CHIÊM NGẮM TÌNH YÊU

CHIÊM NGẮM TÌNH YÊU

   Đối với người đời, hình ảnh thập giá là một điều gì đó đau đớn tột cùng và một sự thất bại thê thảm.  Tuy nhiên, với người Công giáo thì khác, thập giá là biểu tượng của hy sinh, của tình yêu và vinh quang.

     Hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta cùng nhau suy tôn Thánh giá, tức là chiêm ngắm tình yêu tự hủy của Thiên Chúa dành trọn cho con người.  Chính nơi thập giá ấy, ơn cứu chuộc đã đến với con người và cánh cửa trong thân phận làm con Thiên Chúa được rộng mở.

   Chúa Giêsu đã không chỉ tự hạ mình để đến với nhân loại trong thân phận con người.  Nhưng hơn thế nữa, Ngài đã tự hiến thân mình trên cây thập giá để tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa được tuôn đổ trên con người.

  Thay vì thập giá là biểu tượng của sự ô nhục và thất bại thì ngang qua cái chết của Đức Giêsu, thập giá đã trở nên biểu tượng của sự chiến thắng tội lỗi và đem lại vinh quang cho con người bằng một tình yêu vô vị lợi.

    Thay vì thập giá là biểu tượng của sự đau khổ và vô cảm, thì ngang qua sự hiến thân của Đức Giêsu, thập giá đã trở nên biểu tượng của sự hòa giải và tình liên đới với Thiên Chúa bằng một tình yêu khiêm hạ.

   Thay vì thập giá là biểu tượng của sự hận thù và chết chóc, thì ngang qua việc hy sinh mạng sống của Đức Giêsu, thập giá đã trở nên biểu tượng của một Đức tin tinh tuyền và một tình yêu son sắt mà Thiên Chúa dành tặng cho nhân loại.

    Thật thế, mỗi một người Công giáo luôn xác tín rằng, thập giá không phải là một kết thúc, nhưng là một sự bắt đầu.  Thập giá không phải là sự yếu đuối nhưng là sức mạnh của tình yêu đến nỗi thí mạng sống cho người mình yêu.  Và thập giá không phải là sự chết, nhưng hơn thế đó chính là sự sống mới của con người trong tư cách làm con Thiên Chúa.

    Suy tôn Thánh giá là cơ hội để chúng ta chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa – Người là cội nguồn của tình yêu.  Đây cũng là giây phút thiết thực để mỗi chúng ta nhìn lại hành trình sống chứng nhân tình yêu của mình đối với Chúa và tha nhân.

   Trong một thế giới đang mải mê tìm kiếm vật chất như hôm nay, tình yêu dường như đang trở nên khan hiếm và rẻ mạt.  Khi mà mọi thứ xung quanh đang được cung cấp một cách đầy đủ và tiện nghi hơn, thì xem ra tình yêu lại đang bị thiếu hụt và xem thường một cách trầm trọng.

   Tình người đang được cân đong đo đếm bằng những lợi lộc vật chất và địa vị.  Tình yêu nam nữ đang được xây dựng trên trên những quy chuẩn của tiền tài và dục vọng.  Do đó, sự khủng hoảng đời sống gia đình đang trở nên báo động hơn bao giờ hết.  Sự thờ ơ vô cảm trở nên lối sống chung của con người thời hiện đại.  Và xã hội trở nên như một chiến trường của sự tranh giành, đấu đá và chỉ biết nghĩ cho riêng mình.

   Một trong những nguyên nhân dẫn đến những đổ vỡ đó chính là sự thiếu vắng tình yêu.  Và cốt lõi của đó chính là sự đánh mất niềm tin vào một Thiên Chúa – Đấng đầy tình yêu thương.

  Lễ Suy tôn Thánh giá mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu vô tận của Thiên Chúa.  Một tình yêu tự hạ để đến và sẻ chia với thân phận con người.  Một tình yêu tự nguyện để đồng hành và thấu hiểu nỗi thống khổ của phận người.  Một tình yêu tự hiến để hàn gắn tình nghĩa phụ tử của Thiên Chúa với con người.

   Suy tôn Thánh giá không chỉ dừng lại ở việc nhận ra tình yêu hải hà của Thiên Chúa trên cuộc đời mình, mà còn mời gọi mỗi người chúng ta sống tình yêu đó một cách triệt để và cụ thể nơi cuộc sống hằng ngày.  Để ngang qua đời sống chứng nhân đó, hình ảnh một Thiên Chúa đầy tình yêu thương và giàu lòng thương xót đến được với nhân loại đang quặn mình trong đau khổ và tội lỗi.

    Dẫu biết rằng dòng đời vẫn còn đó lắm vất vả gian truân, nhưng sẽ đẹp biết mấy nếu mỗi chúng ta biết dành tình thương cho nhau.  Xã hội sẽ trở nên giá trị và bình yên hơn nếu mỗi chúng ta biết tôn trọng phẩm giá con người bằng tình liên đới và sẻ chia trong cuộc sống.  Và tất cả điều đó sẽ được bắt đầu khi mỗi chúng ta biết nhìn lên Thập giá Đức Kitô, chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa và thực hành tình yêu đó mỗi ngày trong đời.

J.B Lê Đình Nam 

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen                                

CẦU NGUYỆN GIỮA NHỮNG KHỦNG HOẢNG CUỘC ĐỜI

CẦU NGUYỆN GIỮA NHỮNG KHỦNG HOẢNG CUỘC ĐỜI

Chúa luôn ở đó với chúng ta, Ngài luôn muốn bày tỏ tình yêu thương của Ngài đối với chúng ta và an ủi chúng ta, đặc biệt trong những lúc khó khăn, đen tối nhất của cuộc đời.

Hơn bao giờ hết, những lúc gặp khủng hoảng, đau khổ lại là lúc cần thiết nhất để chúng ta tìm đến với Chúa.  Mỗi lần chúng ta kêu lên Chúa: “Lạy Chúa, xin Ngài hãy cứu con!” “Xin Chúa làm ơn cứu con!” “Xin cứu con!” chính là lúc Chúa muốn ở đó với chúng ta.  Chúa muốn chúng ta tìm đến Chúa và cầu xin Người giúp mình cảm nhận được sự thân mật, ủi an và trợ giúp của Người.

Tuy nhiên, giữa những lúc đau khổ, khủng hoảng, nhiều người trong chúng ta lại cảm thấy rất khó cầu nguyện.  Những lúc đó chúng ta thật sự không biết phải cầu xin điều gì.  Muốn cầu xin một phép lạ, thế nhưng, kinh nghiệm của những lần cầu nguyện trước, chúng ta cũng đã cầu xin phép lạ, nhưng phép lạ chẳng bao giờ xảy ra.  Chúng ta cảm thấy thất vọng hoặc tệ hơn nữa là nghi ngờ không biết có Chúa hay không.  Nếu Chúa có mặt thì tại sao mỗi lần chúng ta thực sự cần đến Ngài, tha thiết cầu xin với Ngài mà Ngài lại chẳng đáp ứng những điều chúng ta xin.  Điển hình là khi tôi cầu xin Chúa chữa lành cho bà nội được khỏi bệnh nhưng Chúa chẳng nhận lời.  Hoặc lúc chúng ta cầu xin cho kết quả sinh thiết của mình được tốt đẹp nhưng cũng chẳng được.  Có khi chúng ta cầu xin nhận được một sự hỗ trợ mà mình đang cần đến nhưng rồi điều đó cũng chẳng xảy ra.  Đã có khi nào chúng ta cầu nguyện cho việc hàn gắn một mối tương quan đã bị rạn nứt mà không được đáp lời chưa?

Thay đổi hình ảnh của Chúa

Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta thường nhìn Chúa như một nhà ảo thuật – một người hùng vô cùng quyền lực với đầy đủ mọi phép thần thông biến hóa có thể sửa đổi mọi thứ nếu Ngài muốn.  Một trong những lý do khiến chúng ta khó thay đổi hình ảnh này của Chúa là vì chúng ta không biết thay thế bằng hình ảnh nào cả.  Đường dẫn vào đời sống cầu nguyện là đường giúp chúng ta mở lòng đón nhận Chúa là Đấng nhân từ và xót thương.  Đấng đã được Kinh Thánh mô tả trong suốt dọc dài lịch sử cứu độ.  Đồng thời cũng là đường giúp chúng ta biết để cho Đức Giêsu bày tỏ Tin Mừng của Ngài cho chúng ta.  Thiên Chúa không điều khiển thế giới như một người múa rối, cứ giật giây và bắt mọi sự di chuyển theo.  Ngài cũng không phải là Đấng bác bỏ những quy luật tự nhiên để chiều theo và đáp ứng hết mọi lời cầu xin của chúng ta.  Trong đức tin, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta thấy Ngài là một vị Thiên Chúa quyền năng ngay giữa những nơi mà Thiên Chúa dường như ít quyền lực nhất.  Trong đức tin, Thiên Chúa đau với nỗi đau của chúng ta.  Trong đức tin, chúng ta được Tin Mừng giải thoát và soi sáng để xác tín rằng Thiên Chúa đã đánh bại quyền lực cuối cùng của chúng ta là tội lỗi và sự chết.  Chúa không ngăn cản tội lỗi và sự chết nhưng khi chúng ta xác tín vào lòng thương xót của Thiên Chúa và tin rằng chúng ta được dựng nên cho đời sống vĩnh cửu của Chúa, lúc đó chúng ta sẽ được giải thoát khỏi sự sợ hãi của tội và sự hủy diệt của cái chết vốn làm tê liệt đời sống của chúng ta. 

