như thuở nào!

     Thời gian sau này nghe tin Cha bệnh nặng. Ðến khi nghe tin Cha qua đời thì anh chị em trong gia đình Thụ Nhân Ðà Lạt tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn bèn có ý định thực hiện một cuốn sách để tưởng niệm Cha, muốn ghi lại những kỷ niệm lâu dài về cuộc đời của vị Cha già khả kính, bác ái đã dâng trọn đời mình cho giáo dục cũng như cho giáo hội. Công việc sắp tiến hành thì được biết hội Thụ Nhân Âu Châu cũng đã có ý định này từ trước và đang chuẩn bị thực hiện. Nhóm Thụ Nhân ở vùng thủ đô Hoa Kỳ bèn quyết định hủy bỏ ý định thực hiện cuốn sách ở vùng này để tập trung bài vở, hình ảnh và tài liệu… vào cuốn tưởng niệm bên Paris. Thế mới biết Cha Lập đã chiếm trọn cảm tình của đại gia đình Thụ Nhân ở khắp nơi trên thế giới rồi! 

     Ở vùng thủ đô Hoa Kỳ này ba người chủ chốt trong nhóm thực hiện đặc san về Cha Lập là tôi, chị Lê Tống Mộng Hoa và anh Nguyễn Tường Cẩm. Tôi nhớ lại lời Chị Hoa nói qua điện thoại: “Hay thật! Cả ba người chủ chốt này đều là tín đồ Phật Giáo cả!”. Càng thêm phần quý hóa! Bên Phật Giáo luôn quan niệm cuộc sống là “vô thường”. Thì cũng khác gì đâu. Tôi nhớ lại lời của Cha Lê Văn Lý thường nói với các học trò của Cha ở Viện Ðại Học Ðà Lạt: “Mọi sự đều là giả trá!”. Ðúng vậy! Chẳng có gì vĩnh cửu, mọi thứ đều chóng qua, chóng hết… Trần gian quả là quán trọ.

    Hôm nay trời Hoa Thịnh Ðốn đang bắt đầu trở lạnh. Ngôi ấm cúng trong nhà, xem cuốn video về đám tang Cha Lập ở Việt Nam do anh Nguyễn Tường cẩm gửi cho, tôi quả thật lại nhớ nhiều về Ðà lạt, nhớ về Cha Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập. (…)

    Ðại gia đình Thụ Nhân trên toàn thế giới xin vĩnh biệt Cha! Những “cây Thụ Nhân” Cha vun trồng chắc nguyện sẽ cố gắng vươn lên hùng vĩ giữa trời cao để khỏi phụ lòng Cha!

    (Virginia, Hoa Kỳ, tháng 9-2002)                                                                           Bài nói chuyện:

CÁC CỰU GIÁO SƯ TƯỞNG NIỆM
CHA NGUYỄN VĂN LẬP

      Cha Nguyễn Văn Lập là Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt từ năm 1961 tới năm 1970. Tháng 11 năm 1998 Cha được phong Đức Ông, Giám chức Danh dự của Tòa Thánh Vatican. Cha qua đời vào tháng 12 năm 2001 tại Bình Triệu, Việt Nam, hưởng thọ 91 tuổi. Cha làm Linh Mục trong 63 năm. Cha qua đời để lại sự thương tiếc của những người từng cộng tác với Cha, trong đó có các cựu giáo sư của Viện Đại Học Đà Lạt ở khắp nơi trên thế giới. Biết bao nhiêu là kỷ niệm đẹp đẽ từ thuở xa xưa lại ào ạt trở về …
 
KỶ NIỆM VUI
 

     – Giáo sư Nguyễn Phú Đức nhớ lại phương cách mà cha Lập mời các Giáo sư thuộc các Trường Đại học ở Saigon và những chuyên gia nhiều ngành từ Saigon lên Đà Lạt giảng dạy: “…việc tổ chức tiếp đãi rất chu đáo: tại Saigon, xe hơi của Viện đến tận nhà các Giáo Sư, đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất, rồi khi phi cơ đến Liên Khàng thì đã có xe của Viện chờ sẵn để đưa đến nhà Trường. Tại đó mỗi giáo sư được dành riêng một phòng tại Nhà Nguyện, và mấy bữa ăn trong mấy ngày giảng dạy đều dùng cơm chung với Linh Mục Viện Trưởng và các giáo sư khác. Vì vậy, giữa các Giáo sư và Cha Viện Trưởng có những tiếp xúc thường xuyên, ấm áp và cởi mở.”
 
     – Giáo Sư Phạm Cao Dương cũng phát biểu tương tự: “Đó là sự gần gũi và thân mật Cha đã dành cho những người từ xa đến giảng dạy ở Đại Học Dalat của Cha…” Giáo sư nhấn mạnh là cách đối xử của Cha “làm cho các giáo chức thỉnh giảng từ xa đến cảm thấy ấm áp, dễ chịu như ở nhà…”
 
     – Giáo Sư Nguyễn Như Cương không quên những kỷ niệm vui: “…mỗi giáo sư sử dụng một phòng riêng trong những ngày cư trú, có đủ trang bị để soạn giảng văn nếu cần. Ẩm thực tại nhà ăn khang trang của Viện, cạnh đó có một phòng khách lớn để các giáo sư họp, thảo luận hay đọc sách báo. Nhớ lại ngay buổi đầu đã thấy vui…”
 
     – Sư huynh Nguyễn Văn Kế ghi nhận rằng Cha Lập: “…đại lượng hảo tâm đối với giáo sư” …  “Ngài có khiếu gợi chuyện, rồi thì các giáo sư tiếp tục kể chuyện liên miên thích thú, thành tâm như anh em một nhà.”
 
     – Giáo Sư Ngô Đình Long nhớ lại thời gian gia đình giáo sư cư ngụ ở Đà Lạt: “…chúng tôi được Ngài xem như con em trong gia đình. Có món ngon vật lạ, Ngài cũng ban phần cho chúng tôi. Khi có khách, như nhiều giáo sư ở Saigon lên giảng dạy, mỗi bữa cơm tối tại phòng ăn tư thất Viện trưởng là một dịp cho chúng tôi chứng kiến sự đãi ngộ, lòng hiếu khách và tính rộng rãi vị tha của Ngài”
 
     – Giáo sư Lê Hữu Mục còn bổ túc thêm ý kiến rằng đó là: “…những món ăn ngon và sang trọng không kém gì các nhà hàng lớn ở ngoài phố, có khi lại còn hơn nữa, nhất là về các thứ rượu vang hảo hạng mà ngài mua sắm một cách đặc biệt cho các giáo sư sành rượu”.
 
     – Giáo Sư Lê Xuân Khoa thích thú kể chuyện cũ: “…kỷ niệm được lưu lại rõ nhất trong tâm trí của tôi là thỉnh thoảng sau bữa ăn tối, Cha rủ mấy anh em Giáo Sư ở Saigon đi ra phố uống cà phê Tùng. Và nói đủ mọi thứ chuyện thời sự vui buồn. Cà phê này đặc biệt lắm! Vì Cha còn đem theo một chai Cognac để châm thêm vào cà phê cho thêm hương vị. Cha cũng đem thêm một nắm Cigarillos để cho anh em ai biết hút thì thưởng thức cho đầy đủ”.
 
     – Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế khó mà quên được dịp ‘du hí’ rất đặc biệt với Cha Lập: “Ngài rủ tôi đi chơi một vòng ngoài phố. Ngài tự tay cầm lái xe. Đường đất quanh co, lên xuống. Lúc sau, chiếc xe Viện ngừng bánh trước một phòng trà ca nhạc ở trung tâm thị xã. Đủ trai thanh gái lịch, nhạc tiền chiến, nhạc đương thời hùng cũng có nhưng ủy mỵ, lãng mạn thì nhiều”.  
 
     – Giáo sư Nguyễn Khắc Dương cũng được đi theo Cha bữa đó, sau này vui vẻ tiết lộ với giáo sư Tế: “Dịp may hy hữu cho chúng tôi đó. Nhờ có giáo sư mà chúng tôi được ‘ăn theo’, đi ‘hộp đêm’ với Cha Viện Trưởng!”
 
HÌNH ẢNH TUYỆT VỜI
 

    – Frère Nguyễn Văn Kế nhớ lại hình ảnh Cha Lập là: “…một con người cởi mở, tính tình dễ dãi, ăn nói thành tâm. Ngài quen đứng ở cửa chính nhà hành chính của viện đại học. Có con chó nằm dưới chân quen hơi chủ nó lắm. Một điếu cigare bốc khói trên môi với trời Dalat vào sáng chiều lành lạnh ngọt. Coi ngài thật ấm áp. Ngài đứng thẳng người, tay khoác sau lưng trong tư thế tự tin, bụng ông địa giầu sang…”
 
     – Giáo Sư Nguyễn Cao Hách chẳng quên hình ảnh một thần tượng: “Lúc còn sinh thời, Linh mục Nguyễn Văn Lập tính tình hào hiệp, độ lượng cao cả, với một trí óc cực kỳ thông minh” … “Những người nào đã giảng dạy tại Viện tất không thể quên được hình ảnh của một vị Viện trưởng, tuy tuổi cao, đầu bạc, nhưng cực kỳ nhũn nhặn và khéo léo. Chưa từng bao giờ để mất lòng ai.”
 
     – Giáo sư Trần Long nhận xét rằng: “Cha có tài hùng biện” …”tôi đã học được nhiều ở nơi Cha về lối tín nhiệm và ủy quyền cho các nhân viên thuộc hạ. Tôi mãi mãi nhớ ơn cha Lập”…
 
     – Giáo Sư Lê Hữu Mục lên tiếng ca ngợi: “Về tài lãnh đạo của Cha Lập, ai cũng thấy là tuyệt luân. Nói như Lão Tử, ngài vô vi, nghĩa là ngài điều khiển mà như không điều khiển”.
 
     – Giáo Sư Nguyễn Văn Thạch tâm tình: “Ấn tượng sâu đậm Cha để lại nơi tôi là lối ăn nói nhẹ nhàng và cách đón tiếp ân cần của Cha, phản ảnh của một tâm hồn đơn sơ, hiền hậu và như luôn có một niềm vui và tin tưởng vào mọi người, vào mọi sự ở trong Cha”.
 
