Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Lm Anthony De Mello S.J.

Xu-phi Bayazid thuật lại điều liên quan đến đời ông như sau. “Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mọi lời cầu nguyện của tôi đối với Chúa như sau: ‘Lạy Chúa, xin cho con nghị lực để thay đổi thế giới.’

 “Khi tôi đứng tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người đã trôi qua đi mà tôi không thay đổi được một người nào hết nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi tất cả mọi người mà con sát cánh hằng ngày. Nếu chỉ được điều đó đối với gia đình và bè bạn thì con cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi.’

“Giờ đây tôi đã già nua và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, tôi chỉ còn cầu xin như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi chính mình con.’ Giả như tôi biết cầu nguyện như thế ngay từ đầu thì tôi đã không uổng phí cuộc đời của tôi.”

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích Như Tiếng Chim Ca

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

Nguyễn Tiến Dân

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

1-Khi được hưởng những điều may mắn và tốt đẹp từ người khác đem lại, ta luôn nhớ đến họ với lòng biết ơn chân thành.

Cha mẹ, đã sinh ra ta. Có thế, ta mới may mắn được đứng trên trái đất, được ngắm nhìn ánh sáng măt trời và được sống với vô vàn những điều kì diệu khác.

Không có thày cô dạy dỗ, ta không thể có tri thức, không thể có trí tuệ. Không có trí tuệ, sao có thể phân biệt được phải – trái, đúng – sai. Mông muội như thế, nếu có sống, ta cũng chẳng khác gì những loài thú vật.

Bởi thế, đã là con người, trước hết, ai cũng phải nhớ đến ơn sinh thành của cha mẹ, nhớ đến ơn dạy dỗ của thày cô. Nói rộng ra, phải nhớ ơn cả Xã hội đã bao dung và nuôi dưỡng ta thành người.

-Ở Việt nam, đầy những kẻ nghèo hèn, đầy những kẻ tàn tật về trí tuệ và nhân cách. Tuy vậy, chúng vẫn khát khao muốn làm cha thiên hạ. Chỉ đến khi xuất hiện Mác – Lê cùng Chủ nghĩa Cộng sản, giấc mộng ấy, mới thành. Chủ nghĩa Cộng sản đã dung dưỡng, đã đem tới cho chúng vinh hoa và phú quý. Khi tận hưởng cuộc sống xa hoa còn hơn cả những bậc Đế vương, lẽ tự nhiên, chúng phải nhớ ơn Mác – Lê và nhớ ơn những ông Tổ bịp bợm của mình.

-Không ai nhớ ơn những kẻ đã đem những điều tồi tệ nhất đến cho mình. Tô Lâm đó, không oán hận thì thôi, chứ đời nào ngài lại biết ơn kẻ đã mời mình miếng thịt bò nạm vàng. Ngài cũng không thể nhớ ơn đám thuộc hạ ở Đà nẵng. Đúng vào lúc nhạy cảm nhất, chúng thản nhiên sát thêm muối vào vết thương của ngài. Bằng cách, liên tục quấy nhiễu ông Lâm bún bò, có biệt danh: “thánh rắc hành”.

2-Trong xã hội, quan hệ giữa con người với con người, là một mối quan hệ chằng chịt và có tác động tương hỗ lẫn nhau. Chuyện nhớ ơn, cũng vậy.

Nhờ có địa chủ, người nông dân mới có được ruộng đất, để cấy cày. Nhờ có công xưởng của giới chủ, người công nhân mới có công ăn – việc làm. Một cách tự nhiên, giới làm thuê, họ phải nhớ ơn những người đã tạo dựng môi trường làm việc và đưa đến thu nhập cho mình.

Ngược lại, nếu không có những người kia, giới chủ cũng không thể tự mình làm được tất cả mọi việc. Một cách tự nhiên, giới chủ cũng phải nhớ ơn những người làm công – ăn lương. Chính họ, đã mang lại cuộc sống giàu sang – phú quí cho mình và giới chủ cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc cho họ.

Chỉ cần một trong hai phe đó, ai cũng muốn đội cái tôi của mình lên đầu và không cần biết đến đối tác, đình công – bãi công sẽ nổ ra và xã hội sẽ bị đảo lộn.

3-Trở lại với mệnh đề: “Đảng Cộng sản Việt nam, họ luôn bắt dân chúng phải ơn Đảng”.

a-Sự thực, từ khi bị đẻ rơi ở Hương cảng cho đến bây giờ, không chỉ giới cần lao mới nuôi dưỡng và bao che cho Đảng. Ngay cả những nhà Tư sản yêu nước như cụ Trịnh Văn Bô và những Địa chủ yêu nước như cụ Nguyễn Thị Năm, họ cũng đã góp công rất lớn, để nuôi Đảng. Nhưng Đảng đã trả cái ơn nuôi dưỡng và che chở của họ, như thế nào? Việc này, nên dành riêng, để đám Tuyên giáo trình bày.

Người dân Việt nam, họ đã hi sinh biết bao nhiêu của cải và sinh mạng, để giúp Đảng Cộng sản giành được chính quyền và có được mọi thứ như ngày hôm nay. Rõ ràng, Đảng phải tri ân dân Việt nam và lẽ ra, phải phụng dưỡng cho họ, như phụng dưỡng cha mẹ đẻ của chính mình. Thế, mới phải Đạo.

b-Nhưng kiểm lại, suốt cả cái quá trình gọi là Cách mạng này, người dân và đất nước Việt nam, họ đã nhận được những gì từ Đảng Cộng sản?

-Đảng Cộng sản có công rước được Chủ nghĩa Mác – Lê vào Việt nam.

Buồn thay, cái mớ rác rưởi này, từ lâu, thiên hạ đã liệng nó ra ngoài cái bãi rác của Lịch sử. Còn những kẻ đã đưa nó vào Việt nam, chúng cũng chẳng mặn mà gì với cái thứ thối tha này. Của nổi – của chìm, chúng vơ sạch vào người và được chuyển thành vàng, thành USD và thành bất động sản ở những nước Tư bản. Ốm đau, chúng không sang Trung quốc chữa bệnh, Con cái, chúng không nhờ Bắc Triều tiên dạy dỗ.

Người dân Việt, họ vẫn trắng tay. Đâu rồi, lời hứa: “nhà máy, thuộc thợ thuyền – ruộng đất, thuộc dân cày”?

Nhà máy, không thuộc về thợ thuyền. Công nhân vẫn đã, đang và sẽ mãi mãi là người đi làm công. Đảng chỉ đứng ra làm cai đầu dài, để mời gọi giới Tư bản nước ngoài đến Việt nam và cùng với họ, bóc lột công nhân. Thậm chí, còn thậm tệ hơn xưa. Đại dịch cúm Tàu ở Sài gòn, nó đã bóc trần sự thực về cuộc sống của giai cấp công nhân Việt nam. Sau bao năm đi làm thuê cho Đảng, tích lũy của họ, chỉ đủ để ăn mì tôm trong vài ba tháng. Quá nữa, hết sạch. Quá nữa, rùng rùng tháo chạy, Quá nữa, hồi hương và bất chấp hậu quả.

Ruộng đất, vẫn không thuộc về dân cày. Quyền sở hữu ruộng đồng, thuộc về Đảng. Đảng vẫn đang phát canh – thu tô, như bọn địa chủ năm nào. Đảng vẫn thu thuế và thu của nông dân ngày càng tàn bạo hơn. “Một quả trứng, chịu 14 loại phí. Một con lợn, cõng 51 loại thuế phí”. Đó là những câu chuyện đã không còn quá xa lạ đối với những người nông dân Việt nam.

Mang tiếng là được Tổ tiên để lại cho cả một cơ đồ đồ sộ. Trong đó, có “rừng vàng – biển bạc”. Nhưng để lại bao nhiêu, Đảng giành bằng hết về cho mình bấy nhiêu. Khai thác dầu thô, Đảng không cho dân chúng hưởng chút váng dầu nào, thì đã đành. Khốn nạn nhất, đang lúc dịch dã, Đảng còn nhẫn tâm dùng tên lửa xuyên lục địa, để phóng giá ét xăng lên trời và bắt dân chúng phải mua với cái giá cắt cổ.

-Đảng biện bạch, nhờ có chủ nghĩa Mác – Lê, chúng ta mới giành được Độc lập.

Đúng là, chúng ta đã đuổi được đi 2 nền Văn minh là Pháp và Mỹ. Sau đó, Đảng rước cái bọn man rợ là Tàu cộng vào, để thế chỗ. Ai còn mơ màng về chuyện Độc lập của Việt nam, xin hãy nghe lại bài nói chuyện của tướng Trương Giang Long, bắt đầu từ phút thứ 10: 30.

Chúng ta khát khao, để có được Độc lập. Nhưng Đảng đã dùng thuốc độc, là Chủ nghĩa Mác – Lê, để giúp chúng ta giải khát. Uống liều thuốc độc này vào người, cả Tự nhiên lẫn Xã hội của Việt nam, băng hoại.

-Đảng có công đã kéo tụt lùi sự phát triển của cả Đất nước ta và Dân tộc ta.

Ngày xưa, khi đến nhận chức Toàn quyền Đông dương, ngài Paul Doumer đã đánh giá rất cao về người Việt nam. Ông xếp người Việt nam ngang hàng với người Nhật bản. Thậm chí, còn xếp cao hơn người Trung hoa, một bậc. Thời Việt nam Cộng hòa, cả vùng Đông nam Á, đâu cũng ngóng về đó với sự ngưỡng mộ sâu sắc.

