GS Vũ Quốc Thúc: ” Phải chọn con đường vì dân tộc”

GS Vũ Quốc Thúc: ” Phải chọn con đường vì dân tộc”

05:06 | Posted by BVN1

Thanh Phương

Giáo sư Vũ Quốc Thúc qua đời

GS Vũ Quốc Thúc

Theo tin từ gia đình, giáo sư Vũ Quốc Thúc vừa qua đời sáng hôm qua, 22/11/2021, tại Pháp, thọ 101 tuổi.

Sinh năm 1920, giáo sư Vũ Quốc Thúc là một kinh tế gia và một chính khách, không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở miền nam Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm : Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển….

Đặc biệt, giáo sư Vũ Quốc Thúc còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc (1961) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về tái thiết Việt Nam thời hậu chiến. Ông còn viết rất nhiều sách và khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Nhờ sự can thiệp của thủ tướng Pháp Raymond Barre, bạn cùng dự thi văn bằng Thạc sĩ khóa năm 1950 với ông, giáo sư Thúc đã được qua định cư tại Pháp năm 1978, sống tại Nanterre, ngoại ô Paris và làm giáo sư môn kinh tế tại Đại học Paris từ năm 1978 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1988.

Tập hồi ký của giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi”, gồm 2 cuốn “ Nhìn lại 100 năm lịch sử “, xuất bản năm 2009 và “Đời tôi trải qua các thời biến”, xuất bản năm 2010, đã được dịch sang tiếng Anh và được xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2014.

Theo thông báo của gia đình, thánh lễ cầu nguyện cho giáo sư Vũ Quốc Thúc sẽ được cử hành ngày 25/11/2021 lúc 11 giờ tại Giáo xứ Việt Nam tại Paris, 2 Villa des Epinettes 75017 Paris. Lễ hóa táng sẽ được cử hành ngày 1/12/2021.

RFI Tiếng Việt xin thành kính chia buồn với gia đình giáo sư Vũ Quốc Thúc.

RFI tiếng Việt

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi” (gồm 2 cuốn “Nhìn lại 100 năm lịch sử “(xuất bản năm 2009) và “Đời tôi trải qua các thời biến” (xuất bản năm 2010) đã được sang tiếng Anh và vừa được xuất bản tại Hoa Kỳ.

Đây là một sự kiện đáng chú ý bởi vì Giáo sư Vũ Quốc Thúc không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm: Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển…

Đặc biệt, GS còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc (1961) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về tái thiết thời hậu chiến. Ấy là chưa kể rất nhiều sách và bài khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Sinh năm 1920, tức là năm nay đã 94 tuổi, có thể nói GS Vũ Quốc Thúc là một trong số hiếm hoi các nhân chứng trực tiếp của thời cuộc Việt Nam suốt gần 100 năm qua, từ thời chế độ Pháp thuộc năm 1900 cho đến thời chế độ Cộng sản, cụ thể là đến năm 2000. Toàn bộ 100 năm lịch sử đó đã được Giáo sư tóm gọn trong cuốn đầu của tập hồi ký, qua cái nhìn của người trong cuộc.

Khác với cuốn đầu, gần như thuần túy mang tính biên khảo, cuốn thứ hai mới thật sự là hồi ký Vũ Quốc Thúc, vì trong đó ông trình bày rất nhiều chi tiết về cá nhân, về gia đình, dòng tộc và sự nghiệp chính trị của ông. Nhưng Giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng không quên đưa vào hồi ký những suy tư, những trăn trở của ông về thời cuộc Việt Nam trước đây và hiện nay.

Ngày 08/12/2014 vừa qua, chúng tôi đã được Giáo sư Nguyễn Thái Sơn dẫn đến nhà riêng của Giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Nanterre, nằm không xa khu La Défense, ngoại ô Paris, để phỏng vấn ông nhân dịp cuốn hồi ký được xuất bản bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ. Tuy năm nay đã 94 tuổi, nhưng bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân, lòng yêu nước thương nòi, nỗi lo cho tiền đồ dân tộc hầu như vẫn nguyên vẹn trong con người Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Càng nói giọng của ông càng hùng hồn, lập luận càng khúc chiết, rành mạch, tưởng như Giáo sư vẫn còn đứng trên bục giảng đường đại học năm xưa.

Trích đoạn phỏng vấn:

GS Vũ Quốc Thúc: Thực ra, khi tôi viết cuốn hồi ký kể về nhiều câu chuyện liên quan đến bản thân và gia đình mình, tôi không hề nghĩ đến khả năng cuốn hồi ký đó được phổ biến cho nhiều người ngoài gia đình đọc.

Mục đích của cuốn hồi ký này là để cho cháu chắt tôi hiểu được tại sao ông cụ của mình đã phải rời bỏ quê hương sang định cư bên Pháp, khiến cho chúng mình bây giờ trở thành công dân Pháp, xem Pháp là quê hương chính, còn Việt Nam là quê hương thứ hai, mặc dù chúng ta không bao giờ quên cái quê hương thứ hai đó. Tôi muốn cho cháu chắt tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi đã phải bỏ nước ra đi, để thấy tâm tư của một bậc tiền bối, đâu phải là ra đi chỉ mưu cầu những an ninh, lạc thú ở ngoại quốc, mà trái lại luôn luôn hướng về quê cha đất tổ.

Thành ra hồi ký tôi chỉ viết bằng tiếng Việt, xuất bản từ Mỹ vào năm 2010, tức là cách đây đã 4 năm rồi. Nếu tôi có ý đồ vận động dư luận các nước Tây Phương, nhất là ở Âu Châu hay là Mỹ, thì tôi đã viết bằng tiếng Pháp rồi, vì tôi đã được đào tạo ở Pháp trong bao nhiêu năm rồi, viết bằng tiếng Pháp dễ hơn! Chứ còn biểu tôi viết bằng tiếng Anh thì, thú thật, trình độ Anh ngữ của tôi còn kém lắm! Vì vậy nên có chuyện dịch ra tiếng Anh này.

Khi được đề nghị cho dịch cuốn hồi ký sang tiếng Anh thì tôi thấy không có gì trở ngại cả, bởi vì trong cuốn hồi ký của tôi, những sự việc xảy ra như thế nào thì tôi viết y như thế, không thêm, không bớt. Tôi tự xem mình như là một nhân chứng được mời ra trước tòa án lịch sử, tòa án dư luận trong nhiều thế hệ. Khi ra trước một tòa án như thế, nhân chứng phải tuyên thệ: “Tôi xin thề nói sự thực, tất cả sự thực và chỉ có sự thật”. Tôi đã áp dụng đúng phưong châm dó trong cuốn hồi ký, không thêm mắm thêm muối cốt để tự mình khoa trương mình.

Trong hai cuốn hồi ký được dịch ra thì tôi chú trọng đến quyển hai, vì trong đó tôi kể nhiều chuyện riêng tư, chứ còn trong quyển một, tôi chỉ kể lại lịch sử, như là một thầy giáo giảng bài cho học sinh: Đây là những gì tôi đã được biết, đã được phổ biến, mà tôi còn nhớ để thuật lại, những điều mà tôi tin đó là sự thực.

RFI: Giáo sư có hy vọng là cuốn hồi ký này, khi được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Hoa Kỳ, sẽ có tác động phần nào đến dư luận Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Việt Nam trước đây và hiện nay?

GS Vũ Quốc Thúc: Tôi không dám ngông cuồng đến độ tin rằng cuốn sách của tôi sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều chuyện hãy còn mờ ám trong lịch sử, nhất là trong quan hệ Việt – Mỹ. Nhưng tôi thấy rằng ở Hoa Kỳ, trước khi ra một biện pháp gì đó, hay thay đổi một chính sách nào đó, người ta thường thăm dò dư luận. Tôi coi việc phổ biến hồi ký của tôi phần nào như là một cách để họ thăm dò dư luận, không chỉ trong người Mỹ gốc Việt, mà cả những người Mỹ khác và dư luận thế giới.

