Vì Sao Người Mỹ Thường Không Thể Hiện Sự Giàu Có?

GÓC SUY GẪM…

“Dù bạn có cố gắng khoác bộ lông sặc sỡ lên con chim Trĩ thì nó cũng không thể biến thành con Công”.

***

Vì Sao Người Mỹ Thường Không Thể Hiện Sự Giàu Có?

Đa số người Mỹ thường không thể hiện sự giàu có, họ dùng tiền để trang trải cuộc sống của bản thân, chăm sóc người thân và gia đình.

Gia đình Cameron sống ở căn nhà đối diện nhà tôi là một gia đình trung lưu điển hình ở Mỹ. Người chồng Antony là quản lý cấp trung của một công ty tài chính, vợ anh Meryl là giáo viên tiểu học, thu nhập thuộc giai cấp trung lưu. Nhưng mỗi lần nhìn thấy đôi vợ chồng này, tôi luôn nhận thấy cách ăn mặc của họ đều không khác gì người bình thường cả.

Cuối năm 2008, những người ở khu tôi sống muốn tổ chức tiệc mừng năm mới, đây cũng là lần đầu tiên tôi tham gia các hoạt động xã giao, vì thế tôi đặc biệt bỏ 300 USD thuê một bộ lễ phục thương hiệu Prada (một thương hiệu trời trang cao cấp và xa xỉ bậc nhất nước Ý), hy vọng cách này có thể giúp tôi hòa nhập.

Tôi nghĩ hẳn Meryl cũng sẽ thể hiện “thực lực” ẩn giấu của cô ấy ở nơi như vậy. Nhưng tối hôm đó, cô ấy chỉ mặc một bộ lễ phục thương hiệu CK màu xanh nhạt khiến tôi rất bất ngờ. Và Meryl giải thích việc cô ấy chọn hiệu CK là vì nó phù hợp với tầng lớp trung lưu như cô ấy.

Meryl đã dùng một phép ẩn dụ như sau: dù chim trĩ có khoác lên mình một bộ lông sặc sỡ thì nó cũng sẽ không trở thành chim công được.

Thật ra, người Mỹ cũng không phải là không thích các nhãn hiệu đắt tiền, nhưng người tiêu dùng đa số chỉ hạn chế trong một nhóm người nhất định mà thôi, ví dụ như giám đốc công ty, những quý bà trong giới thời trang, minh tinh điện ảnh, vận động viên chuyên nghiệp v.v…

Người Mỹ không có cách nói “sĩ diện”, người ta sẽ không vì lòng hư vinh mà tốn nhiều tiền lương mua một đôi giày hiệu LV. Không chỉ người trưởng thành như vậy mà giới trẻ cũng hoàn toàn không quá xem trọng hình thức.

Có một lần tôi gặp con trai Mike của Meryl ở siêu thị, thấy cậu bé đang chăm chú chọn những quần jean giảm giá. Tôi hỏi cậu vì sao không đến cửa hàng chuyên bán để mua những kiểu mới ra, câu trả lời của Mike khiến tôi ấn tượng rất sâu sắc:

“Mẹ cháu không phải là người giàu có gì, dù cho cháu có mặc quần Levis kiểu mới nhất thì cũng sẽ không trở thành “cậu ấm”. Hơn nữa sau 18 tuổi cháu còn phải kiếm tiền tự nuôi bản thân mình nữa, khi đó sẽ càng không có tiền mua đồ hiệu nữa đâu, cho nên như bây giờ rất tốt rồi ạ”.

Thấy Mike thản nhiên và thỏa mãn như vậy, tôi cũng bắt đầu tiếc số tiền 300 đô mà tôi đã dùng để thuê bộ đồ hiệu Prada kia, thích thể diện quả thật là lãng phí.

Dần dần tôi nhận ra sở dĩ người Mỹ không quá ham mê hàng hiệu còn có một nguyên nhân khác, đó chính là ở Mỹ thật sự mua hàng hiệu quá dễ dàng, người ta có rất nhiều sự lựa chọn. Có một năm trước Giáng sinh, tôi đi mua sắm ở trung tâm thương mại Macy cùng cô đồng nghiệp Jenny. Bởi vì từ lâu đã nghe nói Jenny thừa hưởng tài sản lớn từ gia đình, bình thường cách tiêu tiền của cô ấy cũng không giống người bình thường, vì thế tôi rất tò mò cô ấy sẽ mua quà đắt tiền gì cho chồng và con trai. Cô ấy nhanh chóng chọn được hai cái khăn quàng cổ cho nam.

Tôi cầm mác giá xem thử, quả thật là không hề rẻ, không hề thua kém nhãn hiệu Burberry nổi tiếng gần đó. Tôi hỏi Jenny: “Giá đã tương đương nhau, sao cô không mua khăn hiệu Burberry cho chồng?”. Jenny nhìn tôi bằng ánh mắt khó hiểu, cô ấy lấy chiếc khăn ra, nói một hồi về màu sắc, hoa văn, kiểu dáng cho đến chất liệu.

Cuối cùng, cô ấy hỏi tôi: “Giá thì tương đương nhau, nhưng giá trị thì không hề giống, nếu là cô thì cô sẽ chọn cái nào? Đương nhiên là cái có chất lượng tốt rồi. Tại sao tôi lại phải bỏ tiền ra mua những món hàng có giá nhãn hiệu đắt tận trời như thế làm gì?”. Cô ấy nói khiến tôi không biết nói gì hơn, người Mỹ chú trọng hiện thực, không quan tâm đến hư vinh, điều này thật sự tôi phải học hỏi.

Thật ra, người Mỹ không muốn dùng hàng hiệu để phủ lên người còn do một nguyên nhân sâu xa nữa, đó là từ khi sinh ra, họ đã đặt cái tôi cá nhân cao hơn mọi thứ, họ thích thể hiện cá tính, nổi trội, thích làm cho mình càng không giống với người khác càng tốt. Nếu chọn những món hàng hiệu đó thì hiển nhiên sẽ không thể giúp họ thể hiện được mục đích này.

Tháng 6/2012, công ty của chồng tôi tổ chức một buổi tiệc từ thiện, tôi cũng được mời.

Vì nghe nói 2 nhân vật nổi tiếng lừng lẫy Warren Buffetts và Bill Gates đều có tên trong danh sách khách quý, nên tối hôm đó tôi đã nhân cơ hội hai lần đứng gần để quan sát cẩn thận cách ăn mặc của hai “nhân vật chính” này, tôi nhận ra dù là Buffets hay Bill Gates thì đều chọn những bộ vest đứng đắn, phù hợp.

Tôi kéo tay Sophie là vợ của đồng nghiệp chồng tôi, hỏi cô ấy thương hiệu đồ vest của Buffetts và Bill Gates là gì, kết quả là biên tập thâm niên của tạp chí thời trang này cũng không biết, không tìm được xuất xứ của chúng. Nhưng mà Sophie cũng đã phân tích và giải thích một cách rất có lý: những nhân vật như Buffetts và Bill Gates, hoàn toàn không cần mặc những bộ quần áo thương hiệu nổi tiếng để khẳng định danh tính, họ đều là những người trầm tính trong giới từ thiện, nếu mặc quần áo của thương hiệu Zegna thì lại quá tầm thường rồi.

Cá nhân và gia đình

Càng tìm hiểu về cuộc sống của người Mỹ, tôi càng cảm thấy giá trị quan về tiền bạc của họ không giống người khác. So với những người Trung Quốc thích dùng những thứ xa xỉ thì người Mỹ lại thích dùng tiền để “đầu tư” vào việc thắt chặt tình cảm gia đình và xây dựng nền tảng gia đình.

Tiffany là huấn luyện viên ở phòng tập mà tôi hay tới, trong cuộc sống hằng ngày, cô ấy luôn mặc quần áo rất giản dị, rẻ tiền, vì thế tôi đã tròn mắt há miệng khi cô ấy nói với tôi rằng đã mua cho mỗi người trong nhà một bộ đồ bóng bầu dục có giá 400 đôla để đi xem trận đấu của đội Denver Broncos.

Tôi hỏi: “Tiffany, chẳng lẽ cô không muốn dùng số tiền đó để mua cho mình bộ quần áo và giày mới hay sao?”

Cô ấy chớp chớp đôi mắt xanh cười nói: “So với việc tự làm đẹp cho mình, tôi sẵn sàng dùng tiền để làm điều gì đó cho người thân hơn”. Có rất nhiều người cho rằng quan niệm tình thân của người Mỹ rất mờ nhạt, khái niệm về gia đình cũng không mạnh mẽ. Tuy nhiên, trên thực tế, người Mỹ là những người vô cùng xem trọng tình cảm gia đình.

Sau này, tôi nhận ra rằng dù cho thu nhập có hạn, những người Mỹ trung lưu sống tiết kiệm cũng sẽ không tích góp tiền dùng để mua hàng hiệu cho mình mà sẽ mua mới, thay thế đồ dùng trong gia đình.

Có một lần, cô Lucy giúp việc cho gia đình tôi xin nghỉ, nói là cô ấy đi mua cho gia đình một cái tủ lạnh, tôi hỏi tủ lạnh hiệu gì, Lucy tự hào nói: “Kenmore”. Thương hiệu tủ lạnh này không hề rẻ.

“Đối với tôi, để chồng được sảng khoái uống bia ướp lạnh sau giờ làm, để các con được ăn kem ngon sau giờ tan học là những việc hạnh phúc nhất trên thế gian”. Nhìn nụ cười thật thà chất phác của Lucy, tôi đã quyết định: vài ngày nữa tôi cũng sẽ đổi tủ lạnh tốt cho gia đình mình.

Thế nào mới là hạnh phúc thật sự? Có những người tiêu rất nhiều tiền để mua hàng hiệu mặc lên người, còn người Mỹ lại dùng tiền để trang trải cuộc sống, đầu tư cho người thân và gia đình. Cái nào có giá trị hơn? Câu trả lời của bạn là gì?

Bình Thản Trước Thị Phi Cuộc Sống

Lương Văn Can 75. – Kimtrong Lam 

Bình Thản Trước Thị Phi Cuộc Sống

Có thể bạn làm vừa lòng người này, nhưng lại làm mất lòng người kia. Có thể người này quý bạn, người kia ghen ghét ganh tị… Vậy cứ hãy là bạn, là chính mình.

Sống tốt, sống chân thành sẽ mang lại cho mình cảm giác thanh thản… Và hãy bình thản trước thị phi, thì cuộc sống của bạn sẽ bình yên và không gì có thể lay chuyển được bạn. Tôi thấy câu chuyện sau rất hay và nó là bài học để tôi suy ngẫm…

Vị giám đốc gọi hắn lên và hỏi chuyện:

– Tôi thấy cậu cũng đứng đắn, chững chạc và rạch ròi. Vậy sao trong công ty vẫn có lời ra tiếng vào, dị nghị đàm tếu?

Hắn trả lời:

– Thưa ngài, trời nắng hạn cả tuần na, đang trưa nắng gắt bỗng đổ trận mưa rào, nġười nông dân thì mừng rỡ ra mặt vì ruộng đất thoát khỏi hạn hán, kẻ làm nghề rửa xe hớn hở cười nói vì khách rửa xe đông, nhưnġ những nġười đang trên đường thì lại ghét ca ghét đắng vì đường bẩn và bị mưa ướt nġười.

Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưnġ bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư khôпg thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. Còn bản thân eṁ cũng đâu phải một nġười vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.

Cho nên eṁ nghĩ rằng: Đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Cấp trên nghe lời thị phi thì nhân viên bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì co̴n cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán…Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, ɡɪếт nġười khôпg rướm máu. Cho nên cứ an nhiên mà sống thôi và nhìn nhận vấn đề thật đúng trên nhiều khía cạnh!

Có thể bạn làm vừa lòng người này, nhưng lại làm mất lòng người kia. Có thể người này quý bạn, người kia ghen ghét ganh tị… Vậy cứ hãy là bạn, là chính mình.

Sưu tầm

No photo description available.

CHÚA LÀM GÌ Ở HỎA NGỤC

CHÚA LÀM GÌ Ở HỎA NGỤC

            “Đức Giêsu đáp: ‘Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.  Ai không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy.  Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.

Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em.  Nhưng Đấng bảo trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy.  Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.  

            Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.  Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.  Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.  Anh em đã nghe Thầy bảo: Thầy ra đi và đến cùng anh em.  Nếu anh em yêu mến Thầy thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.  Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.’” (Ga 14, 23-29)

*****

            Đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan trên đây rất sâu sắc và phong phú.  Để hiểu rõ đoạn Phúc Âm đó, thiết tưởng nên nhờ vào nguồn mạch minh triết của Thánh Tôma Aquinô

            Thiên Chúa ở trong hỏa ngục? 

            Thánh Tôma Aquinô trong sách “Summa Contra Gentiles” (“Tổng Luận Về Việc Đối Phó Với Dân Ngoại”) đã đặt câu hỏi: “Thiên Chúa ở khắp nơi không?”  Rồi tiếp theo đường lối luận lý khúc chiết như thường lệ, ngài đã hỏi thêm: “Thiên Chúa có ở trong hỏa ngục không?”  Và thánh nhân hỏi tiếp: “Thiên Chúa làm gì ở trong hỏa ngục?”  Sau cùng ngài tự trả lời: “Thiên Chúa ở trong hỏa ngục để yêu thương những kẻ bị đọa đày.” 

            Những người bị đọa đày ở trong hỏa ngục có thể từ chối việc yêu mến Thiên Chúa nhưng họ không thể làm gì để ngăn chặn Thiên Chúa yêu thương họ, bởi vì Thiên Chúa là Thiên Chúa và “Thiên Chúa là tình yêu.”  Giờ đây, nếu chúng ta ngạc nhiên và tự hỏi tiến trình suy luận đó có liên hệ gì đến đoạn Phúc Âm của Thánh Gioan trên đây không?  Câu trả lời là có.

            Thánh Tôma chỉ làm chứng về sự kiện Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và yêu thương mãi mãi, bất kể chúng ta là ai hay chúng ta làm gì, và cho dù chúng ta sống trên đời nầy, lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục. 

            Thánh Grêgôriô Nyssa sống vào cuối thế kỷ thứ tư ở miền Trung nước Thổ-Nhĩ-Kỳ, đã đặt câu hỏi như sau: “Các bạn có muốn biết sự khác biệt giữa sự cứu rỗi và kiếp đọa đày, giữa thiên đàng và hỏa ngục không?

            Và đây là thí dụ mà Thánh Grêgôriô đã trưng dẫn: Bạn hãy nghĩ tới một ngày đẹp trời nào đó, với ánh nắng rực rỡ.  Khi bạn đi ra ngoài đường, dưới ánh nắng chói lọi, bạn sẽ có kinh nghiệm về ánh nắng mặt trời như là cái gì dễ chịu, thích thú, kỳ diệu, hứng khởi.  

            Rồi ngài nói tiếp: Giờ đây bạn thử tưởng tượng một người nào đó bị đau mắt nặng và cũng đi ra ngoài nắng như vậy.  Vì con mắt bị bệnh, người đó lại có kinh nghiệm về ánh nắng mặt trời một cách khác hẳn: ánh nắng mặt trời như là cái gì khó chịu, nhức nhối, tai hại, làm cho lòa mắt… và họ không thể chịu đựng được, chỉ muốn đi xa hẳn ánh nắng mặt trời.

           Và Thánh Grêgôriô kết luận: Đó, thiên đàng và hỏa ngục cũng hoàn toàn giống như thế đó.  Thiên đàng và hỏa ngục cũng là một.  Cả hai hoàn toàn giống nhau.  Sự khác biệt giữa hai thực thể đó là có người muốn thiên đàng và có người không muốn.

            Nếu bạn muốn thiên đàng, bạn sẽ run lên vì cảm động.  Nếu bạn không muốn thiên đàng – và điều đó thật tai hại – bạn vẫn sẽ được Thiên Chúa âu yếm nhưng trái với ý muốn của bạn, bởi vì bạn không thể ngăn cản Thiên Chúa yêu thương bạn được.  Thiên Chúa là tình yêu.  Bạn không thể ngăn cản Thiên Chúa là Thiên Chúa của tình yêu.  Hỏa ngục chỉ có đối với Satan vì Satan được Thiên Chúa âu yếm trái với ý muốn của nó.” 

            Ân sủng 

             Chúng ta có một cụm từ đặc biệt để diễn tả tình yêu Thiên Chúa.  Đó là cụm từ “ân sủng” (“grace”).  Cụm từ đó xuất phát bởi tiếng La-tinh ‘gratis‘ có nghĩa là “cho không” (free).  Ân sủng là một tặng phẩm “nhưng không” của Thiên Chúa.  Chúng ta không thể làm gì để được hưởng hay đáng được ân sủng.  Người ta bảo mọi sự là ân sủng của Thiên Chúa.  Người ta nói ân sủng của Thiên Chúa ở khắp nơi.  Chúng ta không thể xa rời ân sủng được.  

            Và người ta cũng thường nói là mọi sự hiện hữu được bởi vì Thiên Chúa yêu thương.  Tình yêu Thiên Chúa là lý do mà chúng ta tồn tại.  Cái ghế mà chúng ta đang ngồi trên đó cũng là ân sủng của Thiên Chúa.  Nếu Thiên Chúa không còn yêu thương cái ghế đó nữa tức thì sự hiện hữu của nó bị chấm dứt ngay.  

            Thực phẩm chúng ta ăn vào, những người chúng ta yêu thương… là những ân sủng của Thiên Chúa.   Mỗi một sinh vật hay sự vật đều được Thiên Chúa sáng tạo và Ngài yêu thương hết mọi tạo vật của Ngài, bởi vì Thiên Chúa đã cấu trúc toàn bộ hệ thống đó!

            Khi đề cập như trên, một vấn nạn được đặt ra, có tính cách siêu hình.  Chúng ta là chúa tể về việc lãng quên những thực tại kỳ diệu ở chung quanh chúng ta.  Chúng ta thật đáng trách vì thường xuyên quên bẵng những hồng ân Thiên Chúa ở trong đời sống chúng ta. 

            Cái nháy mắt và nhịp tim đập

             Khi chúng ta khởi đầu đọc bài suy niệm nầy, mắt chúng ta đã chớp liên hồi.  Và cho đến giây phút nầy đây, chúng ta đã không đếm số lần mắt mình đập là bao nhiêu, trừ khi chúng ta cảm thấy bài viết nầy vô vị, nhàm chán.  Nhưng biết đâu có người sẽ nói: “Tôi đã đếm được con số 5,666 cái chớp mắt!!!”  Đúng hay sai, chúng ta không rõ.  

            Vấn đề là khi chúng ta chớp mắt – cho dẫu chúng ta đã làm việc đó thường xuyên – chúng ta đã không nhận ra điều đó.  Chúng ta đã chớp mắt một cách tự động.  Chúng ta không nhận thấy mắt chớp, cho tới khi chúng ta không thể chớp mắt được nữa.  Chính khi chúng ta không thể chớp mắt được thì sự chớp mắt trở nên quan trọng.  Nếu chúng ta bị bệnh tê liệt Bell thì chúng ta không thể chớp mắt được.

            Cũng thế, con tim chúng ta đập không ngừng.  Nhưng chúng ta không bao giờ nhận ra nhịp đập của con tim cho tới khi tim đập nhanh lên, hay chậm lại, hoặc ngừng đập.  Nếu tim ngưng hẳn, chúng ta cũng không nhận ra nhịp tim đập nữa.  Đã quá trễ rồi!  Nhưng người khác sẽ nhận ra điều đó khi chúng ta ngã quỵ trên sàn nhà.  

           Đối với dưỡng khí cũng thế.  Không ai để ý cho tới khi dưỡng khí đã cạn kiệt và không còn khí thở nữa.  Chúng ta không để ý tới những gì luôn luôn có mặt ở đó, nơi bản thân chúng ta hay bên cạnh chúng ta.

            Thời gian linh thánh

             Có những thời gian được chúng ta gọi là “thời gian linh thánh.”  Dĩ nhiên, mọi thời gian là linh thánh hết.  Và nếu thế, tại sao có một số thời gian được chúng ta gọi là “thánh.”  Chúng ta gọi Chúa nhật là thánh.  Chúng ta có những ngày nghỉ lễ (“holidays = “ngày thánh”) bắt buộc.  Chúng ta có Thứ Năm tuần Thánh, Thứ Sáu tuần Thánh và Thứ Bảy tuần Thánh.  Chúng ta có mùa Chay Thánh.  Ý nghĩa như thế nào khi chúng ta nói Bốn Mươi Ngày Chay Thánh là mùa thánh?

            Chắc chắn điều đó không có nghĩa là Thiên Chúa hiện diện trong bốn mươi ngày mùa Chay nhiều hơn trong ba trăm hai mươi lăm ngày kia còn lại trong năm.  Tuy nhiên, chúng ta vẫn gọi Chúa nhật là ngày thánh.  Chúng ta gọi ngày đó là “ngày của Chúa.  Nhưng chúng ta không nói thứ năm là ngày của Chúa.  Chúng ta không nói Chúa tới văn phòng Chúa nhật mà không tới ngày thứ năm.  Nhiều người tưởng Chúa vắng mặt ở văn phòng từ thứ hai đến thứ bảy và Chúa chỉ xuất hiện vào Chúa nhật.  Thiên Chúa ở trong văn phòng chúng ta mỗi ngày bởi vì mỗi ngày là ngày của Chúa, và mỗi mùa là mùa thánh. 

            Nhưng chúng ta không thấy sự thật như vậy.  Đó là vấn đề của chúng ta và chúng ta phải chấp nhận điều đó.  Chúng ta không chú ý đến điều đang xảy ra với chúng ta và điều đó vẫn luôn luôn là vậy.  Vì lý do đó, chúng ta đã để Chúa nhật riêng ra ngõ hầu chúng ta là những thành phần của cộng đồng dân Chúa có thể quan tâm đến sự kiện kỳ diệu là mỗi ngày và mỗi mùa là những hồng ân của Thiên Chúa.

            Đó cũng là lý do tại sao chúng ta tề tựu ở trong nhà thờ để tạ ơn Chúa và gọi thánh đường là một nơi thánh.  Nhưng đó không có nghĩa là Thiên Chúa hiện diện ở trong nhà thờ nhiều hơn và Ngài hiện diện ít hơn ở bãi đậu xe, trên xa lộ, trong siêu thị, nơi quán rượu, ở phòng khách và tất cả những chỗ khác mà chúng ta thường lui tới?  Không, điều đó không hợp với sự hiểu biết về linh đạo Kitô giáo.

            Không gian thánh 

             Những địa điểm nói trên cũng là những nơi thánh, bởi vì hồng ân của Chúa ban phát khắp nơi.  Dĩ nhiên, chúng ta cần thánh hiến một nơi chốn riêng biệt, không phải vì Chúa ở nơi đó mà thôi, nhưng đúng hơn và kỳ diệu thay, Thiên Chúa ở khắp nơi trên quả địa cầu, trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục.  Đó là điểm tuyệt hảo đối với lối suy tư và linh đạo Kitô giáo.  Đó là tư duy và linh đạo nhằm nhào nắn chúng ta trở thành cộng đồng dân Chúa mà chúng ta được mời gọi.

            Elizabeth Barrett Browning đã đặt câu hỏi: “Nếu trái đất bừng cháy bởi ngọn lửa của Thiên Chúa, tại sao chúng ta ngồi đó đây để nhặt những quả dâu chín?”  Nữ sĩ muốn hỏi tại sao chúng ta đã mất ý niệm về ân sủng, ý niệm về thế giới là thánh, về mọi sự là thánh và mọi sự là một bí nhiệm?  Đó là những vấn nạn lớn lao.  

            Chúng ta rất cần một nhãn quan và một linh đạo gây cảm hứng cho chúng ta để sống một cuộc sống cao quí hơn.  Chúng ta cần tề tựu ở một nơi riêng biệt được gọi là thánh đường hay nhà thờ, từ Chúa nhật nầy sang Chúa nhật khác, để chúng ta có thể tán tụng hết mọi hồng ân Thiên Chúa và đặc biệt thay, chỗ độc nhất của Ngài là ở trong đời sống chúng ta và trong tạo vật của Ngài là chính chúng ta.

LM Vincent Travers, OP,

Nguyên Tác IN STEP WITH GOD

Hương Vĩnh chuyển ngữ

From: Lanthangchieutim

Bần cùng sinh đạo tặc

 “ Bần cùng sinh đạo tặc”

 Thuận lý và nghịch lý.

