“Chiếc áo cộng sản” bao giờ được cởi ra và vứt đi?

“Chiếc áo cộng sản” bao giờ được cởi ra và vứt đi?

Bởi  AdminTD

 Mai Hoa Kiếm

16-10-2021

Thể chế cộng sản cùng với cái gọi là “con đường đi lên XHCN” đã, đang và sẽ là nỗi kinh hoàng đối với dân tộc Việt Nam. Bao giờ thì những nhà độc tài cai trị mới chịu trút bỏ “chiếc áo” cộng sản trên người họ xuống? Câu hỏi ngắn, nhưng ám ảnh và nhức nhối theo chiều dài năm tháng.

Người dân miền Bắc đã còng lưng dưới thể chế cộng sản rất sớm, từ sau năm 1945. Miền Nam thì nếm mùi khắt nghiệt, bị buộc phải mặc chiếc áo Cộng sản sau ngày 30/4/1975. Bốn mươi sáu năm qua, gần nửa thế kỷ trôi qua, người dân vĩ tuyến 17 trở vào phải sống trong tăm tối và sợ hãi. Dân chúng bị mất hết tự do, dân chủ và cả những quyền làm người sơ đẳng nhất.

Máu đổ trong “Cải cách ruộng đất”. Ảnh trên mạng Hàng vạn người bỏ xác ngoài biển khi trốn chạy Cộng sản. Ảnh: Internet

Hàng vạn người bỏ xác ngoài biển khi trốn chạy Cộng sản. Ảnh: Internet

Quyền hành, cùng với đặc quyền đặc lợi lọt vào tay các phe nhóm trong đảng và chính quyền. Hố sâu ngăn cách các giai tầng trong xã hội ngày càng lớn. Một bên là vợ con, gia quyến của quan chức cộng sản giàu có nhờ vào kinh doanh chủ trương chính sách và thao túng chính trị. Bên còn lại là những phận đời lao khổ, gồm quần chúng đói nghèo, bị bóp nghẹt và thiếu tự do.

Xã hội hình thành những thứ đạo đức bạo tàn, hung hãn, dối trá. Tín ngưỡng bao đời cũng bị quốc doanh hóa, làm băng hoại những giá trị tốt đẹp tồn tại hàng ngàn năm của dân tộc. Nhân quyền, tự do ngôn luận của dân, từng được Võ Văn Thưởng gói gọn một câu: “Internet là một xa lộ thông tin, chúng ta cho 4 làn, 6 làn hay 20 làn xe chạy, xe 4, 6, 8 bánh chạy là quyền của chúng ta…”

Lãnh đạo cộng sản chưa bao giờ thừa nhận sai lầm và buông bỏ độc tài toàn trị. Một nền dân chủ giả tạo và thứ tự do bịp bợm đang ngự trị trên đất nước có bề dày ngàn năm văn hiến. Đảng công khai rêu rao cho phản biện, nhưng đó là “cái bẫy”, cách để an ninh, mật vụ nhận diện những nhà hoạt động nhân quyền và bất đồng chính kiến để rồi “úp sọt” đưa họ vào nhà tù.

Thông qua hệ thống truyền thông của đảng, Tuyên giáo luôn quy chụp và đổ lỗi mọi thất bại hoặc sai lầm nguy hiểm của đảng cộng sản là do nhận thức yếu kém của người dân, do không bám sát chủ nghĩa Mác Lê, do thiên tai và bệnh dịch…

Chủ nghĩa Mác Lê, nỗi ám ảnh kinh hoàng. Ảnh: Tỉnh đoàn Sơn La

Mỗi ngày, người dân càng nhận thức rõ hơn bộ mặt nham nhở của những người cộng sản. Hậu quả của đói nghèo, bệnh tật, đau khổ đến tận cùng… xuất phát từ việc tôn thờ thứ chủ nghĩa lai căng, khôi hài, hợm hĩnh Mác Lê mà ra. Chủ nghĩa cộng sản và “thiên đường mù” bịp bợm mà chế độ CSVN vẽ ra cốt để gạt dân, chỉ để giúp họ tiếp tục cầm quyền, đè đầu cởi cổ dân tộc này.

Đảng CSVN đầu độc tinh thần trẻ em bằng các kỹ thuật tẩy não và nhồi sọ ngay khi ngồi ở bậc tiểu học, kéo dài mãi cho đến lúc vào đại học. Đảng sử dụng lực lượng an ninh, mật vụ với bạo lực tàn ác dành cho giới sinh viên, trí thức và các tầng lớp dân chúng mà họ cho là chống đối, muốn lách ra khỏi chủ nghĩa Mác Lê. Đảng CSVN quyết tâm theo đuổi “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, mô hình quái dị, là bức bình phong duy trì quyền lực, cũng như để làm giàu cho đám quan chức và tư bản đỏ.

Bộ máy tuyên truyền luôn ra rả, rằng “Cán bộ là đầy tớ trung thành của nhân dân”, “Đảng CSVN đại diện của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Nhưng nhân dân cứ bị “đầy tớ” ĐCS chà đạp không thương tiếc. Đảng nói là cấm cãi. Đảng ban hành chủ trương thì phải ngoan ngoãn cúi đầu mà thực thi. Đảng bảo chết, thì đừng có hy vọng sống…

Đặc quyền, đặc lợi, “ngồi mát ăn bát vàng” và sự tồn vong của đảng CSVN là hai thứ mà giới chóp bu Hà Nội quan tâm, đặt lên hàng đầu, chứ không phải lợi ích quốc gia, dân tộc.

Gần đây nhất, hôm 24/9/2021, Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đã điện đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Phía Việt Nam giấu nhẹm nội dung, nhưng phía Trung Quốc tiết lộ một phần nội dung điện đàm. Theo đó, Tập Cận Bình nhấn mạnh với Nguyễn Phú Trọng “bảo vệ an ninh cầm quyền của Đảng Cộng sản và an ninh chế độ xã hội chủ nghĩa là lợi ích chiến lược căn bản nhất của hai nước Trung – Việt“. Vậy là đã rõ, Thứ “đại cục” mà hai đảng cộng sản luôn khư khư ôm lấy chính là đó, không cần phải bình luận gì thêm.

***

Điều hành chính phủ là tướng Phạm Minh Chính, xuất thân trùm mật vụ, đi lên từ Phó trưởng phòng Cục Tình báo châu Âu, rồi làm Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Công an. Ngài thủ tướng chưa hề có kinh nghiệm điều hành kinh tế quốc gia, lại là kẻ “thân Tàu” và là “cha đẻ” của Luật Đặc khu, bỗng dưng lại được báo chí quốc doanh thổi lên mây, như “hết mình vì công việc” nên “áo thủ tướng ướt đẫm mồ hôi“.

Vì sao cả một đoàn tuỳ tùng, cận vệ, không ai có áo “ướt đẫm” mà chỉ mình ngài thủ tướng trên xe máy lạnh bước xuống lại đẫm mồ hôi?

Thật ra, đổ mồ hôi nhiều là bệnh lý. Có nhiều nguyên nhân gây nên như: Yếu tố di truyền, do trục trặc ở thần kinh giao cảm, bị bệnh tiểu đường, rối loạn hệ thần kinh, hoặc thậm chí ung thư… Thuật ngữ y học gọi bệnh này là Hyperhidrosis, tức là người bệnh bị đổ mồ hôi quá nhiều, một cách bất thường, không nhất thiết liên quan tới công việc hoặc thời tiết.

Dể hiểu như thế, nhưng báo chí “lề đảng”, những doanh nhân “bưng bô” như bà Thái Hương và một số kẻ xu nịnh làm trò cười cho thiên hạ, khi tụng ca rằng “áo thủ tướng đẫm mồ hôi” là thông điệp, cảm xúc, tấm gương, động lực… là đủ thứ ngôn từ ví von hầm bà lằng khác.