Tại sao? Là tại vì trong cuốn hồi ký của tôi, ngoài những chuyện mà tôi kể lại, mà có thể một số người nay mới biết về chi tiết, tôi còn có những suy tư về những chuyện trọng đại, như chính sách chống cộng, chiến tranh lạnh, việc Hoa Kỳ can thiệp…

Tôi hy vọng khi hồi ký được dịch sang Anh ngữ thì sẽ có nhiều người biết hơn, chứ còn nếu chỉ là bản tiếng Việt thì chỉ có một số nhỏ người Việt tha thiết với các vấn đề của dân tộc mới đọc thôi. Tôi cũng hy vọng là khi sách được dịch sang Anh ngữ, được phổ biến trong giới sành Anh ngữ, thì chính đồng bào Việt Nam ở quốc nội sẽ quan tâm hơn đến. Tầng lớp trẻ, nhất là những người du học ở nước ngoài, có khi đọc tiếng Anh còn dễ hơn đọc tiếng Việt và khi họ đọc được bản tiếng Anh, có thể họ sẽ trở lại tìm đọc nguyên bản tiếng Việt

Còn cuốn sách của tôi sẽ có tác động gì đến chính sách của Hoa Kỳ hay không, thì quả thật tôi không dám tin như thế, vì Hoa Kỳ có chính sách của họ, họ cứ làm. Ở đây họ chỉ thăm dò dư luận. Có thể họ sẽ dùng cuốn sách của tôi để biện minh cho một số biện pháp mà họ sẽ thi hành. Đó là hy vọng của tôi thôi.

RFI: Quan hệ Mỹ-Việt là vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay, nhất là vì giới lãnh đạo Hà Nội hiện nay có vẻ muốn dựa nhiều hơn vào Hoa Kỳ và Hoa Kỳ thì muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam, cụ thể gần đây họ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong hồi ký, Giáo sư đã nói nhiều đến thái độ của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi đã ký hiệp định Paris để có thể rút quân. Khi miền Bắc tấn công miền Nam, tức là vi phạm hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã không có phản ứng gì, khiến miền Nam lọt vào tay Cộng sản. Nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy, Giáo sư có nhận định như thế nào?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Hoa Kỳ, cũng như tất cả các cường quốc khác, phải chú tâm trước hết đến uy tín quốc tế của họ, rồi đến những quyền lợi thực tế của họ. Thành ra, khi Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ nơi nào trên thế giới, mục đích trước tiên của họ là bảo vệ uy tín của đệ nhất siêu cường thế giới hiện nay, rồi nghĩ đến những quyền lợi thực tiễn, như là về dầu hỏa, về xuất cảng…

Chứ còn bảo rằng Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam để tranh đấu cho Việt Nam thì đời nào! Cái đó về sau thì có thật đấy, tức là khi mà người ta gởi quân lính sang, trợ giúp khí giới, thì tất nhiên là người ta cũng muốn cho mình đạt được một kết quả nào đó. Chứ chính mình thì đời nào chúng ta chấp nhận cho ngoại quốc xen lấn vào, để rồi mình phải thi hành đường lối của ngoại quốc!

Chính quyền nào ở nước ta cũng vậy, Không một chính quyền nào, dù thiên tả hay thiên hữu, lại quên các vấn đề của dân tộc. Dù không công khai nói là bảo vệ quyền lợi dân tộc, nhưng trong thâm tâm, bất cứ chính quyền nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi dân tộc.

Đâu phải một khi người ta nắm quyền được chính quyền là người ta quên hẳn quyền lợi dân tộc. Việt Nam mình đâu phải lúc nào cũng nhắm mắt theo các cường quốc! Bao giờ mình cũng ý thức được quyền lợi trường tồn của dân tộc. Tôi tin là như thế. Đã là người Việt thì không thể nào phản bội quyền lợi dân tộc! Dù muốn dù không, tiềm ẩn trong trái tim người ta vẫn có lòng yêu nước, vẫn nhớ lại những truyền thống oai hùng của dân tộc mình. Không ai dám phản bội Tổ quốc một cách trắng trợn.

RFI: Thưa Giáo sư, trong bối cảnh mà hiểm họa xâm lăng từ Trung Quốc ngày càng rõ nét, việc Hoa Kỳ bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là một điều tốt?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Việc mình trông cậy hoàn toàn vào ngoại bang để bảo vệ quyền lợi dân tộc là chuyện bất đắc dĩ. Trong hoàn cảnh lịch sử mà mình chưa đủ sức để tự bảo vệ, thì mình phải dựa vào một ngoại bang. Nhưng điều trước tiên là mình phải bồi dưỡng nội lực của mình đã, để có thể tự vệ được.

Khi nói bồi dưỡng lực lượng của chính mình, thì không chỉ có lực lượng quân sự mà thôi. Bây giờ ta có thể được Hoa Kỳ bán chịu một số vũ khí hiện đại, nhưng ta đâu có thể hưởng cái đó mãi? Đến một lúc nào đó chúng ta phải trả nợ.

Mà vũ khí là để làm gì, để giết ai? Tôi chỉ sợ là Việt Nam mình, nếu không cẩn thận, sẽ lại rơi vào tình trạng như xưa, tức là có hai phe trong nhân dân, một phe thì muốn dựa vào Trung Hoa, phe thì muốn dựa vào Hoa Kỳ. Hai phe đó tất nhiên là xung đột nhau. Hoa Kỳ sẽ dùng hai phe đó để sử dụng các vũ khí sát thương của họ. Chúng ta phải cẩn thận.

Nước ta còn nghèo, còn yếu, nếu mà chỉ nghĩ đến chuyện đánh nhau, thì chẳng qua là chúng ta xuất khẩu xương máu. Trước khi phải sử dụng đến vũ khí hiện đại thì mình phải dùng đến ngoại giao. Trong thế yếu hiện nay của Việt Nam, mình chỉ có thể len lõi giữa những xung đột của các cường quốc, vì quyền lợi của họ có khi là mâu thuẫn nhau, phải tìm cách lái cho họ đi đến chỗ phải bảo vệ chúng ta trên các diễn đàn ngoại giao.

RFI: Tránh một cuộc chiến tranh với Trung Quốc có vẻ cũng là đường lối hiện nay của các nhà lãnh đạo Hà Nội, phải làm hòa với Trung Quốc sau vụ khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981. Nhưng đồng thời Việt Nam cũng đang cố tranh thủ thêm sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trong cuốn hồi ký, Giáo sư gọi đó là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Nhưng chính sách có nguy cơ sẽ đưa Việt Nam vào thế kẹt?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Trong vụ xung đột về giàn khoan, kết quả là Trung Quốc cũng đã rút giàn khoan đi. Cho nên tôi quan niệm thế này: phải luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Về mặt chiến lược, phải nghĩ đến quyền lợi lâu dài của dân tộc, còn về mặt chiến thuật thì có khi ta phải đi đến một đồng minh này, có khi phải đi với một đồng minh khác.

Chiến lược lâu dài đối với tôi thì không có chuyện lựa chọn giữa Hoa Kỳ hay Trung Quốc, mà chỉ có con đường duy nhất là chọn lựa Việt Nam, tranh đấu cho Việt Nam. Cái gì có lợi cho Việt Nam, thì tôi làm, cái gì ngược lại với quyền lợi trường tồn của Việt Nam, thì tôi chống.