A-Thuận lý:

Tên thượng úy công an chính trị viên,tốt nghiệp viện triết học Marx, phó trưởng phân trại C Hà nam Ninh.Trong đối thoại về chủ nghĩa Marx,hắn hỏi tôi rằng:”chân lý có thay đổi không..?”.Tôi trả lời:”đã là chân lý thì không thay đổi..”.Hắn cười..

Ngày hôm nay hắn đúng..

Những đệ tử Cộng Sản chân chính của Marx, đã chia tay ý thức hệ với Marx.Tất cả vội vã bỏ thầy..Mau chóng biến chất, lột xác cướp bóc tàn bạo để trở thành người “tư sản chân chính..!!”.TrungCộng,Việt Cộng, Nga Cộng và Cu-Ba Cộng.v.v..

Điển hình,ở Việt-Nam,những người“vô sản chuyên chính” của Marx ở miền Bắc,sau 30/4/1975 đi “giải phóng”của cải vật chất,nhà cửa của những người tư bản ở miền Nam thì rõ ràng là “bần cùng sinh đạo tặc”.Như vậy là thuận lý..

Thằng bé tù hình sự,qua hàng rào kẽm gai của giữa hai phân trại hình sự phạm pháp miền Bắc và sĩ quan tù cải tạo miền Nam.Sau một trận đòn thừa sống chí chết của đám cư dân sống gần trại,chỉ vì nhổ trộm một gốc khoai mì..Khi tôi hỏi hắn sao làm càn như vậy, thì được nó trả lời rất tự nhiên:”đói ăn vụng,túng làm liều”..ngoài này người ta như vậy đó..”

Ngục sĩ Nguyễn chí Thiện,khi còn tại thế,ông nói:”Miền Bắc thắng miền Nam,phần chính là do chế độ tem phiếu..”(hộ khẩu)

Xâm lăng miền Nam,giặc đói miền Bắc đã có nhiều tên chết vì bội thực..Giặc nghèo miền Bắc đã cướp sạch của cải,vật chất ,nhà cửa của dân miền Nam..

Những từ ngữ tự nhiên trong sinh hoạt dân gian hằng ngày của người  miền Bắc như :”giầu nhà kho,no nhà bếp”,”đói ăn vụng,túng làm liều”,rất tự nhiên phổ biến.

Đặc biệt, ông Hồ chí Minh thì luôn miệng là cướp:”cướp chính quyền về tay nhân dân”(19/8/1945).Tết Mậu Thân thì Là:”tổng công kích,tổng khởi nghĩa..Cướp chính quyền..”.

Bà nguyễn thị Năm, người đàn bà đứng đầu danh sách những người cống hiến tài sản cho tập đoàn Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng, Trường Chinh v.v…trong những năm đầu của cuộc cách mạng 1945.Đã bị chính những kẻ thọ ơn kể trên,đưa bà ra tố khổ và giết chết..(cải cách ruộng đất 1953)

Thọ ơn người mà lại chính tay mình giết người mình thọ ơn thì rõ ràng là mình muốn xóa ơn hay là cướp ơn của ân nhân.Bên cạnh đó lại còn vì một áp lực nào đó,thì có khác gì:”bần cùng sinh đạo tặc”.?..

Ở Việt Nam ngày nay, nạn ăn cắp chó hoành hành khắp mọi nơi !!. “bần cùng sinh cẩu tặc”…và, chỉ đặc biệt ở miền Bắc, vùng đất trước vĩ tuyến 17,bên kia cầu Hiền-Lương của con song Bến-Hải. Cẩu tặc bị người dân đánh chết.!!… Mạng người không bằng con chó.!!..

Như vậy thì những sự kiện kể trên đã xác định:”bần cùng sinh đạo tặc” là thuận lý..

B-Nghịch lý:

 Không nghèo,không đói..Nhà cao,cửa rộng,tiền bạc,của cải vật chất dư thừa mà đi ăn cắp, ăn trộm, ăn bẩn, ăn cướp thì là:” không bần cùng mà sinh đạo tặc”, như vậy là nghịch lý.

Phi công Đặng xuân Hợp, (cháu của Đặng xuân Khu tức Tổng Bí Thư Trường-Chinh), bị cảnh sát Nhật áp giải ra tòa và tuyên án 30 tháng tù với 500.000 yen,tiền phạt về tội vận chuyển hàng ăn cắp từ Nhật về Việt Nam…

Một giám đốc công ty lớn có tên tuổi ở thành phố Hồ- chí- Minh ăn cắp hàng trong siêu thị ở nước Nhật,bị bắt,nộp phạt và bị tống cổ về nước…

Sinh viên Việt Nam,con cái những ông bà tai to,mặt lớn,giầu có nhất,nhì trong nước,sang du học bên Nhật ăn cắp loạn..Khiến tại trên tường của trường,hiệu trưởng phải cho viết những lời đe dọa trừng phạt kẻ ăn cắp chỉ độc nhất một ngoại ngữ,đó là chữ Việt Nam,phiên dịch ra chữ Nhật

Mới đây,hai anh,em có tên Nhâm tiến Dũng và Nhâm thị Hồng Phượng, con nhà đại giầu ở Hà Nội,đi du lịch thế giới.Khi đến Thụy Sĩ đã ăn cắp 3 cặp kính loại Gucci,Lv..,đắt tiền,trị giá 300 Euro/1cặp.Cuối cùng phải nộp phạt 2000 Franc Thụy Sĩ mới được thả về.!!..

Tại nước Nhật,một cô gái Việt-Nam lấy chồng Nhật,đến đại sứ quán Viêt-Nam xin gia hạn nhập cảnh, nhân viên sứ quán làm tiền đòi 60.000yen(tương đương 600USD).Cô gái Việt không chịu,vì giá không phải như vậy.Cô chỉ trả đúng giá và quay đi thì bị nhân viên xứ quán nhẩy qua bàn giựt ví sách tay của cô,xô cô ngã đập đầu vào bàn và buông lời lỗ mãng : “Đồ con đĩ lấy Nhật!!”.Cô gái Việt ôm đầu máu chạy ra ngoài gặp chồng.Người chồng Nhật nổi nóng phóng vào tòa đại xứ hét lớn.Nhân viên Việt bỏ trốn hết..

Thường tình thì là: “mất cơm nghi người đói,mất gói nghi người nghèo” mới là thuận lý của : “bần cùng sinh đạo tặc”..

Vậy thì những tệ trạng giầu có,dư thừa của cải vật chất mà đi ăn cắp,ăn cướp,ăn bẩn như kể ở trên thì rõ ràng là nghịch lý..

Cách nào để lý giải sự nghịch lý kỳ quái này?.

Ivan Povlov (1849-1936).Nhà sinh lý học nổi tiếng của nước Nga đã khám phá ra:”định luật phản xạ có điều kiện”,qua  thử nghiệm một con chó bằng cách mỗi lần cho con chó ăn,ông đánh một tiếng chuông.Nhiều lần..Sau cùng,mỗi khi nghe tiếng chuông,con chó đói tiết ra dịch vị,mặc dù không nhìn thấy đồ ăn..Từ kết quả đó,ông kết luận : “Hệ thống thần kinh góp phần quá trình điều khiển tiêu hóa”.Ngược lại,nói một cách đơn giản,bình dân là:”dạdầy khích động não bộ..”.

Từ kết quả đó,sau này người ta bỏ đói, tạo thói quen cho động vật,khuất phục chúng,bắt chúng phải phục tùng ý muốn của con người..

Đảng Cộng Sản Việt-Nam đã triệt để vận dụng kết quả đó để thống trị người dân miền Bắc

Cuộc cải cách ruộng đất năm 1953-1956 mà ông Hồ-chí-Minh và tập đoàn lãnh đạo phát động trên toàn miền Bắc với mục đích chính là xiết chặt lương thực từng nhà,từng người,bao gồm cả gia xúc..

 .Một cuộc cách mạng long trời,lở đất.Giết oan hơn 100.000 người trong số 586.000 nạn nhân!!..Thâu tóm toàn bộ ruộng đất đưa vào hợp tác xã do nhà nước quản lý.Từ đó đảng nắm tất cả lương thực của đất nước qua hình thức hộ khẩu tem phiếu v.v..Người dân chỉ sở hữu 01 con bò,01 con lợn,và một đàn gà đã là địa chủ,là có tội.

Giết,giết nữa,bàn tay không phút nghỉ.

Cho ruộng đồng lúa tốt,thuế mong xong..

Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng.

Thờ Mao chủ tịch,thờ Sit-ta- Lin bất diệt..”(Tố-Hữu CCRĐ)

Chết chóc và đói ăn hành hạ người dân miền Bắc kéo dài suốt từ 1954-1975.Cụ thể 3 tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh,khi tôi ngỏ ý muốn phỏng vấn trên đài phát thanh,họ đã lo sợ xin được từ chối như sau:” chúng em mà lên đài,thì ở ngoài kia họ cắt hộkhẩu.Cha,mẹ,vợ,con chúng em sẽ chết đói !.!..”.

Chủ trương:”Bần cùng hóa nhân dân,lạc hậu hóa dân tộc và bần tiện hóa con người” của ông Hồ-chí Minh và đảng của ông quả đã cực kỳ thành công.

Sau 30/4/1975, nửa ký đường,một ký muối,vài ký gạo ,một thước vải của người miền Bắc ôm theo ngàn dậm,hí hửng  vào làm quà cho họ hàng ,ruột thịt ở miền Nam sau bao năm xa cách.

Một năm hai thước vải thô.

Lấy đem may áo,cụ Hồ ló ra

May áo thì hở lá đa

Chị em thiếu vải,hoá ra lõa lồ !!..”

Mới đây,trong ngày:”Diễu binh 2-9 kỉ niệm 70 năm khánh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt-Nam”. Khi toán hậu cần đến gần lễ đài,xướng ngôn viên đã to tiếng giới thiệu như sau:”Hậu cần quân đội đã vượt qua nhiều khó khăn,gian khổ,luôn bảo đảm cho đoàn quân ăn no đánh thắngthực hiện hết lời bác Hồ dậy..”.

Bẩy chục năm sau,cái dạ dầy của thí nghiệm Povlov vẫn còn được nhắc tới!!..

Khủng bố,giết chóc,đói ăn,thiếu mặc hành hạ triền miên khiến con người,vì sinh tồn mà thành ra:”đói ăn vụng,túng làm liều”.Như lời thằng bé phạm nhân hình sự nói ở trên..

“Phản xạ có điều kiện”.Con người thông minh hơn con vật,không ngồi yên chờ chết,nên phải tìm cách để tồn tại bằng cách ăn trộm,ăn cắp,ăn cướp v.v..Lâu ngày trở thành thói quen,không từ bỏ được,mặc dầu,kể cả lúc dư thừa của cải,vật chất..Từ ngữ vật lý gọi là “quán tính”..

Đã là quán tính thì khó từ bỏ.Do đó,những hiện tượng kỳ quái của sự nghịch lý “không bần cùng mà sinh đạo tặc”  kể ở trên coi như được giải mã bởi: “quán tính tâm lý”.

Lỗ Trí Thâm (HNPD)

From: TU-PHUNG

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ NẠN BUÔN BÁN PHỤ NỮ?

Mạc Van Trang 

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ NẠN BUÔN BÁN PHỤ NỮ?

Mạc Văn Trang

Tôi chờ đợi, nhưng không thấy ĐBQH nào chất vấn về vấn đề này, nên nêu ra đây để Quốc hội lưu tâm, xem trách nhiệm thuộc về những ai. Vụ 39 người Việt chết ngạt trong container khi trốn vào nước Anh tháng 10/2019 đã gây chấn động lương tri nhân loại. Nay tình trạng tương tự vẫn không ngừng xảy ra, nhất là nạn buôn bán phụ nữ dưới nhiều hình thức.

Liên Hiệp Quốc ngày 03/11/2021 báo động về “nạn phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam nghèo đói trở thành nạn nhân của những kẻ buôn người sang Ả Rập Xê Út thông qua hình thức xuất khẩu lao động”.