Sao không vứt bỏ “chiếc áo” tanh mùi máu? Nguồn ảnh: Kênh 14

Vậy đó, “nâng bi”, nịnh hót thì được dàn đồng ca của đảng tán dương. Ngược lại, rất nhiều trí thức và các thành phần khác trong xã hội Việt Nam khi lên tiếng, phản biện, tranh đấu, đều nhận cái kết đắng giống nhau. Họ bị sách nhiễu, bắt bớ, dùng nhục hình tra tấn, giam cầm với những bản án vô pháp, vô thiên.

Nói không quá lời, “chiếc áo” mà những người cộng sản khoác trên người, bây giờ rất tanh mùi máu. Nếu như còn chút lương tri và nhân cách, không muốn làm hoen ố thanh danh dòng họ mình… thì những lãnh tụ cộng sản nên trút bỏ thứ “trang phục” nhầy nhụa đó ra và vứt đi. Khi lưỡi dao đồ tể buông xuống, dân tộc này may ra mới hết tai ương, nước mắt trẻ già mới hy vọng sẽ thôi rơi và ngày mai trời lại sáng.

THIỆN: ĐIỀU KIỆN VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA

THIỆN: ĐIỀU KIỆN VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA

Mong muốn sống khoẻ, sống lâu, sống mãi ư? Ước mong được hưởng hạnh phúc đời đời trên thiên đàng ư? Chúa Giêsu cung cấp cho chúng ta thần dược để được như lòng ước mong, thần dược có tên là THIỆN: sống thánh thiện và làm từ thiện.

  1. Sống thánh thiện. Khi có người đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”Chúa liền bảo hãy sống thánh thiện bằng cách tuân giữ các điều răn Chúa dạy: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” Sống thánh thiện là điều kiện cần để được sống đời đời.
  2. 2. Làm từ thiện. Chúa bảo việc thứ hai cần làm để được hưởng kho tàng trên trời không phải là tích trữ, mà là cho đi, làm từ thiện giúp người nghèo. Nghe vậy, người ấy buồn bã bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. Ôi, đúng là “đồng tiền liền khúc ruột”, cho đi thì cứ như là rứt ruột ra, xót xa đau lắm! Đời buồn vì giá trị bị đảo lộn: Lẽ ra của cải vật chất phải là cây cầu kết nối con người với Chúa và với nhau, thì nó lại trở thành bức tường ngăn cách nghĩa tình, ngăn cản mong ước Nước Trời.

Thiên Chúa là sự sống và tình yêu. Sống khỏe, sống lâu, sống đời đời là sống theo lời Chúa dạy. Yêu nhau luôn muốn trao tặng, cho đi. Trong tình yêu, cả nhận lẫn người cho đều dạt dào niềm vui. Thế nên mới hiểu tại sao lời Đáp Ca tuần này lại vang lên rằng: “Lạy Chúa, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca.” Amen. 

NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG

Bắc Ninh, Việt Nam

Phone: 0866 015060

From: KimBằng Nguyễn

Tôn Trọng Người Khác Chính Là Mỹ Đức Cao Thượng Nhất Của Đời Người

GÓC SUY GẪM…

Tôn Trọng Người Khác Chính Là Mỹ Đức Cao Thượng Nhất Của Đời Người

“Lòng rộng một thước, con đường sẽ rộng một trượng”. Mở rộng tấm lòng bao dung người khác, bạn sẽ thấy cuộc đời của mình đẹp hơn biết bao nhiêu.

Ngày nọ, có một ông lão ăn mày quần áo rách rưới, đầu tóc bù xù, trên người bốc ra mùi hôi khó chịu dừng chân đứng trước một cửa tiệm bánh ngọt náo nhiệt. Những vị khách mua hàng đứng bên cạnh đều bịt mũi, nhíu mày, tỏ vẻ vô cùng khó chịu với ông lão.

Nhân viên bán hàng quát to:

– “Đi ngay chỗ khác! Đi ngay đi!”.

Người ăn mày lập cập lấy ra mấy đồng tiền lẻ cáu bẩn nói:

– “Tôi đến mua bánh ngọt! Xin hỏi loại nào là nhỏ nhất?”.

Từ bên trong, ông chủ tiệm bánh ngọt rảo bước ra ngoài, niềm nở lấy ra một chiếc bánh ngọt nhỏ xinh, đẹp đẽ từ trong tủ kính đưa cho người ăn mày. Sau đó, ông cúi gập người thật sâu xuống, nói:

– “Cảm ơn quý khách đã chiếu cố mua hàng! Hoan nghênh quý khách lần sau lại tới!”.

Người ăn mày đón chiếc bánh từ ông chủ, mặt hiện rõ vẻ thất kinh, vội quay người rời khỏi tiệm bánh. Trong đời mình, dường như ông chưa từng được đối xử tôn trọng đến vậy!

Cháu trai ông chủ tiệm bánh chứng kiến toàn bộ sự việc, vô cùng thắc mắc, bèn tiến lại hỏi: “Ông nội! Sao ông lại niềm nở với người ăn mày bẩn thỉu đó như vậy ạ?”.

Ông chủ tiệm bánh mỉm cười hiền từ, nhìn cháu trai của mình nói:

– “Dù đó có là một người ăn mày nhưng ông ấy cũng vẫn là khách hàng của chúng ta. Để mua bánh ngọt của cửa hàng chúng ta, ông ấy đã không tiếc tiêu những đồng tiền phải trải qua bao nhiêu vất vả mới kiếm được. Nếu ông không tự mình phục vụ ông ấy thì sao có thể xứng với sự ưu ái người ăn mày ấy dành cho chúng ta đây?”.

Cháu trai ông chủ lại hỏi vặn vẹo:

– “Đã vậy thì vì sao ông vẫn còn lấy tiền của ông ăn mày ấy ạ?”.

Ông chủ cười đáp:

– “Hôm nay, ông ấy đến đây với tư cách là khách hàng chứ không phải là đến để ăn xin cháu ạ! Đương nhiên, chúng ta phải tôn trọng ông ấy chứ! Nếu như ông không lấy tiền thì chẳng phải đã làm nhục ông ấy rồi sao? Nhất định cháu phải nhớ kỹ điều này, hãy tôn trọng từng khách hàng bất kể họ là ai, ngay cả đó là một người ăn mày. Bởi tất thảy những thứ chúng ta có được hôm nay đều là do khách hàng mang lại”. Cậu bé nghe xong gật gật đầu, ra chiều cũng hiểu chuyện.

*******

Chủ tiệm bánh nọ chính là ông nội của tỷ phú Nhật Bản Yoshiaki Tsutsumi hiện nay. Tỷ phú Tsutsumi từng nói:

– “Năm đó, mỗi cử chỉ của ông nội đối với người ăn mày đó đều khắc sâu trong tâm trí tôi”. Về sau, Tsutsumi đã kể lại rất nhiều lần câu chuyện này cho nhân viên của mình nghe để họ học tập cách tôn trọng khách hàng.

Tôn trọng không phải là phép xã giao thông thường để chiều lòng ai đó. Nó đến từ sự thấu hiểu, trân quý và cảm thông, kính trọng lẫn nhau. Đó cũng là thứ tình cảm cao thượng, cho đi và không cầu mong nhận lại. Bạn tôn trọng ai đó không phải bởi muốn được lợi lộc gì từ họ. Đơn giản là vì bạn trân quý họ.

Sự tôn trọng giúp người ta đối đãi với nhau bằng lễ nghĩa chứ không phải ganh đua, tranh đấu.

Tôn trọng thường đi kèm với thiện lương, khoan dung, nhẫn nại.

Người biết tôn trọng người khác cũng sẽ có được vận mệnh tốt đẹp, đi khắp thiên hạ cũng vẫn được quý yêu.

Mạnh Tử từng giảng: “Thương người thì người thương lại mình, kính người thì người kính lại mình“. Vậy nên tôn trọng người khác cũng chính là tự tôn trọng mình.

“Lòng rộng một thước, con đường sẽ rộng một trượng”.

Mở rộng tấm lòng bao dung người khác, bạn sẽ thấy cuộc đời của mình đẹp hơn biết bao nhiêu.