Người ta cứ luôn nói đến chính sách đu dây, nhưng bây giờ tôi nghĩ đến một hình ảnh khác, đó là cái bản lề. Nhìn bản đồ Việt Nam, tôi thấy nó chẳng khác chi bản lề, giúp cho cánh cửa, khi mở, khi đóng, khi quay về tai trái, khi quay về tay mặt. Cho tới nay, cái bản lề ấy chỉ đóng vai trò thụ động, thì tại sao ta không tìm cách điều khiển nó? Mình phải làm chủ cái bản lề ấy để mà ngăn chận, không cho bên nào lấn sang bên kia cả.

Nói cách khác, mình phải có một chính sách dân tộc rõ ràng. Phải có một lực lượng, hay một phần lực lượng để tự vệ đã, rồi mới có thể sử dụng cái vị trí bản lế ấy. Các lực lượng quốc tế nào định sử dụng ta như quân cờ thì lúc đó họ sẽ e dè. Lúc đó, chính là ta đã chọn lựa dân tộc.

RFI: Xin cám ơn Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

T.P.

Nguồn: rfi.fr

HÃY CÓ TÂM TÌNH TẠ ƠN

HÃY CÓ TÂM TÌNH TẠ ƠN

Huệ Minh

Văn hóa biết ơn của Việt nam rất hay.  Từ thuở bé, tôi vẫn thường nghe dạy: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”  “Uống nước nhớ nguồn.” “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại.”

Thật vậy, lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp.  Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, bình thường, và phải cư xử như vậy mới là người biết điều.  Việt Nam cũng có những câu nói diễn tả người vô ơn: “Ăn cháo đá bát.” “Vắt chanh bỏ vỏ.” “Có trăng phụ đèn.”  “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải.”  Kẻ muốn được ơn thì nhiều, kẻ biết ơn thì quá ít.  Câu chuyện Tin Mừng hôm nay có tỷ số là một phần mười mà thôi.

Cám ơn Thiên Chúa là dâng trả ân huệ về cho Ngài, là nhìn nhận Ngài là nguồn mạch tuôn trào ra ân huệ chúng ta đã lãnh nhận.  Cám ơn là đi vào mối tương giao tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa đến với chúng ta và trở lại với Ngài.  Người vô ơn là người chặn đứng luồng tương giao này lại, không cho nó trở về với nguồn mạch, và sẽ làm cạn khô tương giao đang có.  Công trình cứu độ của Đức Giêsu chỉ thực sự sinh hiệu quả nếu chính chúng ta cởi mở để cho mọi sự quay trở lại với Người.

“Cám ơn” là tỏ lòng biết ơn với người đã làm điều tốt cho mình.  Mỗi khi ta nhận được một ơn huệ gì, thì ta phải biết tạ ơn Chúa và cám ơn những người làm ơn cho ta.  “Cám ơn” ấy là hai từ mà ta vẫn nói hàng ngày.  “Cám ơn,” lời nói cửa miệng tưởng như có thể nói với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, nhưng nhiều khi ta không biết nói lời cám ơn.

Trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca nhắc cho ta nhớ lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành mười người phong hủi, tất cả đều được khỏi bệnh.  Nhưng chỉ có một người đến tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa.  Chúa Giêsu không khỏi buồn lòng trước sự vô ơn của con người, nên Ngài đã thốt lên: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17, 17-18).

Bi đát thay trong mười người hưởng ơn chữa lành vô cùng lớn lao ấy, chỉ có một người biết dâng lời tạ ơn, mà người ấy lại là người ngoại đạo.  Còn những người vẫn tự hào là dân Thiên Chúa, dân riêng Chúa chọn lại sống vô ơn.  Sở dĩ Ngài xem trọng lòng biết ơn cũng vì ích lợi của kẻ được ơn mà thôi.  Người Samari trở lại tạ ơn Chúa vì đã nhận ơn phần xác, thì Ngài lại ban thêm cho ơn phần hồn là củng cố niềm tin và xác định tư cách tôn giáo của anh.  Ngài nói: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.”  Như thế, cám ơn lại là cơ hội để nhận được thêm ơn.

Ta thấy Chúa Giêsu thường tìm đến nơi thanh vắng để cầu nguyện với Chúa Cha.  Nhưng khi biểu lộ tâm tình tạ ơn thì Ngài lại thực hiện công khai trước mặt mọi người.  Chúa muốn dạy mọi người bài học về lòng biết ơn đối với Thiên Chúa.

Trước khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn rồi phân phát cho mọi người (Ga 6, 11).  Vào bữa Tiệc Ly, khi lập bí tích Thánh Thể, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ (Lc 22, 19).  Đứng trước nấm mồ Lazarô, trước khi làm cho anh ta sống lại, Chúa Giêsu đã dâng lời cảm tạ Thiên Chúa (Ga 11, 41).

Cả cuộc sống của Chúa Giêsu là một lễ tạ ơn liên lỉ.  Chúa Giêsu đã hy sinh mạng sống làm hy tế dâng lên Đức Chúa Cha.  Vì thế, ngày hôm nay, khi dâng lễ tạ ơn mỗi ngày, chúng ta cử hành mầu nhiệm cuộc đời Chúa, chúng ta sống lại tâm tình tạ ơn của Chúa, là tâm tình của Người Con dâng lên Chúa Cha.

Cuộc đời của Chúa là bài ca tạ ơn luôn vang lên những giai điệu vui tươi trong những giây phút hân hoan và trong cả những giờ khắc bi thảm.  Bài ca tạ ơn đó đã ngân lên từ môi miệng của Mẹ Maria (Magnificat), ông Zacaria (Benedictus) và vẫn tiếp tục ngân vang trong tâm hồn những người tín hữu hôm nay.

Trong các thư của Thánh Phaolô, thánh nhân cũng nhấn mạnh đến lời tạ ơn.  Hơn nữa, ngài luôn sống trong tâm tình tạ ơn.  Ngài nói: “Tôi luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa” (Plm 1, 4).  Ngài còn nhắc nhở mọi người “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.  Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn” (1 Tx 5, 18).

Thánh Phaolô luôn dâng lời tạ ơn lên Chúa: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Ngài đã ban cho anh em nơi Đức Kitô.”  Ngài cám ơn tất cả những ai giúp ngài trong công việc mục vụ: “Quà anh em tặng cho tôi đó, chúng khác nào hương thơm, lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa và được Ngài chấp nhận.”  Như vậy, câu ngạn ngữ của người Anh nói rất chí lý: “Cho người có lòng biết ơn chính là cho vay.”

Nhìn vào xã hội ngày nay, con số những người biết ơn Chúa, tôn thờ Chúa, vẫn còn là một con số rất khiêm tốn.  Còn những kẻ vô ơn thì nhiều vô kể.  Chúa luôn ban ơn cho người lành cũng như kẻ dữ, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương.  Thế mà con người ngày càng kiêu ngạo, vô ơn đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.

Hỏi rằng trong chúng ta có mấy người biết cảm tạ Chúa và cám ơn anh em?  Biết bao nhiêu lần chúng ta than vãn, kêu la, trách móc hết việc này đến việc khác, hết người này đến người kia, Hơn thế nữa, nhiều người còn oán trách cả Thiên Chúa.  Vậy, Lời Chúa hôm nay dạy mỗi người chúng ta hãy biết nói lời cám ơn từ những chuyện nhỏ nhất, bởi vì chúng ta đã nhận được biết bao nhiêu hồng ân Chúa ban cho ta qua vũ trụ vạn vật, qua mọi người trên trái đất này và nhất là qua những người thân cận, những người xung quanh ta.