     – Giáo Sư Vương Văn Bắc ca tụng “Một thái độ tinh thần đáng ghi nhớ” của Cha Lập: “Tôi có thể xác quyết không một chút dè dặt nào là chưa bao giờ Linh mục Viện trưởng Nguyễn Văn Lập tìm cách chỉ thị, kiểm soát, gợi ý hay ảnh hưởng đến nội dung hay cung cách diễn giảng của tôi trong giảng đường. Linh mục đã tuyệt đối tôn trọng tự do tư tưởng của người giảng dạy, chắc chẳng vì lòng tín nhiệm một cá nhân mà vì ý thức sâu sắc rằng tự do tư tưởng chính là bản chất tinh túy, là động lực vạn năng của ngành đại học”.
 
KHÔNG KỲ THỊ TÔN GIÁO
 

     – Giáo sư Nguyễn Khắc Dương nhắc lại lời Cha Lập từng nói với ông: “Khi mời một giáo sư, giữa hai vị mà chuyên môn và tư cách ngang nhau, tôi có xu hướng mời giáo dân hơn là linh mục hoặc tu sĩ, một người ngoài kitô giáo hơn là một người công giáo. Như vậy để giữ tính cách ‘không tuyên giáo’ của nền học vấn nhân bản”. Giáo sư nhấn mạnh thêm: “Điều làm tôi sở đắc nhất là Cha Lập là người đã góp phần chủ yếu trong cái tự trị (đương nhiên là tương đối) của Viện Đại Học Dalat.”… Cha Lập không “biến nó thành một công cụ tuyên truyền cho bất cứ gì: kể cả truyền giáo cũng không!”
 
     – Giáo sư Lê Hữu Mục vẽ lại chân dung Cha Lập là: “…một vị viện trưởng không kỳ thị, ‘No discrimination’ là khẩu hiệu của ngài. Không bao giờ ngài phân biệt giáo lương… Có khi ngài lại tỏ ra ‘thiên vị’ người lương là đằng khác…” Giáo sư không quên một kỷ niệm về sự cởi mở của Cha Lập: “Tôi đã hướng dẫn sinh viên Đại Học Sư Phạm lên nghỉ hè tại Đại Học Dalat. Chúng tôi đã xây một pháp luân trên một ngọn đồi. Ngài đã cho xây thêm một vài kiến trúc phụ để biến khu này thành một công viên nhỏ rất ngoạn mục. Mỗi lần lên dạy học, đi qua khu vực này, tôi lại thán phục tinh thần tôn giáo rất tốt đẹp của cha Viện Trưởng”. Cái bánh xe Pháp của Phật giáo này quả có nhiều ý nghĩa trong khuôn viên Viện.
 
MỘT TẤM LÒNG VỊ THA NHÂN ÁI
 

     – Giáo sư Trần Long viết một bài lấy tiêu đề là “Hiện thân của lòng nhân” trong đó giáo sư phát biểu là: “Tôi rất kính phục Cha vì lòng rộng lượng đối với sinh viên nghèo khó và những người túng thiếu cần sự giúp đỡ” … “Cha Lập là một tấm gương sáng về lòng nhân ái vị tha giúp đỡ những kẻ khốn cùng”.
 
     – Giáo Sư Lê Văn xác nhận thêm: “Cha rất thương sinh viên nghèo, hằng giúp đỡ rất nhiều về phương diện vật chất, nhưng đến lúc thi cử thì Cha nhất thiết không can thiệp với hội đồng để vớt người này hay cho thêm điểm người khác. Điều này khiến tôi càng quý mến Cha hơn nữa”.
 
XƯA VÀ NAY
 

     – Giáo Sư Hoàng Ngọc Thành kể lại chuyện cũ. Năm 1956 khi ông đang dạy học tại Huế thì: “…có nhân viên văn phòng đến lớp mời lên gặp soeur bề trên. Tôi liền đến văn phòng soeur hiệu trưởng. Trong văn phòng ngoài soeur hiệu trưởng có một vị tu sĩ mặc áo đen, cao ráo và phương phi đẹp trai. Tôi được giới thiệu đấy là Linh Mục Nguyễn Văn Lập, hiệu trưởng trường trung học tư thục Bình Minh”. Rồi đôi bên xa cách nhau 12 năm. Vào năm 1968 giáo sư kể tiếp: “Tôi vui mừng gặp Cha Lập trở lại. Cha cũng rất hân hoan gặp lại tôi lần đầu tôi lên dạy tại Đại Học Dalat. Tay bắt mặt mừng… Tôi thấy Cha phương phi và bắt đầu có ‘bụng’ vì mập”. Giáo sư  kể tiếp là khoảng năm 1979 hay 1980 “hai vợ chồng chúng tôi có đi xe lam lên nhà thờ Bình Triệu thăm Cha. Chúng tôi đã nói chuyện khá lâu, có tặng Cha một số tiền nhỏ. Khi đi về cha tiễn khá xa.”
 
     – Giáo sư Lê Hữu Mục kể chuyện về Cha Lập khoảng năm 1952 rằng: “Ngài rất đẹp trai với làn da trắng mát, môi lúc nào cũng đỏ thắm như ăn trầu (không như môi các cô có bôi son), miệng hay cười tủm tỉm nhưng cũng đủ để lộ ra một làn da trắng nõn. Chúng tôi thường ví Cha như Clark Gable trong phim Autant en emporte le vent (Cuốn theo chiều gió) nhưng là một Clark Gable không ria. Giọng ngài không mạnh lắm, Ngài hát không hay, nhưng ngài có biệt tài kể chuyện”.
 
     – Giáo sư Phó Bá Long cho rằng các hoạt động của Cha Lập từ trước cho tới nay luôn là một tấm gương sáng: “Từ đó đến nay, mỗi lần về nước hầu như hàng năm, tôi đều có dịp thăm hỏi cha Lập và lại học được cách ‘nghỉ hưu’ của Cha trong những năm cuối của cuộc đời”.
 
     – Giáo Sư Lê Xuân Khoa kể lại chuyến về nước và có dịp ghé thăm Cha Lập sau ba mươi năm xa cách: “Cuộc ‘hội ngộ’ thật là thân tình và cảm động. Cha Lập đã ngồi chờ sẵn trong phòng khách của nhà thờ khi có người đưa tôi vào. Chúng tôi bắt tay nhau bằng cả hai bàn tay và Cha rất xúc động khi tôi ôm chặt lấy Cha một lúc lâu. Tôi thấy Cha ốm đi và già hơn nhiều so với hồi còn ở Dalat, nhưng sức khỏe còn tốt và giọng nói vẫn còn sang sảng”
 
     – Cuối cùng tôi dành lại nơi đây để đặc biệt đề cập đến một sự kiện mà tôi nghĩ là “thật tuyệt vời” trong cung cách của Cha Lập do Giáo sư Lê Hữu Mục nhắc lại: “Với Chúa Kitô được tôn thờ như một kiểu mẫu, Cha Lập cư xử với mọi người như một người Cha hiền lành, nhân từ. Với các giáo dân, Ngài là một Chủ Chiên đã hy sinh vì đàn chiên. Ngài không di cư, không di tản khi đàn chiên của Ngài bị đe dọa về an sinh, về đời sống. Điều này chính Ngài đã thổ lộ với tôi…” Giáo sư nhấn mạnh thêm rằng: “Gần một nửa thế kỷ sống bên cạnh Ngài, được chứng kiến những việc làm và những tính tốt có thể nói là siêu phàm”.
 
VĨNH BIỆT GIA TRƯỞNG
 

     Tôi đã lược ghi lại một số những kỷ niệm và tâm tư tình cảm của các cựu giáo sư Viện Đại Học Đà Lạt dành cho cha Lập, đa số là các vị đều từ nơi khác tới xứ hoa đào.     
     Riêng phần tôi thì gia đình tôi cư ngụ ngay tại thành phố Đà Lạt và tôi có hân hạnh cộng tác trong ban giảng huấn của Viện dưới thời hai Khoa Trưởng của phân khoa Chính Trị Kinh Doanh từ khoảng năm 1966 tới năm 1975 là Giáo sư Trần Long và Giáo sư Phó Bá Long. Những hình ảnh và kỷ niệm về Cha Lập của các giáo sư khác hầu như cũng ghi đậm nét trong cõi lòng tôi như vậy. Thật đẹp! Thật quý hóa! Thật đáng nhớ!
     Nhưng có lẽ không phải chỉ có vậy mà thôi. Rất tiếc là nhiều vị giáo sư đã qua đời trước Cha Lập. Nhiều vị khác chưa có dịp phát biểu cảm tưởng của mình và nhất là chưa có cơ hội góp mặt trong cuốn sách tưởng niệm Cha Lập. Tâm tư và tình cảm của quý vị đó chắc chắn còn đa dạng hơn nữa… Là một phật tử tôi quan niệm cuộc đời là ‘vô thường’. Có chi lạ đâu! Cha Lê Văn Lý (thay thế Cha Lập làm Viện Trưởng về sau này) cũng thường nói với các sinh viên của Viện rằng ‘mọi sự đều là giả trá’. Ý Cha muốn nói là không vĩnh cửu, không thật, không trường tồn!
     Nhớ đến cái vẻ đẹp mong manh của sương mù đất Lâm Viên giăng phủ nơi cây thánh giá trên nóc giáo đường của Viện Đại Học thuở nào tôi chỉ xin ghi lại đây một bài thơ họa của tôi. Tôi họa thơ của một cựu sinh viên tưởng niệm đến Cha.