Người làm sếp biết tôn trọng cấp dưới, nhân viên thì công ty thịnh vượng, nhân tâm đoàn kết.

Thương nhân biết tôn trọng khách hàng thì làm ăn xuôi chèo mát mái.

Biết tôn trọng ngay cả chính kẻ thù của mình lại chính là một loại dũng khí, một loại trí huệ.

Khổng Tử nói: “Điều mình không muốn, chớ làm cho người” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Có thể coi đó là điểm mấu chốt nhất của mỹ đức tôn trọng mà chúng ta đang bàn bạc ở đây.

Mỗi người có một cuộc đời được an bài khác nhau, một con đường riêng phải tự mình đi.

Đừng bao giờ cưỡng chế những điều ý chí bạn mong muốn lên bản thân người khác.

Khoan dung, hòa ái, kính trọng lẫn nhau mới chính là nghệ thuật sống cao thượng nhất.

Cuối cùng, khi không thể khoan dung, nhẫn nại và tôn trọng người khác, bạn hãy thử làm theo 3 cách dưới đây:

  1. Chấp nhận sự khác biệt, bao dung, rộng lượng với người khác.
  2. Kiểm soát hành vi của bản thân để cả hai đều cùng là người chiến thắng.
  3. Có thể tiến có thể lùi, chỉ ra sai sót của đối phương bằng sự từ bi, rộng lượng, đừng quá khắt khe, kiêu ngạo, coi thường người khác.

HÌNH:

– Tỷ phú Nhật Bản Yoshiaki Tsutsumi

– Bất kể màu da gì, tôn giáo, phái tính hay giai cấp nào, suy cho cùng bạn hay họ cũng đều là con người với nhau. Đừng phán xét người khác, khi bạn chẳng hơn gì họ.

 S.T.T.DTưởng Năng Tiến – Ăn & Ở

 S.T.T.DTưởng Năng Tiến – Ăn & Ở

Ảnh của tuongnangtien

Thứ Sáu, 10/15/2021 – 06:41 — tuongnangtien

Có anh bạn đồng hương và đồng nghiệp trẻ, sau khi tình cờ biết rằng tôi là dân thuộc bộ lạc Tà Ru (tù ra) bèn nhỏ nhẹ khen:

  • Không thấy ai đi “cải tạo” về mà vẫn lành mạnh, bình thường như chú!

Chưa chắc đó đã là lời chân thật, và dù thật thì e cũng chỉ là câu khen trật (lất) thôi! Nói tình ngay, tôi không được “bình thường” hay “lành mạnh” gì lắm. Tôi ít khi đề cập đến những năm tháng lao tù của mình, giản dị chỉ vì nó rất ngắn ngủi và vô cùng nhạt nhẽo.

Khi có dịp gặp gỡ những vị huynh trưởng, vốn đều là dân từ “chiến khu” ra (Vũ Ánh, Đoàn Viết Hoạt, Vũ Thư Hiên, Thanh Thương Hoàng, Phan Nhật Nam, Bùi Ngọc Tấn, Uyên Thao, Nguyễn Chí Thiện …) tôi luôn luôn chỉ “dựa cột mà nghe” – dù luôn uống khá nhiều – chứ tuyệt nhiên không hề dám “thưa thốt” (hay nói leo) một câu nào ráo.

Tổng cộng số ngày tôi đi “cải tạo”, có lẽ, không nhiều hơn thời gian mà Nguyễn Chí Thiện ngồi trong chuồng xí (sau mấy lần tù) và chắc chưa bằng tổng số đêm mà Vũ Ánh hay Phan Nhật Nam nằm chèo queo trong những xà lim kiên giam ở A 20 – Phú Yên – hay trại 5 Thanh Hóa.

Tôi cũng chả bị vu vạ cho những tội trạng tầy đình (xét lại, âm mưu lật đổ chính quyền, biệt kích cầm bút) như Đoàn Viết Hoạt, Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Uyên Thao, Thanh Thương Hoàng, và vô số tù nhân khác. Tội danh của tôi tuy nghe cũng nặng nề (“cầm súng chống lại nhân dân”) nhưng vì chỉ là một sỹ quan hạng bét, và có hàng trăm ngàn thằng như thế nên không đứa nào bị hỏi cung hay tra vấn gì sất. Cái giá phải trả tương đối cũng nhẹ hều à: lao động cải tạo.

 Chỉ có điều vô cùng “bất tiện” là chúng tôi chả bao giờ được cho ăn uống đàng hoàng hay no đủ cả. Với thời gian, cái đói – dường như – cũng từ lòng ruột “ngấm” luôn vào tiềm thức hay vô thức. Ngay cả trong giấc ngủ, tôi cũng chỉ mơ toàn khoai (với củ) chứ chưa hề thấy cá hấp, vịt quay, gà xối mỡ, chim cút rô ti, hay cua rang me (hoặc rang muối) một lần nào cả.

Tôi đói đến độ có thể nuốt cơm không, chả cần muối mắm gì, cũng vẫn thấy rất ngon. Hạt cơm vào miệng tan thành như sữa, ngấm tận kẽ răng, rồi trôi dần xuống họng. Nó trôi đến đâu là thấm thía, đậm đà, ngọt ngào tới đó.

Cũng từ đó, tôi nhìn thực phẩm (hạt ngô, hột đỗ, muỗm cháo, thìa mỡ, tán đường, cục kẹo …) bằng một đôi mắt khác – trân trọng đến độ bất thường – và hoàn toàn không được “lành mạnh” gì cho lắm! Đôi lúc, tôi lớn tiếng quát tháo con cái (chỉ vì chúng bỏ dở chút thức ăn thôi) rồi cứ ân hận mãi về cái tính khí “không được bình thường” của mình !

Thế hệ chúng tôi không phải là những người Việt đầu tiên sống chung với … đói. Nhiều kẻ cũng bị lâm vào cảnh khốn cùng tương tự, từ giữa thế kỷ trước, dù họ chả có tội tình gì ráo:

Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi

Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!

Hai câu thơ trên Nguyễn Chí Thiện viết từ năm 1964. Mười năm sau, sau khi cuộc chiến Bắc/Nam đã chấm dứt, tình hình – xem ra – cũng không khác trước bao nhiêu:

“Sau năm 1975, chính quyền CSVN cho phép các hộ gia đình được giết mổ lợn vào dịp tết nhưng phải xin giấy phép của UBND xã và nộp thuế sát sinh… Chuyện đụng lợn ngày tết cũng phải nói thêm rằng, đối tượng là những gia đình có mức sống trung bình trở lên chứ những hộ nghèo đói quanh năm thì chỉ dám mua vài cân thịt chui ở chợ đen. Trong 3 ngày tết, họ ăn thịt rang mặn với rau dưa là chính. Chỉ sáng mồng Một tết họ mới dám thịt con gà để cúng tổ tiên. Vì thế, mấy ngày trước tết, nếu nghe tiếng lợn kêu từ nhà nào vọng tới thì họ cũng chỉ biết thở dài và cảm thấy chạnh lòng nhìn lũ con đói cơm, rách áo.” ( FB Lê Hữu Nghiệp. “Đơn Xin Mổ Lợn Thời Bao Cấp” – 09/06/2021).

Miền Nam – tất nhiên – cũng thế, theo như lời của blogger Trần Ngọc Tuấn: “Khoảng thời gian 1976 – 1977…các chợ trời ở Miền Nam như Sài Gòn – Đà Nẵng – Huế không còn thấy sách nữa, thay vào đó là quần áo, máy nghe nhạc Akai, đồng hồ, xe đạp, xe máy, bàn ghế kiểu, salon, tủ chè, tủ lạnh, tivi…và cả bàn thờ…cả trăm thứ đồ dùng dân sự, đồ nhà binh, thượng vàng hạ cám. Điều đó chứng tỏ người dân Miền Nam (tính từ Quảng Trị trở vào) đã lâm vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn về kinh tế, về miếng ăn hàng ngày.