Lòng biết ơn biểu lộ niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự.  Biết ơn là một trong những đức tính tốt đẹp của con người đối với Đấng Tạo Hoá.  Vì Ngài đã ban muôn vàn phúc lộc cho chúng ta: từ không khí để ta hít thở, mặt trời để soi sáng ta, cho nước để ta uống, cho muôn loài muôn vật để ta sử dụng và làm thức ăn.  Ngài luôn quan phòng, giữ gìn ta trong mọi nơi, mọi lúc… Thiên Chúa còn ban cho ta biết bao điều cao cả qua cha mẹ, qua anh chị, qua thầy cô, qua bạn hữu, qua tất cả những người đã giúp đỡ và làm ơn cho ta…  Thể hiện lòng biết ơn là một nghĩa vụ hàng đầu trong cuộc sống con người.

Xin Chúa cho ta luôn biết sống có tình có nghĩa, luôn thể hiện lòng biết ơn, luôn quý trọng những hồng ân mà Chúa đã thương ban, và những gì anh chị em đã làm cho ta.  Xin Chúa cho ta luôn biết sống trong tâm tình tạ ơn Chúa như thánh Phaolô đã khuyên bảo giáo dân Côlôsê: “Anh em hãy luôn sống trong tâm tình tạ ơn Chúa và biết ơn Chúa.”  Đồng thời, ta cũng phải luôn biết cám ơn mọi người, vì có thể nói, tất cả những người có liên hệ xa gần với ta, đều là những ân nhân của ta.

 Huệ Minh

From: Langthangchieutim

CHỊU PHẠT THAY

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Dieu Le  

CHỊU PHẠT THAY

Tại một lớp học trong ngôi làng nhỏ ở Nam Phi. Nhiều giáo viên da trắng tình nguyện đến dạy đều không chịu đựng nổi những học sinh bản xứ ngỗ nghịch còn man rợ. Chỉ trong ít tuần, họ đã bỏ dạy và ra đi, lớp học giải tán. Ngày nọ, cô giáo Sandina tình nguyện đến đây. Cô thăm hết các gia đình trong làng trước khi khai giảng lớp học. Có rất đông học sinh đến lớp, chúng yêu mến cô vì cô có vẻ dễ chịu hơn những thầy giáo trước đây. Ngày đầu tiên, cô viết trên bảng những tội thường xảy ra và quy định hình phạt kèm theo, như: Chọc bạn: 10 roi khẽ tay; Đánh nhau: 15 roi; Ăn cắp: 20 roi, v.v… Rồi bảo học sinh cam kết phải làm đúng các quy định ấy. Cả lớp đồng tình.

Ngay ngày đầu, các trò tố giác một bạn ăn cắp bánh mì. Khi bị gọi lên đứng, Jastun nghênh ngang không sợ ai cả. Nó đưa tay ra sẵn sàng chịu 20 roi. Lúc ấy, thay vì cầm roi đánh nó, Sandina đưa roi cho nó và bảo: “Vì cô là cô giáo mà không dạy được các em, cô sẽ chịu hình phạt thay em.” – Jastun hoàn toàn bất ngờ, thái độ nó thay đổi lập tức, cả lớp xầm xì kinh ngạc. Cô giáo đưa tay ngửa ra trên bàn và bắt buộc nó phải đánh. Jastun quất thật nhẹ, cô bắt phải quất mạnh lên, được vài roi, nó oà khóc rồi chạy ra khỏi lớp, cả lớp đều khóc, cô Sandina cũng khóc.

Ngày hôm sau, Jastun trở lại lớp, xin lỗi cô. Một không khí hoàn toàn khác với những lớp học trước đó. Mọi người yêu thương nhau. Những kẻ cứng đầu nhất cũng đã sửa đổi.

Một đứa trẻ chỉ thấy sự trừng phạt mà không thấy tình thương trong cách giáo dục, sẽ trở nên ngang ngược hơn.

Cùng Suy ngẫm: “Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh.”

#Sưu tầm

May be a cartoon of one or more people, people standing and text

ĐƯỢC và MẤT

ĐƯỢC và MẤT

Hôm rồi có đứa bạn ở Mỹ về chơi, chở nó đi ngang qua nhà cũ của nó, nó hỏi :

–          Giờ nhà tao trị giá khoảng bao nhiêu tiền mầy?

Mình đoán ngôi biệt thự của nó giờ phải trên hai ngàn lượng nên phán đại khoảng tầm 3 triệu đô la. 

Nó thở dài rồi nói:

–          Hồi đó ba tao bán chưa tới 200 cây, đi rớt hai vụ gần như hết sạch. Tới chuyến thứ ba toàn bộ cái thuyền là ba tao vay mượn của bạn bè. Nếu không bán nhà mà ở lại thì giờ cầm 3 triệu cũng có thể đàng hoàng làm công dân Mỹ mầy ha, mà tiền vẫn còn nguyên đó.

Đang suy nghĩ coi phải đối đáp với nó thế nào thì nó lại tiếp lời:

–          Nhưng mà mầy biết cái được của việc đi là gì hay không ?

–          Là gì ?

–          Cái được là có ba thế hệ được sống trong môi trường văn minh, tự do, được làm mọi điều mình thích, được nói mọi điều cần nói, tóm lại là được sống ra một con người.

–          Bộ tao sống không ra con người hả ?

–          Nhìn cái cách mầy chạy xe trên đường, mầy dụi tàn thuốc lá tao biết rằng dù mầy cố sống khác đi nhưng những thói xấu vẫn theo mầy từ trong tiềm thức. Mầy biết không, khi mầy phải sống trong một hủ mực thì dù có tránh né hay bằng cách gì đi nữa thì mầy vẫn bị lem, chỉ có điều nếu không được gần đèn thì mầy sẽ không nhận ra mình bị lem ở chỗ nào và vì sao như vậy. Cái người ta nhìn thấy mất đi đa phần là những thứ vật chất hữu hình nhưng thứ quý hơn là những giá trị phi vật chất, những thứ thuộc về đạo đức, văn hoá, đó mới là những mất mát lớn lao mà cần rất, rất nhiều thời gian người ta mới xây dựng lại được.

Nhớ hồi trước nó cũng là đứa hời hợt, thậm chí đoảng hơn mình. Vậy mà giờ nó nói ra những điều mà mình không nghĩ tới, không nhìn thấy. Thế mới biết nền tảng văn hoá, giáo dục nó ảnh hưởng đến con người ta ở mức nào.

Phải ! Thứ tàn phá lớn nhất đối với dân tộc này không phải là môi trường, không phải là tài nguyên, không phải là những món nợ khổng lồ.

Cái mất lớn hơn nhiều là giờ đây người ta không còn sống và ăn ở với nhau như những con người thực sự.

Trương Quang Thi

From: TU-PHUNG

Bí mật của hạnh phúc | J. Donald Walters

Bí mật của hạnh phúc | J. Donald Walters

Bí mật của hành phúc là TÌNH YÊU!

Bí mật của hạnh phúc là
hồn nhiên tận hưởng những điều bình dị.

Bí mật của hạnh phúc là
nụ cười an ủi với người đang đau khổ.

Bí mật của hạnh phúc là
trái tim trong sáng, không ích kỷ, không ác độc.

Bí mật của hạnh phúc là
cười với mọi người, không phải cười người.

Bí mật của hạnh phúc là
vui vẻ và sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần làm.

Bí mật của hạnh phúc là
khao khát học hỏi, thay vì mong muốn dạy đời.

Bí mật của hạnh phúc là
có bạn bè biết thấu hiểu ta.

Bí mật của hạnh phúc là
buông bỏ ý niệm “tôi” và “của tôi”.

Bí mật của hạnh phúc là
biết khi nào dừng trước khi bắt đầu.