   Bài xướng:

Tiễn Cha

Cuối cùng Cha cũng đã ra đi
Đau đớn đàn con biết nói chi.
Chín chục tuổi trần, đời mãi nhớ,
Sáu mươi năm thánh, Chúa luôn ghi.
Lâm Viên Trường cũ buồn xa cách,
Bình Triệu xóm nghèo khóc biệt ly.
Dẫu biết Cha về nơi cõi phúc,
Nhưng sao nước mắt vẫn tràn mi.
                                                

Trần Văn Lương
 
   Bài họa (nguyên vận)

 Tiễn Cha

Kiếp người ai cũng một lần đi
Quy luật ngàn năm chẳng lạ chi
Khi ở tiếng đời luôn vẫn nhắc
Lúc về bia đá mãi còn ghi,
Xưa nơi Đà Lạt vừa xum họp
Giờ chốn Thành Đô đã cách ly
Trần thế dù hay là cõi tạm
Tiễn Cha lệ vẫn ứa bờ mi.

Ngô Tằng Giao
 
     – Và có lẽ lời sau đây của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có thể coi như là lời chung của toàn thể các cựu giáo sư của Viện nhớ về Linh Mục Nguyễn Văn Lập, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt: “Giờ đây Đức Ông Nguyễn Văn Lập đã vĩnh biệt chúng ta. Trong niềm thương tiếc một vị Gia Trưởng từ nay vắng bóng, tôi xin kính cẩn cầu nguyện anh linh Ngài được hưởng An Bình nơi nước Chúa”.

          (Giáo Sư NGÔ TẰNG GIAO / 1-6-2003)

* Hôm nay là Rằm Tháng 8 Âm lịch (nhằm ngày 21.9.20121) tức là ngày Tết Trung Thu (仲 秋) hay Tết Nhi Đồng. Đọc lại 2 bài hồi ký của GS Ngô Tằng Giao về Cha Lập, lòng tui bồi hồi xúc động, tưởng nhớ đến vị Cha già nhân hậu, từ thiện, luôn cho nhiều hơn nhận…

 Chỉ còn khoảng 2 tháng nữa là đúng 20 năm ngày Cha từ bỏ trần gian điên dại này để lên Thiên Đàng, vui hưởng bình an, tĩnh lặng. Các quý Cha, quý Thầy thuộc VDH Dalat đã dành những lời lẽ đẹp đẻ để khen ngợi, ca tụng Cha. Đối với riêng tui, từ lâu Cha Lập chính là hình ảnh Đức Phật Di Lặc với nụ cười luôn nở trên môi, với giọng nói trầm ấm, bao dung, thân thiết…

Còn nhớ khoảng 2 năm trước ngày Cha Lập rời xa dương thế, trong dịp đến Lễ Phật ở Chùa Bạch Y Quan Âm(Byakui Kannon Otera) ở Tỉnh Gunma, tui đã kể sơ lược về Cha với vị sư trụ trì, đặc biệt nhấn mạnh ưu điểm là Ngài(Cha Lập) không bao giờ phân biệt Tôn giáo, vị sư đã vỗ tay khen ngợi đức hạnh của Cha và nói thêm: “Thiệt là may mắn cho những ai đã được gần bên Cha !”

Mong linh hồn Cha luôn An Vui nơi Nước Trời vinh hiển. 

TNK3 (Thái Minh Thông).

Vài hình ảnh của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Tui thấy ở Miền Nam hồi trước 1975, giáo chức đạo mạo mô phạm lắm, đối với chính quyền thì giữ được tự trọng tự chủ trong giáo nghiệp, đối với dân chúng thì hòa nhã lịch thiệp trong giao tiếp, nói chung là không “thượng đội hạ đạp”, “nịnh trên nạt dưới” …

 Những bệnh… vô duyên!

 Những bệnh… vô duyên!

Bác sĩ Ðỗ Hồng Ngọc:

“Một thầy thuốc, một nhà báo, một hoạ sĩ, một nhà thơ …”

        – CVA-61, tốt nghiệp Ðại học Y khoa Sài gòn (khóa 1962 – 1969) với văn bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia.

– Trước 1975 đảm nhiệm trách nhiệm BS Trưởng phòng cấp cứu tại BV-Nhi Ðồng Sai-gon.

– Là một thầy thuốc, đồng thời cũng là người cầm bút làm thơ, viết sách, tác giả của nhiều bài báo duyên dáng, dí dỏm, sâu sắc, ấn tượng – như một nhà văn, nhà báo thực thụ. Ðược biết, ông còn có những bức minh họa rất tài hoa …

– Càng về sau này, những trang viết của ông càng đi sâu vào chữ “thiền”, vào triết luận, ông đã nghĩ bằng trái tim, thay vì bằng đầu óc nhìn thiền dưới góc độ của một người thầy thuốc, một nhà “khoa học thực nghiệm”, không có chuyện huyền bí, mê tín dị đoan ở đây.

– Là một thầy thuốc không chỉ giỏi chữa bệnh về thể chất, nhưng dường như BS ÐH-Ngọc còn chứng tỏ một khả năng rất giỏi về chữa trị tâm bệnh – những bệnh về tinh thần – cho rất nhiều người, cho cộng đồng, nhưng lại rất ít nghe ông bày tỏ những chuyện riêng tư, những góc khuất trong tâm hồn của chính mình.

– Nhà thơ Ðỗ Trung Quân đã có nhận xét về Bs Ðỗ Hồng Ngọc như sau:

“Ðỗ Hồng Ngọc làm thầy thuốc để chữa bệnh cho người còn làm thơ là để chữa bệnh cho mình”.

     * Trân trọng chuyển bài viết sau đây của Bs Ðỗ Hồng Ngọc để quý vị và các bạn TUỲ NGHI. (Những dòng chữ được Highligh chỉ là sự chú ý riêng của người chuyển).

============ ========= ========= ========= ==

NHỮNG BỆNH… VÔ DUYÊN!

Bác sĩ  Ðỗ Hồng Ngọc

         Tuy già không phải là một bệnh nhưng già thì thường có bệnh. Bệnh thì có bệnh nặng, bệnh nhẹ, bệnh có duyên và bệnh… vô duyên. Ai cũng biết thầy thuốc là người được học hành cẩn thận để giúp ta chữa trị bệnh tật, vậy mà thầy thuốc cũng có thể gây bệnh cho ta, dù là ngoài ý muốn, cái đó gọi là bệnh do thầy thuốc gây ra (iatrogenic) mà theo GS. Phạm Khuê, một chuyên gia về Lão khoa, Chủ tịch Hội người cao tuổi Việt Nam thì có đến hơn một phần tư các bệnh ở người già là do thầy thuốc gây ra! (Bệnh học tuổi già, Phạm Khuê, NXB Y Học, 1998, trang 364).

        Những bệnh… vô duyên còn có thể do chính bản thân mình, người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, hoặc các nhân viên tâm lý xã hội gây ra nữa! Bà cô của một bác sĩ bạn tôi trên 80 tuổi kêu lúc nào trong người cũng nóng bức, miệng khô nên đã mua rễ tranh, mía lau, mã đề ngoài chợ về nấu “nước mát” uống. Mát đâu không thấy, thấy đi tiểu liên tục gây thêm tình trạng mất nước trong cơ thể, lại thấy nóng bức, thấy khô miệng, lại uống thêm “nước mát”! Thì ra “rễ tranh, mía lau, mã đề” là những loại thuốc lợi tiểu (diuretics).

Một ông bác gầy còm nghe hàng xóm bày vẽ có loại tễ mập, bèn mua uống mấy cây. Mập thiệt! Nhưng người béo bệu, cơ thể bạc nhược! Thì ra, thuốc tễ đó chỉ là bột mì trộn với mật ong và Corticoil, một thứ thuốc uống vào lâu ngày gây hội chứng Cushing, ứ nước, làm mập bệu và gây ra vô số những tác dụng tai hại khác như giảm sức đề kháng, mọc lông, loãng xương, loét bao tử, cao huyết áp…

Ta cũng biết thuốc chữa đau khớp có thể gây loét dạ dày; thuốc điều trị cao huyết áp có thể gây hạ huyết áp đột ngột; thuốc trị tiểu đường làm hạ đường huyết; thuốc uống cho đỡ bị đái són ở người già thì gây khô miệng, đỏ da, mờ mắt, chóng mặt…

Một đặc điểm sinh học của người cao tuổi là khả năng thích ứng dần kém đi. Hấp thu thuốc đã chậm mà đào thải cũng chậm. Tác dụng phụ của thuốc lại thiên hình vạn trạng, tùy từng người, từng lúc, có thuốc người này dùng thì tốt mà bày cho người khác không xong, uống vào bị phản ứng ngay.

Cho nên dùng thuốc ở người già phải dò dẫm trên từng trường hợp, giảm liều, giảm lượng, đắn đo tính toán trước sau, nào bệnh trước mắt, nào bệnh tiềm tàng; thuốc chữa được bệnh này nhưng có gây ra bệnh khác không, có làm bộc phát một bệnh cũ nào đó không, người bệnh ăn uống ra sao, tiêu tiểu ra sao và trạng thái tâm thần ra sao?

Người cao tuổi cũng thường hay tự ý gia giảm thuốc, tin lời bày vẽ, ai mách gì cũng nghe, gây tương tác thuốc lung tung rất dễ sinh ra nhiều bệnh…. vô duyên đáng tiếc.

Ngày càng có nhiều máy móc xét nghiệm và một số người cao tuổi cũng thường muốn được xét nghiệm này nọ.

Báo Paris Match của Pháp có đăng trường hợp một bà già bị rối loạn tiêu hóa đến khám ở một bác sĩ. Bác sĩ thấy không có gì nặng nhưng cũng gởi cụ làm thêm vài xét nghiệm cho chắc. Sau đó, bà cụ được tiếp tục làm thêm hàng loạt các xét nghiệm khác ngày càng phức tạp hơn vì xét nghiệm đơn giản không tìm ra bệnh: Siêu âm, nội soi, sinh thiết, chụp cắt lớp, chụp cản quang mạc treo…

Sau hơn một tháng chuyển từ trung tâm này đến bệnh viện kia, nằm đợi trên những băng ca lạnh lẽo, đẩy từ hành lang này sang hành lang khác, tiếp xúc với những người mang khẩu trang chỉ chừa đôi mắt lạnh lùng, bà cụ rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý trầm trọng và tiêu tốn mất 35 ngàn quan Pháp.

Cuối cùng các bác sĩ hội chẩn kết luận không có bệnh gì cả!