Thời gian, cũng như thời cuộc – may thay – đều không đứng về phía cường quyền nên việc “quản lý bao tử” không thể kéo dài mãi được. Chế độ tem phiếu buộc phải cáo chung. Blogger Lê Bá Vận kết luận: “Cộng sản dù là thứ chính cống cũng chịu hết nổi buộc phải từ bỏ chính sách Bác Hồ bao cấp để sửa sai, đổi mới. Đó là thời kỳ Kinh tế thị trường định hướng XHCN.”  

Kinh Tế Thị Trường không chỉ giúp cho đám đông quần chúng được đủ no mà còn tạo ra một nhu cầu mới cho giới quan chức cao cấp ở Việt Nam, như phản ảnh của báo chí ở xứ sở này:

Điều đang “thách thức” công luận – thực ra – không phải là những biệt phủ/biệt thự nguy nga mà là tình cảnh sống chui rúc (như chuột bọ) của đám đông quần chúng. Báo Lao Động, số ra ngày 28/12/2020, cho biết:

“Theo kết quả kiểm toán chương trình nhà ở xã hội vừa được Kiểm toán Nhà nước công bố, tại Hà Nội, trong giai đoạn 2016-2020, dự kiến có 15 dự án nhà ở xã hội được xây dựng, hoàn thành nhưng đến tháng 7.2020 chưa có dự án nào hoàn thành.”

Toàn là những “dự án ma” thôi thì làm sao mà “hoàn thành” được, mấy cha? Phần lớn dân Việt nay có đủ ăn là đã “hạnh phúc” lắm rồi, chưa ai kịp nghĩ đến chuyện ở đâu. Họ “chỉ mỗi mong có cái bỏ vào mồm” thôi, theo như cách nói của bỉnh bút Thu Trân của trang Việt Nam Thời Báo.  

Ngay cả đến một cặp vợ chồng nghệ sỹ lừng lẫy như Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh mà còn không có một chỗ trú thân tử tế thì nói chi đến đám công nhân lam lũ: Khoảng không gian của anh và em/ Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác/ Anh không giấu em một nghĩ lo nào được/ Ta chỉ có mấy thước vuông để cùng khổ cùng vui.

Vấn đề chỉ trở nên phức tạp khiến thiên hạ lo sợ trong những ngày dịch bệnh vừa qua vì mức độ lây lan nhanh chóng do sự bẩn chật thôi. FB Đào Tuấn tường thuật:  

Thứ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Hồi kể trong đợt khảo sát vừa rồi, ông gặp trường hợp có gia đình 5-6 người sống trong căn phòng chỉ 7m2… Không hiểu họ ăn ở sinh sống thế nào khi mà chỉ thở thôi đã vật vã rồi. Nhưng đó chưa phải là sự tồi tệ nhất. Ông Trần Việt Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM nói: Nhiều phòng trọ chỉ 10m2, mà có tới 10 người chen nhau chung sống.

Trước phong tỏa, họ chia ca ngày đêm đi làm cũng đỡ. Bốn tháng hơn 120 ngày lockdown tất cả chui một chỗ 24/24. Không gian kín mít ở những nhà trọ ổ chuột như này chính là lý do vì sao số F0 dựng đứng suốt mấy tháng giời.

Lockdown không kéo dài hoài. Dịch bệnh rồi cũng sẽ qua thôi nhưng họa cộng sản thì e sẽ còn ở lại lâu.“Những nhà trọ ổ chuột” cũng thế, cũng sẽ tồn tại mãi mãi với chế độ hiện hành. Phát biểu khai mạc Hội Nghị Trung Ương 4, Khóa XIII – hôm 4 tháng 10 năm 2021 – Nguyễn Phú Trọng bầy tỏ sự lo âu:

“Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’ vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”

Trong khi mà người dân đang cuống cuồng (như bầy kiến trên một que sắt nóng) thì điều duy nhất mà ông TBT đương nhiệm quan tâm vẫn chỉ là là sự tồn vong của Đảng và Nhà Nước thôi, chứ còn chuyện ăn ở của đám dân đen thì chưa bao giờ được các đồng chí lãnh đạo mang ra bàn thảo trong suốt bốn kỳ ở Hội Nghị Trung Ương. Quí vị Đại Biểu Quốc Hội cũng vậy, cũng câm như hến ròng rã hai phần ba thế kỷ qua – nếu tính từ năm 1946.

CÁCH ĐỐI XỬ VỚI CON CHÓ NÓI LÊN TA LÀ NGƯỜI

Luân Lê

CÁCH ĐỐI XỬ VỚI CON CHÓ NÓI LÊN TA LÀ NGƯỜI

Điều đầu tiên mà người ta phải đặt ra câu hỏi là: cơ sở pháp lý nào để cho họ đưa đi tiêu huỷ 15 con chó của người khác? Nếu không dựa vào căn cứ và thủ tục nào, hành vi đó đã có dấu hiệu và có thể cấu thành tội (cố ý) huỷ hoại tài sản (15 con chó là một tài sản có giá trị, nếu được định giá, ít nhất sẽ khoảng 2 triệu đồng một con).

Điều thứ hai, sau khi tạm đặt sang một bên cơ sở thứ nhất để truy đến cùng hành vi về mặt hậu quả và các thiệt hại của nó, người ta phải hỏi đến động cơ hoặc lý do đạo đức nào của con người để mang những sinh vật sống bình thường đi tiêu huỷ?

Sau cả hai câu hỏi truy nguyên, người ta không thể tìm ra cơn do nào thoả đáng và đúng đắn để bảo vệ hoặc gỡ gạc lại cho hành vi huỷ hoại sự sống hết sức man rợ, tước đoạt và huỷ hoại tài sản một cách hết sức vô lý như thế, thì nó phải bị trừng phạt xứng đáng vì đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội về mọi khía cạnh.

Nếu chỉ một sự quấy quả của một người khác sẽ bị quy cho là chống lại người có trách nhiệm chống dịch, thì những người nhân danh chống dịch để công nhiên gây tổn hại tới nhân phẩm, tài sản của người khác sẽ được loại trừ bằng một thứ luật pháp chênh lệch và có lựa chọn?

họ dường như không có cách gì khác để cố tìm cách giải quyết vấn đề, hầu hết họ chỉ tập trung vào sự phá hoại để không còn đối tượng mà khỏi phải nhọc công dùng đến trí óc và đạo đức con người nữa.Hành vi tiêu huỷ 15 con chó một cách vô đạo ấy, nói lên phẩm chất của cả sự giáo dục và tầm mức nhận thức đối với con người và thế giới vạn vật xung quanh, của xứ sở mà nó hiện hữu. Ngoài vấn đề ấy, ta có thể thấy, trước các biến cố,

May be an image of 1 person and dog

Bài diễn văn chỉ vỏn vẹn 375 chữ của luật sư George Graham Vest

Võ Hồng Ly

10.10.2021

Bài từ trang nhà báo Chu Vĩnh Hải:

Năm 1870, luật sư George Graham Vest (1830-1904) nhận bảo vệ cho một người thợ săn kiện người chăn cừu đã giết chết con chó của mình. Bằng những lời ngợi ca con chó, ông đã thuyết phục được toàn thể hội thẩm đoàn và thân chủ của ông đã thắng kiện.

Bài diễn văn được lưu hành trong văn học Mỹ với cái tên “A Tribute to the Dog” và được tờ New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất trong tất cả những bài diễn văn trên thế giới trong 1000 năm qua. Thậm chí trước trụ sở tòa án tại Warrensburg, bang Missouri, người ta đã dựng tượng đài một con chó kèm theo “A Tribute to the Dog” để đánh dấu sự kiện lịch sử này.

Dưới đây là bài bảo vệ thân chủ chỉ vỏn vẹn 375 chữ của luật sư George Graham Vest:

“Thưa hội thẩm đoàn,

Người bạn tốt nhất mà ta có được trên đời này có thể quay lưng chống lại ta và biến thành kẻ thù của ta.

Con cái mà ta hằng yêu thương chăm sóc có thể trở thành những đứa vô ơn bạc nghĩa.

Những người gần gũi và thân thiết với ta nhất, những người mà ta tin tưởng đem giao phó hạnh phúc và danh dự của mình, một ngày nào đó có thể trở thành những kẻ phản bội.