Còn bây giờ, ước tính, chúng ta phải cần thời gian ngót 200 năm nữa, để đuổi kịp được Singapore và đang cố hết sức, để không bị tụt lại phía sau của Lào và Campuchia. Chúng ta chỉ đi trước thiên hạ, vài thứ. Đối ngoại, có 2 thứ đặc sản được xuất khẩu vượt trội: một là, lao nô và hai là, đĩ điếm. Trong nước, tượng đài, chùa chiền, lăng mộ…, thứ nào cũng “xứng tầm khu vực và Thế giới”. Riêng trường học và bệnh viện, thì không. Còn nợ, thì thôi rồi. Cả bà Ngân lẫn ông Phớc, ai cũng công khai thừa nhận: “ngân sách, như dòng sông đã cạn”

-Đảng đã có công thú hóa con dân Đất Việt.

Từ chỗ, “thương người như thể thương thân”, Đảng đã cài số lùi, để dẫn dắt chúng ta quay trở lại thời kì Luật rừng. Nơi đó, “cá lớn, nuốt cá bé”. Xã hội, hỗn loạn – dối trá, lên ngôi – đồng tiền, cai trị.

Hai mươi năm đầu của thế kỉ thứ 21 đã trôi qua, nhưng Thế giới vẫn phải rùng mình, chứng kiến cảnh: Ở xã Đồng tâm, Đảng giết đồng chí của mình, rồi mổ bụng và phanh thây. Chứng kiến cảnh, một viên Bí thư Huyện ủy quèn, nhưng nó cũng có thể coi đám nữ thuộc cấp như hậu cung của nhà mình. Nứng lúc nào, bốc ngay cô gần nhất, đè người ta ra, hãm hiếp. Thậm chí, chẳng cần quây màn, để che lại cảnh đó. Còn chuyện, “Đảng vay tiền của người ta, rồi ăn quịt. Hàng chục năm trôi qua, đòi không chịu trả”, nhiều vô thiên lủng.

-Đảng góp công rất lớn, làm cho diện tích đất đai của Tổ quốc ngót đi khá nhiều.

Mục nam quan, thác Bản Giốc và bãi Tục lâm, từ xa xưa, chúng hoàn toàn thuộc về đất Việt nam. Đến thời Cộng sản cai trị, cái thì mất hoàn toàn, cái thì mất một phần cho Trung cộng. Mắt thấy – tay sờ, còn như thế. Nói chi đến chuyện đám, “đày tớ Cộng sản”, chúng chẳng thèm hỏi ý kiến của những “ông/bà chủ”, để tùy tiện “chuyển nhượng” biết bao nhiêu lãnh thố và lãnh hải khác cho bố Tàu, với cái giá, mà dân Việt, họ mãi mãi không bao giờ biết.

c-“Xét về tổng thể”, con dân Đất Việt, họ đã được Đảng thí cho những quyền cơ bản nào của một con người? Câu trả lời, nó nằm ở một phần ba đầu tiên, trong 9 chữ: “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”. Nói trắng ra, tất cả, đều chỉ nằm trên giấy. Tất cả, đều chỉ là những cái bánh vẽ.

4-Rõ ràng, Đảng không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và đang làm tổn hại cho Đất nước. Tại sao, Đảng lại bắt người dân phải mang ơn Đảng?

Luận điểm này, cái loại trẻ con như Võ Văn Thưởng, hoặc võ biền như Nguyễn Trọng Nghĩa, chắc chắn, họ không dám và không thể trả lời một cách công khai được.

Ông Tổng ơi, đừng hùng biện trước đám ma nơ canh – những “cử tri tuyển” của Đảng nữa. Có giỏi, hãy vung bút, để thể hiện cho toàn dân Việt biết, ngài vẫn là “chân Giáo sư” và vẫn là “chân Tiến sĩ”. Lí luận, thì đầy mình và gi gỉ gì gi, cái gì cũng “ở tầm Tư tưởng”.

Đừng xô bọn “đầu lâu – xương chéo” ra và cũng đừng giả điếc mãi như thế.

Nhục lắm

Nguyễn Tiến Dân

Điện thoại: 038-50-56-430

Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ CS đê hèn, nên bị chúng lừa đảo, cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây – mai đó, chưa có nơi ở cố định.

Cầu xin cho tâm trí được mãn nguyện

Cầu xin cho tâm trí được mãn nguyện

Lm Anthony De Mello S.J.

Thần Vishnu nói với tín đồ ngoan đạo: “Ta đã chán ngấy bởi những lời cầu xin dai dẳng của con. Ta sẽ ban cho con ba điều ước nguyện. Con nhớ chọn lựa chắc chắn kỹ càng, bởi vì khi đã ban cho rồi, ta sẽ không cho con điều gì nữa hết.” Rất đổi hân hoan, người sùng đạo đã xin không chút do dự: “Đây là điều thỉnh cầu thứ nhất của con. Xin cho vợ con chết đi để con có thể tái hôn với một người đàn bà khác khá hơn.”

Nhưng khi bà con bè bạn tụ họp dự lễ tống táng và bắt đầu kể lể những nhân đức của bà vợ, người sùng đạo mới nhận ra rằng mình đã hành động hấp tấp. Do đó, ông đã xin Thần cho bà ta sống lại. 

Ông chỉ còn lại mỗi một lời cầu xin mà thôi. Ông nhất quyết sẽ không nhầm lẫn lần nầy vì sẽ không có cơ hội sửa chữa được nữa. Ông đã tham khảo ý kiến một cách rộng rãi. Có người khuyên ông nên xin được trường sinh bất tử. Nhưng những người khác bảo rằng sống lâu có ích lợi gì nếu không có sức khỏe tốt? Và sức khỏe tốt để làm gì nếu không có tiền bạc? Và có tiền bạc để làm gì nếu không có ai làm bạn với mình?

Nhiều năm tháng trôi qua mà người đó không quyết định được phải chọn lựa làm sao: sống lâu, sức khỏe, giàu sang, quyền lực hay ái tình.

Cuối cùng người đó đã cầu khẩn Thần như sau: “Xin Ngài dạy cho con biết phải xin gì đây.” Thần cười khi thấy người đó bối rối nên nói: “Con hãy xin cho được mãn nguyên, dù cuộc đời có xảy ra như thế nào”.

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích “Như Tiếng Chim Ca”

LỜI TẠ ƠN TRONG NGÀY LỄ THANKSGIVING

LỜI TẠ ƠN TRONG NGÀY LỄ THANKSGIVING

Văn Duy Tùng

Hàng năm vào ngày Thứ Năm tuần cuối cùng của Tháng Mười Một, Hoa Kỳ có một ngày lễ rất ý nghĩa và tôi lấy làm thích thú nhất trong tất cả những ngày lễ nghỉ ở đất nước Hiệp Chủng Quốc này. Ðó là ngày lễ Thanksgiving – ngày Lễ Tạ Ơn.

Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên xảy ra tại Hoa Kỳ vào năm 1621 sau khi những người Pilgrims từ nước Anh tìm ra và đặt chân xuống đây để chọn vùng đất sống. Vùng đất dồi dào và màu mỡ để từ đó con cháu họ và những thế hệ nối tiếp đã lập lên một quốc gia Hoa Kỳ lớn mạnh và giàu có nhất thế giới.

Số người tham dự ngày Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên ấy chỉ vỏn vẹn có 140 người, trong đó 90 là người Wampanoag (người da đỏ) và 50 là người Pilgrims. Một số người Pilgrims đã bỏ xác giữa đường trong cuộc hành trình tìm đến đây và cũng đã bị chết rất nhiều khi chưa thích nghi với khí hậu, nhất là những bệnh tật với mùa đông băng giá… 140 người đầu tiên đó, họ đã dành đúng 3 ngày để tế Lễ Tạ Ơn sau khi vụ mùa đầu tiên được thu hoạch.

Ba ngày đó, họ làm gì và tạ ơn ai?

Vâng, điều đầu tiên là họ tạ ơn Trời, tạ ơn Thượng Ðế đã cho họ được sống sót trên chuyến đường ngàn dặm và đã cho họ gặp may mắn tìm ra được vùng đất màu mỡ, vùng đất có sữa và mật. Họ tạ ơn Thượng Ðế đã chúc phúc cho họ có được một vụ mùa gặt đầu tiên bội thu. Họ cũng không quên tạ ơn những người da đỏ đã giúp họ biết canh tác, trồng trọt và hướng dẫn họ cách chăn nuôi trong những ngày tháng chân ướt chân ráo.

Và hôm nay đây sau gần 400 năm, người dân Hoa Kỳ đã tái diễn lại ngày lễ Tạ Ơn đó mỗi năm như là một sự nhắc nhở con cháu họ phải biết đến ơn Trời, nhớ ơn người và luôn ghi khắc trong lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn.”

Qua câu chuyện The First Thanksgiving (Lễ Tạ Ơn Ðầu Tiên) và những người Pilgrims, tôi liên tưởng ngay đến người Việt Nam tỵ nạn trên vùng đất Hoa Kỳ này hoặc một quốc gia nào khác.

Quả thật, chúng ta cũng chẳng khác gì với cuộc hành trình của người Pilgrims khi bỏ nước ra đi tìm tự do và đất sống. Con đường và những chuyến vượt biên, vượt đại dương của bạn và tôi trên những chiếc thuyền nan mong manh, đã gặp bao nhiều điều gian khổ và nguy hiểm. Sự gian khổ và nguy hiểm ấy có thể đến mức 99% của sự chết bởi biển cả, bởi sóng gió và bão táp, bởi đói khát và hải tặc để chấp nhận đánh đổi còn lại mong manh 1% của sự sống.

