RFI Tiếng Việt
Theo lời kể của phóng viên đài Úc ABC News, trong một cuộc trả lời phỏng vấn hồi đầu năm 2021, cựu tổng thống Mỹ đã từ chối lên án thái độ hung hãn của những người ủng hộ ông, kêu gọi « treo cổ » phó tổng thống Mike Pence.


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Sưu tầm – Bình Luận-Sự Kiện
Theo lời kể của phóng viên đài Úc ABC News, trong một cuộc trả lời phỏng vấn hồi đầu năm 2021, cựu tổng thống Mỹ đã từ chối lên án thái độ hung hãn của những người ủng hộ ông, kêu gọi « treo cổ » phó tổng thống Mike Pence.

Trước bàn làm việc tôi có để cái hộp màu vàng nhạt, tượng trưng cái hòm, giống như cái quan tài, sau này tôi sẽ nằm trong đó.
Câu thứ hai để nhắc nhở bản thân mình: “Nếu ngày mai tôi không còn nữa thì hôm nay tôi phải nghĩ gì, làm gì?”
Phùng Văn Phụng
Nghĩa trang những ngày vào Thu bầu trời ảm đạm, lá vàng rơi lã chã, vương vãi trên các phần mộ nằm im lìm trong tiếng gió Thu reo xào xạc. Xa xa, một quan tài vừa được mang đến, một đoàn người lặng lẽ nghiêng mình cầu nguyện. Đối với những người nằm sâu trong lòng đất, giờ này thế sự chẳng là gì với họ, mặc cho tiếng gió rì rào qua khe lá, tiếng chim hót líu lo, tiếng xì xào của những chú sóc đuổi nhau trên cành, xen kẻ tiếng hú còi của cảnh sát, tiếng xe cộ đan nhau trên đường và tiếng khóc than của thân bằng quyến thuộc. Giờ, họ đang chìm sâu vào giấc ngủ ngàn thu, nhân tình thế thái đã bỏ lại sau lưng! Nguyện xin cho mọi linh hồn được nghỉ yên đời đời trong nước Thiên Đàng
Houston, Texas
Thứ Sáu 13, 2020
Thuỳ Vân
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thượng
CHUYỆN NGƯỜI TU SĨ
Chuyện kể rằng: Có một tu sĩ rất chuyên chăm tu hành. Kết quả là đời sống tu trì cũng như tâm hồn của ông trở nên rất mực tốt lành, và thánh thiện.
Một ngày kia, đang lúc vị tu sĩ ấy bắt tay vào rửa chén dĩa, thì một Thiên thần hiện ra nói: “Thiên Chúa sai ta đến báo cho ngươi biết là đã đến giờ ngươi lìa đời để đến trình diện Chúa”. Vị tu sĩ điềm nhiên và vui vẻ trả lời: “Tạ ơn Chúa đã thương nghĩ đến tôi, nhưng như ngài thấy đó, tôi còn phải rửa hàng chồng chén dĩa, liệu giờ tôi đến trình diện Chúa có thể hoãn lại sau khi tôi làm xong bổn phận rửa chén dĩa này không?” Nghe vậy, Thiên thần liền biến mất. Tu sĩ ấy trở lại công việc bổn phận một cách hăng say và quên hẳn việc gặp gỡ Thiên thần.
Một thời gian sau, trong lúc vị tu sĩ ấy đang chăm sóc các bệnh nhân, thì Thiên thần lại hiện ra. Lần này vị tu sĩ không nói một lời, chỉ giơ tay chỉ vào các bệnh nhân đang nằm trên giường. Thiên thần lại biến mất không nói một lời nào. Cứ như vậy, vị tu sĩ cứ vui tươi và tận tình chu toàn việc phục vụ cộng đoàn tu của mình và tất cả mọi người.
Rồi một ngày kia, ông cảm thấy mình đã già nua và mệt mỏi. Ông thốt lên lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin sai Thiên thần Chúa đến, con đã sẵn sàng theo ngài”. Lời cầu nguyện vừa dứt, Thiên thần Chúa hiện đến. Vị tu sĩ vui mừng rỡ: “Lần này, nếu Thiên thần mang tôi đi, tôi sẵn sàng theo ngài về thiên quốc”. Thiên thần nhìn vị tu sĩ ấy với tất cả sự trìu mến và nói: “Này vị thánh nhỏ ơi, sao còn mơ ước về Thiên quốc, những ngày tháng vừa qua, chẳng phải ông đã đang ở thiên đàng rồi hay sao?”
Lạy Chúa, xin sai các Thiên thần của Chúa đến dẫn dắt và trợ giúp chúng con trong mọi khó khăn và hiểm nguy trên hành trình dương thế để chúng con luôn sống trong ơn nghĩa với Chúa ở đời này và đời sau sẽ được cùng các Thiên thần đàn ca chúc tụng Chúa trên Thiên quốc. Amen.
Nt. Rosa Lê Ngọc Thuỳ Trang, MTGCQ
Têrêsa Ngọc Nga (st)
From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen
Tâm Linh Cây Cỏ & Con Người.
Nguyễn Mộng Khôi
Do đó nếu ta chăm sóc tốt cho cây cỏ, nó sẽ giúp ta “vui thú điền viên “.
Giữa thập niên sáu mươi, nhà Bác học Cleve Backster chế ra máy Dò Nói Dối, người Mỹ gọi là Lie Detector hay Polygraph, máy này có thể phát hiện những thay đổi về mạch đập, những bất thường của nhịp thở ..v..v… mà Backster cho rằng do tinh thần căng thẳng, không giữ được bình tĩnh khi người bị thẩm vấn có những điều uẩn khúc, những chuyện muốn dấu diếm. Cơ quan Trung Ương Tình Báo (CIA) dùng Lie Detector để điều tra những nghi can. Họ thấy máy này đem lại kết quả tốt nên năm 1986 Backster được CIA mời ra cộng tác và sau đó được cử làm Giám Ðốc Trường Huấn Luyện Dò Nói Dối và Sở Nghiên Cứu Backster (Polygragh Instruction School and The Backster Research Foundation) ở San Diego California. Từ đó, tên tuổi Ông được nhiều người biết đến, nhưng Ông chỉ thật sự nổi danh và được các khoa học gia thế giới cảm phục khi ông tình cờ tìm ra thảo mộc có tâm linh hay là cây cỏ có khả năng biết được ý định của con người.
Một buổi sáng được nghỉ, Ông ngồi ngắm những chậu hoa, những chậu cây trong nhà, như một nhân duyên, Ông chú ý đến một cây có lá to và dày như lá đa trong một chậu cảnh, đã một tuần không được tưới nước, đất khô, thân cây cũng khô. Ông bổng nẩy ra ý định:
– Thử cắm hai đầu dây của một điện kế (galvanometer) cực nhậy vào cái lá rồi tưới nước vào gốc cây.
Nước dần dần lên thân và lá, nhưng cây kim điện kế vẫn đứng im. Rồi một ý nghỉ khác đến với Ông:
– Hay là thử đốt chiếc lá này xem sao? Ông chỉ mới có ý nghĩ đốt chiếc lá tức thì kim điện kế bỗng nhẩy lên như bị điện dật. Ông tự hỏi, chẳng lẽ Ông nhìn lầm? Chẳng lẽ lá cây đọc được tư tưởng của Ông mà biểu lộ phản ứng sợ hãi hay sao?
Nghĩ như vậy Ông làm thử lần thứ hai. Tay cầm hộp quẹt như sắp sửa đốt chiếc lá, nhưng Backster tự nhủ sẽ không đốt; thì điện kế cũng không nhúc nhích.
Lần thứ ba ông nhất định sẽ đốt chiếc lá. Lúc đó trong phòng lặng gió kim điện kế đột nhiên nhẩy mạnh.
Nhìn chiếc lá bị đốt một phần Backster thấy sung sướng trong lòng vì sự tình cờ mà biết được linh tính lá cây. Sự khám phá này làm Ông thích thú hơn là phát minh ra máy Dò Nói Dối hồi ba thập niên trước.
Ông muốn công bố ngay cho mọi người biết. Nhưng Ông kịp ngừng lại, thái độ đúng của nhà khoa học là phải thử nghiệm đầy đủ, khách quan để không đưa tới kết luận sai lầm, thiên kiến và chủ quan… rồi, Ông định phát triển, nghiên cứu sang nhiều loài thảo mộc khác.
Có tới 25 loại cây cỏ được nghiên cứu gồm nhiều loại lá, loại quả và loại củ.
Sau những cuộc nghiên cứu thận trọng của Ông và các cộng sự viên. Ông chính thức công bố rằng:
-Cây cỏ có trực giác tâm linh
Chúng không có mắt, tai, mũi, miệng; không có óc; không có thần kinh hệ… thì cái biết của chúng hẳn phải khác với cái biết của con người.
Con người có giác quan nhưng không có trực giác tâm linh như chúng. Dù một bác sĩ tâm lý giỏi cũng không biết được ý định của một kẻ điên khùng sắp đốt nhà mình. Suy nghĩ như vậy làm cho Backster phấn khởi Ông mở rộng cơ sở nghiên cứu và càng khám phá ra những điều mới lạ.
