Sài Gòn Và Tuổi Thơ Tôi – BÚT KÝ TRẦN MỘNG TÚ…

Van Pham

BÚT KÝ TRẦN MỘNG TÚ…

***

Sài Gòn Và Tuổi Thơ Tôi

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blancy( Hai Bà Trưng,) sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả:

Hoa hường phết (phết là dấu phẩy) …

Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. Tôi viết: Qua tường phết

Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt.

Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này:

Sài Gòn vòi nước bùng binh

Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên

Trụ đèn, giây thép, tượng hình

Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an

Mặc dầu đường rộng thênh thang

Ngựa xe đi lại luật hành phải thông

Mặc dầu đường rộng mênh mông

Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm

Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…

Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì.

Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba, sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc.

Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ.

Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp.

Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không có tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra. Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một cái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa.

Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ cái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác.

Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn, đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà. Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học của trường Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên.

Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 su bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho: Tiết Trực Tâm Hư)

Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambreta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai,với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống. Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh.

Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao mất mát một chốn để về…

May be an image of road

Hạnh phúc, niềm vui, thành công…

Hạnh phúc, niềm vui, thành công…

Thật ra rất đơn giản để có. Nếu không tin, bạn hãy đọc những dòng nhật ký dưới đây.

  1. Thế nào là thành công

Khi người ta đến tuổi trung niên, thân thể khỏe mạnh, có tiền dành dụm, đã kết hôn, vợ chồng quan tâm chăm sóc lẫn nhau, con cái vâng lời, có được công việc mà mình yêu thích.

Chẳng cần nổi tiếng, cũng không cần phát tài, không cần thiết cứ phải nhìn vào gương người ta mà làm việc, được sống đúng với chính bản thân mình, đây chính là thành công.

  1. Thế nào là niềm vui

Vu Quyên, một giáo viên đại học Phục Đán qua đời vì căn bệnh ung thư, vào những thời khắc cuối cùng của cuộc đời, cô đã viết trong nhật ký rằng: “Khi ở vào thời khắc giới hạn của sự sống và cái chết, bạn sẽ phát hiện rằng, mọi phấn đấu của bản thân (thức trắng đêm trong một khoảng thời gian dài giống như việc tự sát mạn tính vậy), những đòi hỏi mua nhà mua xe, đều mang đến rất nhiều áp lực cho bản thân. Những thứ này đều là phù vân cả. Nếu như có thời gian, hãy ở bên con cái nhiều hơn, lấy số tiền đó mà mua thêm vài đôi dép cho ba mẹ, đừng liều mạng để đổi căn nhà lớn gì đó, hoặc đổi xe hạng sang gì đó, hãy ở bên cạnh những người mà mình thương yêu, căn nhà nhỏ mà ấm cúng, thì đi xe đạp cũng sẽ thấy vui”.

  1. Giá trị của bạn nằm ở đâu

Nếu như bạn nằm liệt giường hoặc đột nhiên chết đi, việc đầu tiên mà đơn vị công tác của bạn làm chính là tìm một người khác để thay thế, tất cả đều sẽ vận hành bình thường, bạn sẽ không quan trọng như bạn nghĩ. Còn ba mẹ, người nhà và những đứa con của bạn, họ sẽ cảm thấy như bầu trời đã đổ sụp xuống. Đối với họ, bạn mới thật sự là người quan trọng. Vậy nên lúc có bệnh thì nên giành thời gian cho bản thân, làm việc đúng mức, ở bên gia đình nhiều hơn, yêu mến bản thân mình, sống những ngày tháng yên bình, vui vẻ và hạnh phúc.

  1. Hạnh phúc là gì

Trong nhà không có người bệnh, trong tù không có người thân, bên ngoài không có kẻ thù, trong mối quan hệ không có kẻ tiểu nhân, bên cạnh không có những kẻ xấu xa, làm việc có người thành thạo, đàm luận có người thông minh. Tụ họp có cao nhân, uống trà có hiền nhân, tán gẫu có người phóng khoáng,…

Trong cuộc sống, có những việc thích làm, có một thân thể khỏe mạnh, có người yêu thương mình, có một đứa con dễ thương đáng yêu, có những người bạn đã một thời gian không gặp mà nhớ đến.

Đây chính là hạnh phúc.

Đông Tuyền (ST)

Lời nói của đứa trẻ nghèo khiến người giàu xấu hổ

Lời nói của đứa trẻ nghèo khiến người giàu xấu hổ

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring đã từng nói: “Đừng bao giờ phán đoán bừa bãi về người khác”…

Vào những năm 1990 của thế kỷ 20, Behring đang đi ngang qua vùng Vịnh San Francisco thì bất ngờ phát hiện chiếc ví của mình bị mất. Người trợ lý lo lắng nói: “Có lẽ nó đã bị mất khi đi bộ qua khu ổ chuột ở Berkeley vào buổi sáng. Vậy phải làm sao bây giờ?”

Behring tỏ ra bất đắc dĩ nói: “Chúng ta chỉ có thể chờ người nhặt được ví liên lạc tới mà thôi”.

Hai giờ sau, người trợ lý thất vọng nói: “Mất rồi, đừng đợi nữa. Chúng ta không nên hy vọng vào những người ở khu ổ chuột”.

“Không, ta vẫn muốn chờ thêm một chút”. Behring bình tĩnh nói.

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring 

Người trợ lý cảm thấy rất khó hiểu, nói: “Trong ví có danh thiếp, người nhặt được nếu như muốn trả lại cho chúng ta thì họ chỉ cần mất vài phút gọi điện thoại. Nhưng chúng ta đã đợi cả buổi chiều, rõ ràng là họ không có ý định trả rồi”. 

Behring vẫn kiên trì chờ đợi. Khi trời sắp tối, chuông điện thoại đột nhiên vang lên. Chính người nhặt ví đã gọi điện và yêu cầu họ đến nhận ví tại một địa điểm trên phố Kata.

Người trợ lý càu nhàu: “Đây lẽ nào là một cái bẫy? Chẳng lẽ họ bắt cóc tống tiền?”

Behring không để ý đến lời nói của người trợ lý, lập tức lái ô tô đến khu phố Kata. Khi đến nơi hẹn, một cậu bé mặc quần áo rách rưới đi tới, trên tay cầm chiếc ví của Behring. Người trợ lý cầm chiếc ví, ông mở ra và đếm đếm, phát hiện thấy trong ví không thiếu một đồng tiền nào. 

“Cháu có một thỉnh cầu”. Cậu bé nghèo nói. “Các ông có thể cho cháu một chút tiền không?” 

Lúc này, người trợ lý cười ha hả: “Ta biết ngay…” Behring vội ngắt lời người trợ lý rồi mỉm cười hỏi cậu bé muốn bao nhiêu tiền.

Cậu bé nghèo không suy nghĩ nhiều liền nói: “Chỉ cần một đô la là đủ”. “Cháu mất rất nhiều thời gian mới tìm được nơi có điện thoại công cộng, nhưng cháu không có tiền, vì vậy cháu phải mượn một đô la của người khác để gọi điện. Giờ cháu cần phải trả lại số tiền này cho người ta”. 

Nhìn vào đôi mắt trong veo của cậu bé, người trợ lý cúi đầu xấu hổ. Behring hào hứng ôm cậu bé.

Ngay lập tức, Behring đã thay đổi kế hoạch từ thiện trước đó của mình. Thay vào đó, ông đầu tư vào việc xây dựng một số trường học ở Berkeley để trẻ em nghèo từ các khu ổ chuột dù không có tiền vẫn được đến trường.

Trong buổi lễ khai giảng, Behring nói: “Đừng phán đoán bừa bãi về người khác. Chúng ta cần cho mỗi người một cơ hội, chào đón một trái tim nhân hậu thuần khiết. Một trái tim như vậy đáng để chúng ta đầu tư”.

San San biên dịch

From: Helen Huong Nguyen

Đất nước bạn “có bao giờ được thế này hông” ?

May be an image of one or more people, people standing and road

Giờ, giả sử xóm bạn cần xây một cây cầu để “nối liền hai thôn thắm đượm tình quê” giá 10 đồng, cả xóm xúm lại hùn tiền đưa cho chính quyền để lo chuyện xây cầu.

Nhưng bọn quan chức tham nhũng cấu kết với bọn nhà thầu bất lương “ăn” hết 6 đồng, còn có 4 đồng, nên cây cầu xây xong nó sụm bà chè “tạo hình chữ V chớ hông sập” như trong hình. Chả ai dám đi vì hông muốn sụm bà chè đi chầu hà bá giống như cây cầu, nên phải phá đi làm lại.

Chi phí phá cầu tốn hết 2 đồng, xây cầu mới tốn hết 10 đồng nữa. Vị chi, để có một cây cầu giá 10 đồng, xóm bạn phải tốn 22 đồng. Vậy xóm bạn có mạt hông, hay xóm bạn “có bao giờ được thế này hông” ?

Đó là nói lần sau bọn quan chức hông dám tham nhũng nữa, chớ nếu tham nhũng nữa nhưng bớt lại, chỉ “ăn” hết 4 đồng, còn được 6 đồng, thì cây cầu xây xong chất lượng và tuổi thọ cũng giảm, xài được có mấy năm rồi lại phải phá đi làm lại, lại tốn nữa, chớ hổng giống như cây cầu Long Biên của bọn thực dân đế quốc áp bức bóc lột phản động thúi nát có tuổi thọ 100 năm dư …

Ờ … nghĩ thử chuyện đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông coi có giống vậy hông ?