Biết bao nhiêu khó khăn trong những ngày đầu tiên ở các trại tỵ nạn, bao nhiêu sự xa lạ và khác biệt giữa đời sống: Bất đồng ngôn ngữ, tập quán, văn hóa v.v… trong những ngày tháng đầu tiên định cư tại Hoa Kỳ và những quốc gia khác. Thế rồi ngày hôm nay, khi ngoảnh mặt lại, bạn và tôi đã nhớ và khám phá ra rằng chúng ta đã mang ơn biết bao người, biết bao điều trong cuộc sống mà thường thì con người hay quên hay cố quên những người đã làm ơn làm phước trong cuộc đời của chúng ta. Nhất là sau khi bạn và tôi đã công thành danh toại, đã trở nên giàu có và đầy đủ trên vùng đất Hoa Kỳ này.

Ðể rõ và chắc chắn hơn sự vô ý hay quên không nhớ đến những người mà ta đã mang ơn; xin hãy vào nhà thờ hay chùa chiền, chúng ta sẽ thấy và nghe được toàn là những lời cầu xin rôm rả của giáo dân, của thiện nam tín nữ mà quên đi lời tạ ơn. Hãy xem tờ thông tin hay tờ mục vụ ở những nơi này, chằng chịt những người xin lễ, xin ơn, xin cho, xin được, xin thêm, xin điều này điều kia, mà không thấy một lời, một lễ để tạ ơn, nếu có thì cũng rất giới hạn. Và mặc dù sự tạ ơn của chúng ta cũng chẳng thêm lợi ích gì cho Thượng Ðế. Thế nhưng, Ngài muốn lòng con người phải nhớ và biết ơn để sinh thêm hoa trái, mang lợi ích cho mình, cho người khác và có thể nhìn thấy sự liên đới tốt đẹp trong đời sống chung quanh của con người.

Hôm nay trong ngày Lễ Tạ Ơn với bầu trời ảm đạm của mùa Thu tại vùng thủ đô Washington. D.C, bầu trời có sương khói lam chiều như bên quê nhà. Ngoài kia, những chiếc lá đang dần úa vàng, những cơn gió nhẹ nhàng mơn man như vuốt ve hàng cây, rồi những chiếc lá vàng rơi rụng về với cội nguồn, về với lòng đất. Ðời con người đâu khác chi những chiếc lá; xanh tươi rồi úa tàn. Lá sẽ mục nát trong lòng đất và biến thành chất hữu cơ cho cây được bén rễ, để ươm chồi cho những mầm mống nối tiếp của ngày mai.

Việc đầu tiên và trên hết, bạn và tôi hãy dâng lời cảm tạ lên Thượng Ðế vì điều kỳ diệu và tuyệt vời nhất Ngài đã tạo dựng cho chúng ta hình hài làm người mà không phải hình hài một con khỉ hay con đười ươi hoặc một con vật nào khác. (Loài người phát sinh từ loài khỉ theo “Thuyết Duy Vật Biện Chứng.”)

Tạ ơn Ngài đã thổi trong hình hài ta một sự sống và sự sinh tồn, một lý trí để xét suy, một trí tuệ biết nhận định đúng, sai, biết sự thiện, sự ác và biết nhận diện để tìm đến con đường Thượng Trí, tìm đến ánh sáng của Chân-Thiện-Mỹ. Ngài còn tạo và đặt để trong ta một trái tim. Trái tim không chỉ có bổn phận bơm máu nuôi cơ thể mà còn để ban phát tình yêu thương và sự rung cảm trong đời sống. Nhờ có trái tim mà lý trí và bản năng của con người được kiềm chế, được xoa dịu, nhất là khi đối diện và gặp phải những lúc cường độ xung đột và khác biệt trong nhịp sống nơi bản chất của con người. (Theo khoa học, những bộ phận đầu tiên để hình thành một bào thai, là một giọt máu biết đập. Ðó chính là quả tim.)

Vâng, nếu trong đời sống của chúng ta chỉ biết liên quan, đối diện hoặc giao hảo dựa trên lý trí và bản năng, thì có lẽ chúng ta đã và sẽ chém giết nhau từng ngày một. Vì đời nào lý trí và bản năng của tôi chịu thua lý của bạn. Huống gì sự tranh chấp, sự bất đồng, sự khác biệt nhan nhản xảy ra trong đời sống hằng ngày mà có thể dẫn đến sự xung đột, sự nổi loạn rồi sẽ hơn, thua… Ngài biết rõ bản chất của con người, nên đã tạo cho mỗi con người có một trái tim để một cách nào đó kiềm chế lý trí, kiềm chế bản năng là thế.

Khi nói đến quả tim là đề cập đến sự sống, là nói đến sự yêu thương, hạnh phúc, bình an và hòa bình… Nếu mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi gia đình, mọi con người luôn để con tim trước lý trí để “xử lý” với nhau trong bất cứ mọi tình huống, mọi hoàn cảnh thì có lẽ thế giới này sẽ thôi chiến tranh, con người sẽ gần lại với nhau, sẽ nâng đỡ và thương yêu nhau, gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ giang rộng cánh tay chào đón tất cả mọi thành phần mà không phân biệt màu da, chủng tộc, mũi tẹt hay da màu…

Xin hãy để con tim đứng trước để xử lý và bàn thảo trong mọi lĩnh vực, luật lệ, mọi quyết định, mọi việc, mọi sinh hoạt trong đời sống… Hẳn, Thượng Ðế đã có lý do tạo ra quả tim (giọt máu biết đập) đầu tiên để hình thành con người trong bào thai trước cả cái đầu, cái miệng và đôi tay… Vậy, tại sao không để trái tim của chúng ta xử lý trước tiên trong mọi điều, mọi việc nơi đời sống hằng ngày, trong xã hội nhiễu nhương và bất công, nơi thế giới đầy rẫy những tranh chấp và hận thù.

Xin hãy cúi đầu để tạ ơn sự tuyệt diệu của Ngài khi tạo dựng nên loài người và tạo dựng nên vũ trụ bao la. Ôi Ðấng Quyền Năng vô song và tuyệt hảo!

Có lẽ bạn và tôi không cùng một tôn giáo và một niềm tin, nhưng chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện của Thượng Ðế đã tạo dựng nên vũ trụ, sông biển, núi đồi, cỏ hoa, nắng mưa và cầm thú… với mục đích là chỉ vì yêu thương con người, rồi cho con người được ân hưởng và làm chủ tất cả các vạn vật đó. Ngài còn sắp xếp mọi vật thể trong vũ trụ, chuyển mình theo tuần tự trong bàn tay vạn năng và an bài của Ngài.

Bạn cứ tưởng tượng xem, nếu ta sống không có ánh sáng trong 24 tiếng đồng hồ hoặc một tháng thì sẽ bất tiện đến thế nào. Hoặc những vì sao va chạm, rơi rớt, vũ trụ, trời đất, tinh tú hỗn loạn thì đời sống con người sẽ ra sao. Vậy, tất cả và thậm chí ngay cả ngày và đêm cũng nằm trong chương trình sáng tạo và xếp đặt để cho con người có được năng lượng ánh sáng của mặt trời và được nhận ra thời gian, năm tháng, ngày và đêm để nghỉ ngơi hay làm việc.

Sau khi tạ ơn Trời, bạn và tôi chắc chắn nghĩ ngay đến gia đình. Ngày Lễ Tạ Ơn cũng là ngày quy tụ mọi thành viên trong gia đình. Tất cả con cái từ phương xa trở về với tổ ấm, về với gia đinh để tạ ơn đấng sinh thành.

Thượng Ðế đã khôn ngoan hình thành xã hội đầu tiên cho loài người, đó là người chồng, người vợ và từ đó họ sinh ra con cái. Chung quy lại đó chính là gia đình. Nơi gia đình ta tìm được chỗ nương tựa và yêu thương, được an ủi và vỗ về, được chia sẻ ngọt bùi hay đắng cay, hạnh phúc hay khổ đau…

Cao điểm nhất trong Ngày Lễ Tạ Ơn này đối với các gia đình, đó là sự gần gũi và nhất là trong bữa cơm tối. Tất cả ông bà, cha mẹ, con cái và cháu chắt quây quần bên bàn ăn rồi dâng lên lời tạ ơn Thượng Ðế đã ban cho biết bao ân huệ trong năm qua. Tạ ơn đấng sinh thành đã dưỡng dục nuôi nấng ta đến ngày khôn lớn.

Còn gì hạnh phúc và ý nghĩa cho bằng khi có được đầy đủ mọi người trong gia đình bên bàn ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn, mặc dù những món ăn không phải cao lương mỹ vị mà chỉ là những món ăn đơn giản như khoai lang, đậu, ngô, bí… đã được chế biến, nhất là món turkey (Gà Tây) thì không thể thiếu được. Những món ăn này bắt nguồn từ ngày Lễ Tạ Ơn đầu tiên của người Pilgrims và nay đã trở thành món ăn truyền thống không thể thiếu trong ngày Lễ Tạ Ơn hằng năm.

Chúng ta còn tạ ơn ai nữa không?

Vâng, còn nhiều lắm, bạn ạ! Này nhé: Vào những năm đầu sau năm 1975, có biết bao người Việt Nam bỏ nước ra đi, những ngày tháng lênh đênh và ngoi ngóp trên biển cả, lạc lõng trong rừng sâu. Nếu như không có những chiếc tàu và lòng thương xót của người ngoại quốc cứu vớt, thì xác thân bạn và tôi đã làm mồi cho cá rồi. Vì thế, chúng ta không thể không biết ơn đến những người đã ra tay nghĩa hiệp cứu vớt những thuyền nhân lênh đênh trên biển, các trại tỵ nạn, những trại định cư, trại tiếp tế, trại chuyển tiếp như Thái Lan, Mã Lai, Hồng Kông, Phi Luật Tân… Nhờ những trại đó để cho chúng ta có cuộc sống ngắn hạn và tạm thời sau bao ngày tháng lênh đênh trên biển cả và lạc lối trong rừng sâu trước khi lên đường định cư ở một quốc gia khác.