Từng mảnh lá tách rời cũng phản ứng như nêu ở trên và người ta gọi là Phản Ứng Backster. Nhà Sinh thực vật (biologist) Ingo Swann, theo dõi cuộc nghiên cứu của Backster và viết trong quyển The Real Story (chuyện có thật). Quyển sách được phát hành ngày 15-11-1998 trong đó có đoạn:
– Sự nghiên cứu (của Backster) khởi đầu chỉ là một khám phá hầu như tình cờ vào năm 1996 là thực vật có khả năng nhận thức và tự động đáp ứng những xúc cảm mạnh thuận theo ý chí con người … những cây cỏ của bạn, biết là bạn đang nghĩ gì. (His research started with the 1996 almost accidental rediscovery that plants are sentient and respond to the spontaneous emotions and strongly express intentions of relevant humans… Your plants know what you are thinking).
Phản ứng Backster còn đi sâu xa hơn và cho biết thêm là cây cỏ phản ứng không phải trước những mối nguy do con người tạo ra, mà cả những bất trắc, không tạo ra bằng ý định. Một con chó bất thần bước vào phòng, một người vốn ghét cây cỏ đi tới cũng làm điện kế nhẩy.
Những cử động của một con nhện tiến đến, cũng gây phản ứng cho cây. Ông Backster đã làm thí nghiệm và chứng minh những điều đó trước các sinh viên trường Ðại Học Yale (Hoa Kỳ) trong trường hợp trên, một khi có người tới đuổi nhện và ngay trước khi nhện chạy đi kim điện kế đã hạ xuống. Y như là trước khi nhện chạy thì cái quyết định rút lui của nó đã được cây tiếp nhận. Cây đã thấy hết nguy hiểm và không phản ứng nữa.
Một cuộc thí nghiệm khác chứng minh rằng khi sống cạnh nhau, cây để ý canh chừng nhau sợ bị quấy rầy nhưng khi có một động vật tới gần, mối nguy gần hơn cây cỏ quay sang canh chừng động vật.
Những điều còn làm cho chúng ta kinh ngạc là cây có trí nhớ và tình cảm. Chúng nhận biết những kẻ chuyên phá hoại hoặc những người hay chăm sóc chúng. Ông Charles A. Lewis trong quyển Ý Nghĩa Của Cây Cỏ Trong Ðời Sống Chúng Ta (The Meaning of Plants in our Lives) viết:
– Sự say mê nghiên cứu về những liên kết giữa cây cỏ với tâm trí con người mà những tương tác làm tăng thêm hạnh phúc ở ngoại cảnh và môi trường có tác động đến đời sống con người(Fascinating research can lead to enhanced well-being and an appreciation of the environment).
Một gia đình an vui, hạnh phúc, cây cỏ trong nhà cũng tươi tốt. Khi người chăm sóc cây cối, cái tương tác tâm linh giữa Cây và Người làm cho cả hai đều khỏe mạnh hơn. Ðó là lý do tại sao những cây mọc gần nhà thường tốt hơn những cây mọc xa.
Vậy chúng ta hãy nâng niu, trân trọng từng cọng cây chiếc lá. Hãy dành một chút thì giờ để chăm sóc cây cỏ và vườn tươi (lawn and garden) sức khỏe chúng ta có thể nhờ đó mà tốt hơn. Ngược lại những người thường xuyên chặt phá cây cối thường gặp điều kém may mắn hay nhuốm bịnh là vì khi cây bị xâm phạm, phản ứng tâm linh yếu ớt của cây đánh vào thủ phạm. Mỗi lần một ít, lâu dần người đốn cây sẽ bị bệnh nặng. Có thể người xưa sống an vui, hạnh phúc vì cái thú Ðiền Viên chăng?
Các nhà sinh thực học thế giới rất hứng thú đang theo dõi công cuộc nghiên cứu của Backster, hiện đã có 7000 nhà bác học yêu cầu Ông thông báo cho biết kết quả nghiên cứu kèm theo các tài liệu khoa học. Những máy móc tối tân hơn được Ông thâu nhận, nhất là những máy ghi các nhịp luồng điện. Và cuộc nghiên cứu được tiến hành với kế hoạch tinh vi, được ghi chép đầy đủ. Các tài liệu được thu thập và xếp loại cẩn thận.
Nếu Backster chứng nghiệm được Tâm Linh Cây Cỏ thì kỹ sư Kirlian đã chụp được hào quang của chúng. Kirlian, tên đầy đủ là Semyon Davidovich Kirlian(1900-1980) sinh tại tỉnh Krasnoda, xứ Amenia nước Nga.
Năm 1939 Ông cùng vợ là Valentina đã phát minh ra máy Chụp Hào Quang gọi là Kirlian Electrophotographic Camera (gọi tắt là máy Kirlian). Ông bà này đã áp dụng từ trường của điện vào thuật chụp hình của sinh thực vật (Bio Electrography ).
Một tấm ảnh chụp chiếc lá của máy Kirlian hiện ra như một thế giới điểm sáng. Chung quanh nó là hào quang (Corona). Những tia lửa nhỏ màu ngọc lam, màu da cam, phát ra từ trung tâm và đi xa theo những kinh xác định. Không phải chỉ lá mới có hào quang. Cây càng lớn, càng già, hào quang càng rực rở và Trường Sinh Lực (bio field) càng mạnh. Trường Sinh Lực (TSL) chính là sức mạnh vô hình của thảo mộc.
Có những tiều phu vừa đốn xong một đại thụ bỗng lăn đùng ra chết. Có thể người này đã chặt phải một linh mộc có TSL quá mạnh.
Trong tín ngưỡng nhân gian ta, có tục thờ cây đa. Bên gốc đa già, thường có một cái miếu nhỏ, đặt bát hương, những chiếc bình vôi, để hương khói cho Thần Linh. Do kinh nghiệm của cha ông truyền lại thì cây lớn có Thần lớn. cây nhỏ có Thần nhỏ:
– Thần cây đa, ma cây gạo.
Trong kho tàng văn chương bình dân, ta còn thấy những câu tục ngữ xưa, có ý răn đe, những người chặt cây, phá rừng. Ðó là nghề nguy hiểm nhất:
– Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá.
Nhờ sự khám phá về năng lực sinh học và hào quang của thảo mộc. Một số khoa học gia người Nga thực nghiệm rằng, rau cỏ (vegetable) nào có hào quang càng sáng thì càng nhiều bổ dưỡng ẩm thực. Họ nói:
– Hào quang của rau cỏ giảm bớt khi bị nấu chín. Những tấm hình Kirlian cho thấy rau sống có hào quang chói sáng hơn rau luộc. (A Kirlian photogragh of a raw vegetable shows a brighter and more defined corona than a cooked one).
Nhiều bác sĩ Tây Phương gần đây cũng đồng ý và viết thành sách. Họ khuyên chúng ta nên dùng thực phẩm tươi. Một tờ báo ở Thụy sĩ ca ngợi bác sĩ Bircher Benner:
– Bác sĩ Bircher Benner, người đổi mới những bữa ăn điểm tâm không nấu chín thức ăn trong dưỡng đường của ông ở Thụy sĩ. Ông khuyên rằng thức ăn tươi luôn dùng trước bữa ăn đã nấu nướng, Ông tin chắc thức ăn tươi làm kích thích hoạt động điện của tế bào, vì vậy tăng cường sinh lực cũng như toàn bộ tiêu hóa được tốt hơn (DR. Bircher Benner innovator of Swiss Muesli for use in his clinic in Switzerland, advised that raw food always be taken first, before cooked meal. He believed that raw food stimulate the electrical activity of cells thereby enhancing the vitality as well as improving the rohole digestive process)
Ðộng vật cũng có trường sinh lực và tác động mạnh mẽ tới con người. Trong tạp chí y khoa Health Care số 2-2000 có ghi những điều đáng chú ý giữa con người và vật nuôi làm cảnh (Pet) như sau:
– Những người yêu thích súc vật và nuôi làm cảnh trong nhà như: Chó, mèo, chim, cá, gà ..v..v.. thường có sức khỏe tốt hơn và sống lâu hơn. Những bệnh nhân bị áp huyết cao, bệnh đau tim, bệnh trầm cảm (depression) cũng lợi lạc hơn những người không nuôi một động vật nào.
Các cuộc thử nghiệm của một số bác sĩ Tâm Bệnh Lý (Psychologist) Mỹ và Úc cho biết số người bị tắc mạch máu đã giảm đi hai lần và số người có chất mỡ (cholesterol) cao trong máu sẽ giảm đi nếu chủ nhà có nuôi vài con pets
Nhóm khoa học gia thuộc viện đại học U. S. C Tiểu Bang California còn đi xa hơn trong lãnh vực nầy. Họ bảo bệnh Alzheimer dường như phục hồi trí nhớ và cả đến nạn nhân của tử thần AIDS cảm thấy lạc quan và tỏ ra yêu đời hơn khi họ được làm chủ một con vật mà họ ưa thích.