Tây gọi những người sính xét nghiệm là “examinite”.

Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) cũng cảnh báo hiện tượng over – investigation, “thăm dò quá mức cần thiết” này (Health of the Elderly, WHO, 1989). 
Một số người cao tuổi được chăm sóc bảo bọc quá đáng, được làm xét nghiệm thăm dò, theo dõi liên tục làm cho người bệnh muốn… hết bệnh cũng không được; không kể trong quá trình thăm dò, chọc hút, bơm tiêm, thụt tháo… không phải là không có nguy cơ.

Dĩ nhiên nếu có bệnh thì cần phải làm để có chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả. Còn thăm dò chỉ để… thăm dò thì không nên. Các chuyên gia khuyên chỉ nên làm xét nghiệm cho người già khi nhằm để chẩn đoán một thứ bệnh có thể chữa được, có thể phục hồi được, có lợi cho người bệnh hoặc để chẩn đoán phân biệt tìm ra một bệnh có tiên lượng tốt hơn, điều trị có kết quả hơn, có lợi cho bệnh nhân và gia đình hơn mà thôi. Tóm lại, biết ơn mình thì cần thiết lắm mới phải làm xét nghiệm và phải có chỉ định của bác sĩ.

       Thế nhưng có thứ không phải là thuốc, không phải là thủ thuật gì cả mà vẫn có thể gây ra những bệnh vô duyên: đó là lời nói!

Có những lời nói gây hoang mang, lo lắng, làm mất ăn mất ngủ, gây kiêng cữ quá đáng làm cho tình trạng bệnh khó phục hồi hơn. Cái đó gọi là sự “dán nhãn” (labelling). Chẳng hạn như người không có chuyên môn, không đủ cơ sở khoa học chắc chắn mà “phán” cho một cái chẩn đoán kiểu như “nghi ung thư”, “hơi bị lớn tim”, hoặc một từ mơ hồ như “máu có mỡ, gan nhiễm mỡ, viêm nhiễm phần phụ, rối loạn thần kinh thực vật”… hoặc “bị bùa chú thư ếm, bị người cõi trên nhập….” đều đem lại những kết quả tai hại không thể ngờ được!

Ngay cả bị dán nhãn là già cả, già nua, già yếu, mất sức rồi bị ép phải nằm yên một chỗ, lúc nào cũng có người nâng đỡ chăm sóc thì sẽ ngày càng lệ thuộc, ngày càng suy nhược, mau loãng xương, bắp cơ thoái hóa, cứng khớp nhanh.

Ðáng sợ hơn cả là bị ép phải vào nằm bênh viện, nằm nhà thương, nhà dưỡng lão, nhà nghỉ mất sức… khi vẫn còn có thể tự quản được. Thật ra đây chỉ là giải pháp cuối cùng vì một khi đã vào các cơ sở này rồi thì không hy vọng gì trở lại đời sống bình thường được nữa vì càng ngày càng thụ động, ỷ lại, lệ thuộc, suy sụp.

Các cơ sở chăm sóc cho người già thực ra rất cần thiết, miễn là phải giữ một số nguyên tắc như bao đảm sự riêng tư, tôn trọng cá nhân, giúp tự chủ, tự quản, và tạo nhiều cơ hội cho họ tham gia sinh hoạt phù hợp với sở thích và sức khỏe.

Tóm lại, không nên để người cao tuổi mắc thêm những bệnh… vô duyên!

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Đại nghiệp của tỷ phú Jack Ma sẽ bị thủ tiêu trong tương lai?

Đại nghiệp của tỷ phú Jack Ma sẽ bị thủ tiêu trong tương lai?

12/09/2021 ~ TUẤN KHANH

Khôn ngoan và và tham vọng, Jack Ma đã tự dựng nên một trong những đế chế kinh doanh lớn nhất Trung Quốc từ con số không, tạo ra hàng tỷ đô la của cải và giới thiệu cuộc sống đổi mới kỹ thuật số cho hàng trăm triệu người Trung Quốc. Dĩ nhiên Jack Ma không phải kiểu người như Jeff Bezos, Elon Musk hay Bill Gates của Trung Quốc. Nhưng sau cú vươn vai và giàu có ấy, Jack Ma trở thành đồng nghiệp, sánh vai cùng những người đó.

Thế nhưng giờ đây, ông ta đã biến mất gần như hoàn toàn khỏi tầm nhìn của công chúng ở Trung Quốc, Thật kỳ lạ. Những gì thuộc về Jack Ma từng được báo chí nhà nước ca ngợi không ngừng, coi là động lực hữu ích để Trung Quốc bắt kịp phương Tây, nay lại được báo chí trở mặt, đúc kết lại như một mối đe dọa đối với Đảng Cộng sản cầm quyền.

Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ, đang viết lại các quy tắc kinh doanh cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Theo những người hiểu ông Tập, đã nhận định rằng hậu quả hiện thời, do Jack Ma đã không bắt kịp với những quan điểm chính trị đang thay đổi của Bắc Kinh. Có người bình luận rằng trong ảo mộng về một thứ tự do không có thật ở đế quốc cộng sản, Jack Ma quên, và cư xử giống một doanh nhân Mỹ.

Jack Ma đột nhiên mất dần khỏi sân khấu thế giới cũng như tại quê nhà, sau một vài phát biểu thẳng thắn, kể từ tháng 10-2020. Ông ta lên tiếng chỉ trích các cơ quan quản lý Trung Quốc vì đã kìm hãm sự đổi mới tài chính. Có vẻ đó là những nhận định trở thành nguy hiểm, nhất là khi Ma đang trở thành một hình mẫu thần tượng của hàng trăm triệu người ở Trung Quốc. Tập Cận Bình đã đích thân can thiệp vài ngày sau đó để chặn đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng kỷ lục trị giá hơn 34 tỷ đô la của Ant Group, công ty công nghệ tài chính đầu não của Jack Ma. Kể từ đó, Ant Group buộc phải cơ cấu lại hoạt động kinh doanh của mình, khiến các nhân viên và nhà đầu tư của công ty rơi vào tình trạng lơ lửng, không biết số phận của mình rồi sẽ ra sao.

Từ đầu năm nay, Bắc Kinh đã ra tay đàn áp khu vực giới tài chính tư nhân của Trung Quốc, trong đó nổi bật là phạt tiền và tiến hành các cuộc điều tra nhằm buộc các công ty của ông Ma, cũng như các công ty cho thuê xe Didi Global Inc. và chủ sở hữu của TikTok là ByteDance Ltd., buộc các nơi này phải tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định lợi ích chính trị từ nhà nước ban hành. Các công ty ấy, hiện nắm giữ rất nhiều vốn và dữ liệu người dùng, đã phát triển quá mức để kiểm soát, khiến Bắc Kinh lo ngại.

Ông Jack Ma, chỉ mới 56 tuổi, nhưng lại có quá nhiều chuyến đi cá nhân gặp gỡ các nhà lãnh đạo thế giới, chỉ để chơi golf hay trò chuyện về triết học Trung Hoa. Phong thái của Jack Ma bắt đầu giống như một lãnh tụ ở tầm quốc tế khi thuê họa sĩ riêng để học vẽ sơn dầu, phong cách trừu tượng, rồi cả học hát. Điều đáng nói, trong các công việc của Jack Ma, ông ta cũng có những chuyến lui tới Bắc Kinh để dàn xếp nhiều thứ cao hơn chuyện kinh doanh bình thường. Các quan chức giấu tên nói cho biết là Ma đã đi lạc quá xa khỏi làn đường của mình rồi. Tham vọng và bản tính thoải mái bộc lộ của ông, trở thành những đặc điểm thu hút sự theo dõi mạnh mẽ của nhiều người ở Trung Quốc. Nhưng yếu tố đó, nay sẽ không còn được dung thứ trong vòng tay siết chặt của ông Tập và đảng cầm quyền.

Việc Jack Ma bị “trừng phạt” bởi đảng Cộng sản Trung Quốc, có vẻ không còn là chuyện hình sự hay sai sót bình thường, tờ Washington Post từng thử gửi thư đặt câu hỏi với các cơ quan chính phủ Trung Quốc liên quan đến việc quản lý các công ty của ông Ma, bao gồm Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Ủy ban Quản lý Ngân hàng và Bảo hiểm Trung Quốc và Cục Quản lý Nhà nước về Quy chế Thị trường… nhưng không có nơi nào trả lời yêu cầu bình luận. Văn phòng thông tin của Quốc vụ viện, Nội các Trung Quốc cũng không trả lời các câu hỏi bằng văn bản.

Những nhà bình luận thời sự nói lẽ ra, Jack Ma chỉ nên tập trung vào việc “ủng hộ Đảng thay vì chỉ tập trung vào lợi ích của riêng mình”. Một quan chức Bắc Kinh cũng xác nhận điều này. Đây thật sự là một bài học của những người làm giàu trong chế độ cộng sản: Phải luôn biết cách tạo ra một hình ảnh khiêm tốn hơn đảng cầm quyền, và phải luôn giữ một cách sống ít bị chú ý nhất. Thường thì giới tư bản đỏ vẫn hay thể hiện điều đó bằng cách luôn ra mặt hỗ trợ các doanh nghiệp chính phủ, nói như vẹt về chính trị và chia sẻ nhiều lợi nhuận hơn của công ty với các hoạt động xã hội.

Những người bênh vực Jack Ma nói rằng ông ta đang bị trừng phạt cũng vì hành động hay bỏ tiền ra cho các tập đoàn công nghệ, kinh tế phương Tây – như một cách thúc đẩy đổi mới, tìm kiếm sự thống trị thị trường, tạo ra sản phẩm mới, vận động hành lang để nới lỏng quy định và kiếm tiền. Tuy đây là cách làm hợp lý và sự năng động đã dẫn đến sự thành công của Ant và gã khổng lồ thương mại điện tử Alibaba Group Holding Ltd.

