Chuyện ‘tâm phục, khẩu phục’ trong xử lý tham nhũng tại Việt Nam!

Đài Á Châu Tự Do

Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Huy Vũ từ Na Uy hôm 20/1/2023 nhận định:

“Muốn tham nhũng cần có quyền lực, và những người tham nhũng vì vậy là các quan chức. Trong một thể chế độc đảng như Việt Nam, các quan chức cũng đồng thời là các đảng viên đảng Cộng sản. Việc chống tham nhũng ở Việt Nam trong tình hình hiện nay chủ yếu đến từ quyết định của giới lãnh đạo đảng Cộng sản, trong khi không có một sự độc lập nào từ nhánh tư pháp. Do đó, việc chống tham nhũng chỉ là một hình thức khác của việc xử lý nội bộ giữa các đảng viên với nhau. Sau khi mà mọi sự đã được giàn xếp xong xuôi thì phiên toà nếu cần chỉ là một hình thức để hợp thức hoá các thoả thuận xử lý. Vì vậy mà mới có chuyện “tâm phục, khẩu phục” như ông tổng bí thư nói, nghĩa là sự dàn xếp việc trừng phạt đó nó phải hợp lý giữa các đảng viên với nhau.”

Theo Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ, sự việc này nói lên một điều, đó là trong xã hội tồn tại hai giai cấp. Giai cấp “đảng viên” sẽ được xử lý sao cho tình đồng chí giữa các đảng viên nó phải hợp tình, “tâm phục, khẩu phục”. Còn giai cấp cần lao, một khi bị xử lý bởi người của giai cấp đảng viên thì cứ chiếu theo luật mà thi hành.

Từ Nha Trang hôm 20/1/2023, Nhà báo Võ Văn Tạo, nhận xét:

“Chuyện tâm phục khẩu phục đấy là ông Trọng nói, còn thực chất thì chưa chắc những người bị xử lý đã tâm phục khẩu phục. Bởi vì theo thông tin rò rỉ cũng từ cán bộ cao cấp, qua vợ con bạn bè của họ thì không đơn giản như thế. Tức là khi cơ quan phòng chống tham nhũng do ông Trọng đứng đầu đưa ra hình thức thế này thế khác đối với 2 Phó Thủ tướng, chưa nói đến ông Phúc, mà chỉ với ông Đam và ông Minh thì tôi biết ông Vũ Đức Đam không phản ứng gì, nhưng ông Phạm Bình Minh không đơn giản như thế, ông không tâm phục khẩu phục. Quan sát dư luận người dân cũng như cán bộ đảng viên thì họ rất là ngạc nhiên, sao lại có chuyện hai ông đang làm bình thường ngon lành mà đùng một cái cho nghỉ, mà không nói rõ lý do. có chỗ nói bóng gió phải chịu trách nhiệm sai phạm yếu kém trong được dịch COVID-19 thông qua những chuyến bay giải cứu, rồi vắc-xin….”

Vì chỉ nói chung chung mà không nói một cách cụ thể ông Đam và ông Minh vi phạm khuyết điểm gì? Đối chiếu quy định của đảng của pháp luật là như thế nào? Nên Nhà báo Võ Văn Tạo cho biết quyết định đó được nhiều người đánh giá là không thật công bằng và có phần vội vàng. Bởi vì không giải thích rõ nên theo ông Tạo, người dân thắc mắc là đương nhiên. Ông Tạo nói tiếp:

“Tình hình như thế thì làm sao có thể bảo đảm rằng họ tâm phục khẩu phục, tại vì đấy là những cán bộ của nhà nước, của đảng Cộng sản Việt Nam, mà chúng ta đều biết thể chế này sát máu, kỷ luật rất sát máu, ai mà có ý kiến ngược xui là lôi thôi lắm… Nên tôi biết có những người không tâm phục khẩu phục, nhưng họ phải đành chịu ngậm miệng thôi. Vì nói ra thì tai hại cho họ, họ có bài học từ những vụ khác nữa… Đối với người dân cũng thế, nhiều việc làm, chủ trương không đúng, nhưng người dân phải cam chịu. Tôi không nghĩ rằng tất cả mọi người đều tâm phục khẩu phục, mọi người đây là tôi nói những người bị xử lý, chưa nói đến dư luận nhân dân, và cán bộ đảng viên.”

https://www.rfa.org/…/does-the-person-being-handled…

RFA.ORG

Chuyện ‘tâm phục, khẩu phục’ trong xử lý tham nhũng tại Việt Nam!

