Đặc điểm của những người tin vào thuyết âm mưu khi tranh luận

Đặc điểm của những người tin vào thuyết âm mưu khi tranh luận

Bởi  AdminTD

Nguyễn Trường Sơn

20-10-2021

Vừa nhận ra một vài đặc điểm của những người tin vào thuyết âm mưu khi tranh luận.

  1. Gieo rắc sự ngờ vực.Ví dụ:

– Mày có chắc mày là con ruột của bố mẹ mày không?

– ơ kìa, tất nhiên tao là con ruột của bố mẹ tao rồi.

– bằng chứng đâu?

– tao có giấy khai sinh.

– giấy khai sinh là do bố mẹ mày làm, họ bảo mày là con ruột, nhưng mày có dám chắc họ nói thật không?

Tất nhiên là họ không quan tâm việc bạn có là con ruột của bố mẹ bạn hay không, cái họ cần là bạn nảy sinh sự nghi ngờ. Trong bất cứ vấn đề nào, từ vắc-xin cho đến hiện tượng hay sự kiện, cái họ hướng tới là lật đổ sự thật bằng cách gieo rắc sự ngờ vực.

  1. Đẩy trách nhiệm chứng minh về phía đối phương.

Khi tranh luận với những người này thì họ sẽ đẩy trách nhiệm chứng minh về phía bạn. Kiểu, mày chứng minh mày là con ruột của bố mẹ mày đi. Trong khi nhẽ ra nếu nó muốn mình tin mình không phải con ruột thì nó phải đi chứng minh chứ. Ơ kìa, wtf!

Nhưng chiến thuật này của họ lại tỏ ra rất hữu dụng, bằng cách đẩy trách nhiệm chứng minh về phía đối phương, họ sẽ luôn ở cửa trên trong bất cứ màn tranh luận nào, vì họ chỉ cần đọc thần chú “chứng minh đi”.

  1. Đánh lạc hướng.

Nếu gặp phải ai đó trang luận cứng, đưa ra các lập luận và dẫn chứng đanh thép, thì họ sẽ lập tức chuyển chủ đề, hoặc cùng lúc nói về dăm ba thứ để bạn quên đi chủ đề ban đầu. Đây là kế “ve sầu thoát xác”, biết bản thân ở vào thế bí nên phải thoát thân.

Ví dụ, đang tranh luận về vắc-xin thì tự dưng lại lôi khẩu trang, kiểu test, đủ các thứ ra để bắt bạn chứng minh.

  1. Công kích cá nhân.

Họ sẽ bảo là bạn thiếu hiểu biết, rồi thì bạn có vấn đề tư duy, hay bạn bảo thủ, bạn bla bla bla. Cốt là để chọc tức bạn, khích bác người khác sẽ khiến người ta mất bình tĩnh do đó sẽ bỏ cuộc tranh luận hoặc sẽ chuyển từ tranh luận sang cãi nhau. Mà đã cãi nhau thì huề cả làng.

  1. Chửi càn.

Nếu khích bác không khiến bạn nổi giận thì họ sẽ chửi. Chửi bạn ngu, đần, đủ thứ cả. Cốt cũng là để khiến bạn chửi nhau với họ thôi. Vì đã chửi nhau thì lại thành huề cả làng.

Thuyết âm mưu nguy hiểm thế nào?

Xã hội loài người vận hành dựa trên sự tin tưởng, từ việc làm ăn chúng ta tin tưởng rằng đối tác sẽ tôn trọng thoả thuận, đến chuyện tình cảm chúng ta tin tưởng đối phương trung thành. Việc gieo rắc sự ngờ vực vào những thiết chế xã hội vô cùng quan trọng như kết quả nghiên cứu khoa học, nền dân chủ, vân vân, sẽ dẫn đến tình cảnh hỗn loạn và nhiều khi là mạng người như trong đại dịch này chúng ta đã chứng kiến.

Vậy chẳng nhẽ ta không nên nghi ngờ?

Có, phải nghi ngờ chứ! Nghi ngờ giúp chúng ta tỉnh táo, và bảo vệ bản thân. Vấn đề là nghi ngờ thế nào. Chắc hẳn ai cũng đã nghe đến thuật ngữ “nghi ngờ hợp lý”, tức là sự nghi ngờ của chúng ta phải dựa trên lý lẽ, lập luận logic, bằng chứng khoa học. Chứ không phải dựa trên những câu nói vu vơ kiểu “mày có chắc mày là con ruột bố mẹ mày không?”.

Chúng ta biết vắc-xin hiệu quả bởi vì đã có vô vàn nghiên cứu, thực nghiệm, cải tiến, hàng ngàn loại vắc-xin đã được đưa vào sử dụng và rất nhiều bệnh tật đã bị xoá sổ. Công trình vĩ đại đó, với hàng núi dữ liệu, chẳng nhẽ lại không bằng mấy cái post giật gân trên Facebook hay mấy bài đăng trên website đuôi wordpress hay sao?

Ra đi

Ra đi

October 21, 2021

Nguyễn Quang Chơn

Và lần này, 2021, những cuộc tháo chạy, giải cứu, ra đi…, (Hình: Chi Pi/AFP via Getty Images)

“Ra đi, ấy là chết trong lòng một ít!” (partir c’est mourir un peu! ngạn ngữ Pháp). Vâng, mỗi lần ra đi là mỗi lần buồn, khi phải lìa xa nơi mình vốn quen thương, yêu dấu. Ba hôm nay, nghe, đọc, nhìn, những hình ảnh người tạm cư Sài Gòn ùn ùn “trốn chạy” về quê nhà, thấy đau xót làm sao!…

Đất nước ta đã ít nhất có ba lần ra đi. Lần thứ nhất, 1954, hơn một triệu người dân miền Bắc lên tàu vào Nam. Nước mắt và lòng yêu thương thấm đẫm làng quê, đau xót thân nhân ở lại. Đi, chết nửa hồn người. Nhưng cuộc ra đi lần này trật tự, an toàn trong giám sát của một uỷ ban quốc tế…

Lần thứ hai, 30 Tháng Tư, 1975, hơn một triệu người miền Nam bỏ nước. Họ ra đi mà chẳng ngóng ngày về. Hàng ngàn người mất mạng trên biển khơi, trong rừng rậm, bởi thú hoang, bởi thiên nhiên, bởi những hải tặc, lâm tặc tàn ác, vô lương. Và, bởi những họng súng vô nhân của công an đồng loại. Máu chảy, tù đày, và nước mắt, sự ra đi đối mặt với chết chóc trên hành trình tìm đến tự do. Sự ra đi bị chính quyền quê nhà đóng tên: “phản quốc!…”

Và lần này, 2021, những cuộc tháo chạy, giải cứu, ra đi…, với biết bao ngàn người khốn khó vạ vật, hốt hoảng, rời xa vùng đất từng cưu mang họ, mà chắc chắn đầy ắp yêu thương, đầy ắp nghĩa tình. Cuộc ra đi lần này là chẳng đặng đừng, là bất lực, là đói kém, khi chính quyền bất khả cứu giúp họ giữa đại dịch cúm tàu. Đi, và sẽ trở về. Mong là sẽ trở về, trong may mắn!…

Cả ba cuộc ra đi của dân Việt từ 1954 đến 2021 bởi chỉ vì muốn được giải thoát khỏi một thể chế duy nhất, đều trong lo sợ, mất lòng tin. Dẫu sao, mọi chuyện đã đến, đã thế, đã qua, mong là những bậc cầm quyền hiểu cho rằng, đừng để dân lại phải ra đi. Họ đi, các người cũng chẳng được gì, và, đến một lúc không lâu, đến lượt các người cũng phải trốn chạy ra đi trong ô nhục đớn hèn, nếu niềm tin trong lòng người dân mất hẳn!…

Hãy nhớ cho, đó là qui luật bất biến của cuộc đời!…

04.10.21

Con Người Ta Sống Để Làm Gì?