Tiền bạc mà ta có được có thể sẽ mất đi, mất ngay vào lúc ta cần nó nhất. Danh tiếng của con người có thể tiêu tan trong khoảnh khắc vì một hành vi nông nổi. Những kẻ từng quỳ gối tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể trở thành những kẻ đầu tiên ném vào ta hòn đá hiểm độc khi bóng mây sa cơ lỡ vận phủ xuống đầu ta.

Trên thế gian vụ lợi ích kỷ này, con người chỉ có thể có được một người bạn vô tư không điều kiện, một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ vô ơn bạc nghĩa, không bao giờ phản bội, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta, dù ta giàu sang hay ta nghèo khó, dù ta khỏe mạnh hay ta ốm đau bệnh tật. Nó ngủ dưới nền đất lạnh, bất chấp giá rét mùa đông hay bão tuyết, miễn sao được ở gần ta. Nó vẫn hôn vào bàn tay ta dù ta không còn thức ăn gì cho nó.

Nó liếm vào những vết thương và những chỗ ta đau đớn khi va chạm với sự tàn bạo của cuộc đời. Nó canh giấc ngủ cho ta khi ta là kẻ cùng khốn cũng giống như khi ta là một ông hoàng.

Khi tất cả bạn bè đều rời xa ta, riêng con chó thì ở lại. Khi ta mất hết của cải, thân bại danh liệt, thì tình yêu thủy chung của con chó đối với ta vẫn ngời sáng như ánh mặt trời xuyên thấu chín tầng mây.

Nếu chẳng may ta bị cuộc đời ruồng bỏ, rơi vào cảnh không bạn bè không nhà cửa, thì đối với con chó trung thành, không có một đặc ân nào cao hơn là được ở bên cạnh ta, để bảo vệ ta chống lại những hiểm nguy, chống lại kẻ thù.

Và đến lúc cuộc đời ta kết thúc, thần chết rước ta đi và thân xác ta nằm dưới lòng đất lạnh, khi người thân bạn bè đưa tiễn đã quay về để tiếp tục bận rộn với cuộc sống của họ, thì con chó cao quý vẫn còn nằm bên nấm mồ ta, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn nhưng vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết.”

______

Nguồn: nhà báo Phương Nam./.

Vô sản thời Covid

Vô sản thời Covid

Bởi  AdminTD

Lâm Bình Duy Nhiên

10-10-2021

Câu chuyện của anh Phạm Văn Hùng cùng vợ và 15 con chó “tháo chạy” từ Long An về quê Cà Mau, đã mang lại sự cảm động nơi nhiều người.

Nhưng điều khiến chúng ta căm phẫn chính là đàn chó của vợ chồng anh đã bị cơ quan chức năng “thủ tiêu” vì lý do chúng bị “dương tính bởi một loại virus nào đó“!

Ai tin vào khả năng và kiến thức của các nhân viên y tế cấp xã, cấp huyện hay cấp tỉnh này?

Từ giết thú đến sát hại con người, con đường tội lỗi chẳng bao xa…

Dẫu sự thật ra sao thì đó cũng là một hành động tàn nhẫn của một chính quyền tàn bạo, từ mọi cấp độ, trong cách hành xử và đối phó với nguy hiểm.

Người dân nghèo khó vì cách phòng chống dịch của chính quyền nên tìm đường bỏ về quê. Gia tài họ vỏn vẹn gói trọn trong những gói đồ hay những con vật thân thương. Tất cả cũng chẳng còn gì sau muôn vàn khó khăn, vất vả!

Giãn cách, phong tỏa nghiêm ngặt nhưng không hề đưa ra một giải pháp nhân văn nào để trợ giúp người dân, nhất là giới lao động nghèo và các hãng xưởng. Bỏ mặt họ trong túng quẫn, đói khổ và căng thẳng về tâm lý chỉ nhằm chống dịch sao cho “hiệu quả” để lấy tiếng với cộng đồng quốc tế. Rất nhiều điều phi lý và nực cười trong những quyết định và chỉ thị phòng chống dịch của nhà nước. Chính quyền dường như không muốn nhìn thấy những bài học của thế giới sau hơn một năm bị Covid hoành hành!

Khi người dân chưa được tiêm vắc-xin một cách kịp thời và chỉ nhận được đôi bao mì gói, ít chai nước tương, nước mắm hay vài ký gạo để “đồng lòng chống dịch” thì những kẻ giàu có, quyền thế vẫn được ưu tiên chăm lo và tiếp tục sống trong nhung lụa. Đó chính là tột đỉnh của sự bất công!

Tựu trung chỉ có dân nghèo đã phải trả giá quá đắt cho cách chống dịch cực đoan, bảo thủ và tàn nhẫn của chế độ.

Giai cấp lao động, vô sản đã góp phần xương máu để giúp người cộng sản nắm quyền. Họ vẫn là con cờ của chế độ trong sự tuyên truyền giáo điều về “sứ mệnh và vai trò lịch sử” của họ trong “công cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản”.

Thực tế thì họ đã bị bỏ mặc vào lãng quên bởi kẻ cầm quyền. “Sống chết mặc bay”, giới cầm quyền tha hồ làm giàu trên mồ hôi và nước mắt của người nghèo! “Cuộc cách mạng vô sản” đã tạo nên một giai cấp tư sản khác, tàn nhẫn hơn, bóc lột hơn, đó chính là “giai cấp tư sản – mafia đỏ”. Những nhóm lợi ích, quan chức và thân đảng, tha hồ làm giàu một cách bất chính. Chính họ đã gây nên sự bất công giữa các tầng lớp trong xã hội. Thao túng quyền lực, kinh tế và tài chính nhằm làm giàu cho cá nhân, gia đình, tập đoàn và cho đảng mới chính là “sứ mệnh lịch sử” của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Một cuộc cách mạng đẫm máu và dối trá mà nạn nhân chỉ là người nghèo, thấp cổ bé họng.

Vô sản muôn đời vẫn “vô sản”! Khốn nạn thay!

Covid 19 đã phơi bày, một lần nữa, bản chất thật, thú tính của chính quyền.

Tại Nó Chớ Ai 

Tại Nó Chớ Ai 

Tưởng Năng Tiến

 Có lẽ không người ngoại quốc nào đã để lại ấn tượng sâu đậm nơi nước Việt, như bác Lê Nin. Chỉ riêng bức tượng của Người tại Hà Nội (thôi) cũng đủ khiến cho lắm người thắc mắc: Ông Lênin ở nước Nga/ Cớ sao ông đến vườn hoa nước này?

Cớ sao ư? Báo Nhân Dân, số ra ngày 23 tháng 04 năm 2010, nêu rõ: “Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lê-nin là một cuộc gặp lịch sử… Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên.”

Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ … các thứ.

Ngoài Lenin và Karl Marx, bác Hồ còn “nhập khẩu” nhiều vỹ nhân khác nữa (Engels, Stalin, Mao Zedong …) và tất cả đều được “mạ đồng/mạ kền” sáng chói khiến không ít người dân Việt đã hết lòng sùng kính:  

 “Năm ấy anh mười tám tuổi. Cả làng đói lăn chiêng. Ai cũng lo đi kiếm miếng ăn hàng ngày. Thế mà bỗng nhiên anh đi biền biệt suốt nửa tháng trời, đêm không ngủ ở nhà. Thỉnh thoảng anh mới về nhà lấy cái quần cái áo, rồi lại đi ngay…

Có một lần nhà vắng người, anh rút trong người ra một cuốn sổ to bằng bàn tay, dày chừng một trăm trang, rồi bảo tôi ngồi ngay ngắn trên ghế đẩu, đưa cuốn sổ cho tôi xem. Anh không cho tôi sờ tay vào, mà tự tay anh giở từng trang.

Tôi hồi hộp dán mắt vào: Chà, thích quá, toàn ảnh, trang nào cũng dán vài tấm ảnh. Những tấm ảnh thiêng liêng: Các Mác, Ăng- ghen, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Sta-lin … (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. NXB Hội Nhà Văn: Hà Nội, 2007. Bản điện tử do talawas thực hiện).