Tổng Bí thư đảng CSVN mới đây cho rằng, cán bộ tham nhũng bị xử lý cũng ‘tâm phục, khẩu phục’. Thực tế ra sao?

‘Có bao nhiêu Hạo Nam còn sống?’ (*)

‘Có bao nhiêu Hạo Nam còn sống?’ (*)

Báo Tiếng Dân

21/01/2023

Blog VOA

Trân Văn

20-1-2023

Ông Thái Văn Tuấn Tài trong những ngày còn hy vọng, chờ tin về việc giải cứu con trai Thái Lý Hạo Nam bị kẹt trong cọc bê tông; 4/1/2023. Nay thì hy vọng đã tắt. Nguồn: VNE

“Chúng ta có thể than khóc nhưng thật bất nhẫn nếu drama này nhanh chóng trôi qua như bao drama khác. Sự thật là còn hơn năm triệu bé Hạo Nam vẫn còn đang sống, vẫn còn đang thở, vẫn còn đang “vươn tay chờ được kéo lên”…”

Sau ba tuần tìm cứu, giới hữu trách tại Việt Nam đã tìm thấy thi thế Thái Lý Hạo Nam, mười tuổi, không may sa xuống một trong những lỗ đã được khoét sẵn để làm móng cho trụ cầu Rọc Sen ở Đồng Tháp để trao lại cho cha mẹ cậu (1)… Sở dĩ Hạo Nam lâm nạn là vì cậu hy vọng kiếm đủ tiền trả phí cho việc học võ thuật nên cùng bạn bè vào công trường xây dựng cầu Rạch Sen để lượm sắt vụn!

Dẫu giới hữu trách đã tìm thấy thi thể Hạo Nam nhưng làm sao có thể xem đó là tin vui trước thềm năm mới? Thêm một mùa Xuân nữa lại đến nhưng những trăn trở như trăn trở của Nguyễn Phương Mai vẫn còn nguyên, thậm chí có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy sẽ còn nặng nề hơn nhiều trong năm mới: Khía cạnh đau lòng nhất trong câu chuyện về Hạo Nam có lẽ là chữ “nghèo”. Điều đau đớn nhất là Hạo Nam đã không gặp nạn khi đang chơi đùa với bạn bè mà mất mạng khi đang “đi làm kiếm tiền”. Nghèo đa chiều tức là không chỉ nghèo tiền mà còn bị thiệt thòi về tám khía cạnh cơ bản của cuộc sống như: Dinh dưỡng, y tế, nhà ở, môi trường, tiếp cận thông tin, lao động trẻ em và đăng ký hành chính.

Nguyễn Phương Mai lưu ý: Bé Hạo Nam thuộc tổng số hơn năm triệu trẻ em Việt Nam nghèo đa chiều (theo thông tin và định nghĩa của UNICEF là nghèo ở ít nhất hai khía cạnh). Bé mười tuổi mà chỉ nặng có 20 ký, nhỏ và có thể là thiếu dinh dưỡng đến mức nhiều người cho rằng việc bé lọt chân vào miệng ống có đường kính 25cm là điều không thể. Bé cũng nghèo về mặt “cơ sở nhà ở” nếu nhìn vào cái chòi rách tươm mà gia đình bé đang trú ngụ. Bé cũng nghèo về mặt “tiếp cận thông tin” khi những chương trình miễn phí tiền học, trợ giúp xã hội, những khoản thu “vì người nghèo” ta vẫn đóng cho tổ trưởng dân phố đã không đến đúng đối tượng, giải quyết đúng việc cần làm. Đó là ta còn chưa biết liệu bé có nghèo về mặt y tế (được khám chữa bệnh, được tránh ảnh hưởng từ chất kích thích và việc hít khói thuốc thứ cấp từ người lớn). Liệu bé có nghèo về mặt môi trường (có hố xí hợp vệ sinh, được dùng nước sạch, sống xa nơi xả rác thải, không hít khí ô nhiễm từ các công trình xây dựng và giao thông,…). Liệu bé có nghèo về mặt lao động (bé có phải góp công sức vào việc kiếm tiền trong tổng thu nhập của gia đình không)?