Van Pham

CÙNG NHAU SUY GẪM…

***

Con Người Ta Sống Để Làm Gì?

Có bao giờ trong cuộc sống bon chen vội vã hằng ngày, ta dừng lại vài phút và tự hỏi mình sinh ra đời để làm gì?

– Phải chăng là để chạy theo sau đồng tiền, danh lợi, địa vị, tình yêu, sắc đẹp, của cải v.v…?

– Ðể lập gia đình, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường?

– Ðể gây dựng một sự nghiệp?

– Ðể tranh đấu cho một lý tưởng chính trị, kinh tế, xã hội…?

– Hay là chỉ để đơn giản đi làm kiếm ăn sống qua ngày như bao nhiêu người khác?

– Ðể rồi một ngày kia nằm xuống và ra đi với hai bàn tay trắng?

***

Có ai dừng lại vài phút để tự hỏi hay tự kiểm lại xem cuộc đời mình đang sống đây có ý nghĩa gì không?

– Mình có hài lòng với những gì mình đang có và đang sống không?

– Những cái đó có đem lại cho mình hạnh phúc hay không?

– Hay mình chỉ là một kẻ nô lệ, một người máy rôbốt, mặc cho xã hội vật chất lôi kéo và điều khiển?

Ở đây không bàn đến những người theo chủ nghĩa vô thần (vô đạo), chủ trương duy vật, sống chỉ để hưởng thụ, chết là hết.

Trong Phật giáo, đa số cho rằng sinh ra ở đời là để tạo nghiệp và trả nghiệp, vay trả trả vay cho kiếp trước, mãi mãi không ngừng. Trên luật nhân quả thì mỗi khi ta cử động, nói năng hay suy nghĩ một chút, dù chỉ vài giây thôi cũng là tạo ra nghiệp lực, và như vậy thì đương nhiên sẽ gặp quả báo, tránh sao cho khỏi.

Nhưng quan niệm này nếu không khéo thì có thể khiến cho người ta trở nên thụ động, gặp việc gì cũng đổ thừa là tại “nghiệp” rồi ngồi yên chịu trận.

Cuộc đời đã lắm khổ đau, sao ta không tìm những quan niệm khác giúp ta lạc quan hơn trong cuộc sống?

Ðối với tôi, con người sinh ra ở đời là để học hỏi những kinh nghiệm để tiến hóa.

Mỗi kiếp sinh ra là một lớp học. Ta có thể chọn học một hoặc nhiều môn, nhưng bài học phải được hiểu và học cho xong thì mới được lên lớp (lên các cõi cao hơn như cõi trời để học tiếp).

Nếu học không xong thì sẽ bị ở lại (cõi người) hoặc bị giáng cấp (cõi atula, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục)

  • Ta lấy vợ lấy chồng không phải để thỏa mãn tình cảm nhục dục hay lấp vá cô đơn, mà là để học sự thương yêu và sống chung hòa hợp.
  • Ta sinh con đẻ cái không phải để tiếp nối giòng dõi hay để nhờ vả khi về già, mà là để chính ta tập học làm cha làm mẹ, tập thương yêu dạy dỗ giúp đỡ con cái.
  • Ta làm vua hay tổng thống một nước không phải để ăn trên ngồi trốc, bóc lột của dân, mà là để học thương dân trị nước.
  • Ta làm bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ không phải để có nhiều tiền hay danh vọng, mà là để học cách giúp đỡ thương yêu bệnh nhân.
  • Ta làm bác học, kỹ sư không phải để chế ra những vũ khí máy móc sát nhân hay nô lệ hóa con người, mà là để đóng góp xây dựng cho cuộc đời bớt khổ về vật chất….
  • Ta có thể tiếp tục nói về từng nghề, nhưng tóm lại thì tất cả nghề nghiệp trong đời, từ cùng đinh hạ tiện cho đến quý phái sang trọng, không có nghề nào thực sự hơn nghề nào.

Vì nghề nào cũng có giá trị và cùng đóng góp cho sự tiến hóa của nhân loại, nếu như ta đứng trên quan niệm: – Cuộc đời là một trường học tiến hóa và để yêu thương …

Thơ gởi cho H. than phiền về sự vô ơn của bạn bè.

Thơ gởi cho H. than phiền về sự vô ơn của bạn bè.

Thân mến gởi H.,

Trả lời về vấn đề làm ơn cho bạn bè, xin việc cho bạn bè, giúp đỡ cho họ có công ăn việc làm, rồi họ không thèm nhớ ơn, mà còn nói xấu mình nữa. Nhớ lại câu chuyện 10 người phong cùi được Chúa Giê-su chữa lành, trong đó chỉ có một người cám ơn Chúa mà thôi, còn 9 người kia thì vô ơn đối với Chúa.

***

Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi sự, trong mọi hoàn cảnh.

Thông thường không ai có thể cám ơn Thiên Chúa khi gặp hoạn nạn hay gặp tai họa, điều này rất khó làm, nhưng nếu ta có ơn Chúa, nhờ Chúa giúp sức ta có thể làm được. (1)

Khi gặp tai họa hay hoạn nạn, hay người khác nói xấu ta, hảm hại ta, thông thường ta rất chán nản, đau đớn, than van, bực mình, khó chịu về những điều đau đớn mà ta không muốn có.

Nhưng khi than van, bực mình, khó chịu nào có ích gì cho tâm hồn ta. Tại sao ta không phó thác mọi sự trong tay Chúa. Hoặc ta vui vẻ chấp nhận những khó khăn, gian nan, hoạn nạn đó, hay là ta bực mình than thở, thì sự việc vẫn xảy ra như vậy, ta vẫn phải chịu đựng mà thôi. Nếu ta tạ ơn Chúa vì những hoạn nạn đó để ta thông phần, chia xẻ những khổ nạn của Chúa trên đường thập giá mà Chúa đã đi.

Vì có thể đó là chương trình của Thiên Chúa để mình học đức khiêm nhường, nhẫn nhục, học hỏi sự kiên nhẫn, yêu thương.

Nếu ta tạ ơn Chúa trong nghịch cảnh, trong sự bất như ý, trong hoạn nạn, (rất khó chớ không dễ dàng đâu) khi đó, hạnh phúc và niềm vui sẽ đến với chính mình. Thông thường mỗi người sẽ có thể cảm nghiệm hạnh phúc, niềm vui riêng khi cầu nguyện, tạ ơn Chúa.