Bí mật của hạnh phúc là
sẵn lòng đứng dậy sau khi ngã xuống.

Bí mật của hạnh phúc là
TÌNH YÊU!

— J. Donald Walters

Sách: Thức tỉnh – Awareness | Lm. Anthony de Mello, S.J.

Sách: Thức tỉnh – Awareness | Lm. Anthony de Mello, S.J.

Những tác phẩm của cha Anthony de Mello (1931-1987), một linh mục Dòng Tên người Ấn-Độ, đã có âm hưởng sâu xa khắp nhiều nơi trên thế giới. Ngài được xem như một trong những bậc thầy tu đức hiện đại, nổi tiếng vì những khóa linh thao và những buổi hội thảo liên quan đến sự giải thoát nội tâm.

Tác giả: Anthony de Mello

Nhà xuất bản: Tôn giáo

Bản dịch tiếng Việt:

Nghe online: http://tinmung.net/AudioBooks/Audiobooks/ThucTinh/Phan1/ThucTinhPhan-1.html

Bản tiếng Anh: https://archive.org/details/Awareness-AnthonyDeMello

Audible book (English): https://archive.org/details/AwarenessAnthonyDemelloAudiobook

Cô Thảo & Chú Lâm – S. T.T.D Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cô Thảo & Chú Lâm

19/11/2021

Ngày đầu tháng 11 năm 2021, giới truyền thông VN đồng loạt (và hớn hở) đi một tin vui lớn :  

  • Một trường của ĐH Oxford cam kết đổi tên thành ‘Thao College’ 
  • Linacre College muốn đổi tên theo tỉ phú Nguyễn Thị Phương    
  • Một trường của ĐH Oxford đổi tên thành Thao College     
  • Trường đại học tại Anh Linacre muốn đổi tên tri ân CEO Nguyễn Thị Phương  
  • ĐH Linacre có thể đổi tên thành ĐH Thao theo tên tỉ phú Nguyễn Thị Phương    

Những ngày vui, tiếc thay, thường ngắn. Qua hôm sau, bỉnh bút Mai Lan (VNTB) ái ngại cho hay: 

Không có trường đại học Linacre. Sứ mạng của Linacre là… nội trú – tức cung cấp nơi ăn chốn ở, điều kiện học tập và sinh hoạt cho những người đang học tại các chuyên khoa của đại học Oxford…

Trường này sẽ đổi tên thành Thao College theo tên của bà Nguyễn Thị Phương Thảo, người sáng lập kiêm Tổng Giám đốc hãng hàng không Vietjet. Việc này diễn ra sau khoản quyên góp đến 155 triệu bảng Anh (hơn 4.800 tỷ đồng) của bà cho trường này…

Phó Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục và Đào tạo giáo viên – Đại học Quốc tế Hồng Bàng, tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh cho biết Linacre College là một trường nội trú thuộc đại học Oxford. Đại học này có đến 45 “residential colleges”, có thể dịch là “trường nội trú” hoặc “khu nội trú” trên khuôn viên rộng rãi và rất đẹp của đại học này.

Và đã là một trường nội trú thì sứ mạng của Linacre là… nội trú. Tức là cung cấp nơi ăn chốn ở, điều kiện học tập và sinh hoạt cho những người đang học tại các chuyên khoa của đại học Oxford… Tóm lại, nếu muốn cho người Việt có thể hiểu thì cứ dịch nó là ký túc xá là đúng nhất, mặc dù tất nhiên là nó cũng rất khác.

T.S Vũ Thị Phương Anh khiến tôi nhớ đến “điều kiện học tập” (cùng “nơi ăn chốn ở”) của đám “học sinh vùng cao” tại Việt Nam, theo tường trình – “Bám Lớp Mùa Giáp Hạt” – của nhóm phóng viên Tuổi Trẻ Online:

“Những ngày tháng tư, hàng chục học sinh ở xã Mường Lý, huyện vùng cao Mường Lát (Thanh Hóa) thường xuyên phải nhịn đói đứt bữa đến trường học chữ tại trung tâm xã… Hơn 12g trưa, chúng tôi bước vào căn lều của ba em Vàng A Sự (học lớp 6B), Vàng A Tu (học lớp 8B) và Vàng A Chua (học lớp 9), đều là dân tộc Mông, trú tại bản Sài Khao, cách trường hơn 20km, khi ba em đang ăn cơm. 

Nhìn vào mâm cơm trưa Sự, Tu, Chua, ngoài giá cơm chỉ có bát măng rừng luộc và bát muối trắng. Chua nhìn tôi nhoẻn miệng cười gượng: ‘Hôm nay các em còn có măng để ăn, chứ mọi hôm chỉ ăn cơm với muối trắng chan nước lạnh thôi.”

T.S Trần Đăng Tuấn, người khởi xướng chương trình Bữa Cơm Có Thịt cho học sinh miền núi, cũng nói y như thế: “Khi bạn lên vùng cao, bế các cháu bé sẽ thấy chúng nhẹ bỗng.” Thảo nào mà sự hào phóng của bà Nguyễn Thị Phương Thảo, xem chừng, không được dư luận đồng tình (hay tán thưởng) nồng nhiệt gì cho lắm: 

FB Nguyễn Phú Yên băn khoăn :

“Thử nhìn hình ảnh sinh viên của trường Linacre rồi so sánh với hình ảnh các em học sinh VN phải đu dây, phải đi cầu khỉ, chui vào bọc ni lông qua sông để vào ngồi trong các lớp học rách nát, chúng ta sẽ thấy xót xa biết chừng nào? Cũng lớn lên từ trong lòng đất nước, cùng máu đỏ da vàng sao không biết xót thương đất nước, đồng bào, thương các em nhỏ cùng cực, không ‘lá lành đùm lá rách’ theo truyền thống đạo lý của dân tộc? Có phải là ‘bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng’ chăng? Buồn thật!”

Tôi hoàn toàn tôn trọng “nỗi buồn” của ông Nguyễn Phú Yên, tất nhiên. Tuy nhiên, vấn đề cũng có thể nhìn ở một góc cạnh khác – đỡ buồn hơn chút xíu – theo quan điểm của FB Nguyễn Ngọc Chu:

“Có nhiều nguyên nhân giúp cho người ta giàu. Trong số đó có nguyên nhân là bởi người giàu biết tiêu tiền. Mỗi đồng tiền của người giàu chi ra đều phải sinh lời. Người giàu không bao giờ tiêu tiền vô ích. Không biết tiêu tiền thì không thể giàu. Vì thế ở đây không bàn về cách tiêu tiền của người giàu. Chỉ nhớ về cách tiêu tiền của người giàu.”

Về cách “tiêu tiền của người giầu” ở VN thì báo chí ở xứ sở này đâu có bao giờ thiếu thông tin. Họ thuộc về một giai cấp mới, và được G.S Nguyễn Văn Tuấn gọi là bọn (nouveau riche) giầu xổi :

Nếu có người “chơi” một con tép giá “nghìn đô” và con chó “triệu đô” (hay “chiếc lá cảnh nửa tỷ đồng”) thì việc hiến tặng vài trăm triệu cho một cơ sở giáo dục đâu có phải là chuyện lớn. Bách nhân bách tính mà. Mỗi người có một kiểu tiêu xài khác chớ, miễn đừng có xài tiền của bá tánh là tốt rồi. 

Chút “miễn trừ” này, tiếc thay, rất ít khi được giới quan chức VN lưu tâm. Họ cứ chơi xả láng sáng về sớm bằng mồ hôi nước mắt của thiên hạ nên vẫn thường gây điều tiếng tùm lum.