Một người quen thuộc với quan điểm của ông Tập cho biết nhà lãnh đạo đầy quyền lực này “chắc chắn không vui” với một công dân của mình, như Jack Ma, lại được Tổng thống Barack Obama mời tới một bữa trưa riêng tại Nhà Trắng ở Washington, trò chuyện riêng về thương mại điện tử với Tổng thống Pháp François Hollande tại Điện Élysée ở Paris.

Đầu năm 2017, ông Ma lại gặp gỡ Tổng thống đắc cử Donald Trump. Khung hình trực tiếp cho thấy cả hai bước vào sảnh Trump Tower ở Manhattan, và ông Trump ca ngợi vị khách của mình là “một doanh nhân vĩ đại, vĩ đại”.

Vào sinh nhật lần thứ 18 của tập đoàn Alibaba năm đó, Jack Ma đã hóa trang thành Michael Jackson và nhảy theo bài hát “Billie Jean” trước khoảng 40.000 nhân viên, một màn trình diễn được hàng triệu người xem trên YouTube – điều làm cho các quan chức tuyên giáo của Trung Quốc phải cau mày, và có thể tự hỏi vì sao cuộc vui đó không phải là hình ảnh của Tôn Ngộ Không.

Hình ảnh của Jack Ma ở nước ngoài càng khởi sắc bao nhiêu, thì cổ phiếu của ông ở quê nhà lại sụt giảm. Những thư từ gợi ý của Ma tới lãnh đạo Trung Quốc thông qua một văn phòng trong Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản bắt đầu không có hồi âm. Sự lạnh nhạt bắt đầu từ năm ngoái, và Ant Group, công ty công nghệ tài chính của của Jack Ma bắt đầu có hồ sơ báo cáo mật trên bàn của nhiều lãnh đạo, bao gồm cả công an.

Các quan chức Trung Quốc đã báo cáo khẩn về sự cần thiết phải quản lý các rủi ro tài chính tiềm ẩn từ các hệ thống tư nhân, mà Ant Group là một trong những ví dụ. Chính quyền cũng tìm cách ngăn cản các tỷ phú và những nhân vật quyền lực khác đầu tư vào Ant, thậm chí ngăn cản nguồn tiền lớn tham gia vào nỗ lực quản lý Ant Group.

Ngay cả việc Ant Group tham gia sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải với mã số 688688, một bộ số đặc biệt tốt lành trong văn hóa Trung Quốc, cũng khiến không ít người quyền lực khó chịu, bởi đó được coi là một dấu hiệu cho thấy sức mạnh bao trùm của Ma.

Trước những bài phát biểu hồi tháng 10 của ông Ma, nhằm vào việc chỉ trích các cơ quan quản lý, Jack Ma đã tuyên bố riêng với các nhân viên rằng ông có kế hoạch phát triển mà cũng sẽ chẳng cần phải dựa dẫm gì vào chính quyền. Lập tức báo cáo về chuyện này đã được gửi đi nhiều nơi. Với công an, và đảng Cộng sản Trung Quốc, đó chính là biểu hiện đe dọa nền kinh tế Trung Quốc. Ông Tập đã lạnh lùng tự tay cắt bỏ các hồ sơ xin phát triển của Ant Group mà không buồn nói dông dài lý do. Chuyến đi lên đỉnh của ông Ma đã bắt đầu kết thúc.

Câu chuyện của Jack Ma rõ là một bài học – nhưng cũng là lời cảnh báo với tất cả những tay tư bản đỏ trong chế độ cộng sản: Nhà nước độc tài chỉ muốn có các nhà lãnh đạo doanh nhân tỷ phú sánh ngang với đỉnh cao của các huyền thoại công nghệ của Mỹ hay thế giới để nở mày nở mặt cho chính quyền. Nhưng cứ vươn cao quá trong đất nước, sớm muộn gì họ cũng sẽ trở thành cái gai trong mắt giới lãnh đạo tối cao.

(tổng hợp từ Washington Post, Guardian)

Ngỗng Canada

 Ngỗng Canada

(Hien Pham Facebook)

Bài PHẠM HIỀN

Ngày đó mới về nông trại ở, thấy cái gì hay con gì cũng ngắm.

Hãng cho làm ở nhà, giờ giấc không cần thiết phải theo giờ hành chính nhưng phải hoàn tất project đúng kỳ hạn. Mình tranh thủ làm nên có nhiều thời giờ rảnh để ngắm.

Buổi chiều nọ đi lại một gốc bụi cây thì thấy con ngỗng Canada đang nằm trong tổ. Mình lại gần nên nó bay đi. Nhìn vào tổ thấy có ba trứng ngỗng to nên cầm ra ngoài khoe. Sau đó bỏ trứng lại nhưng con ngỗng không bay về tổ nữa. Sau này mình mới biết ngỗng mẹ ngửi mùi tay người là nó bỏ. Buộc mình phải đem trứng bỏ trong lò ấp. Khi nở ra thì chỉ có hai con. Còn một trứng thì bị hư.

Từ đó mình làm mẹ ngỗng Canada. Lúc nào cũng để nó theo mình. Cặp đôi lớn như thổi lúc nào cũng quanh quẩn bên mình. Lớn xác nhưng chưa biết bay dù mình thấy hai đứa nó cũng có thân xác to bằng những con ngoài trời.

Rồi tháng ngày qua đi, con mình nó cũng biết bay. Mỗi lần thấy ngỗng trời bay đậu gần nhà thì mình bò theo để con mình nó ra gặp bà con cùng giống của nó. Biết đâu nó sẽ theo bầy. Mình quan niệm của thiên nhiên trả về thiên nhiên nếu hợp với hoàn cảnh ưa thích của nó. Cặp con mình cũng bay lại làm quen với bầy. Rồi một ngày cặp con của mình nó vỗ cánh theo bầy. Con nó lượn một vòng nhìn mình lần cuối rồi mất dần về hướng Bắc.

Nuôi hơn một năm trời, bắt từng con trùng, hái từng ngọn cỏ đút nó ăn nên tình cảm cũng dính liền với nó. Nhớ và thương nó nhiều.

Rồi tháng ngày bận rộn nên mình cũng quên, thì hai đứa con mình nó bay về. Hơi ngờ ngợ vì nó dẫn thêm năm con khác nữa (con của nó). Lúc đó mình mới biết hai con của mình là đực cái.

Hai đứa nó lại gần và để mình ôm nó vuốt ve nó. Tuyệt nhiên năm đứa con của nó đứng xa xa nhìn. Mình đem bắp cho hai đứa ăn nhưng con nó không ăn từ tay mình, ngay cả lúc mình giục bắp gần tụi nó, nhưng tụi nhỏ không ăn. Nó lòng vòng bay đi và về trong một tuần rồi bay mất.

Hàng năm vào cuối tháng 11 thì hai đứa nó về và dẫn theo một bầy ngỗng mỗi năm mỗi nhiều hơn. Cứ thế hai đứa ở nhà một tuần rồi mất dạng.

Mỗi năm mỗi về và năm thứ 14 thì về chỉ một con, nguyên đàn của nó chỉ bay lạng về ngày đầu rồi bay mất. Lính cảm cho mình biết là một đứa bị chết.

Mình bắt đầu đọc sách về loại ngỗng Canada. Loài này chỉ một vợ, một chồng. Nếu một trong hai con chết thì con kia sẽ không bao giờ tìm bạn tình. Trước khi chết bao giờ nó cũng về nơi nguyên thủy của nó.

Nó ở với mình một năm. Nó bay đi bay về và tối ngủ lại nhà. Rồi bỗng nhiên nó chỉ nằm trong tổ không bay đi đâu, mình đem cỏ tươi và nước nhưng nó không ăn. Được ba ngày như vậy thì mình tính đưa đi bác sĩ thú y. Mình nghĩ nó bệnh…. nhưng tối đó mình lại, nó chúi đầu vào lòng mình. Mình ôm nó thật lâu rồi mới vào nhà. Đêm đó nó qua đời , thọ 15 năm… không ngờ nó nhịn đói, khát để chết.

Buồn mấy tháng trời. Giờ mỗi lần thấy ngỗng Canada là nhớ nó.
Tuổi thọ của ngỗng Canada là 25 năm.
Nhớ con quá!

(Nguồn: Hien Pham Facebook. Tác giả ghi chi tiết trên Facebook là đã về hưu ở Arlington, Texas, từng làm kỹ sư tại hãng Fujitsu Americas, dạy toán ở đại học DeVry University.)

Nhắc lại lời cụ Trần Trọng Kim để đừng ai nhẹ dạ mà mắc lừa.

Nghia Bui

Nhân vụ “nguỵ quân, nguỵ quyền”, nhắc lại lời cụ Trần Trọng Kim để đừng ai nhẹ dạ mà mắc lừa.

“… Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì? Cứ như ý tôi, thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định, không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội, oan ức.

Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa. Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ. Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng. Như thế thì giải phóng ở đâu? Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người. Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v.v…thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù, mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần.

Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được. Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: ‘’Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ thuế’’. Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. Khi Việt Minh đã nắm quyền bính rồi, lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ: ‘’Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà ?’’ Họ trả lời: ‘’Ấy trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc’’. Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâu?

Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu ‘’nói như Vẹm’’. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt VM, đọc nhanh mà thành ra…”

-Trần Trọng Kim, “Một Cơn Gió Bụi” (1949)

May be an image of 1 person

LĂNG MỘ NGÔ QUYỀN

May be an image of outdoors and tree

LĂNG MỘ NGÔ QUYỀN.

Cái lăng bé nhỏ này chính là Lăng Ngô Quyền, vị vua đầu tiên đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938, giúp dân tộc ta kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc, giành nền độc lập.

Lăng của Ngài ở quê hương là làng Đường Lâm, Sơn Tây (Hà Nội), lăng có diện tích chỉ vài m2, có mái che chỉ cao 1,5 mét, bia đá được khắc thời Tự Đức, có ghi bốn chữ Hán “Tiền Ngô Vương lăng”. Ngài mất năm 944, hưởng dương 47 tuổi.