 Chúa Giê-su Kitô sẽ giúp cho H. thay đổi tâm tư, tình cảm và ý nghĩ của mình để yêu thương những người gây khó khăn cho mình và không giận hờn họ nữa. (2)

Nếu học và làm theo lời Chúa Giê su đã dạy: “Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em” (Mt 5,44) mà họ đâu phải là kẻ thù, họ là bạn bè mà, nên ta có thể thay vì bực mình, thù ghét họ thì nên tha thứ và yêu thương.

Nho giáo cũng có dạy: “Thượng bất oán Thiên, hạ bất trách nhân” (trên không oán Trời, dưới không trách người)

Chúa Kitô là nhà tâm lý đại tài. Sự ghen ghét, tức giận làm cho tim ta đập mạnh, tay chân mình lạnh ngắt, khó chịu, mất ngủ, nhưng nếu tự mình thay đổi suy nghĩ, thay vì thù ghét thì tội nghiệp họ, yêu thương họ, thì tâm lý mình sẽ khác đi. Tâm hồn mình sẽ tìm thấy niềm vui. Khi gặp họ mình sẽ bình an, vui vẻ.Tất nhiên tâm hồn mình lạc quan, yêu đời.Trong lòng sẽ hân hoan và dĩ nhiên sẽ đem sự hân hoan, vui vẻ đó để gặp gỡ những người chung quanh, thì họ cũng sẽ hưởng lây tâm tình yêu thương, vui vẻ của mình. Mình vui thì họ cũng vui. Bầu khí chung sẽ vui lên.

***

Người đời thường nói “nhất quá tam: Đúng ra là “sự bất quá tam”, ý muốn nói không được quá ba lần. Tha thứ kẻ lầm lỗi, chỉ nên tha thứ ba lần, nếu vi phạm lần thứ tư phải trách phạt. Còn đối với Chú Giê-su thì tha bảy lần bảy.

Bấy giờ Ông Phêrô đến gần Chúa Giêsu và hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: Thầy không bảo con là đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy (Mt 18,21-22). Nghĩa là phải tha thứ mãi mãi, tha thứ hoài, vô tận.

Làm sao học tha thứ như khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, Chúa Giê-su đã nói: “Hãy tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.”

 Phùng Văn Phụng

09-2021 

  • (1)Sách “Quyền năng của một tâm hồn biết ca ngợi” của Merlin Carothers, trang 16 (bản dịch của Linh mục Nguyễn Đức Mầu)
  • (2)Chuyện tái ông mất ngựa hay luật bù trừ,

Tìm hiểu thành ngữ TÁI ÔNG THẤT MÃ 塞翁失

 Xưa có ông lão tên là Tái Ông sinh sống ở vùng biên giới phía Bắc Trung Hoa. Ông rất giỏi việc nuôi ngựa. Ngày kia ngựa của Tái Ông xổng chuồng chạy sang nước Hồ lân cận. Hàng xóm láng giềng hay tin đã đến an ủi nhưng Tái Ông lại cười mà rằng: “Tôi tuy mất ngựa, nhưng đó có thể lại là điều tốt.”

Vài tháng sau, con ngựa mất tích đột nhiên trở về lại dẫn thêm một con tuấn mã. Thấy thế, hàng xóm đến chúc mừng, tuy nhiên Tái Ông cau mày nói: “Tôi được ngựa quý, sợ rằng đó chẳng phải là điềm lành.”

Con trai ông thích cưỡi con ngựa quý, một hôm anh ta ngã ngựa gãy chân và trở thành tàn tật. Hàng xóm đến khuyên nhủ ông đừng quá nghĩ ngợi, Tái Ông điềm nhiên: “Con trai tôi tuy gãy chân, nhưng đó chưa hẳn đã là điều không may.” Khi đó hàng xóm nghĩ rằng ông lão quá đau buồn nên bị quẫn trí.

Một năm sau, nước Hồ láng giềng đưa quân sang xâm lược. Tất cả thanh niên trai tráng đều phải tòng quân và hầu hết đều bị tử trận. Con trai ông vì tàn tật nên được ở nhà và thoát chết. Lúc này hàng xóm láng giềng mới thấy rằng những lời của Tái Ông quả thật rất thâm thúy.

https://www.facebook.com/vuihocchuhan/posts/2797912963662864/

Tình Ruột Thịt Và Ngai Vàng

Tình Ruột Thịt Và Ngai Vàng

Bùi Quý Chiến

(Đặc San Lâm Viên)

Lịch sử Việt nam có những điểm son rực rỡ từ những cuộc đấu tranh giành độc lập tới các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và các cuộc viễn chinh mở rộng bờ cõi về phía nam. Các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn Quang Trung từng lúc thịnh suy nối tiếp nhau.

Tuy nhiên mỗi triều đại có một điểm đen do nội bộ hoàng tộc tranh giành nhau ngôi báu.

1- Dương Tam Kha Cướp Ngôi Của Cháu.

Năm 944 Ngô Quyền mất, em vợ là Dương tam Kha tự ý xưng là Bình vương thay vì lập con trưởng của Ngô vương là Xương Ngập lên nối nghiệp như lời ủy thác của anh rể. Xương Ngập sợ bị cậu giết nên trốn sang Nam sách tị nạn ở nhà Phạm lệnh Công. Tam Kha cho quân đuổi theo nhưng Xương Ngập được Lệnh Công đem vào núi trú ẩn an toàn. 

Em Xương Ngập là Xương Văn được Tam Kha nuôi làm con nuôi. Nhân có giặc nổi lên ở Sơn tây, Tam Kha sai Xương Văn đi dẹp loạn. Trên đường hành quân, Xương Văn thuyết phục được hai tướng dưới quyền là Dương cát Lợi và Đỗ cảnh Thạc đem quân về lật đổ Tam Kha.

Nghĩ tình cậu cháu, Xương Văn chỉ giáng Tam Kha xuống tước Trương dương công rồi lên ngôi xưng là Nam Tấn vương.

Nam Tấn vương cho đi tìm anh về để chung nhau ngai vàng. Xương Ngập xưng là Thiên Sách vương.

Lần đầu tiên (và duy nhất) trong sử Việt, hai anh em cùng làm vua.

2- Vì Ngôi Thái Tử, Đinh Liễn Ngầm Giết Em.

Đinh Liễn là con trưởng của Đinh bộ Lĩnh, từng theo cha xông pha trận mạc. Khi cha lên ngôi hoàng đế, Đinh Liễn được phong Nam Việt vương. Tuy nhiên ngôi Thái tử được cha phong cho em là Hạng Lang. Bất mãn, Đinh Liễn ngầm cho người giết em.

Năm 979 Đinh Tiên hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích lợi dụng đêm tối leo vào hoàng thành giết chết. Chỉ là một quan lại nhưng nằm mơ thấy sao rơi vào mồm nên Đỗ Thích cho là điềm được Trời cho làm vua. Đỗ Thích bị bắt và bị xử tội.

Triều thần tôn Đinh Tuệ mới 6 tuổi lên nối ngôi và tôn mẹ là Dương thị làm Thái hậu.

Phụ chính là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Dương Thái hậu tư tình với Lê Hoàn.

Nhân nhà Tống mưu đánh nước ta, Quân đội và Dương thái hậu đồng lòng đưa Lê Hoàn lên thay thế Ấu vương Đinh Tuệ để tạo uy thế chống xâm lăng.