– Con người cũng có Trường Tâm Linh, Trường Sinh Lực như thực vật và động vật. Kirlian đã chụp hình bàn tay và ngón tay đều có hào quang, giống như hào quang của chiếc lá. Hào quang nấy bước đầu cho biết về tình trạng sức khỏe của các sinh vật rồi tới tâm trạng của các sinh vật đó. Khi sức khoẻ hoặc tâm trạng thay đổi thì hào quang đó đổi thay theo. Nhiều bác sĩ người Nga khẳng định và viết trong sách Y Học của họ …
Trong quá khứ, hình chụp Kirlian được dùng vào nhiều mục liên quan tới diện mạo, thần sắc của sức khỏe và tâm/ sinh lý. Hình ảnh thật rỏ ràng trong sự tiên đoán những hiện trạng bệnh tật như nhiều hình thức Ung Thư, những bệnh về Bướu, Phong thấp, Xưng khớp Xương, bệnh Thần Kinh, bệnh Suy Nhược v..v…
Họ tin chắc hình chụp Kirlian có thể tiên đoán những bệnh từ lúc khởi đầu ngay trước khi có những triệu chứng phát hiện nó là một dụng cụ rất ích lợi để đoán trước bệnh (… Kirlian photograghy has been used in the past for a variety of purpose relating to psycho/physiological aspects of health. It has been clearly shown to be effective in diagnosing conditions such as the various forms of cancer, Cystic, fibrosis, Rheumatoid, Arthritis, Schizophrenia, Depression and Others. It is believed that Kirlian photography can predict the onset of disease prior to symptoms showing, making it a useful tool in early diagnosis)
Một số thống kê mới đây cho thấy rằng, người độc thân mau chết hơn người có gia đình.
Ban đầu các nhà y học đánh giá là do vấn đề sinh hoạt tình dục. Nhưng ngay cả những người độc thân có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân cũng vẫn chết sớm. Người ta lại cho rằng khi có gia đình ổn định, con người được chăm sóc tốt hơn nên sức khỏe cải thiện hơn. Thật ra đó chỉ là lý do phụ, lý do chính là tình thương yêu chân thật của vợ chồng đã tạo ra Năng Lực Tâm Linh (hay TSL) làm cho khoẻ hơn.
Những huyệt đạo (sensitive points of body) trong khoa châm cứu (Acupuncture) Ðông y hình như có liên quan đến vùng Không Gian Tâm Linh của con người. Ðến ngày nay Tây y đã công nhận huyệt đạo là có thật.
Khi châm cái kim hoặc kích thích vào một huyệt đạo thì nó có tác dụng lên cơ thể. Ðiển hình nhất là Châm (punctuare) gây Tê (numb) trong giải phẩụ Y học Tây Phương phải dùng thuốc tê để làm tê liệt các thần kinh rồi mới mổ xẻ.
Các nhà châm cứu Ðông Y chỉ việc châm một số huyệt vào phần cơ thể là họ có thể giải phẩu bình thường. Các tác dụng cụ thể của huyệt đạo buộc các Bác Sĩ Tây Y phải công nhận là có huyệt đạo. Nhưng nó nằm ở đâu thì không ai thấy.
Các Bác Sĩ Tây y lấy dao mổ ra, họ không thấy gì ở trong và cũng không thấy một sự liên hệ của Huyệt Ðạo đó với các thần kinh chung quanh, Huyệt Ðạo Hoàn Toàn Không nhưng mà tác dụng của nó thì Có Thật và các huyệt đó nối nhau thành một hệ thống huyệt đạo (Ðường của những huyệt). Trong cơ thể con người có nhiều đường.
Ðường Kinh Nhâm đi từ môi dưới xuống trước hậu môn. Ðường Ðốc Kinh đi từ hậu môn tới đỉnh đầu rồi đi về phía môi trên. Còn có Ðường Kinh khác như là Túc Thái Dương, Bàng Quang Kinh.. v..v… những hệ thống kinh Huyệt này chứng tỏ một cách chắc chắn rằng Cơ Thể Nầy Ngoài Cấu Trúc vật Chất, Còn Có Một Cấu Trúc Tâm Linh Vô Hình rất là thật mà qua các Huyệt mình mới hiểu được nó.
Qua những sự nghiên cứu của Backster, Swann, Lewis, Kirlians… chúng ta rút ra một hệ luận, không gian tâm linh tuy vô hình nhưng có tác dụng. Những ý nghĩ thầm kín của chúng ta vẫn lặng lẽ tạo nghiệp.
Ðối với những người hiểu luật Nghiệp Báo, hiểu rỏ sức ảnh hưởng của Tư Tưởng và môi trường chung, họ sẽ giữ tâm hồn để không bị nhiễm bẩn bởi các dòng tư tưởng ác trong không gian, đồng thời họ chân thành cầu nguyện cho mọi người đều tốt đẹp, họ thường rải tâm từ bi đến muôn loài, từ con người, con thú đến tận cây cỏ lá hoa.
Chuyện của những người giàu “mới”, Việt Nam hôm nay
Bởi AdminTD
12-11-2021
Hồi tháng 11/2021, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, Tổng giám đốc VietJet Air, bỗng nổi như cồn, về chuyện móc túi tặng cho một phân viện của Đại học Oxford 155 triệu bảng Anh. Chuyện của bà đã tạo ra nhiều hiệu ứng rất thú vị trong xã hội Việt Nam.
Dễ thấy nhất là nhiều cây viết phục vụ cho các chính sách nhà nước, hay mơn trớn giới nhà giàu xã hội chủ nghĩa, lập tức lên giọng bảo vệ cho sự kiện này. Một trong các ngôn luận nổi cộm là kiểu phê phán thói xấu người Việt, rằng không hiểu sao đám đông vẫn hay “ghét” người giàu vô cớ, ganh tị hoặc không công bằng với người làm ra của cải hôm nay. Dĩ nhiên, đọc là hiểu những ngôn từ đó nhằm bênh vực, che chắn cho một lớp đại gia hôm nay – trong đó có không ít người bỗng vụt lên giàu có như huyền thoại, không có lời giải. Loại huyền thoại dễ bắt gặp của một tầng lớp “thắng cuộc” sau 1975. Nói nôm na là không khác mấy chuyện Alibaba một ngày chợt nhìn thấy cửa hang châu báu rồi nghiễm nhiên trở thành ông chủ, bà chủ.
Thật ra, không ai tự dưng dòm ngó gì bà Thảo hay giới nhà giàu cả. Chuyện bà bỏ một số tiền khổng lồ để nâng đỡ cho việc xây dựng chất xám của nước Anh, và cả cho giá trị cá nhân mình – là quyền và chọn lựa riêng. Bất chấp những lời đồn thổi về nguồn gốc của số tiền ấy, trong khi giới kinh doanh bàn tán rằng vào tháng trước, VietJet của bà khai lỗ và kêu khó với nhà nước là hãng bay này đang “thiếu hụt khoảng 10,000 tỉ đồng để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh”.
Không thể phủ nhận rằng hôm nay Việt Nam có rất nhiều người giàu có. Đã qua các thời Việt kiều từ mọi phương trời về quê, xòe ra nắm ngoại tệ khiến ai cũng xanh mắt. Giờ thì thế hệ mới từ trong nước bay ra ngoại quốc mua cả một siêu thị, mua năm ba căn hộ một lúc bằng tiền mặt là chuyện bình thường. Dân làm lụng đầu tắt mặt tối, đóng thuế sôi mồ hôi cho chính phủ tư bản ngẩn người hỏi nhau “vì sao họ nhiều tiền vậy? Họ làm cách làm mà giàu vậy?”.
Việt Nam là một quốc gia chứa nhiều bí ẩn mang màu sắc dị thường. Từ chuyện những bà mẹ, vợ của những người bị đẩy vào trại học tập cải tạo làm sao để nuôi lớn những đứa con nheo nhóc của mình, làm sao có thể giữ gia đình tồn tại được ở miền Nam sau năm 1975, trong thời kỳ dò xét và khắc nghiệt ngăn sông cấm chợ qua từng ngày; cho đến một ngày lại đột nhiên thấy lớp nhà giàu “mới” nổi lên ở khắp nơi, cất giọng huyênh hoang dạy dỗ trên cả truyền hình, báo chí. Những người giàu nhất được xuýt xoa mô tả và đôi khi khoác thêm chiếc áo yêu nước – nhưng không chắc có mấy ai trong số đó có một hồi ký chân thật về đời và cách làm giàu của mình.
Và khi những người giàu “mới” xuất hiện nhiều hơn, họ không kiềm chế nổi sự xa hoa hay sự thèm muốn chứng minh đẳng cấp nhất định của mình, thì cũng sản sinh ra một lớp người ve vuốt và bảo vệ cho giai cấp ấy. Hơn 30 năm trước, ở miền Bắc cũng như miền Nam, khi được hô là “nhà giàu” thì không ít người tái mặt. Giờ thì khác, hợp thức hóa đời sống giàu có là một nhu cầu bức thiết trong đời sống chính trị của giai cấp cách mạng vô sản cầm quyền.
Ở nhiều khu định cư của người Việt Nam trên thế giới, người ta vẫn hay giật mình chứng kiến sự xuất hiện của lớp người mới ấy, còn có thêm con cái, tài sản dịch chuyển… “Toàn là người bên Việt Nam mới qua”, lưu dân người Việt vẫn nói khẽ với nhau. Nhưng điều lạ, đó không là người Việt mà chúng ta thấy mỗi ngày trên các trang báo, truyền hình từ trong nước: Những người cơ cực không thể ngẩng đầu, những người bị bỏ tù vì lên tiếng trước những điều trái khoáy, hay gần nhất, là những đoàn người tháo chạy về quê giữa đại dịch trong niềm tuyệt vọng.