Vụ lùm xùm mới nhất, vừa xẩy ra hôm 5 tháng 11 vừa qua, liên quan đến việc ông Bộ Trưởng Công An Việt Nam (“đớp thịt bò vàng giá hơn ngàn Mỹ Kim”) khiến cho bàn dân thiên hạ xôn xao. RFA tường thuật: “Tờ The Sun, nhật báo xuất bản tại Vương quốc Anh, Bắc Ireland và Cộng hoà Ireland, gọi bữa ăn của Bộ trưởng Tô Lâm là ‘Bò Cộng sản’… một loạt trang mạng và các tờ báo khác trên thế giới cũng đều đăng bài về bữa ăn này của Tô Lâm như BBC, VOA, Bangkok Post, The Straits Times, Yahoo News….”

Còn dân Việt thì (ôi thôi!) rủa xả không ngớt :

  • Phạm Đình Trọng: “Tận cùng bất lương, tận cùng giả dối.” 
  • Phạm Minh Vũ: “Ăn trên xương máu đồng bào.”
  • Thái Hạo: “Hoang phí bằng lối sống xa hoa phè phỡn là biểu hiện của sự tha hóa nhân tính. Đối với một triều đại thì đó là dấu hiệu của suy tàn và diệt vong.”
  • Nguyễn Ngọc Già : “Thiên hạ, với hàng ngàn lời bình phẩm chát chúa pha lẫn mặn đắng, có lẽ làm cho đầu lưỡi của ông Tô Lâm và ông Tô Ân Xô cùng hơn 5 triệu đầu lưỡi của đảng viên ĐCSVN và đặc biệt là 18 cái lưỡi của thành viên Bộ Chính trị, gần như bị tê cứng hơn cả ướp muối.” 
  • Trần Trung Đạo: “Trong suốt 47 năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.”

Sao mà nặng lời dữ vậy, mấy cha?

Có vị còn phát biểu (cứ y thật) rằng vụ này sẽ lôi thôi lớn, và lôi thôi lắm, chứ chả phải chuyện đùa đâu. Sự nghiệp chính trị của chú Lâm – tới đây – kể như là chấm hết. 

Hổng dám hết đâu!

Chơi tới bến như Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Hà Giang (Nguyễn Trường Tô) mà vẫn hạ cánh an toàn thì chỉ ăn (có mỗi một miếng thịt bò) thôi nào phải là chuyện lớn. Hồi năm 2018, chú Lâm còn làm một vụ dại dột hơn nhiều (khiến cả Âu Châu sửng sốt, sau khi bắt cóc Trịnh Xuân Thanh) mà cũng có sao đâu. 

Bỉnh bút Nguyễn Trường Sơn (VNTB) trấn an: “… phía sau ngài Tô Lâm là thể chế độc đảng, là 95 triệu dân răm rắp tuân lệnh, là Bộ Chính trị đứng trên hiến pháp, là nền báo chí một chiều, là nền tư pháp luật là tao, tao là luật, là một quốc hội có 95% là đảng viên của một đảng chính trị.” Đảng và Nhà Nước, chắc chắn, sẽ không bao giờ đụng chạm gì tới “cái lá chắn” của chế độ này cả. Khỏi có lo đi.

Tuy thế, nếu tôi là chú Lâm thì tôi sẽ nhẩy cầu Long Biên cho nó xong đời. Chớ sống gì nổi nữa, hả Trời!

Ngày 20/11 của những Nhà giáo lên tiếng vì hiện trạng đất nước

Ngày 20/11 của những Nhà giáo lên tiếng vì hiện trạng đất nước

Cao Nguyên
2021-11-19

Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh tại phiên tòa án ở Nghệ An hôm 15/11/2019

Báo Nghệ An

Từ xa xưa nghề giáo là một trong những công việc được coi trọng nhất ở Việt Nam. Với văn hoá “tôn sư trọng đạo”, đã có rất nhiều tác phẩm ra đời nhằm ca ngợi công ơn của thầy cô giáo vì đã truyền đạt cho học trò không chỉ kiến thức mà còn đạo làm người.

Tuy nhiên, nhà giáo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam lâu nay chỉ được phép giảng dạy theo giáo trình, việc lên tiếng, bình luận về những mặt trái của xã hội là điều cấm kỵ.

Nhân ngày mà Việt Nam dành riêng để tôn vinh những người thầy, RFA phỏng vấn một số nhà giáo, họ đã dành hàng chục năm trời trong sự nghiệp “trồng người”, nhưng đồng thời, họ cũng là một người dân quan tâm và lên tiếng trước những bất công của xã hội hay chủ quyền đất nước. Vì vậy, họ gặp không ít khó khăn, chèn ép và thậm chí bị cô lập trong chính môi trường sư phạm.

Nhà giáo bị bỏ tù vì lên tiếng trước bất công xã hội

Thầy giáo, tù nhân lương tâm Nguyễn Năng Tĩnh trước đây từng dạy nhạc và là giảng viên trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An. Ông người được biết đến qua các video dạy học sinh những bài hát bị cấm tại Việt Nam như “Trả lại cho dân” hay “Việt Nam Tôi đâu”…

Còn vợ là chị Nguyễn Thị Tình, hiện đang là giảng viên bộ môn Sinh tại trường Đại học Đồng Tháp.

Từ năm 2012, thầy giáo Tĩnh vẫn thường lên tiếng về nhiều vấn đề xã hội. Do đó, ông luôn bị Chính quyền theo dõi, sách nhiễu hay thậm chí là tấn công nhiều lần. Đến năm 2019, ông Tĩnh bị bắt và kết án 11 năm tù giam và năm năm quản chế về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Chị Tình chia sẻ với RFA rằng, khi chồng mình bị quy cho là phản động rồi bị bắt, tất cả mọi động thái, điện thoại hay các tài khoản cá nhân của chị đều bị kiểm soát chặt chẽ. Dù vẫn được đi dạy bình thường nhưng chị cảm thấy như bị cô lập, bạn bè đồng nghiệp không ai dám trò chuyện nhiều:

“Trong cái xứ miền Tây này chị cảm thấy cô đơn, lạc lõng vì tư tưởng không giống ai.

Nói chung là bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, nhà trường người ta đều sợ. Tại vì chị lên tiếng viết bài cho chồng, người ta sợ dính dáng. Có giáo viên, sinh viên hủy kết bạn. Chung quy lại là người ta thương mình nhưng mà người ta sợ.”

Chị nói từ ngày anh bị bắt, đồng lương giảng viên của chị không thể đủ để trang trải vừa nuôi hai con nhỏ ăn học, vừa gửi đồ thăm nuôi chồng, may nhờ có ông bà hai bên giúp đỡ và phải tiết kiệm lắm mới đủ chi tiêu qua ngày.

Không chỉ áp lực về tài chính, chị Tình chia sẻ thêm rằng chị rất khổ tâm khi phải nói dối các con rằng ba không bị bắt, ba chỉ đang đi làm việc ở một nơi xa chưa về, mỗi tháng ba được gọi điện về thăm nhà 10 phút. Con trai lớn của chị tận mắt chứng kiến cảnh ba của nó bị còng tay bắt đưa đi, từ đó con bị kích động mỗi khi nhìn thấy công an. Chị sợ con mang trong lòng nỗi thù hận, nên đành phải nói dối. Mỗi dịp lễ tết, chị mua quà gởi về nhà cho con và nói đó là quà do ba gởi tặng.

Dù cuộc sống khó khăn, dù bị đồng nghiệp xa lánh, nhưng với chị Tình, nghề giáo cũng như ngày 20/11 có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với một người thầy như chị:

“Nhưng mà đối với chị ngày 20/11 là một ngày rất là thiêng liêng, vì đó là ngày mà tôn vinh người giáo viên. Dù không quan trọng về vật chất, quà cáp nhưng mà cái tình cảm của học trò đối với giáo viên cũng rất là thiêng liêng.”