Ơn cao cả và lòng nghĩa hiệp đó là từ tấm lòng nhân đạo của các thuyền trưởng, của Liên Hợp Quốc, Hội ICM, các hội từ thiện, Hội USCC, các cơ quan bảo lãnh và từ thiện của Catholic, v.v…

Làm sao bạn và tôi có thể quay mặt hoặc có thể quên bẵng đi được với những ân nhân người Mỹ đã bảo lãnh, ra tận phi trường đón và đưa chúng ta về, cho ở trong nhà rồi đối xử, giúp đỡ và ân cần như một thành viên trong gia đình của họ.

Tạ ơn đến những người lính canh gác nơi tiền đồn, những chiến sĩ đã hy sinh nằm xuống để gìn giữ quê hương, những người cảnh sát, những cơ quan bảo vệ hòa bình, chặn đứng và dẹp tan quân khủng bố và những thành phần bất hảo trong xã hội để cho gia đinh bạn và tôi, cho tất cả mọi người có cuộc sống thanh bình.

Liên quan trong đời sống hằng ngày, chúng ta biết ơn đến những vị chức sắc nơi các tôn giáo: Các giám mục, linh mục, mục sư, các vị đại đức, thượng tọa, các vị tu sĩ nam nữ của các tôn giáo có bổn phận hướng dẫn đường tâm linh, chỉ cho chúng ta nhận ra ánh sáng của sự cứu rỗi trong cuộc đời đau khổ hôm nay.

Thiên Chúa thương con người và đã ban Ðức Giêsu Kitô xuống thế gian chịu chết vì tội lỗi chúng ta rồi cho chúng ta được ơn cứu độ của Ngài, để kết nối giữa trời và đất và không còn khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người. Cũng thế, Phật Thích Ca đã chua xót khi thấy chúng sanh quá đau khổ, xã hội nhiễu nhương để rũ áo hoàng tử và từ bỏ đời sống vua chúa, quyền quý, cao sang, thốt nên lời bi ai “Ðời Là Bể Khổ” trước khi lên đường tầm đạo cứu chúng sanh.

Vâng, đời là khổ thật nên ta phải cần đến các vị ấy để được hướng dẫn và giúp ta định hướng tìm được sự sống nơi vĩnh hằng, gặp được bến bờ của bình an trong cuộc đời trầm kha này.

Ôi, các vị này chính là “Cái đẹp cứu rỗi thế giới.”

Chúng ta luôn ghi ơn đến những người thầy, người cô đã khai thông sự ngu dốt của ta, dạy ta biết nhận thức và mở trí ta để thông suốt những sự kiện, mở mang kiến thức để ta phát triển tài năng, hướng dẫn ta biết luân thường đạo lý, biết Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín, biết Tam Tòng Tứ Ðức, biết lễ phép, tiên học lễ, hậu học văn… để ngày hôm nay ta dùng kiến thức và sự hiểu biết đó mà sống còn và phát triển mọi mặt trong đời sống, để đối diện và giao hảo tốt đẹp, hài hòa với mọi người trong xã hội, bạn bè và gia đình.

Xin cám ơn những vị y sĩ, bác sĩ, y tá đã tận tình chữa trị những lúc ta trái gió trở trời, những lúc ta gặp bệnh hoạn, những lúc bị dồi máu cơ tim, bị đột quỵ, bị ung thư, và những cơn bệnh nguy kịch khác… Ai là người ra tay để cứu chữa cho bạn và tôi đây?

Nhưng xin bạn và tôi cũng đừng vội quên những người và công việc của họ xem rất tầm thường, nhưng ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của chúng ta. Từ bác đưa thư, người tài xế, thậm chí người đổ rác nhà bạn nữa. Hãy nghĩ xem, chỉ cần 2 tuần thôi những bao rác nơi nhà bạn không được lấy và dọn đi, bạn có sống được với mùi hôi thối nồng nặc nơi đống rác ấy không?

Và xin tạ ơn biết bao người liên quan trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Riêng tôi sẽ không quên cảm ơn đến người bạn đời đã cùng với tôi gầy dựng mái ấm gia đình, đã chia sẻ với tôi trong những lúc gian nan, hoạn nạn, luôn bên cạnh tôi trên những đoạn đường thăng trầm của cuộc sống, đã vỗ về, an ủi, đã chia sẻ ngọt bùi, dù niềm vui hay nước mắt, dù khổ đau hay sướng vui… Người bạn đời này sẽ còn lại trong những ngày tháng cuối đời của tôi, sẽ gần gũi và đỡ nâng tôi khi già yếu, bệnh tật, sẽ dìu tôi đến nhà vệ sinh, sẽ nhắc nhở và đưa thuốc cho tôi uống, phủ chăn ấm cho tôi khi đêm về, sẽ thao thức và ân cần với tôi mặc dù lúc đó tôi đã mất trí nhớ vì bệnh Alzheimer của tuổi già… Và, sẽ đau xót, tiếc nuối, khóc thương, rồi hương khói cho tôi khi tôi ra đi về bên kia thế giới.

Ôi cuộc đời dễ thương và đẹp biết bao khi chúng ta có nhau và biết ơn nhau !

Xin cúi đầu muôn đời tạ ơn. Tạ ơn Trời, tạ ơn tất cả mọi người đã làm ơn làm phúc trong của đời của bạn và của tôi.

Và sau cùng, kính chúc bạn có một ngày Lễ Tạ Ơn thật êm đềm và ý nghĩa bên những người thân và gia đình.

Happy THANKSGIVING!

Văn Duy Tùng

 

From: NguyenNThu

CON TẠ ƠN CHÚA

CON TẠ ƠN CHÚA

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

(Bài cũ nhưng xin gởi một lần nữa vì thấy có ý nghĩa trong ngày lễ Tạ ơn)

Con tạ ơn Chúa vì chồng của con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp,

bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải bên ai khác.

Con tạ ơn Chúa vì con của con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con,

bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ,

bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến kéo đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng trở nên hơi chật,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ ở sát bên con, nhìn con làm việc,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì nền nhà cần quét, cửa sổ cần lau, màng xối cần sửa,

bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của tháng này lại tăng cao,

bởi lẽ như thế nghĩa là Con đang được ấm áp.

Con tạ ơn Chúa vì cái bà ngồi phía sau con trong Nhà Thờ

hát sai tông lạc nhịp,

bởi lẽ như thế nghĩa tai con còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ rất lớn phải giặt và ủi,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp trong người con

nó mệt rũ ra vào cuối ngày,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm vào buổi sáng,

bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại, hít thở và cười nói,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang còn sống được thêm một ngày nữa.

Và cuối cùng…

Con tạ ơn Chúa vì đã nhận được quá nhiều E-mails gửi về,

bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con

Con gửi bài này để bạn bè con hiểu rằng:

“Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương,

cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào !”

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

VÀ Ở CÙNG CHÚNG TA!

VÀ Ở CÙNG CHÚNG TA!

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Mùa Vọng đã về.  Mùa Vọng là mùa Phụng vụ đầu tiên của năm Phụng vụ mới.  Mùa Vọng nhắc chúng ta nhớ lại một lịch sử dài trải qua nhiều thế hệ.  Đó là lịch sử của niềm mong đợi Đấng Cứu thế mà Thiên Chúa đã hứa từ ngàn xưa.  Niềm mong đợi Đấng Cứu thế đã nuôi dưỡng đức tin của dân tộc Do Thái trong mọi biến cố thăng trầm, nhất là trong những năm tháng bi đát của lịch sử, như thời lưu đày.  Mùa Vọng cũng nhắc cho chúng ta sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa: đó là sự kiện Ngôi Lời giáng sinh làm người và ở cùng chúng ta.  Thiên Chúa ở cùng con người.  Ngài không còn chỉ là Đấng ngự trên chín tầng mây xanh cao thẳm.  Ngài cũng không còn ngỏ lời với con người qua những trung gian như thời Cựu ước.  Thiên Chúa đã trực tiếp nói với chúng ta bằng chính Con của Ngài.  Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa.  Người đến trần gian để ở với chúng ta, để chung chia vui buồn với mỗi con người đang lang thang phận người trên cõi dương gian.

Nội dung Bài đọc I và Bài Tin Mừng hướng chúng ta tới một tương lai, khi Thiên Chúa thực hiện lời Ngài đã hứa.  Lúc đó, Đấng Công chính sẽ xuất hiện, mạnh mẽ như Đavít.  Người sẽ đem lại cảnh an hòa cho vũ trụ, và dân tộc Israen sẽ được cứu thoát.  Xin lưu ý, Giêrêmia là một vị ngôn sứ sống trong giai đoạn lịch sử vô cùng khó khăn của Israen, tức là thời khủng hoảng chia rẽ trước cuộc lưu đày ở Babylon.  Vị ngôn sứ đã loan báo niềm hy vọng, để mời gọi dân mình cậy trông vào lời hứa Thiên sai, vì Chúa là Đấng trung thành.  Ngài sẽ thực hiện những gì Ngài đã phán.