Rồi … nghĩ thử bao nhiêu công trình trọng điểm quốc gia bị hư hỏng, đắp chiếu, bỏ hoang … coi có giống vậy hông ?

Rồi … nghĩ thử bao nhiêu lần “cải cách”, “cải tạo”, “đổi mới”, “sửa sai”, “sai đâu sửa đó, sửa đó sai đâu, sửa đâu sai đó”, “sáng đúng chiều sai, sáng mai lại đúng” … coi có giống vậy hông ?

Vậy đất nước bạn có mạt hông, hay đất nước bạn “có bao giờ được thế này hông” ?

Muốn so sánh, thì so sánh với lân bang trong cùng thời điểm, chớ tự mình so sánh với mình lại hông cùng thời điểm, thì so sánh mình thời nay với mình thời … Hùng Vương đi he, cho dễ thấy “có bao giờ được thế này hông”, rồi hăm he sẵn súng đạn, nhà tù để hổng ai dám cãi !

He …

Nguồn: fb Canh Le

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

    Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

    Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

    1. KHOẺ MẠNH
    Đạt Lai Lạt Ma:
    Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

    2. TÌNH THƯƠNG
    Tagore:
    Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

    3. NIỀM VUI
    Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh MỹFranklin:
    Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

    4. CHÍNH TRỰC
    Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
    Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

    5. TÔN TRỌNG
    Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
    Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu.
    Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

    6. NỘI TÂM THANH TĨNH
    Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
    Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

    7. ĐẠO ĐỨC
    Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
    Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

    8. GIÁO DỤC
    Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
    Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

    9. TRÍ TUỆ
    Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
    Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

    10. GIÁC NGỘ TÂM LINH
    Người vô danh:
    Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
  
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

From: TU-PHUNG

VỢ LỚN – VỢ NHỎ…!

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Đinh Trực    

VỢ LỚN – VỢ NHỎ…!

Cưới nhau được hơn hai tháng thì ông đi tập kết, bỏ lại cho người vợ trẻ 20 tuổi và nhà cửa, ruộng vườn cùng cha, mẹ già yếu nay bệnh mai đau…! Khi ông còn xa miệt mù bên chiến tuyến, thì ở quê nhà song thân của ông lần lượt qua đời…!

Mồ yên mả đẹp cho Ba, Má chồng xong, cô vợ tiếp tục thủ tiết chờ chồng, lo canh tác ruộng vườn, giữ gìn đất cát, thờ cúng, chăm sóc mồ mã tổ tiên bên chồng, bỏ hết những lời ngọt ngào yêu thương của những người đàn ông xa gần vây quanh ngỏ ý…

Sau ngày 30/4/1975, bà càng thấp thỏm mong ngóng ông về. Bộ lư hương trên bàn thờ được bà lau chùi không biết bao nhiêu lần, màu đồng đã lên nước sáng choang, cơ ngơi trên dưới, trong nhà ngoài vườn luôn sạch sẽ, ngăn nắp. Bà sợ ông về mà nhà cửa bộn bề thì bị trách chưa tròn phận vợ hiền…!

Nghe trong xã có ai đi tập kết trở về là bà tới hỏi thăm ngoài đó có gặp ông không, nhưng chỉ nhận lại lắc đầu từ họ…, nhưng họ nói không có giấy báo tử thì cứ yên tâm chờ ông về…

Bà mừng lắm…, tối nằm nhẩm tính năm nay bà 41 tuổi, còn ông 43 không biết có còn đẻ con được hay không, nếu ông trở về thì bà sẽ sinh cho dòng họ chồng một, hai đứa con nói dõi tông đường, có người đốt nhang thờ tự trước bàn thờ…!

Bà cảm thấy nóng ran mặt mũi vì mắc cỡ với ý nghĩ đó nhưng nỗi khát khao được làm vợ, làm mẹ vẫn âm ỉ hơn trong lòng suốt 20 năm qua, chẳng dám nói cùng ai…, nay đang bùng lên dữ dội trong lòng bà…

Sáng bà dậy sớm đón xe lam xuống Bệnh viện, Bác sỹ khám xong, nói bà vẫn còn khả năng làm mẹ, như lượm được vàng, trên đường về bà ghé chợ mua vài món đồ riêng của đàn bà mà lâu nay vì xa chồng bà đã không nhớ tới, về nhà bà tìm chỗ kín đáo để cất, sợ chị em bạn nhìn thấy thì chỉ có nước độn thổ…

Tháng 10 âm lịch trời lập đông, gió bấc thổi ù ù trên đọt cây vú sửa sau vườn…, thì bỗng ông trở về nhưng không phải một mình mà với bà vợ, người một tỉnh miền Trung và hai đứa con, một trai một gái đã gần 20 tuổi…

Chỉ vài ngày sau, khi sự đau đớn, hụt hẫng tận cùng vẫn còn nguyên, chưa kịp hoàn hồn để tính toán được gì cho mình thì bà đã bị mẹ con vợ nhỏ thẳng tay đuổi ra khỏi nhà, ông có can ngăn nhưng rất yếu ớt vì hình như ông đã bị lép vế trong cái gia đình đó từ lâu.

Bà vốn ăn nói nhỏ nhẹ, kính trên nhường dưới nên không phải là đối thủ của bà vợ sau, miệng ào ào tuôn những ngôn từ đanh đá có vần có điệu cướp lời không cho ai nói, cùng sự phụ họa của hai đứa con cũng chanh chua không thua gì mẹ.

Nghĩ tại ông Trời bắt mình bạc phận, vô duyên, bà nước mắt ngắn dài lo thu dọn áo quần dù chưa biết sẽ đi đâu khi Ba, Má ruột cũng đã mất, còn đứa em trai duy nhất thì ở bên vợ xa quê…

Nhưng bà con lối xóm và dòng họ bên chồng thì không chịu thua, họ đồng lòng lên tiếng phản đối, cuối cùng bà cũng được chia ba công ruộng gò, giáp ranh nghĩa địa của xã. Còn lại một mẫu ruộng tốt và mảnh vườn gần hai công có căn nhà thờ trong xóm phải giao lại cho ông và mẹ con vợ nhỏ.

Làng xóm xúm nhau đào đất đắp nền dựng một căn nhà lá ngoài ruộng để bà ở, rồi người này cho cái lu, người kia cho cái chén, đôi đũa…. Mỗi tối vài chị em bạn tới ngủ qua đêm để bà làm quen từ từ với chuyện nhà ở sát bên nghĩa địa.

Người vợ lớn thực tế không chồng, không con từ đó làm lụng sinh sống trên đám ruộng của mình…

Ông chồng không dám, dù chỉ một lần đến căn nhà lá của bà, còn bà thì bị mẹ con vợ nhỏ cấm bước vô căn nhà thờ do bà giữ gìn, chăm sóc hơn 20 năm nên bà dành dụm mua một cái tủ thờ để cúng kiếng Ba Má chồng…!

Thời kinh tế thị trường, mẹ con vợ nhỏ bán sạch ruộng vườn tổ tiên của ông để lấy tiền về “xây dựng kinh tế” ngoài quê, chỉ chừa mỗi căn nhà thờ cho ông ở vì không hiểu sao lần này Ông nhất định không theo vợ nhỏ về tỉnh ngoài Trung đó…?

Càng lớn tuổi ông càng nhiều bệnh nên đi đứng, vệ sinh rất khó khăn nhưng chỉ sống một mình, không vợ, không con, không cả tiền chi tiêu trong căn nhà thờ đã bắt đầu hoang tàn, đổ nát và nồng nặc mùi xú uế do ông thải ra lâu ngày không ai dọn rửa.

Cám cảnh cô đơn của chồng xưa…!

Bà lại sớm sớm chiều chiều chăm lo cho ông. Ngôi nhà thờ nhờ vậy lại được gọn gàng, sạch sẽ, nhang khói ấm cúng chứ không lạnh lẽo như trước…!

Nghĩa địa giải tỏa để xây chợ, Xã lên Phường, lên Quận, mấy đám ruộng gò có vị trí xấu của bà tự nhiên có hai mặt tiền mà mặt tiền, giáp với ngôi chợ mới, dài hơn trăm mét nên có giá hàng ngàn lượng vàng… Biết tin này, Mẹ con vợ nhỏ tức tốc “Nam tiến”, họ kéo nhiều người đồng hương tới chửi bới, la lối hăm dọa buộc bà phải “trả ngay đất của tổ tông cho con của bà…?”.

Chuyện chia đất lúc bà bị đẩy đuổi năm xưa được một người am hiểu giúp làm giấy tờ đúng qui định nên bà đã được cấp giấy đỏ, nhân chứng sống còn nhiều, ông giờ cũng cứng rắn bảo vệ lẽ phải chứ không yếu đuối mặc cho vợ nhỏ muốn làm gì thì làm. Mẹ con vợ nhỏ bị lập Biên bản gây rối trật tự công cộng, đám người lạ mặt bị buộc phải lập tức giải tán nếu không sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, lại thêm bà con mỗi người một câu chê bai, đàn ông trai tráng trong phường biết chuyện kéo tới rần rần, tỏ rõ thái độ sẵn sàng ra tay bảo vệ bà nếu bên kia dám làm liều nên mẹ con vợ nhỏ cùng đám đồng hương đành phải vội vã rời khỏi hiện trường…

Ngày ông về với tổ tiên…, chỉ có bà và ít người bên họ chồng đứng cạnh quan tài, bà vẫn để tang chồng dù chỉ được làm vợ một lần nữa với ông khi chưa đầy 6 tháng…!