Hình minh hoạ: Biểu tình phản đối Trung Quốc Hà Nội hôm 17/7/2016. Reuters

Nhà giáo đấu tranh cho chủ quyền Quốc gia

Nhà giáo, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, người đã mạnh mẽ lên tiếng cho chủ quyền đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo Việt Nam, từ Sài Gòn nói với RFA rằng ông luôn tự hào được là một người thầy, với sự nghiệp 35 năm giảng dạy tại trường Đại học Cần Thơ và trường Đại học Mở TPHCM. Ông cũng từng vấp phải nhiều khó khăn, xung đột khi lên tiếng trước những vấn đề xã hội, đất nước. Tuy nhiên, ông coi đó như là một bài học cho bản thân mình:

“Quá trình mà đi dạy của tôi cũng có nhiều xung đột rất nhiều về kiến thức và các phương pháp trong giảng dạy. Nhưng đối với tôi, tôi không cho đó là một cái khó khăn, một thất bại hay là một vấp ngã hoặc là thua cuộc trong một cuộc đấu tranh, mà tôi cho đó là một kinh nghiệm cho mình đứng lên.

Tôi không coi khó khăn đó cản trở con đường tiến của mình, cái khó khăn đó là để cho mình biết mình đúng hay sai, và cái khó khăn đó dạy cho mình một bài học để giờ này, khi bước ra khỏi giảng đường đại học, khi đã đến tuổi về hưu, mình có thể tự hào mà nói “Tôi là một ông thầy”.

Một trong những kỷ niệm mà nhà giáo Đinh Kim Phúc không thể quên trong sự nghiệp giáo dục của mình là ông đã khơi dậy lòng yêu nước trong lòng sinh viên. Chính ông đã “gợi ý” cho các học trò của mình xuống đường tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa hồi năm 2007:

“Trong lần biểu tình đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh trong vấn đề Tam Sa vào năm 2007, thì tôi có “bỏ nhỏ” với một số sinh viên là đệ tử ruột, tôi nói rằng “ngày mai lúc chín giờ sáng, ra trước Tòa Lãnh sự quán Trung Quốc ở trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Tao sẽ đứng bên kia đường, tụi bây cứ coi cánh tay của tao và tất cả mọi người, ai đưa lên chừng nào thì chủ quyền của Việt Nam đến gần với đất nước chừng đó”. Đó là cuộc biểu tình mà không bao giờ quên được trong cuộc đời của tôi.

Nhà nước Việt Nam không khuyến khích vì sợ những cuộc biểu tình đó sẽ dẫn đến những cuộc bạo loạn lật đổ, nhưng bảo vệ chủ quyền là nghĩa vụ của tất cả người dân yêu nước xuất phát từ trái tim, từ khối óc, nói mà không làm gì cả thì tất cả chỉ là những lời sáo rỗng.”

Giờ đây, khi đã về hưu, ông vẫn còn nhiều trăn trở về những vấn nạn đang hiện hữu trong nền giáo dục Việt Nam và khẳng định giáo dục Việt Nam phải thay đồi thì mới mong Đất nước này phát triển được:

“Nền giáo dục Việt Nam phải thay đổi thì mới mong có được những con người sáng tạo, xây dựng trong tương lai. Xây dựng theo chiều hướng nào, xây dựng theo mô hình nào, vấn đề đó xã hội sẽ trao đổi, vấn đề đó thế hệ trẻ sẽ quyết định.

Thế hệ trẻ hiện nay phải có kiến thức, phải có quyết tâm, có tấm lòng, nhưng chỉ có tấm lòng không mà không có kiến thức thì cũng không làm gì được cho sự phát triển của đất nước hiện nay.”

Nhân ngày “học trò nhớ ơn thầy giáo”…

Nhân ngày “học trò nhớ ơn thầy giáo”…

Bởi  AdminTD

Trương Nhân Tuấn

20-11-2021

“Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”; “Không thầy đố mầy làm nên”… là các câu ca dao của Việt Nam nói lên “nghĩa vụ” của người con, của người học trò đối với bậc phụ mẫu và thầy giáo.

Văn minh Trung Hoa mà Việt Nam ảnh hưởng sâu đậm còn nhấn mạnh vai trò của người thầy trong xã hội. Thứ bậc của người thầy đứng trên cha mẹ: “Quân, sư, phụ”. Đứng đầu là vua, kế đến là thầy, sau chót mới là cha (mẹ). Đọc truyện, hay coi phim Trung Hoa ta thấy người học trò là “đệ tử”, gọi thầy là “sư phụ”. “Sư” là thầy và “phụ” là cha. Thầy đứng trên cha.

Việt Nam ảnh hưởng sâu xa văn minh Trung Hoa. Trật tự xã hội ở Việt Nam đã được định hình như vậy, kéo dài hàng ngàn năm. Trong suốt quảng thời gian đó ta không hề thấy có cái gọi là “ngày của thầy”, “ngày của mẹ” hay “ngày của cha”. Đây không phải là một sự thiếu sót trong quá trình xây dựng xã hội và quốc gia. Bởi vì xã hội Việt Nam ngày đó con cái luôn phụng dưỡng cha mẹ già. Con cái coi đó là “nghĩa vụ tự nhiên” của mỗi người con. Có gia đình, cả họ ba, bốn đời sinh sống chung trong một ngôi nhà.

Tương tự học trò luôn kính trọng thầy cô, coi đó là “nghĩa vụ” của học trò. “Phụng dưỡng cha mẹ già” và “kính trọng thầy cô” đã trở thành những “giá trị cốt lõi” xây dựng nên quốc gia tên gọi Việt Nam.

Cho dầu thù nghịch với tư tưởng bành trướng của lãnh đạo cộng sản Trung Quốc, nhưng cái nào (của văn minh Trung Hoa) “tốt”, cái nào “hay” ta phải nhìn nhận rằng nó “tốt” và “hay”. Văn minh Trung Hoa không phải do tập đoàn vô luân cộng sản xây dựng nên. Cộng sản Trung Quốc hay cộng sản Việt Nam đều xuất phát từ một lò duy vật, vô nhân tính.

Cái nào “tốt” ta giữ. Cái nào đồi phong bại tục, hủ bại… ta bỏ.

Những cái đã được thời gian thách thức, được xã hội chọn lọc và lưu truyền đời này sang đời khác… những cái đó trở thành các “giá trị nền tảng”. Người ta thấy không cần phải rườm rà, đặt ra các ngày lễ như “ngày của mẹ”, ngày “học trò nhớ ơn thầy giáo” v.v…

Thời trước, con cái hỗn láo với cha mẹ, học trò bất nghĩa với thầy cô… xã hội sẽ trừng phạt đứa con bất hiếu, đứa học trò bất nghĩa.

Xã hội bây giờ, với chủ nghĩa duy vật được sùng bái, người ta trọng “bề ngoài”. Thực tế cho thấy là càng có nhiều “ngày lễ” về cha, mẹ, thầy cô… thì số phận cha, mẹ, ông bà… càng “thê thảm”.

Chuyện ông bà bị cháu con bạc đãi. Chuyện con cái đuổi cha mẹ già ra khỏi nhà… Chuyện con cái kiện cha mẹ, con cái đầu độc, giết cha mẹ để lấy của cải… là chuyện “thường ngày”…

Quan hệ thầy trò thời xã nghĩa cũng không còn như ngày xưa. Đọc báo ta thấy các chuyện thầy giáo hiếp dâm học trò, thầy giáo “mua trinh” học trò… là chuyện cơm bữa. Chuyện gian lận thi cử, chuyện bằng cấp giả, chuyện học giả bằng thật… là chuyện thường tình. Ta có thể nói rằng 90% đảng viên CSVN có bằng cấp giả, học giả bằng thật.