Chúng ta hãy nhìn vào những khó khăn thường gặp để tìm ra cách thế giúp chúng ta trở về với Chúa ngay trong những khủng hoảng đó.  Từ “khủng hoảng – crisis” bắt nguồn từ chữ “krisis” trong tiếng Hy Lạp, đó là một quyết định – decision.  Nó hàm ý đến sự xác quyết mà chúng ta gọi là một quyết định then chốt trong những thời điểm gay go của cuộc đời.  Đây là một bước ngoặt, là thời điểm khi mà nỗi đau đã đến tột cùng hoặc khi mọi thứ dường như bị đảo lộn, đe dọa sẽ nhấn chìm chúng ta.  Chúng ta cảm thấy mình không biết phải xử lý cách nào và phải bắt đầu từ đâu.  Những lúc đó, sự sợ hãi bóp nghẹt chúng ta.

Nếm cảm về chính cái chết của mình

Dị tật, khiếm khuyết và cái chết đem đến những khủng hoảng lớn nhất trong cuộc đời chúng ta.  Hầu hết trong chúng ta cho rằng cái chết hoặc dị tật của một người thân là một trong những khủng hoảng lớn nhất mà chúng ta phải đối diện trong cuộc sống.  Cái chết cũng như những dị tật của bản thân làm cho chúng ta mất định hướng, làm tê liệt nhuệ khí của mình, làm cho chúng ta mất bình an và thất vọng.  Đôi khi chúng ta thường sống như thể không có cái chết hoặc “từ chối cái chết,” tuy nhiên, việc từ chối sự thật này tạo ra những tổn thương tâm lý trầm trọng trong lòng chúng ta.  Niềm tin vào mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Đức Kitô đã cho chúng ta niềm hy vọng khi phải đối diện với cái chết hay những khiếm khuyết của mình, mặc dù xét về mặt tự nhiên của con người, điều đó không dễ đón nhận chút nào cả.

Tất cả chúng ta, lúc này hay lúc khác, đều đã trải qua những kinh nghiệm về sự bất lực.  Càng lớn tuổi, chúng ta càng cảm thấy mình bị giới hạn nhiều điều, khi tuổi đã cao, sức đã tàn, thể xác không còn khả năng làm được những thứ mà trước đây mình vẫn làm một cách dễ dàng.  Tuổi càng cao, sức khỏe thể lý cũng như tinh thần lại giảm theo chiều ngược lại.  Điều đó đôi khi làm cho chúng ta cảm thấy suy sụp hoàn toàn.  Tất cả mọi thứ, từ việc thoái hóa xương khớp, đến việc suy sụp tinh thần, tình cảm, hoặc có khi là những chứng nghiện thuốc giảm đau, từ sự mất kiểm soát trong việc tiểu tiện đến cảm giác bất an, sợ hãi, tất cả đều là những hệ lụy bởi sự giới hạn và mong manh của phận người.  Trong cầu nguyện, chúng ta hướng lòng lên với Chúa để xin Ngài giúp đỡ.  Những kinh nghiệm về sự bất lực, một mặt chúng có thể đẩy chúng ta đến chỗ thất vọng, mặt khác đó lại là cơ hội giúp chúng ta sống khiêm tốn hơn và xây dựng một lòng biết ơn sâu xa trước tình thương mà Chúa dành cho chúng ta.  Chính trong giới hạn của phận người, trong sự suy giảm về sức khỏe thể lý cũng như tâm lý, chúng ta lại càng cảm nghiệm sâu hơn về tình yêu và sự kiên nhẫn của Chúa dành cho mình.  Hơn bao giờ hết, ngay khi chúng ta cảm thấy bất lực, lại là lúc chúng ta cần đến Đức Giêsu – Đấng Cứu Độ chúng ta. Ngài luôn sẵn sàng giang rộng đôi tay của Ngài để ôm lấy chúng ta.

Sự sợ hãi về cái chết tự bản chất là một cú sốc tâm lý.  Sự sợ hãi trước bệnh tật, có thể là một khối u ở vú, hoặc kết quả xét nghiệm kháng nguyên tuyến tiền liệt dương tính khiến chúng ta tê liệt hay suy sụp tinh thần.  Những ngày tháng chờ đợi kết quả có thể là thời gian khiến chúng ta cảm thấy mỏi mệt, lo lắng, bất an.  Tuy nhiên, đó cũng có thể là thời gian giúp chúng lớn lên trong ân sủng của Chúa.  Chúng ta cảm thấy sợ trước những điều vô định, điều đó thật dễ hiểu và cũng rất bình thường.  Tuy nhiên, nỗi sợ này cũng có thể chuyển thành niềm tin, một sự trở về với Thiên Chúa và cậy trông vào lòng thương xót của Chúa.  Ngoài sự sợ hãi về cái chết, nỗi sợ phải mất người thân hoặc phải từ bỏ một công việc quan trọng cũng khiến chúng ta kiệt sức.  Càng đến với Chúa và nương tựa vào Chúa trong những lúc khó khăn, đau khổ, chúng ta lại càng đi sâu hơn vào mầu nhiệm sự chết, và sống sự khiêm tốn thẳm sâu về sự mong manh và bất lực của mình.  Lòng biết ơn về cuộc sống và mối tương quan hài hòa của chúng ta với sự sống luôn luôn được đổi mới.  Chính thái độ này sẽ mang đến cho chúng ta nguồn sinh lực mới.  Như thế, giữa cơn khủng hoảng về sức khỏe thể lý cũng như tâm lý, sự sợ hãi cũng có thể giúp chúng ta có cái nhìn tích cực hơn, cảm nhận được một sự bình an nội tâm, và tin tưởng vững vàng hơn vào Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương chúng ta.

Khi sự chết viếng thăm chúng ta, thế giới quanh ta dường như ngừng lại, mọi sự như đã kết thúc.  Tuy nhiên, trong đức tin, chúng ta có thể chạy đến với Chúa và cầu xin Chúa ban ơn để giúp chúng ta hiểu được cách Chúa Giêsu ngã vào vòng tay yêu thương của Chúa Cha như thế nào.  Chúng ta cầu xin Chúa ban ơn sức mạnh để chúng ta dám phó thác cuộc sống của người thân, hoặc của chính chúng ta trong vòng tay yêu thương của Chúa.  Chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta biết đặt trọn tình yêu trong từng phút sống của mình.  Và nếu chúng ta sống trọn vẹn từng phút sống của mình thì cuộc sống của chúng ta vẫn còn mãi cho dù có phải trải qua những căn bệnh hiểm nghèo, hay thậm chí cả cái chết đi nữa.  Một trong những khủng hoảng của cái chết là sự chia cắt tương quan.  Trong một số trường hợp, chúng ta không thể mường tượng được cuộc sống sẽ như thế nào nếu không có người khác, hoặc nỗi đau phải lìa xa người thân là điều không thể chịu được.  Đức tin giúp chúng ta đi vào một mối tương quan mới vượt trên cả những hủy hoại của cái chết về thể lý.  Chúng ta tin rằng, ngay cả sau khi chết, chúng ta vẫn tiếp tục sống trong sự hiệp thông với những người thân yêu của mình.  Khi chúng ta để cho mối tương quan đó tiếp tục lớn lên, chúng ta sẽ được giải phóng khỏi những rào cản mà đôi khi làm cho cuộc sống của chúng ta bị khập khiễng, đem đến cho chúng ta sự an ủi thật sự và nếm trước sự sống vĩnh cửu.  Nỗi mất mát lớn nhất là không bao giờ được nhìn thấy hay được đụng chạm người thân của mình ở trên đời này nữa. Với đức tin và sự cố gắng, chúng ta có thể lớn lên trong sự hiệp thông sâu xa với những người thân yêu của mình, ngay cả sau khi chết.

Khủng hoảng trong mối tương quan

Khi mối tương quan bị rạn nứt hoặc tệ hơn nữa là vợ chồng phải ly thân hay ly dị, đó quả là một sự khủng hoảng lớn lao.  Trong những lúc đó, chúng ta không chỉ có cảm giác bị mất mát mà còn cảm thấy bị thất bại, bị lừa gạt, hoặc ảo tưởng.  Lòng trí chúng ta ngập tràn những cảm giác đan xen, vừa giận dữ, tội lỗi, thù hận, vô dụng, trầm cảm hoặc bị loại trừ.  Nếu những nỗi đau này lại còn liên quan đến con cái, thì những rối rắm và đau khổ cũng sẽ ảnh hưởng đến những đứa trẻ vô tội mà chúng ta hết mực yêu thương và thông thường nỗi đau đó sẽ khó phai hơn.  Khi ở trong những hoàn cảnh này, chúng ta cảm thấy rất khó cầu nguyện.  Có thể chúng ta cảm thấy rất xấu hổ khi đến với Chúa, hoặc cảm thấy lo sợ không biết Chúa sẽ nói gì, hoặc có khi đơn giản chỉ vì chúng ta giận Chúa, hờn Chúa, đổ lỗi cho Chúa vì đã không ra tay ngăn cản hoặc cứu chúng ta thoát khỏi những nỗi bất hạnh đó.  Vì thế, ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cần xây dựng một mối tương quan mật thiết với Chúa.  Trở nên bạn thân với Chúa, chạy đến với Chúa bất cứ lúc nào.  Vì nếu trong những lúc vui vẻ, hạnh phúc, mà chúng ta còn không đến với Chúa, lơ là với Chúa thì những lúc khó khăn, khủng hoảng thì lại càng khó để xây dựng mối tương quan với Chúa biết bao.