Nhưng may mắn thay, bà đã có giọt máu của ông đã chảy trong huyết quản…!

Bà có tìm được số điện thoại rồi nhờ người gọi báo nhưng vợ nhỏ của ông, bà vợ nhỏ không còn sức để đi xa vì đã nhiều năm bệnh tật triền miên, hai đứa con của vợ nhỏ đã đi khỏi xứ từ lâu, không biết làm ăn ra sao mà không thấy về, cũng rất ít khi gọi điện dù chúng biết rõ mẹ đẻ đang sống quạnh quẽ một mình với tuổi già ốm yếu ở quê nhà…!

Ngẫm ra, bà là một người có tình người trong thiên hạ…!

(Đinh Trực sưu tầm)

“Trăm năm trồng người…”

TẠP GHI HUY PHƯƠNG – BÀI VIẾT ĐÃ CŨ NHƯNG VẪN ĐÚNG CHO NGÀY HÔM NAY…

***

Có Những Sự Thật Không Cãi Được: – Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức.

“Trăm năm trồng người…”

Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Đẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Đặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.

“Trăm năm trồng người…”

Một trong những “ranh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em“quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Tàu là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà“bác.”

Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.” (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).

Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt.

Nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy! Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản.

Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.

Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 46 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai.

Sau nữa là cả nước từ 46 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi.

Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.

Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội.

Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống.

Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.

-Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi cả những gì quý nhất.

– Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…

– Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại vì không đi được, hay đang còn kiếm tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.

– Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!

– Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.

– Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.

– Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.

-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.

– Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Đội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,” nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi quốc gia có những cái nhìn thiếu thiện cảm.

Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, ai? vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?

– Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia…

Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.

– Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng,“Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sàng giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”

Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.

Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”

 THIÊN ĐÀNG VÀ HOẢ NGỤC

 THIÊN ĐÀNG VÀ HOẢ NGỤC

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Con người sống ở đời luôn luôn phải lựa chọn.  Làm thế nào để khôn ngoan chọn lựa cho mình những điều tốt đẹp và hạnh phúc lâu dài.  Bối cảnh xã hội, cùng với những nguyên nhân, chủ quan và khách quan, nhiều khi làm cho người ta lầm lạc.  Có những khi tưởng là chắc chắn vững bền mà thực ra chỉ là đuổi mồi bắt bóng.  Đối với người tin Chúa, cuộc sống luôn là sự chọn lựa giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa Thiên đàng và hoả ngục.  Vì con đường hạnh phúc là con đường hẹp, còn con đường hư hỏng lại rộng rãi thênh thang, nên sự chọn lựa này nhiều khi rất cam go, khiến chúng ta phải hy sinh mất mát vật chất cũng như tình cảm.

Bài Tin Mừng hôm nay như một tổng hợp nhiều bài học giáo huấn trong một đoạn văn ngắn.  Tác giả Luca chắc hẳn đã thu góp sưu tập những lời giảng dạy của Chúa, rồi đặt chúng bên cạnh nhau theo một lối hành văn cô đọng có chủ ý gửi gắm những thông điệp cụ thể.

Trước hết, Chúa Giêsu dạy chúng ta về tình liên đới hài hoà để chống lại sự ghen tị chia rẽ.  Đây cũng là giáo huấn mà chúng ta đã nghe trong Lời Chúa Chúa Nhật trước.  Tông đồ Gioan khó chịu khi thấy những người khác nhân danh Đức Giêsu mà trừ quỷ.  Lập luận của ông thuần tuý trần tục, với tư tưởng phe cánh: ai không cùng nhóm với các môn đệ Thày thì không thể nhân danh Thày.  Gioan cũng như một số môn đệ khác tự cho mình là được ưu tuyển, là chính danh, để coi thường những người khác và muốn phủ nhận những điều tốt lành họ đang làm.  Chúa Giêsu không quan niệm như thế.  Người khẳng định: Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.  Sự ganh tị cũng được nhắc tới trong Bài đọc I. Ông Giosuê, người sau này sẽ trở thành thủ lãnh kế vị ông Môisen, cũng ghen tương với những người khác và không chấp nhận cho họ nói tiên tri, trong khi chính Chúa ban cho họ khả năng ấy.  Điều đó cho thấy sự nhỏ nhen của của người.  Họ muốn giành quyền Thiên Chúa để phán xét theo cái nhìn thiển cận và ghen tương của mình.  Chúa dạy chúng ta hãy có cái nhìn công bằng hơn.  Bất cứ ai làm điều tốt, dù họ thuộc về phe phái chính trị hoặc về tôn giáo nào, đều đáng trân trọng.  Thiên Chúa là nguồn gốc của Chân, Thiện, Mỹ, nên những ai làm những thiện hảo và tốt đẹp đều đang hướng về Chúa, và mặc dù không ý thức điều đó, họ vẫn đang diễn tả vẻ đẹp và sự tốt lành của Ngài.

Từ khái niệm hài hoà yêu thương, Đức Giêsu nhắc đến tình liên đới của những ai muốn làm môn đệ Chúa.  Hình ảnh một chén nước lã quá đơn giản, mà khi được trao tặng với tư cách là môn đệ của Chúa, sẽ mang lại những lợi ích lớn lao.  Trong bài giảng về ngày phán xét chung (x. Mt 25,31-46), Chúa Giêsu còn nhắc tới giáo huấn này.  Hơn nữa, Người còn đồng hoá mình với những người bé mọn, cô thế cô thân và bất hạnh đau khổ.

Chọn lựa Thiên đàng chính là chọn lựa tình liên đới và yêu thương.  Hoả ngục là nơi dành cho những người ghen ghét hận thù.  Lời giáo huấn của thánh Giacôbê mang âm hưởng của vị Thẩm phán trong ngày cánh chung.  Tác giả nghiêm khắc khiển trách những người giàu, vì họ chỉ lo tích trữ của cải mà vô cảm với những người nghèo xung quanh.  Một cách đặc biệt, thánh Giacôbê lên án những người làm giàu bất chính, thu lợi từ những hành vi gian lận của người nghèo.  Họ sẽ phải nhận được hậu quả do những việc ác họ đã làm.

Sống ở đời, con người không phải là những ốc đảo riêng rẽ cô đơn, nhưng liên đới với nhau trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ.  Mỗi hành vi cử chỉ không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, mà còn liên luỵ hoặc làm dịp cho người khác vấp phạm.  Đối với Chúa Giêsu, những người làm gương xấu thật đáng lên án, đến nỗi thà buộc cối đá lớn vào cổ mà quăng xuống biển.  Điều đó có nghĩa những việc xấu gây nên những hậu quả vô cùng tai hại cho những người xung quanh, nhất là đối với những người đơn sơ và trẻ em.

Như đã nói ở trên, cuộc sống là sự chọn lựa giữa ánh sáng và bóng tối, cái thiện và cái ác, sự thánh thiện và tội lỗi, Thiên đàng và hoả ngục.  Chân, tay, mắt là ba phương tiện chính yếu để thực thi mối tương giao với người khác.  Vì vậy, cần phải có con mắt trong sáng, và phải có những hành vi thiện lành. Chắc chắn Chúa không đòi chúng ta phải chặt chân, chặt tay hay móc mắt, nhưng Chúa muốn chúng ta dành cho Chúa một tình yêu ưu tiên, vượt lên trên mọi tình cảm và quyền lợi trần gian, nhờ đó chúng ta sẽ đạt được gia nghiệp vĩnh cửu Chúa dành cho ai trọn tình yêu mến Ngài.

Một tác giả đã viết: Người quân tử khắt khe với bản thân và rộng rãi với người khác.  Ý tưởng này được nhấn mạnh trong giáo huấn của Chúa Giêsu.  Cách nói tạo hình ảnh gây ấn tượng như chặt chân, chặt tay, móc mắt… diễn tả sự chọn lựa cương quyết giữa hạnh phúc đời này với hạnh phúc đời sau, giữa sự thanh thỏa nội tâm với những bổng lộc trần thế.  Đây cũng là cách khẳng định mạnh mẽ về sự dứt khoát từ bỏ những nguyên nhân gây nên tội ác, để trung tín với Đấng đã hy sinh mạng sống vì yêu thương chúng ta.

Tương lai của chúng ta là Thiên đàng hay hoả ngục?  Đó là kết quả do sự lựa chọn của chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Nguồn: https://www.tonggiaophanhanoi.org

From: Langthangchieutim

30/30 điểm không đậu đại học thì có thể thét lên: Quân lừa đảo!

30/30 điểm không đậu đại học thì có thể thét lên: Quân lừa đảo!

Bởi  AdminTD

 Chu Mộng Long

22-9-2021

Bài trước tôi viết: Bộ Giáo dục và Đào tạo không còn là một Bộ quản lý về giáo dục và đào tạo nữa khi để học sinh đạt điểm tối đa mà không được tuyển vào đại học. Viết như vậy vẫn chưa giải phóng được ức chế!

Không cần biết kết quả dạy học kiểu gì, thật hay ảo, nếu là tôi, đi thi đạt điểm tối đa mà vẫn bị đánh trượt thì tôi chỉ có thể thét lên: “Quân lừa đảo!” Và tất nhiên, có thể khởi kiện!