Tuyên bố của nhóm chuyên gia đăng trên website của Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ngày 04/11/2021 báo động: “Chúng tôi đang chứng kiến ​​những kẻ buôn người nhắm vào phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam sống trong cảnh nghèo đói, nhiều người trong số họ đã lâm cảnh dễ bị tổn thương và bị gạt ra bên lề xã hội. Những kẻ buôn người hoạt động mà không bị trừng phạt”.

Theo các chuyên gia Liên Hiệp Quốc, sau khi ký hợp đồng với các công ty tuyển dụng lao động tại Việt Nam, một số thiếu nữ và phụ nữ bị chủ lao động lạm dụng tình dục, đánh đập, tra tấn và đối xử tàn nhẫn khi đến Ả Rập Xê Út. Thường thì họ không được cung cấp thực phẩm, không được điều trị y tế, không được trả lương, hoặc chỉ được hưởng lương thấp hơn mức lương ghi trong hợp đồng.

Liên Hiệp Quốc báo động có một số công ty khai khống tuổi của trẻ em gái để đưa các em sang Ả Rập Xê Út làm giúp việc gia đình, che giấu sự thật là các em vẫn còn nhỏ tuổi. Các chuyên gia nêu trường hợp một thiếu nữ Việt Nam 15 tuổi bị ốm vì bị chủ đánh đập, không cho ăn uống và chữa bệnh. Nạn nhân được cho về nước, nhưng chưa kịp lên máy bay thì đã qua đời. Do giấy tờ của cô bị làm giả nên gia đình hiện vẫn chưa nhận được thi thể nạn nhân. (Đó là em H Xuân Siu, xem hình).

Liên Hiệp Quốc thúc giục chính quyền Việt Nam và Ả Rập Xê Út có thêm nhiều hành động để chống nạn buôn người và bảo vệ những người lao động Việt Nam, trên cơ sở các nguyên tắc về nhân quyền và bảo đảm thực thi trách nhiệm. Liên Hiệp Quốc khuyến nghị Ả Rập Xê Út có luật lao động bảo vệ người nước ngoài nhập cư làm lao động giúp việc gia đình, mở rộng cải cách luật lao động cho nhóm đối tượng này. Các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc cũng thúc giục chính phủ hai nước tiến hành một cuộc điều tra công bằng và độc lập, thậm chí cả về những cáo buộc liên quan đến sự tiếp tay của các cơ quan công quyền.

Liên Hiệp Quốc cho biết thêm trong vòng chưa đầy 2 tháng, từ ngày 03/09 đến 28/10/2021, có khoảng 205 phụ nữ Việt Nam, trong đó có nhiều người là nạn nhân của nạn buôn người, đã được hồi hương. Các chuyên gia kêu gọi Việt Nam tăng cường hỗ trợ những người phụ nữ này, kể cả về pháp lý, chăm sóc y tế và tâm lý xã hội.

Liên Hiệp Quốc nhắc nhở Việt Nam và Ả Rập Xê Út về “các nghĩa vụ pháp lý quốc tế trong việc hợp tác chống nạn buôn người”, bao gồm cả trong điều tra tư pháp hình sự, có các biện pháp khắc phục hiệu quả tệ nạn này và hỗ trợ nạn nhân”.

(https://docs.google.com/…/1gyVRde23VPGklInxqdwLsgP…/edit)

Một tin khác cho biết: “Trên 3.000 người Việt là nạn nhân của buôn người, chủ yếu bị bán sang Trung Quốc”

Có trên 3.000 người Việt Nam hầu hết là phụ nữ và trẻ em đã trở thành món hàng của bọn buôn người từ năm 2012 đến 2017, chủ yếu bị bán sang Trung Quốc. Hãng tin Reuters dẫn nguồn tin từ bộ Công An Việt Nam hôm nay 24/08/2018 cho biết như trên.

https://docs.google.com/document/d/1gyVRde23V PGklInxqdwLsgPbWl6u9HFDElhzoKOOnlo/edit

AI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÌNH TRẠNG TRÊN?

– BỘ LĐTBXH quản lý việc xuất khẩu lao động phải chịu trách nhiệm ra sao?

– Chính quyền các địa phương quản lý công dân của mình để xảy ra chuyện như vậy, chịu trách nhiệm gì?

– Ngành an ninh chịu trách nhiệm đến đâu?

– Hội Phụ nữ Việt Nam đã làm gì giúp phụ nữ và trẻ em có nhận thức, hành vi ứng phó với những cạm bẫy và đấu tranh cho những chị em bị ngược đãi?

– Và những cơ quan nào, những ai nữa?

Những thảm cảnh nêu trên (và biết bao vụ khuất lấp) không chỉ là nỗi đau của những người trong cuộc và người thân của họ mà còn là nỗi nhục của quốc gia, dân tộc..

Ngày 11/11/ 2021

 SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN

 SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc, với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.  Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.  Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.

Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.  Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.

Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người.  Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo.

Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào.  Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo.  Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

  1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo.  Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin.  Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân.  Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại.  Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số.  Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất.  Không khí trong hang rất lạnh lẽo.  Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây.  Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.  Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người.  Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối.  Gia sản của Giáo Hội là đây.  Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ.  Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách.  Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. 

Trải qua ba trăm năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc.  Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…  Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man.  Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ, thiêu sống, phân thây ra từng mảnh… các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ.  Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

– Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.  Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình.  Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.  Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.  Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội.  Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ.  Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết.  Họ cột chân tay ngài vào cây cột.  Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn.  Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa.  Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835.  Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi.  Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích.”

– Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc.  Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát.  Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu.  Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

– Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ.  Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin.  Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình.  Quan Án Phạm Trọng Khảm.  Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn.  Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô.  Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

  1. Những thách đố Đức Tin thời nay.

Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo.  Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.

Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

– Vô thần duy vật

Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật.  Đây là một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực.  Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội.  Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa.  Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền.  Của cải và quyền lực lên ngôi.  Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn.  Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền.  Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền.  Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người.  Ai cũng muốn có nhiều tiền.  Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng giả, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ…  Tiền bạc quả là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những giá trị, biến chất con người.  Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

– Gian dối và lừa lọc lên ngôi

Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn.  Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm.  Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

“Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

Chân lý chân giò một giá thôi.”

Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt!  Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

– Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ.  Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán.  Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế.  Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ!  Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác.  Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé.  Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người.  Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

– Chủ trương duy tương đối

Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối.  Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa.  Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân.  Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm nay; lamhong.org).

Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

  1. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

Năm Đức Tin là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).

Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy: “Năm Đức Tin sẽ là một cơ hội thuận tiện để tăng cường việc cử hành Đức Tin.”  Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin.  Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố.  Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng.  Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn.  Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích.  Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng.  Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người.  Đức Tin là bảo chứng mang lại ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.

Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng.  Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các ngài.  Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay.  “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

Thêm Một Đám Tang

Thêm Một Đám Tang

Nguyễn Ngọc Duy Hân

 Theo đúng luật sinh tử, hằng ngày luôn xảy ra rất nhiều đám tang, kể cũng chẳng là điều gì lạ lùng. Nhưng cách đây 9 năm, vào dịp cuối tháng 4, 2012, đã có bài viết của J.B Nguyễn Hữu Vinh nói về một đám tang khác mọi đám tang. Đó là đám tang của bà Tần, mẹ của Paulus Lê Sơn.

Xin nhắc lại Sơn là một trong 14 thanh niên Công giáo và Tin lành đã bị nhà nước Cộng Sản kết án tổng cộng 80 năm tù vào năm 2012. Paulus Lê Sơn là người con duy nhất của bà Tần, khi mẹ mất thì Sơn đang phải nằm xà-lim vì yêu nước và có tinh thần muốn phát triển Việt Nam của giới trẻ. Dù đã hết cách xin, Sơn vẫn không được về nhà chịu tang mẹ rồi lại trở vào tù tiếp. Đám tang bà Tần diễn ra trong cô đơn, trù dập, ít người dám tới dự vì sợ bị liên lụy.

Theo đúng tinh thần văn hóa Việt, nghĩa tử là nghĩa tận, tới nhìn mặt người quá cố lần cuối là việc cần làm, mà đứa con trai duy nhất – gọi là trưởng nam thì không thể có mặt. Đau lòng thay cho đứa con và tủi thân thay cho người mẹ. Chưa kể khi còn sống, bà mẹ đó đã phải lo lắng, đau khổ và khó khăn như thế nào để có thể tự lo sinh sống, không được con chăm sóc, mà ngược lại còn phải làm việc vất vả kiếm tiền để tiếp tế “thăm nuôi” con đang ở trong tù.

Mới đây, vào khoảng giữa tháng 11, năm 2021, một đám tang khác mọi đám tang cũng đã xảy ra. Đó là ngày bà Lê Ngọc Nghĩa, thân mẫu của nhà tranh đấu Nguyễn Bắc Truyển đã qua đời tại Saigon.

Vì nghĩa lớn mà anh Nguyễn Bắc Truyển đã không được nhìn thấy mẹ lần cuối. Vì nghĩa lớn mà hai vợ chồng Truyển – Phượng đã phải xa cách tính tới nay là 4 năm, và Nguyễn Bắc Truyển sẽ còn phải ở trong tù với bản án 11 năm giam giữ và 3 năm quản chế.

Vâng, ở Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì thế đấy, rất nhiều chuyện khác thường không giống ai đã xảy ra. Biết bao cha mẹ, anh em, gia đình đã phải khổ vì chế độ độc tài gian ác này. Chắc khó mà quên được chuyện cướp đất ở Thái Hà, vườn rau Lộc Hưng… Rồi sau đó là hiện tượng Đồng Tâm, biết bao người bị giết, bị tù vì không chịu bị bọn cầm quyền chiếm đất, hà hiếp cách vô lý. Thời gian gần đây nhiều tù nhân lương tâm khác cũng đã bị bắt, như nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang, anh em Huỳnh Minh Tâm, Huỳnh Tố Nga, cô Thu Thủy… Trần Huỳnh Duy Thức vẫn đang héo mòn sức khoẻ trong trại giam. Một công dân Úc là ông Châu Văn Khảm bị xử bản án vô lý vẫn còn trong tay bọn Cộng Sản. Biết bao tù nhân lương tâm đã chết, đã rũ tù, biết bao đau khổ xảy ra trên quê hương. Con dân Việt phải làm nô lệ mới theo kiểu “xuất khẩu lao động”, biết bao ôsin, cô dâu cho các nước ngoài bị đối xử tàn tệ, trong khi nhóm lãnh đạo ăn thịt bò dát vàng ở nhà hàng của “Thánh rắc muối” nổi tiếng thế giới, uống rượu “cực quý” với giá không tưởng. Họ ăn xương uống máu người dân thường xuyên, thì sá kể gì miếng thịt bò có vàng bao bọc.

Trở lại với đám tang của mẹ Nguyễn Bắc Truyển, cô Phượng vợ của anh đã chia sẻ:

Tin từ trại giam An Điềm – tỉnh Quảng Nam

Chiều nay anh Truyển gọi điện thoại về thì nghe tin má mất, giọng nói anh lần này buồn não nùng. Tôi cảm nhận và hiểu tâm trạng của người con nghe tin má mất mà đang chịu cảnh tù đày, không về chịu tang má, không được nhìn má lần cuối thì còn nỗi xót xa đớn đau nào bằng.

Tôi động viên tinh thần và an ủi anh giữ sức khoẻ, nén nỗi đau buồn, hãy cầu nguyện cho Má vãng sanh cõi Phật. Anh hứa sẽ cố gắng.

Thời gian chỉ vài phút ngắn ngủi còn nhiều điều chưa nói hết thì đã hết giờ được nói chuyện từ góc xà-lim”.

Cũng xin mở ngoặc cô Phượng là người hết sức hiền lành, yêu chồng, yêu nước. Phượng ăn chay trường, dù yếu ớt gầy còm nhưng tinh thần luôn vững mạnh để hỗ trợ chồng. Và cũng rất lạ kỳ, hình như hương hồn của mẹ của anh Truyển rất linh thiêng, nên lâu rồi anh Truyển không được liên lạc với gia đình, thì đám cai tù lại bất ngờ cho anh gọi về nhà đúng vào ngày mẹ mất.

Một người cũng từng là tù nhân lương tâm, cô Ngọc Anh đã chia sẻ:

“Nhận được tin dữ Cụ bà Lê Ngọc Nghĩa đã lìa trần mà con trai cụ là người yêu nước Nguyễn Bắc Truyển vẫn đang bị đày đọa lần hai trong lao ngục cộng sản khiến lòng Ngọc Anh tôi lại bùng lên mối căm hờn. Nhưng kính thưa Cụ bà, Cụ bà đã sanh ra một người con rất cao quý. Luật gia Nguyễn Bắc Truyển đã dám dấn thân hy sinh cho một điều cao cả trọng đại mà phần đông dân Việt không dám làm. Đó là chống bất công áp bức.