3- Lê Long Việt Lên Ngôi Được 3 Ngày Thì Bị Em Giết Chết.

Vua Lê Đại hành có 4 người con: Long Du, Ngân Tích, Long Việt và Long Đĩnh. Long Việt được lập làm Thái tử.

Năm 1005 Đại Hành mất, 4 hoàng tử đánh nhau suốt 7 tháng để tranh giành ngai vàng. Cuối cùng Long Việt được kế nghiệp, sử gọi là Lê Trung tông. Nhưng chỉ 3 ngày sau, Trung tông bị em là Long Đĩnh sai người giết chết.

Long Đĩnh rất bạo ngược, lấy việc giết người làm thú vui. Vì quá dâm dục nên mắc bệnh chỉ có thể nằm khi thiết triều nên sử gọi là Lê Ngọa triều. 

Long Đĩnh làm vua được 4 năm thì mất, thọ 24 tuổi. Vì con còn nhỏ nên Đại thần Đào cam Mộc cùng Vạn Hạnh thiền sư thuyết phục triều thần tôn Lý công Uẩn lên làm vua khai sáng triều Lý.

4- Triều Thần Bảo Vệ Thái Tử Phật Mã Chống Lại 3 Người Em Tranh Quyền.

Vua Lý Thái tổ phong con trưởng là Phật Mã làm Thái tử và phong Vương cho 4 người con thứ. Mỗi Vương đều có thái ấp và quân đội riêng.

Năm 1225 Thái tổ mất, lễ tống táng chưa xong thì 3 người con là Võ đức vương, Dực thánh vương và Đông chính vương đem quân về vây hãm hoàng thành tranh quyền kế vị. Triều thần bảo vệ Thái tử Phật Mã, cho quân của triều đình mở cổng thành ra dẹp loạn. Võ đức vương bị tướng Lê phụng Hiểu chém chết, quân sĩ của các Vương hoảng sợ tan rã, hai Vương còn lại trốn thoát.

Phật Mã lên ngôi xưng là Lý Thái tông. Dực thánh vương và Đông chính vương về thú tội, được Thái tông tha tội và được phục chức như trước.

5- Trần Ích Tắc Theo Giặc Nhằm Cướp Ngôi Của Anh.

Vua Trần Thái tông phong con trưởng Trần Hoảng làm Thái tử; các con thứ là Quang Khải, Ích Tắc và Nhật Duật được phong vương. 

Năm 1258 Thái tông nhường ngôi cho con lên làm Thái thượng hoàng, Trần Hoảng kế vị là Thánh tông.

Ích Tắc rất thông minh, 15 tuổi đã thông suốt kinh sử. Tự phụ có trí thông minh hơn người, Ích Tắc nuôi tham vọng cướp ngôi của anh.

Có một lần Ích Tắc viết thư cho người đem xuống Vân đồn nhờ khách buôn chuyển tới vua Nguyên xin nhà Nguyên sang đánh nước ta. Nhưng Ích Tắc không thấy hồi âm.

Năm 1278 Trần Thánh tông nhường ngôi cho Thái tử Khâm để làm Thái thượng hoàng. Trần Khâm lên ngôi xưng là Nhân tông.

Năm 1284 nhà Nguyên cho Thoát Hoan đem đại quân sang đánh chiếm nước ta. Vì thế yếu quân ta lui dần. Trần Hưng đạo phải đem Thượng hoàng và vua vào Thanh hóa. Thoát Hoan vào thành Thăng long, Trần Ích Tắc và bộ hạ đem gia quyến ra hàng.

Năm sau, 1285, Hưng đạo vương phản công chiếm lại các vị trí quan trọng; Toa Đô bị chém chết ở Chi lăng, Thoát Hoan rút bại binh về nước. Trần Ích Tắc theo Thoát Hoan sang Tàu lưu vong.

6- Nghi Dân Đền Tội Vì Giết Em Đoạt Ngai Vàng.

Khởi đầu vua Lê Thái tông phong Nghi Dân làm thái tử, sau vì bà mẹ phạm tội nên Nghi Dân bị phế; Hoàng tử Bang Cơ được đôn lên làm thái tử.

Năm 1442 Thái tông chết đột ngột (liên lụy tới Thị Lộ khiến Nguyễn Trãi và 3 họ bị giết), Bang Cơ lên nối ngôi mới có 2 tuổi tức Lê Nhân tông.

Vì con còn nhỏ, Thái hậu buông rèm thính chính. Năm 1453 Nhân tông đích thân nắm quyền. Năm 1459 Nhân tông và mẹ bị Nghi Dân nửa đêm trèo vào thành giết chết.

Nghi Dân cho sứ sang Tàu cầu phong nhưng chỉ 8 tháng sau Nghi Dân cùng đồng bọn bị các quan đại thần Nguyễn Xí và Đinh Liệt chém chết ngay trong triều.

Hoàng tử Tư Thành được triều thần tôn lên nối ngôi tức Lê Thánh tông.

7- Anh Em Họ Trịnh Tranh Giành Ngôi Chúa.

* Trịnh Cối/Trịnh Tùng.

Sau khi Mạc đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim tìm con cháu vua Lê lập ra Nam triều (từ Thanh hóa trở vào) để chống lại Bắc triều của họ Mạc ở Đông đô (Thăng long).

Nguyễn Kim chết, trao binh quyền cho con rể là Trịnh Kiểm.

Năm 1570 Trịnh Kiểm mất, binh quyền trao cho con trưởng là Trịnh Cối. Em là Trịnh Tùng đưa vua Lê về đồn Vạn lại để chống lại anh. Trong khi anh em đánh nhau thì nhà Mạc vào đánh Thanh hóa. Trịnh Cối yếu thế phải đầu hàng, được nhà Mạc cho phục chức tước như ở Nam triều.

* Trịnh Tráng/Trịnh Xuân.

Sau khi lấy được Thăng long, Trịnh Tùng tự xưng là Bình an vương và lấn quyền vua Lê. Tùng định lệ cấp bổng cho vua được thu thuế 1,000 xã và cấp cho vua 5,000 lính làm quân túc vệ. Toàn bộ quyền hành do Tùng nắm giữ, vua Lê chỉ thiết triều cho có nghi lễ. 

Từ đó họ Trịnh nối nhau xưng vương, tục gọi là Chúa Trịnh.

Bấy giờ vua Lê Kính tông biết con thứ của Tùng là Xuân muốn tranh quyền với anh là Tráng, vua bèn mưu với Xuân giết Tùng. Việc không thành, Tùng buộc vua phải thắt cổ chết, Xuân bị giam vài tháng rồi được tha.

Năm 1623 Tùng bị bệnh nặng, họp các quan lại trao quyền cho Tráng và cho Xuân làm phó. Xuân bất mãn nổi loạn, cho lính đốt phá kinh thành.Tùng phải về xã Hoàng mai lánh nạn, cho gọi Xuân tới rồi giết chết.

* Trịnh Tạc/Trịnh Toàn.

Để ngăn chặn quân của Chúa Nguyễn vượt sông Lam, Trịnh Tráng cho con là Toàn vào trấn Nghệ an.