Chỉ có lừa đảo mới để con người ta thi đạt điểm tối đa mà bị trượt. Đây là điều không thể diễn ra ở một nền giáo dục trung thực!

Tôi kể chuyện này cho các bạn nghe để thấy có lừa đảo không?

Cách đây gần 30 năm, một trường THPT tại thành phố Quy Nhơn ra thông báo thi tuyển dụng giáo viên. Chỉ tiêu tuyển 3 người. Dự thi có khoảng 20 sinh viên mới ra trường. Hồ sơ kèm lệ phí thi khá cao. Kết quả thi công bố từ cao xuống thấp. Những người đứng hàng thứ nhất, thứ nhì đầy hy vọng sẽ được tuyển dụng. Bất ngờ, Hiệu trưởng tuyên bố… không tuyển ai cả! Có nghĩa là người đứng hàng thứ nhất, thứ nhì vẫn trượt!

Và bất ngờ hơn, sau đó Hiệu trưởng âm thầm tuyển dụng người đứng hàng bét!

Nếu các bạn ở trong cuộc, có thấy đây là sự lừa đảo không?

Thôi thì chuyện tuyển dụng lâu nay vẫn thường có bao nhiêu điều ẩn khuất. Nhưng riêng chuyện tuyển sinh cho bọn trẻ thì không thể ẩn khuất mà phải minh bạch. Một học sinh khi đạt điểm tối đa trong tuyển sinh, tức không thể phấn đấu hơn được nữa, ngưỡng cửa cuộc đời đang mở ra với bao nhiêu niềm tự hào và hy vọng, lại bị xem là trượt đại học, có hụt hẫng và rơi xuống thẳm sâu địa ngục không?

Đám trẻ này không dám nói ra chứ tôi tin chắc chúng sẽ nghĩ đó là một nền giáo dục lừa đảo, vô luân! Chúng phấn đấu học giỏi để làm gì?

Đề nghị Bộ trưởng lên tiếng và giải quyết chuyện này. Con người ta đạt điểm tối đa mà bị đánh trượt thì không thể chấp nhận được. Nếu Bộ trưởng cũng lạnh lùng cho rằng “30 điểm trượt đại học, không có gì là ngạc nhiên” thì đề nghị Bộ Giáo dục và đào tạo giải thể ngay lập tức, bởi công việc dạy học của thầy trò chúng tôi là hoàn toàn vô nghĩa!

KHÔNG CÓ TÌNH THƯƠNG NÀO CAO CẢ HƠN TÌNH THƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÃ THÍ MẠNG SỐNG VÌ BẠN HỮU CỦA MÌNH.

CANADA ĐÃ CHỐNG DỊCH KIỂU GÌ?

CANADA ĐÃ CHỐNG DỊCH KIỂU GÌ?

Canada chống dịch hay quá nha, không phong tỏa , chăng dây…

Canada, cũng như hầu hết những quốc gia khác trên thế giới, đã trải qua gần hai năm 2020-2021 kinh hoàng vì đại dịch Covid-19. Người chết, y tế quá tải, xã hội đảo lộn, kinh tế trì trệ đình đốn, mọi thứ sa sút không biết đến bao giờ mới mong hồi phục trở lại được.

Nhưng phải công tâm mà xét rằng, mọi cấp chính quyền ở Canada, từ thành phố, tỉnh bang đến liên bang, bất luận đảng phái nào, khuynh hướng chính trị nào, Bảo Thủ hay Tự Do, ly khai hay bất ly khai, bờ đông hay bờ tây, trong suốt hai năm qua thì tất cả họ đều đã chung tay, tận lực, gạt bỏ mọi khác biệt chính kiến, đảng phái để cùng thông qua những quyết sách chống dịch rất đúng đắn, khoa học, kịp thời, và tương đối hợp lòng dân.

Trong một chừng mực nào đó, có thể nói rằng Canada đã tương đối thành công qua hai năm chống dịch, dù với một cái giá phải trả quá đắt, là mức thâm hụt ngân sách trong năm tài khóa 2021 gần 382 tỷ dollar cdn, tức gần 19% tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân toàn Canada.

Đó là chưa kể con số hơn 26.6 ngàn sinh linh người dân Canada đã vĩnh viễn ra đi hai năm qua vì Covid-19, chiếm tỷ lệ 0.07% dân số (Dân số Canada là 37.59 triệu người, thống kê 2019).

So sánh với các nước khác, xin ghi lại đây những khác biệt của Canada trong hai năm chống dịch. Xin nói rõ là tôi hoàn toàn không có ý chỉ trích bất kỳ ai bất kỳ chính phủ nào, chỉ muốn ghi lại đây những quan sát chủ quan (subjective observations), để lưu lại về sau cho riêng mình:

  1. Canada không có chính sách truy vết tìm người bệnh. Canada không có khái niệm F0, F1, Fn.
  2. Canada cấm tiết lộ danh tánh hành trình của người bệnh, vì đó là phạm luật riêng tư cá nhân.
  3. Canada không có chính sách cách ly tập trung người bệnh, và chỉ dành giường bệnh, bệnh viện cho những trường hợp bệnh trở nặng, cần thở máy.
  1. Canada không có chính sách test khu vực rộng lớn, mà chỉ có những cơ sở y tế test miễn phí riêng lẻ cho người có nhu cầu. Ai muốn test thì đến đó mà test, không bắt buộc ai cả.

4b. Canada cũng không có loại giấy tờ gì như kiểu “giấy chứng nhận âm tính”.

5.Canada không có những cuộc chiến sặc mùi phe phái chính trị vềcái vật dụng rẻ tiền thông dụng chả đáng gì, là chiếc khẩu trang. Chả có bà nghị Canada nào than rằng đeo khẩu trang ngộp như phòng hơi ngạt, cũng chả có ông quan chức nào nói rằng bắt ép dân đeo khẩu trang là vi hiến.

  1. Các cấp chính quyền Canada không có những quy định chồng chéo, đối nghịch nhau về những chuyện như mở cửa hay không mở cửa trường học, phong tỏa hay không phong tỏa một thành phố, hay một tỉnh bang nào đó.
  1. Người đứng đầu cơ quan Canada’s Chief Public Health (tương đương với Dr. Fauci của Hoa Kỳ), là Dr. Theresa Tam, bà là một người châu Á di dân gốc Hong Kong. Bà này được ông cựu TT Canada thuộc đảng Bảo Thủ đặt lên vị trí mấy năm về trước, và được ông đương kiêm TT Canada thuộc đảng Tự Do trọng dụng. Bà này được cả hai phe cầm quyền và đối lập bảo vệ thoát khỏi mọi búa rìa chính trị, chỉ để bà ta chuyên tâm việc chuyên môn, góp phần hiến kế những quyết sách đúng đắn cho chính phủ về mặt phòng chống dịch bệnh.
  1. Canada không phun thuốc sát khuẩn ngoài đường, chưa bao giờ làm vậy trong mùa dịch.
  1. Canada có lúc lockdown cả thành phố, như mọi quốc gia khác. Nhưng Canada không lập chốt chặt xét hỏi ra vào thành phố, khu dân cư. 

9b. Không có “giăng dây” tại bất kỳ khu phố nào tại Canada, nhưng cũng có những “khu xanh, khu đỏ”. Tại những “khu đỏ”, tức khu vực có số người nhiễm Covid-19 cao, thì y tế Canada ưu tiên chích ngừa cho toàn bộ dân cư khu vực đó trước.

  1. Việc phong tỏa và dừng việc đi lại chủ yếu thông qua sự hô hào của chính phủ, kêu gọi sự tự giác của người dân, chứ không thông qua chốt chặn, cưỡng chế. Cũng có bắt phạt, nhưng rất hiếm.
  1. Canada không cấm hay quy định giờ giấc nghiêm ngặt cho từng người dân đi mua thức ăn.

11b. Tuy vậy, nhiều siêu thị tại Canada lại tự phát ưu tiên khung giờ giấc thuận tiện trong ngày chỉ dành cho người cao niên đi chợ (vì họ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội), hay cho người trong ngành y tế (như một cách tỏ lòng biết ơn sự hy sinh vất vả của ngành này)

  1. Cái gì thuộc về ăn, uống, hút (không có chích!), thì đều được kể là thiết yếu ở Canada. Rượu bia thuốc lá là mặt hàng tiêu thụ khủng khiếp qua mùa dịch tại Canada. Một thứ cũng được tiêu thụ rất mạnh đầu mùa dịch tại Canada là yeast (men, để làm bánh mì) và bột làm bánh.
  1. Không ai đói qua mùa dịch tại Canada. Phần lớn mọi người thì mập phì ra qua lockdown vì ăn rồi ngủ rồi ăn rồi lại ngủ rồi lại… ăn.
  1. Cái gì thuộc về thuốc men y tế thì cũng được kể là thiết yếu tại Canada. Condom và băng vệ sinh cũng được tính là mặt hàng thiết yếu.
  1. Cái gì không thiết yếu thì cũng có thể mua online trong lúc bị phong tỏa tại Canada, được ship tới nhà, dù cũng có khó khăn, chậm chạp đôi chút.
  1. Cũng có những thứ vật giá leo thang trên trời qua mùa dịch tại Canada, có thể kể là gỗ xây dựng, tất cả mọi thứ có liên quan đến TDTT tại nhà, làm việc tại nhà, thị trường địa ốc, và đặc biệt là cottage (nhà nghỉ gia đình ở vùng quê, sông nước, v.v.)
  1. Canada không cấm người dân đi bộ, đi tập thể dục ngoài trời trong suốt mùa phong tỏa, miễn sao mỗi người ra ngoài phải có khẩu trang, không tụ tập, và phải luôn cách nhau 2m giãn cách. Cũng có lúc Canada ra lệnh cấm ra ngoài đường, bắt phạt, nhưng chính lực lượng cảnh sát Canada đã bất tuân thượng lệnh, không đồng ý phạt người dân, nên lệnh cấm phải rút lại sau một thời gian ngắn.
  1. Canada phát tiền cho dân thông qua computer, laptop, iPhone, tablet, chứ không phát tiền mặt, cũng không phát bằng cheque có chữ ký của ông Thủ Tướng, cũng không phát trên tivi. Mỗi người dân trong độ tuổi lao động tại Canada, nếu mất việc vì Covid-19, được hưởng $1,800 đến $2,000 cdn một tháng. Trợ cấp cho doanh nghiệp có những khoản riêng. Trợ cấp cho người già, tàn tật, trẻ em, lại có những khoản riêng khác nữa.