Cái đám “cầm lái vỹ đại” này chỉ hết “thiêng liêng” sau khi bào huynh của tác giả – Võ Quang Hiền – tham gia vào Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953 – 1956) ngay tại làng quê của mình. Từ đó, ông “tự diễn biến/tự chuyển hóa” rất nhiều và cũng rất nhanh:

 “Con đường tham gia công tác xã hội của anh xuống từng nấc thang: sĩ quan quân đội, cải cách ruộng đất, cán bộ thông tin xóm, Đảng viên trơn… và cuối cùng là phó thường dân! Tưởng là ‘dứt bỏ đường công danh’, vui thú điền viên tham gia việc làng việc xóm cho vui, đến bây giờ anh mới nhận thức ra rằng việc làng việc xóm cũng là việc xã hội, mà làm ‘việc xã hội’ là thế nào cũng bị va chạm, xô xát.

Anh hoàn toàn dành thì giờ lo việc gia đình nhưng vẫn bị Đảng uỷ để ý, cho là ‘phần tử bất mãn’, là ‘cố ý chống đối’… Thì ra cái ‘cọng rêu dưới đáy ao’ mà anh tưởng là ‘yên thân’ như các nhà nho ngày trước, có ngờ đâu cái cọng rêu ấy trong thời buổi này cũng phải đối mặt với mọi biến động của xã hội…”

Chung cuộc, kẻ “bất mãn” và “cố ý chống đối” bị các đồng chí của mình … “hành” cho đến chết luôn:

“Tôi đặt lên ngôi mộ tấm ảnh của anh – không phải tấm ảnh gày gò của ông lão sáu mươi, mà là tấm ảnh người thanh niên cường tráng những năm tháng hào hùng ở Việt Bắc: mặc áo trấn thủ, đội mũ lưới đính quân hiệu. Hàng trăm cặp mắt chăm chăm nhìn vào tấm ảnh, chợt thức dậy trong tiềm thức của họ những kỷ niệm về anh và về làng xóm thuở Cách mạng sơ khai.”

Nhà văn Võ Văn Trực quả là khéo nói (hay khéo lách) chớ cách mạng thì bao giờ mà chả thế – bất kể “sơ khai” hoặc “thoái trào” – và lúc nào mà không “chuyên chính” với những kẻ đi trật đường ray Cộng Sản.

Vi Đức Hồi – nguyên trưởng ban tuyên giáo, giám đốc trường đảng, thường vụ huyện ủy huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn – là một nạn nhân tiêu biểu của Đảng và Nhà Nước VN, vào giai đoạn “thoái trào” này. Tuy thuộc thế hệ đến sau nhưng ông vẫn trưởng thành với niềm tin (hừng hực) không khác chi lớp tiên phong.

Hồi ký (Đối Mặt) của ông ghi lại không ít những câu chữ “sung sướng” đến ngất ngây:

“Khi tôi đọc cương lĩnh đầu tiên của đảng năm 1930, tôi thật sung sướng vì đảng chỉ ra rằng: Khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đảng đưa cả nước ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Xã hội mà đảng hướng tới là một xã hội đỉnh cao của sự văn minh nhân loại, ở đó sẽ không còn chế độ người bóc lột người, mọi người sống với nhau bình đẳng bác ái, nhà nước là của dân, do dân và vì dân…”

Nội dung Cương Lĩnh Đầu Tiên của Đảng (ta) e chỉ là bản copy Luận Cương Của Lenin thôi chớ không có chi khác cả, ngoài vài chỗ ngắt câu, và mấy dấu chấm phẩy. Bởi thế nên Vi Đức Hồi không “sung sướng” được luôn, và cũng chả được lâu. Những trang sau trong cuốn hồi ký Đối Mặt, không thiếu những cụm từ vô cùng cay đắng: “đảng nói không biết ngượng, đảng nói một đàng làm một nẻo, đảng nói như hát hay…”

Mỗi lúc ông một thêm xa lánh Đảng, rồi trở nên “đối mặt” với nó, và bị khai trừ. Sau đó – cũng như ông Võ Quang Hiền, hồi giữa thế kỷ trước – Vi Đức Hồi cũng quyết định biến mình thành một “cọng rêu dưới đáy ao,” nơi làng quê khốn khó của mình:

 “Quê tôi, một trong những Xã nghèo nhất Nước ta, là một trong 9 Xã của Tỉnh Lạng sơn và là một trong hai Xã duy nhất của Huyện Hữu lũng chưa có bóng dáng điện lưới quốc gia; là Xã vùng sâu,vùng xa, Xã đặc biệt khó khăn …

Tôi mua được một chục cặp lợn con, giúp cho 10 hộ nghèo nhất ở làng tôi để họ chăn nuôi, khi nào lợn xuất chuồng bán thì hoàn trả gốc cho tôi, để tôi chuyển cho hộ khác. Nhiều người phấn khởi, nhận lợn và cảm ơn.

Tin này Xã báo cáo Huyện… Thường trực Huyện uỷ triệu tập cuộc họp cán bộ chủ chốt ở xã Tân lập (quê tôi) để nghe cơ sở báo cáo tình hình. Huyện uỷ quán triệt: đây là một trong những âm mưu rất nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, hơn lúc nào hết, chúng ta phải nêu cao cảnh giác cách mạng, chặn đứng mọi hành động nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân, gây mất ổn định an ninh chính trị…”

Thế là thay vì trở thành một cọng rêu để có thể được nằm yên dưới đáy ao, Vi Đức Hồi phải nằm trong lòng nhà tù cách mạng.

Câu chuyện của các bác Mác/Lê qua hai thế hệ người Việt thượng dẫn (tưởng) cũng đã đủ ê chề nhưng chưa hết. Cuối tháng 9 năm 2021, báo đài Nhà Nước đều đồng loạt và hớn hở loan tin:

Con cái nhà ai mà quá đã (và quá đáng) vậy, Trời? Thiệt là vô phúc. Cũng tại NÓ hết trơn chớ còn ai vô đây nữa!

Tưởng Năng Tiến
10/2021

KHÔNG HIỂU, CŨNG KHÔNG DÁM HỎI

 KHÔNG HIỂU, CŨNG KHÔNG DÁM HỎI

“Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, khi Chúa Giêsu tiết lộ lần thứ hai cuộc thương khó của Ngài, “Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời!”; thánh Luca cho biết, “Các môn đệ không hiểu lời đó, vì nó còn bị che khuất”. Và thật thú vị, các ông ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’ Ngài về lời ấy!

Nếu Chúa Giêsu nói, ‘Ngày mai Thầy sẽ đăng quang, làm vua’; các môn đệ sẽ hiểu ngay! Vậy tại sao ở đây họ không hiểu? Trước hết, vì lòng trí họ đang bận tâm về lợi lộc trần thế; điều Chúa Giêsu nói, quá nghịch thường với điều họ kỳ vọng. Thứ đến, họ quá gắn bó với Chúa Giêsu về mặt tình cảm; dẫu đây là điều tốt. Vì một khi tình cảm lấn át lý trí, họ sẽ không hiểu được kế hoạch tiềm ẩn của Chúa Cha trên Thầy mình. Tình cảm phải luôn được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Họ ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’ chỉ vì tình cảm đã trở nên vật cản, ngăn họ thấu hiểu một ý nhiệm lớn lao nơi Thầy mình, dâng mạng sống cho công trình cứu độ vĩ đại của Chúa Cha!

Phần chúng ta, mỗi khi đối mặt với thập giá, chúng ta thường phản ứng như các môn đệ. Được mời gọi tự do ôm lấy một thập giá nào đó, sự thường, chúng ta sẽ chống lại nó; chúng ta trở nên bối rối, thậm chí, lo sợ tương lai. Vì vậy, cách duy nhất để chiến thắng nỗi sợ là thinh lặng, nhìn lên thập giá Chúa Giêsu; tìm giải pháp để đối mặt với nó, và xin ơn trợ giúp; đồng thời, phó dâng mọi cảm xúc, gắn bó và tình cảm của mình cho ý muốn trọn hảo tối thượng của Thiên Chúa; để làm sao, ý muốn của chúng ta có thể giao thoa trong cùng một quỹ đạo với ý muốn của Ngài.