Lời hứa ban Đấng Thiên sai đã được thực hiện, khi Chúa Cha sai Con Một của Ngài làm Đấng Cứu độ trần gian.  Đức Giêsu đã đến trong lịch sử.  Người là trung gian của lịch sử.  Vì vậy, những gì xảy ra trước khi Người sinh hạ được gọi là “trước Công nguyên” và ngược lại.  Mùa Vọng vừa kỷ niệm ngày Chúa Giêsu đến trần gian, vừa nhắc nhớ cho chúng ta, Người sẽ lại đến trong vinh quang, vào lúc tận cùng của thời gian.  Tuy vậy, nếu chúng ta xác tín vào việc Người sẽ đến vào ngày tận thế, thì chúng ta cũng tin chắc rằng Chúa sẽ đến gặp mỗi người chúng ta, khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay kết thúc cuộc đời.  Vì vậy, trong khi chờ đợi Chúa Giêsu đến vào lúc chúng ta kết thúc cuộc đời, Lời Chúa nhắc bảo chúng ta: hãy tỉnh thức.  Không ai sinh ra rồi sống mãi trên đời.  Cuộc sống con người có ngày khởi đầu thì cũng sẽ có ngày kết thúc.  Vì vậy, người tin Chúa cần tỉnh thức cầu nguyện, để luôn trong tình trạng sẵn sàng khi Chúa đến.  Tỉnh thức là tình trạng thánh thiện, đạo đức.  Đó cũng là một cuộc sống an bình thanh thản, không hờn giận bon chen, không mưu mô tính toán, với niềm tín thác nơi vị Thẩm phán công minh là chính Đức Giêsu, Đấng Cứu độ con người.  Tỉnh thức còn là sự trân trọng đối với những người sống xung quanh chúng ta.  Đức tin khẳng định, họ cùng là anh chị em với chúng ta, và cùng là con của Cha trên trời.  “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy” (Bài đọc II).  Tình yêu thương là nền tảng của mọi cộng đoàn Đức tin, là điều kiện cốt lõi để công cuộc truyền giáo có hiệu quả.

Hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ấn định: Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng năm nay, cũng là ngày khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XVI ở cấp Giáo phận.  Đức Thánh Cha đã quyết định triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục thế giới và ngài chọn chủ đề cho Thượng Hội đồng là “Vì một Giáo hội hiệp hành: hiệp thông, tham dự và sứ vụ.”  Chủ đề này nhấn mạnh tới sự cộng tác của mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội.  Quả vậy, nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi Kitô hữu đều được gọi tham gia phần mình, tùy khả năng Chúa ban, vào việc xây dựng Giáo Hội, cụ thể là nơi cộng đoàn đức tin mình đang sống.  Mỗi Kitô hữu đều là chi thể của Giáo Hội, với ba chức năng Chúa ban: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế.  Trước khi cử hành chính thức Thượng Hội đồng vào tháng 10/2023, Đức Thánh Cha muốn lắng nghe ý kiến từ các Giáo Hội địa phương, sau đó ngài sẽ đưa ra một định hướng mục vụ phù hợp với bối cảnh thế giới và nguyện vọng của Dân Chúa. Để cụ thể tinh thần của Thượng Hội đồng, đây là dịp để mỗi người tín hữu chúng ta ý thức vinh dự và sứ mạng của mình, đồng thời góp phần làm cho sức sống nơi cộng đoàn đức tin mình đang sống được phát triển.

Nếu Thiên Chúa nhập thể làm người để đồng hành với phận người nơi trần thế, thì Giáo Hội cũng phải đồng hành với con người trong bối cảnh cụ thể của mọi quốc gia và mọi nền văn hoá.  Một hạn từ nổi bật trong chủ đề của Thượng Hội đồng là “hiệp hành.”  Hiệp hành có nghĩa là “đi cùng nhau”, là “liên kết”, là gắn bó với nhau để làm việc chung.  Khi liên kết với nhau trong tinh thần đức tin và đức mến, chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh phi thường.  Sự hiệp thông liên kết cũng làm nên vẻ đẹp kỳ diệu của Giáo Hội, qua đó chúng ta diễn tả một Giáo Hội của Chúa với bốn đặc tính: Duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.

“Đức-Chúa-là-sự-công-chính-của-chúng-ta.”  “Ngôi Lời đã làm người và ở cùng chúng ta.”  Đây là những danh xưng diễn tả nguồn gốc thiên linh và sứ mạng của Đấng Thiên Sai.  Những danh xưng này cũng nói lên sự gần gũi thân thương giữa Thiên Chúa và con người.  Vâng, Chúa Giêsu là sự Công chính của chúng ta, và Người vẫn đang ở với chúng ta cho đến ngày tận thế.  Chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn để đón Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Happy Thanksgiving

Tạ ơn Chúa hôm nay ta còn sống

Mắt còn nhìn, còn đọc được e-mail

Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu

Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!

Tạ ơn Thân hữu gần xa

Hàng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều

E-mail nhận được bao nhiêu

Là bao tình cảm thương yêu chan hòa!

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Người ta vui mừng khi được thoát chết.  Có khi ăn mừng liên hoan nữa.  “Sắp chết thì lo âu, nhưng được lành bệnh thì vui mừng” là tâm tình chung của con người mà ngôn sứ Isaia đã nói trong chương 38.
 
Phải chết là một nỗi đau khổ của con người vì là án phạt công khai nặng nề của Thiên Chúa sau khi nguyên tổ sa ngã phạm tội (St 3).  Con người phải cúi mặt đau khổ và chấp nhận thân phận của mình từ nay về sau.  Sẽ mãi vẫn là thân phận thụ tạo thôi dù họ có địa vị cao sang hay tri thức cao vời đến mấy đi nữa.  Không có hình ảnh nào diễn tả đúng nghĩa nhất thân phận nào cho bằng hình ảnh bụi đất.”  Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19b).  Bụi đất của hôm nay và bụi đất của ngày mai chính là sự mỏng giòn và giới hạn rõ rệt của con người đã bị sự chết chi phối.
 
Như vậy ta đã rõ, bản án chỉ dành cho tội nhân.  Tất cả chúng ta đều sinh ra trong môi trường tội lỗi và chủ động phạm tội chẳng lẽ không lãnh bản án sao?  Sự chết là một thực tại minh chứng cho điều này.
 
Trong đời sống con người, sự chết bao hàm một bí ẩn rất lớn về mỗi cá nhân, về cõi vô hình, về tình thương xót của Thiên Chúa.  Điều mà đôi khi người ta quên lãng trong thực tế thì cần phải có một biến cố nào đó nhắc nhở cho.  Biến cố ấy phải có một sức mạnh lớn nhất, ghê sợ nhất và người ta vô phương chống chọi.  Đấy là một bản án kết tội phải chết.  Bản án chọc thẳng vào sự nghiệp và những sự đầu tư tốn kém nhất của con người.  Thật là tiếc xót và đau buốt lắm chứ.  Những vụ tịch thu tài sản vì tham nhũng, hối lộ, buôn lậu và kết án tử hình giống như thế đó.  Thường thì những vụ án này người ta đưa ra xét xử công khai để tội phạm lãnh một bản án cụ thể.
 
Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Kitô giáo, chúng ta không hoàn toàn bi quan trước bản án của sự chết do Thiên Chúa muốn.  Vì “Thiên Chúa đánh phạt rồi lại xót thương, Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống.”  Dù bản án sự chết thuộc về kẻ bất lương nhất, tội lỗi nhất thì chúng ta cũng không được phép đứng về phía quan tòa xét xử, vì Thiên Chúa không đặt chúng ta làm quan án xét đoán anh em, mà phải luôn mặc lấy tâm tình của Thánh Phaolô trong “bài ca đức mến”:
 
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,
Không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
Không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,
Không nóng giận, không nuôi hận thù,
Không mừng khi thấy sự gian ác,
Nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,
Hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
Đức mến không bao giờ mất được
” (1 Cr 13,4-8).

 
Bình thường đấy không phải là tâm tình tự nhiên của tất cả mọi người.  Bản chất con người đã mang theo sự chết nên cũng thích hùa theo, thích nuôi dưỡng trong mình những sự chết chóc đủ loại.  Một thực tại đau lòng Thiên Chúa ngay cả khi chưa có bản án sự chết của Ngài.  Thực tế này lại được tái diễn nhiều lần trong lịch sử nhân loại và đỉnh cao là cái chết của Đức Giêsu mà bản án do con người chúng ta ký cho Ngài!      
       
Vậy dưới cái nhìn của người Do thái, Đức Giê-su phải lãnh bản án sự chết một cách công khai là hợp lý, vì tội Ngài chồng chất (Mc 14,53–15,1-20).  Thánh sử Máccô ghi rõ: “Bản án xử tội Người viết rằng: “Vua người Do thái” (Mc 15,26).  Họ hoàn toàn hãnh diện và thỏa mãn về việc mình kết tội cho Đức Giêsu phải chết.  Xem ra bản án của họ đã được vua quan cho đến các vị tôn giáo ký thì ngay cả Thiên Chúa cũng thua!  Ông tổng trấn Philatô đã không hề thay đổi ý định của mình: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19,22).
 
Xem ra những quan niện và lý luận của người Do Thái về tội lỗi theo mạc khải Kinh Thánh đúng lắm.  Nên không lạ gì Đức Giêsu bị kết án.  Có tội thì phải chết, nhất là tội xúc phạm đến Thiên Chúa thì không thể tha được.  Đức Giêsu là một điển hình.  Một nhân vật có tiền án tiền sự trong dân và được ghi vào sổ bìa đen trong hàng ngũ tôn giáo, chính trị!
 
Nếu có cùng quan niện và suy nghĩ như người Do Thái về tội lỗi thì thật là dễ hiểu về bản án sự chết.  Kẻ dữ phải chết là đúng.  Nhưng còn kẻ công chính thì sao?  Kẻ vô tội thì sao?
 