Toàn hậu đãi tướng sĩ và thương yêu dân khiến quân dân đều kính phục.Năm 1657 Trịnh Tráng mất, con trưởng là Tạc nối ngôi Chúa. Tạc ngờ Toàn mua chuộc quân dân Nghệ an để mưu phản nên cho con là Căn vào thay. Tạc gọi Toàn về trách em không về chịu tang rồi bắt giam em cho tới chết.

* Trịnh Khải/Trịnh Cán.

Năm 1782 Trịnh Sâm mất, Hoàng đình Bảo được Chúa ủy thác lập con của Đặng thị Huệ là Cán lên nối ngôi. Vì Cán còn nhỏ tuổi, Đình Bảo được ủy nhiệm làm phụ chính.

Sâm bỏ con trưởng là Khải vì say mê Thị Huệ (bà chúa Chè).

Quan quân chia 2 phe: phe theo Đình Bảo và Thị Huệ, phe theo Trịnh Khải.

Bấy giờ quân tam phủ (ưu binh tuyển từ Thanh hóa và Nghệ an để bảo vệ phủ chúa) lộng hành ở kinh kỳ, dân kinh kỳ gọi là kiêu binh.

Nguyễn Bằng đem quân tam phủ nổi loạn giết Đình Bảo, phế bỏ Cán, lập Khải lên ngôi chúa.

8- Phép Nước Và Tình Riêng.

Nguyễn phúc Anh (*), con thứ ba của chúa Nguyễn phúc Nguyên (tục gọi là chúa Sãi), tranh quyền với anh là Phúc Lan.

Năm 1633 Anh viết thư sai người đưa ra Thăng long xin chúa Trịnh đem quân vào, Anh sẽ làm nội ứng. Anh đang trấn thủ Quảng nam; để thực hiện mưu gian, Anh xin cha cho ra trấn Quảng Bình. Chúa Sãi có ý ngờ nên không thuận.

Quân Trịnh vào đợi không thấy tín hiệu của Anh phải rút về.

Năm 1635 chúa Sãi mất, Phúc Lan lên nối ngôi, tục gọi là chúa Thượng. Phúc Anh ở Quảng nam phát binh làm phản. Bênh vực chúa Thượng, Nguyễn phúc Khê đem quân vào bắt được Phúc Anh. Chúa Thượng có ý ân xá nhưng Phúc Khê viện lẽ “Anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn” để chém Phúc Anh.

* * *

Thế giới ngày nay có một xứ tuy không có vua nhưng cha truyền con nối đã 3 đời, nắm quyền toàn trị nghiêm ngặt hơn cả quân chủ chuyên chế.

Mới đây người em đương nhiệm chủ tịch nước đã bí mật giết anh vì lo sợ anh cướp quyền.

Xứ đó gọi là Bắc Triều tiên, cũng gọi là Bắc Cao (Cao ly) hoặc Bắc Hàn.

From: Tư-Phung

XẤU HỔ và ĐAU XÓT

#FreePhamDoanTrang

XẤU HỔ và ĐAU XÓT

Mạc Văn Trang

Đọc xong bài báo: “Hai nhà báo đoạt giải Nobel Hòa bình 2021” đăng trên VNExpress, tôi chợt nghĩ đến nhà báo PHẠM ĐOAN TRANG mà thấy xấu và đau xót. Bài báo viết:

“Giải Nobel Hòa bình năm nay thuộc về Maria Ressa và Dmitry Muratov, hai nhà báo người Philippines và Nga, vì “nỗ lực bảo vệ quyền tự do ngôn luận”.

Tự do ngôn luận “là điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ và hòa bình lâu dài”, Ủy ban Nobel Na Uy ra tuyên bố hôm nay, khi trao giải Nobel Hòa bình cho nhà báo Philippines Maria Ressa và nhà báo Nga Dmitry Muratov.

Ressa và Muratov được trao giải thưởng “vì sự đấu tranh dũng cảm cho tự do ngôn luận ở Philippines và Nga. Đồng thời, họ là đại diện của tất cả nhà báo đứng lên vì lý tưởng này trong một thế giới mà dân chủ và tự do báo chí phải đối mặt với những điều kiện ngày càng bất lợi”, Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy Berit Reiss-Andersen nói trong cuộc họp báo tại Oslo”…

(https://docs.google.com/…/13ROF9QFu017o…/edit#)

Tôi thấy XẤU HỔ, vì hai nhà báo kia lập ra hai tờ báo, thực hiện quyền TỰ DO NGÔN LUẬN để phê phán các sai lầm của chính quyền, lên án tệ tham nhũng, lạm quyền và các tệ nạn xã hội, vậy mà họ được công khai, đàng hoàng hoạt động; được công chúng tin cậy và khi được Giải thưởng Nobel Hòa bình, chính quyền không những không ngăn cản đến nhận mà còn tự hào và chúc mừng họ. Mà chính quyền Duterte ở Philippine và chính quyền Putin ở Nga vẫn bị coi là độc tài đấy.

Trong khi đó Tự do ngôn luận của Việt Nam được ghi trong Hiến pháp nhưng chưa bao giờ được thực hiện. Hàng loạt nhà báo, blogger bị bắt, bị tù đày. Các nhà báo nói lên sự thật phê phán những sai trái của chính quyền một cách ôn hoà cũng bị coi là “thế lực thù địch”! Điển hình là chính quyền bắt giam một năm nay và sắp đưa xét xử nhà báo Phạm Đoan Trang về tội “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, được quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017”.

ĐAU XÓT vì so sánh hai nhà báo này với PHẠM ĐOAN TRANG thì nhà báo Phạm Đoan Trang có kém gì đâu, mà bị khủng bố, bôi nhọ, bắt bớ, tù đày! Phạm Đoan Trang một nhà báo yêu nước, có trách nhiệm xã hội rất cao và đặc biệt một tài năng hiếm có. Trong vòng vài năm, cô đã xuất bản mấy cuốn sách: “Chính trị bình dân”, “Phản kháng phi bạo lực”, “Cẩm nang nuôi tù”, Báo cáo “Toàn cảnh thảm hoạ môi trường Việt Nam”, “Báo cáo về Đồng Tâm”…, thành lập trang web Luật Khoa tạp chí với tư cách là một hình thức báo chí độc lập tại Việt Nam để phổ biến chủ yếu về lĩnh vực pháp luật.

Tất cả những tác phẩm của Phạm Đoan Trang đều nhằm KHAI DÂN TRÍ VỀ CHÍNH TRỊ. Đúng như nhiều người nhận xét: Dân trí về Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội cũng bị kìm kẹp, kém phát triển, nhưng tệ hại nhất là dân ta rất kém hiểu biết về Khoa học Chính trị, về quyền Công dân, về Dân chủ, Nhân quyền… Phạm Đoan Trang đã dồn hết tâm trí vào lĩnh vực này. Phạm Đoan Trang không hề chửi bới, kích động “chống phá chính quyền”, thậm chí cô luôn nhắc “Phi bạo lực! Phi bạo lực! Phi bạo lực!”.

Sách của Phạm Đoan Trang cung cấp những tri thức rất cơ bản, hiện đại, thực tế; cách viết bình dân, chân thực, giản dị, hướng dẫn cho người dân có nhận thức, thái độ, hành động đúng mực để thực hiện các quyền cơ bản được ghi trong Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết.