Hàng cây duối cổ thụ màu xanh biếc ở gần đó tương truyền là nơi xưa Ngài buộc ngựa chiến và voi chiến mỗi khi về làng. Những cọc gỗ mà Ngài cho quân lính đóng dưới lòng sông Bạch Đằng nay vẫn còn nguyên…

Một vị vua hào hùng như vậy, có tên tuổi ghi dấu đậm nét trong lịch sử Việt Nam mà chỉ an nghỉ trong một khoảnh đất nhỏ nơi làng quê. Nhưng uy danh của Ngài thì có ở khắp nơi trên đất Việt.

Đền thờ khiêm tốn của Ngô Quyền ở ngay trên đất Đường Lâm cũng đời đời được dân ta ngưỡng vọng và thờ phụng.

Tổ tiên ta thật khiêm cung, mà cũng đầy hiển hách. Không có lăng mộ, tượng đài nào là vĩnh cửu mà chỉ có lòng yêu mến, kính trọng của dân chúng là vĩnh cửu trường tồn…

Góc Nhìn An Nam.

Tôi đang thay đổi chủ yếu ở 12 điều dưới đây:

 Ha Nguyen  

Một bạn vừa tổ chức sinh nhật 70 tuổi, tôi hỏi người ấy có thay đổi không?

Người bạn trả lời: Tôi đang thay đổi chủ yếu ở 12 điều dưới đây:

  1. Trước đây tôi yêu bố mẹ, anh em, bà xã, con cái, bạn bè, giờ tôi bắt đầu yêu chính mình.
  2. Tôi đã hiểu ra mình không phải Thượng đế, mình không thể gánh nổi cả thế gian.
  3. Không mặc cả với những người bán rau bán cá nữa, trả thêm cho họ ít tiền không làm tôi nghèo túng, biết đâu số tiền đó lại góp phần nhỏ bé trong học phí của con cái của họ.
  4. Tôi không chờ lấy tiền thối lại khi đi taxi, tiền boa đó biết đâu đổi lại được một nụ cười, dù sao anh ta cũng sống vất vả hơn mình mà.
  5. Tôi không nói với các cụ rằng “câu chuyện này đã nghe nhiều lần rồi, biết rồi, nói mãi.” Hãy để các cụ thoải mái ôn lại kỷ niệm xưa và cảm thấy hạnh phúc.
  6. Tôi thôi không bắt lỗi khi người khác sai, bởi vì mình không có trách nhiệm làm cho họ trở nên hoàn hảo.
  7. Tôi luôn miệng khen tặng người khác, khiến người ta vui mình cũng được vui lây.
  8. Thôi không bận tâm những vết bẩn trên áo quần, dù sao nhân cách vẫn quan trọng hơn vẻ bên ngoài.
  9. Ngày càng xa lánh những kẻ xem thường mình, bởi có hay không có họ, giá trị thực của tôi cũng chẳng thay đổi.
  10. Không vì bảo vệ quan điểm của mình mà đánh mất tình bạn, hãy để mọi người cùng vui hơn là thoả mãn một mình.
  11. Tôi sẽ xem mỗi ngày là ngày cuối cùng của đời mình, trước sau gì ngày ấy cũng sẽ đến.
  12. Tôi luôn làm những gì mình yêu thích để tận hưởng cuộc sống, đó chính là trách nhiệm lớn nhất dành cho chính mình.

Lược dịch: Thomas Y

Cộng đồng Việt và chính sách dân sinh Hoa Kỳ

KHÔNG CHỈ CỘNG ĐỒNG VIỆT TẠI MỸ MÀ GẦN NHƯ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI, ĐẶC BIỆT TẠI ÚC. NƠI MÀ NHIỀU GIA ĐÌNH LÃNH ĐỦ MỌI LOẠI TIỀN TRỢ CẤP TỪ NGÀY ĐẶT CHÂN TỚI ÚC TỚI HÔM NAY… NHƯNG CÓ 2 HAY 3 CĂN NHÀ ĐỨNG TÊN MÌNH, TÊN CON, TÊN CHÁU…

***

Cộng đồng Việt và chính sách dân sinh Hoa Kỳ

Nhã Duy

Trên số báo Cal Matters vào ngày 19 tháng Tám 2019, dân biểu tiểu bang California Tyler Diệp thuộc đảng Cộng Hòa đã kể lại cùng ký giả Dan Morian rằng, “Tôi còn nhớ tấm chi phiếu trợ cấp cho chúng tôi là $800. $500 để trả tiền thuê nhà, $100 trả tiền vé máy bay và $200 tiền chợ. Tôi không nhớ có tem phiếu thực phẩm hay không nhưng có (nhận) trợ cấp xã hội và Medicare”.

Đến Mỹ năm 1991 lúc 8 tuổi, dân biểu Tyler Diệp trở thành Giám Đốc Sở Vệ Sinh thành phố Midway sau khi tốt nghiệp đại học, rồi nghị viên, Phó Thị Trưởng thành phố Westminster cho đến khi đắc cử vào Hạ Viện California vào năm 2018. Đó là một câu chuyện thăng tiến tiêu biểu khá phổ biến trong các gia đình tị nạn và di dân đến Mỹ trong vài thập niên qua, cách riêng là trong cộng đồng gốc Việt.

Nhắc đến câu chuyện của DB Tyler cùng vấn đề phúc lợi xã hội để thấy rằng, ông cùng gia đình cũng như phần lớn làn sóng người tị nạn gốc Việt cho đến các gia đình HO, ODP đến Mỹ, đã từng thụ hưởng những phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục trong những năm đầu tiên đến Mỹ rồi từng bước tạo dựng, đi lên và đáp trả, đạt được thành công trong nhiều lãnh vực khác nhau ra sao.

Theo như bài báo có tựa “More Vietnamese Immigrants Reaching End of Benefits” trên tờ Los Angeles Times vào năm 2003 khi California thay đổi luật trợ cấp CalWORKs trước đó, thì có đến 80 % số người trưởng thành nhận trợ cấp đã liên tục trên năm năm là thuộc cộng đồng Việt Nam, cho dù người Việt chỉ chiếm khoảng 5 % tại Quận Cam lúc bấy giờ.

Các chương trình phúc lợi xã hội sau này có phần giới hạn với những ràng buộc khác nhau nhưng với riêng cộng đồng gốc Việt thì số gia đình vẫn còn đang nhận phúc lợi xã hội là khá cao so với tỉ lệ chung tại Mỹ.

Theo số liệu từ Cục Dân Số Hoa Kỳ thì có khoảng 16 % hay 60,949 gia đình gốc Việt (theo American Community Survey- ACS 2018) bị xem thuộc nhóm nghèo khó trên giấy tờ để có thể đủ tiêu chuẩn hưởng một phần hay toàn bộ các chương trình phúc lợi xã hội.

Bảo rằng trên giấy tờ vì bên cạnh nhóm người Việt cao niên đang được hưởng chương trình SSI cho người già hay tàn tật, thì trên thực tế cần ghi nhận rằng, một số gia đình có nghề nghiệp tự do hay cơ sở thương mại tư nhân không khai báo thu nhập đầy đủ và thật sự vẫn có thể được xem là “nghèo khó” để được nhận trợ cấp tiền mặt (TANF), thực phẩm (SNAP, WIC), chương trình gia cư (Section hay y tế (Medicaid, CHIP hay Obamacare), giáo dục (Financial Aid – FAFSA). Đó là tình trạng khá phổ biến, dễ bắt gặp trong cộng đồng.

Chẳng những không phải đóng thuế thu nhập, hàng năm các gia đình này còn được cho thêm một khoảng tiền mặt khá lớn qua chương trình tín thuế EITC cho các gia đình có thu nhập thấp. Dù rằng, cộng đồng gốc Việt lại là nhóm sở hữu nhà với tỉ lệ 68 %, cao nhất so với tỉ lệ chung và bất cứ sắc dân nào (theo ACS 2019)

Đến Mỹ khi các đạo luật về phúc lợi xã hội đã ra đời nên nhiều người từng hay đang thụ hưởng những phúc lợi nói trên có lẽ không chú ý chúng đã có ra sao, lúc nào và những ai đã tranh đấu để mình được thừa hưởng. Tìm hiểu về điều này không chỉ để nhìn lại hành trình của mình trên đất Mỹ mà còn hiểu hơn về các chính sách liên đới đến các tuyên truyền chính trị ra sao.

Luân phiên điều hành và bổ sung cho nhau trong các chính sách quốc gia, nhìn chung thì đường hướng của hai đảng phái chính trị chính tại Hoa Kỳ không giới hạn ở một vài điểm chính yếu có thể kể ra. Nếu đảng Cộng Hòa thường thiên về quốc phòng, đối ngoại và kinh tế thị trường thì đảng Dân Chủ chú tâm vào các vấn đề dân sinh, cải tổ y tế, giáo dục. Đó là lý do hầu hết các đạo luật về an sinh xã hội hay chương trình phúc lợi xã hội nói trên thường được các dân biểu cùng đảng Dân Chủ đề xướng.

Như việc trợ cấp thực phẩm qua chương trình tem phiếu thực phẩm là do dân biểu Leonor Sullivan thuộc đảng Dân Chủ trình dự luật (H.R. 10222) và được quốc hội thông qua, ký thành sắc lịnh năm 1964 (Food Stamp Act on 1964) mà hiện nay được gọi là SNAP.

Năm 1965, chương trình trợ cấp y tế quan trọng nhất cho đến nay là Medicare và Medicaid ra đời, do dân biểu Wilbur Mills của đảng Dân Chủ trình dự luật (H.R. 6675). Hiện có khoảng 31.8 % người gốc Việt đang có bảo hiểm y tế các loại từ các chương trình chính phủ (theo ACS 2019).

Chương trình trợ cấp tiền mặt và y tế SSI (Supplemental Security Income) cho người già trên 65 tuổi hay người tàn tật được Tổng Trưởng Sở An Sinh Xã Hội là Robert M. Ball thuộc đảng Dân Chủ soạn thảo và trình quốc hội thông qua và ký thành luật vào năm 1972 (Public Law 92-603). Không có phúc lợi SSI này thì chắc chắn giới cao niên gốc Việt sẽ rất khó khăn khi không có thu nhập lẫn bảo hiểm y tế miễn phí cho tuổi già nhiều bịnh tật.