Theo Nguyễn Phương Mai: Chúng ta có thể than khóc nhưng thật bất nhẫn nếu drama này nhanh chóng trôi qua như bao drama khác. Sự thật là còn hơn năm triệu bé Hạo Nam vẫn còn đang sống, vẫn còn đang thở, vẫn còn đang “vươn tay chờ được kéo lên” nhưng không có được sự chú ý toàn tâm toàn lực của chính quyền, báo chí và người dân. Việc giải quyết một cách có hệ thống có lẽ thuộc về trách nhiệm của nhà nước/người làm chính sách.

Tuy nhiên, những cá nhân là mỗi chúng ta có thể chung tay để quá trình đó BỀN VỮNG hơn và đi lên từ cái gốc của văn minh. Ví dụ, để giải quyết cái nghèo của trẻ con, mỗi chúng ta hoàn toàn có thể bắt đầu từ những điều nhỏ bé như việc cân nhắc thái độ của chính mình với cái nghèo. Đó là việc cân nhắc khi cho các bé dùng những thứ đồ sang trọng đắt tiền lúc đi học hay đi chơi cùng bạn bè. Đó là việc chú ý dạy các bé cách cư xử với đồng tiền, để không coi đó là đương nhiên, để không cho rằng đó là minh chứng của sự ưu tú cá nhân, để không vô tình hay cố ý làm tổn thương bạn bè cùng lứa. Đó là việc Tết này ta dạy bé rằng tiền mừng tuổi là tiền “lấy may” chứ không phải “thu nhập” dịp Tết, rằng bé tuyệt đối không nên mở phong bao lì xì trước mặt người mừng, rằng có khi gom lại cuối ngày mở ra để không cần biết ai mừng nhiều hay ít, rằng nếu thay tiền bằng một cuốn sách thì đó cũng là lựa chọn tuyệt vời. Khi bé lớn lên và đến tuổi có khả năng sinh học để sinh con, đó cũng là việc bé cần hiểu giá trị thực tế của đồng tiền và sự sai lầm của tư tưởng “trời sinh voi sinh cỏ”.

Tiền tuy không đảm bảo sẽ có hạnh phúc nhưng không có tiền thì hạnh phúc chỉ càng bấp bênh. Đó là việc dạy các bé khả năng thấu cảm, đặt mình vào vị trí kẻ khác, sẻ chia và lắng nghe. Đó là những hành động có tổ chức hoặc tự phát khi chúng ta chứng kiến nhiều câu chuyện các bé hò nhau giúp đỡ bạn bè mà không làm họ tự ti hoặc xấu hổ. Đó là việc chúng ta cân nhắc thái độ với những khoản đóng góp mang tiếng là “tự nguyện” nhưng kỳ thực là bắt buộc ở trường học. Đó là khi Hội PHHS không gọi thẳng tên và bắt một bà mẹ nghèo đi xe đạp đứng lên trong cuộc họp mà sỉ nhục chị vì chị không đóng tiền đủ thì “không nên cho con theo lớp này”. Đó là khi những học sinh nghèo nhận trợ giúp nhưng được giáo viên ý tứ giấu tên. Thậm chí đó cũng là việc chúng ta cân nhắc để ít đôi co, trả giá, mặc cả từng mấy trăm đồng với các tiểu thương để chứng minh mình biết giá. Trong khi đó, ta lại bo/tip một khoản lớn khi đi ăn hàng hoặc dùng dịch vụ đắt tiền để chứng minh mình biết chơi đẹp. Liệu khi ta “bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng” như thế, có ai trong số những kẻ buôn thúng bán mẹt kia là cha mẹ của một Hạo Nam cảm thấy khó khăn với 60.000 tiền học võ cho con? Đó là việc ta cân nhắc góp tiền cho các tổ chức cứu trợ trẻ em với tầm nhìn bền vững chứ không chỉ dừng lại ở vài thùng mì tôm hay những cách trợ giúp kiểu cho cá chứ không cho cần. Đó là khi ta cân nhắc những tổ chức có cách làm việc minh bạch, sao kê đầy đủ để tiền đến đúng nơi cần đến…

Có lẽ còn nhiều cách nữa để mỗi cá nhân chúng ta gián tiếp trở thành một cánh tay kéo những Hạo Nam khác ra khỏi cái ống sâu hoắm, chật chội và ngột ngạt của sự nghèo. Cánh đồng mơ ước của Hạo Nam không nên chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng kiểu AQ của người lớn chúng ta trong phút giây bất lực. Bởi cánh đồng ấy có thực, nó chỉ không dành cho những đứa trẻ nghèo đa chiều, nghèo đủ thứ như Hạo Nam.