Tôi thách Quốc hội Việt Nam tốn nhiều tỉ để ra được một cuốn sách phổ cập kiến thức Chính trị cho các Đại biểu Quốc hội và cho người dân đạt trình độ như sách “Chính trị bình dân” (hơn 500 trang) như của Phạm Đoan Trang.

Một người yêu nước, một tài năng quý giá như thế mà đem huỷ hoại đi! Thật ác độc! Thật đau xót cho đất nước này!

17/10/2021

Bài phản biện: https://www.vnnew.org/…/co-gi-ma-phai-xau-ho-va-dau-xot…

RFA: Nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang sẽ bị đưa ra xét xử vào ngày 4/11 tới đây

Trần Bang

#PhamDoanTrangvotoi

#FreePhamDoanTrang

—-

RFA: Nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang sẽ bị đưa ra xét xử vào ngày 4/11 tới đây tại Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội.

Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam (VoV) loan tin ngày 18/10, dẫn quyết định của Tòa án Hà Nội như vừa nêu và cho biết thẩm phán chủ tọa phiên xử là bà Chử Phương Ngọc và hai Hội Thẩm Nhân dân Trương Việt Toàn và Nguyễn Thị Thúy.

Cô Phạm Đoan Trang sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú tại Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội bị bắt vào khuy ngày 6/10 năm ngoái khi đang cư ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó cô bị di lý ra Hà Nội.

Cáo buộc mà cơ quan chức năng đưa ra đối với cô Phạm Đoan Trang là ‘tuyên truyền chống Nhàn nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam’ và ‘làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam’.

VoV cho rằng Cô Phạm Đoan Trang được nhiều người biết đến như một blogger và sở hữu trang Facebook có gần 70 ngàn lượt theo dõi.

Cô Phạm Đoan Trang viết nhiều cuốn sách về nhân quyền, chính trị được xuất bản ở trong nước và nước ngoài. Cô nhận được nhiều giải thưởng về nhân quyền trong những năm qua như giải Tự do Báo chí 2019 của tổ chức Phóng viên Không Biên Giới, giải Homo Homini 2017 từ tổ chức People In Need.

Nhân ngày nhà hoạt động Phạm Đoan Trang bị bắt giam một năm, các tổ chức nhân quyền và phi chính phủ lên tiếng kêu gọi trả tự do cho bà.

Hôm 6 tháng 10, tổ chức Sáng kiến Pháp lý Việt Nam (LIV), nơi cô Phạm Đoan Trang là người đồng sáng lập, ra tuyên bố lên án việc chính quyền Việt Nam giam giữ cô Phạm Đoan Trang và yêu cầu việc trả tự do cho cô.

Tuyên bố trên có đoạn: “Chúng tôi lên án hành vi của chính quyền Việt Nam trong việc liên tiếp sách nhiễu nhà đồng sáng lập của chúng tôi là bà Phạm Đoan Trang.

Việc bắt và giam giữ bà Trang là hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận một cách trắng trợn. Nói rộng hơn, hành động này còn tấn công vào nền tự do báo chí và hoạt động báo chí độc lập.”

Vào ngày 5/ 10, tổ chức Dự án 88 cũng cho đăng tải một bài quan điểm trên báo Asia Times, nói về nhà hoạt động Phạm Đoan Trang nhân dịp một năm ngày cô bị bắt.

Nguồn https://www.rfa.org/…/independent-journalist-activist…

KHI NGƯỜI TÀI LÀM BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC

KHI NGƯỜI TÀI LÀM BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC

Khi người tài làm Bộ trưởng Giáo dục, trong 4 tháng họ làm được gì?

Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ.

Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.

Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, “một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. Năm 1943, Hội Khuyến học Nam kỳ (SAMIPIC) tặng giải thưởng” (theo giáo sư Nguyễn Đình Đầu)

Năm 1945, cụ được mời là Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim.

Vừa nhậm chức, nhận thấy chương trình trung học ở ta khi đó còn dạy theo lối Pháp, giáo sư Hoàng Xuân Hãn liền họp các giáo sư trung học và yêu cầu lập chung một chương trình có tính cách hoàn toàn quốc gia Việt Nam.

Cụ kể lại “Tôi tự đặt ra một số nguyên tắc mới, mà sau này chính chương trình Trung học Pháp cũng theo (như vượt lên về toán, lý, hóa, bỏ chia trung học ra hai phần. . .). Chính tôi đã đặt ra những từ: Phổ thông và Chuyên khoa. Nhất là như tôi đã nói, tôi thấy về văn học ta thiếu những người học sâu về cổ văn, để hiểu và dạy quốc văn nghiêm túc, và nhận văn bản đúng hay sai. Vì lẽ ấy tôi đã đặt Ban chuyên khoa cổ văn như trong các chương trình Âu châu. Trong những người có công lớn trong việc cải cách, có Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… Cuối tháng 6, lần đầu mở kỳ thi trung học bằng tiếng Việt tại Huế. Những bài làm rất tốt, kể cả bài thi triết học”.

Chương trình trung học của Hoàng Xuân Hãn được các Bộ Giáo dục VNDCCH và VNCH áp dụng rất lâu. Mà nơi lâu nhất là VNCH dùng tới 1972. Các chương trình sau đó có cải cách nhưng vẫn nằm cơ bản trong nền tảng của chương trình này.

Sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, Hoàng Xuân Hãn trở về dạy và viết sách toán bằng tiếng Việt, cùng cứu vãn những sách cũ, sách cổ bị đưa bán làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội. Sau 1945, ông tham gia phong trào diệt giặc dốt và nghĩ ra phương pháp học chữ Quốc ngữ rất mau, viết trong 1 cuốn sách của ông. Cuốn sách này đã giúp người mù chữ chỉ sau 3-6 tháng thì đọc thông viết thạo.

Nhận xét về giáo sư Hoàng Xuân Hãn, giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: “Ông đã có công lớn trong việc dùng tiếng Việt và chữ Việt ở mọi cấp bậc học ở nước ta: Chúng ta không còn phải mượn tiếng người, chữ người nữa, tiếng Việt là vấn đề khỏi bàn, còn chữ Việt đây là chữ Quốc ngữ La tinh hóa. Ông đã mổ xẻ Quốc ngữ ra từng chữ i chữ tờ rồi đề nghị mở rộng cách ghi âm Quốc ngữ làm cho tiếng Việt phong phú hơn, đặc biệt về mặt khoa học.

Ông rút kinh nghiệm của cả Tàu lẫn Nhật. Ông dịch các danh từ khoa học thông thường như Tàu. Ông phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn như Nhật. Song với chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thì việc Phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn – mà đa số là tiếng La tinh rồi – được thuận tiện hơn tiếng Nhật và chữ Nhật nhiều. Từ dạng chữ đến cách đọc Việt Nam sẽ rất gần với cách ghi âm và phát âm quốc tế. Ông lại phục sinh nền quốc học và cho gắn liền với chương trình giáo dục. Việc đào tạo nhân cách Việt Nam phải bắt đầu bằng tiếng ta, chữ ta, văn hóa ta. Ông không chỉ sáng tạo Danh từ khoa học, chỉ đặt Chương trình Trung học, mà còn trước tác rất nhiều công trình khoa học có giá trị lớn để làm mẫu mực cho việc giáo dục và quốc học nước ta. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có công lớn lắm vậy”.

Cụ Hoàng Xuân Hãn năm 1951 quay lại Paris sinh sống và học tiếp để trở thành kỹ sư nguyên tử. Cụ tiếp tục nghiên cứu về văn hóa VN. Năm 1996, cụ mất tại Paris. Tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.

Thật kính trọng tài năng và đức độ của cụ. Chỉ 4 tháng ngắn ngủi trong cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cụ đã làm được những việc vô cùng ý nghĩa cho nền giáo dục của đất nước.

Gia Nguyễn chia sẻ từ Nguyễn Thị Bích Hậu

Cẩm nang du lịch VN không thể thiếu

Cẩm nang du lịch VN không thể thiếu

TỪ THỨC

Từ Thức (Danlambao) – Một người bạn nói: ông là người Việt, sống ở ngoại quốc, hiểu cả người Việt lẫn người nước ngoài, nên làm một cẩm nang cho những du khách muốn thăm viếng Việt Nam.

Mới đầu, thấy đó là một ý hay. Làm thử vài trang dưới đây, không biết có nên làm tiếp không, không biết có giúp gì cho du khách để hiểu VN hơn hay không.

– Nếu ăn tiệm, thấy ngon, đừng khen. Người ta sẽ tăng giá gấp hai.

– Mua hàng, phải trả giá. Trả giá bao nhiêu cũng hớ. Nhưng nên an ủi: có người còn hớ hơn mình.

– Để quên iPhone hay ví tiền, đừng quay trở lại, hỏi có ai lượm được không.. Bạn đang ở VN, không ở Nhật. 

– Đi đường, chỉ nên đeo nhẫn hay đồ trang sức giả. Có thể bị mất ngón tay, nhưng không mất nhẫn… thật.

– Đừng lễ phép, chào hỏi, cám ơn, xin lỗi. Đó là dấu hiệu của người yếu. Không có chỗ sống cho người yếu trong một xã hội toàn những người hùng.

– Nếu mất giấy tờ, khi khai báo, phải biết điều. Người công chức ngồi trước mặt bạn đã tốn nhiều tiền mới được ngồi đó. Hãy giúp họ thu lại số tiền đã bỏ ra đầu tư. Đơn của bạn cũng chẳng có ai xét, nhưng nếu biết điều, đỡ mất công chờ đợi.

– Khi có người hỏi: có biết bác Hồ không, đừng kể lể những điều bạn biết về ông Hồ qua Wikipedia. Khổ lắm, biết rồi, nói mãi. Người ta chỉ nhắc khéo bạn đã quên chi tiền.

– Gặp một người lần đầu, cứ nói: chào tiến sĩ.. Rất hiếm người không phải là tiến sĩ. Hay ít nhất phó tiến sĩ, nhưng người Việt không thích làm phó cho ai cả. 

– Nếu gặp một ông tiến sĩ có trình độ thấp hơn học sinh tiểu học, đừng ngạc nhiên. Có thể ông ta chưa học xong tiểu học.

– Nếu người ta đưa một tờ giấy khổ lớn, chằng chịt những chữ, đừng nghĩ đó là một thực đơn. Đó là một danh thiếp, liệt kê bằng cấp, chức vụ…

– Đừng hỏi chức vụ này nghĩa là gì, bằng cấp kia của trường nào. Chính đương sự cũng không biết.

– Nếu muốn tơ lụa hay đặc sản Việt Nam làm kỷ niệm, đừng mua tại chỗ, vác nặng mệt xác. Chờ khi về, mua trong một tiệm Tàu cạnh nhà. 

– Đừng làm gì, nói gì, nếu không muốn bị phiền phức. Nên nhớ ở nước bạn, người dân có quyền làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; ở Việt Nam chỉ có quyền làm những gì luật pháp cho phép.

– Đừng làm gì, ngay cả khi luật pháp cho phép. Nhiều người ở tù mọt gông vì tưởng luật pháp làm ra để áp dụng.

– Muốn biết ai thuộc giai cấp nào trong xã hội, nên nhìn móng tay họ. Câu nói nổi tiếng: tôi làm thối móng tay mới xây được nhà cửa. Nếu thấy ai có móng tay thối, nên bày tỏ sự kính trọng. Đó ít ra là một chủ tịch xã, chủ một dinh cơ, lớn gần như dinh Tổng thống Mỹ.

– Nếu bạn thấy một người diện complet, cà vạt trong khi trời nóng như lửa, nói những câu ngớ ngẩn khiến thiên hạ ôm bụng cười, đừng nghĩ đó là những anh hề. Đó là những đỉnh cao trí tuệ loài người, đang mô tả một thiên đường XHCN trong tương lai.

– Đừng ngạc nhiên khi thấy một người làm 100 dollars mỗi tháng, xài iPhone trên một ngàn đô, xe hơi trên trăm ngàn. Tại sao không? Why not? 

– Thấy hàng trăm người tụ tập ồn ào, đừng nghĩ họ biểu tình đòi nhân quyền hay tranh đấu cho môi sinh. Họ đang tranh nhau chỗ trong một tiệm McDonal’s, Starbucks.

– Thấy hàng ngàn người ngoan ngoãn xếp hàng cả buổi, đừng nghĩ họ chờ vào thư viện, coi triển lãm…Họ chờ giờ mở cửa H&M hay GAP.

– McDonald’s, H&M… đối với bạn là những tiệm bình dân, ăn cho mau, mặc cho tiện trong khi lao động tốt. Với người Việt, đó là những nơi sang trọng, dấu hiệu của thành đạt. Cái gì dính dáng tới ngoại quốc cũng sang trọng. Chụp được cái hình nằm chờ trước cửa H&M là bằng chứng bạn thuộc thành phần ưu tú trong xã hội.

– Nếu thấy một người quỳ gối, hôn chân một người khác, người quỳ gối là người Việt. Vì không thể có chuyện ngược lại. Đó là một hành động vinh quang,nếu người ngoại quốc là tỷ phú. Là một niềm hãnh diện, nếu người ngoại quốc là…. người ngoại quốc.

– Thử nêu tên Mandela, Gandhi: nhiều người trẻ nghĩ đó là một hiệu quần áo Tây, và hy vọng có ngày mở tiệm ở VN để được xếp hàng chầu chực. Nhưng họ sẵn sàng kể cho bạn tất cả những giai thoại về thần tượng Jack Ma, một thương gia Tàu trở thành tỷ phú nhờ cấu kết với nhà nước, bán hàng giả.

– Đi Air VN, nếu chờ quá một giờ trước W.C, đừng nghĩ có người táo bón bên trong. Nhân viên hàng không đã khóa cửa để lấy chỗ chở đồ lậu.

– Tại sao nhiều người Việt, kể cả người có chức sắc, bị bắt vì ăn trộm ở các cửa hàng nước ngoài? Bởi vì họ biết xài, biết hàng hóa ngoại quốc có phẩm chất.

– Tại sao ở Nhật có những bảng lớn, viết bằng tiếng Việt, nơi công cộng: “Ăn cắp là xấu”? Bởi vì ngày nay tiếng Việt được dùng tại khắp nơi trên thế giới.

– Bạn thắc mắc: tại sao phải để 10 dollars vào sổ thông hành khi qua hải quan. Sự thực, không bắt buộc phải để 10 dollars. Người ta bịa đặt ra để nói xấu chế độ. Hai mươi đô cũng được. Nhưng chuyện đó là chuyện giữa người Việt. Bạn không cần làm. Người Việt giỏi bắt nạt nhau, nhưng rất nể người ngoại quốc.

– Bạn nghe thường xuyên chữ “đéo”. Đừng tra từ điển. Chỉ nên biết đó là một chữ rất thơ mộng, rất lịch sự, trang nhã. Nếu không, tại sao họ xài trong bất cứ cơ hội nào? 

– Muốn băng qua đường, đừng chờ xe cộ ngưng lại. Cứ nhắm mắt lao đầu đi. Nếu gặp tai nạn, biết ngay. Đây cũng nằm trong chiến dịch bôi xấu chế đô. Chuyện có người băng qua đường mà KHÔNG bị thương tích hay mất mạng xảy ra mỗi ngày, tại sao không báo nào loan tin? Vả lại, theo triết lý Đông phương, chết sống là số mệnh.

– Tại sao ở VN có nhiều nơi dành cho Tàu, cấm người Việt? Bởi vì nếu cho người Việt vào, đâu còn là khu Tàu? 

– Tại sao thí mạng hàng triệu người, nói là để tranh đấu cho độc lập, ngày nay nước Việt thành nước Tàu? Bởi vì, khi tranh đấu, không ai nói rõ là dành độc lập cho ai, cho người Việt hay người Tàu.

– Người ta nói nước Việt đang trở thành Tàu? Đó là tuyên truyền để chống phá chế độ.. Trên thực tế, người Việt vẫn đông hơn người Tàu. Trên TV, thỉnh thoảng vẫn có những chương trình văn hóa Việt Nam. Lố lăng thực, lai căng thực, nhưng Việt Nam.

– Tại sao người Việt chặt hết cây, phá hết rừng để gây lũ lụt, nhà trôi, người chết ngập đồng? Bởi vì gỗ bán được giá. 

– Tại sao khi đốn rừng, người ta không trồng cây để thay, như ở các nước khác? Bởi vì người Việt không ngu như thiên hạ. Trồng cây, mấy chục năm mới lớn. Đổ mồ hôi trồng cho thằng cán bộ phe khác nó chặt à? Nếu lúc đó, hết CS, trồng cây cho phản động nó chặt à? 

– Tại sao rừng núi VN có nhiều sinh vật quý, hiếm, ngày nay gần như tuyệt chủng? Bởi vì nhậu thịt bò, thịt chuột, thịt chó, thịt mèo mãi cũng chán.

– Tại sao người ta chặt cây, đốn rừng mà ít người phản đối? Bởi vì theo túi khôn của người Việt “ăn cây nào, rào cây đó”. Anh đã hái trái cây ở ngoài đường bao giờ chưa? Nếu có trái, thằng khác nó cũng hái trước rồi.

– Tại sao xúc cát… Thôi, đừng hỏi vớ vẩn nữa. Anh là bạn tôi hay bạn của cây, của rừng, của cát? 

– Người bị tai nạn hay bị đả thương nằm chờ chết trên đường, tại sao không ai dừng lại? Bởi vì coi người bị xe cán chết hoài cũng chán. Nhân viên công lực? Bạn đã thấy có ai sắp chết rút tiền tặng công an, cảnh sát? 

– Đừng thắc mắc tại sao người Việt hung bạo, tìm mọi cớ để đánh nhau vỡ đầu, bể trán. Suốt đời, họ bị những người có quyền đè nén, đánh giết nhau là một cách để xả hơi.

– “Những người con gái buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?” (Xuân Diệu). Họ tự hỏi sẽ được xuất cảng đi đâu: Trung quốc, Đài Loan, Đại Hàn..

– Tại sao tàn nhẫn với trẻ con? Bởi vì khùng hay sao mà đi kiếm chuyện với thằng tàn nhẫn, khỏe, hung bạo, quyền thế hơn mình.

– Tại sao tàn nhẫn với đàn bà? Tại sao không? Bớp tai một cô bán hàng, không ai làm phiền, hôm sau nổi tiếng. Van Gogh bỏ cả đời vẽ tranh, chết mới nổi danh.

– Tại sao khi người Việt quét sân, hay xả rác ra đường hay đùn sang hàng xóm? Bởi vì nếu giữ rác trong nhà thì quét dọn làm gì? 

– Tại sao có quán lấy nước rửa chân pha trà cho khách? Bởi vì mỗi người một sở thích. Có người thích trà hoa lài, trà sen, có người thích trà rửa chân.

– Tỷ số thất nghiệp chính thức ở VN là 2,3%, trong khi ở các nước tân tiến 5 hay 10%, có tin được không? Cố nhiên là phải tin, nếu không làm thống kê làm gì? Số thất nghiệp thấp, vì VN là một nước bình đẳng, nghề nào cũng được coi trọng, cũng được nhìn nhận. Đánh giầy là một nghề, ăn xin là một nghề, rước mối là một nghề. Đánh ghen mướn, đòi nợ thuê, đánh bả chó…

– VN đứng thứ 175 trên 180 nước về tự do báo chí? Luận điệu của phản động. Ở VN, trên lý thuyết cũng như trên thực tế, báo chí được hoàn toàn tự do ca tụng chế độ. Bạn đã thấy dư luận viên nào gặp khó dễ hay đi tù khi hành nghề chưa? 

– VN bị xếp hạng trong những nước đội sổ về nhân quyền, tự do tôn giáo, về lương bổng… So what? Nếu ai cũng ngang nhau thì xếp hạng làm gì? VN cũng đứng đầu nhiều địa hạt. Thí dụ: tỷ số người bị ung thư, thành phố ô nhiễm. Sài Gòn là một trong những thành phố nguy hiểm nhất thế giới. VN là một trong ba nước có tiềm năng xuất cảng nô lệ, đàn bà mại dâm lớn nhất thế giới. 

– Cùng với Trung Quốc, VN là một trong hai nước sản xuất và tiêu thụ nhiều phong bì nhất, tính trên đầu người.

– Tự do tôn giáo? VN là nước tự do nhất thế giới. Cán bộ muốn thành sư, hôm sau cạo đầu thành sư. Ai không tin tôn giáo, cứ tự do vác súng đi hỏi tội linh mục.

– Tại sao ai cũng muốn dân chủ, nhưng VN vẫn là một nước độc tài? Bởi vì người nọ chờ người kia. Nếu anh làm, anh đi tù, người khác hưởng. Tiện nhất là chờ Tây, Mỹ nó làm giùm. Tây, Mỹ không hiểu sao nó thích buôn bán hơn là làm dân chủ. Khi nào Mỹ nó thay đổi, hết ham dollars, VN sẽ có dân chủ. Đó là vấn đề của Mỹ, không phải của người Việt.

Paris, tháng 11/2017

From: Kristie Phan & KimBang Nguyen