Về trợ giúp giáo dục thì những người đã quay lại trường lớp khi đến Mỹ ắt không quên chương trình hỗ trợ tài chính Pell Grant, được đặt theo tên Thượng Nghị Sĩ Claiborne Pell của đảng Dân Chủ đưa ra năm 1975 (S.2657). Đây là một trong những trợ giúp quan trọng bậc nhất để giúp những người tị nạn gốc Việt cùng con em mình có được thành công hôm nay thông qua con đường học vấn. Hiện nay chương trình này vẫn đang giúp cho vô số gia đình gốc Việt tiếp tục xin tiền học cho con cái mình dựa theo tình trạng thu nhập gia đình.

Một số chương trình quen thuộc và có nhiều người Việt thụ hưởng như TANF tiền mặt (hay CalWORKs tại California), CHIP, WIC… cũng đã ra đời dưới thời tổng thống Bill Clinton hoặc do các dân biểu đảng Dân Chủ đệ trình.

Kể từ sau chương trình cải tổ y tế Obamacare ra đời 10 năm trước cùng các ý định về miễn phí giáo dục bậc đại học cộng đồng hai năm thì phía đảng Cộng Hòa bắt đầu chỉ trích và gán đặt đảng Dân Chủ là đang muốn đưa nước Mỹ vào con đường “xã hội chủ nghĩa”. Điều này ngày càng mạnh mẽ hơn trong bốn năm qua dưới thời tổng thống Donald Trump cùng chiến dịch tranh cử đang diễn ra.

Bởi đơn giản rằng, với đường hướng kinh tế thị trường và biện pháp cắt giảm ngân sách nhắm vào các chương trình dân sinh, việc miễn phí y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội… bị xem là đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa, một hệ thống dân sinh mà Canada, Úc… cùng một số nước Châu Âu giàu có khác đang thực hiện cho người dân mình.

Đây là vấn đề dân sinh, xã hội hơn là đường hướng chính trị như nhiều người được nghe hay hiểu lầm. Nhưng đáng tiếc là một số người gốc Việt dù đã từng hay vẫn còn đang nhận các phúc lợi xã hội này lại tin theo để tấn công ngược lại đảng Dân Chủ đã và đang bảo vệ quyền lợi cho chính họ.

Chính vì vậy, điểm lại một số chương trình dân sinh này là điều cần thiết và để thấy rằng hành trình phát triển của cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ đã có được, bên cạnh sự cố gắng thì một phần cũng nhờ vào các chính sách, sự trợ giúp bước đầu từ nhiều đời tổng thống tiền nhiệm khác nhau trong suốt 45 năm qua.

Hãy thực lòng trả lời rằng nếu cộng đồng gốc Việt đến Mỹ và khởi dựng lại từ đầu ngay vào thời điểm từ bốn năm qua với vô số những chính sách kỳ thị di dân và cắt giảm quyền lợi dân sinh thì liệu họ có tạo dựng được những gì như đang có hay không?

Những câu chuyện lịch sử cần được kể lại và lắng nghe để không biến chúng ta thành những kẻ vô ơn. Từ những trải nghiệm được đánh đổi bằng máu và nước mắt, từ những vòng tay đón chào và cưu mang đầy tình người trên xứ lạ cho đến sự thành công hôm nay, cộng đồng Việt đã có cơ hội để thể hiện sự công bằng và bác ái hơn so với dăm thái độ đang xảy ra trên đất Mỹ hiện nay.

09/17/2020

Nhã Duy

Ảnh: Camp Pendleton, California-1975

  May be an image of 7 people and people standing

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Tưởng Năng Tiến

Tuy chào đời tại Sài Gòn – trước Hiệp Định Geneve – tôi vẫn có mặt trong đoàn người di cư từ Bắc vào Nam hồi năm 1954. Tuy đây không phải là một “giai thoại” ly kỳ hay thú vị gì sất cả nhưng vẫn xin được phép ghi thêm đôi dòng (cùng dặm thêm chút đỉnh mắm muối) để câu chuyện được tỏ tường, và đỡ phần nhạt nhẽo.

Tác giả Lê Duy San cho biết:

“Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh âm thầm cho công an đột nhập trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống những con sông để họ chết chìm rồi loan tin là những người này bị VNQDĐ thủ tiêu.

Vụ này đã làm cho VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tầu trong đó có cụ Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và nhiều lãnh tụ của Việt Quốc và Việt Cách khác. Hàng ngàn người khác bị chúng bắt đem di giam giữ tại Hỏa Lò Hà Nội và nhiều nơi khác trong đó có nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư.”

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không được tường tận về những sự kiện thượng dẫn nhưng biết chắc rằng – ngoài những nhân vật nổi tiếng vừa nêu – còn có vô số những đảng viên cấp địa phương (của cả Việt Quốc lẫn Việt Cách) cũng bị truy lùng hay sát hại vì không “bung” kịp, hoặc không tìm được đường để ra đến nước ngoài.

Thân phụ tôi là một trong những kẻ thuộc cái đám đông vô danh tiểu tốt này. Thay vì chạy sang Tầu, như phần lớn những đồng chí ở trung ương, ông trốn vào Nam. Tuy tay trắng, không có chi để lận lưng, ngoài cái bằng tiểu học (Certificat D’Étude Primaires Complémentaires Indochinoises, C.E.P.C.I) ông vẫn kiếm được đôi ba chỗ kèm trẻ, và một nơi để trú thân, trong một cái xóm lao động nghèo nàn –  có tên là Xóm Chiếu – bên Khánh Hội.

Trong Thư Về Làng (viết năm 1956) nhạc sỹ Thanh Bình tâm sự: Từ miền Nam, viết thư về thăm xóm làng/ Sắt son gửi trong mấy hàng/ Thăm bà con dãi dầu năm tháng/ Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang/ Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng …

Bố tôi không phải là nghệ sỹ nên ông chỉ đề cập đến chuyện cơm, áo, gạo, tiền … Thư ông viết: “Trong này có khi cơm ăn không hết, người ta đổ cho gà hay cho lợn”. Mẹ hiền, tất nhiên, không thể nào tin vào một chuyện “hoang đường” cỡ đó!

Bà vùng vằng, tức tối xé nát tờ thư trong tay (ấy là tôi đoán thế, nếu sai, xin má thứ tha và bỏ qua cho thằng con út) lầu bầu: “Lại phải lòng con đĩ nào trong ấy rồi, và chắc là định trốn vợ trốn con luôn đây, chứ thức ăn ở đâu ra mà lại phí phạm như vậy được?”

Nói xong, bất chấp mọi sự can ngăn/khuyên giải của họ hàng nội ngoại, bà tức tốc lặn lội vào Nam. Tới nơi, hiền mẫu tìm quanh quất mãi nhưng chả ra một con đĩ  (ngựa) nào ráo trọi mà nhìn đâu cũng thấy phố xá tấp nập, hàng quán tùm lum, và đồ ăn thức uống ê hề khắp chốn.  

Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến.

Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó :

– Người từ là từ phương Bắc đã qua dòng sông, sông dài/ Tìm đến phương này, một nhà thân ái/ Ơi! Tình Bắc duyên Nam là duyên tình chung muôn đời ta đắp xây… (“Khúc Hát Ân Tình.” Xuân Tiên & Song Hương).

– Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa/ Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu/
Đồi nương thương sức cần lao/ Se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu, ngọt ngào tình yêu
… (“Đất Lành.” Phạm Đình Chương)

Chuyện se duyên Nam Bắc có ngọt ngào tình yêu (thiệt) không thì chả ai dám chắc, và cũng không có chi bảo đảm cả nhưng với thời gian – rồi ra – ai cũng biết cái mền là cái chăn, cái mùng còn gọi là cái màn, cái phong bì với cái bao thư là một, cái bật lửa đã trở thành bựt lửa, cái hôn và cái hun cùng một nghĩa (và cùng đã) như nhau.

Cuộc chung đụng giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm … tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.

Kết quả của mối giao duyên tốt lành này là một phần tư thế kỷ sau – dù chả cần ai tuyên truyền, hay cổ động gì ráo nạo – chàng trai Biên Hoà Nguyễn Tất Nhiên vẫn cứ si mê “cô em tóc demi garçon,” và mê chết bỏ: Đôi mắt tròn, đen, như búp bê/ Cô đã nhìn anh rất… Bắc Kỳ/ Anh vái trời cho cô dễ dạy/ Để anh đừng uổng mớ tình si. (“Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ.” NXB Nam Á: Paris 1982).

Nền Đệ I Cộng Hoà ở miền Nam cũng có không ít những khiếm khuyết (vô cùng đáng tiếc) nhưng việc ổn định hằng triệu người dân di cư phải được coi là một điểm son của chế độ này, nhờ vào sự trợ giúp tận tình của cả nước Hoa Kỳ. Không phải thế lực ngoại bang nào đến Việt Nam cũng chỉ với mục đích xâm chiếm, cùng với chính sách chia để trị.

Chủ trương phân biệt vùng miền, mỉa mai thay, lại là đường lối xuyên suốt và nhất quán của cái nhà nước được mệnh danh là cách mạng hiện hành – theo như lời của nhiều công dân Việt :

  • FB Trần Đình Thu: “Để kỳ thị hai miền Nam Bắc xẩy ra ngày càng nghiêm trọng là do những chủ trương tuyên truyền hung hăng của nhà nước VN.”
  • Blogger Ku Búa: “Ai là người gây ra nạn phân biệt Bắc Kỳ Nam Kỳ? Đó không phải là sự khác biệt trong tư duy, trong môi trường sống, trong quan niệm sống hay con người. Mà chính là sự phân biệt trong chính sách chính phủ hiện tại.”
  • FB Thuc Tran: “Bất công là nguồn gốc của mọi sự thù ghét nhau giữa dân chúng hai miền và có lẽ đó cũng là ý đồ của đảng khi chia để trị.”

Họ có quá lời chăng?

Không dám “quá” đâu. Từ cuối thế kỷ trước, ông Vũ Đình Huỳnh (một nhân vật quan trọng của ĐCSVN) cũng đã từng nói những điều tương tự: “Sài Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà-Nội.” (Nguyễn Chí Thiện. Hỏa Lò. 7th ed. NXB Cành Nam, Virginia: 2007).