Danh mục người công chính thì đông lắm.  Kẻ vô tội thì kể được một vài thôi.  Nhưng tất cả vẫn chịu chung một bản án.  Thật là khó hiểu.  Thật là mầu nhiệm lạ lùng.  Không thể chấp nhận được.
 
Trong chương trình của Thiên Chúa thì cái chết của Đức Giêsu cũng là một bản án công khai, nhưng không phải là bản án kết tội Ngài, vì ngài là Đấng vô tội, mà là một bản án công khai kết tội con người chúng ta.  Vì thế mà Ngài đã bị liệt vào hàng tội nhân (x. Is 53,12).  Không những thế mà tất cả mọi sự xấu xa và tội lỗi của nhân loại trút lên con người Ngài, nên Ngài là: “Con chiên gánh tội thiên hạ.”  Thiên Chúa đánh phạt Đức Giêsu: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32).  Chén đắng, thập tự của Ngài do Thiên Chúa trao như một bản án kết tội từ từ mà Ngài không được xin tha, không được từ chối: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,2).  “Thánh giá Đức Giêsu vừa là sự mạc khải về sự rộng lớn bao la và tính nặng nề của tội lỗi của toàn thể nhân loại, vừa tỏ bày sự bao la của tình yêu Thiên Chúa” (Nol Quesson).

Cái chết của Đức Giêsu là một lời giải thích về tội lỗi, về cái chết của những người công chính, người vô tội. “Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23,31).  Cái chết của Đức Giêsu vừa tố cáo vừa dung tha cho những sai lầm của con người: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); vừa thông cảm với nỗi oan nghiệt, nỗi bất công bao người đang gánh chịu hôm nay.
 
Người Kitô hữu đón nhận cái chết trong chương trình của Thiên Chúa để mở rộng tầm nhìn và tăng thêm niềm xác tín vào ơn cứu độ của Đức Giêsu, đồng thời nhìn cái chết của tha nhân (trong đó có cả kẻ ác, kẻ thù của mình) cũng có một giá trị nào đó với mình theo tương quan của ơn cứu rỗi.  Đó là chiều kích cộng đồng cơ bản trong nhân loại, nơi ấy có hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn, Giáo Hội lữ hành và Giáo Hội đang thanh luyện.

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Đọc Hồi ký của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Nhìn từ khía cạnh đời sống tâm linh.

Đọc Hồi ký của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Nhìn từ khía cạnh đời sống tâm linh.

  Tác giả: Phùng văn Phụng

Đọc xong cuốn “Thời Đại Của Tôi” “Đời Tôi trải qua các thời biến” do Người Việt xuất bản năm 2010, tôi đã nhìn thấy sự cố gắng phi thường, làm việc không mệt mỏi của Giáo Sư cùng với tấm lòng yêu mến quê hương đất nước thiết tha. Nhưng thời thế đã dẫn đưa con người tài năng hiếm có và có lòng với đất nước ấy phải rời bỏ nước Việt Nam yêu quí ra đi và sống định cư ở Pháp.

Tôi đã học Giáo Sư Vũ Quốc Thúc ở Đại Học Luật Khoa Sài Gòn niên khóa 1963-1964.

Giáo Sư sinh năm 1920 tại Nam Định,Bắc Việt. Tiến sĩ Luật, Thạc sĩ Đại Học Kinh tế ở Pháp. Giám Đốc trường Luật Hà nội (1951-1954). Khoa Trưởng Đại học Luật Khoa Sài gòn (1957-1963). Giáo sư các viện Đại học Đà Lạt, Sài gòn và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (1954-1975). Giáo Sư Viện Đại Học Paris XII (1978-1988)

Từ năm 1946 đến 1975 từng giữ các chức vụ: Ủy Viên Hành Chánh Kháng Chiến cấp tỉnh, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục, Thống Đốc Ngân hàng Quốc Gia , Cố Vấn Phủ Tổng Thống, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia, Quốc Vụ Khanh đặc trách Tái Thiết và Phát Triển…

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Giáo sư cũng như hầu hết trí thức miền Nam đều rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng giống nhau. Thất nghiệp, bị theo dõi, bị làm khó dễ, nơm nớp lo sợ không biết lúc nào bị bắt đi cải tạo (đi tù) nếu còn ở ngoài đời. Đa số người trí thức miền Nam lúc bấy giờ đều sống trong lo âu, hồi hộp vì họ không ít thì nhiều đều có dính líu với chế độ cũ, mà cộng sản gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Giáo sư Vũ Quốc Thúc không thể thoát khỏi tình trạng đó.

Trong sách trên, Giáo Sư Vũ Quốc Thúc viết: “ Tôi không theo Thiên Chúa Giáo, nhưng cũng không phải là một Phật tử. Tôi theo đúng truyền thống Khổng giáo của gia đình không quy y Phật giáo, mặc dầu chấp nhận Phật giáo; không theo Thiên Chúa Giáo nhưng vẫn tôn trọng Thiên Chúa Giáo… Sau khi bị bắt vì mưu toan vượt biên tôi thấy tương lai của mình u ám vô cùng…

Hằng ngày mặc dầu tôi không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo tôi đã đến nhà thờ Đức Bà… Tôi cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ, xin Đức Mẹ run rủi cho gia đình tôi được thoát khỏi Việt Nam toàn vẹn. ..Hôm chủ nhật đó nếu tôi không lầm là ngày lễ Pentecôte, tôi đã đạp xe lên nhà thờ Bình Triệu. (1)

Tôi ngồi trước tượng Đức Mẹ và tôi lẩm nhẩm cầu nguyện… Khi tôi vừa dứt lời cầu nguyện bỗng thấy tượng Đức Mẹ sáng rực lên. Tôi cần phải nói rằng hôm đó trời ở ngoài cũng âm u vì vào mùa mưa…Khi tôi cầu nguyện xong bỗng thấy tượng Đức Mẹ sáng rực lên từ trên xuống dưới có lẽ khoảng vài giây đồng hồ thôi. Đặc biệt trên gò má tay mặt của bức tượng có một giọt nước mắt long lanh. Sau đó tôi nhìn kỹ thì trên gò má bức tượng không thấy có gì cả. Như  vậy, giọt nước mắt mà tôi nhìn thấy chỉ  là  một ảo ảnh. Từ  lúc đó  trở  đi, suốt buổi  chiều tôi thấy trong lòng hồi hộp như mình đang chờ  đợi một chuyện gì sắp xảy ra. (2)

Sau đó Giáo Sư mở đài BBC nghe lén, đã nghe thấy ông Raymond Barre một người cùng thi Thạc sĩ năm 1950 được Tổng Thống Pháp là Valéry Giscard d’Estaing cử làm Thủ Tướng và Giáo sư đã  thảo bức thơ gởi Thủ Tướng Pháp kể lại hoàn cảnh của mình đang lâm vào sự khốn khó, nhờ đó ông Raymond Barre mới biết và đã can thiệp với Thủ tướng Việt Nam lúc bấy giờ là ông Phạm văn Đồng để giúp đỡ gia đình của Giáo sư sang Pháp.

Giáo sư Vũ quốc Thúc viết tiếp: “ Sự linh ứng của Đức Mẹ Bình Triệu khiến cho tôi tìm được lối thoát tình trạng bế tắc. Bổn phận của tôi rồi đây là phải thi hành đúng lời nguyện của mình trước Đấng Thiêng Liêng”.(3)

              GS Vũ Quốc Thúc đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo (4)

Paris, Hôm 8.4.2012, Lễ Phục Sinh, Giáo xứ Việt Nam Paris đã đón nhận 25 tân tòng nhập đạo, trong đó có Giáo sư Vũ quốc Thúc. Trong bữa tiệc tiếp tân chúc mừng, do Hội Ái Hữu Đại Học Đà Lạt tại Âu Châu, quy tụ các cựu Giáo Sư và Sinh Viên Viện Đại Học Đà Lạt, tổ chức sau lễ rửa tội, ông đã nhắc đến ba điều ông đã thấy và đã tin. Đặc biệt: Ông đã thấy ơn Đức Mẹ.

Ông muốn xin được rửa tội công khai và trang trọng theo đủ các nghi thức của Giáo hội, như mọi tân tòng khác, như một biểu lộ và dấu chứng làm chứng nhân, công khai công bố đức tin của mình.

Nhân dịp này trong niềm vui chung của cộng đoàn Giáo Xứ đại gia đình Thụ Nhân trên khắp thế giới và riêng tại Paris, các cựu Giáo sư, sinh viên và gia đình thuộc Viện Đại học Đà lạt đã tổ chức một bửa tiệc chúc mừng lễ rửa tội gia nhập Giáo Hội Công Giáo của Giáo sư Jean Paul Vũ Quốc Thúc, vừa để chúc mừng sinh nhật thứ 92 của Giáo sư. Trong bửa tiệc tiếp tân chúc mừng, Giáo Sư  đã nhắc đến ba điều ông đã thấy và đã tin. Đặc biệt ông đã thấy ơn của Đức Mẹ.