Nếu Nguyễn Bắc Truyển thành công trong cuộc tranh đấu cho Quyền Con Người của toàn dân thì người dân Việt nợ Cụ một ơn lớn.

Ngọc Anh tôi cũng đã từng bị tà quyền ghép tội rồi đày đọa trong ngục tù nên tôi rất hiểu nỗi thương nhớ tới quay quắt của người trong lao ngục khi nghĩ về gia đình cha mẹ anh chị em”.

Cám ơn cô Phượng và cô Ngọc Anh đã thổ lộ tâm tình. Chúng tôi cũng rất đồng cảm với nhiều anh em đã và đang hoạt động chống Cộng tại hải ngoại, đã không dám về Việt Nam chịu tang cha mẹ, gia đình vì sợ nhà nước cộng sản sẽ khó dễ, giam giữ. Những “đám tang khác mọi đám tang” như thế sẽ vẫn còn xảy ra nếu tà quyền vẫn còn thao túng trên quê hương.

Nói thêm về Nguyễn Bắc Truyển, người tù nhân lương tâm này đã được trao giải Stefanus vào năm ngoái. Tổ chức Stefanus Alliance International của Na Uy hôm 20 tháng 10, 2020 đã làm buổi lễ trao giải thưởng khiếm diện cho ông Truyển.  Đây là giải trao cho người dám thể hiện lòng dũng cảm, dám tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và “Human Rights” của con người. Trước đây vinh dự này đã trao cho các nhân vật tại Iraq, Bắc Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ… Ông Nguyễn Bắc Truyển là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, một thành viên của Hội Ái Hữu Tù Nhân Lương Tâm và Hội Anh Em Dân Chủ. Năm 2017, ông Truyển cùng một số nhà hoạt động khác bị bắt và bị đưa ra xét xử. Sau đó, ông bị tuyên án 11 năm tù và 3 năm quản chế với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Cô Bùi Thị Kim Phượng, vợ của Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn cho biết cô rất xúc động và tự hào về chồng mình. Cho dù bản thân Phượng và các chị đã phải chịu sự trả thù hết sức bất nhân của nhà cầm quyền Việt Nam. Trong khi đó báo chí Cộng Sản cùng nhau toa rập chửi rủa, gọi giải thưởng này là việc Liên minh quốc tế Stefanus “tấu hài” về Nguyễn Bắc Truyển.

 

Chúng tôi sinh hoạt trong Phong Trào Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội Toronto, rất gần gũi thân thiết với vợ chồng Nguyễn Bắc Truyển, rất cảm phục tinh thần dấn thân và hy sinh của họ.

Hôm nay không thể tham dự ngày tang lễ của mẹ anh Truyển, chúng tôi xin gởi vòng hoa và thắp nén hương lòng, cầu nguyện cho hương hồn thân mẫu anh được an nghỉ ở cõi Phật. Cầu cho những anh hùng anh thư thời đại và thân quyến của họ luôn được chân cứng đá mềm, vững lòng chiến đấu, cầu cho quê hương Việt Nam. Xin được kết thúc nỗi niềm bằng bài thơ sau đây:

Gởi con ngục tù

 Bên biển vắng hôm nay

tóc trắng mẹ tung bay

lưng còng mẹ cúi xuống

mong manh tấm thân gầy

 Trên đôi mi sầu đầy

nỗi buồn mẹ không khuây

nhớ con trong ngục tối

xót thân con tù đày

 Nhớ mới ngày đâu đây

con thanh niên hăng say

đấu tranh cho đất nước

nay run rẩy hao gầy

 Cai ngục đánh hằng ngày

chịu muôn ngàn đắng cay

vẫn không sờn chí khí

tấm lòng vẫn thẳng ngay

 Uất khí mãi còn đây

sóng biển buồn theo mây

cuốn trôi ngày mộng đẹp

dẫu nhiệt huyết tràn đầy

 Chắp tay mẹ kêu nài

Thượng Đế hãy lắng tai

nghe dân oan rên siết

thấu ước nguyện người ngay

 Xin cho có một ngày

chim trắng đậu trên tay

thanh bình trên đất nước

lúa chín vàng rợn bay

 Mẹ con được xum vầy

Tự Do về nơi đây

líu lo bài hát mới

trên môi em thơ ngây….

Nguyễn Ngọc Duy Hân

NGĂN KẺ DỐT LÀM THẦY

Lương Văn Can

NGĂN KẺ DỐT LÀM THẦY

Chuyện kể rằng Khổng Tử có học trò tên Mỗ, người nước Đằng. Mỗ học vào loại trung bình – yếu, song luôn luôn tự cho mình là giỏi. Học được vài năm, Mỗ xin về nước vì tưởng rằng đã học hết đạo của thầy.

Tử Cống thấy vậy hỏi thầy:

– Người ấy về nước rồi làm quan có sao không?

Khổng Tử rung đùi đáp: “Không sao”.

Lại hỏi tiếp:

– Làm tướng có được không?

Khổng Tử vuốt râu đáp: “Được”.

Lại hỏi tiếp:

– Thế nhỡ hắn về làm giặc?

Khổng Tử vừa ngáp vừa trả lời: “Cũng không hại gì!”

Bấy giờ Tử Cống mới yên tâm mà thủng thẳng bạch với thầy:

– Nghe nói Mỗ ấy xin về nước chỉ để làm thầy, mở trường dạy học!

Khổng Tử vừa nghe câu đó, bỗng giật nẩy mình. Thế là chân không kịp xỏ giày, áo không kịp buộc giải, vội vàng chạy bắn ra khỏi cổng!

Học trò đuổi theo hỏi:

– Thầy chạy đi đâu?

Khổng Tử vừa thở vừa đáp: “Sang ngay nước Đằng”.

Học trò lại hỏi:

– Thầy sang nước Đằng làm gì?

Khổng Tử vẫn vừa chạy vừa trả lời: “Sang ngăn không cho tên Mỗ này làm thầy. Hắn có làm quan thì cùng lắm chỉ hại đến một ấp. Làm tướng cũng chỉ hại đến một thành. Thậm chí có làm giặc cũng chưa chắc đã hại nổi ai. Nhưng nếu hắn làm thầy thì sẽ hại đến muôn đời. Ngay cả ta cũng khó mà tránh khỏi liên luỵ !!!”

* Nguồn: “Luận ngữ tân thư”

– Phạm Lưu Vũ

CÓ NHỮNG “NGƯỜI THẦY” NHƯ THẾ

Lương Văn Can

CÓ NHỮNG “NGƯỜI THẦY” NHƯ THẾ

 Nguyễn Thị Bích Hậu

Nhìn tấm hình này, có thể thấy phong thái học hành tuyệt vời của Đại học Y khoa Sài Gòn trước 1975, khi sinh viên nghe như uống từng lời của giáo sư Phạm Biểu Tâm. khoa trưởng khoa Y VN đầu tiên của trường. Một chuyện đáng nhớ về giáo sư là vào đầu thập niên 60, trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học Y khoa Sài Gòn, Ngô Đình Lệ Thuỷ (con của Cố vấn Tổng thống Ngô Đình Nhu) thi không đạt điểm đậu. Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Chủ tịch Hội đồng thi đã từ chối cho Lệ Thuỷ vào học, mặc dù có sự can thiệp của Bộ trưởng Giáo dục thời đó.

Giáo sư Ngô Gia Hy nói “Ở Sài Gòn, trong cương vị Giám đốc Bệnh viện Bình Dân, khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn, quyền Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, Anh (GS Tâm) cũng vẫn tấm lòng đôn hậu, nhưng rất cương trực điều hành và cư xử tốt với tất cả mọi người. Anh đã cương quyết thực hiện công bằng trong các kỳ thi tuyển sinh vào trường y khoa, vượt qua những áp lực dựa vào quyền thế. Anh có đặc tính khiêm tốn, dù ở địa vị cao, mà Anh không hề nói xấu một người nào. Ngoài ra, Anh còn là người con hiếu thảo, là giáo sư nhưng mỗi khi về Huế, Anh vẫn mặc áo the thâm hầu hạ phụ thân đã cao tuổi như một người con nhỏ. Đối với những thầy cũ của mình, bất cứ ở đâu, trong trường hợp nào, Anh vẫn tỏ lòng kính trọng, lắng nghe…”.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, và sau đó qua trung học phổ thông tại Vinh. Đến lúc trung học chuyên khoa (Tú tài), ông theo học tại Trường Quốc học Huế và Trường Bưởi (Hà Nội).

Năm 1932 ông bắt đầu theo học Trường thuốc tại Hà Nội. Khi đã tốt nghiệp, ông tiếp tục làm nội trú bệnh viện trong nhiều năm để học hỏi thêm kinh nghiệm. Năm 1947 ông đệ trình luận án tiến sĩ y khoa với đề tài là “Introduction de la Médecine occidentale en Extrême-Orient” (Sự du nhập của y khoa Tây phương vào các nước miền Viễn đông).

Năm 1948 ông trúng tuyển kỳ thi thạc sĩ y khoa (professeurs agrégés des universités, để làm giáo sư) tại Paris, đồng thời với bác sĩ Trần Quang Đệ, một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam. Ông trở về nước làm giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội suốt trong khoảng thời gian từ 1949 đến 1954. Ông cũng kiêm nhiệm chức Giám đốc Bệnh viện Yersin tại Hà Nội và sau đó là Phó giám đốc Trường Quân y.

Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào nam và trở thành Giám đốc kiêm Trưởng khoa Ngoại tại Bệnh viện Bình Dân. Một năm sau, ông trở thành khoa trưởng người Việt đầu tiên của Trường Đại học Y Dược Sài Gòn. Nhưng ít năm sau đó, ông từ chối lời mời làm Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, nhất quyết ở lại với Trường Y khoa để tiếp tục chương trình đã theo đuổi từ nhiều năm.

Sau 1975, giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn ở lại VN. Một học trò cũ của ông là Ngô Thế Vinh viết “thầy Tâm vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế-độ mới, vì đức độ tài-năng và nhân-cách đặc-biệt của Thầy. Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng. Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch. Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dậy cho các thế hệ môn sinh. Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy. Bằng cớ là nhà của thầy Tâm ít nhất đã hai lần bị công an thành phố xông vào lục xét, và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì …”

Thày Phạm Biểu Tâm mất năm 1999 tại Mỹ sau thời gian dưỡng bệnh. Tháng 12 hàng năm là dịp tưởng niệm ngày mất của thày. Mỗi khi nhớ tới thày, tôi rất xúc động, bởi thày thực sự là một tri thức Việt Nam rất hiếm có kể cả về tài năng, đức độ, nhân cách. Tiếc thay giờ đây ở ta rất khó tìm thấy những giáo sư như thày Phạm Biểu Tâm.

NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU

(Bài và ảnh)

Ai mua văn (bằng) tôi bán văn cho

Ai mua văn (bằng) tôi bán văn cho

Lâm Văn Bé (Danlambao) – Ngày 28 tháng 7 năm 2021, “Viện Kiểm sát (sic) Nhân dân Tối cao” công bố truy tố trước Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội người hiệu trưởng Dương văn Hóa và 9 cộng sự viên của ông ở trường Đại học Đông Đô đã cấp 429 văn bằng giả từ năm 2018 đến 2019 để thu vào 7.1 tỉ đồng, trong đó có “55 người dùng bằng giả để làm luận án tiến sĩ” (RFA 25/11/2020). Trước đó, vào năm 2013, một người hiệu trưởng tiền nhiệm của bị cáo nầy cũng đã bị 30 tháng tù treo vì thu nhận 4000 sinh viên không đúng tiêu chuẩn.

Việc mua bán văn bằng giả và tham nhũng ở Đại học Đông Đô như trên không phải là lần đầu và chắc hẳn không phải là lần cuối, cũng không phải chỉ tại Đại Học Đông Đô mà tràn lan khắp nước từ trung học đến đại học, từ hàng chục năm nay. Văn bằng được rao bán như vậy, cái tựa bài viết là “nhái” từ câu Ai mua trăng tôi bán trăng cho trong bài Trăng vàng trăng ngọc của Hàn Mặc Tử.