Thực sự thì Sài Gòn chưa bao giờ được Bên Thắng Cuộc xem “giống như Hà Nội” cả. Sự thực phũ phàng này được nhìn thấy rõ hơn trong những ngày tháng vừa qua.

Tác giả Nguyễn Khoa nhận xét:

“Dịch bệnh cũng làm bộc lộ mâu thuẫn chính trị vùng miền, với sự thống trị của miền Bắc, vốn là nơi phát xuất những đội quân chiến thắng năm 1975. Trong những năm 1990, người ta dành kinh phí quốc gia để xây dựng đường số 5 Hà Nội – Hải Phòng, hay đường số 18 Hải Dương – Quảng Ninh, thay vì con đường nhiều hàng hóa hơn là Quốc lộ 1 Sài Gòn – Mỹ Tho, hay liên tỉnh số 8 Sa Đéc – Long Xuyên.

Việc này có thể được thông cảm vì hệ thống đường sá miền Bắc quá tệ hại. Nhưng vào năm 2021, với một dân số gấp đôi, số người nhiễm bệnh gấp ba Hà Nội, mà số liều vaccine phân phối về Sài Gòn lại ít hơn là điều không thể tha thứ được.”

Bao giờ mà kẻ thống trị còn giữ được quyền bính thì họ chả cần đến sự “tha thứ” của bất cứ ai. Câu hỏi đặt ra là cái đạo quân chiếm đóng hiện nay sẽ còn tiếp tục duy trì được quyền lực ở Việt Nam thêm bao lâu nữa, và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?

Tưởng Năng Tiến
8/2021

GANH GHÉT & ĐỐ KỴ…

Van Pham

GÓC SUY GẪM

GANH GHÉT & ĐỐ KỴ…

Con người được thượng đế tạo dựng, vì thế mỗi người là cá thể duy nhất trên thế giới này và đều có giá trị của riêng mình. Bạn đừng tự ti, mặc cảm về bản thân nếu chẳng may lâm cảnh nghèo hay ít học. Nhưng bạn cũng đừng tự kiêu, ngạo nghễ xem thường người khác khi bạn may mắn giàu có hay ăn học thành tài. Thế giới này đều dung chứa tất cả trong nó, và bạn phải chung sống với nó dù muốn hay không….

Một người vĩ đại sẽ để cho người khác dựa trên đôi vai của mình; cũng như biển lớn dung chứa trăm sông, nếu có tâm phân biệt, chê sông này đục, sông kia trong thì biển cũng không thể trở nên vĩ đại như thế.

Tâm phân biệt so sánh là khởi nguồn cho lòng đố kỵ. một cái tâm xấu xa có thể gây ra nhiều hậu họa.

“Những kẻ đố kỵ bao giờ cũng có một cái gì đó để buồn phiền, khiếu nại! Bởi vì anh ta bị giày vò không chỉ vì những thất bại của bản thân anh ta mà cả vì những thành công của người khác”.

Tâm rộng lượng thì lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ.

Thiên đường luôn rộng mở, chỉ là chúng ta tự khép mình.

So sánh hơn thua, dìm người khác để đưa mình lên, không những không giúp chúng ta hạnh phúc hơn… mà nó còn khiến ta mệt mỏi hơn.

Vốn dĩ trước mắt chúng ta là bầu trời rộng lớn, vậy nhưng chỉ vì tật đố kỵ mà bây giờ nó chỉ còn hình ảnh đáng ghét của đối phương. Như vậy chẳng phải là quá ngu ngốc hay sao?

“Thật may mắn cho ai học được cách:

– Khâm phục mà không ghen tỵ

– Đi theo mà không bắt chước

– Khen ngợi mà không tâng bốc

– Dẫn đường mà không thao túng”.

Buông tha cho đối phương cũng là mở ra cho mình thêm một con đường.

Thiên đường lúc nào cũng mở cửa, chỉ là chúng ta tự đóng kín tâm tư của mình!”

Tự Do cho TNLT Trần Huỳnh Duy Thức

May be an image of 1 person and text that says 'TỰ DO CHO TNLT TRẦN HUỲNH DUY THỨC "TÔI CẦN CÔNG LÝ VÀ NHÀ NƯỚC PHẢI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT!" LUA "Tôi không LẬT ĐÓ CHÍNH QUYỀN gì cả tôi chỉ CHỐNG CƯỜNG QUYỀN và sẽ còn CHỐNG nó đến khi nào còn THẤY nó"'

Lê Vi

Tôi có thói quen tìm kiếm sự vô lý trong mọi thứ xung quanh mình, có anh bạn mỗi lần gặp mặt thường than túng thiếu trong khi mỗi ngày anh hút hết một gói Marlboro giá khoảng 11 đô Mỹ. Khi tôi nói ông túng thiếu vậy sao ngày nào cũng đốt khơi khơi 11 đô chỉ để rước bệnh vô người chi vậy thì anh bảo “Chứ giờ bỏ hổng được biết làm sao?”

Xưa lúc mới qua đi làm chung với một bà đồng nghiệp da đen, chồng bà ấy làm nghề rửa xe dạo nhưng mượn tiền tậu một chiếc BMW gần 60 ngàn đô rồi đem về trùm mền lại chứ không dám chạy, lần đó xe bả bị hư phải sửa nên bả phải đi nhờ xe tôi, tôi hỏi sao không lấy xe BMW đi cho nó oai thì bả bảo chồng bả không cho bả đụng đến chiếc xe cưng đó, tôi cười và hỏi “Chiếc xe mua chỉ để ngắm thì mua làm gì?”

Hai vợ chồng ông bà bảo trợ cho gia đình tôi ngày xưa là giáo viên về hưu, họ sống giản dị và chi tiêu mọi thứ rất cẩn thận nên chỉ với số tiền hưu ít ỏi mà họ vẫn có thể đi du lịch khắp nơi trên thế giới. Một lần họ đem hình họ chụp ở Miến Điện cho tôi xem, chỉ vào những cái chùa vàng chùa bạc gì gì nơi xứ ấy họ bảo cái xứ này nghèo bởi vì họ xài sang quá, họ đổ quá nhiều tiền vào những nơi như thế này.

Mỗi khi về Việt Nam chơi tôi hay bị người nhà nhắc nhở “…thôi mày đừng chê nữa, làm mất cuộc vui…”. Thực tình là không phải tôi thích chê bai nhưng mỗi khi thấy chuyện gì vô lý mà không nói thì bức rứt khó chịu bởi ở xứ mình sự vô lý hiện diện ở khắp nơi.

Chẳng hạn như mới sáng sớm gặp mặt mấy thằng em tụi nó đã rủ “nhậu đi!”, giờ làm việc mà quán cà phê đông nghẹt người, đến nơi công quyền mới một giờ chiều đã thấy thằng cán bộ mặt đỏ gay vì cữ nhậu giữa trưa, con đường thì nhỏ mà cái lề đường lại quá rộng và không có đường cho xe lăn leo lên leo xuống, mỗi cái cổng chào hoành tráng cho mỗi huyện chẳng biết để làm gì? Đi từ Sài Gòn ra Nha Trang mà đếm không hết mấy cái tượng đài với cổng chào luôn, ủy ban nhân dân một toà nhà vĩ đại thì đảng uỷ cũng một toà vĩ đại không kém, thác Cam Ly lại chỉ có toàn nước cống và nước đái ngựa hôi rình, chợ Đà Lạt thì ngập ngụa rác, xuống tắm biển thì mới vừa lặn xuống trồi lên đã vướng cái bịt ni lông ở trên đầu…

Còn nhiều lắm, ở đâu cũng có sự vô lý nhưng ở xứ mình thì nó nhan nhản xung quanh ta, nó hiện diện ở tất cả các ngành trọng yếu của đất nước từ giáo dục, y tế, tư pháp, lập pháp, hành pháp, công an, quân đội, du lịch, thể thao…nói chung là nhiều lắm. Một con người mà cứ ôm khư khư những điều vô lý thì cuộc đời con ngưòi đó khó mà khá lên được, một dân tộc mà mãi bám víu vào những điều vô lý thì dân tộc đó khó có thể bằng bạn bằng bè, một đất nước mà nhìn đâu cũng thấy đầy sự vô lý thì đất nước đó khó thoát phận tiểu nhược nghèo hèn.

Một chính quyền mà không dẹp bỏ được những điều vô lý là một chính quyền không chính danh, một chính quyền mà dung dưỡng những điều vô lý chỉ với mục đích duy trì quyền lực thì chính quyền đó là thứ chính quyền vô đạo không xứng đáng được tồn tại. Công an nhân dân mà hợp tác với côn đồ đi liệng cứt vào nhà dân là vô lý, quân đội nhân dân mà đi ra hỗ trợ doanh nghiệp cướp đất của dân là vô lý, nhân tài của đất nước đã không được trọng dụng lại còn bị giam cầm oan ức là vô lý, hạng dốt nát tham lam mà nhảy lên làm quan với lương ba cọc ba đồng nhưng thằng nào cũng sở hữu biệt phủ lầu đài là một điều hết sức vô lý không tài nào hiểu được.

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng thì xứng đáng được hít khói bụi khi đi ra đường, bị bỏ mặc cho chết trong phòng cấp cứu nếu không có tiền, bị tra tấn khi phải nín tiêu nín tiểu khi không có toilet, bị hành xác khi kẹt xe, bị đè đầu móc bóp khi qua hải quan, bị chặn xe làm tiền khi lưu thông trên đường, bị đánh đập đến chết khi vào đồn công an…

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng để thay đổi nó thì sẽ sống chung với những điều vô lý như cái anh chàng nói ở đầu bài lúc nào cũng ca bài ca túng thiếu trong lúc miệng phì phèo thuốc lá và ho sù sụ, thế thôi.

Đất nước nào cũng cần người tài ra lãnh đạo để phát triển nhưng ở VN lại giam cầm người tài là một điều hết sức vô lý cần phải lên tiếng.

Free Trần Huỳnh Duy Thức

Fb Thuc Tran