      Tác giả: Phùng văn Phụng

               17-04-2012

  • 1) trang 540 Sách “Thời Đại Của Tôi” cuốn II
  • 2) trang 542 Sđd
  • 3) trang 543 Sđd (người viết in đậm và in nghiêng).
  • 4) Trong bài Gs Vũ Quốc Thúc đã cùng 24 tân tòng khác gia nhập Giáo Hội Công Giáo của tác giả Trần văn Cảnh đăng trong Việt Catholic ngày 12 – 04 – 2012        xem thêm

2 luật sư đưa đơn kiện ‘tào lao’ về gian lận bầu cử phải trả hơn $180,000 án phí

2 luật sư đưa đơn kiện ‘tào lao’ về gian lận bầu cử phải trả hơn $180,000 án phí

November 23, 2021

DENVER, Colorado (NV) – Một chánh án ở Colorado hôm Thứ Hai, 22 Tháng Mười Một, ra phán quyết rằng hai luật sư đưa đơn kiện tại tòa về kết quả bầu cử 2020, phải trả hơn $180,000 án phí cho những người bị họ kiện, nói rằng đơn kiện nhằm “lôi kéo thành phần quần chúng nhẹ dạ và tạo sự bất ổn xã hội.”

Theo bản tin của CNN, phán quyết của chánh án N. Reid Neureiter là phản ứng mới nhất của tòa án liên ban nhiều nơi trên nước Mỹ về đơn kiện của các luật sư ủng hộ cựu Tổng Thống Donald Trump nhằm dùng tòa án để đưa ra các luận điệu sai trái trong những ngày ngay sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2020.

Nhãn ‘đã bỏ phiếu’ tặng cử tri ở Denver, Colorado. (Hình minh họa: Marc Piscotty/Getty Images)

Luật sư Gary D. Fielder và Ernest John Walker sẽ phải trả tiền luật sư và các án phí khoảng $50,000 cho Facebook (nay là Meta), chừng $63,000 cho công ty Dominion Voting Systems, chừng $63,000 cho trung tâm bất vụ lợi Center for Tech and Civic Life, hơn $6,000 cho tiểu bang Pennsylvania và gần $5,000 cho tiểu bang Michigan.

Trong phán quyết, Chánh án Neureiter viết rằng “Những người này phải nhận trách nhiệm về các hành động sai trái của mình,” nói thêm rằng đơn kiện của hai luật sư này là sự phỉ báng kẻ khác.

Ông nói rằng “Thay vì dùng hệ thống tòa án để có được sự sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho những sai trái, đơn kiện này được dùng để lôi kéo thành phần quần chúng nhẹ dạ và tạo sự bất ổn xã hội. Với mục đích đó, đơn kiện là hành vi lạm dụng hệ thống pháp lý và cản trở hoạt động guồng máy chính quyền.”

Hai luật sư nói trên đưa đơn kiện vào cuối Tháng Mười Hai 2020, nhằm yêu cầu tòa cho có “đơn kiện tập thể của cử tri Mỹ” đòi hủy bỏ kết qua bầu cử. Chánh án Neureiter lúc đó viết phán quyết dài 68 trang bác bỏ đơn kiện này.

Hồi Tháng Tám, một chánh án ở Michigan ra lệnh trừng phạt hai luật sư của ông Trump là Sidney Powell và Lin Wood, ra lệnh cho họ phải bồi thường án phí cho thành phố Detroit và các giới chức tiểu bang Michigan. (V.Giang)

GS Vũ Quốc Thúc: ” Phải chọn con đường vì dân tộc”

GS Vũ Quốc Thúc: ” Phải chọn con đường vì dân tộc”

05:06 | Posted by BVN1

Thanh Phương

Giáo sư Vũ Quốc Thúc qua đời

GS Vũ Quốc Thúc

Theo tin từ gia đình, giáo sư Vũ Quốc Thúc vừa qua đời sáng hôm qua, 22/11/2021, tại Pháp, thọ 101 tuổi.

Sinh năm 1920, giáo sư Vũ Quốc Thúc là một kinh tế gia và một chính khách, không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở miền nam Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm : Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển….

Đặc biệt, giáo sư Vũ Quốc Thúc còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc (1961) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về tái thiết Việt Nam thời hậu chiến. Ông còn viết rất nhiều sách và khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Nhờ sự can thiệp của thủ tướng Pháp Raymond Barre, bạn cùng dự thi văn bằng Thạc sĩ khóa năm 1950 với ông, giáo sư Thúc đã được qua định cư tại Pháp năm 1978, sống tại Nanterre, ngoại ô Paris và làm giáo sư môn kinh tế tại Đại học Paris từ năm 1978 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1988.

Tập hồi ký của giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi”, gồm 2 cuốn “ Nhìn lại 100 năm lịch sử “, xuất bản năm 2009 và “Đời tôi trải qua các thời biến”, xuất bản năm 2010, đã được dịch sang tiếng Anh và được xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2014.

Theo thông báo của gia đình, thánh lễ cầu nguyện cho giáo sư Vũ Quốc Thúc sẽ được cử hành ngày 25/11/2021 lúc 11 giờ tại Giáo xứ Việt Nam tại Paris, 2 Villa des Epinettes 75017 Paris. Lễ hóa táng sẽ được cử hành ngày 1/12/2021.

RFI Tiếng Việt xin thành kính chia buồn với gia đình giáo sư Vũ Quốc Thúc.

RFI tiếng Việt

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi” (gồm 2 cuốn “Nhìn lại 100 năm lịch sử “(xuất bản năm 2009) và “Đời tôi trải qua các thời biến” (xuất bản năm 2010) đã được sang tiếng Anh và vừa được xuất bản tại Hoa Kỳ.

Đây là một sự kiện đáng chú ý bởi vì Giáo sư Vũ Quốc Thúc không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm: Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển…

Đặc biệt, GS còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc (1961) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về tái thiết thời hậu chiến. Ấy là chưa kể rất nhiều sách và bài khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Sinh năm 1920, tức là năm nay đã 94 tuổi, có thể nói GS Vũ Quốc Thúc là một trong số hiếm hoi các nhân chứng trực tiếp của thời cuộc Việt Nam suốt gần 100 năm qua, từ thời chế độ Pháp thuộc năm 1900 cho đến thời chế độ Cộng sản, cụ thể là đến năm 2000. Toàn bộ 100 năm lịch sử đó đã được Giáo sư tóm gọn trong cuốn đầu của tập hồi ký, qua cái nhìn của người trong cuộc.

Khác với cuốn đầu, gần như thuần túy mang tính biên khảo, cuốn thứ hai mới thật sự là hồi ký Vũ Quốc Thúc, vì trong đó ông trình bày rất nhiều chi tiết về cá nhân, về gia đình, dòng tộc và sự nghiệp chính trị của ông. Nhưng Giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng không quên đưa vào hồi ký những suy tư, những trăn trở của ông về thời cuộc Việt Nam trước đây và hiện nay.

Ngày 08/12/2014 vừa qua, chúng tôi đã được Giáo sư Nguyễn Thái Sơn dẫn đến nhà riêng của Giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Nanterre, nằm không xa khu La Défense, ngoại ô Paris, để phỏng vấn ông nhân dịp cuốn hồi ký được xuất bản bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ. Tuy năm nay đã 94 tuổi, nhưng bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân, lòng yêu nước thương nòi, nỗi lo cho tiền đồ dân tộc hầu như vẫn nguyên vẹn trong con người Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Càng nói giọng của ông càng hùng hồn, lập luận càng khúc chiết, rành mạch, tưởng như Giáo sư vẫn còn đứng trên bục giảng đường đại học năm xưa.

Trích đoạn phỏng vấn:

GS Vũ Quốc Thúc: Thực ra, khi tôi viết cuốn hồi ký kể về nhiều câu chuyện liên quan đến bản thân và gia đình mình, tôi không hề nghĩ đến khả năng cuốn hồi ký đó được phổ biến cho nhiều người ngoài gia đình đọc.

Mục đích của cuốn hồi ký này là để cho cháu chắt tôi hiểu được tại sao ông cụ của mình đã phải rời bỏ quê hương sang định cư bên Pháp, khiến cho chúng mình bây giờ trở thành công dân Pháp, xem Pháp là quê hương chính, còn Việt Nam là quê hương thứ hai, mặc dù chúng ta không bao giờ quên cái quê hương thứ hai đó. Tôi muốn cho cháu chắt tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi đã phải bỏ nước ra đi, để thấy tâm tư của một bậc tiền bối, đâu phải là ra đi chỉ mưu cầu những an ninh, lạc thú ở ngoại quốc, mà trái lại luôn luôn hướng về quê cha đất tổ.

Thành ra hồi ký tôi chỉ viết bằng tiếng Việt, xuất bản từ Mỹ vào năm 2010, tức là cách đây đã 4 năm rồi. Nếu tôi có ý đồ vận động dư luận các nước Tây Phương, nhất là ở Âu Châu hay là Mỹ, thì tôi đã viết bằng tiếng Pháp rồi, vì tôi đã được đào tạo ở Pháp trong bao nhiêu năm rồi, viết bằng tiếng Pháp dễ hơn! Chứ còn biểu tôi viết bằng tiếng Anh thì, thú thật, trình độ Anh ngữ của tôi còn kém lắm! Vì vậy nên có chuyện dịch ra tiếng Anh này.

Khi được đề nghị cho dịch cuốn hồi ký sang tiếng Anh thì tôi thấy không có gì trở ngại cả, bởi vì trong cuốn hồi ký của tôi, những sự việc xảy ra như thế nào thì tôi viết y như thế, không thêm, không bớt. Tôi tự xem mình như là một nhân chứng được mời ra trước tòa án lịch sử, tòa án dư luận trong nhiều thế hệ. Khi ra trước một tòa án như thế, nhân chứng phải tuyên thệ: “Tôi xin thề nói sự thực, tất cả sự thực và chỉ có sự thật”. Tôi đã áp dụng đúng phưong châm dó trong cuốn hồi ký, không thêm mắm thêm muối cốt để tự mình khoa trương mình.