Sở dĩ Nguyễn Phương Mai đưa ra hàng loạt đề nghị cho đủ mọi phía vì… không đành lòng khi nhìn tấm hình tưởng tượng rằng bé đã sang thế giới bên kia. Nơi ấy, con đang chạy nhảy vui chơi trên cánh đồng có bóng bay thay vì lẻn vào kiếm sắt vụn trái phép trên công trường đang thi công. Bởi thế giới bên kia ấy lẽ ra phải là thế giới hiện tại mới đúng chứ (2)?

***

Tuần này, những câu hỏi kiểu như “Có bao nhiêu Hạo Nam còn sống?” mà Nguyễn Phương Mai đã nêu trong status vừa trích dẫn tiếp tục được nêu thêm ngay trước thềm năm mới. Chẳng hạn sau khi mô tả ấn tượng về “Tết và con số 20.000 đồng” đọng lại từ cuộc tiếp xúc với những công nhân trẻ ở các khu công nghiệp tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang,… – Những người đang vật lộn để tồn tại với các suất ăn không được quá 20.000 đồng, bởi lương chỉ năm đến bảy triệu mỗi tháng nhưng đang tiếp tục giảm do giờ làm việc bị giảm thành ra các khoản chi cho ăn, ở, gửi về nhà nuôi thân nhân,… trước nay vốn đã bị xắt nhỏ giờ phải bóp lại cho nhỏ hơn. Những phòng trọ vốn đã nhỏ, chỉ dành cho hai người, nay là nơi tá túc của bốn người, nấu ăn, tắm rửa, vệ sinh đã được chuyển hết ra ngoài,… – Nguyễn Tấn Thọ thắc mắc: Vậy đó nhưng công nhân của các doanh nghiệp này, vẫn đeo bám bởi con số 20.000. Mùa Tết công nhân sẽ còn phải hạ con số 20.000 xuống nữa? Tới bao nhiêu? Sau Tết, họ vẫn chưa biết mức hạ tiếp vì…biết có còn việc không mà hạ? Hay lại về quê cắm câu? Ủa không nghe họ nói hay nhắc gì công đoàn nhỉ (3)?

Dẫn lại một đề tài vốn đã cũ nhưng vẫn đang tiếp tục là chủ đề khơi dậy những cuộc tranh luận mỗi khi “năm hết, Tết đến” là: “Tiếp tục duy trì hay bỏ Tết ta” và có phải “Còn ăn Tết ta, đất nước còn nghèo” (4), facebooker có nickname là Sherab Chodron bình thế này: Xin thưa tại sao bao lâu nay, nhất là khi miền Nam Việt Nam chưa được “giải phóng” cũng đón Tết như vậy nhưng không nghèo? Vài nước Đông Nam Á vẫn vậy nhưng tại sao họ vẫn giàu (5)? Giới hữu trách rồi hệ thống truyền thông chính thức đã và đang lờ đi thực trạng, càng ngày, Tết càng buồn, càng nhìn xa chừng nào thì càng trăn trở chừng đó. Đó có phải là hệ quả của… “Mừng đảng, mừng Xuân” chăng?

(*) Tựa đặt theo bài viết của Facebooker Nguyen Phuong Mai

THUẬT ĐỐI NHÂN XỬ THẾ ĐỈNH CAO NGHÌN NĂM VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ

Tam Pham

THUẬT ĐỐI NHÂN XỬ THẾ ĐỈNH CAO NGHÌN NĂM VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ

Con người khi ở những vị trí khác nhau, sẽ có những suy nghĩ khác nhau.

Nếu bạn là tài xế, bạn sẽ cảm thấy người qua đường nên tuân thủ luật giao thông.

Nếu bạn là người qua đường, bạn sẽ cảm thấy tài xế nên nhường đường.

Nếu bạn là ông chủ, bạn sẽ cảm thấy nhân viên thật lười biếng.

Nếu bạn là nhân viên, bạn sẽ cảm thấy ông chủ sao nghiêm khắc thế.

Nếu bạn là người gi.àu, bạn sẽ cảm thấy thể hiện cái giàu là chuyện bình thường.

Nếu bạn là người nghèo, bạn sẽ cảm thấy thể hiện cái giàu là khoe mẽ.

Bạn có một cô con gái, bạn hi vọng nhà thông gia thêm nhiều sính lễ một chút.

Bạn có một cậu con trai, bạn lại chê đằng gái đòi nhiều sính lễ quá.

Bạn có một cô con dâu, bạn chê con dâu nhiều chuyện, không biết điều.