Thỉnh thoảng, ở giữa cuộc trà nước vỉa hè cũng có những cuộc tranh luận về nguồn gốc của người Việt giàu có thượng lưu của đất nước hôm nay. Dĩ nhiên, có những người cả đời gầy dựng và tạo nên của cải đáng tự hào, làm nên những giá trị có thật. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp khác, mà sự bùng phát phồn thịnh của họ – hay gia đình họ – có thể làm chung quanh ngỡ ngàng. Trên báo chí, thỉnh thoảng có người tự tiết lộ, giải thích rằng họ đã qua một thời gian dài buôn chổi đót hay làm men giá đỗ, trồng cây cảnh… nhưng nói gì thì nói, tầng lớp đó tạo ra sự hào nhoáng nhất định về một Việt Nam, và cũng tạo ra những hố thẳm về sự cách biệt giai tầng của cả Việt Nam.
Không chỉ người Việt nhìn nhau và thắc mắc. Nhìn vào Trung Quốc, nhiều người nước ngoài cũng tò mò khôn xiết. Trên tờ Financial Review, với bài viết có tên “Người giàu Trung Quốc: Họ lấy tiền ở đâu ra vậy?” (China’s rich: where do they get their money?), nhà báo nữ Sul-Lin Tan đặt một câu hỏi thảng thốt về quê hương của mình, nơi có một mô hình phát triển và cộng đồng “khá giả” bất ngờ mà cô nhìn thấy. Một trong những biểu hiện của cộng đồng khá giả đó là họ luôn mang căn bệnh cố phô ra hình ảnh giai cấp của họ. Nếu để ý, bạn cũng thấy người Việt Nam lâu nay cũng có một tầng lớp thích giới thiệu mình như vậy với đủ các chiều đạo đức giả lẫn biểu lộ trơ trẽn. Sâu thẳm trong việc trình bày sự giàu có của mình, có không ít những vị đại gia muốn được chính danh trong đời sống, chứ không cần e dè che đậy như nhiều năm trước. Dường như thời đã tới rồi.
Tháng Sáu năm nay, trên tờ SCMP, trong bài Indonesia targets its crazy rich Asians with 35 per cent income tax in bid to heal coronavirus-hit economy”, tác giả cho biết rằng, chính phủ Indonesia đang dò tìm để xem những “kẻ giàu điên cuồng” – giàu không giải thích được là như thế nào để đánh thuế thu nhập lên 35%. Nghe tin không khỏi mỉm cười: Indonesia, đất nước căm ghét Cộng sản đến tận xương tủy, nhưng hành động không khác gì lý thuyết tinh thần cộng sản cao quý đã mất ở Châu Á. Indonesia gọi những kẻ đó là giàu điên cuồng (crazy rich). Loại giàu mà ở nước Mỹ vào thập niên 1950-1960 chỉ có bọn băng đảng, buôn lậu và tham nhũng cấu kết với chính quyền mới có thể tạo được cơ ngơi.
“Tiền của họ từ đâu mà có?”, nhà báo Sul-Lin Tan nhận được lời đáp từ một nhà đầu tư Trung Quốc giấu tên, rằng “Tiền? Mọi thứ đến từ những người làm quần quật ngày đêm ở Trung Quốc”. Bộ phim Crazy Rich Asians phát hành năm 2018 là một lời giải thích nhỏ. Mặc dù bộ phim mượn bối cảnh ở Singapore chứ không phải Trung Quốc, nhưng câu chuyện thì đầy gợi ý. Rõ ràng có nhiều loại của cải ở châu Á, nhất là ở các nước độc tài cộng sản mà nhiều người ở phương Tây không thể nào hiểu được. “Tôi từng chứng kiến nhiều người phương Tây há hốc mồm, trong một buổi bán biệt thự đắt tiền hoặc một bữa tiệc châu Á ngập tràn Prada và trứng cá muối. Nhưng nên nhớ, phía sau những điều đó vẫn là vô số người nghèo của đất nước họ” – bà Sul-Lin Tan nói.
Trong một nhận định của Aidan Foster Carter, chuyên gia về xã hội học và nghiên cứu Bắc Hàn hiện đại vào năm 2013, ông mô tả rằng chế độ cộng sản này dựng nên một mô hình kiểu mẫu mà Trung Quốc lẫn các nước cộng sản khác đều âm thầm học theo. Đó là hình thái đảng toàn trị và chỉ có giai cấp khá giả ăn theo đảng, còn lại tất cả – là nhân dân cần lao. Đó là một bộ máy nô lệ kiểu mẫu nuôi sống và duy trì chế độ. Giả như một đại nạn tới, chính quyền Bắc Hàn kêu cứu, điều đó không có nghĩa họ yêu nhân dân mà thật ra chỉ là sợ mất hay hao hụt tần suất duy trì chế độ từ nhân dân – lực lượng nô lệ.
Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy sự ích kỷ và tự mãn của một giai cấp khá giả lộ diện ở các nước độc tài – cộng sản, thỉnh thoảng bộc lộ qua lời ủng hộ nhiệt thành các chính sách của nhà nước, hay tuyên bố vung vít về hiện trạng xã hội như một triết gia. Nhưng nhiều người trong số họ luôn thầm kín ôm ấp những khát vọng xây dựng những thành trì khác của cuộc đời bên ngoài quê hương mình như một loại bảo hiểm hưởng thụ bí mật.
Bạn hãy ngồi xuống, tự ngẫm nghĩ xem mình đã bắt gặp những điều này ở đâu trong đời mình?
Ngô Đình Diệm và tờ Thời Luận: Thuở hồng hoang của báo chí tự do Việt Nam
Bởi AdminTD
Võ Văn Quản
12-11-2021
Câu chuyện về tờ báo độc lập và đối lập nổi tiếng một thời của Việt Nam Cộng hòa.
Người Việt Nam sinh sống vào giai đoạn 1957 – 1958 luôn nín thở chờ kỳ tiếp theo của báo Thời Luận. Họ không biết lần này Thời Luận sẽ chỉ trích chính quyền ông Ngô Đình Diệm điều gì. Và nhiều người đồn đoán không biết qua bao nhiêu kỳ xuất bản nữa, hai cây bút chủ lực của Thời Luận – Nghiêm Xuân Thiện và Phan Quang Đán – sẽ bị “đẩy ra Côn Đảo”.
Ngô Đình Diệm không ưa gì báo chí đối lập. Đó không phải điều gì mới lạ. Nhưng cách ông này ứng xử với giới báo chí cũng chưa từng được sử sách chính thống Việt Nam đương đại mô tả một cách hoàn toàn chính xác. Mối quan hệ giữa Ngô Đình Diệm và Thời Luận có thể xem là một trong những đối tượng nghiên cứu đáng giá để hiểu hơn về tự do báo chí của Việt Nam Cộng hòa giai đoạn này. Qua nghiên cứu có tên gọi “‘Renegades’: The Story of South Vietnam’s First National Opposition Newspaper 1955–1958” của Tiến sĩ Jason A. Picard, [1] hiện đang là giáo sư về lịch sử và văn hóa Việt Nam tại Vin University, chúng ta có thể tìm chút ít thông tin về vụ việc.
***
Chính quyền miền Nam Việt Nam sau năm 1954 giữ lại phần lớn các đạo luật thuộc địa thời Pháp đang có hiệu lực. Các đạo luật này bao gồm quy định về quản lý báo chí vốn bắt buộc tất cả các báo phải nộp lưu chiểu mỗi ấn bản cho cơ quan quản lý truyền thông trước khi được phát hành cho công chúng.
Tuy nhiên, điều này thay đổi hoàn toàn với Lệnh số 23/TTP vào ngày 19/2/1956. Theo đó, Ngô Đình Diệm bãi bỏ quy định tiền kiểm đối với phát ngôn của báo chí (khái niệm “prior restraint” đã được giới thiệu trên Luật Khoa trước đây). [2] Điều này được Nguyễn Việt Chước trong tác phẩm “Lược sử Báo chí Việt Nam” gọi là mốc đánh dấu thuở vàng son của báo chí Việt Nam Cộng hòa. [3]
Hiển nhiên, như đã nói, gia đình họ Ngô không thích báo chí độc lập. Không lâu sau, Sắc dụ 13 được ban hành, trao thẩm quyền cho phép chính quyền mới phạt tiền, đe dọa phạt tù và đóng cửa các tòa soạn “thân Cộng”, “chống chính quyền” hay “vu khống”.
Ông Nghiêm Xuân Thiện (thắt cà vạt), cây bút chủ lực của tờ Thời Luận. Ảnh: petruskyaus.net
Tuy nhiên, việc nới lỏng quy định liên quan đến tiền kiểm báo chí cũng được xem là một điểm nhấn tiến bộ mới của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Họ không kiểm soát hoàn toàn khâu quản lý nhân sự, sản xuất nội dung và định hướng báo chí như chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này mở ra nhiều cơ hội hơn cho thảo luận báo chí tự do, thậm chí là những chỉ trích cụ thể nhắm vào chính quyền Ngô Đình Diệm và cá nhân ông Diệm.
Ví dụ, năm 1957, khi Ngô Đình Diệm vừa từ Hoa Kỳ trở về nước sau một chuyến công du, Thời Luận tung bài viết “Quan niệm dân chủ và hành động dân chủ”.
Trong bài viết này, Phan Quang Đán và Nghiêm Xuân Thiện yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm cho biết rõ kế hoạch để xây dựng một xã hội dân chủ thực thụ vắng bóng cộng sản. Theo họ, chúng ta không thể chỉ nói về dân chủ mà không có một biện pháp thực tế nào để thực thi dân chủ.
Hai đồng tác giả khẳng định lời nói không có ý nghĩa gì nếu các biện pháp cải cách dân chủ không được thực thi. Bài viết cũng đưa ra một số phân tích như lý do người Việt Nam không quen với việc chỉ trích chính quyền, coi đó là tư duy “khinh quân”, và cho rằng chỉ trích hay phản đối người cầm quyền là quấy rối trị an hay có ý tranh cướp chính quyền.
Trong liên tiếp các bài viết như “Kêu gọi của khối dân chủ” và “Đối lập dân chủ: Không có đối lập là bất thành dân chủ”, Thời Luận chỉ ra và yêu cầu một không gian mở rộng hơn để thảo luận dân chủ và loại trừ truyền thống tư duy phong kiến quân – thần.
Trong một sự kiện nổi bật khác, Thời Luận ra mặt chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm liên quan đến chính sách “bài Hoa”.
Theo đó, với hai Sắc dụ 48 và 53 (lần lượt vào tháng Tám và tháng Chín năm 1956), chính quyền Việt Nam Cộng hòa kỳ vọng kiểm soát tầm ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa đối với hệ thống kinh tế nói chung. Ví dụ, Sắc dụ 53 là văn bản ghi nhận 11 nghề không cho phép Hoa Kiều tham gia, bao gồm cho vay – tín dụng hay buôn gạo.
Thời Luận cho rằng ngay cả khi cấm người Hoa, năng lực sẵn có của các cơ sở sản xuất người Việt cũng không thể thay thế các hội nhóm kinh doanh này. Việc loại trừ người Hoa khỏi nền tảng kinh tế Việt Nam cũng sẽ khiến Việt Nam Cộng hòa lệ thuộc hơn vào một nhóm ngoại quốc khác – Hoa Kỳ.
Các bài viết liên quan đến nguồn viện trợ Hoa Kỳ như “Viện trợ Mỹ”, “Viện trợ Mỹ chuyển hướng thế nào cho thêm hiệu quả”, “Nhân việc khởi công xa lộ Saigon – Biên Hòa: Bàn về Viện trợ Mỹ”, v.v. đều thách thức trực tiếp đến các chính sách mà ông Diệm đề ra.
Sau đó, họ còn ra mắt nhiều bài báo mạnh bạo hơn và ra mặt chống chính quyền hơn như bênh vực cho các can phạm trong vụ xung đột vũ trang giữa quân lực Việt Nam Cộng hòa và Bình Xuyên.
Đầu năm 1958, trước sinh nhật của Ngô Đình Diệm chỉ vài ngày, Thời Luận cho đăng nhiều bài viết chỉ trích Quốc hội mới của Việt Nam Cộng hòa là không phục vụ nhân dân, thay vào đó không khác gì con rối của chính quyền ông Diệm. Điều này dẫn đến việc bản thân vị tổng thống xuất hiện trên tờ Cách mạng Quốc gia (tờ báo chính thức duy nhất do chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý), cảnh báo rằng có quá nhiều thành phần đang cố tình kích động phá hoại sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản.
Tuy nhiên, trong suốt nhiều tháng sau đó, Thời Luận tiếp tục công kích mạnh mẽ hầu hết các cơ quan công quyền và chính sách của chính quyền ông Ngô.
Tính đến tháng Tư năm 1958, Thời Luận xuất bản được đúng 440 số báo, mỗi số bán được hàng chục vạn bản. Đó là con số mà báo chí thời nay cũng phải mơ ước.
***
Chính quyền Ngô Đình Diệm từ năm 1955 đến 1957 ít công kích trực tiếp báo chí và sử dụng hệ thống pháp luật hình sự như là công cụ chính yếu để chèn ép tự do báo chí.
Tuy nhiên, các công cụ khác không phải là không có. Điển hình nhất có thể kể đến việc phân phối giấy in và mực in.
Nói cho dễ hiểu, dù chưa đến mức chủ động can thiệp vào thị trường báo chí như chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền Việt Nam đương đại, chính quyền Ngô Đình Diệm có thể kiểm soát mức độ lan tỏa của một tờ báo bằng cách giới hạn số lượng ấn bản của nó. Như vậy, về mặt lý thuyết, họ không cấm báo chí tự do, nhưng báo chí tự do đến tay được bao nhiêu người thì lại là chuyện khác.
Một tờ báo được xem là quá khiêu khích, chống đối đường lối của chính quyền sẽ bị hạn chế quyền tiếp cận với mực in và giấy in. Tuy nhiên, trong trường hợp của Thời Luận, nhiều thông tin cho thấy tờ báo này tiếp cận với nguồn giấy và mực in chợ đen để sản xuất đủ nhu cầu của bạn đọc miền Nam Việt Nam.
Mặt khác, dù không đến mức cấm đoán báo chí thành lập, chính quyền Diệm tìm cách kìm hãm một phần các tờ đối lập bằng cách quyết định tờ nào được trở thành nhật báo, tờ nào là tuần san, và tờ nào là nguyệt san.
Trong trường hợp của Thời Luận, Bộ Thông tin của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhất quyết không cho phép tờ này được xuất bản hằng ngày. Tuy nhiên, việc cấm cản Thời Luận thì vẫn chưa được xem xét, và trong một khoảng thời gian đáng kể tờ này tiếp tục được tồn tại, phát triển và biến thành tờ báo lớn nhất miền Nam Việt Nam thời kỳ bấy giờ.
Hiển nhiên, chuyện gì đến cũng phải đến.
Việc một tờ báo phổ thông, lấy tiếng vang bằng việc công kích chính quyền và thành công vang dội về mặt doanh số lẫn số báo bán ra trong thời kỳ còn chưa bình ổn về mặt quân sự lẫn chính trị dẫn Thời Luận đến một kết quả đã được báo trước.
Tờ báo bị đóng cửa vào tháng Tư năm 1958.
Chủ bút Nghiêm Xuân Thiện bị bỏ tù 10 tháng với tội danh “sử dụng báo chí để phỉ báng chính quyền”.
Tuy nhiên, các ngòi bút chủ lực như Phan Quang Đán không gặp vấn đề gì với chính quyền Ngô Đình Diệm.
***
Tính đến tận năm 1960, sau khi ông Diệm trở nên bị cô lập và không tin tưởng hệ thống chính trị miền Nam Việt Nam vì cuộc đảo chính không thành cùng năm, có thể nói các chính sách quản lý của ông và hệ quả dành cho các ngòi bút chỉ trích trực tiếp chính quyền là không đáng kể.Nhìn vào tình hình báo chí Việt Nam hiện nay, với hàng trăm tờ báo nằm dưới quyền biên tập duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và con số án tù đến hàng chục năm dành cho các nhà báo độc lập (như vụ các nhà báo Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy Lê Hữu Minh Tuấn đều nhận trên 10 năm tù), có thể nói chính quyền ông Diệm vẫn còn non tay. [4]
_____
*Ghi chú:
GÓC SUY NGẪM…
Trân Quý Bản Thân, Bởi Cuộc Đời Không Ai Nguyện Ý Làm Thay Bạn
Con người sống trên đời rất nhiều thứ là không thể tự chủ. Ban đầu, ta đến thế giới này là vì không thể không đến; cuối cùng, ta rời khỏi thế giới này, cũng là không thể không đi. Bởi vậy, khoảnh khắc ta còn tồn tại ấy, nhất định phải chiếu cố đến bản thân mình.
Cuộc sống chưa bao giờ là dễ dàng với bất kỳ ai, nhưng dù ngọt bùi cay đắng, chúng ta đều phải sống sao cho tốt, sống trọn vẹn cuộc đời của mình. Lấy lòng người khác, chi bằng tự mình sống vui vẻ, có thể đem những vất vả khó nhọc biến thành ý thơ, đem thế giới bạc tình bạc nghĩa biến thành thân tình, đây mới là bản lĩnh.
***
Thời điểm bạn thật sự nằm trên giường bệnh, điều gì đối với bạn cũng không còn đáng sợ…
Lúc bạn nằm trên giường bệnh thì ai cũng sẽ đều sợ bạn.
– Bạn bè thân thích sợ bạn vay tiền;
– cha mẹ sợ bạn trị không hết bệnh;
– vợ/chồng thì sợ bị liên lụy;
– lãnh đạo sợ bạn không thể trở về công tác, nên tranh thủ thời gian tìm người thay thế;
– bác sĩ sợ bạn không chi trả nổi tiền viện phí, nên căn cứ tình trạng của bạn mà ngừng cấp thuốc.
Đến lúc đó, tính khí và ngạo khí của bạn hoàn toàn không thấy nữa.
Cho nên, nhất định phải biết chăm sóc bản thân cho tốt, cái gì cũng đều không phải của mình chỉ trừ cái thân thể này. Sức khỏe chính là điều tối quan trọng, vậy nên nhất định cần chiếu cố bản thân mình, yêu lấy mình. Đó là hiện thực cuộc sống và là bài học mà chúng ta phải khắc cốt ghi tâm.
***
Khi bạn mệt mỏi, sẽ có rất nhiều người nói với bạn “Mệt thì hãy nghỉ ngơi!”, nhưng…
Khi bạn bị bệnh, sẽ có rất nhiều người nói với bạn: “Mệt thì hãy nghỉ ngơi, bệnh thì hãy uống thuốc”. Thế nhưng, liệu có ai tự nguyện cho tiền để bạn mua thuốc; hay có ai vì bạn mà đi mua thuốc?
Khi bạn nói rằng điện thoại của mình nghe gọi không được, sẽ có rất nhiều người nói, sao bạn không đổi một chiếc điện thoại mới đi. Nhưng người có thể giúp bạn đổi một chiếc điện thoại mới có lẽ “tìm hoài không thấy”.
Khi bạn gặp khó khăn, sẽ có rất nhiều người nói với bạn đừng lo lắng, nhưng người thực sự đưa tay giúp bạn hỏi có được mấy người?
Đừng chỉ nghe lời nói mà hãy nhìn hành động. Thế giới này không thiếu những kẻ chỉ thích xem náo nhiệt. Nhất định bạn phải nỗ lực, nếu không nỗ lực thì sẽ chẳng ai giúp bạn được đâu.
Nhớ kỹ, có một số người bạn có thể mong chờ, nhưng không thể ỷ lại. Mọi thời khắc phải nhắc nhở chính mình kiên cường hơn nữa. Đường trơn khiến mình trượt ngã thì chính mình đứng dậy, mỗi người đều có con đường riêng, có mệt hay không chỉ có mình biết rõ.
Bạn nên hiểu rằng, có những thứ một khi đã ra đi là không thể quay trở lại, vậy nên cần học cách buông tay, không ai có thể đi cùng bạn mãi được. Con người luôn mong cầu mọi sự được viên mãn, nhưng kỳ thực, vũ trụ này vốn tàn khuyết bất toàn, cũng không có điều gì là trọn vẹn tuyệt đối.
Mặt trời vừa lên đỉnh lập tức ngả về Tây; trăng tròn rồi trăng lại khuyết.
Cho nên, có khuyết điểm mới là vĩnh cửu, không trọn vẹn mới gọi là nhân sinh.
Chịu cúi đầu, sẽ vĩnh viễn không va phải cửa, chịu nhượng bộ sẽ vĩnh viễn không lui bước.
Người có ước mong mới có cảm giác thỏa mãn, người quý tiếc hạnh phúc, mới có cảm giác hạnh phúc.
– Hiểu được trân quý bản thân, để những tháng ngày còn tồn tại trên đời không uổng phí. (Ảnh: Twitter)
Tuệ Tâm,
TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI
TGM Giuse Vũ Văn Thiên
Sống trên đời, ai cũng mong có một tương lai tốt lành. Tương lai mà người tín hữu kỳ vọng không giống như mọi người không có đức tin mong đợi. Bởi lẽ, theo quan niệm trần gian, tương lai là những kỳ vọng thành đạt trong sự nghiệp hay học vấn, hoặc giàu có sung sướng về vật chất. Người Kitô hữu cũng cố gắng để có được một điều kiện sống hạnh phúc phong lưu. Tuy vậy, tương lai và hạnh phúc vĩnh cửu của họ là Nước Trời. Giữa cuộc sống này phủ đầy bóng tối, nhiều thử thách gian nan và dối gian lừa lọc, nhưng những tối tăm gian khổ ấy cũng có lúc kết thúc. Vương quốc mà chúng ta chờ đợi, đó là hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài. Hướng về tương lai vĩnh cửu, đó là mối ưu tiên hàng đầu của người tin Chúa.
Với lối hành văn theo thể loại được gọi là “Khải huyền”, tác giả sách Đanien đã diễn tả lúc tận cùng của thời gian, chúng ta vẫn gọi là ngày tận thế. Lúc ấy, Thiên Chúa sẽ can thiệp và làm cho những người đã chết được sống lại. Sự can thiệp của Tổng lãnh Thiên Thần Micae như một cuộc tổng điều tra dân số. Những ai được ghi trong “Sổ hằng sống” sẽ được hưởng hạnh phúc ngàn thu, những ai không có tên trong đó sẽ phải trầm luân muôn kiếp.
Giống như tác giả sách Đanien, thánh sử Mác-cô đã sử dụng lối văn Khải huyền để diễn tả ngày cánh chung. Vào thời đó, các thiên thể tinh tú sẽ mất hết khả năng chiếu sáng và sẽ rơi xuống đất. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú được các dân xung quanh thờ như những vị thần. Vào thời Thiên Chúa xuất hiện, các vị thần ấy sẽ bị đánh bại.
Có thể những tiên báo trên đây bị người thời nay coi là chuyện tầm phào. Người ta nói rằng, từ xưa đến nay, rất nhiều lần có lời đồn thổi về ngày tận thế, nhưng rốt cuộc thì ngày tận thế không đến. Lời Chúa muốn cảnh tỉnh chúng ta khi quả quyết: thế gian này chẳng thể tồn tại mãi. Sẽ có ngày cuộc đời này kết thúc, dù chúng ta không biết khi nào và như thế nào. Những hình ảnh được nêu trong sách Đanien, và Tin mừng Thánh Mác-cô chỉ là những biểu tượng để giúp cho các độc giả cách chúng ta mấy ngàn năm dễ hiểu.
Nếu người ta có thể phủ nhận ngày tận thế, thì không ai có thể phủ nhận sự chết. Dù sang hay hèn, dù văn minh hay lạc hậu, ai cũng phải đến ngày kết thúc cuộc đời. Biết bao lần chúng ta đã chia tay những người thân, qua đó chúng ta càng cảm nhận sự mỏng giòn của thân phận con người. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: giờ chết là tận thế đối với cá nhân mỗi người. Lúc đó họ sẽ phải trả lời Chúa về những việc mình đã làm khi còn sống trên dương gian. Chúa dựng nên con người có hồn và xác. Thân xác có thể bị mục nát trong lòng đất, nhưng linh hồn bất tử. Mỗi người phải mang trách nhiệm về những gì mình đã làm. Thời gian, sức khoẻ, gia đình, bạn bè, nghề nghiệp và những ưu đãi khác đều là những “vốn” Chúa ban để sinh lợi. Trên trần gian, có người tốt kẻ xấu, lúc tận thế, cũng có người hưởng vinh quang, kẻ bị trầm luân muôn kiếp. Ngôn sứ Đanien đã nhìn thấy “những người thông minh sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ khuyên dạy sự công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời.” Niềm tin vào đời sau chính là tôn vinh phẩm giá con người. Niềm tin này cũng khích lệ chúng ta, như một lời hứa hẹn rằng, nếu chúng ta sống tốt ở đời này thì sẽ được hưởng vinh quang bất diệt đời sau.
Tin vào đời sau, đó không phải là sự ru ngủ như có người thiếu thành kiến với Giáo Hội đã suy diễn. Chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta: ai tin vào Người thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai tin vào Người sẽ được sống muôn đời. Tác giả thư Hípri nói với chúng ta: nếu chúng ta có hy vọng được hưởng sự sống đời đời là nhờ hy tế của Đức Giêsu dâng trên thập giá. Người là Thượng tế, đã dâng chính máu mình để chuộc tội cho nhân loại. Những ai tin vào Người sẽ được tha thứ tội lỗi và được hưởng hạnh phúc vô biên.
Vào lúc năm cùng tháng tận, mỗi chúng ta hãy suy nghĩ về lúc kết thúc của cuộc đời. Hai chữ “tận thế” gợi cho chúng ta nỗi sợ hãi và bi quan chán nản, nhưng hai chữ “tương lai” lại giúp chúng ta bừng lên niềm hy vọng. Người vô thần cho rằng mỗi ngày sống là đang tiến dần tới nấm mộ; người tin Chúa lại cho rằng mỗi ngày sống là một nấc thang đưa họ đến với Đấng Tối cao. Quả vậy, khi đối diện với sự chết, người Kitô hữu nhìn nhận, đó là cuộc gặp gỡ với Chúa. Đó cũng là sự biến đổi từ thân phận phải chết sang cuộc sống đời đời.
TGM Giuse Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim

Chúng ta cùng nhau dâng lời cầu nguyện, cầu nguyện cho các linh hồn.
Lạy Chúa, xin nhớ đến những người thân, tổ tiên, ông bà, anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại. Cùng linh hồn những người khi còn sống, chỉ mình Chúa biết họ đã tin tưởng nơi Ngài.
Chúng con nguyện xin cho những linh hồn tôi tớ Chúa mà nay chỉ còn biết nhờ vào lòng thương xót của Chúa.
Xin Chúa tha thứ mọi lỗi lầm thiếu xót, và ban cho hết thảy được hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa
Xin ban cho chúng con luôn giữ vững niềm tin, cậy trông vào Chúa. Để mai sau được chung hưởng hạnh phúc Nước Trời. Amen
Giêsu, Maria, Giuse con mến yêu. Xin thương cứu rỗi các linh hồn
Chúc anh chị em một đêm bình an, cùng một giấc ngủ ngon!
Bởi AdminTD
7-11-2021
Milovan Djilas là nhà nghiên cứu lý thuyết CS và từng là ủy viên Bộ Chính Trị đảng CS Nam Tư, Phó Chủ Tịch Nhà Nước CS Nam Tư, Chủ Tịch Quốc Hội CS Nam Tư. Sau khi phản tỉnh ông viết trong tác phẩm Giai Cấp Mới: Một Phân Tích Về Hệ Thống Cộng Sản xuất bản năm 1957 như sau:
“Trong một thời gian dài, đảng CS cố tình che giấu bản chất của mình. Quá trình hình thành của giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. …Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc.“ (Theo Tủ sách Talawas, Phạm Minh Ngọc dịch theo bản tiếng Nga, 2005)
Cũng trong tác phẩm Giai Cấp Mới, Milovan Djilas viết: “Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột, nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhà tư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.”
Nhưng câu này của Milovan Djilas mới là chí lý: “Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ, nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác.” (Theo quote.org)
Thời gian dài trôi qua từ khi tác phẩm ra đời nhưng bản chất của chế độ CS tại năm nước CS còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn đúng như Milovan Djilas nhận xét.
Chiến tranh Việt Nam chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng sự tiêu pha và lãng phí của giai cấp thống trị đã làm cho Việt Nam, một đất nước nhiều tiềm năng, thành là một nước nghèo so với tiêu chuẩn phát triển chung của thế giới. Trong suốt 47 năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.
Như nhiều người biết hôm nay, dưới chế độ CS, khái niệm “nhân dân làm chủ” chỉ là một chiếc bình phong để giai cấp của những kẽ thống trị, có toàn quyền xử dụng tài sản của đất nước như của chính mình, cũng như có toàn quyền lãng phí tài sản đất nước như không phải của mình.
Những nhận định của Milovan Djilas có thể áp dụng vào hai trường hợp mới vừa xảy ra, Nguyễn Thị Phương Thảo tặng 155 triệu bảng Anh và Tô Lâm ăn bò bít-tết ở nhà hàng của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe.
Như các báo loan tin, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, tỉ phú Việt Nam đồng ý tặng 155 triệu bảng Anh cho Linacre College, một trường nhỏ thuộc hệ thống Đại Học Oxford. Theo thông báo của trường, với số tiền lớn được tặng, ngôi trường đang mang tên học giả nổi tiếng Thomas Linacre có thể sớm đổi thành Thao College. Một số học giả Anh như giáo sư Đại Học Oxford Marie Kawthar Daouda phê bình ý định đổi tên trường từ Linacre sang Thao với lý do Thomas Linacre là học giả nổi tiếng trong thời đại ông và không nên thay chỉ vì một thương gia cho nhiều tiền.
Việc tặng tiền cho một đại học là một nghĩa cử quen thuộc của những người giàu tại Mỹ, Anh cũng như các nước Tây Phương. Các tỉ phú Mỹ thường tặng tiền cho đại học, nhất là những trường mà họ xuất thân. Năm 2018, Michael Bloomberg tặng 1.8 tỉ dollar cho đại học Johns Hopkins tại Maryland.
Điểm khác nhau chính là các tỉ phú Anh, Mỹ sinh ra và làm giàu trên một đất nước vốn đã giàu hàng đầu thế giới trong mọi lãnh vực, nhất là giáo dục. Theo The Center for World University Rankings trong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới có 17 trường là Mỹ, 2 là Anh và 1 là Nhật. Dò mỏi mắt xuống hạng 1.000 trường đại học được tổ chức này quan sát cũng không có một trường đại học Việt Nam nào.
Theo cách lý giải và hành xử của một người bình thường nếu bạn có lòng vị tha để tặng thì bạn nên tặng cho những nơi thiếu thốn nhất, cho những người cần nhất. Giá trị và tác dụng của món quà nhờ đó sẽ cao hơn và ý nghĩa hơn là tặng cho những nơi đang đầy đủ.
Mấy hôm nay, một làn sóng bất mãn, phê bình, mỉa mai, châm biếm bà Thảo đã “làm chuyện ngược đời”, “gánh củi về rừng”, “mua danh” v.v… Những người phê bình còn đưa ra những hình ảnh đau lòng của các em học sinh phải đu dây qua sông, bơi qua những khe nước chảy xiết, lội qua những con suối đầy đá nhọn để đến trường như một cách nhắc nhở cho bà Thảo thấy sự khác nhau giữa thực tế bi thảm của đất nước đã sinh ra bà và nền giáo dục hiện đại của Anh.
Họ cho rằng lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để xây những chiếc cầu, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để dựng trường học, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để cấp học bổng cho sinh viên học sinh nghèo và nhiều “lẽ ra” khác.
Những người phê bình bà Thảo tưởng là bà không biết. Không, chắc chắn bà đã thấy và đã biết nhưng thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của nhiều triệu tuổi thơ Việt Nam nghèo khó hay không là chuyện khác.
Là một tỉ phú, bà Thảo không muốn tên tuổi của mình gắn liền với một trường đại học dù lớn nhất Việt Nam nhưng vô danh trên thế giới.
Chuyện bà Thảo chưa xong. Hôm 3 tháng 11 vừa qua các mạng internet chuyền nhau video tướng Công An CSVN Tô Lâm ăn thịt bò bít-tếch dát vàng trị giá hơn một ngàn dollar. Nhìn cảnh Tô Lâm há miệng to cho đầu bếp nhà hàng Salt Bae hay còn gọi “Thánh rắc muối” đút miếng thịt bò trông vô cùng kệch cỡm, ghê tởm làm sao.
Ăn thịt là chuyện bình thường nhưng nhìn Tô Lâm ăn khó mà không tưởng tượng cảnh thú vật ăn thịt nhau trong phim động vật hoang dã. Đừng nói chi đang đại diện cho một nhà nước tại nước ngoài, một người lịch sự và tự trọng thường không làm vậy trong nhà hàng với nhiều thực khách chung quanh.
Những người Việt giận dữ lại lần nữa trưng bày những hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết như một cách nhắc nhở Tô Lâm về thực trạng Việt Nam.
Theo họ, lẽ ra Tô Lâm biết ngay trong giờ phút ông đang ăn nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn, lẽ ra Tô Lâm nên biết trên cả nước nhiều người vẫn còn chết hay đang chờ chết vì nạn dịch, lẽ ra Tô Lâm nên biết hàng triệu trẻ thơ Việt Nam đang thiếu sữa trong tháng Mười lũ lụt này, và lẽ ra Tô Lâm không nên rắc muối lên vết thương của họ như anh chàng đầu bếp rắc lên miếng thịt bò mà Tô Lâm đang nuốt.
Chắc chắn là Tô Lâm đã thấy và đã biết nhưng giống như bà Phương Thảo, thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của đồng bào hay không là chuyện khác.
Milovan Djilas viết về bản chất, nguồn gốc lịch sử hình thành nên giai cấp mới, nhưng ông có thể đã sót một đặc điểm quan trọng, “giai cấp mới” còn gồm những con người ích kỷ, vô lương tâm và vô cảm.
Lấy Trung Cộng, nước CS đàn anh của CSVN làm ví dụ cho chính xác với điều kiện kinh tế. Bản chất giai cấp là lý do Trung Cộng mặc dù có nhiều tỉ phú hạng thứ hai trên thế giới sau Mỹ nhưng là nước được tổ chức Charities Aid Foundation xếp vào hạng ích kỷ nhất thế giới trong nhiều năm.
Năm 2019, Trung Cộng đứng hàng 126 trong số 126 quốc gia được tổ chức quốc tế này quan sát. Charities Aid Foundation kết luận “Trung Quốc là quốc gia duy nhất đứng hạng tệ hại nhất trong cả ba tiêu chuẩn gồm tình nguyện, giúp đỡ người khác và đóng góp hiện kim.” Trung Cộng còn đứng sau cả Congo, Palestine, Yemen, những dân tộc triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.
Nguyễn Thị Phương Thảo là sản phẩm của ý thức hệ CS nên đừng trách tại sao bà không rộng lượng với đồng bào mình mà dùng tiền đi mua danh một cách kệch cỡm đáng khinh.
Hôm qua, 6 tháng 11, 2021, tờ Daily Mail của Anh tố cáo bà Nguyễn Thị Phương Thảo và chồng không chỉ cấu kết với giới lãnh đạo của “chế độ CSVN thô bạo” mà còn có quan hệ với cả chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình.
Nguyễn Thanh Hùng (chồng Nguyễn Thị Phương Thảo) và Tập Cận Bình. Ảnh trên mạng
Những đồng bạc, dù một đồng hay một tỉ, có được nhờ cấu kết với những kẻ gây nên tội ác chống lại con người trong trường hợp này là đảng CSVN, sẽ không được xem là đồng tiền chính đáng.
Đặc tính không chính đáng của đồng tiền thể hiện rất rõ nét và rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hãy nhìn vào những biệt thự nguy nga mà “giai cấp mới” này sống so với những túp lều không vách của đại đa số trong 97 triệu người dân để thấy khoảng cách trời vực giữa hai tầng lớp người trong cùng một đất nước. Một chính phủ có 110 thứ trưởng, 201 phó chủ tịch tỉnh và hàng ngàn vụ trưởng. Mục đích của bộ máy hành chánh cồng kềnh này chẳng qua là để hợp thức hóa vai trò của các cán bộ đảng, để qua đó chúng được chính thức lãnh lương, chính thức ăn hối lộ, chính thức tham ô và tham nhũng.
Tham nhũng dưới chế độ CS không phải phát xuất từ bản chất tham lam của một số người ở đâu cũng có thể có. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng vì chính đảng CS tạo môi trường cho tham nhũng sinh sôi, nuôi dưỡng tham nhũng lớn và tạo điều kiện để tham nhũng hoành hành.
Đối diện với tầng lớp cai trị, bộ máy tuyên truyền và bạo lực trấn áp khủng khiếp và thường trực của chế độ CS đã biến phần lớn trong số 97 triệu người Việt còn lại thành một tầng lớp chỉ biết phục tùng.
Sự chịu đựng của nhiều triệu đồng bào trong mùa dịch vượt qua ngoài định nghĩa của khổ đau, bất hạnh và sợ hãi. Dù “mắt kẹt” ở Sài Gòn hay tìm cách về quê họ đều phải đối phó với những khó khăn chưa từng có trong đời.
Nhưng khác với Đông Âu trước đây hay Cu Ba mới đây, không có cuộc biểu tình nào ở Sài Gòn, không có chống đối nào trên đường đi dù có người phải đi bộ năm trăm cây số hay như anh thợ hồ Hồ Tám đi bộ 1.000 cây số từ Trà Vinh để về Huế trên vai vỏn vẹn một thùng mì gói.
Họ không bao dung nhưng đã mất hết khả năng chống đối. Trời hành họ còn biết kêu trời nhưng đảng hành thì không ai dám kêu đảng. Nhà tù đang chờ họ. Trấn áp đang chờ họ. Chết đói, chết khát đang chờ họ. Bộ máy kìm kẹp của đảng CS siết chặt đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng của con người. Họ lầm lũi đi như đoàn nô lệ da đen sau nội chiến Mỹ đi tìm một nơi để gọi quê hương.
Hàng triệu người dân hôm nay có thể đã trở về trong căn nhà trơ trọi và bên ngoài mùa mưa đang đến, nước lụt đang dâng. Họ sẽ sống ra sao trong những ngày tháng tới. Có tiếng than, tiếng khóc nửa đêm nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời hay an ủi.
Nhưng một mai, khi đại dịch qua đi, những người dân bất hạnh kia lại sẽ vào thành phố tìm đường sống vì không còn gì để sống trên nơi chôn nhau cắt rốn. Và cứ thế, cuộc đời của tầng lớp người bị trị tại Việt Nam sẽ bị vùi dập trong trầm luân thống khổ cho đến chết.
Trước nỗi bất hạnh của dân tộc Việt, ai là người biết đau và ai sẽ là người biết nhục? Nguyễn Thị Phương Thảo ư? Tô Lâm ư? Không. Nếu biết đau và biết nhục bà Thảo đã không đem tiền để mua cái tên trường ở một đất nước xa xôi bỏ mặc cho nhiều triệu trẻ em Việt sống trong những điều kiện học hành tệ hại nhất thế giới. Nếu biết đau và biết nhục, ông Lâm đã không há miệng to để được đút ăn trong lúc một phần không nhỏ của đất nước không có ngay cả gói mì để ăn.
Những người biết nhục không phải Nguyễn Thị Phương Thảo, Tô Lâm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc mà là những con người Việt còn có một lương tâm Việt Nam dù ở ngoài guồng máy hay vì lý do riêng phải tạm thời ở trong guồng máy.
Cách mạng dân chủ tại các nước cựu CS cho thấy, chính những người biết đau và biết nhục đã làm thay đổi vận mệnh đất nước họ. Khác nhau về thời gian và thời điểm nhưng Việt Nam cũng vậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh nhiều lần trong hoàn cảnh dù đen tối bao nhiêu vẫn còn có những người biết đau và biết nhục. Lần nữa trong tương lai, chính những người biết đau và biết nhục sẽ thay đổi vận mệnh Việt Nam.
Bởi AdminTD
9-11-2021
Ngày 9.11 đối với dân tộc Đức là một “ngày số phận”. Lẽ ra người Đức nên lấy ngày này làm ngày quốc khánh chứ không phải ngày 3.10. Đó là ý kiến của ông Wolfgang Niess, một nhà sử học, một nhà báo có tên tuổi ở Đức.
Ngày 9.11.1918, cuộc cách mạng Đức nổ ra, lật đổ hoàng đế Wilhelm đệ nhị. Từ cửa sổ nhà quốc hội Đức, lãnh tụ đảng Dân chủ xã hội (SPD) Philipp Scheidemann tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Đức. Ông tính đi trước những người cộng sản. Dù chậm chân, hai giờ đồng hồ sau, từ nhà Thị chính Berlin, Karl Liebknecht, lãnh tụ phái thiên tả trong đảng SPD, cùng những người cộng sản trong hội Spatakus tuyên bố thành lập nước Đức Tự do XHCN. Hai cuộc cách mạng tranh chấp cùng ngày này đã đưa nước Đức đến nền Cộng hòa Weimar, một chế độ dân chủ chông chênh, tạo đất sống cho Chủ nghĩa Phát xít.
Ảnh ghép kỷ niệm ngày 9.11 trên trang mạng T-online.de. Hai bên là cảnh phá bức tường Berlin 9.11.1989. Ở giữa là hình ảnh cách mạng vô sản Đức 9.11.1918 và ảnh nhà thờ Do-Thái bị đốt cháy đêm 9.11.1938. Ảnh tư liệu
Ngày 9.11.1923, nhân kỷ niệm 5 năm ra đời nền cộng hòa, Hitler tổ chức một cuộc đảo chính ở Munich. Cuộc đảo chính thất bại. Hitler bị bắt và bị tuyên án 5 năm tù. Sau 9 tháng thì y được thả vì “hạnh kiểm tốt”. Sau khi lên nắm quyền 1933, Hitler lấy ngày 9.11 làm ngày kỷ niệm những “hy sinh” của phong trào Phát xít.
Ngày 9.11.1938 được biết đến trong sử sách là “Đêm pha-lê”, khởi đầu phong trào tiêu diệt người Do-Thái đẫm máu nhất trong lịch sử. Sáu triệu người Do Thái đã bị thảm sát từ đó đến tháng 5.1945.
Nhưng cũng ngày 9.11.1989, nhân dân Đông Đức đã phá bỏ bức tường Berlin, biểu tượng của chiến tranh lạnh, của quá trình chia cắt nước Đức. Lúc đầu nhân dân Đông Đức chỉ muốn phá bỏ bức tường, phá bỏ chế độ chuyên chế SED để xây dựng một nước Cộng hòa Dân chủ Đức dân chủ, tự do, bình đẳng như nước Cộng hòa Liên Bang Đức bên cạnh mình. Nhưng khi nhìn thấy những thách thức trong quá trình khôi phục đất nước bị lạc hậu và trì trệ, họ đã tiến tới quá trình thống nhất để xây dựng một nước Đức mới.
Trước sức ép của thời thế, ông Kohl và các chính khách Đông Đức không thể trù trừ được ngày nào. Hai nước Anh và Pháp không muốn Đức thống nhất. Liên Xô đang như một thùng thuốc súng. Các thế lực bảo thủ có thể bất cứ lúc nào đó lật đổ Gorbachov, người đã đồng ý cho dân tộc Đức tự quyết. Nếu không làm nhanh, có thể cơ hội tuột tay.
Theo ông Niess: Ngày 3.10.1990 được coi là một lựa chọn thuần túy kỹ thuật để thành ngày thống nhất, cũng là ngày quốc khánh. Đối với nhiều người Đức, ngày 3.10 không gợi lại ký ức gì. Nhưng lịch sử đã đi con đường của nó và không có lý do gì để đổi ngày quốc khánh sang ngày khác.
Mặt khác nhiều người Đức không muốn gắn ngày quốc khánh của mình với những kỷ niệm như “Đêm-Pha-lê”. Với người Đức, ngày 9.11 vừa là ngày ôn lại quá khứ đẫm máu, đau thương của dân tộc vừa là ngày chiến thắng của khát vọng tự do, dân chủ.
Đêm Pha lê 9.11.1938, hàng ngàn nhà thờ và các cơ sở của người Do Thái ở Đức và các vùng nói tiếng Đức bị đốt phá. Ảnh tư liệu
Nhưng nền dân chủ đạt được sẽ không tự nhiên tồn tại, nếu không biết bảo vệ nó. Đảng cực hữu AfD (Sự lựa chọn cho nước Đức) đang muốn biến ngày 9.11 hàng năm thành một ngày lễ. Hitler đã từng làm như vậy để kỷ niệm những tay chân bị giết chết trong cuộc đảo chính ngày 9.11.1923.
Hitler kỷ niệm ngày 9.11.1923, ngày đảo chính hụt ở Munich, đánh dấu sự hình thành chủ nghĩa Phát xít Đức. Nguồn T-online.de
Năm 1933 y đã cho in tem kỷ niệm những nhân vật này với dòng chữ: Các bạn đã chiến thắng!
Có điều Hitler nhầm to. Các chế độ độc tài có thể chiến thắng trước mắt. Về lâu về dài thì dân chủ vẫn thắng. Lịch sử đã chứng minh như vậy.