Trong hai cuốn hồi ký được dịch ra thì tôi chú trọng đến quyển hai, vì trong đó tôi kể nhiều chuyện riêng tư, chứ còn trong quyển một, tôi chỉ kể lại lịch sử, như là một thầy giáo giảng bài cho học sinh: Đây là những gì tôi đã được biết, đã được phổ biến, mà tôi còn nhớ để thuật lại, những điều mà tôi tin đó là sự thực.

RFI: Giáo sư có hy vọng là cuốn hồi ký này, khi được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Hoa Kỳ, sẽ có tác động phần nào đến dư luận Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Việt Nam trước đây và hiện nay?

GS Vũ Quốc Thúc: Tôi không dám ngông cuồng đến độ tin rằng cuốn sách của tôi sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều chuyện hãy còn mờ ám trong lịch sử, nhất là trong quan hệ Việt – Mỹ. Nhưng tôi thấy rằng ở Hoa Kỳ, trước khi ra một biện pháp gì đó, hay thay đổi một chính sách nào đó, người ta thường thăm dò dư luận. Tôi coi việc phổ biến hồi ký của tôi phần nào như là một cách để họ thăm dò dư luận, không chỉ trong người Mỹ gốc Việt, mà cả những người Mỹ khác và dư luận thế giới.

Tại sao? Là tại vì trong cuốn hồi ký của tôi, ngoài những chuyện mà tôi kể lại, mà có thể một số người nay mới biết về chi tiết, tôi còn có những suy tư về những chuyện trọng đại, như chính sách chống cộng, chiến tranh lạnh, việc Hoa Kỳ can thiệp…

Tôi hy vọng khi hồi ký được dịch sang Anh ngữ thì sẽ có nhiều người biết hơn, chứ còn nếu chỉ là bản tiếng Việt thì chỉ có một số nhỏ người Việt tha thiết với các vấn đề của dân tộc mới đọc thôi. Tôi cũng hy vọng là khi sách được dịch sang Anh ngữ, được phổ biến trong giới sành Anh ngữ, thì chính đồng bào Việt Nam ở quốc nội sẽ quan tâm hơn đến. Tầng lớp trẻ, nhất là những người du học ở nước ngoài, có khi đọc tiếng Anh còn dễ hơn đọc tiếng Việt và khi họ đọc được bản tiếng Anh, có thể họ sẽ trở lại tìm đọc nguyên bản tiếng Việt

Còn cuốn sách của tôi sẽ có tác động gì đến chính sách của Hoa Kỳ hay không, thì quả thật tôi không dám tin như thế, vì Hoa Kỳ có chính sách của họ, họ cứ làm. Ở đây họ chỉ thăm dò dư luận. Có thể họ sẽ dùng cuốn sách của tôi để biện minh cho một số biện pháp mà họ sẽ thi hành. Đó là hy vọng của tôi thôi.

RFI: Quan hệ Mỹ-Việt là vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay, nhất là vì giới lãnh đạo Hà Nội hiện nay có vẻ muốn dựa nhiều hơn vào Hoa Kỳ và Hoa Kỳ thì muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam, cụ thể gần đây họ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong hồi ký, Giáo sư đã nói nhiều đến thái độ của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi đã ký hiệp định Paris để có thể rút quân. Khi miền Bắc tấn công miền Nam, tức là vi phạm hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã không có phản ứng gì, khiến miền Nam lọt vào tay Cộng sản. Nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy, Giáo sư có nhận định như thế nào?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Hoa Kỳ, cũng như tất cả các cường quốc khác, phải chú tâm trước hết đến uy tín quốc tế của họ, rồi đến những quyền lợi thực tế của họ. Thành ra, khi Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ nơi nào trên thế giới, mục đích trước tiên của họ là bảo vệ uy tín của đệ nhất siêu cường thế giới hiện nay, rồi nghĩ đến những quyền lợi thực tiễn, như là về dầu hỏa, về xuất cảng…

Chứ còn bảo rằng Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam để tranh đấu cho Việt Nam thì đời nào! Cái đó về sau thì có thật đấy, tức là khi mà người ta gởi quân lính sang, trợ giúp khí giới, thì tất nhiên là người ta cũng muốn cho mình đạt được một kết quả nào đó. Chứ chính mình thì đời nào chúng ta chấp nhận cho ngoại quốc xen lấn vào, để rồi mình phải thi hành đường lối của ngoại quốc!

Chính quyền nào ở nước ta cũng vậy, Không một chính quyền nào, dù thiên tả hay thiên hữu, lại quên các vấn đề của dân tộc. Dù không công khai nói là bảo vệ quyền lợi dân tộc, nhưng trong thâm tâm, bất cứ chính quyền nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi dân tộc.

Đâu phải một khi người ta nắm quyền được chính quyền là người ta quên hẳn quyền lợi dân tộc. Việt Nam mình đâu phải lúc nào cũng nhắm mắt theo các cường quốc! Bao giờ mình cũng ý thức được quyền lợi trường tồn của dân tộc. Tôi tin là như thế. Đã là người Việt thì không thể nào phản bội quyền lợi dân tộc! Dù muốn dù không, tiềm ẩn trong trái tim người ta vẫn có lòng yêu nước, vẫn nhớ lại những truyền thống oai hùng của dân tộc mình. Không ai dám phản bội Tổ quốc một cách trắng trợn.

RFI: Thưa Giáo sư, trong bối cảnh mà hiểm họa xâm lăng từ Trung Quốc ngày càng rõ nét, việc Hoa Kỳ bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là một điều tốt?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Việc mình trông cậy hoàn toàn vào ngoại bang để bảo vệ quyền lợi dân tộc là chuyện bất đắc dĩ. Trong hoàn cảnh lịch sử mà mình chưa đủ sức để tự bảo vệ, thì mình phải dựa vào một ngoại bang. Nhưng điều trước tiên là mình phải bồi dưỡng nội lực của mình đã, để có thể tự vệ được.

Khi nói bồi dưỡng lực lượng của chính mình, thì không chỉ có lực lượng quân sự mà thôi. Bây giờ ta có thể được Hoa Kỳ bán chịu một số vũ khí hiện đại, nhưng ta đâu có thể hưởng cái đó mãi? Đến một lúc nào đó chúng ta phải trả nợ.

Mà vũ khí là để làm gì, để giết ai? Tôi chỉ sợ là Việt Nam mình, nếu không cẩn thận, sẽ lại rơi vào tình trạng như xưa, tức là có hai phe trong nhân dân, một phe thì muốn dựa vào Trung Hoa, phe thì muốn dựa vào Hoa Kỳ. Hai phe đó tất nhiên là xung đột nhau. Hoa Kỳ sẽ dùng hai phe đó để sử dụng các vũ khí sát thương của họ. Chúng ta phải cẩn thận.

Nước ta còn nghèo, còn yếu, nếu mà chỉ nghĩ đến chuyện đánh nhau, thì chẳng qua là chúng ta xuất khẩu xương máu. Trước khi phải sử dụng đến vũ khí hiện đại thì mình phải dùng đến ngoại giao. Trong thế yếu hiện nay của Việt Nam, mình chỉ có thể len lõi giữa những xung đột của các cường quốc, vì quyền lợi của họ có khi là mâu thuẫn nhau, phải tìm cách lái cho họ đi đến chỗ phải bảo vệ chúng ta trên các diễn đàn ngoại giao.

RFI: Tránh một cuộc chiến tranh với Trung Quốc có vẻ cũng là đường lối hiện nay của các nhà lãnh đạo Hà Nội, phải làm hòa với Trung Quốc sau vụ khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981. Nhưng đồng thời Việt Nam cũng đang cố tranh thủ thêm sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trong cuốn hồi ký, Giáo sư gọi đó là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Nhưng chính sách có nguy cơ sẽ đưa Việt Nam vào thế kẹt?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Trong vụ xung đột về giàn khoan, kết quả là Trung Quốc cũng đã rút giàn khoan đi. Cho nên tôi quan niệm thế này: phải luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Về mặt chiến lược, phải nghĩ đến quyền lợi lâu dài của dân tộc, còn về mặt chiến thuật thì có khi ta phải đi đến một đồng minh này, có khi phải đi với một đồng minh khác.

Chiến lược lâu dài đối với tôi thì không có chuyện lựa chọn giữa Hoa Kỳ hay Trung Quốc, mà chỉ có con đường duy nhất là chọn lựa Việt Nam, tranh đấu cho Việt Nam. Cái gì có lợi cho Việt Nam, thì tôi làm, cái gì ngược lại với quyền lợi trường tồn của Việt Nam, thì tôi chống.

Người ta cứ luôn nói đến chính sách đu dây, nhưng bây giờ tôi nghĩ đến một hình ảnh khác, đó là cái bản lề. Nhìn bản đồ Việt Nam, tôi thấy nó chẳng khác chi bản lề, giúp cho cánh cửa, khi mở, khi đóng, khi quay về tai trái, khi quay về tay mặt. Cho tới nay, cái bản lề ấy chỉ đóng vai trò thụ động, thì tại sao ta không tìm cách điều khiển nó? Mình phải làm chủ cái bản lề ấy để mà ngăn chận, không cho bên nào lấn sang bên kia cả.

Nói cách khác, mình phải có một chính sách dân tộc rõ ràng. Phải có một lực lượng, hay một phần lực lượng để tự vệ đã, rồi mới có thể sử dụng cái vị trí bản lế ấy. Các lực lượng quốc tế nào định sử dụng ta như quân cờ thì lúc đó họ sẽ e dè. Lúc đó, chính là ta đã chọn lựa dân tộc.

RFI: Xin cám ơn Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

T.P.

Nguồn: rfi.fr