Bạn có một cô con gái, bạn lại hi vọng con gái làm vương làm tướng bên nhà chồng.

Khi lái xe, bạn ghét người đi bộ.

Khi đi đường, bạn ghét mấy cái xe ô tô.

Khi làm việc, bạn thấy ông chủ cậy quyền, keo kiệt.

Sau khi làm ông chủ, bạn lại thấy nhân viên không có trách nhiệm, quá thực dụng.

Bạn là khách hàng, bạn thấy người bán hàng lãi quá nhiều.

Bạn là dân kinh doanh, bạn thấy khách hàng quá kén chọn.

Vì vậy, mỗi một người đều đang sống trong sự phiến diện của chính mình.

Bạn ở vị trí nào, nó quyết định xuất phát điểm của bạn khi nhìn nhận hay làm việc gì đó.

Bạn cần cái gì, bạn sẽ phán đoán dựa trên giá trị ấy.

Biết người không khó, khó là ở cách tôn trọng người.

Người ta không nhà không xe, bạn nói họ ngh.èo.

Người ta có nhà có xe, bạn nói họ khôn lỏi.

Người khác khiêm tốn, bạn coi thường.

Người khác cao ngạo, bạn nói người ta không biết điều.

Người khác làm việc nghỉ ngơi hợp lý, bạn cho là người ta sống vô vị, nhạt nhẽo.

Người khác cật lực làm việc ngày đêm, bạn nói người ta tham công tiếc việc.

Đời người ấy à, chẳng qua cũng chỉ là cười chê người khác, rồi bị người khác cười chê. Động tới lợi ích thì sẽ xuất hiện đ.ấu đ.á, công k.ích, so đo, tính toán lẫn nhau.

Có một đoạn đối thoại kinh điển như thế này trong lịch sử Trung Quốc:

Đường Thái Tông hỏi Từ Kính Tông rằng:

“Trong tất cả các văn võ bá quan trong triều, ngươi là người vẹn toàn nhất, nhưng vẫn có người không ngừng bàn tán xấu về ngươi trước m.ặt ta, vì sao vậy?”

Từ Kính Tông đáp:

“Mưa xuân quý như dầu, người nông dân thích nó vì cây cối được nuôi dưỡng tốt tươi, nhưng người đi đường lại ghét nó vì đường vào mùa này bẩn th.ỉu, l.ầy l.ội.

Ánh trăng mùa thu như tấm gương soi sáng khắp nơi, tài tử giai nhân thích đối trăng thưởng nguyệt, ngâm thơ sáng tác; nhưng những tên tr.ộm lại ghét nó vì nó chiếu rọi hành vi xấu xa của họ.

Đến cả người không gì là không thể như ông Trời mà còn không thể khiến cho tất cả mọi người đều hài lòng, nói gì tới một người bình thường như thần đây?”.

Còn có một câu chuyện như này:

Một con lợn, một con cừu và một con bò được nhốt trong cùng một cái chuồng.

Có một hôm, người chủ bắt con lợn ra khỏi chuồng, chỉ nghe thấy tiếng lợn kêu thất thanh, quyết liệt phản kháng.

Con cừu và con bò ghét tiếng kêu của nó nên đã phàn nàn: “Chúng tôi cũng thường xuyên bị bắt ra, nhưng cũng chẳng bao giờ kêu la thảm thiết như cậu”.

Con lợn nghe xong liền đáp: “Bắt các cậu và bắt tớ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau, họ bắt các cậu chỉ là để lấy lông và sữa, còn bắt tôi là muốn cả cái mạng của tôi đấy!”.

Mỗi một người đều có lập trường của mình, và cũng chỉ có thể nhìn thấy được hoàn cảnh mà mình đối mặt.

Sự ng.ạo mạn của con người nằm ở chỗ, chúng ta luôn cho rằng thế giới mà mình nhìn thấy chính là hoàn cảnh mà người khác đang đối mặt.

Bạn chưa trải qua, không có nghĩa là việc đó không tồn tại.

Đừng bao giờ vì mình ở ngoài ánh sáng mà quên đi bóng tối.

Đừng bao giờ vì mình hạnh phúc mà bỏ qua cái khó cái khổ của người khác.

Rất nhiều khi, sự khác biệt giữa chúng ta, không đến từ bản thân sự việc, mà là bởi lập trường của chúng ta không giống nhau.

Người ở trên cao, không hiểu được quan điểm tiêu tiền của người nghèo.