Đại học tư thục là một doanh nghiệp

Cần xác định đại học Đông Đô nói trên là một trường đại học tư thục. Trang giới thiệu của trường có đoạn: “Trong quá trình xây dựng, trường đã có 40 000 kỹ sư, kiến trúc sư, cử nhân… tốt nghiệp đang giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan của đảng, nhà nước và doanh nghiệp… Đội ngũ giảng viên là các viện sĩ, giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ…”.

Như vậy, câu hỏi là trong gần 30 năm qua, trường Đông Đô đã bán bao nhiêu văn bằng giả và tại sao mãi đến năm 2021 mới truy tố bọn làm văn bằng giả? Có bao nhiêu đại học loại như Đông Đô và bao nhiêu tiến sĩ, thạc sĩ có văn bằng loại như Đông Đô?

Nhớ lại từ sau khi có chánh sách mở cửa vào năm 1986, đảng cộng sản Việt Nam đã bày trò thành lập các đại học tư thục, lúc ấy có tên là đại học dân lập nhưng thực chất là dùng vốn của tư nhân để bành trướng thêm số trường đại học nhằm mục đích lòe thế giới và hốt tiền của dân. Quyền quản trị vẫn gián tiếp hay trực tiếp trong tay của đảng cho đến năm 2005, sự tách biệt giữa công và tư mới rõ ràng. Từ đó, đại học dân lập đổi tên là đại học tư thục rồi mọc lên như nấm. Số trường tư thục mọc lên như sau: Năm 1988: 1 (đại học Thăng Long); 1994: 5 (trong đó có ĐĐ); 2000: 16; 2005: 25; 2010: 51, 2019: 68 (25 thành lập hình thành phát triển đại học tư thục /giaoduc.net.vn , Wikipedia). Lưu ý là trong 19 năm (2000 – 2019) tăng thêm 52 trường đại học tư thục (không kể cao đẳng) điều chưa thấy trong một quốc gia chậm tiến về giáo dục.

Thông thường, thành lập một đại học dù công hay tư là một biến cố giáo dục quan trọng, đem lại niềm tự hào cho dân tộc, nhưng với VN, mở thêm một đại học tư là xuất hiện thêm một tập đoàn kinh doanh, mở rộng thêm vết rạn nứt của ngôi nhà đại học đã mục nát và đến nay đã đến hồi sụp đổ. Tại nhiều quốc gia, các đại học tư thường là những tổ chức phi lợi nhuận, nhưng tại VN, lập một đại học tư là lập một công ty dùng giáo dục hỗ trợ cho công việc làm ăn. Điển hình như bài giới thiệu Trường Đại học Tư Thục Quốc Tế Hồng Bàng đăng trên trang mạng của trường như sau: Đại Học Quốc Tế HỒNG BÀNG (tên gọi tắt HIU) là trường đại học đào tạo đa ngành nghề trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng có nhu cầu xã hội cao. Tập đoàn Nguyễn Hoàng (NHG / Nguyen Hoang Group) là chủ đầu tư của trường ĐHQT Hồng Bàng. NHG sở hữu hệ thống giáo dục khép kín từ bậc Mầm non đến Tiến sĩ với các cơ sở trải dài rộng khắp trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh lĩnh vực đầu tư mũi nhọn và giáo dục-đào tạo, NHG cũng là chủ đầu tư các hệ thống Nhà hàng – Khách sạn, Bất động sản nghỉ dưỡng…”. Hiện nay, tập đoàn Nguyễn Hoàng sở hữu 5 đại học có đào tạo tiến sĩ và 50 cơ sở giáo dục trên 18 tỉnh.

Gần đây nhất, tháng 01/ 2020, một trường đại học tư thục “hoành tráng” vừa được khánh thành ở Hà Nội tên là VinUni của tập đoàn VinGroup tỉ phú Phạm Nhật Vượng với sự “hợp tác chiến lược” của đại học Cornell và đại học Pennsylvania, dự trù sẽ lọt vào “top 50 của các đại học trẻ trên thế giới vào năm 2049”. Học phí mỗi năm: 35 000 USD cho học trình cử nhân và 40 000 USD cho học trình hậu đại học.

Bởi lẽ là một cơ sở tìm lợi nhuận, tiền học phí cứ gia tăng mỗi năm, thiếu cơ sở và phương tiện sư phạm, giảng viên thiếu khả năng, đại học tư thục là một thứ chợ trời. Tham lợi, tham nhũng, gian dối, bè phái… là nguyên nhân chính yếu của tình trạng yếu kém đại học công cũng như tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, phải nói là trong đống sỏi đá có một viên đá quý là đại học tư thục Duy Tân. Trong bảng xếp hạng đại học thế giới của THE 2022 (Times Higher Education), đại học Duy Tân được xếp trong nhóm hạng 401-500, trong khi Đại Học Quốc Gia Hà Nội và ĐHQG TP Hồ Chí Minh nằm trong nhóm cao hơn 1000.

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Không phải chỉ có các đại gia Việt Nam độc quyền mở trường tư để thu học phí cao và bán văn bằng giả, giới đẩu tư ngoại quốc cũng xông vào Việt Nam để khai thác thị trường béo bở nầy. Tiến sĩ Mark A. Ashwill, Giám Đốc cơ quan Capstone Việt Nam có trụ sở ở Hà Nội chuyên về kiểm định các trường đại học đã công bố danh sách 21 trường đại học Mỹ có mặt tại VN nhưng không được công nhận bởi cơ quan kiểm định Hoa Kỳ (Giới chức giáo dục Hoa Kỳ tố cáo 21 trường…/vietcatholicnews.net). Các trường đại học giả hiệu nầy đã hoạt động tại VN từ lâu, nhưng Bộ Giáo Dục-Đào Tạo làm ngơ hay thông đồng để thu lợi nhuận rất cao vì các đảng viên trung kiên, từ địa phương đến trung ương cần một văn bằng để được hợp thức hóa việc thăng chức. Văn bằng càng cao như thạc sĩ, tiến sĩ thì giá văn bằng càng “khủng”.

Chuyện lạ mà có thật ở VN. Báo chí VN hồi tháng tư năm 2011 tường thuật Ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hóa Thể Thao tỉnh Phú Thọ vừa đậu bằng tiến sĩ do một trường đại học ở Mỹ cấp, dù ông không nói được tiếng Mỹ và chẳng bao giờ đi học. Ông cho biết là ông tốn 17 000 mỹ kim để đi Hawaï 2 tuần để nhận bằng từ đại học South Pacific University là một đại học đã bị tòa án tiểu bang Hawaï đóng cửa từ năm 2003 nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bán văn bằng. Cũng cần biết là số tiền 17 000 mỹ kim là do ngân sách của tỉnh Phú Thọ “hỗ trợ”.

Chuyện ông tiến sĩ giấy lại phơi bày thêm một khía cạnh đạo đức của xã hội VN vì có tờ báo cho là bằng cấp của ông Ân là bằng thật chớ không phải bằng giả bởi không phải do ông ngụy tạo ra, ông có đến Mỹ trình luận án của ông tựa là “Bảo tồn văn hóa phẩm tỉnh Phú Thọ” qua một thông dịch viên, đại học Mỹ đã cấp văn bằng tiến sĩ và chỉ có chính phủ Mỹ mới có quyền hủy bỏ văn bằng. Như vậy, cùng lắm có thể nói bằng tiến sĩ của ông Ân là tiến sĩ dỏm chớ không phải là tiến sĩ giả. Chuyện tranh cải tương tự cũng xảy ra với trường hợp ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Yên Bái cũng có bằng tiến sĩ tuy không đi học, không biết tiếng Mỹ, sau 6 tháng nhận trợ cấp của chính phủ 74 triệu đồng. Ông Ngọc cũng cho biết có 10 đồng chí của ông nhận được bằng tiến sĩ của đại học ma nầy. Ông “tiến sĩ 6 tháng” sau đó được bổ nhiệm chức Phó Bí Thư Đảng ủy Doanh nghiệp Trung ương (tương đương với Thứ Trưởng).

Từ những lời khoe khoang kênh kiệu và ngu đần nầy, đến nay không biết VN có bao nhiêu tiến sĩ, thạc sĩ giả. GS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ Trưởng Giáo Dục tuyên bố: “Từ 2001 đến 2004, Bộ cũng đã tiến hành rà soát trên cả nước và phát hiện hơn 10 000 trường hợp quan chức có bằng cấp giả” (Blog Mai Thanh Hải). Qua những tin tức phát tán từ báo chí và cơ quan nhà nước về đại nạn văn bằng giả, chúng tôi nghĩ là từ sau khi chiếm miền Nam đến nay, có ít nhất phân nửa cán bộ nhà nước, đặc biệt là các cấp lãnh đạo sử dụng văn bằng đại học giả hay dỏm.

Du học tại chỗ

Trong bối cảnh lạc hậu và bát nháo của giáo dục đại học tư thục như vậy, du học là giấc mơ của các sinh viên Việt Nam để hi vọng đổi đời. Đối với đám con ông cháu cha và con cháu các đại gia làm ăn với chế độ, họ mong đạt được một cấp bằng hay một chứng chỉ của bất cứ một đại học nào tại bất cứ một quốc gia nào ngoài VN để hợp thức hóa các ngôi vị của cha ông truyền lại. Đối với các sinh viên trung lưu không thân thế mong được du học để trở về tìm được một chỗ làm tốt trong các xí nghiệp ngoại quốc hay may mắn hơn thoát được vĩnh viễn cái quốc gia ngự trị bởi chế độ độc tài. Người ít khá giả hơn, vì không có phương tiện du học đành tìm lối thoát bằng cách du học tại chỗ trong các trường đại học tư thục ngoại quốc tại Việt Nam, hoặc do ngoại quốc đầu tư vốn 100%, hoặc do ngoại quốc hợp tác về tài chánh và đào tạo với chánh phủ Việt Nam.

Hiện nay, tại VN có 5 trường đại học và cao đẳng ngoại quốc: British University in VN /BUV), Royal Melbourne Institute Technology/RMIT, Fulbright University in VN, American University in VN (ở Đà Nẳng), và Greenwich VN. Ngoài ra còn có một số đai học hỗn hợp VN và ngoại quốc như Đại học Việt-Đức (Vietnamese-German University), Đại học Việt-Nhật (Vietnamese-Japan University), Đại học Việt-Pháp (tên gọi của Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, University of Science and Technology Hanoi USTH) là những đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo Dục Đào Tạo nhưng ban giám đốc hỗn hợp, ban giảng huấn là người ngoại quốc và ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Anh.

Mặc dù ra rả chửi đế quốc tư bản, nhưng Cộng sản rất “háo” tư bản. Có khoảng 20 trường đại học và cao đẳng tư thục gắn thêm trong bảng hiệu chữ quốc tế (như Đại học quốc tế Hồng Bàng) hay một địa danh ngoại quốc (như Cao đẳng Y-Dược ASEAN…). Đa số các trường nầy được coi như các đại học “ăn khách” ở Việt Nam và cấp bằng của các trường nầy là một bảo đảm, thực và hư, cho giới trẻ. Dĩ nhiên, học phí (và chi phí linh tinh) các loại trường nầy chỉ dành riêng cho con cháu của tỉ phú đỏ và tỉ phú xanh, từ 20 000 đến 40 000 mỹ kim một năm, trong khi học phí các đại học, cao đẳng loại nâng cấp khoảng trên dưới 2000 MK, tương đương với lương đồng niên của một công nhân. Tốt nghiệp các trường nâng cấp nầy thì may lắm mới tìm được một việc làm của một cổ xanh. Thì ra trong thiên đường cộng sản, sau 70 năm, con quan thì lại làm quan, con sãi ở chùa thì vẫn quét lá đa.

Đại học công lạm phát và chậm tiến

Trên thế giới, không một quốc gia nào có số đại học công thành lập chiếm kỷ lục trong một thời gian rất ngắn như ở Việt Nam.

Khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn, Miền Nam có 3 viện Đại học, 1 Trung Tâm Cao Đẳng, 1 học viện, 2 đại học Cộng đồng, không kể 5 viện đại học tư. Khoảng 60 trường đại học, phân khoa, cao đẳng nầy có cơ sở khang trang, trang bị đầy đủ về phương tiện giảng dạy và ban giảng huấn tiêu chuẩn với khoảng 150 000 sinh viên. Tại miền Bắc, có 5 trường đại học ở Hà Nội và khoảng 30 trường đại học và cao đẳng, nhưng thực ra chỉ là những lớp học cổ lỗ về cơ sở và ban giảng huấn, chỉ hoạt động bình thường đến năm 1965, vì sau đó các cơ sở phải sơ tán vì bị bom Mỹ và sinh viên phải vượt Trường Sơn vào xâm chiếm Miền Nam.

Sau khi thống nhứt ngu dốt và nghèo đói, mãi đến đầu năm 1990, Cộng Sản mới bắt đầu xây dựng và phát triển đại học bằng lối nâng cấp, đưa đại học từ tệ đến tồi. Ngày 7/6/2010, Bộ Trưởng Giáo Dục-Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân phát biểu trước Quốc Hội là trong số 270 trường mới thành lập, thực sự chỉ có 94 trường tân lập hoàn toàn, số còn lại là trường nâng cấp từ trường thấp hơn (trung cấp, cao đẳng, học viện trở thành đại học). Một vài thí dụ trong số hàng trăm “đại học nâng cấp”, một sáng kiến ưu việt của các đỉnh cao trí tuệ bộ Giáo Dục.

– Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (ghi rõ: kiểm sát) trực thuộc Viện Kiểm Sát, nguyên là trường trung cấp đào tạo nhân viên cho Viện Kiểm sát nhân dân (1970) được nâng lên là Cao Đẳng (1982) rồi Đại học (2005).

– Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội trực thuộc Bộ Nội Vụ gốc là Trường Trung học Văn Thư Lưu Trữ Trung Ương (1971) được nâng cấp là trường Cao đẳng Văn Thư Lưu Trữ (2005) rồi Đại Học Nội Vụ (2011).

– Trường Đại học Việt-Hung: gốc là Trường Trung học hữu nghị Việt – Hung (Hung Gia Lợi) được nâng cấp thành Cao Đẳng Việt-Hung (2005) rồi Đại học Việt Hung (2010).

– Trường Đại học Saigon: gốc là trường Sư Phạm cấp 2 ở Chiến Khu C (quận Tịnh Biên, tỉnh Tây Ninh) thành lập năm 1972, chuyển về TP Hồ chí Minh năm 1976 và nâng cấp thành Cao đẳng Sư Phạm (1976), rồi Đại học Saigon (2007).

Và cứ tiếp tục truy tìm lịch sử các trường Cao đẳng, Đại học, người đọc sẽ thấy Việt Nam hôm nay có khoảng 300 trường được nâng cấp kiểu nầy, và dĩ nhiên khi trường được nâng cấp, giảng viên cũng được nâng cấp theo lối học tại chức để có bằng Thạc Sĩ, Tiến Sĩ.

Chính vì trường đại học, cao đẳng được nâng cấp như vậy, số thống kê của Bộ Giáo Dục Đào Tạo thiếu sót, nhập nhằng. Từ nhiều năm nay, Bộ GDĐT chỉ công bố con số trường đại học mà không công bố thống kê các loại trường cao đẳng (chỉ có cao đẳng sư phạm). Người viết phải tìm kiếm trong các bài nghiên cứu về giáo dục , nhất là Wikipedia.

Niên khóa 2019-2020, Bộ GDĐT cống bố Việt Nam có 237 trưởng đại học gồm 172 trường công lập và 65 trường tư thục. Truy cập tên các cơ sở đại học, cao đẳng, học viện trong Wikipedia, chúng tôi tìm thấy những con số trường nhiểu hơn mà chi tiết như sau:

Năm 1997, Việt Nam có 123 trường đại học và cao đẳng công và tư. Năm 2019, Việt Nam có 668 trường đại học và cao đẳng, không kể khối Công An, Quốc phòng và các phân hiệu, phân viện. Phải chăng, Bộ GĐDT cố tình che giấu nạn lạm phát trường đại học, nhất là trường cao đẳng được xem như trường trung học cấp 3, bởi lẽ chỉ trong 22 năm (1997-2019), VN đã tăng thêm 545 cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng, tăng lên gấp 5 lần. Đó là trường hợp duy nhất trên thế giới.

Quản trị đại học mánh mung

Tổ chức các đại học đặt dưới quyền quản trị chồng chéo của nhiều cơ quan lãnh đạo khác nhau. Các đại học, cao đẳng, học viện, ngoài bộ GDĐT cỏn bị chi phối bởi nhiều Bộ và ngành. Thí dụ như Bộ Công Thương chỉ đạo 34 trường đại học và cao đẳng, Bộ Công Nghiệp 32 trường, Bộ Y Tế 11 trường, Bộ Công An, Bộ Quốc Phòng điều khiển các trường đại học, học viện thuộc khối liên hệ. Các trường Cao đẳng chuyên nghiệp có thêm Bộ Lao Động Thương Binh, trường Cao đẳng nghề có sự chỉ đạo của Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp.

Các đại học địa phương, công cũng như tư, còn phải chịu sự chi phối của Ủy Ban Nhân dân tỉnh hay thành phố. Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh có quyền “bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, cách chức, giáng chức vị trí người đứng đầu trường đại học, cao đẳng ở địa phương. Có quyền công nhận hay không công nhận hội đồng quản trị, hiệu trưởng các đại học tư trên địa bàn, giám sát chất lượng cơ sở đào tạo đại học đóng trên lãnh thổ…” (Tin mới VN, ngày 21/04/2010).

VN hôm nay trở lại thời kỳ thuộc địa ngu dân thuở xưa bởi lẽ các cơ sở giáo dục lại đặt dưới quyền sinh sát của các chủ tịch UBND tỉnh, mà đa số là những cán bộ ít học hay thất học, chỉ vì phe cánh hay trung kiên với đảng được cất nhắc làm lãnh chúa ở các địa phương, thì thử hỏi trong một hoàn cảnh như vậy, đại học VN bảo sao mà không lạc hậu?

Các địa phương tranh nhau mở trường, nhiều chương trình đào tạo giống nhau, các trường tranh chấp nhau, nhiều ngành học không xứng danh đặt trong học trình đại học, hay phát triển một cách đại qui mô ở khắp các địa phương. Có 29 đại học quân sự, 12 đại học công an, không kể các học viện có qui chế như trường đại học, cao đẳng, có quyền cấp văn bằng hậu đại học. Chuyên lạ trên thế giới, trường cao đẳng, đại học Công An, Quốc Phòng có quyền đào tạo tiến sĩ, và ngành công an ở Việt Nam có rất nhiều tiến sĩ.

Trên 63 tỉnh và thành phố của cả nước, mỗi nơi, ngay cho ở “vùng sâu, vùng xa” đều có vài ba trường đại học hay cao đẳng. Tỉnh Bắc Ninh với 1 triệu dân có đến 11 học viện, trường đại học và cao đẳng, tỉnh Hưng Yên với 1.2 triệu người thì có 8 trường… và cứ thế mà đếm tên tỉnh và tên các trường. GS Nguyễn Minh Thuyết, Chủ nhiệm Ủy Ban Văn hóa Giáo dục phải lên tiếng: “…Chính phủ thiếu tầm xa nên mới xảy ra hiện tượng đua nhau bung ra ở các trường đại học, cao đẳng, nhất là giai đoạn 2005. Còn nhớ lúc đó trung bình cứ 2 tuần thì lại ra đời một hai trường đại học cao đẳng mới…” (Bùng nổ đại học và những hệ lụy/ tuoitre.vn ngày 22/09/2015).

Giảng viên Cử nhân dạy sinh viên Cử nhân

Niên học 2019-20, theo thống kê của Bộ GDĐT, tổng số sinh viên đại học công và tư là 1.672 880 người học theo 3 hệ thống: chính quy (đi học ở trường đầy đủ theo học trình), vừa làm vừa học (học từ phân nửa học trình đến tượng trưng vài tuần), đào tạo từ xa (học on-line). Số sinh viên trên được đào tạo bởi 73 142 giảng viên gồm 21 977 tiến sĩ (30%), 44 119 thạc sĩ (60%), 7 036 cử nhân và linh tinh (10%). Số sinh viên tốt nghiệp là 263 172 sinh viên (moet.gov.vn)

Bảng thống kê trên cho thấy 2 điều:

– Ban giảng huấn chỉ có 30% là tiến sĩ, còn lại là 70% thạc sĩ và cử nhân, trái với tiêu chuẩn thông lệ giáo sư đại học phải là tiến sĩ trở lên. Giáo sư không có trình độ, lối giảng dạy theo kiểu thầy đọc trò chép, chương trình giảng dạy không ứng dụng vào đời sống, thi nhập học và thi tốt nghiệp bằng hối lộ và tham nhũng, tất cả các tệ hại nầy đã đưa đến hậu quả tất nhiên là “có những sinh viên tốt nghiệp đại học mà vẫn chưa biết tra cứu một quyển sách chuyên đề hay tra tự điển. Những kiến thức sinh viên nhận được đều lấy từ sách vở và do giáo viên cung cấp. Sinh viên không biết tự tìm tòi, nghiên cứu.” (Giáo duc đại hoc. www.tgvn.com.vn 16/3/2010). Mặc dù một vài năm gần đây, một vài đại học có cải tiến phương pháp giảng dạy khoa học hơn, nhưng đại đa số vẫn còn dạy và học theo kiểu thầy đồ.

– Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp quá thấp (16%). Điều cũng dễ hiểu, các sinh viên nhập học là những học sinh trung học kém, được đào tạo từ một hệ thống giáo dục lạc hậu, nói theo danh từ tục tĩu cộng sản thì nếu “đầu vào” hôi thì “đầu ra” thúi. Các trường học thường chia sinh viên thành 3 nhóm: nhóm thứ nhất khoảng 20% là các sinh viên chăm chỉ học tập, nhóm thứ 2 khoảng 30% là các sinh viên học bình thường, nhóm thứ 3 khoảng 50% là sinh viên học cầm chừng, lười biếng. Thế nhưng kết quả một số ngành có hơn 50% tốt nghiệp bởi lẽ trường sợ đánh rớt thì sinh viên bỏ học, mất lợi tức, trường mất uy tín, giáo sư thất nghiệp.

Hậu quả là sinh viên có bằng nhưng không khả năng nên không tìm được việc làm thích ứng đành phải đi làm cổ xanh mà cũng không có khả năng làm một cổ xanh. Ngoài ra còn có các sinh viên theo hệ thống vừa làm vừa học, học từ xa (on-line) chỉ học phân nửa học trình của hệ chính quy (hệ chính quy: cử nhân phải học 4 năm hay 120 tín chỉ, cao đẳng 3 năm hay 90 tín chỉ) thì cũng được cấp phát văn bằng. Một nền giáo dục đại học chợ trời như vậy chỉ sản xuất được những người nửa thầy nửa thợ, và đám con cháu lãnh đạo bê tha bỏ học (drop out) trở thành nửa đười ươi. Thống kê của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã hội cho biết đầu năm 2019, trước khi có đại dịch, VN có 124 000 cử nhân và thạc sĩ thất nghiệp trong tổng số 1.1 triệu người thất nghiệp dưới 30 tuổi và 60% người, tuy có việc làm nhưng không đúng ngành nghề. Bởi lẽ người tốt nghiệp là …thất nghiệp, họ bất đắc dĩ học cấp cao hơn, và tình trạng như vậy càng thêm ứ đọng cử nhân lái xe ôm, thạc sĩ đi làm nhà hàng và đối với chân dài thì qua Singapore, Mã Lai kiếm… việc nhẹ nhàng mà nhiều tiền.

Học tập tư tưởng của “Bác”

Đại học lạc hậu và hư thúi là tại “Bác”. Từ sau khi áp đặt chế độ cộng sản tại miền Nam và mặc dù Việt Nam tự hào hôm nay đã tiến lên kỹ thuật 4G, 5G, đại học Việt Nam vẫn còn phải học tập tư tưởng của “Bác” từ lúc “Bác” ở trong hang Pắc Pó. Tháng 4 năm 2021, Bộ Giáo Dục Đào tạo ban hành giáo trình sửa đổi “Lý luận chính trị” áp dụng cho tất cả các sinh viên đại học và cao đẳng phải học tập 5 môn như sau: Triết học Mác – Lenin, Kinh tế chính trị Mác, Chủ nghĩa xã hội, Lịch sử đảng Cộng sản VN, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Học trình lý thuyết gồm 15 tín chỉ không kể giờ học thảo luận. Số tín chỉ để tốt nghiệp từ 90 đến 120, như vậy giờ học lý luận chính trị chiếm mất từ nửa năm đến 1 năm trong học trình. Chính các môn học quái đản nầy đã đưa dân tộc Việt Nam đến chỗ u mê và bạc nhược.