18b Đến nay tháng 8/2021 khi mở cửa trở lại thì trợ cấp mất việc vì Covid-19 ở Canada đã cắt giảm chỉ còn phân nửa, vì phe đối lập chỉ trích phe cầm quyền cứ cho tiền dân hoài thì dân “lười”, không chịu cố công tìm việc làm mới.

  1. Suốt mùa dịch, Canada vẫn mở hoạt động giao thông công cộng trong thành phố (bus, subway), nhưng không mở cho giao thông xuyên tỉnh bang, tức ai ở tỉnh nào, ở yên tỉnh đó.
  1. Suốt mùa dịch, bộ sậu lãnh đạo mọi cấp chính quyền của Canada, từ ông Thủ Tướng, ông Thủ Hiến đến ông Thị Trưởng chường mặt lên ti vi hầu như là mỗi ngày, công bố đủ thứ biện pháp giúp dân qua mùa dịch, thôi thì lớn nhỏ hằm bà lằng như bà già cắp rổ đi chợ mua rau, từ việc cho dân, doanh nghiệp, sinh viên mượn tiền đến việc hốt dân Canada còn lang thang trên thế giới về lại quý quốc, đến việc đặt mua vaccine và dự trữ máy thở. Chẵng nghe ai kêu gọi chống dịch như chống giặc, cũng chẵng nghe ai an ủi người dân là ráng đợi qua mùa hè nóng thì virus sẽ tự biến mất đi.
  1. Sau một thời gian rồi thì người dân Canada cũng phát chán với mấy cái “bản mặt” “Thủ, thủ, thị” đó, không thèm bật ti vi nữa, nhưng họ không nhận ra một dụng ý mà mấy tay chính trị gia đó đã đạt được: Yên lòng dân. Lòng dân Canada nói chung suốt mùa dịch cũng bức bối, giận dữ, nhưng không mấy người oán giận chính phủ, vì biết rằng chính phủ đã tận lực với dân, minh bạch, công bằng, bất kể cầm quyền hay đối lập.

20b. Quan chức Canada không dám bỏ đi đánh golf trong mùa dịch (vì sân golf đóng cửa). Tại tỉnh bang Ontario có tay quan chức nọ lẻn đi chơi, bay sang mấy đảo Caribean (chắc vì quá nghiện golf?), bị báo chí phanh phui, nên chưa bay về lại mà đã bị ông Thủ Hiến buộc phải từ chức, để làm gương, vì thuộc cấp của chính ông ta mà vi phạm lệnh phong toả, thì ổng còn nói được cho con ma nhà họ Hứa nào nghe nữa?

  1. Canada cũng có những lúc dịch bùng phát cực điểm, người chết rất nhiều trong các khu dưỡng lão, nhà bệnh. Nhưng Canada không có cảnh quá tải lò thiêu, cũng ít quá tải bệnh viện.
  1. Có lẽ Canada làm được điều này (ít quá tải bệnh viện) là nhờ công lớn của chính sách san phẵng đường cong (đỉnh dịch) của chính phủ được người dân đồng lòng ủng hộ và làm theo.
  1. Có lẽ phần nữa là nhờ chính sách đúng đắn của chính phủ Canada (biết nghe lời các cố vấn y tế) là cho 80% người bệnh nhẹ chữa trị tại nhà, chỉ dành toàn lực y tế cho số 20% trở nặng cần nhập viện, nên số lượng máy thở có lúc gần như quá tải, nhưng chưa bao giờ Canada thật sự khủng hoảng máy thở hay máy oxy (ventilator/ concentrator).

23b. Nếu người nhà của bạn dính Covid-19, phải tự cách ly ở nhà, thì bạn cũng được chính phủ Canada trợ cấp tiền thất nghiệp, trong thời gian ở nhà lo nuôi người thân của bạn. Đây là nói về những người vẫn còn ra ngoài đi làm suốt mùa dịch, bao gồm lực lượng y tế, cảnh sát, các hãng xưởng sản xuất quan trọng, và dân ngành xây dựng (tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn thì dân xây dựng cũng bị bắt ở nhà luôn). Những người làm việc tại nhà (work-from-home) thì lẽ đương nhiên là không được hưởng một đồng trợ cấp nào từ chính phủ Canada.

  1. Số người tử vong tại Canada vì Covid-19, tuy vậy, cũng tương đối nhiều (26.6 ngàn người), có lẽ vì tháp dân số tương đối già của Canada.
  1. Canada không có tiêu chuẩn cán bộ, chính trị gia được chích vaccine trước, vì đối với y tế Canada thì thành phần này có rủi ro nhiễm bệnh và chết thấp hơn rất nhiều lần so với người già, người có bệnh nền, và nhân viên y tế. Mấy hạng người sau được ưu tiên chích trước mọi chính trị gia.
  1. Hai ông “Thủ, thủ”, tức Thủ Hiến (đầu tỉnh) và Thủ Tướng (đầu Canada) cũng phải đợi gần 2, 3 tháng sau khi Canada bắt đầu có vaccine, thì mới tới lượt mình chích, vì theo đúng qui định ưu tiên của Y Tế Canada về độ tuổi.
  1. Hai ông này cũng không có quyền lựa chọn vaccine Pfizer, vì hình như mấy “ông ngoại” của hai ông này đã qua đời từ trước.
  1. Canada cũng có thành phần antivaxx, nhưng cũng không nhiều, chắc vì dân Canada họ nghĩ Bill Gates chắc không nỡ lòng nào đặt chip vô người dân Canada, vốn dĩ quá hiền lành hiếu khách. Cho đến nay, đã có 50 triệu liều vaccine đã được chích tại Canada.

28b. Canada có tỷ lệ toàn dân được chích ngừa Covid-19 cao nhất hiện nay trong khối G20.

  1. Vaccine ở Canada miễn phí, nhưng không mua được,cũng không mang về nhà dùng riêng được. Hổng ai cho mượn, xin, vay vaccine ở Canada, nhưng đồng đều ai cũng có 2 mũi chích.

29b. Từ hồi vaccine mới bắt đầu có (tháng 1/2021), Canada đặt mua tổng cộng gần 150 triệu liều vaccine từ nhiều nguồn, trong khi dân Canada chỉ có khoảng 37 triệu người. Nhiều người lúc đó nói đùa là chính phủ Canada có ý mua vaccine đủ để dân họ… pha nước tắm. Thật ra đó là nước cờ khôn ngoan của Canada, chỉ đặt mua giữ chổ, vaccine chổ nào có trước thì trả tiền nhận về trước cho dân Canada chích, đến khi đã gần đủ, dư dùng (như hiện nay) thì Canada đem tặng lại cho thế giới qua chương trình Covax (Canada đã tặng 40 triệu liều), hay để nhà sản xuất bán lại cho các nước khác. Vaccine vẫn chưa ế mà.

  1. Hiện nay, chính phủ Canada đang lo chuẩn bị đối phó với “làn sóng thứ 4” của đại dịch, sắp sửa tới, dù số người nhiễm mới hiện nay vẫn còn thấp, nhưng sẽ có đà tăng nhanh. Chỉ hy vọng “sóng” kỳ này yếu hơn mấy kỳ “sóng” trước, cho dân Canada đỡ khổ chút xíu, chứ thật ra thì ai cũng mệt mỏi quá rồi!!!

30b. Tin mới hôm nay là trong vòng 5 tuần lễ tới, Canada sẽ đi bầu một ông Thủ Tướng mới! “Lập đổ chính quyền” là chuyện có thật ở Canada, nó diễn ra trong êm thắm hoà bình, không bạo loạn không đổ máu, cứ 2, 4 hoặc 5 năm lại diễn ra một lần. Người dân Canada trong vài tuần tới chắc sẽ nghe các đảng thay nhau trình bày cương lĩnh hành động của đảng mình, trong việc chuẩn bị đối phó với làn sóng thứ 4, và vượt dậy trở lại nền kinh tế. Nghe chán rồi thì dân Canada sẽ đi “chấm điểm” cho các đảng, xem cương lĩnh nào hợp lòng số đông dân Canada nhất, ngày 20/9/2021 tới đây.