Chúa muốn yêu thương và an ủi chúng ta.

Những lúc khó khăn, đau khổ là lúc chúng ta cần đến Chúa nhất, là thời gian quan trọng nhất để cầu nguyện.  Một điều giúp chúng ta tìm đến với Chúa, đó là chúng ta cảm nhận được sự an ủi nội tâm và tin tưởng rằng Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự.  Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta, hằng ở bên chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống, Ngài không ngạc nhiên và cũng không bối rối trước những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta.  Điều duy nhất Chúa muốn là an ủi chúng ta khi chúng ta cần đến Ngài, nương tựa vào Ngài.  Ngài tiếp tục dõi theo chúng ta và chất vấn chúng ta khi chúng ta bị cám dỗ rời xa Ngài.  Chúng ta chẳng cần phải giải thích tất cả với Chúa.  Chúng ta chỉ cần thầm thĩ với Chúa: “Lạy Chúa, con biết Ngài hiểu con.  Con biết Ngài cũng đang đau với nỗi đau của con.  Con biết duy chỉ có Ngài mới giúp con vượt qua được những thử thách này để bước tới tương lai tươi sáng hơn.”  Đây là một lời cầu nguyện rất sâu sắc, xuất phát tự đáy lòng.  Lời cầu nguyện này dẫn chúng ta đi sâu hơn vào tương quan mật thiết với Chúa, phó thác trọn vẹn cho Chúa, và biết phân định mọi tình huống cách chín chắn hơn.  Những khủng hoảng này cũng có thể trở thành những kinh nghiệm sâu sắc về lòng khiêm tốn và chân thành giúp chúng ta thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực, những nỗi đắng cay trong cuộc sống.  Những khó khăn, thử thách trong cuộc sống cũng có thể trở thành sức mạnh giải thoát chúng ta, chữa lành cho chúng ta và vực chúng ta dậy để tiếp tục sống một cuộc sống yêu thương và lạc quan hơn.

Có nhiều nỗi khủng hoảng khác trong cuộc sống như sự khủng hoảng về tài chánh, bị mất việc, con hư hỏng vì sự nuông chiều của mình, hoặc những khủng hoảng của người thân cũng làm chúng ta cảm thấy rất khó để cầu nguyện.  Có những cảm giác hoặc những tâm trạng, chưa hẳn là sự khủng hoảng, nhưng cũng làm chúng ta phân tâm, đó là cảm giác không hài lòng, chưa mãn nguyện với những gì mình đang có hoặc đang làm.  Những lúc phải đối diện với những lo âu, hoảng sợ, hoặc cảm giác bất an, đó là thời điểm quan trọng để chúng ta chạy đến với Chúa, cảm nhận tình yêu và sự giải thoát của Chúa.  Không gì có thể cướp mất sự bình an của chúng ta trừ khi chúng ta để cho nó bị cướp đi, hoặc trừ khi chúng ta giải quyết theo những suy nghĩ hơn thua của người đời mà không dựa trên niềm tin, tình yêu, và niềm hy vọng mà Chúa muốn ban cho chúng ta.  Khi chúng ta thưa với Chúa “Lạy Chúa, cuộc sống của con ở trong tay Chúa” là lúc chúng ta tìm thấy ước muốn sâu thẳm nhất và nguồn sức mạnh lớn nhất của chúng ta.  Mọi sự mất mát, mọi suy nghĩ và tình cảm của chúng ta sẽ được biến đổi khi chúng ta sống trong tình yêu của Đấng đã sống và chết cho chúng ta.  Tất cả nguồn sức mạnh của một cuộc sống anh dũng và tình yêu hy hiến được nảy sinh từ một tâm hồn dám sống cái trần trụi của phận người để từ đó xác tín rằng mình là người được yêu và tự do.

Chuyển ngữ: Nt. Theresa Nguyễn Thị Ngọc Hà

Nguồn: https://onlineministries.creighton.edu/CollaborativeMinistry/OrdinaryTime/Praying-crisis.html

From: Langthangchieutim

Đại dịch và nhân quyền – nên tường trình với thiên hạ!

Đại dịch và nhân quyền – nên tường trình với thiên hạ!

Bởi  AdminTD

 Blog VOA

Trân Văn

28-9-2021

Chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng LHQ Khóa 76 tại New York, Hoa Kỳ, ngày 22-9-2021, theo giờ Hoa Kỳ. Photo chụp từ UN Web TV.

Cuối tuần trước, tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ông Nguyễn Xuân Phúc – Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam – kêu gọi cộng đồng quốc tế… ủng hộ Việt Nam tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC) nhiệm kỳ 2023 – 2025 và các cơ chế quan trọng khác của Liên Hiệp Quốc. Lần này, Việt Nam tham gia ứng cử UNHRC không chỉ với tư cách quốc gia mà còn như đại diện của ASEAN ở UNHCR (1).

Trước giờ đã có rất nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế vừa chỉ trích hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam chà đạp nhân quyền, vừa nhắc nhở cộng đồng quốc tế, rằng Việt Nam đã cũng như đang tiếp tục vi phạm các cam kết bảo vệ, thăng tiến nhân quyền theo tiêu chuẩn chung của cộng đồng quốc tế dù hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam vẫn thừa nhận: Nhân quyền có giá trị phổ quát (2).

Theo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam, do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách tiếp cận về nhân quyền có thể khác nhau, việc Việt Nam sách nhiễu, tống giam những người bất đồng về chính kiến, vận động dân chúng thúc giục hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam thực thi dân chủ theo tiêu chí chung là vì… dân chủ của Việt Nam có bản sắc riêng, là dân chủ xã hội chủ nghĩa, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo. Tại Việt Nam không có tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, những người bất đồng về chính kiến bị khủng bố tinh thần, bị phạt tù đều đã… vi phạm pháp luật và Việt Nam xử lý các hành vi phạm pháp này theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Trong các Bạch thư về nhân quyền và Báo cáo theo cơ chế kiểm định theo định kỳ về việc thực hiện nhân quyền, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam, kể lể rất nhiều về việc… luôn lấy người dân là trung tâm của mọi chính sách và vì vậy càng ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu chính đáng của dân chúng, qua đó vừa bảo vệ, vừa thúc đẩy sự thăng tiến về nhân quyền (3).

***

Khoan bàn tới cuộc tranh luận vốn bất tận giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế về tự do tư tưởng, tự do chính trị, cũng như đúng – sai trong việc hành xử đối với những cá nhân bất đồng chính kiến…

Bởi chính phủ Việt Nam đang vận động tham gia UNHCR lần thứ ba (lần đầu – 2011 không thành công, lần hai – 2013 trở thành thành viên của UNHCR nhiệm kỳ 2013 – 2016) …

Bởi đại dịch COVID-19 vốn là đại họa của nhân loại, tất cả quốc gia cùng phải đối diện với hàng loạt vấn đề giống nhau do COVID-19 tạo ra, song cách thức ngăn ngừa thảm họa và giải quyết hậu quả thì có nhiều khác biệt. Khi cùng hoàn cảnh, cùng tình thế thì những khác biệt về ứng xử chính là cơ hội giúp đánh giá, nhận định đối với cả nhận thức lẫn bản chất của các hệ thống chính trị, hệ thống công quyền về nhân quyền…

Thành ra cần tường trình cặn kẽ với cộng đồng quốc tế về hoạt động phòng chống COVID-19 tại Việt Nam. Những hoạt động này sẽ giúp thiên hạ hình dung thế nào là… … lấy dân làm trung tâm nhằm bảo vệ và thúc đẩy thăng tiến nhân quyền ở Việt Nam.

Cộng đồng quốc tế cần được biết những câu chuyện liên quan đến qui định về… hàng hóa thiết yếu mà thẩm quyền xác định… thiết yếu thuộc về bất kỳ cá nhân nào nhân danh công vụ, cho nên bánh mì (4), rau muống (5), kể cả bình chứa oxy (6) nhằm cứu những cá nhân đang trong tình trạng thập tử – nhất sinh đều có thể bị cấm vận chuyển vì… không thiết yếu nếu những kẻ thi hành công vụ… cho là như thế! Họ cần được biết để suy nghĩ thêm về việc vợ bị cấm về nhà chăm sóc chồng do… không chính đáng (7) …

Cộng đồng quốc tế cũng cần được biết việc thực thi chủ trương “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”. Không chỉ những người chẳng may nhiễm COVID-19 (F0) bị săn lùng, tống vào các trại tập trung – một trong những nguyên nhân chính khiến số ca nhiễm, số ca tử vong tăng vọt – mà nhân viên công quyền còn xông vào nhà, phá cửa phòng, trói những người vô tình tiếp xúc với F0 (F1) tống vào trại tập trung như ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (8), như ở phường 1 – thành phố Cà Mau – tỉnh Cà Mau (9) …

Cộng đồng quốc tế cần được biết cả về chỉ đạo… mỗi phường xã phải trở thành một pháo đài. Để ngăn ngừa lây nhiễm, những cá nhân quản trị các… pháo đài từ Bắc vào Nam được phép dựng hàng rào ngăn không cho dân chúng của cả một khu vực ra khỏi khu vực đó (10), hay khóa cổng nhốt dân cư của một xóm (11), hoặc khóa cửa nhốt thành viên của một gia đình (12) như ngăn, nhốt… gia súc, gia cầm. Thậm chí những cá nhân, nhóm cũng bị ngăn, bị phạt chỉ vì cứu trợ đồng loại!