Bên cạnh Acutis, Boccolini, Giáo Hội còn có một vị thánh trẻ dễ thương khác, đó là chân phước người Ý, Chiara Luce Badano. Luce qua đời 1990, khi cô vui lòng chấp nhận cái chết lúc 18 tuổi, những mong kết hiệp với Chúa Giêsu trên thập giá. Luce sinh động, hồn nhiên, yêu đời. Mùa hè 1988, trong khi chơi tennis, Luce đau nhói ở vai, đó là biểu hiện của ung thư xương. Cô tuyên bố, “Con xin dâng đau khổ này cho Chúa, ôi Giêsu! Chúa muốn thế, con cũng muốn thế!”. Luce từ chối morphine để được dễ chịu; với cô, quan trọng là có thể dâng Chúa đau khổ của mình, “Tôi muốn được chia sẻ càng nhiều càng tốt các đau khổ của Ngài”. Một người bạn nói, “Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng, cần phải đến thăm Luce; nhưng ngay sau đó, chúng tôi hiểu, chúng tôi cần cô. Cuộc sống của Luce như một nam châm thu hút chúng tôi”. Luce luôn giữ tinh thần vui vẻ; một lọn tóc rơi, Luce đơn giản thân thưa, “Này đây, quà con dâng Chúa!”. Cả sau khi liệt toàn thân, cô nói, “Nếu phải lựa chọn giữa việc đi bộ một lần nữa và lên thiên đàng, tôi sẽ chọn thiên đàng!”. Luce tặng số tiền tiết kiệm cho một người bạn truyền giáo ở châu Phi, “Tôi không cần nữa. Tôi đã có mọi thứ!”. Với mẹ, Luce lên kế hoạch cho ‘đám cưới’ của mình; từ bài hát, bông hoa đến các bài đọc Lễ an táng; một chiếc áo trắng với thắt lưng hồng, bởi cái chết sẽ cho phép Luce thành ‘cô dâu’ của Đức Kitô. Trước khi chết, Luce nói với mẹ, “Oh Mamma, những người trẻ, những người trẻ! Họ là tương lai. Mẹ biết không, con không thể chạy được nữa, nhưng con nóng lòng truyền cho họ một ngọn đuốc như trong thế vận hội! Những người trẻ chỉ có một cuộc sống, và nó đáng giá để sống cho tốt!”; “Chào tạm biệt mẹ, mẹ phải vui lên vì con đang rất vui!”.

Anh Chị em,

Giây phút cuối đời, Luce nóng lòng truyền lửa cho người trẻ; nhờ đó, họ biết sử dụng cuộc đời, kể cả đau khổ, cho có ý nghĩa; Chúa Giêsu cũng đã nóng lòng như thế khi tiết lộ cuộc thương khó của Ngài, nhưng các môn đệ ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’. Luce hiểu! Mẹ Maria hiểu hơn! Dĩ nhiên, Mẹ biết, Mẹ đau buồn, nhưng là một nỗi đau buồn thánh thiện! Chính sự hoàn hảo nơi Mẹ khiến Mẹ không chỉ hiểu và chấp nhận cuộc thương khó của Con, nhưng Mẹ còn muốn điều đó xảy ra trong trái tim bị đâm thâu của Mẹ. Bởi lẽ, trong Mẹ, không có một mâu thuẫn nào giữa thánh ý Thiên Chúa và ý muốn thánh thiện của Mẹ. Mẹ được gọi là “Nữ tử Sion, có Chúa ở cùng!” như bài đọc Zacharia hôm nay tiên báo; Mẹ tin, “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!” như lời Thánh Vịnh đáp ca. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta ôm lấy thập giá đời mình, mặc cho nó một ý nghĩa cứu độ như Luce, như Maria, như bao tâm hồn thánh thiện!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước thập giá đời con, nhiều lúc con ‘không hiểu, cũng không dám hỏi’. Xin cho con biết quỳ gối chiêm ngắm thập giá Chúa, hầu con đủ sức ôm lấy nó, để đền tội con, đền tội các linh hồn; cứu rỗi chính con và cứu rỗi cả thế giới!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: ngocnga_12 & ThuNNguyen

TÔI PHẢI LÀM GÌ?

TÔI PHẢI LÀM GÌ?  

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Một bạn trẻ đã đến với Chúa Giêsu và đặt câu hỏi: Thưa Thày, tôi phải làm gì?  Bạn trẻ này là đại diện của số đông những người đang đi kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời.  Quả vậy, cuộc sống là một hành trình liên lỉ kiếm tìm hạnh phúc.  Có điều là quan niệm về hạnh phúc nơi mỗi người lại khác nhau.  Chàng thanh niên trong Tin Mừng được kể là một người đạo hạnh.  Từ thuở nhỏ, anh nghiêm túc tuân giữ những gì Chúa dạy trong luật Môisen: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ.  Anh rất tự tin để khẳng định với Chúa Giêsu về những thực hành đạo đức của mình.  Tuy vậy, Chúa muốn cho anh tiến xa hơn trên con đường trọn lành.  Xem ra Chúa chưa hài lòng về những gì anh đã và đang làm.  Người đặt ra một điều kiện: ai muốn theo Chúa thì phải từ bỏ mọi sự.  Khi Người yêu cầu người thanh niên bán hết mọi gia sản, tức là Người đòi hỏi anh phải từ bỏ những gì gắn bó, thậm chí từ bỏ chính bản thân để theo Chúa.

Tôi phải làm gì?  Đó cũng là câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra thường xuyên, để lượng giá những việc mình đang làm, và mục đích mình đang hướng tới.  Câu hỏi này cũng giúp chúng ta nhìn lại bản thân, để nhận ra sứ vụ mà Chúa muốn mình phải thực hiện trong cuộc sống.  Sống trên đời, mỗi người có một sứ vụ phải hoàn thành.  Tuy vậy, để nhận ra sứ vụ đích thực của cuộc đời là một vấn đề khó khăn.  Có nhiều người long đong lận đận, ôm nhiều ảo mộng, nên đã ở tuổi xế chiều vẫn chưa xác định được sứ mạng cuộc đời của mình.

Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?  Thưa cần có ơn khôn ngoan.  Bài đọc I chỉ cho chúng ta thấy sự cần thiết của ơn khôn ngoan.  Tác giả đã nói đến giá trị của sự khôn ngoan như sau: “Đem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không.  Tôi cũng không so sánh nó với kim cương, vì mọi thứ vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn.”  Theo giáo huấn của Giáo Hội, ơn khôn ngoan là một trong bảy ơn của Chúa Thánh Thần.  Ơn này giúp chúng ta nhìn rõ bản chất của sự việc hay của một con người, chứ không quan sát theo cảm tính hay theo vẻ hào nhoáng bên ngoài.  Vì những gì bóng bẩy bên ngoài thì hay đánh lừa giác quan.  Giống như cách tiếp thị của dịch vụ quảng cảo trên các phương tiện truyền thông.  Trong số những quảng cáo này, có nhiều sản phẩm là hàng giả hoặc kém chất lượng, nhiều người đã bị lừa và tiền mất tật mang.

Cũng theo giáo huấn của Giáo Hội, sự khôn ngoan đích thực là Thiên Chúa.  Sự khôn ngoan ấy được ngôi vị hoá nơi Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Kitô.  Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Người là Đấng Cứu độ trần gian.  Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống.”  Qua lời tuyên bố này, Người khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Người dẫn tới Chúa Cha, là nguồn mạch của mọi ơn phúc.