Còn nhiều thứ khác nữa rất “Canada” xảy ra trong suốt mùa dịch hai năm qua. Để từ từ nhớ ra rồi bổ túc thêm. Bạn bè tôi dân Cà Na Điên ai nhớ thêm điều gì vui vui, xin góp thêm vào đây nha!

From: TU-PHUNG

Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập (1911-2001)

Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập (1911-2001)

Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập (GS. Ngô Tằng Giao) (Hồi ký)

 

 

TƯỞNG NIỆM CHA NGUYỄN VĂN LẬP
Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt

     Cha Nguyễn Văn Lập qua đời tính đến tháng 12 năm 2014 thời đã 13 năm trời trôi qua.
     Nhân dịp kỷ niệm này nơi đây ghi lại 2 bài tưởng niệm về Cha của Giáo sư Ngô Tằng Giao:
     1. Đất trời Đà Lạt mãi còn ghi (2002)
     2. Bài nói chuyện trong buổi giới thiệu tập sách “Tưởng Niệm Đức Ông Nguyễn Văn Lập”
     do Hội Ái Hữu Đại Học Đà Lạt tổ chức tại Mason District Center, Virginia, USA, ngày 1-6-2003.

Bài viết:

ĐẤT TRỜI ĐÀ LẠT MÃI CÒN GHI

     Thủ đô Hoa Thịnh Ðốn đang chuyển mùa. Những ngày nóng bức sắp trôi qua. Trên bầu trời đã thấy lờ lững những đám mây Thu. Người Ðà Lạt cũ cảm nhận được ngay cái lạnh đang ve vuốt trên đôi má, trên làn da, cái lạnh dễ thương chi lạ của núi đồi Lâm Viên thuở nào…

     Từ khi qua tới đất Hoa Kỳ hình như tôi chỉ mới trông thấy được mặt trăng từ khi dọn về ở tại căn nhà này. Một căn nhà nhỏ bé, xa nơi phố thị. Tôi vui vì chỉ cần bước đi ít bước là đã có thể hòa mình vào thiên nhiên. Tôi đã nhiều lần mải mê đứng lặng nhìn về những dãy núi chập chùng nơi chân trời xa mà thả hồn nhớ về Ðà Lạt thân thương, nơi tôi đã chất chồng bao nhiêu là kỷ niệm trong gần một phần tư thế kỷ sống liên tục tại chốn này… Hơn một chục năm trước 1975 và hơn một chục năm nữa sau 1975.

     Kỷ niệm vui buồn lẫn lộn. Nhưng những hình ảnh về Viện Ðại Học Ðà Lạt thì đối với tôi vẫn muôn đời thi vị, khó mà phai lạt… Tôi có dịp “làm quen” với Viện Ðại Học này vài năm sau khi tôi lên lập nghiệp tại Ðà Lạt. Ðó là lúc tôi tham gia vào Ban Giảng Huấn của trường Chính Trị Kinh Doanh. Vị khoa trưởng lúc đó là Giáo sư Trần Long. Qua sự giới thiệu của Giáo sư Trần Long mà tôi được hân hạnh gặp Linh Mục Nguyễn Văn Lập. Ngài là Viện Trưởng.

     Cha Lập hay mời các giáo sư dùng cơm. Ðây là dịp để gặp gỡ và chuyện trò. Tôi và các vị khác trong ban giảng huấn thường vui vẻ nhận lời vì Cha Lập rất thoải mái và vui tính. Cha cho uống rượu lễ và câu chuyện nổ như bắp rang. Cha có vẻ là một “nhà ngoại giao” hơn là một thầy giáo hoặc thầy tu. Có lần thấy tôi thích rượu lễ Cha đã cho mấy chai mang về (nghe nói rượu này được nhập cảng nguyên thùng lớn từ Vatican qua).

     Tôi cũng đã có dịp “làm báo” cho Cha. Hình như tờ báo cũng mang tên “Thụ Nhân”. Báo khổ lớn và được gửi in ở nhà in Lâm Viên trên khu Hòa Bình. Tôi lo bài vở, hình ảnh và ấn loát. Hôm phát hành là một ngày đại hội gì đó của Viện. Báo ra được vài số thì trao cho người khác lo tiếp hay “đình bản” tôi không còn nhớ rõ nữa…

     Cha Lập lúc đó trông “bệ vệ” với cái bụng của Ngài tỏ ra rất “có tư thế”, chúng tôi thường nói đùa như vậy. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi Cha. Ðã lâu lắm tôi không có dịp gặp Cha từ khi Cha rời Viện Ðại Học Ðà Lạt để lãnh nhiệm vụ khác. Mãi sau này tôi mới có dịp xem hình Cha chụp khi Cha qua thăm anh chị em Thụ Nhân bên Pháp. Hình chụp tại quán Ðào Viên (quận 13 – Paris) vào ngày 16-10-1994. Sau này được xem thêm những bức hình chụp Cha trong dịp xây cất Nhà Hưu Dưỡng cho Cha tại Việt Nam, thấy Cha già đi nhiều. Khuôn mặt khắc khổ, phong sương và… đầy vẻ suy tư. Tuy nhiên Cha vẫn giữ được nụ cười đầy nhân hậu, cởi mở như thuở nào!

     Thời gian sau này nghe tin Cha bệnh nặng. Ðến khi nghe tin Cha qua đời thì anh chị em trong gia đình Thụ Nhân Ðà Lạt tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn bèn có ý định thực hiện một cuốn sách để tưởng niệm Cha, muốn ghi lại những kỷ niệm lâu dài về cuộc đời của vị Cha già khả kính, bác ái đã dâng trọn đời mình cho giáo dục cũng như cho giáo hội. Công việc sắp tiến hành thì được biết hội Thụ Nhân Âu Châu cũng đã có ý định này từ trước và đang chuẩn bị thực hiện. Nhóm Thụ Nhân ở vùng thủ đô Hoa Kỳ bèn quyết định hủy bỏ ý định thực hiện cuốn sách ở vùng này để tập trung bài vở, hình ảnh và tài liệu… vào cuốn tưởng niệm bên Paris. Thế mới biết Cha Lập đã chiếm trọn cảm tình của đại gia đình Thụ Nhân ở khắp nơi trên thế giới rồi! 

     Ở vùng thủ đô Hoa Kỳ này ba người chủ chốt trong nhóm thực hiện đặc san về Cha Lập là tôi, chị Lê Tống Mộng Hoa và anh Nguyễn Tường Cẩm. Tôi nhớ lại lời Chị Hoa nói qua điện thoại: “Hay thật! Cả ba người chủ chốt này đều là tín đồ Phật Giáo cả!”. Càng thêm phần quý hóa! Bên Phật Giáo luôn quan niệm cuộc sống là “vô thường”. Thì cũng khác gì đâu. Tôi nhớ lại lời của Cha Lê Văn Lý thường nói với các học trò của Cha ở Viện Ðại Học Ðà Lạt: “Mọi sự đều là giả trá!”. Ðúng vậy! Chẳng có gì vĩnh cửu, mọi thứ đều chóng qua, chóng hết… Trần gian quả là quán trọ.

    Hôm nay trời Hoa Thịnh Ðốn đang bắt đầu trở lạnh. Ngôi ấm cúng trong nhà, xem cuốn video về đám tang Cha Lập ở Việt Nam do anh Nguyễn Tường cẩm gửi cho, tôi quả thật lại nhớ nhiều về Ðà lạt, nhớ về Cha Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập. (…)

    Ðại gia đình Thụ Nhân trên toàn thế giới xin vĩnh biệt Cha! Những “cây Thụ Nhân” Cha vun trồng chắc nguyện sẽ cố gắng vươn lên hùng vĩ giữa trời cao để khỏi phụ lòng Cha!

    (Virginia, Hoa Kỳ, tháng 9-2002)                                                                           Bài nói chuyện:

CÁC CỰU GIÁO SƯ TƯỞNG NIỆM
CHA NGUYỄN VĂN LẬP

      Cha Nguyễn Văn Lập là Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt từ năm 1961 tới năm 1970. Tháng 11 năm 1998 Cha được phong Đức Ông, Giám chức Danh dự của Tòa Thánh Vatican. Cha qua đời vào tháng 12 năm 2001 tại Bình Triệu, Việt Nam, hưởng thọ 91 tuổi. Cha làm Linh Mục trong 63 năm. Cha qua đời để lại sự thương tiếc của những người từng cộng tác với Cha, trong đó có các cựu giáo sư của Viện Đại Học Đà Lạt ở khắp nơi trên thế giới. Biết bao nhiêu là kỷ niệm đẹp đẽ từ thuở xa xưa lại ào ạt trở về …
 
KỶ NIỆM VUI
 

     – Giáo sư Nguyễn Phú Đức nhớ lại phương cách mà cha Lập mời các Giáo sư thuộc các Trường Đại học ở Saigon và những chuyên gia nhiều ngành từ Saigon lên Đà Lạt giảng dạy: “…việc tổ chức tiếp đãi rất chu đáo: tại Saigon, xe hơi của Viện đến tận nhà các Giáo Sư, đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất, rồi khi phi cơ đến Liên Khàng thì đã có xe của Viện chờ sẵn để đưa đến nhà Trường. Tại đó mỗi giáo sư được dành riêng một phòng tại Nhà Nguyện, và mấy bữa ăn trong mấy ngày giảng dạy đều dùng cơm chung với Linh Mục Viện Trưởng và các giáo sư khác. Vì vậy, giữa các Giáo sư và Cha Viện Trưởng có những tiếp xúc thường xuyên, ấm áp và cởi mở.”
 