Người Việt hẳn là cũng muốn biết, sắp tới: Thứ nhất, khi vận động thiên hạ ủng hộ Việt Nam tham gia UNHRC nhiệm kỳ 2023 – 2025, những viên chức ngoại giao của Cộng hòa XHCN Việt Nam sẽ biện giải với cộng đồng quốc tế thế nào về tương quan giữa… bản sắc riêng của dân chủ Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa – lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo với các chủ trương, biện pháp ngăn chặn COVID-19 trong thời gian vừa qua. Thứ hai, cộng đồng quốc tế suy nghĩ ra sao!

Lenin và giấc mơ thần đồng của người Việt

Lenin và giấc mơ thần đồng của người Việt

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

27-9-2021

Lâu lắm rồi, có thể hơn 25 năm trước, tôi có đọc một bài trên báo An ninh Thế giới của nhà nước Cộng sản Việt Nam, nói về ông tổ cộng sản Nga là Lenin. Bài này nói về việc ướp xác ông ta, cũng như mổ sọ để tách bộ não ra mà nghiên cứu. Có một câu trong bài báo mà tôi nhớ như in “Về nguyên tắc thì bộ não của Lenin là bộ não thông minh nhất” (sic).

Giữa đại dịch Covid ở thế kỷ 21, báo chí nhà nước Việt N,am đưa tin một em bé 10 tuổi ở Hà Tĩnh “quyết tâm” đọc trọn bộ “Lenin toàn tập” gồm 52 quyển.

Lần đầu tiên đọc được điều này trên mạng xã hội, tôi cữ ngỡ ai đó có ác ý với nhà nước Việt Nam của đảng Cộng sản Việt Nam, nên đặt điều để bôi bác. Nhưng báo chí Việt Nam quả là có đưa tin đó thật, bắt đầu bằng báo mạng VnExpress, rồi sau đó chủ đề này tiếp tục được “nâng cao quan điểm”, khen ngợi em bé và gia đình em trên các tờ báo khác, trong đó có báo Tuổi Trẻ của thành Hồ.

Một phần tư thế kỷ trôi qua, những niềm tin huyễn hoặc vô căn cứ tưởng đâu đã kết thúc với cuộc sống sôi động của kinh tế thị trường, của đầu óc thực dụng,… nhưng tôi đã nghĩ sai. Nếu những gì cha mẹ em bé, cũng như những người có liên quan đến câu chuyện, được báo chí đưa ra, cũng như những lời bình luận “vỡ òa” dưới các trang báo ấy, là thật, thì thật là đáng ngại cho dân tộc Việt Nam.

Lenin là người đặt nền móng cho mô hình “chuyên chính vô sản”, dựa trên lý thuyết ý thức hệ về đấu tranh giai cấp của Karl Marx. Chuyên chính là một cách nói trại đi của những người cộng sản của cụm từ “chuyên chế”, hay nói trắng ra là độc tài. Nếu không kể đến những lạm dụng về nhân quyền của mô hình này, thì cho tới nay nó cũng đã thất bại, và thật sự không còn tồn tại nữa.

Mô hình của Lenin được xem như là một phản ứng bạo lực, rất phản động, chống lại sự phát triển tiệm tiến của xã hội. Đã có những phân tích khái quát cho rằng, các tư tưởng cộng sản phản động ấy, thường xuất phát, hoặc được thực hiện từ những kẻ bị mất gốc về văn hóa, như Karl Marx, Lenin, Hồ Chí Minh, Fidel Castro,… và họ thường có những hoang tưởng, những ảo vọng hoang đường.

Nhưng hãy trở lại các bài báo về “em bé Lenin toàn tập”. Đã khá lâu, báo chí nhà nước cộng sản mới có kiểu bài về thần đồng cách mạng như thế này. Phải chăng đây là nỗ lực khôi phục hình ảnh ý thức hệ bằng con đường kích thích ước mơ thầm kín của hàng triệu người Việt bằng biểu tượng thần đồng?

Lenin toàn tập, cũng như các loại tương tự như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh,… toàn tập khác, là một đống chữ nghĩa trừu tượng ghép nối với nhau, đưa ra những điều “siêu thực”, mà lại mong muốn thực hiện cho được trên cuộc đời thực này.

Tại Việt Nam (mà tôi nghĩ là tại bất cứ quốc gia cộng sản nào khác), các pho sách dày cộp này được lưu giữ ở ba hình thức. Thứ nhất là bám đầy bụi ở các thư viện nhà nước, vì không ai đọc cả. Thứ hai là trên kệ sách quan chức cộng sản, các “trí thức” cộng sản (như trường hợp bố mẹ em bé trong câu chuyện) để trang trí, ra oai.

Cả hai trường hợp trên đều là những biểu tượng kính nhi viễn chi của chế độ, gây ra một sự kính cẩn kinh viện, một sự sợ hãi của tầng lớp bình dân, bị tầng lớp kinh viện trí thức cộng sản ấy cai trị.

Cách lưu giữ thứ ba các toàn tập này là ở các bà ve chai đồng nát, dính chặt vào cuộc sống thường nhật, không màng tới những điều khó hiểu của đám lãnh đạo (của đáng tội là các lãnh đạo ấy chưa chắc đã hiểu). Bộ Lenin toàn tập đầu tiên tôi thấy, chính là trong đống giấy vụn của bà dì tôi sau năm 1975, ở miền Nam Việt Nam.

Nhưng dù là tầng lớp kinh viện lãnh đạo, hay bình dân, thì không ít người Việt, xuyên suốt lịch sử Khổng Nho khổ ải của họ, đều mơ mộng đến những hình ảnh “bán thần”, như Khổng tử chẳng hạn, hay những “chân mạng đế vương”, là “thiên tử”. Một lối thoát tinh thần, thụ động, ít rủi ro. Đó chính là ước mơ thần đồng của nhiều người Việt Nam, đã bắt đầu từ hàng ngàn năm trước với thần đồng Thánh Gióng, và mới nhất là thần đồng Lenin toàn tập 10 tuổi.

Cả hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay được xây dựng trên ý thức hệ thần đồng ấy, từ chuyện trường chuyên lớp chọn, “chương trình quá tải” của nhà nước, cho đến việc chạy vạy học ngoài giờ của phụ huynh học sinh. Ai cũng nghĩ rằng con em mình là thần đồng cả. Mà của đáng tội, cái ý thức hệ thần đồng này được người Việt mang sang cả hải ngoại. Hãy đến các khu người Việt ở Mỹ mà đếm bao nhiêu em bé bị cha mẹ bắt học trước hàng chục môn, học ngoại khóa piano, học các môn AP (Advanced Placement) nặng chình chịch,… cứ như là hễ con em họ mà sinh ra ở Mỹ thì em nào cũng có thể thành tổng thống Mỹ được.

Thần đồng là những hiện tượng có thật nhưng hiếm hoi của xã hội loài người từ xưa đến nay, nhưng thường nó xuất hiện và lớn lên ở những môi trường xã hội thuận tiện, tạo nên những đột phá về âm nhạc, phát minh khoa học lớn.

Phải nói rằng, có thể là ước mơ thần đồng của người Việt rất lớn, nhưng cho đến giờ phút này dân tộc Việt chưa đóng góp gì đáng kể cho sáng tạo của loài người cả.

Còn Lenin toàn tập ư? Đó có phải là thiên tài đâu, mà chỉ là một mô hình phản động đã thất bại.

BAO GIỜ DÂN VIỆT MỚI BIẾT CHỮ “NHỤC”

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Yến Huyền Hải Âu   

BAO GIỜ DÂN VIỆT MỚI BIẾT CHỮ “NHỤC”

Nước Nhật sau thế chiến 2 bị hủy diệt, đổ nát, hoang tàn và nghèo đói. Người dân phải ăn cả cỏ để sống.

Thế nhưng, chỉ chưa đến 20 năm sau chiến tranh họ đã xuất hiện trở lại trước thế giới với Olympic Tokyo 1964. Tới năm 1968 họ đã vượt lên tất cả các nước châu Âu trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Trong 30 năm từ 1951 đến 1980 kinh tế của họ tăng trưởng 73 lần, vượt xa các nước Âu Mĩ.

Chiếc xe Honda 1967 của họ xuất hiện ở Saigon và vẫn tiếp tục chạy cho đến tận bây giờ, chạy bền bỉ ròng rã hơn nửa thế kỉ.

__________

Sau chiến tranh, người ta quay được những thước phim trẻ em và người già Nhật đứng xếp hàng đợi phát suất ăn từ thiện. Nhưng rất ngắn ngủi và rất nhanh, cảnh đó đã sớm biến mất.

Trong khi đó, xứ Vịt đi đâu cũng thấy tự hào, từ hang cùng ngõ hẻm ra tận thế giới bên kia đại dương, nhục nhã thay lại coi việc đến mùa lũ lụt là “mùa thiện nguyện”, năm này qua năm khác mà không hề mảy may thấy đó là một sự kì quái, sự xấu hổ đáng phẫn nộ.

Người làm từ thiện đương nhiên là đáng trân quí rồi, nhưng nếu cứ thiện nguyện miết mà không đặt câu hỏi “tại sao lại thế?”; “bao giờ thì chấm dứt cảnh này?”; “phải chăng đó là do thiên tai thật? Hay là nhân tai?”…, Thì bỗng dưng, việc thiện nguyện thành nghề thiện nguyện, bỗng dưng từ cứu người, một lúc nào đó lại thành việc dằn ấn người ta xuống thế phải cúi đầu chìa tay. Dần dà cả tộc quen với hình ảnh đó, coi một phần của tộc là phải suốt đời sống với sự thương cảm/thương hại không ngẩng đầu lên nổi.