Nhìn thực tế xã hội chỉ đem lại sự chua chát. Họ trò tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ… đa số không có công ăn chuyện làm. Một số lớn cử nhân, thạc sĩ phải giấu bằng cấp để xin việc làm, chạy xe grab hay làm phụ hồ.

Trách nhiệm là do thầy dạy, do mô hình phát triển quốc gia không phù hợp, hay do gia đình?

Những người tiêm nhiễm “văn hóa cổ”, kiểu người VNCH ở miền Nam ngày xưa, hiển nhiên phải chậc lưỡi thở than. Đạo đức xã hội, giềng mối giống nòi nay đã “nát bét” hết rồi.

Càng gò ép người dân phải “ơn đảng, ơn nhà nước”, hay buộc học trò phải “nhớ ơn thầy”, càng làm cho xã hội sống trong giả dối. Xã hội Việt Nam đã từ lâu là “xã hội đạo đức giả”.

Thỉnh thoảng tôi viết bài chỉ trích lề lối cai trị độc tài, ngu dân của đảng CSVN thì mỗi lần có những lời biện hộ kiểu “vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế”. Ông chủ tịch nước này, ông thủ tướng nọ của Việt Nam được tiếp đón long trọng ở nước ngoài…

Biện hộ kiểu vậy chỉ cho người dân Việt Nam thấy rằng mục tiêu của đảng CSVN là củng cố vị thế của đảng, hay của đảng viên lãnh đạo cao cấp… trước trường quốc tế. Trong khi trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia là “phục vụ cho người dân”, chăm lo cho đời sống của người dân… chớ không phải để phục vụ cho đảng, hay cho đảng viên.

Hôm qua tôi có đăng lại bài phê bình vụ “mừng ngày nhà giáo VN” viết từ năm 2016. Nhiều người (thầy giáo, cô giáo) chỉ trích. Tôi tái khẳng định lại ý kiến của tôi là không ủng hộ vụ “mừng ngày thầy giáo” kiểu duy vật bây giờ.

Có một thời gian thầy giáo, cô giáo VN bị liệt vào thành phần “phản động”, tức là giai cấp “trí” trong bốn giai cấp “trí, phú, địa, hào” cần tiêu diệt. Một số lớn các vị “giáo sư đáng kính” của VN đương đại là những đứa học trò đã từng quăng đá cho tới chết thầy cô của chúng trong thời kỳ “cách mạng văn hóa”, thập niên 50 thế kỷ trước ở Bắc VN.

Tôi cho rằng toàn bộ nhân sự thuộc ngành giáo dục của VN, thay vì yêu cầu học trò “nhớ ơn” mình, họ cần phải “nhìn lại” lịch sử, cần phải kiểm điểm lại trên thực tế mình đã giúp gì cho học trò nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung?

Bằng cấp của VN không nơi nào nhìn nhận. Học trò đào tạo không bao nhiêu đứa sinh sống bằng cái học của mình.

Thầy không có tư cách của thầy thì trò không có nghĩa vụ của trò. Cái học ngày nay đã hỏng rồi. Hỏng hiểu theo nghĩa “thời thế”.

Chính sách giáo dục của đảng đã làm tan nát hết cả trật tự xã hội truyền thống của VN. Nhưng trách nhiệm của thầy cô cũng không nhỏ. Thay vì cố gắng gượng lại, giữ được cái nào hay cái đó. Họ càng thúc đẩy cho quá trình hủy diệt thêm nhanh.

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?.

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?.

Tác giả: Phượng Vũ

Lợi tức đầu người (GDP) dân Na Uy đứng hạng 3 trên thế giới : 65,500 USD 1 năm, Mỹ hạng 7 = 50,000usd, nhưng vật giá ở Na Uy cao hơn Mỹ gần 3 lần, xăng giá 11usd /1 gallon, sale tax 25%, nhà hàng không cho free nước đá lạnh như Mỹ, khát phải mua 1 chai nước nhỏ giá 24 Krone = 4USD, suy ra nếu so sánh GDP Mỹ với vật giá Âu Châu thì GDP Mỹ phải cao hơn 150,000 USD!

Ngay giữa thành phố Oslo là công viên tên Vigelandsparken Sculpture Park có những bức tượng điêu khắc mỹ thuật, rộng 80 mẫu, hàng triệu du khách đến mỗi năm… nhưng chỉ có 1 nhà vệ sinh bên cạnh quán nước ngoài cổng, phải nhét đồng 10 Krones (1.75USD) để sử dụng, nhìn đoàn người xếp hàng rồng rắn bên ngoài chờ là… nhịn luôn!

Nước Mỹ số một…

Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

“Đi cho biết đó biết đây

Ở hoài một chỗ, biết ngày nào “khôn”.

Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc đi đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người”.

Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội (kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

Nhưng khi du lịch ra nước ngoài khác mới “thấm thía”!

Cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ 1$ – 1.5$/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến”, ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới!

Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra: tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Đó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại cho sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự!

Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến”, “bí” quá bèn hỏi:

– Bà có chịu tốn 10 Euro để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?

– Nín hết nổi rồi, bây giờ không phải 10 Euro mà 20 Euro tôi cũng chịu luôn!

Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc” quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!

Ở một số nước châu Á như Trung quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang như… cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1- 2 miếng giấy vệ sinh nhỏ.

Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Đúng là XHCN, hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng. Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó.

Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la…, bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ, khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn.

Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi, bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, laptop, I pad, I phone…

Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất. Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều đi ra ngay luôn. Lần này chuyến bay chuyển ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với va li carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó, leo lên xe buýt chở vô phi trường.

Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu x-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng, mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có, chỉ thấy toàn người là người

Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được. Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi…).

Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính “ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ). Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi một ly nước nhỏ. Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn!

Ôi Air France! Một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I don’t expect anything from anyone.”

Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Đức là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối châu Âu!

Đúng là có đi ra ngoài mới thấy tiện nghi ở nước Mỹ là số một, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ. Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự.

Đúng là “sweet home”. Ôi! “My beautiful America”. Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thứ 2 của tôi : Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:

“Phải chờ đến xế chiều

Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao!”

Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Coastal của Đức vừa đi. Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi điện cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer Service” để xếp hàng đi khiếu nại.

Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2,5,8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:

– Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?

– Đi kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài.

– Nhưng chúng ở đâu?

Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên. Chắc là dân châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền?

Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe, chị là bác sĩ hưu trí ở Đức. Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:

-Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Đã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi…

Không ngờ chị phản ứng mạnh:

– Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia, còn đòi xin lỗi…“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”…

Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi. Thôi “một sự nhịn chín sự lành”, nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi!

Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu châu khá mạnh (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa).

Kiểu này qua các nước Trung Đông chắc bị “xơi tái” quá, nhưng tôi nhớ một lần cách đây 5, 6 năm dân Mỹ qua Ai cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!

Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan. Chị trả lời:

– Chắc tại chị ấy ở Đức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Đức, không muốn nước nào qua mặt, mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người Viết Nam! (Chị cười) Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét!

Tôi chán ngán:

– À thì ra vậy! Hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu”.

Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy:

“Đôi khi ta muốn thoát ly

Đi thật xa khỏi cuộc đời này

Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai” (Lê Hựu Hà)

Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường, cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!).

Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người, quyền tự do…) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng!

Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “Một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:

“Tình yêu là trái chín của mọi mùa

Nằm trong tầm với của mọi bàn tay” (Mẹ Theresa)

Phượng Vũ

No photo description available.