Theo bảng xếp hạng đại học QS (Quacquerell Symonds) World University Rankings 2022 (dữ kiện 1-2 năm trước) xếp hạng 1673 đại học thế giới của 93 quốc gia, Việt Nam chỉ có hai Đại học Quốc Gia Hà Nội và Đai học QG TP Ho chi Minh trong nhóm hạng 800-1000. Trong bàng xếp hạng QS-Asia xếp hạng 675 đại học Á Châu, VN có ĐH Tôn Đức Thắng hạng 142, ĐHQG Hà Nội hạng 147, và ĐHQG TP HCM hạng 179. So với các quốc gia trong vùng, Việt Nam chỉ hơn Miên và Lào. Nhục ơi là nhục!!!

Kết luận

Tình trạng sa sút của nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt cấp đại học có nhiều nguyên nhân khách quan, do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu… Đương nhiên tất cả những nguyên nhân nầy đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm, và từ trên xuống dưới … (Hoàng Tụy. Xin cho tôi nói thẳng).

Đã 46 năm rồi từ khi đảng cộng sản chiếm Miền Nam, không phải chỉ có giáo dục sa sút mà cả nước Việt Nam sa sút, yếu kém toàn diện (trừ các cao ốc, các “hoành tráng” mà Việt Kiều về quê ăn Tết khen là “đất nước mình bây giờ văn minh lắm”, nhưng thực sự đa số là sở hữu của ngoại bang và tư bản đỏ). Cố GS Hoàng Tụy, người thầy được cả nước kính trọng, đã nói thẳng nguyên nhân của tình trạng sa sút là lãnh đạo, tức là đảng cộng sản Việt Nam. Muốn giải quyết vấn đề, người viết cũng xin được nói thẳng là không còn giải pháp nào khác hơn là phải thay thế lãnh đạo, giải thể chế độ cộng sản Việt Nam để người dân trong và ngoài nước xây dựng lại nước Việt Nam từ đầu.

11/2021

Lâm Văn Bé

danlambaovn.blogspot.com

NỖI BUỒN CUỐI NĂM, NỖI BUỒN CUỐI ĐỜI

NỖI BUỒN CUỐI NĂM, NỖI BUỒN CUỐI ĐỜI

Huy Phương

“Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già!

Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”, không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”

Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu ?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!”

HUY PHƯƠNG

Thời Tan Rã

Thời Tan Rã

Tưởng Năng Tiến

 “Bạn từ đâu đến”? (“Where do you come from”?) là câu hỏi mà tôi vẫn thường nghe trong những tháng ngày lưu lạc. Dù tha hương gần cả cuộc đời, tôi luôn luôn đáp rằng mình từ nước Việt: I’m from Vietnam!

Nếu trả lời khác đi và đúng với thực trạng (I’m from California) thì rất có thể tôi sẽ nhận được ánh mắt, cùng với nụ cười thân thiện hơn của tha nhân. Tuy biết vậy nhưng tôi không muốn chối bỏ quê hương, dù không hãnh diện gì (lắm) về cái đất nước khốn cùng mà mình đã đành đoạn bỏ đi từ khi tóc hãy còn xanh.

Sống tha phương cầu thực – tất nhiên – không thiếu những phút giây tủi thân/ tủi cực hay tủi nhục, hoặc cả ba. Thêm (hay bớt) vài cái nhìn dè bỉu/khinh chê của thế nhân đâu phải là chuyện đáng để bận tâm.

Tôi vẫn thường nhủ lòng như thế. Ấy thế mà vẫn không tránh khỏi đôi chút mủi lòng khi nhìn thấy dăm ba đồng hương, đang lui cui nhặt nhạnh rác rưởi, trên hè phố nơi quê người đất khách: 

Bỗng nhiên hiện ra trước mắt ba người một bãi rác khổng lồ. Tủ đứng, tủ nằm. Xa lông. Máy giặt. Nồi cơm điện cũ. Rồi ghế xoay. Bá ngồi ngay lên chiếc ghế xoay. Xoay một vòng. Bốn bánh xe dưới chân đưa anh đi một quãng. Chà chà. Thật mê ly. Có cái ghế xoay này đặt trong nhà ngồi thư giãn, xem sách, đọc báo hay nghe nhạc thật tuyệt vời. Bảo đảm cả thành phố không ai có.

Đang thả tâm hồn bay bổng, nhìn theo Đay và Niệm đi sâu hơn nữa vào bãi rác, bỗng nghe tiếng reo, anh giật mình đứng lên bước nhanh về phía họ: Một đống quạt bàn hiện ra trước mắt.

Cái nào cũng còn nguyên bảo hiểm, cánh, cả giây và phích điện dù có chiếc bảo hiểm đã rỉ và bầu thì đã tróc sơn. Chỉ nhìn nét mặt họ, anh cũng biết anh không có phần ở đống quạt cũ này. Vì lúc họ tìm ra, anh không có mặt, anh còn đang đu đưa với chiếc ghế xoay. Cái ghế xoay chết tiệt! Đay cùng anh thuỷ thủ nhặt quạt bàn xếp thành một hàng rồi tìm ra một chiếc gậy gỗ xâu gần chục chiếc quạt lại.

Thật sung sướng khi nghe Niệm nói: “Phần ông Bá một chiếc, thôi, cứ xâu cả vào đây, khiêng về tầu, ông ấy lấy sau.”

Thật là một tấm lòng vàng. Cái quạt tai voi nhà anh cũ quá rồi. Khi chạy cứ long lên sòng sọc như muốn rời ra. Hai người khiêng quạt đi trước, Bá vác cái ghế xoay đi sau. Phải mang chiếc ghế này về. Vì nó quá sang trọng, quá tuyệt vời. Hơn nữa nó còn là nguyên nhân làm anh thất bát ít ra hai chiếc quạt!

Khiêng vác trên vỉa hè, gặp người Nhật và cả những người mắt xanh mũi lõ sải bộ trên hè, không ai bảo ai cả ba đều cúi gầm mặt. Niệm kêu to, trấn an bạn và cũng là để trấn an chính mình:

– Làm đéo gì mà xấu hổ. Họ biết mình là ai…

Rồi trừng mắt hỏi Bá:

– Ông là người nước nào. Tôi là người Ma lai xi a. Quốc tịch Ma lai xi a chính hiệu.

Đay cười nhạt:

– Thôi. Cứ nói Căm pu chia cho xong. Dân Mã lai nó đếch thèm những thứ này đâu. Sang đây mới thấy mình là cuối hạng người…

Ấy thế mà khi về đến Việt Nam chúng mình lại là nhất. Chúng mình là đầu hạng người. Ai nhìn chúng mình cũng nể. Ai cũng thèm được như chúng mình. Chúng mình chon von chót vót…

Ngay chuyến này thôi, với những ngày vắng mặt ở Việt Nam để đi sang nước Nhật này, trở về với mấy món hàng cũ trong tay, anh thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác. Đúng. Chỉ cần vắng mặt ở Việt Nam ít ngày thôi rồi trở về, anh đã là một con người khác” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 458 – 461)

Bốn năm sau, sau khi tác phẩm thượng dẫn được xuất bản – trong một buổi trò chuyện với thông tín viên Mặc Lâm (RFA) vào hôm 15 tháng 4 năm 2012 – tác giả tâm sự: “Đây là quyển tiểu thuyết sử thi thời sự tan rã. Tan rã trong hệ tư tưởng, tan rã trong quan hệ sản xuất, nghĩa là tan rã trong ý thức hệ, tan rã trong  quan hệ giữa người với người.”

Bùi Ngọc Tấn giờ không còn nữa. Điều ông khẳng định về sự băng rã (và băng hoại) ở đất nước mình nay đã được nhận rõ ở bình diện quốc gia. Những ngày qua, giới báo chí nhà nước đồng loạt và hớn hở loan tin:

Qua một cuộc phỏng vấn dành cho giới truyền thông trong nước, ông Vũ Anh Minh – Chủ Tịch Hội Đồng Thành Viên Tổng Công Ty Đường Sắt Việt Nam (VNR) – khẳng định: “Nếu không có lợi thì chúng tôi đã không đề xuất. Lợi ở đây không phải là với doanh nghiệp tư nhân chỉ tính hiệu quả kinh tế của đồng vốn, mà đây chính là lợi ích cho Nhà nước…”

Thật là quí hóa! Quan chức mà ai cũng “vô vị lợi” như ông Vũ Anh Minh thì cái lò của ông Nguyễn Phú Trọng đã tắt ngúm từ lâu. Điều đáng tiếc là quan điểm “vị tha” (và “vị quốc gia”) của ông ta, xem ra, không được dư luận đồng tình.

Nhà báo Lưu Trọng Văn góp đôi lời bàn (ra) không thân thiện lắm:

Đường sắt là hình ảnh kinh tế hàng đầu như hàng không, tàu biển, để thế giới nhận diện độ tin cậy và xu hướng phát triển của Kinh tế VN và phẩm chất chế độ của VN để họ có nên đầu tư kinh doanh hay không. Việc VN xin rồi cải tạo đồ phế thải 40 năm và việc Chính phủ VN nếu chấp nhận thì sẽ là cú đánh cực mạnh vào uy tín nền kinh tế VN và uy tín quản trị của đảng cầm quyền VN.

Nỗi lo ngại về “uy tín của đảng” (cái Đảng đã từng đánh thắng liên tiếp mấy đế quốc to) của Lưu Trọng Văn, tất nhiên, hoàn toàn chính đáng. Tuy thế, nhà báo Nguyễn Thông lại còn bầy tỏ sự quan ngại (đáng ngại) hơn thế nữa cơ:

Trước năm 1975, nghèo đói, lạc hậu, chậm phát triển, một phần do chiến tranh đã đi một nhẽ (ấy là chỉ nói ở miền Bắc cắm đầu theo chủ nghĩa xã hội, chứ miền Nam không hẳn vậy, dù cũng chiến tranh), nhưng từ khi đất nước thống nhất tới giờ, các ông các bà làm gì suốt gần nửa thế kỷ để vẫn loay hoay giảm nghèo bền vững.

Nước Nhật người Nhật chỉ cần hơn 20 năm, còn các ông bà định kìm hãm nước này dân này tới bao giờ. Mấy chục toa tàu hàng bãi mà họ vứt bỏ, còn ta định lôi về không phải chỉ đơn giản chuyện cũ người mới ta, mà cao hơn sâu hơn, ẩn chứa sự hổ thẹn, ô nhục về khả năng cầm quyền, lãnh đạo.

Những hạn từ “hổ thẹn” và “ô nhục” trong đoạn văn trên khiến tôi nhớ đến một bài báo cũ (“Đi Nước Ngoài ‘Thoải Mái’ Như Ở Tổng Công Ty Đường Sắt Việt Nam”) đọc được trên trang Dân Trí, vào hôm 01/09/2016.  Xin phép trích dẫn đoạn mở đầu:

“Từ năm 2010 đến hết năm 2013, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức 188 đoàn đi nước ngoài với tổng số tiền chi gần 14 tỷ đồng, trong đó có 23 đoàn đi không có văn bản mời hay hợp đồng học tập với phía đối tác. Kiểm tra hồ sơ 5 đoàn đi nước ngoài năm 2012 – 2013 thì cả 5 đoàn đều hợp đồng qua các công ty du lịch trong nước (theo tour) với nội dung ‘tham quan, học tập.”

Giá mà trong 188 đoàn đi nước ngoài này mà có vài người được chỉ định chuyên học tập cách tự sát – hara kiri – của người Nhật Bản (khi họ không làm tròn trách nhiệm được giao phó, hay danh dự bị tổn thương) để chỉ dạy cho giới lãnh đạo Việt Nam thì “uy tín của đảng cầm quyền” – chắc chắn – sẽ lên cao ngất!

Tưởng Năng Tiến
11/2021