Không biết mọi người thế nào, chớ mình đến “mùa lũ lụt/mùa thiện nguyện” là lại muốn nhắm mắt quay đi trước cảnh “nô nức” làm thiện nguyện, hàng đoàn xe lớn bé đeo băng đỏ “ủng hộ đồng bào lũ lụt” chạy trên mọi nẻo đường quốc lộ, như một lễ hội carnaval kì quái.

Chớ đừng nói đến những đoạn clip lanh lảnh tiếng cô Tiên “chài ai lũ trôi mất dép đó hả”; “nè lại trôi mất dép nữa rồi nè”…, Nửa suồng sã thân ái, nhưng lại phần nhiều như một trò đùa, sỉ nhục người phải đi xin.

Không chấp nhận việc phải xếp hàng đợi phát suất ăn từ thiện, người Nhật đã thoát khỏi cảnh xếp hàng đó. Còn dân Vịt thì thương xót kiểu rủa nhau độc địa “đánh các nghệ sĩ rồi thì để mùa lũ này coi ai thiện nguyện cho dân miền Trung nữa nha”.

Thế nên cả tộc thành ăn mày, từ nguyên thủ cuốc gia túa nhau đi xin, đến nhân dân đồng bào, một năm dành không biết bao nhiêu thời gian là đi đưa cơm từ thiện, cả đời như thế.

__________

Bao giờ người đi cho cũng thấy mình nhục như đồng bào trước mặt đang chìa tay xin, để cùng nâng tay nhau đứng dậy ngẩng đầu, may ra…

Một quốc gia mà cứ “ thiện nguyện “ đi xin như vậy năm này sang năm khác thì như cái chữ “nhục” với lòng tự trọng con người nó đã mất đi từ khi có VỊT ta lãnh đạo sáng suốt! Nên dân toàn lãnh đạn ! Với lãnh bị đi xin ! Nỗi “ nhục “ như vậy kéo dài hàng năm mà dân việt họ quen dần cái nếp sống ấy ! Nên bao giờ nhận thức được chữ “ Nhục “ lòng tự ái , tự trọng ở con người thay đổi được thì may ra còn có thể phát triển được !

Còn như vậy Hoài thì cả đời này, đời con rồi cháu vẫn nhơ nhơ mà chẳng nhận ra được lòng tự tôn dân tộc!

May be an image of 3 people, child, people standing and outdoors

Suýt nữa không có Hai sắc hoa ti gôn

Suýt nữa không có Hai sắc hoa ti gôn

 Cuối mùa thu năm 1937, tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy nhận được bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi sau đó ít ngày, nhận được một bài thơ nữa, nhan đề Hai sắc hoa ti gôn, đều của một tác giả ký tên T.T.Kh
Sau đó, tòa soạn không nhận được bài thơ nào nữa của T.T.Kh, cũng không biết tác giả này ở đâu.
 
Sau khi báo đăng hai bài thơ, làng văn xôn xao lắm, nhưng không hề thấy T.T.Kh liên hệ với tòa soạn. Có mấy người đã nhất quyết, T.T.Kh chính là người yêu của mình, nhưng chả có ai đưa ra được chứng cớ thuyết phục. Tác giả T.T.Kh vô hình vô ảnh trong cuộc đời, nhưng thơ của bà được giới phê bình luận bàn náo nhiệt (và không hiểu sao mọi người đã tin chắc ngay rằng T.T.Kh là nữ giới). Đương thời, có người không ngần ngại đánh giá đó là những áng thơ tuyệt tác, nhất là bài Hai sắc hoa ti gôn.
 
Về những ý kiến cho hai bài thơ đầu tiên đó của T.T.Kh là kiệt tác thì tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói rõ quan điểm của mình: “Nói thế đã đành là quá lời, nhưng trong hai bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng đáng với vẻ lâm ly của câu chuyện. Cô bé T.T.Kh yêu…”. Có lẽ, với cách đánh giá như vậy nên Hoài Thanh và Hoài Chân đã không chọn in thơ T.T.Kh vào tập Thi nhân Việt Nam… Tuy vậy, thực tế đời sống văn chương Việt Nam hơn 70 năm qua, T.T.Kh luôn được độc giả mến mộ, nhất là đối với bài Hai sắc hoa ti gôn. Dường như càng trải thêm thời gian, bài thơ này càng biểu lộ vẻ đẹp đặc biệt, càng có sức sống lạ lùng. Chúng tôi nghĩ, nếu có cuộc điều tra tỷ mỷ để tìm hiểu những bài thơ Việt Nam nào trong 70 năm qua được bạn đọc yêu mến nhiều nhất, thì chắc sẽ có cả Hai sắc hoa ti gôn.
 
Chúng tôi phải trình bày lại sự ra đời và giá trị của bài thơ Hai sắc hoa ti gôn trong đời sống văn chương nước ta như vậy để chúng ta ý thức rằng: nếu không có bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, trong đời sống văn chương nước ta sẽ có sự thiệt thòi lắm! Và trên thực tế, việc đó đã suýt nữa xảy ra. Mà mãi đến năm 1990 chúng tôi mới biết việc ấy…
 
Năm 1990, nhà văn Ngọc Giao lên thượng thọ, 80 tuổi. Ông nguyên là Thư ký tòa soạn của báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Có một tâm sự ông giữ mãi trong lòng hơn nửa thế kỷ, khi vào tuổi 80 mới thổ lộ với bạn bè tâm giao. Rằng đó là một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Những đồng nghiệp trong tòa soạn đã về nghỉ gần hết, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao. Trúc Khê Ngô Văn Triện còn nán lại để dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. Ngọc Giao thì đã tiến đến chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. 
Nhưng đúng lúc đó có tiếng kèn đám ma. Đám tang đang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ nghe tiếng kèn đám ma, nên ông mới nán lại thêm cho xe tang đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ chỉnh chu, ông không muốn quay vào phòng trong mà kéo ghế ngồi tạm lại chỗ gần cửa, gần nơi để cái sọt đựng giấy loại. 
Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt giấy loại, nhặt lên mấy tờ bị vo tròn và quẳng vào đó chờ đi đổ xe rác. Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra và đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết bằng bút chì nguệch ngoạc, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần là xong và gửi luôn cho tòa báo. Lệ của báo là bài lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy. Nhưng bài thơ đã khiến Ngọc Giao xúc động lạ thường, đó là Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh. Và ông đã ngồi lặng đi trong mối rung cảm đặc biệt. 
Rồi ông bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu đọc ngay. Trúc Khê Ngô Văn Triện thấy Ngọc Giao đang quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông cũng ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này…!” Rồi ngay sau đó, Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo sắp chữ ngay bài thơ ấy cho số báo sắp ra. Vậy là Hai sắc hoa ti gôn đi vào đời sống thơ ca Việt Nam…
 
Kể câu chuyện tâm sự mấy mươi năm xưa cũ, nhà văn Ngọc Giao còn cầm bút ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một bạn văn cùng thời là nhà văn Phạm Văn Kỳ cũng từng làm thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm. Những dòng lão nhà văn Ngọc Giao ghi vào sổ lưu bút của lão nhà văn Phạm Văn Kỳ có đoạn: “… Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ xuất bấy nhiêu… 
Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác… thì đóa hải đường Hai sắc hoa ti gôn đành an phận nằm trong đó, rồi người ta mang đi theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt cả… Trong đó, rất có thể cả những áng văn hay mà cái anh thư ký tòa soạn quan liêu, nhác lười, cẩu thả đã ném đi!…”.
 
Vậy đấy, câu chuyện pha chút hài hước “nếu không có cái đám ma qua phố…” lại là một tâm sự canh cánh trong lòng nhà văn Ngọc Giao suốt 53 năm trời. Vì tế nhị, nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giữ kín suốt đời câu chuyện này. 
Nghĩ rằng, chuyện có thể hữu ích với nghề báo chí văn chương hôm nay, chúng tôi đã xin phép nhà văn Phạm Văn Kỳ và mạn phép nhà văn quá cố Ngọc Giao viết ra trong bài này. Chúng tôi cũng muốn được khép lại bài viết này bằng mấy dòng di bút cao thượng của lão nhà văn Ngọc Giao viết mùa thu năm 1990: “Tôi xin cúi đầu nhận lỗi đã có hành vi bất kính đối với một tài năng văn học. Tôi xin bà mãn xá cho tôi nếu bà đã qua đời, cũng miễn thứ cho tôi nếu bà còn ở cõi thế gian này với mái tóc cũng bạc trắng như tôi, như tất cả chúng ta cùng chung thế hệ đoạn trường văn bút”.
 
Hai Sắc Hoa Ti-Gôn
 
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”
Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy”
Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…
Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.
Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha!
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.

From: TU-PHUNG

Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy

Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy

Đây là một bài thuyết pháp rất ngắn nhưng vô cùng thâm sâu, nó đi vào tận cội nguồn của tâm thức, nó sẽ làm bật rễ cây cổ thụ ngu dốt đã ăn sâu vào tâm hồn để đem đến một nguồn ánh sáng soi rọi mọi ngõ ngách trong tâm hồn chúng ta.

(Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác) 
 

Tri Thiên Mệnh 

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. 
Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. 
Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. 
Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. 
Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. 
Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. 
Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. 
Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục .”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

Ra đời hai tay trắng. 
Lìa đời trắng hai tay. 
Sao mãi nhặt cho đầy. 
Túi đời như mây bay.”

Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.

Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài”.

Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.

Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.

Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. 

Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma

Nhiều người Haiti tìm cách tới Mỹ qua ngả Panama

VOA Tiếng Việt 

Hai nguồn tin chính phủ Panama cho biết, có tới 4.000 di dân, hầu hết là người Haiti, đã băng qua những khu rừng rậm nguy hiểm thuộc Darien Gap ở Panama trên biên giới với Colombia trong khi đi về phía bắc để tới Mỹ.

Một lán trại có người Haiti tạm trú xuất hiện trong những tuần gần đây trên biên giới Hoa Kỳ – Mexico đã gây thêm khó khăn cho chính sách di dân của Tổng thống Joe Biden. Đỉnh điểm là vào ngày 18 tháng 9, có khoảng 15.000 người ở đó, trong bối cảnh người Haiti chạy trốn khỏi sự hỗn loạn xã hội, chính trị và kinh tế ở quê hương của họ.

Tới thứ Sáu tuần trước, hàng nghìn người trú tạm tại lán trại này đã được đưa đi. Phần lớn tạm thời được ở lại Hoa Kỳ và những người khác bị trục xuất hoặc bị đưa trở lại Mexico.

Một nguồn tin từ Bộ An ninh Panama cho biết có khoảng 3.500 đến 4.000 di dân đang đi qua các trạm tiếp nhận di dân ở Darien và Chiriqui. Nhóm này bao gồm người Cuba và di dân có các quốc tịch khác, nguồn tin cho biết.

Trong khi đó, khoảng 16.000 di dân đang mắc kẹt tại thị trấn duyên hải Necocli ở miền bắc Colombia, chờ đến lượt để đi thuyền tới Darien Gap, nơi những kẻ buôn lậu hướng dẫn các nhóm qua một trong những khu vực nguy hiểm và khó vượt qua của Mỹ Latinh.

Colombia và Panama hồi tháng trước đã đồng ý rằng 500 người di cư có thể qua lại mỗi ngày, nhưng các quan chức địa phương đã liên tục thúc giục họ tăng hạn ngạch, nói rằng con số đó quá thấp để theo kịp với số lượng lên đến 1.500 di dân đến thị trấn hàng ngày.

Tổng thống Panama Laurentino Cortizo hôm thứ Năm tuần trước nói với Đại hội đồng Liên Hợp Quốc rằng hơn 80.000 di dân bất hợp pháp đã đi qua Panama trong năm nay. Ông kêu gọi sự hỗ trợ quốc tế, nói rằng đất nước của ông đang dùng tiền từ khoản ngân sách hạn chế cho việc chăm sóc di dân.

Nhiều người Haiti tìm cách tới Mỹ qua ngả Panama

VOATIENGVIET.COM

Nhiều người Haiti tìm cách tới Mỹ qua ngả Panama

Hai nguồn tin chính phủ Panama cho biết, có tới 4.000 di dân, hầu hết là người Haiti, đã băng qua những khu rừng rậm nguy hiểm thuộc Darien Gap ở Panama trên biên giới với Colombia trong khi đi về phía bắc để tới Mỹ.

Vì sao Việt Nam không bị đồng hóa sau hơn 1,000 năm Bắc Thuộc?

Vì sao Việt Nam không bị đồng hóa sau hơn 1,000 năm Bắc Thuộc?

Giáo Sư Trần Văn Chi

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất Châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức mạnh đồng hóa láng giềng.

-Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ Ả Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán, họ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán.

-Ngay cả dân tộc Mãn Châu hùng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán Ngữ đồng hóa.

Chính sách đồng hóa của Trung Quốc thời Bắc Thuộc

Đồng hóa thời Bắc Thuộc kéo dài, gắn liền với các cuộc di dân từ phương Bắc của người Hoa Hạ xuống đất Việt phương Nam. Quá trình di dân và đồng hóa có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống chính trị, xã hội, và văn hóa Việt Nam.

Chính sách đồng hóa và di dân đối với người Việt được các triều đại phong kiến Trung Quốc thực hiện từ khá sớm. Trung Quốc tự cho mình là nước lớn, coi các dân tộc khác xung quanh là thấp kém, cần phải “giáo hóa” và gọi họ bằng những tên miệt thị như Man, Di, Nhung, Địch. Do tư tưởng tự tôn này, các triều đình Trung Quốc mang quân bành trướng, thôn tính các nước và dân tộc xung quanh.

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà ép buộc dân Việt học Hán Ngữ, nhằm đồng hóa bằng ngôn ngữ.

Sách “Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận” do Lê Tung viết năm 1514 có đề cập việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.

Tới triều nhà Minh 1368 – 1644 (do xuất thân ở đất Ngô nên mới có bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi), họ còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Quốc phục dịch.
Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên và Nhật nhiều thế kỷ).

Tuy nhiên, người Việt nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Nhận định về Việt Nam sau 1,000 năm Bắc Thuộc, sử gia Trần Trọng Kim nói: “Người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với nước Tàu.”

Việt Nam chống đồng hóa bằng nhiều cách

1-Giữ tiếng nói
Biểu hiện rõ nhất của sự bảo tồn giống nòi chống đồng hóa là sự bảo tồn tiếng Việt. Tiếng nói là một thành tựu văn hóa, là một thành phần của văn hóa. Giặc phương Bắc chỉ tiêu diệt được chính quyền cai trị người Việt nhưng không tiêu diệt được tiếng Việt.

Ngoại trừ một nhóm người tham gia bộ máy cai trị của chính quyền phương Bắc tại Việt Nam học tiếng Hán, còn lại đa số người Việt vẫn sống theo cách sống riêng và duy trì tiếng nói của tổ tiên. Dù đã có sự hòa trộn những từ ngữ Hán trong tiếng Việt, người Việt hấp thụ chữ Hán theo cách sáng tạo riêng, Việt hóa những từ ngữ đó theo cách dùng, cách đọc, tạo thành một lớp từ mà sau này được gọi là từ Hán Việt.

Mấy nghìn năm sau, Phạm Quỳnh, một học giả lớn của dân tộc ta, tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!”

2-Giữ phong tục
Người phương Bắc đưa vào nhiều thứ lễ giáo của phương Bắc và điều đó có ảnh hưởng nhất định tới người Việt. Tuy nhiên, những nếp sinh hoạt truyền thống trong đời sống của người Việt vẫn được duy trì.

Sống trong ngàn năm Bắc Thuộc, người Việt thời đó vẫn không bỏ những phong tục như búi tóc, xăm mình, ăn trầu, chôn người chết trong quan tài hình thuyền hay thân cây khoét rỗng, nhuộm răng…

Kết luận

-Xét về ngôn ngữ, tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác hẳn tiếng Hán và tiếng của các tộc Bách Việt đều thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

Hán Ngữ nghèo âm tiết nên chỉ có thể dùng chữ viết loại ghi ý trong khi chữ Việt thuộc loại ghi âm như chữ Quốc Ngữ Việt Nam.

-Về chủng tộc người Việt thuộc loại người thấp nhỏ, phụ nữ thanh mảnh, khác với người Bách Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang…

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học cho thấy hệ gene của người Việt khác rất xa hệ gene của người Hán.

Từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể khẳng định: Người Việt Nam thời cổ không phải là người di cư từ phương Bắc xuống, trước khi nhà Tần xâm lược Việt Nam.

Người Việt không có quan hệ với các dân tộc ở bên kia biên giới phía Bắc. Dân tộc Việt không phải là thành viên của cộng đồng Bách Việt.

-Và nhờ sáng tạo được phương pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Quốc.

From: TU-PHUNG

TẠI SAO THIÊN CHÚA CHO PHÉP ĐẠI DỊCH XẢY RA?

TẠI SAO THIÊN CHÚA CHO PHÉP ĐẠI DỊCH XẢY RA?

 Cha Richard Leonard S.J.

Thời nay, dường như một số tín hữu vẫn giữ những hình ảnh rất sai lệch về Thiên Chúa Ba Ngôi: Thiên Chúa Cha trên trời hay giận dữ, còn Chúa Giêsu dễ mến, đầy yêu thương…!  Trong khi các tín điều dạy rằng, chỉ có một Thiên Chúa duy nhất trong ba ngôi vị; Ba ngôi ấy là Một trong công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa.  Theo Tin mừng của thánh Gioan, Đức Giêsu đã nói rằng, Người không làm việc một mình (5,30); ‘Tôi và Chúa Cha là một’ (10,30); và ‘ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha’ (14,9).  Các Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu xuống thế để ứng nghiệm Kinh Thánh Cựu ước; họ cũng tin rằng nên giải thích mọi điều trong Kinh Thánh Cựu ước dưới lăng kính mặc khải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

Điều này rất quan trọng khi ta muốn hiểu ý nghĩa của dịch bệnh và các thảm họa thiên nhiên khác.  Đối với các dân tộc cổ đại, nếu có lũ lụt, dịch bệnh, thì Thiên Chúa như muốn nói điều gì đó ngang qua những sự kiện ấy.  Nhưng trong các Tin mừng, Chúa Giêsu không bao giờ tạo ra một bệnh dịch, một thảm họa thiên nhiên hay biến ai đó thành cột muối như bà vợ ông Lót xưa.  Nếu Đức Giê su không đi vào cuộc khổ nạn, hay, nếu ta không đón nhận lời tiên báo của Người về cái chết ấy, thì Thiên Chúa thật sự là Cha ư?  Đức Giêsu xuống thế để uốn nắn những quan niệm sai lầm về cách thức Thiên Chúa hoạt động trong thế giới này.

Thế nên, cho dù nguồn gốc của Covid-19 vẫn chưa được xác định, nhưng đại dịch này cho ta một lời giải thích tự nhiên, và cách thức vi-rút lây lan khủng khiếp đến giờ là hệ quả của những quyết định yếu kém của con người.  Dĩ nhiên, Thiên Chúa không hề đưa đại dịch đến với nhân loại.

Bất cứ khi nào có một thảm họa, dù lớn hay nhỏ, dù là trận hỏa hoạn thiêu rụi mái nhà thờ Đức Bà Paris, hay sự lây lan của đại dịch AIDS, thì sẽ luôn có một số tín hữu cho rằng những điều ấy là do Thiên Chúa trừng phạt vì tội lỗi của con người thời nay.  Có lẽ điều này cho thấy niềm tin vào Thiên Chúa như một nhân vật “siêu quyền lực” cai quản vũ hoàn, “một giám đốc điều hành” có thể chịu đựng những hành vi xấu xa ở một mức độ nào đó.  Nhưng khi mất kiên nhẫn, ông ấy chấm dứt những điều vô nghĩa, và gởi một trận sóng thần hay một trận đại dịch đến để nhắc nhở ta rằng ai mới là ông chủ thực sự.  Trong vai một tên bạo chúa, Người quả là lời lý giải đáng sợ cho những nỗi đau đớn khôn nguôi trong cuộc đời này: những đau khổ của ta phải đến từ một nơi nào đó, và dường như một số người rất dễ dàng tìm thấy lời giải thích trực tiếp từ Thiên Chúa.

Nhưng có một sự khác biệt rất lớn giữa việc Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra trong thế giới này, và chuyện Người gây ra những sự ấy.  Giáo Hội dạy rằng, điều đầu tiên là chính xác, nhưng điều thứ hai thực sự sai lầm mặc dù khi nghe một số tín hữu nói về đại dịch Covid-19, ta dễ dàng bỏ qua vì nghĩ rằng nó đúng.  Bởi Thiên Chúa muốn ta được hoàn toàn tự do, ta có khả năng chọn điều dữ; nếu ngược lại, ta cũng chỉ như những con rối.  Đây chính là một thế giới khác xa với việc Thiên Chúa trực tiếp gây ra đau khổ và hủy diệt.

Ta hiểu rằng con người trưởng thành hơn qua những khó khăn, đau khổ nhưng điều này không có nghĩa là Thiên Chúa đã gởi những điều ấy đến như một thử thách.  Đúng

hơn, sự trưởng thành minh chứng cho ta rằng Thiên Chúa luôn đồng hành với ta qua từng giây phút.  Người thôi thúc ta liên đới với anh chị em của cùng một Cha trên trời.  Thế nên, ta cùng nhau đưa ra quyết định tốt nhất trong bóng tối của sự chết và thũng lũng của nước mắt, khổ sầu.

Thiên Chúa không gửi bệnh dịch đến để dạy ta về điều gì đó cho dù chúng cho ta nhiều bài học.  Ta đang học được rất nhiều về mối tương quan mong manh của ta với trật tự tạo dựng và hệ lụy từ những lựa chọn sai lầm ở nơi này có thể gây ra những hậu quả tai hại cho những nơi khác.  Ta cũng học được rằng cách ứng phó tốt nhất với những thiên tai, với những tình trạng khẩn cấp về sức khỏe là tính minh bạch, một nhà nước vì dân, những báo cáo trung thực, sự khéo léo của con người, trách nhiệm của công dân, và sự quý trọng lợi ích chung…  Ta cũng học được sự phi thường nơi những con người bình thường khi đối diện với bị kịch, khổ đau.

Làm sao tôi có thể tin chắc rằng Thiên Chúa hằng sống?  Người không bao giờ chết?  Bởi vì Thiên Chúa được tỏ bày trong Đức Giê su Ki tô không phải như một tên bạo chúa, mà là một Đấng đầy tình yêu.  Đó là một Thiên Chúa đã sẵn sàng dấn thân vào bất cứ con đường nào kể cả từ bỏ mạng sống mình trên Thập Giá.  Đoạn thư của thánh Gioan Tông đồ chép rằng, “Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào.” (1 Ga 1,5).  Nếu đó là sự thật, thì bệnh dịch hay đại dịch không thể là bản án của một Thiên Chúa đầy giận dữ vì tính ích kỉ và thói tham lam của ta được.

Sự tỉnh thức thiêng liêng trong những ngày khó khăn của đại dịch hệ tại ở điều này: trong mọi phút giây của ngày sống Thiên Chúa thực hiện những gì Người đã làm vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh – Người không can thiệp để ngăn người ta giết Chúa Giêsu, nhưng không để sự dữ và tuyệt vọng có tiếng nói cuối cùng.  Sức mạnh tuyệt vời của ân sủng cho phép ta tận dụng cơ hội, ngay cả trong những tình cảnh tồi tệ nhất, để giúp đỡ nhau bằng mọi cách có thể, và để cho ánh sáng và cuộc sống có tiếng nói cuối cùng.  Chúa Nhật Phục sinh là lời đáp trả của Thiên Chúa dành cho Thứ Sáu Tuần Thánh: sự sống thoát ách sự chết.

 Cha Richard Leonard S.J.

Lyeur Nguyễn lược dịch

From: Langthangchieutim

Nguồn: https://jesuit.org.au/why-does-god-allow-pandemics/

Một Người Việt Tên Dang

Một Người Việt Tên Dang

Tưởng Năng Tiến

Tên đúng của ông có thể là “Đăng,” “Đặng,” “Đằng,” hay “Đáng,” hoặc “Đang” (Việt Ngữ không có từ “Dang”) nhưng tôi không dám chắc vì chỉ được biết qua một bài báo bằng tiếng nước ngoài (“Han ble smuglet inn i Norge i et bagasjerom. Et halvt år senere ble han pågrepet på en hasjplantasje”) đăng tải trên tờ Aftenposten, phát hành từ Na Uy, vào ngày 27 tháng 8 năm 2021.

Bản tiếng Việt (gồm 4371 từ) của dịch giả tên Trang, xuất hiện trên FB Que Toi mấy hôm sau đó. Xin được tóm lược :

“Dang” cho biết quê anh là làng chài Đô Thành, thuộc miền Trung Việt Nam. Từ nơi đây, nhiều thanh niên Việt Nam đã đi lậu trong các xe container xuyên qua Trung Quốc, rồi vượt biên giới vào Nga (Russland), trước khi trở thành nhân công lao động giá bèo hoặc gái mại dâm ở các thành phố Châu Âu.

Trên hành trình dài 11.660 km đến Na Uy, “Dang” trốn trong một thùng container sau xe tải. Đến ngày hôm nay, anh vẫn còn ám ảnh trong giấc mơ về những điều khủng khiếp mà anh đã thấy trên tuyến đường đó…

Ô nhiễm môi trường, đánh bắt cá quá mức và bất hợp pháp, công nghiệp hóa ngày càng phát triển đã dẫn đến tình trạng rất khó khăn cho ngành ngư truyền thống ở Việt Nam. Đối với đại gia đình của “Dang”, giải pháp cuối cùng là gửi cậu con trai lớn nhất trong một chiếc container đến Tây Âu. “Dang” cho biết gia đình đã phải thế chấp căn nhà và bán tất cả những gì đáng giá để trả tiền cho nhóm buôn người.

Tôi ra đi để tìm một cuộc sống tốt hơn. Nhưng nếu tôi biết trước kết quả thế này, tôi thà chọn cuộc sống một ngư dân nghèo. Theo “Dang” biết, gia đình đã thỏa thuận giá 25.000 USD với nhóm buôn người. Và đã trả trước một nửa.

“Dang” – người đàn ông 25 tuổi – kể lại cuộc hành trình phải đi xuyên qua Trung Quốc, Nga, Latvia, Belarus (Hviterussland) và Ba Lan. Theo “Dang”, chiếc container mà đoàn của anh đi chỉ có hai lỗ thoát khí nhỏ. Họ phải tiểu tiện và đại tiện trong một túi nhựa lớn.

Tháng 2/2021, “Dang” bị kết án 2 năm tù và phải bồi thường gần 100.000 kroner cho một công ty điện lực của Na Uy vì đã ăn cắp điện để trồng 649 cây cần sa. Bản án được giữ nguyên tại Tòa Phúc Thẩm Eidsivating vào tháng 6/2021, nhưng được giảm xuống còn 1 năm 9 tháng.

Ngày 19 tháng 8/2021, Tòa Án Tối Cao Høyesterett đã bác đơn kháng cáo của “Dang”. Luật sư biện hộ Audun Helgheim nói rằng họ sẽ kháng cáo vụ việc lên Tòa Án Nhân Quyền Châu Âu. Câu hỏi chánh và gây tranh cãi ở đây là: “Dang” là tội phạm hay nạn nhân!?

Tòa án quận Gjøvik viết trong bản án từ tháng 2: Tòa án căn cứ theo yếu tố bị cáo, sau khi đến Na Uy, ít nhất là bởi bị lạm dụng hoàn cảnh bí thế của mình, đã bị buộc phải trồng cần sa. Điều này dẫn chứng cho thấy bị cáo là nạn nhân của nạn buôn người”…

UDI (UtlendingsDIrektorate) đã xét đơn theo lời khai của “Dang”. Trong giấy phép cấp cho anh được cư trú tạm thời tại Na Uy (midlertidig oppholdstillatelse), viết là họ tin rằng có thể lý giải được là anh đã bị hại trong vụ buôn người.

Rosa, một tổ chức hỗ trợ những người có thể là nạn nhân tệ nạn buôn người, cũng tích cực trong vụ án của “Dang”. Mildrid Mikkelsen của hội Rosa cho rằng việc bỏ tù một người cùng lúc với việc điều tra xem người đó có phải là nạn nhân buôn người là điều chúng ta cần phải suy ngẫm…

Điều “Dang” lo sợ là anh sẽ bị trả về Việt Nam. Luật sư biện hộ Audun Helgheim cho biết: Về Việt Nam, anh có nguy cơ bị thủ phạm ám hại, do những gì anh đã khai… Tương lai ở Việt Nam của người đàn ông trẻ Việt Nam này, là một sự mịt mù. Nếu tôi về nhà, có lẽ tôi sẽ bị giết. Và ở đó, tôi cũng không còn gì. Trong cuộc thẩm vấn với cảnh sát vào ngày 22 tháng 6 năm nay, “Dang” nói anh như một người đã chết: Tôi không còn gì để sống nữa. Tôi chỉ ước ao có thể gặp lại mẹ một lần.

Câu nói thượng dẫn bỗng khiến tôi nhớ mấy câu thơ của Huyền Chi, và bản nhạc Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy: Nhìn về đường cố lý cố lý xa xôi/ Đời nhịp sầu lỡ bước bước hoang mang rồi …/ Mẹ già ngồi im bóng mái tóc tuyết sương/ Mong con bạc lòng …

Không biết có bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vẫn đang ngồi tựa cửa mỗi chiều, và bao nhiêu thanh niên thiếu nữ từ xứ sở này đã “lỡ bước hoang mang” trên con đường lưu lạc. Điều an ủi duy nhất cho những kẻ tha phương cầu thực là không hề có một lời lẽ, cử chỉ, hay thái độ miệt thị nào từ người dân (cũng như từ những cơ quan hữu trách) ở nước ngoài.

Sáng sớm hôm 23 tháng 10 năm 2019, dân Anh vừa mở mắt dậy đã nhận được thông tin khiến ai cũng phải bàng hoàng: cảnh sát mới phát hiện ra 39 thi thể người Việt nằm chết trong một cái container tại khu công nghiệp Waterglade!

Họ phản ứng ra sao?

Không một lời than phiền, không một câu trách móc. Sau khi biết rõ sự việc, họ bầy tỏ sự thương cảm bằng cách lặng lẽ mang hoa tưởng niệm đến nơi đặt xác nạn nhân. Ngay sau đó, họ tổ chức cầu nguyện cho linh hồn của người quá cố. Rồi họ sắp xếp những chuyến bay để đưa tất cả thi hài của những kẻ xấu số trở về quê quán, và đích thân vị đại sứ Anh ở Việt Nam – ông Gareth Ward – đã đến tận nơi để chia buồn. 

Người Na Uy bây giờ cũng thế. Từ luật sư, toà án, nha ngoại kiều, và các cơ quan thiện nguyện của họ đều chia sẻ một nỗi băn khoăn chung:“Dang” là tội phạm hay nạn nhân!?”

Có lẽ cả hai nhưng đồng bào của nạn nhân, tiếc thay, chỉ nhìn ra ông là một tên tội phạm :

  • Kieu Ninh Vaagen : “Nhìn mặt biết gian.”
  • Hoang Nguyen Van: “Nhìn mặt là biết lưu manh, là trùm du đảng, không là nạn nhân.
  • Cuong Le: “Xứ này luật pháp văn minh và nhân bản nên các lão cứ thoải mái lợi dụng quyền làm người rồi khai ra làm sao cho thật đáng thương để được khoang hồng…”

Cá nhân “Dang” thì không hề có một lời biện minh, biện hộ hay biện bạch nào cả. Trong cuộc thẩm vấn với cảnh sát vào ngày 22 tháng 6 năm nay, ông chỉ nói: “Tôi không còn gì để sống nữa. Tôi chỉ ước ao có thể gặp lại mẹ một lần.”

Nỗi “ước ao” nhỏ bé này lại khiến tôi liên tưởng đến đôi câu đối thoại (giữa hai người Việt đồng cảnh, từ hai phòng giam sát cạnh nhau, tại một nhà tù nào đó ở Âu Châu) trong một truyện ngắn của một nhà văn ở Na Uy:

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về… Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm ‘Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.’ Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh. “Người Rơm”. Thế Kỷ 21, Jul. 2010).

Đối với nhiều người dân Việt thì muốn sống như một ngư dân nghèo nơi vùng biển quê hương (như ông Dang) hay mong “muốn cơ cực ở nhà gần mẹ suốt đời” (như cô Tuyết) e đều chỉ là thứ ước mộng rất xa vời trong chế độ hiện hành.

Tưởng Năng Tiến
9/2021

Mạnh Vãn Chu: Đổi tự do bằng “lừa đảo”?

Mạnh Vãn Chu: Đổi tự do bằng “lừa đảo”?

Bởi  AdminTD

 Lê Huyền Ái Mỹ

25-9-2021

Hôm nay, thông tin Mạnh Vãn Chu được phóng thích tràn ngập. Chỉ vài giờ sau, 2 công dân Canada, Michael Spavor và Michael Kovrig cũng được Trung Quốc trả tự do.

Tháng 12- 2018, bà Mạnh bị tạm giữ. Vài ngày sau, ông Michael Spavor – một doanh nhân Canada và Michael Kovrig- một người từng làm trong ngành ngoại giao Canada – bị bắt giữ tại Trung Quốc. Nước này phủ nhận việc bắt giữ hai công dân Canada là hệ quả của việc bà Mạnh bị bắt và tuyên án ông Spavor 11 năm tù.

Vậy mà giờ, sau cú phóng thích bà Mạnh, từ tù nhân lãnh án 11 năm thành người tự do ngay và luôn. Đều là phát ngôn bằng tiếng Trung Quốc cả đấy thôi!

Cũng như nhìn lại cú mặc cả “tự do” cho bà Mạnh trở về Trung Quốc, không bị dẫn độ sang Mỹ bằng một thỏa thuận bà thừa nhận “có trách nhiệm về vai trò chính của mình trong hành vi thực hiện kế hoạch lừa đảo một tổ chức tài chính toàn cầu”.

Dù các tín hiệu có vẻ sáng sủa nào “hoãn truy tố”, “hủy bỏ cáo buộc”, “rút lại đề nghị dẫn độ” thì cái giá để gọi là “được tự do” lại đóng dấu mộc bằng sự thừa nhận “hành vi lừa đảo”.

Vậy là sau 1000 ngày, “kẻ lừa đảo” đã được về nhà?

Cáo buộc của Mỹ về việc bà Mạnh đã nói dối HSBC trong mối quan hệ của Huawei- với tư cách là giám đốc tài chính của tập đoàn – với Skycom, một công ty kinh doanh ở Iran, khiến HSBC có nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự vì vi phạm lệnh trừng phạt thương mại của Mỹ. Huawei đã bác bỏ cáo buộc và cho rằng vụ việc nhằm vào bà Mạnh Vãn Chu mang động cơ chính trị.

Vậy con đường làm ăn của Trung Quốc vào Iran là nằm ngoài chính trị? Cả hành động ngay lập tức nhảy bổ vào Iran sau khi Mỹ và Châu Âu áp đặt lệnh cấm vận quốc tế lên quốc gia Trung Đông này? Hai lựa chọn duy nhất cho quốc gia dầu mỏ này là Nga – có công nghệ nhưng chẳng đủ vốn và Trung Quốc – yếu kém về công nghệ nhưng sẵn tiền và can thiệp chính trị – nhà nước Trung Quốc không ngần ngại sử dụng sức mạnh chính trị để bảo vệ doanh nghiệp của họ thoát khỏi sự cô lập Iran của Mỹ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, như cơn lốc rời đi của các tập đoàn Shell, Total, ENI, Respol… thì cơn lốc ập tới với Sinopec, PetroChina và CNOOC (Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc) mà chính ngoại trưởng Mỹ thời điểm ấy, Hillary Clinton đã phải thốt lên câu hỏi “Làm sao anh chơi rắn với ngân hàng của mình được?” với thủ tướng Úc, Kevin Rudd – ý nói về chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ là Trung Quốc.

Vậy thì, một “tiểu nương nương” như Mạnh mà phải “nói dối” rằng không có dính líu gì đến quốc gia dầu mỏ hay một ông lớn ngân hàng như HSBC lại tin vào lời nói dối ấy; và cả sự phủ nhận liên quan giữa Huawei với quân đội Trung Quốc, nó cứ như trò ve vãn đầy “ngọt ngào và man trá”. Cú mặc cả bằng thỏa thuận kia, chẳng qua cũng là sự “dọn dẹp” cho xong một động tác.

Còn bản chất, đã đóng “vai trò chính của mình trong hành vi thực hiện kế hoạch lừa đảo một tổ chức tài chính toàn cầu” thì đi đâu, ở đâu hay về nhà cũng là “cốt cách” lừa đảo. Hay “căn nhà” ấy, quê nhà ấy cũng đã chứa đựng sẵn cái mầm phong hóa lật mặt, tráo trở?

Như chuyện xảy ra với đất nước này. Hôm trước còn dắt nhau sang thăm hữu nghị. Mấy hôm sau đã điều máy bay vận tải tới các thực thể mà chúng bồi đắp trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Toàn một lũ cả thôi!