Tin vào Đức Giêsu Kitô, đó là bí quyết để đạt được khôn ngoan và cũng đạt được hạnh phúc đời này và đời sau.  Khi nghe Chúa Giêsu so sánh việc vào nước trời khó khăn giống như con lạc đà chui qua lỗ kim, thánh Phêrô đã nói với Chúa: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.”  Lời thánh Phêrô diễn tả mối băn khoăn của ông khi theo Chúa.  Đó cũng là mối băn khoăn của chúng ta: theo Chúa thì được gì?  biết bao nhiêu người không theo Chúa mà cũng hạnh phúc sung sướng.  Chúa hứa với thánh Phêrô và các môn đệ: họ sẽ được gấp trăm những gì họ đã từ bỏ vì Chúa.  Thực tế đã chứng minh: đối với linh mục và tu sĩ, là những người từ bỏ mọi sự trần gian để theo Chúa, Chúa ban cho họ gấp trăm, thậm chí gấp ngàn lần.

Cùng với tác giả Thánh Vịnh 89, chúng ta cầu nguyện: “Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con.”  Giữa thời buổi bất an và tràn ngập những ưu tư lo lắng, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn khôn ngoan và nghị lực để chúng ta can đảm chọn lựa Chúa, với xác tín Chúa sẽ thưởng gấp trăm những gì chúng ta dám hy sinh vì Ngài.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

VIẾT TÀO LAO TRONG BUỔI CHIỀU

   VIẾT TÀO LAO TRONG BUỔI CHIỀU
         (Đỗ Duy Ngọc)

 Con người ta hình như đến một tuổi nào đó sẽ ngộ ra rằng cuộc đời thật ra chẳng có gì quan trọng. Cuối cùng rồi như nhau cả. Bạn có thể có một cuộc đời sung sướng, hạnh phúc hay bạn đã phải lầm than, nghèo túng, khổ đau. Cuối con đường có khác gì nhau đâu. Lúc xuôi tay, quân vương hay kẻ cơ hàn đều là sự giã biệt. Có thể có kẻ sẽ có tiền hô hậu ủng, kèn trống vang trời. Có người bó trong chiếc chiếu rách đi giữa mưa rơi. Nhưng cả hai đều chẳng còn biết gì, tất cả đều đang làm cho người sống.

 Đến một tuổi nào đó, người ra sẽ nghiệm thấy rằng cuộc đời chỉ là con số không to tướng. Sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất hút. Mọi thứ danh vọng chỉ là trò hư ảo. Mọi thứ của cải làm ra cũng chỉ là thứ phù phiếm có rồi mất. Mọi thứ hoan lạc hay khổ ải cũng chỉ là gia vị của cuộc đời. Sinh ra thì phải sống, phải chiến đấu để tồn tại, phải khát vọng để vươn lên. Thế rồi, khi tuổi già đã tới, những bi kịch của tàn phai tác động đến mỗi người, sẽ thấy hoá ra mình đã bỏ cả tuổi thanh xuân để chạy theo toàn những thứ ảo vọng. Tranh dành nhau cái danh, lấn lướt nhau đoạt lợi. Được danh lợi rồi lại tham vọng nhiều hơn, lớn hơn. Cuối cùng cũng chỉ là một cuộc chơi, để rồi trắng tay lúc trở về cát bụi.

 Đến một thời điểm nào đó của cuộc sống, nhìn lại đọan đường ta đã đi, ta phát hiện ta chỉ để lại lắm điều lầm lỗi. Lầm lỗi với cha mẹ, với những người thân yêu. Lầm lỗi với bạn bè, với xã hội. Lầm lỗi với những người ta đã gặp, những người đã đi qua đời ta. Tất cả đều do cái tôi quá lớn của mỗi người. Không biết quên mình mà chỉ sống cho mình. Do vậy, những suy nghĩ và hành động ích kỷ cứ mãi quẩn quanh để đưa đến lỗi lầm tiếp nối nhau.

 Sống đến tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng tự thắng được mình mới là điều quan trọng. Tuổi trẻ háo thắng chỉ chăm chăm thắng người, hơn người. Cảm thấy tự mãn và sung sướng trong thắng lợi. Có biết đâu rằng cái thắng lợi mình có là cái thất bại và đớn đau cho người khác. Đâu có biết rằng chính cái thắng lợi ấy là chiếc bẫy tiếp theo của cuộc đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, tự thắng chính mình là điều khó nhất. Làm được điều đó là ta đã có thể tự hào.

 Đến một tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng lắng nghe mới là điều cần thiết. Biết lắng nghe là biết thu thập cả thế giới cho riêng mình. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái phân minh. Biết lắng nghe thì mới có chia sẻ. Muốn lắng nghe thì phải học im lặng. Con người ta chỉ mất vài năm để học nói, nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng để lắng nghe. Không chỉ lắng nghe ngôn ngữ của con người, ta phải tập lắng nghe tiếng của thiên nhiên, tiếng của cỏ cây, giun dế, của gió, của nắng, của mưa bão. Tiếng sóng vỗ, tiếng chim kêu đều mang lại cho ta những cảm xúc của cuộc đời. Thiếu chúng nó, cuộc đời chỉ là khoảng trống vô vị.

 Tới một tuổi nào đó, con người nên đến với thế nhân bằng những nụ cười. Hãy cười với nhau bằng tâm hồn mở tất cả các cửa, với tấm lòng thân thiện. Hãy chào nhau dù chỉ gặp một lần vì biết đâu ngày mai không còn cơ hội để gặp, không còn dịp để gởi nhau nụ cười. Sinh tử là ranh giới mỏng manh. Đời vốn vô thường. Già sẽ đưa đến tật bệnh, bệnh làm cho người ta héo úa, đau đớn khó chịu. Nếu lạc quan và trang bị nụ cười với mọi người, nỗi đau sẽ giảm đi, héo úa sẽ bớt đi, nụ cười chính là son phấn trang điểm cho tuổi già.

 Đến một tuổi nào đó, con người sẽ hiểu được rằng điều cơ bản của con người là sự cô đơn. Con người sinh ra một mình và mất đi cũng chỉ một mình. Không ai sống thay ta và cũng chẳng ai chết thay ta. Gia đình, chồng vợ, con cái, bạn bè đều là người thân đấy, nhưng mỗi người có một cuộc sống, mỗi người có mỗi số phận và định mệnh riêng. Do vậy, mỗi người phải tự quyết định đời mình, không chờ đợi một ai có thể thay mình. Trong hành trình sống, con người là một thực thể cô độc, không ai hoán đổi được. Tới tuổi già chính là lúc gặm nhấm nỗi cô đơn nhiều nhất.

 Tới một lúc nào đó, người ta hiểu được là sống là để làm cho đủ bốn bổn phận đối với cuộc đời. Bổn phận với quá khứ là trả hiếu với mẹ cha. Bổn phận với tương lai là nuôi dạy con cái. Bổn phận với cuộc sống là giúp đỡ kẻ hoạn nạn, yêu thương mọi người và cuối cùng là bổn phận lấp đầy đời mình bằng tiêu pha, sinh hoạt hàng ngày. Con người làm ra tiền dù ít hay nhiều cũng chỉ quẩn quanh từng đó bổn phận. Có kẻ làm không đủ thì là thiếu trách nhiệm. Thế cho nên làm người là làm tròn bổn phận. Tới tuổi già, làm xong bổn phận ta có thể ung dung để hưởng những ngày còn lại trong sự thanh thản.

 Đến một lúc nào đó người ta sẽ có những nuối tiếc. Tiếc vì chưa làm được những điều muốn làm, chưa đến được những nơi muốn đến. Quỹ thời gian không còn, chuyến tàu sầm sập đến hoàng hôn. Chợt giật mình thời gian quá ngắn. Bởi thế nên muốn làm gì thì làm ngay, muốn đi đâu thì đừng lần lửa. Có ước muốn thì hãy thực hiện,…. Nhưng mà nếu tha thứ được thì nên tha thứ, nếu quên được thì nên quên.

 Sống tập quên cái cần quên cũng là một thứ thuốc chữa tâm hồn. Nhớ nhiều chỉ vác nặng. Sống mà mang nặng quá chỉ khổ thân.

 (Đỗ Duy Ngọc)

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen