Ngày 20/11 của những Nhà giáo lên tiếng vì hiện trạng đất nước

Ngày 20/11 của những Nhà giáo lên tiếng vì hiện trạng đất nước

Cao Nguyên
2021-11-19

Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh tại phiên tòa án ở Nghệ An hôm 15/11/2019

Báo Nghệ An

Từ xa xưa nghề giáo là một trong những công việc được coi trọng nhất ở Việt Nam. Với văn hoá “tôn sư trọng đạo”, đã có rất nhiều tác phẩm ra đời nhằm ca ngợi công ơn của thầy cô giáo vì đã truyền đạt cho học trò không chỉ kiến thức mà còn đạo làm người.

Tuy nhiên, nhà giáo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam lâu nay chỉ được phép giảng dạy theo giáo trình, việc lên tiếng, bình luận về những mặt trái của xã hội là điều cấm kỵ.

Nhân ngày mà Việt Nam dành riêng để tôn vinh những người thầy, RFA phỏng vấn một số nhà giáo, họ đã dành hàng chục năm trời trong sự nghiệp “trồng người”, nhưng đồng thời, họ cũng là một người dân quan tâm và lên tiếng trước những bất công của xã hội hay chủ quyền đất nước. Vì vậy, họ gặp không ít khó khăn, chèn ép và thậm chí bị cô lập trong chính môi trường sư phạm.

Nhà giáo bị bỏ tù vì lên tiếng trước bất công xã hội

Thầy giáo, tù nhân lương tâm Nguyễn Năng Tĩnh trước đây từng dạy nhạc và là giảng viên trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An. Ông người được biết đến qua các video dạy học sinh những bài hát bị cấm tại Việt Nam như “Trả lại cho dân” hay “Việt Nam Tôi đâu”…

Còn vợ là chị Nguyễn Thị Tình, hiện đang là giảng viên bộ môn Sinh tại trường Đại học Đồng Tháp.

Từ năm 2012, thầy giáo Tĩnh vẫn thường lên tiếng về nhiều vấn đề xã hội. Do đó, ông luôn bị Chính quyền theo dõi, sách nhiễu hay thậm chí là tấn công nhiều lần. Đến năm 2019, ông Tĩnh bị bắt và kết án 11 năm tù giam và năm năm quản chế về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Chị Tình chia sẻ với RFA rằng, khi chồng mình bị quy cho là phản động rồi bị bắt, tất cả mọi động thái, điện thoại hay các tài khoản cá nhân của chị đều bị kiểm soát chặt chẽ. Dù vẫn được đi dạy bình thường nhưng chị cảm thấy như bị cô lập, bạn bè đồng nghiệp không ai dám trò chuyện nhiều:

Trong cái xứ miền Tây này chị cảm thấy cô đơn, lạc lõng vì tư tưởng không giống ai.

Nói chung là bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, nhà trường người ta đều sợ. Tại vì chị lên tiếng viết bài cho chồng, người ta sợ dính dáng. Có giáo viên, sinh viên hủy kết bạn. Chung quy lại là người ta thương mình nhưng mà người ta sợ.”

Chị nói từ ngày anh bị bắt, đồng lương giảng viên của chị không thể đủ để trang trải vừa nuôi hai con nhỏ ăn học, vừa gửi đồ thăm nuôi chồng, may nhờ có ông bà hai bên giúp đỡ và phải tiết kiệm lắm mới đủ chi tiêu qua ngày.

Không chỉ áp lực về tài chính, chị Tình chia sẻ thêm rằng chị rất khổ tâm khi phải nói dối các con rằng ba không bị bắt, ba chỉ đang đi làm việc ở một nơi xa chưa về, mỗi tháng ba được gọi điện về thăm nhà 10 phút. Con trai lớn của chị tận mắt chứng kiến cảnh ba của nó bị còng tay bắt đưa đi, từ đó con bị kích động mỗi khi nhìn thấy công an. Chị sợ con mang trong lòng nỗi thù hận, nên đành phải nói dối. Mỗi dịp lễ tết, chị mua quà gởi về nhà cho con và nói đó là quà do ba gởi tặng.

Dù cuộc sống khó khăn, dù bị đồng nghiệp xa lánh, nhưng với chị Tình, nghề giáo cũng như ngày 20/11 có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với một người thầy như chị:

“Nhưng mà đối với chị ngày 20/11 là một ngày rất là thiêng liêng, vì đó là ngày mà tôn vinh người giáo viên. Dù không quan trọng về vật chất, quà cáp nhưng mà cái tình cảm của học trò đối với giáo viên cũng rất là thiêng liêng.”

Hình minh hoạ: Biểu tình phản đối Trung Quốc Hà Nội hôm 17/7/2016. Reuters

Nhà giáo đấu tranh cho chủ quyền Quốc gia

Nhà giáo, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, người đã mạnh mẽ lên tiếng cho chủ quyền đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo Việt Nam, từ Sài Gòn nói với RFA rằng ông luôn tự hào được là một người thầy, với sự nghiệp 35 năm giảng dạy tại trường Đại học Cần Thơ và trường Đại học Mở TPHCM. Ông cũng từng vấp phải nhiều khó khăn, xung đột khi lên tiếng trước những vấn đề xã hội, đất nước. Tuy nhiên, ông coi đó như là một bài học cho bản thân mình:

Quá trình mà đi dạy của tôi cũng có nhiều xung đột rất nhiều về kiến thức và các phương pháp trong giảng dạy. Nhưng đối với tôi, tôi không cho đó là một cái khó khăn, một thất bại hay là một vấp ngã hoặc là thua cuộc trong một cuộc đấu tranh, mà tôi cho đó là một kinh nghiệm cho mình đứng lên.

Tôi không coi khó khăn đó cản trở con đường tiến của mình, cái khó khăn đó là để cho mình biết mình đúng hay sai, và cái khó khăn đó dạy cho mình một bài học để giờ này, khi bước ra khỏi giảng đường đại học, khi đã đến tuổi về hưu, mình có thể tự hào mà nói “Tôi là một ông thầy”.

Một trong những kỷ niệm mà nhà giáo Đinh Kim Phúc không thể quên trong sự nghiệp giáo dục của mình là ông đã khơi dậy lòng yêu nước trong lòng sinh viên. Chính ông đã “gợi ý” cho các học trò của mình xuống đường tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa hồi năm 2007:

Trong lần biểu tình đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh trong vấn đề Tam Sa vào năm 2007, thì tôi có “bỏ nhỏ” với một số sinh viên là đệ tử ruột, tôi nói rằng “ngày mai lúc chín giờ sáng, ra trước Tòa Lãnh sự quán Trung Quốc ở trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Tao sẽ đứng bên kia đường, tụi bây cứ coi cánh tay của tao và tất cả mọi người, ai đưa lên chừng nào thì chủ quyền của Việt Nam đến gần với đất nước chừng đó”. Đó là cuộc biểu tình mà không bao giờ quên được trong cuộc đời của tôi.

Nhà nước Việt Nam không khuyến khích vì sợ những cuộc biểu tình đó sẽ dẫn đến những cuộc bạo loạn lật đổ, nhưng bảo vệ chủ quyền là nghĩa vụ của tất cả người dân yêu nước xuất phát từ trái tim, từ khối óc, nói mà không làm gì cả thì tất cả chỉ là những lời sáo rỗng.”

Giờ đây, khi đã về hưu, ông vẫn còn nhiều trăn trở về những vấn nạn đang hiện hữu trong nền giáo dục Việt Nam và khẳng định giáo dục Việt Nam phải thay đồi thì mới mong Đất nước này phát triển được:

Nền giáo dục Việt Nam phải thay đổi thì mới mong có được những con người sáng tạo, xây dựng trong tương lai. Xây dựng theo chiều hướng nào, xây dựng theo mô hình nào, vấn đề đó xã hội sẽ trao đổi, vấn đề đó thế hệ trẻ sẽ quyết định.

Thế hệ trẻ hiện nay phải có kiến thức, phải có quyết tâm, có tấm lòng, nhưng chỉ có tấm lòng không mà không có kiến thức thì cũng không làm gì được cho sự phát triển của đất nước hiện nay.”

Nhân ngày “học trò nhớ ơn thầy giáo”…

Nhân ngày “học trò nhớ ơn thầy giáo”…

Bởi  AdminTD

Trương Nhân Tuấn

20-11-2021

“Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”; “Không thầy đố mầy làm nên”… là các câu ca dao của Việt Nam nói lên “nghĩa vụ” của người con, của người học trò đối với bậc phụ mẫu và thầy giáo.

Văn minh Trung Hoa mà Việt Nam ảnh hưởng sâu đậm còn nhấn mạnh vai trò của người thầy trong xã hội. Thứ bậc của người thầy đứng trên cha mẹ: “Quân, sư, phụ”. Đứng đầu là vua, kế đến là thầy, sau chót mới là cha (mẹ). Đọc truyện, hay coi phim Trung Hoa ta thấy người học trò là “đệ tử”, gọi thầy là “sư phụ”. “Sư” là thầy và “phụ” là cha. Thầy đứng trên cha.

Việt Nam ảnh hưởng sâu xa văn minh Trung Hoa. Trật tự xã hội ở Việt Nam đã được định hình như vậy, kéo dài hàng ngàn năm. Trong suốt quảng thời gian đó ta không hề thấy có cái gọi là “ngày của thầy”, “ngày của mẹ” hay “ngày của cha”. Đây không phải là một sự thiếu sót trong quá trình xây dựng xã hội và quốc gia. Bởi vì xã hội Việt Nam ngày đó con cái luôn phụng dưỡng cha mẹ già. Con cái coi đó là “nghĩa vụ tự nhiên” của mỗi người con. Có gia đình, cả họ ba, bốn đời sinh sống chung trong một ngôi nhà.

Tương tự học trò luôn kính trọng thầy cô, coi đó là “nghĩa vụ” của học trò. “Phụng dưỡng cha mẹ già” và “kính trọng thầy cô” đã trở thành những “giá trị cốt lõi” xây dựng nên quốc gia tên gọi Việt Nam.

Cho dầu thù nghịch với tư tưởng bành trướng của lãnh đạo cộng sản Trung Quốc, nhưng cái nào (của văn minh Trung Hoa) “tốt”, cái nào “hay” ta phải nhìn nhận rằng nó “tốt” và “hay”. Văn minh Trung Hoa không phải do tập đoàn vô luân cộng sản xây dựng nên. Cộng sản Trung Quốc hay cộng sản Việt Nam đều xuất phát từ một lò duy vật, vô nhân tính.

Cái nào “tốt” ta giữ. Cái nào đồi phong bại tục, hủ bại… ta bỏ.

Những cái đã được thời gian thách thức, được xã hội chọn lọc và lưu truyền đời này sang đời khác… những cái đó trở thành các “giá trị nền tảng”. Người ta thấy không cần phải rườm rà, đặt ra các ngày lễ như “ngày của mẹ”, ngày “học trò nhớ ơn thầy giáo” v.v…

Thời trước, con cái hỗn láo với cha mẹ, học trò bất nghĩa với thầy cô… xã hội sẽ trừng phạt đứa con bất hiếu, đứa học trò bất nghĩa.

Xã hội bây giờ, với chủ nghĩa duy vật được sùng bái, người ta trọng “bề ngoài”. Thực tế cho thấy là càng có nhiều “ngày lễ” về cha, mẹ, thầy cô… thì số phận cha, mẹ, ông bà… càng “thê thảm”.

Chuyện ông bà bị cháu con bạc đãi. Chuyện con cái đuổi cha mẹ già ra khỏi nhà… Chuyện con cái kiện cha mẹ, con cái đầu độc, giết cha mẹ để lấy của cải… là chuyện “thường ngày”…

Quan hệ thầy trò thời xã nghĩa cũng không còn như ngày xưa. Đọc báo ta thấy các chuyện thầy giáo hiếp dâm học trò, thầy giáo “mua trinh” học trò… là chuyện cơm bữa. Chuyện gian lận thi cử, chuyện bằng cấp giả, chuyện học giả bằng thật… là chuyện thường tình. Ta có thể nói rằng 90% đảng viên CSVN có bằng cấp giả, học giả bằng thật.

Nhìn thực tế xã hội chỉ đem lại sự chua chát. Họ trò tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ… đa số không có công ăn chuyện làm. Một số lớn cử nhân, thạc sĩ phải giấu bằng cấp để xin việc làm, chạy xe grab hay làm phụ hồ.

Trách nhiệm là do thầy dạy, do mô hình phát triển quốc gia không phù hợp, hay do gia đình?

Những người tiêm nhiễm “văn hóa cổ”, kiểu người VNCH ở miền Nam ngày xưa, hiển nhiên phải chậc lưỡi thở than. Đạo đức xã hội, giềng mối giống nòi nay đã “nát bét” hết rồi.

Càng gò ép người dân phải “ơn đảng, ơn nhà nước”, hay buộc học trò phải “nhớ ơn thầy”, càng làm cho xã hội sống trong giả dối. Xã hội Việt Nam đã từ lâu là “xã hội đạo đức giả”.

Thỉnh thoảng tôi viết bài chỉ trích lề lối cai trị độc tài, ngu dân của đảng CSVN thì mỗi lần có những lời biện hộ kiểu “vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế”. Ông chủ tịch nước này, ông thủ tướng nọ của Việt Nam được tiếp đón long trọng ở nước ngoài…

Biện hộ kiểu vậy chỉ cho người dân Việt Nam thấy rằng mục tiêu của đảng CSVN là củng cố vị thế của đảng, hay của đảng viên lãnh đạo cao cấp… trước trường quốc tế. Trong khi trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia là “phục vụ cho người dân”, chăm lo cho đời sống của người dân… chớ không phải để phục vụ cho đảng, hay cho đảng viên.

Hôm qua tôi có đăng lại bài phê bình vụ “mừng ngày nhà giáo VN” viết từ năm 2016. Nhiều người (thầy giáo, cô giáo) chỉ trích. Tôi tái khẳng định lại ý kiến của tôi là không ủng hộ vụ “mừng ngày thầy giáo” kiểu duy vật bây giờ.

Có một thời gian thầy giáo, cô giáo VN bị liệt vào thành phần “phản động”, tức là giai cấp “trí” trong bốn giai cấp “trí, phú, địa, hào” cần tiêu diệt. Một số lớn các vị “giáo sư đáng kính” của VN đương đại là những đứa học trò đã từng quăng đá cho tới chết thầy cô của chúng trong thời kỳ “cách mạng văn hóa”, thập niên 50 thế kỷ trước ở Bắc VN.

Tôi cho rằng toàn bộ nhân sự thuộc ngành giáo dục của VN, thay vì yêu cầu học trò “nhớ ơn” mình, họ cần phải “nhìn lại” lịch sử, cần phải kiểm điểm lại trên thực tế mình đã giúp gì cho học trò nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung?

Bằng cấp của VN không nơi nào nhìn nhận. Học trò đào tạo không bao nhiêu đứa sinh sống bằng cái học của mình.

Thầy không có tư cách của thầy thì trò không có nghĩa vụ của trò. Cái học ngày nay đã hỏng rồi. Hỏng hiểu theo nghĩa “thời thế”.

Chính sách giáo dục của đảng đã làm tan nát hết cả trật tự xã hội truyền thống của VN. Nhưng trách nhiệm của thầy cô cũng không nhỏ. Thay vì cố gắng gượng lại, giữ được cái nào hay cái đó. Họ càng thúc đẩy cho quá trình hủy diệt thêm nhanh.

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?.

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?.

Tác giả: Phượng Vũ

Lợi tức đầu người (GDP) dân Na Uy đứng hạng 3 trên thế giới : 65,500 USD 1 năm, Mỹ hạng 7 = 50,000usd, nhưng vật giá ở Na Uy cao hơn Mỹ gần 3 lần, xăng giá 11usd /1 gallon, sale tax 25%, nhà hàng không cho free nước đá lạnh như Mỹ, khát phải mua 1 chai nước nhỏ giá 24 Krone = 4USD, suy ra nếu so sánh GDP Mỹ với vật giá Âu Châu thì GDP Mỹ phải cao hơn 150,000 USD!

Ngay giữa thành phố Oslo là công viên tên Vigelandsparken Sculpture Park có những bức tượng điêu khắc mỹ thuật, rộng 80 mẫu, hàng triệu du khách đến mỗi năm… nhưng chỉ có 1 nhà vệ sinh bên cạnh quán nước ngoài cổng, phải nhét đồng 10 Krones (1.75USD) để sử dụng, nhìn đoàn người xếp hàng rồng rắn bên ngoài chờ là… nhịn luôn!

Nước Mỹ số một…

Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

“Đi cho biết đó biết đây

Ở hoài một chỗ, biết ngày nào “khôn”.

Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc đi đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người”.

Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội (kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

Nhưng khi du lịch ra nước ngoài khác mới “thấm thía”!

Cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ 1$ – 1.5$/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến”, ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới!

Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra: tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Đó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại cho sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự!

Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến”, “bí” quá bèn hỏi:

– Bà có chịu tốn 10 Euro để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?

– Nín hết nổi rồi, bây giờ không phải 10 Euro mà 20 Euro tôi cũng chịu luôn!

Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc” quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!

Ở một số nước châu Á như Trung quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang như… cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1- 2 miếng giấy vệ sinh nhỏ.

Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Đúng là XHCN, hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng. Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó.

Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la…, bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ, khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn.

Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi, bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, laptop, I pad, I phone…

Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất. Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều đi ra ngay luôn. Lần này chuyến bay chuyển ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với va li carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó, leo lên xe buýt chở vô phi trường.

Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu x-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng, mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có, chỉ thấy toàn người là người

Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được. Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi…).

Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính “ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ). Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi một ly nước nhỏ. Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn!

Ôi Air France! Một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I don’t expect anything from anyone.”

Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Đức là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối châu Âu!

Đúng là có đi ra ngoài mới thấy tiện nghi ở nước Mỹ là số một, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ. Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự.

Đúng là “sweet home”. Ôi! “My beautiful America”. Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thứ 2 của tôi : Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:

“Phải chờ đến xế chiều

Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao!”

Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Coastal của Đức vừa đi. Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi điện cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer Service” để xếp hàng đi khiếu nại.

Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2,5,8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:

– Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?

– Đi kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài.

– Nhưng chúng ở đâu?

Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên. Chắc là dân châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền?

Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe, chị là bác sĩ hưu trí ở Đức. Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:

-Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Đã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi…

Không ngờ chị phản ứng mạnh:

– Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia, còn đòi xin lỗi…“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”…

Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi. Thôi “một sự nhịn chín sự lành”, nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi!

Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu châu khá mạnh (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa).

Kiểu này qua các nước Trung Đông chắc bị “xơi tái” quá, nhưng tôi nhớ một lần cách đây 5, 6 năm dân Mỹ qua Ai cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!

Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan. Chị trả lời:

– Chắc tại chị ấy ở Đức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Đức, không muốn nước nào qua mặt, mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người Viết Nam! (Chị cười) Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét!

Tôi chán ngán:

– À thì ra vậy! Hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu”.

Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy:

“Đôi khi ta muốn thoát ly

Đi thật xa khỏi cuộc đời này

Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai” (Lê Hựu Hà)

Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường, cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!).

Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người, quyền tự do…) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng!

Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “Một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:

“Tình yêu là trái chín của mọi mùa

Nằm trong tầm với của mọi bàn tay” (Mẹ Theresa)

Phượng Vũ

No photo description available.

Mặt nạ Cộng Sản thực sự đã rớt

Mặt nạ Cộng Sản thực sự đã rớt

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng (Danlambao) – Hôm 5 tháng 11, năm 2021, tin tức trên Facebook, nhiều trang thông tin Tiếng Việt, kể cả những hãng thông tấn nước ngoài chạy tin nóng, hàng đầu về việc ông Tô Lâm ăn miếng thịt bò có vát vàng do người đầu bếp nổi danh được chính tay “Thánh rắc muối” Salt Bae chế biến và đút cho ăn món bò dát vàng trị giá lên đến 45 triệu đồng/phần trong một nhà hàng của ông này ở Luân Đôn.

Cư dân mạng đồng thời đưa lên một hình ảnh rất tương phản, vị Tổng Thống của cường quốc Mỹ, Obama khi thăm viếng Việt Nam, chỉ ngồi trong tiệm bình dân ăn món Bún Chả rẻ tiền.

Một hình ảnh khác cũng được Cư Dân Mạng đem ra so sánh. Tổng Thống Trump của siêu cường Hoa Kỳ, dùng bữa trưa với chiếc bánh Hamberger, khoai lang chiên và lon cô ca.

Nhìn 3 bức hình, dù ai vô cảm đến đâu cũng thấy thương cảm cho thân phận người Việt Nam quá đổi bi thương, trong khi lãnh đạo của họ luôn tuyên bố vì dân, suốt đời tranh đấu cho dân mà ăn bữa ăn tốn khoảng 45 ngàn đô la.

Sự mỉa mai đến cùng cực, dù có tài hùng biện như Tô Tần cũng không thể biện mình cho chế độ tàn bạo, vô lương nầy được.

Không biết cơ man bình luận với lời lẽ mạt sát ông Tô Lâm và thẳng tay lên án chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Duy nhất chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam chưa lên tiếng, dù vụ việc đã xảy ra gần hai ngày.

Lên tiếng gì trước sự kiện dân, nhân công thất nghiệp đang ùn ùn bỏ về quê tìm cách sống tạm bợ qua ngày, nhưng ông Bộ Trưởng Bộ Công An của chế độ, ăn bữa ăn trị giá 22 tấn lúa, có thể nuôi sống hằng ngàn người đang đói khổ, lây lất để sống tạm bợ.

Một chế độ tự hào là phục vụ Công Nông, nhưng không hề liếc mắt dòm người nông dân, công nhân đang lê lết đầu đường, xó chợ tìm những thứ có thể đút vào miệng cho đỡ đói, mà không cần biết đến chất lượng, tình trạng vệ sinh của vật mà họ bỏ vào miệng mình.

Chua chát đến tận cùng, người lãnh đạo của đảng lại ung dung hưởng nuốt miếng thịt bò có giá trị 22 tấn thọc mà dân cần trong cơn đói.

Họ từng tuyên truyền là đầy tớ nhân dân, họ xả thân làm cách mạng để Cứu Dân, Cứu Nước.

Chiếc mặt nạ đã bị tự chính họ vứt xuống đất, và vô phương vãn hồi, nếu có chăng là họ tiếp tục dùng bàn tay sắt để đàn áp khốc liệt hơn để trấn áp sự bất bình từ dân, nhưng càng trấn áp, sức bật của dân càng mạnh lên. Đó là định luật và rồi Máu của Người Việt Nam sẽ chảy nhiều hơn, hận thù càng chất ngất và Chế Độ Cộng Sản Cũng Phải Sụp Đổ.

Ông Trọng và Bộ Chính Trị sẽ làm gì?

Theo thiển kiến, họ sẽ đưa ra biện pháp kỷ luật với ông Tô Lâm, nhưng Không Thể xoá tan sự phẩn uất trong lòng dân và uy tín đảng hầu như tiêu tan vì sự lừa dối không bao giờ phục hồi dù 30 phần trăm. Tôi nghĩ kể cả đảng viên công sản cũng không bao giờ tin vào đảng như khi xưa họ đã từng sinh Bắc tử Nam để Giải Phóng Miền Nam. May ra, còn bọn Lợi Dụng đảng để vinh thân, họ còn ở lại để tìm cơ hội riêng, nhưng niềm tin thì chắc chắn là không.

Vấn Nạn bao giờ cũng có Cơ Hội đi bên cạnh. Những người lãnh đạo cao cấp nhất của đảng nên để vài giây nghĩ đến tương lai đất nước và sự an ninh của bản thân và gia đình, nên có vài hành động cấp thời và quyết liệt, xin có vài đề nghị sau đây:

  1. Kỷ Luật thích đáng Tô Lâm để trấn an tinh thần dân chúng, vớt vát uy tín đảng.
  1. Đưa ra kế hoạch Dân Chủ Hoá Đất Nước có thời hạn rõ ràng.
  1. Xử dụng những nhân tài còn lại trong nước thay thế bọn Vá Áo Túi Cơm, lợi dụng uy quyền hà hiếp, bóc lột dân.
  1. Ấn định thời hạn cho cuộc Bầu Cử Quốc Hội có sự giám sát quốc tế, từ đó lập ra Thượng Hội Đồng Điều Hành Quốc Gia, đi đến Bầu Cử Tổng Thống.
  1. Thành tâm Hoà Giải với người dân trong nước để đi đến Hoà Hợp Dân Tộc.
  1. Giải tán đảng Cộng Sản.

Làm được vài điều căn bản trên đây, hy vọng làm vơi đi sự phẩn uất của toàn dân, tránh được cuộc đổ máu trong tương lai khi chế độ Cộng Sản Sụp Đổ.

Nhớ rằng Không có chế độ nào tồn tại muôn đời, chỉ có Dân Tộc là trường tồn.

Người Cộng Sản phải bình tâm, sáng suốt để tránh Tổn Thương cho Dân Tộc. 

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng

danlambaovn.blogspot.com

3 điều nên “Tránh“ khi đau khổ

Mục Đồng

3 điều nên “Tránh“ khi đau khổ

Đừng điều tra “tại ai”. Hãy cám ơn dụng cụ Chúa dùng thánh hóa con.

Đừng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh Thể, Đức Mẹ là nơi con tâm sự trước hết.

– Khi đã qua, đừng nhắc lại và trách móc, hận thù. Hãy quên đi, không nhắc lại bao giờ và nói “Alleluia!

Đau khổ không những giúp con can đảm, nhẫn nại, nhưng còn có giá trị cứu chuộc rất lớn lao, nếu con hiệp với sự thương khó Chúa Giêsu.

Trên Thiên Đàng, con sẽ tiếc: “Phải chi tôi đã có thêm nhiều dịp mến Chúa và chịu khổ vì Chúa hơn!”

Đức Hồng Y PX. Nguyễn Văn Thuận.

Bạo lực phát sinh trong xã hội là do luật pháp lỏng lẻo, hay là do văn hóa truyền thống?

Bạo lực phát sinh trong xã hội là do luật pháp lỏng lẻo, hay là do văn hóa truyền thống?

Bởi  AdminTD

 Trương Nhân Tuấn

19-11-2021

Hầu hết các chuyện cổ tích Việt Nam lưu truyền trong dân gian, kể cả chuyện Tấm Cám, điểm chính vẫn là kẻ ác bị trừng phạt và kẻ hiền gặp lành. Không có văn hóa nào chủ trương bạo lực mà chỉ có những kẻ lợi dụng những điểm đặc thù của văn hóa để mưu đồ chính trị.

Điều gây sốc (trong chuyện Tấm Cám) là cảnh cô Tấm (mặc dầu đã lấy được vua) vẫn trả thù mẹ con cô Cám bằng cách chặt xác cô Cám thành nhiều khúc rồi đem làm mắm. Hũ mắm được gởi về cho mẹ cô Cám ăn. Đây là một “kịch bản” cực kỳ tàn nhẫn và vô luân. Điều may mắn là chuyện trong cổ tích này chưa hề thấy được ngoài đời, trong suốt lịch sử của VN.

Trong thời kỳ đất nước phân chia, một bên sống dưới chế độ cộng sản khắc nghiệt, một bên dưới chế độ dân chủ tự do. Ta chưa bao giờ nghe một câu chuyện tương tự về sự ác độc đã xảy ra trong xã hội. Bởi vì, dầu buông lỏng đến mức nào, hay dầu khe khắc đến mức nào, hai miền Bắc Nam vẫn có (mỗi bên) một hệ thống luật lệ chặt chẽ để bảo vệ mối giềng luân lý và trật tự xã hội.

Đảng cộng sản nào cũng vô luân. Đảng CSVN không ngoại lệ. Họ chủ trương những gì “có lợi cho cách mạng” là “đạo đức”. Kỷ cương đạo đức, luân lý của giống nòi bị chà đạp, khinh miệt. Đời sống đảo lộn. Con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố cáo lẫn nhau. Hàng xóm, bạn bè đối xử với nhau không thật lòng, nếu không nói là việc đối xử với nhau được đặt trên nền tảng ngờ vực và dối trá. Các thảm cảnh từ cuộc cải cách ruộng đất thập niên 50 của thế kỷ trước ở miền Bắc nói lên một phần của sự vô luân này. Dầu vậy, trong xã hội, luật lệ vẫn duy trì (một cách nghiêm ngặt) để giải quyết những tranh chấp giữa những thành tố trong xã hội. Ta thấy chuyện cô Cám bị “đem làm mắm” là không hề xảy ra. Những chuyện ác độc tương tự cũng không hề có.

Sau năm 1975, trên bình diện cả nước, cũng vậy. Xã hội được (hay bị) đặt dưới một hệ thống luật lệ vô cùng nghiêm khắc. Những gì được cho là “bình thường” ngày trước (ở miền Nam) đều có thể bị ghép thành tội. Kho tàng “văn hóa” miền Nam bị đốt bỏ. Trí thức miền Nam bị truy diệt. Nhưng trong xã hội vẫn không thấy cách đối xử đã xảy ra trong chuyện Tấm Cám.

Nếu xem đó (cô Cám bị đem làm mắm) là “văn hóa” của VN tại sao nó lại chưa bao giờ xảy ra trong xã hội VN?

Chỉ đến khi chủ trương “kinh tế thị trường định hướng XHCN” thành hình thì xã hội mới bắt đầu có những xáo trộn lớn lao.

Tội ác, bạo lực bây giờ hiển hiện ở mọi nơi, mọi lúc ở VN. Nguyên nhân không hề do suy đồi “đạo đức” hay do “văn hóa bạo lực” theo lối chuyện Tấm Cám. Nguyên nhân là do hệ thống luật pháp không hoàn chỉnh.

Người ta không thể áp dụng các điều luật ở thời “chuyên chính vô sản” cho xã hội “kinh tế thị trường”. Thị trường bây giờ là “toàn cầu hóa”. Thị trường có luật lệ riêng của nó, áp dụng cho mọi quốc gia, mọi nền kinh tế. Trong khi các giá trị xã hội của cộng sản chủ nghĩa thì đã lỗi thời.

Ở các chế độ dân chủ tự do, kinh tế thị trường, mọi thành tố trong xã hội đều phải có trách nhiệm như nhau trước pháp luật.

Về quyền lực, ở các nơi đây nguồn gốc của quyền lực quốc gia là tụ ở dân chúng. Mọi hình thức quyền lực, mọi cách thức sử dụng quyền lực, nếu không đến từ “người dân” thì quyền lực đó không chính đáng. Quyền lực không còn là của riêng của đảng phái hay cá nhân nào.

Trong xã hội cộng sản (hay XHCN), quyền lực tập trung vào đảng CS. Quyền lực này chỉ chính đáng khi đảng này còn phục vụ cho giai cấp mà họ đại diện, tức giai cấp vô sản, công nhân, nông dân… nói chung là tầng lớp lao động nghèo. Khi đảng này phục vụ cho một giai cấp khác, như tầng lớp tư bản nước ngoài, tầng lớp tư bản đỏ… thì nó đã phản bội. Tính chính đáng để lãnh đạo của nó bị mất đi. Đảng CSVN hiện nay đang trong tình trạng như vậy. Tính chính đáng để lãnh đạo của đảng CSVN đã không còn.

Mặt khác, về pháp luật, đảng CSVN lại không chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi chính trị của nó.

Tức là cái gọi là “nhà nước pháp quyền” của VN hiện nay không phải là một nhà nước hiểu theo kiểu Anh, Mỹ “Rule of law” hay kiểu Pháp “Etat de droit”. Trong một nhà nước theo kiểu “Rule of Law” của Mỹ hay “Etat de Droit” của Pháp, trước 1975 ta gọi là “nhà nước Pháp trị” (từ ngữ này cũng được các nước TQ, Đài Loan, Nhật, Đại Hàn… sử dụng). Thì mọi người, mọi tổ chức (có tư cách pháp nhân) đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Anh ngồi xổm trên luật thì làm sao anh có thể “hòa nhập” vào kinh tế thị trường toàn cầu? Bao nhiêu kinh nghiệm thất bại, bị trừng phạt… do kinh tế thị trường, do các định chế quốc tế… đã làm cho gánh nợ của người dân ngày càng nặng. Anh đâu có quịt được?

Và khi quyền lực anh nắm đã không còn chính đáng thì không ai sợ anh nữa. Những người sợ anh là người được anh ban phát quyền lợi (và quyền lực). Người khác thì khinh bỉ và thù ghét anh.

Khi anh (cả đảng phạm tội), không bị luật pháp phân xử. Khi cả hệ thống quyền lực của anh đều tham nhũng, hối lộ… thì không ai coi trọng anh nữa.

Đồng bạc xé toạc tờ giấy thì luật lệ không còn ai tôn trọng. Người ta giải quyết các tranh chấp bằng bạo lực, bằng thế lực, bằng tiền bạc.

Nhà nước như vậy đã từ nhiệm, nếu không nói là đang trên đường phân rã.

Nguyên nhân bạo lực ở xã hội hiện nay là như thế. Là do pháp luật, là do mâu thuẫn về ý thức hệ, là do việc mất tính chính đáng của đảng lãnh đạo.

Đào sâu vào văn hóa để sửa chữa là sai đường. Hãy xem cái gương nước Nhật. Trước Thế chiến II, dân tộc này “khát máu”, hung bạo biết bao nhiêu? Trước đó đất nước này phân chia làm năm, làm bảy do các sứ quân lãnh đạo. Họ xâu xé, chém giết với nhau hàng ngày. Họ có truyền thống hung bạo đó chớ?

Nhưng từ khi có bản “Hiến pháp hòa bình” (do Mỹ áp đặt) vào thập niên 50 (thì phải) thì dân tộc này là một dân tộc hiếu hòa nhất trên thế giới.

Bạo lực hay không là do luật pháp chớ đâu phải do văn hóa?

Phép dưỡng sinh tốt nhất không phải là ngủ hay rèn luyện: Bí quyết chỉ trong 1 chữ

Phép dưỡng sinh tốt nhất không phải là ngủ hay rèn luyện: Bí quyết chỉ trong 1 chữ

 Hoàng Mai

Ít là phương thức sống tốt nhất, cũng là phép dưỡng sinh cao cấp nhất.

Phép dưỡng sinh tốt nhất là gì? Thật bất ngờ, không phải là ngủ hay rèn luyện, bí quyết chỉ trong một chữ. Ít là phép dưỡng sinh cao nhất.

Kinh Dịch có viết: “Phù thiểu giả, đa chi sở quý dã”, đại ý là: Ít là quý, ít mới có thể đạt được nhiều hơn.

Đời người cũng như vậy, nhiều không bằng ít, ít trái lại khiến cho cuộc sống càng có chất lượng. Ít là phương thức sống tốt nhất, cũng là phép dưỡng sinh cao cấp nhất.

Nói ít thì ít họa

Ngạn ngữ có nói rằng: “Bệnh theo miệng mà vào, họa theo miệng mà ra”. Nếu nói chuyện không biết tiết chế, nói năng tùy ý, thì có thể sẽ tự mình gây ra họa hoạn.

Nói ít, không nói lời cuồng vọng, cẩn thận lời nói, thận trọng việc làm, luôn luôn chú ý lưu tâm, thì mới có thể phân biệt rõ đúng sai, giảm thiểu tai họa. 

Mỗi ngày trước khi ngủ, hãy thử tĩnh tâm xuống, nghĩ lại trong cả ngày, mình đã có lời nói nào không thỏa đáng hay không. Nếu có, thì cần cảnh giác phản tỉnh và cải thiện.

Chu Dịch có viết: “Cát nhân quả ngôn ngữ, táo nhân chi từ đa”, nghĩa là: “Người may mắn thì ít nói năng, người bộp chộp nóng vội thì nói nhiều”.

Có thể thấy, nói ít, không nói lời cuồng vọng, đó chính là nền tảng gây dựng đức, có thể đem đến phúc báo.

Thế nên, trước khi mở miệng nói, cần suy nghĩ sâu sắc chín chắn, thà không nói còn hơn nói nhiều. Người thực sự thông minh thì không cần nhiều lời, không nói lời thừa, thì mới tránh xa mầm họa, mới có thể tu đức tích phúc.

Người thực sự thông minh thì không cần nhiều lời.

Người già thường dạy bảo cháu con rằng: “Ăn được tức là phúc”. 

Có đúng như vậy không? Thực ra còn câu nói nữa, đó là: “Khéo ăn mới là trí tuệ”. 

Đó chính là nói, không lựa chọn đồ ăn, không chọn món ngon, đồ ăn nào cũng ăn được thì đó là phúc. Nhưng hiểu được phép ẩm thực thì mới là người có trí tuệ.

“Tố vấn – Sấu luận” có viết: “Ẩm thực tự bội, trường vị nãi thương”, nghĩa là: “Ăn uống no nê quá thì ruột và dạ dày bị tổn thương”.

Ăn uống quá no trong thời gian dài sẽ khiến ruột và dạ dày bị quá tải, rất dễ dẫn đến nhiều loại bệnh tật như huyết áp cao, đường huyết cao, mỡ máu cao, các bệnh về tim mạch… Vì vậy, bí quyết khiến bệnh tật tránh xa chính là ăn ít, chỉ  phần no, và ăn đúng giờ, thì mới tốt cho ruột và dạ dày.

Tống Mỹ Linh, phu nhân của Tưởng Giới Thạch, người sống thọ 106 tuổi, rất chú ý đến phép ẩm thực. Trong ngày, bà ăn 5 bữa, nhưng mỗi bữa chỉ 5 phần no, ăn một chút là dừng, tuyệt đối không ăn nhiều. Thậm chí bà còn cân trọng lượng thân thể hàng ngày, khi thấy lên cân liền đổi bữa chính thành ăn hoa quả và salad, đôi khi ăn chút sườn bò. Chính vì tự giác ước thúc bản thân, tiết chế ẩm thực, không ăn no, nên bà mới khỏe mạnh và trường thọ.

Ăn 7 phần no, 3 phần đói, tiết chế ăn uống thì dạ dày yên ổn. Ăn uống vừa vặn thì mới khỏe mạnh.

Ít ham muốn thì ít lo âu

Người xưa nói: “Vui vẻ phóng túng ham muốn thì lo âu hoạn loạn sẽ theo sau”

Nếu một người phóng túng dục vọng thì ưu sầu và họa hoạn cũng theo đó mà đến. Ham muốn càng nhiều thì phiền toái càng nhiều. Giảm thiểu dục vọng cá nhân thì mới càng hạnh phúc.

Mọi người thường nói, tuổi càng cao thì càng nhiều ưu phiền. Thực ra bởi vì dục vọng quá nhiều thì mới càng nhiều phiền não. Mong muốn, truy cầu đối với ngoại vật là bản năng của chúng ta, nhưng lòng người có hạn mà dục vọng lại vô cùng, tìm cầu quá nhiều thì trái lại trở thành bi kịch cuộc đời.

Mạnh Tử nói: “Dưỡng tâm mạc thiện ư quả dục”, nghĩa là “Dưỡng tâm thì không gì tốt bằng ít ham muốn”.

Giảm thiểu dục vọng, nội tâm mới càng phong phú đủ đầy. Ít ham dục, biết đủ, buông bỏ tham niệm, đó chính là phép dưỡng tâm, là đạo dưỡng sinh.

Giảm thiểu dục vọng, nội tâm mới càng phong phú đủ đầy. 

Ít suy nghĩ thì ít ưu sầu

Rất nhiều người luôn luôn ưu sầu khổ não lo lắng về những sự việc chưa xảy ra, nghĩ dông nghĩ dài, khiến bản thân rơi vào tâm trạng phụ diện, khó mà thoát ra được.

Trong Hồng Lâu Mộng, Lâm Đại Ngọc xuất thân đại gia tộc, tài hoa tràn đầy, một cái chau mày, một nụ cười cũng khiến người rung động. Nhưng cha mẹ cô chết sớm, cô thân thể yếu nhược nhiều bệnh, đường tình trắc trở, cuối cùng ngọc nát hương tàn, khiến người ta không khỏi cảm thông và thương cảm. Thực ra kết cục của Đại Ngọc có mối quan hệ rất lớn với tình tình hay suy nghĩ hay lo lắng của cô.

Chỉ cần một chút gió lay cỏ động cũng khiến cô suy nghĩ lung tung, khiến cho tâm trạng như cơn sóng cuộn, khiến thân tâm đều bị hành hạ. Mà tâm trạng lại ảnh hưởng cực lớn đến sức khỏe, với tính cách như thế thì chú định trước bi kịch cuộc đời rồi.

Ưu sầu có lúc chẳng qua là do bản thân suy nghĩ lung tung loạn bậy, tự đóng gông cùm cho bản thân. Chi bằng ít suy nghĩ, một niệm buông xuống thì tâm thanh thản tự tại. Chăm sóc tốt tâm tình thì thân thể càng khỏe mạnh.

Ít oán trách thì ít bi ai

Đời người, chuyện không như ý thường có 8, 9 phần. Khi gặp chuyện không vừa lòng thì có người cười rồi bỏ qua, có người lại luôn miệng oán trách. Oán trách nhiều, xem có vẻ là để xả bỏ bực dọc, nhưng thực tế không những không giải quyết được vấn đề, trái lại, nó sẽ càng trở thành gánh nặng, càng oán trách thì càng bất hạnh, dẫn đến một vòng tròn luẩn quẩn.

Có câu nói rằng: “Nếu oán trách mình ở vào hoàn cảnh đen tối, chi bằng hãy xách đèn tiến bước”.

Giảm oán trách, thay đổi tâm thái, thoáng đạt lạc quan, như thế thì vấn đề sẽ được giải quyết một cách tự nhiên.

Oán trách chẳng có tác dụng gì, càng oán trách thì bi thương càng tiến đến gần, và hạnh phúc càng rời xa. Thay việc oán người trách Trời, chi bằng biến oán khí thành động lực, thiết thực cải biến bản thân, đó mới là vương đạo.

Cuộc sống dẫu có khó khăn đến mấy thì cũng chớ quên mỉm cười.

Cuộc sống dẫu có gian khổ đến mấy thì cũng chớ giảm mất lạc quan.

Ít oán trách, tích cực lạc quan đối mặt với cuộc sống, thì mới trở thành người chiến thắng trong cuộc đời.

Hoàng Mai

From: TU-PHUNG

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Người ta vui mừng khi được thoát chết.  Có khi ăn mừng liên hoan nữa.  “Sắp chết thì lo âu, nhưng được lành bệnh thì vui mừng” là tâm tình chung của con người mà ngôn sứ Isaia đã nói trong chương 38.
 
Phải chết là một nỗi đau khổ của con người vì là án phạt công khai nặng nề của Thiên Chúa sau khi nguyên tổ sa ngã phạm tội (St 3).  Con người phải cúi mặt đau khổ và chấp nhận thân phận của mình từ nay về sau.  Sẽ mãi vẫn là thân phận thụ tạo thôi dù họ có địa vị cao sang hay tri thức cao vời đến mấy đi nữa.  Không có hình ảnh nào diễn tả đúng nghĩa nhất thân phận nào cho bằng hình ảnh bụi đất.”  Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19b).  Bụi đất của hôm nay và bụi đất của ngày mai chính là sự mỏng giòn và giới hạn rõ rệt của con người đã bị sự chết chi phối.
 
Như vậy ta đã rõ, bản án chỉ dành cho tội nhân.  Tất cả chúng ta đều sinh ra trong môi trường tội lỗi và chủ động phạm tội chẳng lẽ không lãnh bản án sao?  Sự chết là một thực tại minh chứng cho điều này.
 
Trong đời sống con người, sự chết bao hàm một bí ẩn rất lớn về mỗi cá nhân, về cõi vô hình, về tình thương xót của Thiên Chúa.  Điều mà đôi khi người ta quên lãng trong thực tế thì cần phải có một biến cố nào đó nhắc nhở cho.  Biến cố ấy phải có một sức mạnh lớn nhất, ghê sợ nhất và người ta vô phương chống chọi.  Đấy là một bản án kết tội phải chết.  Bản án chọc thẳng vào sự nghiệp và những sự đầu tư tốn kém nhất của con người.  Thật là tiếc xót và đau buốt lắm chứ.  Những vụ tịch thu tài sản vì tham nhũng, hối lộ, buôn lậu và kết án tử hình giống như thế đó.  Thường thì những vụ án này người ta đưa ra xét xử công khai để tội phạm lãnh một bản án cụ thể.
 
Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Kitô giáo, chúng ta không hoàn toàn bi quan trước bản án của sự chết do Thiên Chúa muốn.  Vì “Thiên Chúa đánh phạt rồi lại xót thương, Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống.”  Dù bản án sự chết thuộc về kẻ bất lương nhất, tội lỗi nhất thì chúng ta cũng không được phép đứng về phía quan tòa xét xử, vì Thiên Chúa không đặt chúng ta làm quan án xét đoán anh em, mà phải luôn mặc lấy tâm tình của Thánh Phaolô trong “bài ca đức mến”:
 
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,
Không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
Không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,
Không nóng giận, không nuôi hận thù,
Không mừng khi thấy sự gian ác,
Nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,
Hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
Đức mến không bao giờ mất được
” (1 Cr 13,4-8).

 
Bình thường đấy không phải là tâm tình tự nhiên của tất cả mọi người.  Bản chất con người đã mang theo sự chết nên cũng thích hùa theo, thích nuôi dưỡng trong mình những sự chết chóc đủ loại.  Một thực tại đau lòng Thiên Chúa ngay cả khi chưa có bản án sự chết của Ngài.  Thực tế này lại được tái diễn nhiều lần trong lịch sử nhân loại và đỉnh cao là cái chết của Đức Giêsu mà bản án do con người chúng ta ký cho Ngài!      
       
Vậy dưới cái nhìn của người Do thái, Đức Giê-su phải lãnh bản án sự chết một cách công khai là hợp lý, vì tội Ngài chồng chất (Mc 14,53–15,1-20).  Thánh sử Máccô ghi rõ: “Bản án xử tội Người viết rằng: “Vua người Do thái” (Mc 15,26).  Họ hoàn toàn hãnh diện và thỏa mãn về việc mình kết tội cho Đức Giêsu phải chết.  Xem ra bản án của họ đã được vua quan cho đến các vị tôn giáo ký thì ngay cả Thiên Chúa cũng thua!  Ông tổng trấn Philatô đã không hề thay đổi ý định của mình: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19,22).
 
Xem ra những quan niện và lý luận của người Do Thái về tội lỗi theo mạc khải Kinh Thánh đúng lắm.  Nên không lạ gì Đức Giêsu bị kết án.  Có tội thì phải chết, nhất là tội xúc phạm đến Thiên Chúa thì không thể tha được.  Đức Giêsu là một điển hình.  Một nhân vật có tiền án tiền sự trong dân và được ghi vào sổ bìa đen trong hàng ngũ tôn giáo, chính trị!
 
Nếu có cùng quan niện và suy nghĩ như người Do Thái về tội lỗi thì thật là dễ hiểu về bản án sự chết.  Kẻ dữ phải chết là đúng.  Nhưng còn kẻ công chính thì sao?  Kẻ vô tội thì sao?
 
Danh mục người công chính thì đông lắm.  Kẻ vô tội thì kể được một vài thôi.  Nhưng tất cả vẫn chịu chung một bản án.  Thật là khó hiểu.  Thật là mầu nhiệm lạ lùng.  Không thể chấp nhận được.
 
Trong chương trình của Thiên Chúa thì cái chết của Đức Giêsu cũng là một bản án công khai, nhưng không phải là bản án kết tội Ngài, vì ngài là Đấng vô tội, mà là một bản án công khai kết tội con người chúng ta.  Vì thế mà Ngài đã bị liệt vào hàng tội nhân (x. Is 53,12).  Không những thế mà tất cả mọi sự xấu xa và tội lỗi của nhân loại trút lên con người Ngài, nên Ngài là: “Con chiên gánh tội thiên hạ.”  Thiên Chúa đánh phạt Đức Giêsu: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32).  Chén đắng, thập tự của Ngài do Thiên Chúa trao như một bản án kết tội từ từ mà Ngài không được xin tha, không được từ chối: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,2).  “Thánh giá Đức Giêsu vừa là sự mạc khải về sự rộng lớn bao la và tính nặng nề của tội lỗi của toàn thể nhân loại, vừa tỏ bày sự bao la của tình yêu Thiên Chúa” (Nol Quesson).

Cái chết của Đức Giêsu là một lời giải thích về tội lỗi, về cái chết của những người công chính, người vô tội. “Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23,31).  Cái chết của Đức Giêsu vừa tố cáo vừa dung tha cho những sai lầm của con người: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); vừa thông cảm với nỗi oan nghiệt, nỗi bất công bao người đang gánh chịu hôm nay.
 
Người Kitô hữu đón nhận cái chết trong chương trình của Thiên Chúa để mở rộng tầm nhìn và tăng thêm niềm xác tín vào ơn cứu độ của Đức Giêsu, đồng thời nhìn cái chết của tha nhân (trong đó có cả kẻ ác, kẻ thù của mình) cũng có một giá trị nào đó với mình theo tương quan của ơn cứu rỗi.  Đó là chiều kích cộng đồng cơ bản trong nhân loại, nơi ấy có hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn, Giáo Hội lữ hành và Giáo Hội đang thanh luyện.

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

From: Langthangchieutim

Ăn thịt bò nhớ Mác

Ăn thịt bò nhớ Mác

Bởi  AdminTD

 Trần Trung Đạo

17-11-2021

Trước ngày ăn miếng bò bít-tếch với giá cắt cổ của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe hay còn gọi Salt Bae (Thánh rắc muối), Tô Lâm hướng dẫn một phái đoàn đến viếng mộ Karl Marx ở nghĩa trang Highgate thuộc vùng ngoại ô London. Theo phiên bản tiếng Anh của báo Công An, hành động của Tô Lâm thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.

Các báo Anh và Mỹ phê bình hành động này. Tựa của bài báo trên The Independent hôm 8 tháng 11: “Bộ trưởng Việt Nam ăn miếng bít tết dát vàng trị giá 1,450 bảng sau khi đặt hoa tại mộ của Karl Marx” (Vietnamese minister fed £1,450 gold-plated steak after laying flowers at Karl Marx’s grave).

Khi đặt tựa như vậy, tác giả bài báo đã thấy ra những điểm nghịch lý giữa hai sự kiện. Dưới lăng kính tư cách lãnh đạo, hai hành động đó chửi nhau.

Tạm gác qua bên chuyện đúng hay sai trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, Tư Bản Luận, Duy Vật Biện Chứng, Duy Vật Lịch Sử, chỉ bàn chỗ đứng của Karl Marx khi nhìn về phía con người. Trong toàn bộ lý thuyết của mình, Karl Marx (Việt Nam gọi là Mác) nhân danh lớp người bị bóc lột tức giai cấp vô sản.

Buổi sáng đặt vòng hoa để tưởng nhớ một người đấu tranh cho giai cấp lao động vô sản rồi tối hôm sau ngồi ăn bò bít tết giá 44 triệu đồng mỗi phần trong khi nhiều triệu người trong tầng lớp lao động vô sản tại Việt Nam không biết ngày mai sống chết ra sao.

Đại dịch ảnh hưởng toàn cầu nhưng chưa ở đâu, ngay cả ở nước có trên tỉ dân như Ấn Độ, đã trải qua thảm cảnh 1.3 triệu người đói khát tìm về quê bằng mọi phương tiện kể cả đi bộ hàng ngàn cây số như tại Việt Nam.

Là lớp người thừa kế gia sản của tiền nhân, giới lãnh đạo đảng CS không làm gì cả ngoài việc hưởng lợi tức để lại từ các thời Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự, Hà Huy Tập, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn theo kiểu cha truyền con nối.

Đảng CSVN không hề chuẩn bị một lối thoát, một phương án nào cho những tình trạng nguy cấp tột cùng. Thực tế bi thảm vừa qua cho thấy, suốt hơn 46 năm, chắc chắn trong các hội nghị trung ương chưa ai từng đặt ra câu hỏi đảng phải làm gì để đối phó nếu môt đại dịch, một đại thiên tai xảy ra trên đất nước. Nhìn cách giải quyết khi biến cố xảy ra để thấy sự bất lực, vụng về, rừng rú và vô nhân của đảng.

Từ khi thành lập đến nay, đảng CS không sáng tạo thêm gì mới ngoài hai phương tiện sẵn có gồm bộ một máy tuyên truyền tinh vi và những cách bách hại người tàn bạo do ông tổ Lenin để lại.

Chúng ta thường nghe những tên đồ tể tàn sát dân Do Thái như Heinrich Himmler, Heinrich Müller vì tên của chúng xuất hiện gần như thường xuyên trên sách báo về Thế Chiến Thứ Hai nhưng rất ít khi nghe tới tên Felix Dzerzhinsky. Thật ra, Heinrich Himmler và Heinrich Müller về lý luận và thực tế chưa đáng là học trò của Dzerzhinsky, giám đốc cơ quan mật vụ Cheka khủng khiếp do Lenin lập ra ngay sau khi cách mạng CS 1917. Ngoại trừ đảng viên CS, hầu hết dân Nga đều run sợ khi nghe tên Dzerzhinsky. Lenin chết sớm nên không bị nguyền rủa nhiều như Stalin và Mao Trạch Đông, nhưng con số gần 100 triệu người bị giết dưới các chế độ CS là sản phẩm của lý luận Lenin.

Nhưng cánh tay tàn bạo, tinh vi và thâm độc của chủ nghĩa Mác Lê không phải giết người mà là tẩy não. Tẩy não (brainwash), khái niệm do Edward Hunter dùng lần đầu năm 1950, là một tiến trình nhằm xóa bỏ mọi nhận thức độc lập của một người qua lao động, qua kiểm soát tâm lý, qua cải tạo tư tưởng để thay vào đó bằng một nhận thức mới, trong trường hợp này là nhận thức CS về mọi lãnh vưc của đời sống con người. Hệ thống tuyên truyền CS có câu trả lời cho tất cả câu hỏi và cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ, từ em bé mới biết đánh vần cho tới nhà khoa học.

Nhưng, dù đứng trên quan điểm tôn giáo nào, con người là một sinh vật có trí tuệ và có các giá trị thiêng liêng không thể bị hoàn toàn xóa bỏ bởi các nhận thức áp đặt.

Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa chân lý và bạo lực, giữa tự do và độc tài vẫn tiếp tục diễn ra. Diễn ra trong âm thầm nơi mỗi con người dẫn đến bán công khai rồi công khai ở từng làng xã, quận huyện, thành phố cho đến phạm vi một nước, khối các quốc gia và cả châu.

Sau khi phong trào CS Châu Âu sụp đổ, ngôi mộ của Mác mà Tô Lâm đến thăm không còn mang tính thời đại mà được xem như một di tích bảo tàng.

Trước 1991, mỗi năm vào sinh nhật 5 tháng 5, mộ Mác tràn ngập những vòng hoa. Tháng 5, 1992, chỉ có một vòng đặt ở chân mộ với hàng chữ “Chúng tôi vẫn giữ vững niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản”. Nhưng rồi những năm sau đó không còn ai đến nữa kể cả những người vừa thề thốt năm qua. Mộ của Mác hai lần bị phá hoại trong năm 2019. Nghĩa trang Highgate có lần được dùng làm ngoại cảnh cho một cuốn phim ma. Điều này vô tình nhưng trùng hợp lý thú với câu mở đầu cho Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản “Một bóng ma đang ám ảnh Châu Âu”.

Nhưng Việt Nam thì khác. Sự kiện Tô Lâm đến đặt vòng hoa tại mộ Mác cho thấy ý thức hệ CS vẫn có tác dụng lừa gạt được một số không nhỏ người Việt thuộc nhiều trình độ nhận thức khác nhau.

Bộ máy tuyên truyền của đảng trong một mức độ nào đó vẫn thành công. Trên sân khấu chính trị Việt Nam, các lãnh đạo đảng không chỉ là những tên hề làm cho khán giả cười nhưng đôi khi còn là những kép mùi như Tô Lâm hát bài “uống nước nhớ nguồn” làm khán giả cảm động. Tô Lâm “uống nước nhớ nguồn” là phải. Không có Mác làm gì có thịt bò bít tết để ăn, xe sang để chạy, nhà sang để ở, thẻ tín dụng để xài.

Có hai thành phần tin Tô Lâm thăm mộ Mác phát xuất từ ý nguyện chân thành.

Một thành phần ít học tin vào đảng và sống theo chủ nghĩa số phận nương nhờ thần linh đảng. Họ xem đảng là nắng, là mưa, là mùa xuân, là hy vọng. Bộ máy tuyên truyền của đảng buộc hơn 90 triệu người dân Việt, từ một em bé vừa tập nói cho đến cụ già đang mất dần trí nhớ, phải học thuộc, phải tin, phải lặp đi lặp lại những khẩu hiệu, những lời sùng bái, ca tụng các lãnh tụ CS cho đến khi chúng được ghi sâu vào ý thức để trở thành một phần trong đời sống đạo đức và tình cảm của con người. Với thành phần này, cơ chế chính trị CS là tất yếu chẳng khác gì thời tiết. Họ vui khi một cơn gió mát thổi qua những không buồn lắm khi trời nắng rát.

Một thành phần khác có học và đọc sách vở từ nhiều nguồn nhưng vẫn tin nơi đảng CS. Thành phần này có lý luận hơn, biết so sánh tốt xấu, biết chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội và thậm chí có khi cũng lên tiếng phản biện vài sai lệch của đảng nhưng trong đáy lòng họ vẫn nghĩ chỉ có đảng CS mới đủ tư cách chính trị để lãnh đạo đất nước. Họ được chích vắc-xin nghi ngờ mọi thứ ngoại trừ đảng vào nhận thức còn sớm hơn trẻ em được chích vắc-xin phòng cúm. Tại Việt Nam số người không phân biệt được sự khác nhau giữa một ông Tây và một ông Mỹ còn rất nhiều, và vì thế họ đồng ý với đảng cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ đánh đuổi Thực Dân Pháp và Đế Quốc Mỹ” dẫn tới “cách mạng xã hội chủ nghĩa” là một chọn lựa đúng đắn của dân tộc Việt Nam.

Theo họ, xã hội nào cũng có mặt tốt và mặt xấu. Đảng cũng thế. Đúng thì khen, sai thì sửa nhưng thay đổi thì không. Họ ngụy biện rằng trình độ hiểu biết của người Việt nói chung còn thấp để có thể xây dựng một chế độ dân chủ theo kiểu Mỹ, kiểu Pháp, kiểu Anh, và do đó, đa đảng chỉ dẫn đến hỗn loạn trong khi đất nước đang cần đoàn kết dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN.

Thế nào là thấp?

Dân chủ là một tiến trình chứ không phải mà một món đồ hộp chế biến sẵn chỉ khui ra là ăn.

Dân tộc Mông Cổ có thể nói chưa bao giờ thật sự sống dưới chế độ dân chủ trước ngày bầu cử đa đảng 29 tháng 7, 1990. Nhưng cũng từ ngày vui đó một nền cộng hòa được ra đời và phát triển tương đối ổn định cho đến nay. Quốc gia nằm sâu trong đất liền này đã vươn lên từ một dân tộc sống rải rác trên các thảo nguyên bát ngát để ngày nay có Tổng Sản Phẩm Nội Địa (GDP) tính theo đầu người 4,007 Mỹ kim. Người chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ trước năm 1990, theo cách nói của Mác, chỉ là một công cụ sản xuất giống như cừu, hôm nay ông ta là một con người tự do.

Điều này cho thấy dân chủ cần được hoàn thiện theo đà phát triển của một quốc gia nhưng đồng thời cũng luôn thích nghi với con người dù trong trình độ giáo dục nào, nhận thức nào và đang sống ở đâu trên mặt đất này.

Phải chăng đa đảng dẫn tới hỗn loạn?

Kinh nghiệm của các nước cựu CS cho thấy con đường dân chủ có nhiều ổ gà, nhiều gai góc nhưng là con đường thời đại.

Cộng hòa Ba Lan có tới 97 đảng chính trị trong đó 19 đảng có đại diện trong quốc hội nhưng không phải vì thế mà gây ra bất ổn. Ba Lan ngày nay là một quốc gia hùng mạnh và GDP tính trên đầu người tăng từ 1,731 Mỹ kim vào năm 1990 đến 15,600 Mỹ kim vào năm 2020.

Hai thành phần tin đảng CS nêu trên khác nhau về cách thể hiện và biện luận nhưng bản chất nô lệ vào đảng CS vẫn giống nhau vì cả hai đều là kết quả của chính sách nhồi sọ có hệ thống. Bài viết này không nhắm vào một thành phần khác tạm gọi là “thành phần phên giậu” biết đảng sai nhưng vẫn phò vì bổng lộc.

Khát vọng tự do của mọi con người trên trái đất đâu cũng giống nhau nhưng các điều kiện lịch sử và văn hóa đã làm cho cuộc đấu tranh chống chế độ CS tại một nơi chậm hơn vài nơi khác. Điều này đòi hỏi những người Việt quan tâm đến vận nước, ngoài đức độ và tài năng, còn phải có thêm tính kiên nhẫn để soi sáng con đường trước mặt. Đó là con đường dân chủ cho Việt Nam và không có con đường nào khác.

6 Thời Điểm Bạn Dễ Hiểu Thấu Quy Luật Cuộc Đời!

Van Pham  

GÓC SUY GẪM…

6 Thời Điểm Bạn Dễ Hiểu Thấu Quy Luật Cuộc Đời!

Hàng ngày, chúng ta đều bận rộn với học hành, công việc mà quên mất rằng cuộc sống vẫn đang trôi qua ngoài kia, với những quy luật khắc nghiệt của nó. Sáu thời điểm sau là lúc bạn hiểu thấu những quy luật này!

  1. Khi gặp hoạn nạn

Ngày thường, xung quanh ta là biết bao nhiêu anh em, bạn bè, ai cũng cười cười nói nói, thân thiết như chung một nhà. Đến khi ta gặp chuyện không may, có người nhiệt tình giúp đỡ, có người khoanh tay đứng nhìn, nhưng cũng không thiếu kẻ mượn gió bẻ măng.

Bởi vậy, chỉ trong hoạn nạn, ta mới phân biệt được lòng người ngay giả, biết được ai là người quân tử, ai là kẻ tiểu nhân. Có như vậy, ta mới hiểu thế nào là “chọn bạn mà chơi”.

  1. Khi lâm bệnh nặng

Chỉ khi nào ốm đau liệt giường, ta mới thấm thía hết tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, những thứ khác đều chỉ đáng xếp sau. Nếu không có sức khỏe thì giàu sang, phú quý cũng đều là vô nghĩa.

Chính vì thế, chỉ khi thoát cơn bạo bệnh, con người mới học được cách trân trọng sức khỏe, cũng như coi nhẹ của cải vật chất – những thứ mà ngày thường ta vẫn điên cuồng theo đuổi.

  1. Khi bị mất chức quyền

Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức trọng quyền cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyền lực đã không còn trong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh trước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.

Vì thế, dù có được công danh, bạn cũng đừng nên vội đắc ý trước những lời ngợi ca, tâng bốc. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta trở nên ích kỷ và thiển cận.

  1. Khi đã về hưu

Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia công tác nhiều năm, vì ham chức ham quyền mà cấp trên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấu đá lẫn nhau. Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi rồi cũng chẳng mang theo được.

Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp trên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao? Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì trước đây hà tất phải tranh đấu? Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm.

  1. Khi rơi vào cảnh ngục tù

Con người có thể ngộ ra điều gì khi bị giam giữ trong bốn bức tường nhà ngục? Đó chính là “ác giả ác báo”. Luật pháp không phải trò đùa, người làm việc xấu sẽ phải đền tội, chỉ là quả báo đến sớm hay muộn mà thôi.

Nếu một người không chịu tu thân dưỡng tính, chỉ chuyên hãm hại người khác để tư lợi cá nhân thì sẽ có ngày chịu sự trừng phạt. Giam giữ – hình phạt tưởng chừng như nhẹ nhàng nhất cũng chính là cách tước đoạt đi thứ quý giá nhất của con người, đó là sự tự do.

  1. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng

Trớ trêu thay, lâm chung là lúc con người trở nên thông suốt nhất. Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ? Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ra đi thanh thản.

Rắc những đau thương…

Lê Vi

Rắc những đau thương…

Phạm Minh Vũ

Mạng xã hội lại dậy sóng chuyện “rắc muối”, khi công an Đà Nẵng đến triệu tập một người, từng làm clip “rắc hành” vào tô bún bò.

Tưởng chuyện ăn bò dát vàng của Tô Lâm đã yên, nhưng nó lại được đào bới, và người ta lại chế nhạo tiếp tục hình ảnh há mồm của Tô Lâm lúc Lâm ăn bò ở Anh.

Sự khinh bỉ của người Dân dành cho Tô Lâm đã được người Dân nhắc đi nhắc lại khi mà người Dân trong nước tới cơm không có mà ăn, vậy mà quan chức tầm cỡ như Lâm lại ngang nhiên nuốt miếng bò dát vàng tận xứ Tây với nụ cười khả ố, nhìn nó đểu cáng vô cùng. Mỉa mai hơn, trước đó Lâm lại đi thăm và dâng hoa tới ông tổ cộng sản Các – Mác, người cả đời lên án chủ nghĩ bóc lột.

Nơi Lâm và đám đệ tử ăn uống xa xỉ ấy, thật đau xót là nơi nơi hơn 2 năm trước, 39 người Việt Nam đã chết ngạt, chết lạnh cứng trong thùng xe đông lạnh khi cố vượt biên vào nước Anh để kiếm miếng ăn.

Nơi người Việt Nam bỏ mạng không chỉ một hoặc hai mà tận 39 người một lúc, mà Tô Lâm cùng đám đàn em tới thể hiện sự xa xỉ thì sự trơ trẽn nào bằng?

Như đây, mới đây trên báo Lao Động ghi lại một bữa cơm của học sinh một xã ở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Thức ăn của các em là ốc mò dưới ruộng, là lá mì, là sâu đất đào đâu đó trong rừng.

Nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các em, bên cạnh thức ăn chính là thứ săn bắt hại lượm được, và một bên là đám quan chức tụ tập ăn nhậu ở tận trời Tây với bữa ăn hàng chục ngàn đô la, ai chỉ cho tôi biết đâu mà bình đẳng? Và xa hơn đâu là lý luận Do Dân, vì Dân? Hay xa nữa đâu là vì ươm mầm cho tương lai Việt Nam? Hay tất cả những khẩu hiệu nổ vang trời ấy, tất cả là màu hồng để tô vẽ cho sự ngạo nghễ vĩ đại của bọn cầm quyền bất nhân, và vì chính bản thân của những kẻ cầm quyền?

Nhìn cảnh đầu bếp nổi tiếng người Thổ trên tay làm động tác rắc muối, và miếng bò dát vàng đút vào mồm Tô Lâm nó khác gì rắc vào vết thương đang rỉ máu trên đất Mẹ Việt Nam, nơi mà bắt ốc đào sâu để ăn hàng ngày?

Rắc muối hay rắc những nỗi đau?

 Phạm Minh Vũ

HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Lương Văn Can

HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Trước năm 1975 ở Miền Nam đề ra ba nguyên tắc căn bản trong mục đích, tôn chỉ giáo dục là: Nhân bản, Dân tộc và Khai Phóng. Chính những nguyên tắc nầy đã giữ cho truyền thống dân tộc được bảo tồn, phát triển vững vàng nhưng không bảo thủ và từng bước theo kịp đà tiến triển của nhân loại. Vì vậy ở bậc Trung học, không có một bộ sách giáo khoa nào do cơ quan giáo dục chính thống biên soạn và phát hành để thầy dạy , trò học theo. Giáo viên tự chọn sách giáo khoa để dạy miễn sao tôn trọng đúng nội dung chương trình giáo dục do Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo. Trên thị trường cũng xuất hiện rất nhiều loại sách giáo khoa do các nhà giáo biên soạn.

Khi được được học trong một môi trường giáo dục như thế chúng ta cảm thấy mọi việc đều bình thường, cho đến sau năm 1975 đất nước thống nhất rồi mới có dịp so sánh với hai đường lối giáo dục Nam-Bắc mới thấy có nhiều điều rất khác biệt. Cái khác rỏ nét nhất là ở Miền Bắc đã đưa quan điểm về chính trị, chính kiến vào chương trình học nhằm mục đích tuyên truyền phục vụ cho chế độ, trong khi giáo dục ở Miền Nam thì chỉ tuân thủ ba tôn chỉ nêu trên mà không bị chi phối bởi áp lực chính trị nào cả.

Với hai đường lối giáo dục khác nhau nên các học sinh của hai miền cũng được trang bị kiến thức và nhận thức khác nhau, thế nên hành trang của họ mang vào đời cũng khác nhau.

Chỉ nói riêng về môn Văn, trong khi ở Miền Nam chúng tôi được học một chương trình Văn học rất thông thoáng và khách quan, không hề bị quan điểm về chính trị chi phối nên đều chọn lọc những tinh hoa văn học nước nhà qua các thời kỳ để học. Trong chương trình Văn Học Sử chỉ nói về văn học cận đại thôi, chương trình học cũng rất công tâm, bình đẳng, tất cả các tác giả có tác phẩm đóng góp công lao cho nền văn học nước nhà cho dù họ đang ở bên này hay bên kia chiến tuyến đều được đưa vào chương trình không hề phân biệt. Vì thế chúng tôi đã được học tác phẩm và tìm hiểu về những tác giả đang phục vụ tại Miền Bắc như Xuân Diệu với Thơ Thơ, Gửi Hương Cho Gió…, Huy Cận với Lửa Thiêng, Nguyễn Bính với Chân Quê, Lỡ Bước Sang Ngang, Thế Lữ với Nhớ rừng, Vàng Và Máu, Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu…Những nhà thơ có sự nghiệp muộn hơn như Quang Dũng, Hoàng Cầm…cũng đều có tác phẩm xuất bản trong Miền Nam để cho công chúng được tìm hiểu. Về văn xuôi cũng vậy, những tác giả đang ở Miền Bắc cũng được đưa vào chương trình giáo khoa như Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Nam Cao với Sống Mòn,Chí Phèo… Nguyễn Công Hoan với Tắt Lửa Lòng, Bước Đường Cùng… Vũ Trọng Phụng với Số Đỏ, Ngô Tất Tố với Tắt Đèn… Lược kê một vài tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu như thế để chứng minh nền giáo dục mang tính nhân bản, dân tộc và khai phóng được thể hiện rất rỏ nét trong chương trình học ở Miền Nam. Trong khi đó môn Ngữ Văn học sinh miền Bắc rất chú trọng văn học thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, còn các nền văn học khác thì xem nhẹ. Các tác giả sáng tác với mục đích phục vụ, tuyên truyền cho chế độ thì được vinh danh và đưa vào chương trình học mặc dù xét về văn chương những tác phẩm đó không có giá trị mấy. Trong khi những nhà văn, nhà thơ có tư tưởng thoáng đạt sáng tác trên tinh thần nghệ thuật vị nghệ thuật mà không có tư tưởng tuyên truyền cho chế độ hoặc có quan niệm, chính kiến khác thì sẽ bị chối bỏ và tác giả sẽ bị liên lụy như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chẳng hạn. Cái thiếu sót lớn nhất trong chương trình Ngữ Văn ở miền Bắc (và cả nước sau năm 1975) là chương trình Văn Học Sử cận đại đầu thế kỷ XX chỉ đưa vào sách giáo khoa những tác giả viết về hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trong Phụng, Nguyên Hồng…mà đã cố tình bỏ qua những nhà văn, bút nhóm không đồng chính kiến khác.

Đầu thế kỷ XX nền văn học quốc ngữ nước ta rất non trẻ, trong giai đoạn chuyển tiếp từ nền Nho học qua Việt học đã có những nhà văn có công lớn trong sự phát triển văn học quốc ngữ đó là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đã cho xuất bản tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên dó là tờ Gia Định báo năm 1865 tại Sài Gòn. Tiếp theo là các bút nhóm như Nam Phong với Nam Phong tạp chí (1917-1934) do Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhóm Đông Dương tạp chí (1913-1917) do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Đây là những người tiên phong trong việc truyền bá văn xuôi quốc ngữ trong thời kỳ phôi thai của nền văn học quốc ngữ nước nhà.

Văn Học Sử Miền Bắc hồi đó và cả nước bây giờ cũng không đề cập đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn gồm các nhà văn Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng-Trần Khánh Giư, Hoàng Đạo-Nguyễn Tường Long, Thạch Lam-Nguyễn Tường Lân, Thế Lữ-Nguyễn Thứ Lễ… trong khi đây là một bút nhóm có công rất lớn trong việc phát triển nền văn học cận đại. Tự Lực văn Đoàn đã đề xướng dòng văn học lãng mạn và những tiểu thuyết luận đề như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn…của Nhất Linh, Nữa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Thoát Ly, Thừa Tự… Của Khái Hưng, Gió Đầu Mùa, Nắng Trong Vườn Của Thạch Lam, Con Đường Sáng của Hoàng Đạo…Với lối hành văn trong sáng, giãn dị, văn phong hiện đại và phóng khoáng. Cơ quan ngôn luận của nhóm là báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày Nay (1936…) TLVĐ còn có nhà xuất bản Đời Nay để in ấn các tác phẩm của họ. Những tiểu thuyết trong nhóm TLVĐ đã đưa nền văn xuôi nước ta phát triển một bước tiến dài, lối viết của TLVĐ đã ảnh hưởng sâu rộng đến những nhà văn thuộc các thế hệ sau. Tác phẩm của Tự lực Văn Đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục và canh tân đất nước. Dưới nhãn quan của những nhà biên soạn Văn Học Sử Miền Bắc thì Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh được cho là làm việc cho Pháp. Những nhà văn, nhà thơ trong TLVĐ tuy có công lớn trong giai đoạn phát triển nền văn học nước nhà đầu thế kỷ XX nhưng bất đồng chính kiến với chế độ. Nhóm TLVĐ đa số họ trước đây đều gia nhập Việt Minh nhưng sau này vì không đồng quan điểm, chính kiến nên đã rời bỏ Việt Minh và bị xem là phản động. nhà văn Nguyễn Tường Tam linh hồn của TLVĐ và những nhà văn chủ chốt trong nhóm đa phần là thành viên Việt Nam Quốc Dân đảng bị VM xem là thù địch, Khái Hưng bị VM thủ tiêu ở bến đò Cựa Gà. Tất cả những công lao của những người là lá cờ đầu cho một giai đoạn văn học quan trọng như thế nhưng lại không được đưa vào chương trình Văn Học Sử khiến cho nhiều thế hệ học sinh Miền Bắc và cả nước bây giờ không biết một tý gì khi nói về những nhà văn có công lớn trong giai đoạn văn học quan trọng này. Đây là một thiệt thòi lớn cho nhiều thế hệ học sinh tại miền Bắc trước năm 1975 và cả nước trong nửa thế kỷ qua.

Có câu chuyện cười ra nước mắt chứng minh sự “mịt mù” về TLVĐ của những người được đào tạo trong một nền giáo dục đầy thiên kiến như vậy là ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam.

***

Câu chuyện cười ra nước mắt này phản ảnh đúng thực chất là học sinh Miền Bắc trước đây và cả nước bây giờ là không hề được nghe đến Tự Lực Văn Đoàn chứ đừng nói chi đến công lao, văn nghiệp của họ. Có thể chúng ta không trách cô giáo nọ vì mấy chục năm học hành cô có nghe gì đến TLVĐ đâu (!) Có buồn chăng là khả năng suy luận của cô ấy cũng như anh bạn kia quá kém, dù sao trong cái tên nhóm cũng có hai chữ Văn Đoàn mà sao cô giáo không liên tưởng tới một hội đoàn văn chương mà lại nghĩ đến gánh hát cải lương?!. Còn anh bạn được giới thiệu là người đọc sách nhiều, kiến thức rộng kia không biết anh ta căn cứ vào đâu mà trả lời chắc như đinh đóng cột vậy? Cái chúng ta cảm thấy buồn vì một đường lối giáo dục đặt nặng tuyên truyền chính trị và đầy thành kiến, thiếu khách quan, thiếu công tâm với lịch sử đã gây ra nhiều hệ lụy xấu cho nhiều thế hệ học sinh nước ta.

Dạy Văn Học Sử cho học sinh mà chủ trương đưa quan điểm tuyên truyền và ý thức hệ chính trị vào trong đó, rồi loại những người có công lớn với nền văn học nước nhà nhưng bất đồng chính kiến là một sai lầm lớn. Chính cái lối giáo dục đó đã đào tạo ra hàng triệu học sinh mà ngày nay họ là những công dân, có những người đang giữ vai trò trọng trách đối với xã hội có những kiến thức lệch lạc về lịch sử, có những hiểu biết hết sức phiến diện về một giai đoạn văn học quan trọng cũng như thiếu hiểu biết về những người có công lớn trong việc phát triển nền văn học nước nhà đó thì thật là đáng tiếc.

Gần đây đã có nhưng công trình nghiên cứu, những hội thảo về TLVĐ, đã có đánh giá công nhận công lao của nhóm TLVĐ, dĩ nhiên vấn đề được nhìn nhận dưới nhãn quan của những nhà nghiên cứu CS. Việc nào ra việc đó, hãy đối xử công bằng, khách quan với những người đã đóng góp công sức và trí tuệ để xây dựng cho nền văn học nước nhà có được như ngày hôm nay. Đó cũng là tôn trọng lịch sử và văn hóa dân tộc.

Nguyễn Ngọc Luật

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

May be an image of 7 people and text