     – Giáo Sư Phạm Cao Dương cũng phát biểu tương tự: “Đó là sự gần gũi và thân mật Cha đã dành cho những người từ xa đến giảng dạy ở Đại Học Dalat của Cha…” Giáo sư nhấn mạnh là cách đối xử của Cha “làm cho các giáo chức thỉnh giảng từ xa đến cảm thấy ấm áp, dễ chịu như ở nhà…”
 
     – Giáo Sư Nguyễn Như Cương không quên những kỷ niệm vui: “…mỗi giáo sư sử dụng một phòng riêng trong những ngày cư trú, có đủ trang bị để soạn giảng văn nếu cần. Ẩm thực tại nhà ăn khang trang của Viện, cạnh đó có một phòng khách lớn để các giáo sư họp, thảo luận hay đọc sách báo. Nhớ lại ngay buổi đầu đã thấy vui…”
 
     – Sư huynh Nguyễn Văn Kế ghi nhận rằng Cha Lập: “…đại lượng hảo tâm đối với giáo sư” …  “Ngài có khiếu gợi chuyện, rồi thì các giáo sư tiếp tục kể chuyện liên miên thích thú, thành tâm như anh em một nhà.”
 
     – Giáo Sư Ngô Đình Long nhớ lại thời gian gia đình giáo sư cư ngụ ở Đà Lạt: “…chúng tôi được Ngài xem như con em trong gia đình. Có món ngon vật lạ, Ngài cũng ban phần cho chúng tôi. Khi có khách, như nhiều giáo sư ở Saigon lên giảng dạy, mỗi bữa cơm tối tại phòng ăn tư thất Viện trưởng là một dịp cho chúng tôi chứng kiến sự đãi ngộ, lòng hiếu khách và tính rộng rãi vị tha của Ngài”
 
     – Giáo sư Lê Hữu Mục còn bổ túc thêm ý kiến rằng đó là: “…những món ăn ngon và sang trọng không kém gì các nhà hàng lớn ở ngoài phố, có khi lại còn hơn nữa, nhất là về các thứ rượu vang hảo hạng mà ngài mua sắm một cách đặc biệt cho các giáo sư sành rượu”.
 
     – Giáo Sư Lê Xuân Khoa thích thú kể chuyện cũ: “…kỷ niệm được lưu lại rõ nhất trong tâm trí của tôi là thỉnh thoảng sau bữa ăn tối, Cha rủ mấy anh em Giáo Sư ở Saigon đi ra phố uống cà phê Tùng. Và nói đủ mọi thứ chuyện thời sự vui buồn. Cà phê này đặc biệt lắm! Vì Cha còn đem theo một chai Cognac để châm thêm vào cà phê cho thêm hương vị. Cha cũng đem thêm một nắm Cigarillos để cho anh em ai biết hút thì thưởng thức cho đầy đủ”.
 
     – Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế khó mà quên được dịp ‘du hí’ rất đặc biệt với Cha Lập: “Ngài rủ tôi đi chơi một vòng ngoài phố. Ngài tự tay cầm lái xe. Đường đất quanh co, lên xuống. Lúc sau, chiếc xe Viện ngừng bánh trước một phòng trà ca nhạc ở trung tâm thị xã. Đủ trai thanh gái lịch, nhạc tiền chiến, nhạc đương thời hùng cũng có nhưng ủy mỵ, lãng mạn thì nhiều”.  
 
     – Giáo sư Nguyễn Khắc Dương cũng được đi theo Cha bữa đó, sau này vui vẻ tiết lộ với giáo sư Tế: “Dịp may hy hữu cho chúng tôi đó. Nhờ có giáo sư mà chúng tôi được ‘ăn theo’, đi ‘hộp đêm’ với Cha Viện Trưởng!”
 
HÌNH ẢNH TUYỆT VỜI
 

    – Frère Nguyễn Văn Kế nhớ lại hình ảnh Cha Lập là: “…một con người cởi mở, tính tình dễ dãi, ăn nói thành tâm. Ngài quen đứng ở cửa chính nhà hành chính của viện đại học. Có con chó nằm dưới chân quen hơi chủ nó lắm. Một điếu cigare bốc khói trên môi với trời Dalat vào sáng chiều lành lạnh ngọt. Coi ngài thật ấm áp. Ngài đứng thẳng người, tay khoác sau lưng trong tư thế tự tin, bụng ông địa giầu sang…”
 
     – Giáo Sư Nguyễn Cao Hách chẳng quên hình ảnh một thần tượng: “Lúc còn sinh thời, Linh mục Nguyễn Văn Lập tính tình hào hiệp, độ lượng cao cả, với một trí óc cực kỳ thông minh” … “Những người nào đã giảng dạy tại Viện tất không thể quên được hình ảnh của một vị Viện trưởng, tuy tuổi cao, đầu bạc, nhưng cực kỳ nhũn nhặn và khéo léo. Chưa từng bao giờ để mất lòng ai.”
 
     – Giáo sư Trần Long nhận xét rằng: “Cha có tài hùng biện” …”tôi đã học được nhiều ở nơi Cha về lối tín nhiệm và ủy quyền cho các nhân viên thuộc hạ. Tôi mãi mãi nhớ ơn cha Lập”…
 
     – Giáo Sư Lê Hữu Mục lên tiếng ca ngợi: “Về tài lãnh đạo của Cha Lập, ai cũng thấy là tuyệt luân. Nói như Lão Tử, ngài vô vi, nghĩa là ngài điều khiển mà như không điều khiển”.
 
     – Giáo Sư Nguyễn Văn Thạch tâm tình: “Ấn tượng sâu đậm Cha để lại nơi tôi là lối ăn nói nhẹ nhàng và cách đón tiếp ân cần của Cha, phản ảnh của một tâm hồn đơn sơ, hiền hậu và như luôn có một niềm vui và tin tưởng vào mọi người, vào mọi sự ở trong Cha”.
 
     – Giáo Sư Vương Văn Bắc ca tụng “Một thái độ tinh thần đáng ghi nhớ” của Cha Lập: “Tôi có thể xác quyết không một chút dè dặt nào là chưa bao giờ Linh mục Viện trưởng Nguyễn Văn Lập tìm cách chỉ thị, kiểm soát, gợi ý hay ảnh hưởng đến nội dung hay cung cách diễn giảng của tôi trong giảng đường. Linh mục đã tuyệt đối tôn trọng tự do tư tưởng của người giảng dạy, chắc chẳng vì lòng tín nhiệm một cá nhân mà vì ý thức sâu sắc rằng tự do tư tưởng chính là bản chất tinh túy, là động lực vạn năng của ngành đại học”.
 
KHÔNG KỲ THỊ TÔN GIÁO
 

     – Giáo sư Nguyễn Khắc Dương nhắc lại lời Cha Lập từng nói với ông: “Khi mời một giáo sư, giữa hai vị mà chuyên môn và tư cách ngang nhau, tôi có xu hướng mời giáo dân hơn là linh mục hoặc tu sĩ, một người ngoài kitô giáo hơn là một người công giáo. Như vậy để giữ tính cách ‘không tuyên giáo’ của nền học vấn nhân bản”. Giáo sư nhấn mạnh thêm: “Điều làm tôi sở đắc nhất là Cha Lập là người đã góp phần chủ yếu trong cái tự trị (đương nhiên là tương đối) của Viện Đại Học Dalat.”… Cha Lập không “biến nó thành một công cụ tuyên truyền cho bất cứ gì: kể cả truyền giáo cũng không!”
 
     – Giáo sư Lê Hữu Mục vẽ lại chân dung Cha Lập là: “…một vị viện trưởng không kỳ thị, ‘No discrimination’ là khẩu hiệu của ngài. Không bao giờ ngài phân biệt giáo lương… Có khi ngài lại tỏ ra ‘thiên vị’ người lương là đằng khác…” Giáo sư không quên một kỷ niệm về sự cởi mở của Cha Lập: “Tôi đã hướng dẫn sinh viên Đại Học Sư Phạm lên nghỉ hè tại Đại Học Dalat. Chúng tôi đã xây một pháp luân trên một ngọn đồi. Ngài đã cho xây thêm một vài kiến trúc phụ để biến khu này thành một công viên nhỏ rất ngoạn mục. Mỗi lần lên dạy học, đi qua khu vực này, tôi lại thán phục tinh thần tôn giáo rất tốt đẹp của cha Viện Trưởng”. Cái bánh xe Pháp của Phật giáo này quả có nhiều ý nghĩa trong khuôn viên Viện.
 
MỘT TẤM LÒNG VỊ THA NHÂN ÁI
 

     – Giáo sư Trần Long viết một bài lấy tiêu đề là “Hiện thân của lòng nhân” trong đó giáo sư phát biểu là: “Tôi rất kính phục Cha vì lòng rộng lượng đối với sinh viên nghèo khó và những người túng thiếu cần sự giúp đỡ” … “Cha Lập là một tấm gương sáng về lòng nhân ái vị tha giúp đỡ những kẻ khốn cùng”.
 
     – Giáo Sư Lê Văn xác nhận thêm: “Cha rất thương sinh viên nghèo, hằng giúp đỡ rất nhiều về phương diện vật chất, nhưng đến lúc thi cử thì Cha nhất thiết không can thiệp với hội đồng để vớt người này hay cho thêm điểm người khác. Điều này khiến tôi càng quý mến Cha hơn nữa”.
 
XƯA VÀ NAY
 

     – Giáo Sư Hoàng Ngọc Thành kể lại chuyện cũ. Năm 1956 khi ông đang dạy học tại Huế thì: “…có nhân viên văn phòng đến lớp mời lên gặp soeur bề trên. Tôi liền đến văn phòng soeur hiệu trưởng. Trong văn phòng ngoài soeur hiệu trưởng có một vị tu sĩ mặc áo đen, cao ráo và phương phi đẹp trai. Tôi được giới thiệu đấy là Linh Mục Nguyễn Văn Lập, hiệu trưởng trường trung học tư thục Bình Minh”. Rồi đôi bên xa cách nhau 12 năm. Vào năm 1968 giáo sư kể tiếp: “Tôi vui mừng gặp Cha Lập trở lại. Cha cũng rất hân hoan gặp lại tôi lần đầu tôi lên dạy tại Đại Học Dalat. Tay bắt mặt mừng… Tôi thấy Cha phương phi và bắt đầu có ‘bụng’ vì mập”. Giáo sư  kể tiếp là khoảng năm 1979 hay 1980 “hai vợ chồng chúng tôi có đi xe lam lên nhà thờ Bình Triệu thăm Cha. Chúng tôi đã nói chuyện khá lâu, có tặng Cha một số tiền nhỏ. Khi đi về cha tiễn khá xa.”
 
     – Giáo sư Lê Hữu Mục kể chuyện về Cha Lập khoảng năm 1952 rằng: “Ngài rất đẹp trai với làn da trắng mát, môi lúc nào cũng đỏ thắm như ăn trầu (không như môi các cô có bôi son), miệng hay cười tủm tỉm nhưng cũng đủ để lộ ra một làn da trắng nõn. Chúng tôi thường ví Cha như Clark Gable trong phim Autant en emporte le vent (Cuốn theo chiều gió) nhưng là một Clark Gable không ria. Giọng ngài không mạnh lắm, Ngài hát không hay, nhưng ngài có biệt tài kể chuyện”.
 
     – Giáo sư Phó Bá Long cho rằng các hoạt động của Cha Lập từ trước cho tới nay luôn là một tấm gương sáng: “Từ đó đến nay, mỗi lần về nước hầu như hàng năm, tôi đều có dịp thăm hỏi cha Lập và lại học được cách ‘nghỉ hưu’ của Cha trong những năm cuối của cuộc đời”.
 
     – Giáo Sư Lê Xuân Khoa kể lại chuyến về nước và có dịp ghé thăm Cha Lập sau ba mươi năm xa cách: “Cuộc ‘hội ngộ’ thật là thân tình và cảm động. Cha Lập đã ngồi chờ sẵn trong phòng khách của nhà thờ khi có người đưa tôi vào. Chúng tôi bắt tay nhau bằng cả hai bàn tay và Cha rất xúc động khi tôi ôm chặt lấy Cha một lúc lâu. Tôi thấy Cha ốm đi và già hơn nhiều so với hồi còn ở Dalat, nhưng sức khỏe còn tốt và giọng nói vẫn còn sang sảng”
 
     – Cuối cùng tôi dành lại nơi đây để đặc biệt đề cập đến một sự kiện mà tôi nghĩ là “thật tuyệt vời” trong cung cách của Cha Lập do Giáo sư Lê Hữu Mục nhắc lại: “Với Chúa Kitô được tôn thờ như một kiểu mẫu, Cha Lập cư xử với mọi người như một người Cha hiền lành, nhân từ. Với các giáo dân, Ngài là một Chủ Chiên đã hy sinh vì đàn chiên. Ngài không di cư, không di tản khi đàn chiên của Ngài bị đe dọa về an sinh, về đời sống. Điều này chính Ngài đã thổ lộ với tôi…” Giáo sư nhấn mạnh thêm rằng: “Gần một nửa thế kỷ sống bên cạnh Ngài, được chứng kiến những việc làm và những tính tốt có thể nói là siêu phàm”.
 
VĨNH BIỆT GIA TRƯỞNG
 

     Tôi đã lược ghi lại một số những kỷ niệm và tâm tư tình cảm của các cựu giáo sư Viện Đại Học Đà Lạt dành cho cha Lập, đa số là các vị đều từ nơi khác tới xứ hoa đào.     
     Riêng phần tôi thì gia đình tôi cư ngụ ngay tại thành phố Đà Lạt và tôi có hân hạnh cộng tác trong ban giảng huấn của Viện dưới thời hai Khoa Trưởng của phân khoa Chính Trị Kinh Doanh từ khoảng năm 1966 tới năm 1975 là Giáo sư Trần Long và Giáo sư Phó Bá Long. Những hình ảnh và kỷ niệm về Cha Lập của các giáo sư khác hầu như cũng ghi đậm nét trong cõi lòng tôi như vậy. Thật đẹp! Thật quý hóa! Thật đáng nhớ!
     Nhưng có lẽ không phải chỉ có vậy mà thôi. Rất tiếc là nhiều vị giáo sư đã qua đời trước Cha Lập. Nhiều vị khác chưa có dịp phát biểu cảm tưởng của mình và nhất là chưa có cơ hội góp mặt trong cuốn sách tưởng niệm Cha Lập. Tâm tư và tình cảm của quý vị đó chắc chắn còn đa dạng hơn nữa… Là một phật tử tôi quan niệm cuộc đời là ‘vô thường’. Có chi lạ đâu! Cha Lê Văn Lý (thay thế Cha Lập làm Viện Trưởng về sau này) cũng thường nói với các sinh viên của Viện rằng ‘mọi sự đều là giả trá’. Ý Cha muốn nói là không vĩnh cửu, không thật, không trường tồn!
     Nhớ đến cái vẻ đẹp mong manh của sương mù đất Lâm Viên giăng phủ nơi cây thánh giá trên nóc giáo đường của Viện Đại Học thuở nào tôi chỉ xin ghi lại đây một bài thơ họa của tôi. Tôi họa thơ của một cựu sinh viên tưởng niệm đến Cha.

   Bài xướng:

Tiễn Cha

Cuối cùng Cha cũng đã ra đi
Đau đớn đàn con biết nói chi.
Chín chục tuổi trần, đời mãi nhớ,
Sáu mươi năm thánh, Chúa luôn ghi.
Lâm Viên Trường cũ buồn xa cách,
Bình Triệu xóm nghèo khóc biệt ly.
Dẫu biết Cha về nơi cõi phúc,
Nhưng sao nước mắt vẫn tràn mi.
                                                

Trần Văn Lương
 
   Bài họa (nguyên vận)

 Tiễn Cha

Kiếp người ai cũng một lần đi
Quy luật ngàn năm chẳng lạ chi
Khi ở tiếng đời luôn vẫn nhắc
Lúc về bia đá mãi còn ghi,
Xưa nơi Đà Lạt vừa xum họp
Giờ chốn Thành Đô đã cách ly
Trần thế dù hay là cõi tạm
Tiễn Cha lệ vẫn ứa bờ mi.

Ngô Tằng Giao
 
     – Và có lẽ lời sau đây của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có thể coi như là lời chung của toàn thể các cựu giáo sư của Viện nhớ về Linh Mục Nguyễn Văn Lập, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt: “Giờ đây Đức Ông Nguyễn Văn Lập đã vĩnh biệt chúng ta. Trong niềm thương tiếc một vị Gia Trưởng từ nay vắng bóng, tôi xin kính cẩn cầu nguyện anh linh Ngài được hưởng An Bình nơi nước Chúa”.

          (Giáo Sư NGÔ TẰNG GIAO / 1-6-2003)

* Hôm nay là Rằm Tháng 8 Âm lịch (nhằm ngày 21.9.20121) tức là ngày Tết Trung Thu (仲 秋) hay Tết Nhi Đồng. Đọc lại 2 bài hồi ký của GS Ngô Tằng Giao về Cha Lập, lòng tui bồi hồi xúc động, tưởng nhớ đến vị Cha già nhân hậu, từ thiện, luôn cho nhiều hơn nhận…

 Chỉ còn khoảng 2 tháng nữa là đúng 20 năm ngày Cha từ bỏ trần gian điên dại này để lên Thiên Đàng, vui hưởng bình an, tĩnh lặng. Các quý Cha, quý Thầy thuộc VDH Dalat đã dành những lời lẽ đẹp đẻ để khen ngợi, ca tụng Cha. Đối với riêng tui, từ lâu Cha Lập chính là hình ảnh Đức Phật Di Lặc với nụ cười luôn nở trên môi, với giọng nói trầm ấm, bao dung, thân thiết…

Còn nhớ khoảng 2 năm trước ngày Cha Lập rời xa dương thế, trong dịp đến Lễ Phật ở Chùa Bạch Y Quan Âm(Byakui Kannon Otera) ở Tỉnh Gunma, tui đã kể sơ lược về Cha với vị sư trụ trì, đặc biệt nhấn mạnh ưu điểm là Ngài(Cha Lập) không bao giờ phân biệt Tôn giáo, vị sư đã vỗ tay khen ngợi đức hạnh của Cha và nói thêm: “Thiệt là may mắn cho những ai đã được gần bên Cha !”

Mong linh hồn Cha luôn An Vui nơi Nước Trời vinh hiển. 

TNK3 (Thái Minh Thông).