Người ở trong cảnh bần hàn, cũng rất khó để thích đi là xách ba lô lên mà đi.

Lập trường không giống nhau, xuất phát điểm suy nghĩ vấn đề cũng khác nhau. Hoàn cảnh khác nhau, rất khó để thấu hiểu; góc độ khác nhau, rất khó để có tiếng nói chung.

Đừng tùy tiện phán đoán ai thị ai phi; với bạn có thể là mật ong, nhưng với người khác lại có thể chỉ là nhân ngôn.

Một người nếu chỉ biết đứng từ góc độ của mình đi nhìn nhận người khác, sẽ mãi sống trong sự phiến diện của bản thân, hơn nữa cũng sẽ vĩnh viễn không giải quyết được vấn đề.

Cuộc sống muôn màu, ai cũng có cái khó cái khổ riêng, tuyệt đối không được tùy tiện đánh giá cuộc đời của người khác, bởi lẽ bạn không có trải nghiệm như họ, càng không thấm được cái nỗi bi ai mà họ phải trải qua.

Một trong những dấu hiệu cho thấy một người đã thực sự trưởng thành đó chính là khi anh ta hiểu ra được một đạo lý: Đánh giá của người khác về bạn, hoàn toàn không liên quan gì tới bạn!

Bởi lẽ người ta khi bình luận về bạn, bề ngoài là đánh giá về bạn, nhưng thực ra lại đang âm thầm cho thấy nội tâm của họ.

Bạn chỉ là máy chiếu trong trái tim của họ, chiếu lên trái tim của họ. Mỗi lời họ đánh giá về bạn đều là sự phản ánh chân thực của nội tâm họ.

Người có trái tim u ám, nhìn mọi thứ đều tối tăm; người tích cực lạc quan, đâu đâu cũng thấy ánh mặt trời.

Bạn chẳng qua chỉ đóng vai trò như một tấm gương phản chiếu trái tim họ, để họ nhìn thấy chính mình mà thôi.

Bạn có thể làm tan chảy một tâm hồn sắt đá, nhưng rất khó có thể cứu rỗi một trái tim u ám.

Biết người nhưng không tùy tiện đánh giá họ, biết đứng từ lập trường của người khác để xem xét sự việc, đó chính là đạo làm người.

Cũng như vậy, đối mặt với mọi sự phán xét đến từ người khác, thản nhiên, xem như gió thoảng ngoài t.ai, đây cũng chính là một kiểu trí tuệ.

Biết người, là nhân tài; kính người, tôn trọng người khác, là đại tài. Biết cái khó của người khác nhưng không tùy tiện bình luận, đánh giá sau lưng, đồng thời kịp thời ra tay tương trợ, đây chính là đỉnh cao của sự lương thiện.

#Tapchibonbanh

Suy niệm thêm: Thiên Chúa biết những tội lỗi, bất toàn, yếu đuối của con. Ngài yêu con, muốn con tốt hơn và sống trong ân sủng. Nhưng Ngài không tùy tiện áp đặt những điều tốt và tình yêu đó, không xâm phạm sự tự do của con. Tình yêu và cánh tay Ngài luôn mở rộng và chờ đón. Đó chính là đỉnh cao của tình yêu và sự lương thiện!

 MÙI CỦA TẾT – Đỗ duy Ngọc


☘️ Hồi còn bé, tôi rất mong ngày Tết. Không phải vì Tết có nhiều món ăn ngon, cũng không phải vì những bộ áo quần mới, cũng chẳng phải Tết có được thêm tiền lì xì. Tôi mong Tết vì cái mùi của Tết. Cái mùi mà bây giờ lên hàng lão tôi khó tìm thấy đủ như những ngày xưa.

Trời đất, thiên nhiên bốn mùa đều có mùi của mùa. Mùa xuân có mùi của cây non trổ lộc, mùi của hương hoa. Mùa hạ có mùi của nắng, mùi của mồ hôi, mùi gió biển và mùi cá khô phơi tràn bãi cát. Mùa thu có mùi của lá vàng, của gió thu lướt trong không khí, mùi của nắng vàng mật ngọt. Mùa đông có mùi của bếp lửa, của bắp nướng, của chén khoai khô ngào đường và mùi của những cơn gió cắt da. Nó còn cái mùi của những chiếc áo ấm cất lâu trong tủ mang ra còn vương mùi long não.

Mùi của Tết khác hẳn, nó không phải là mùi của bốn mùa gộp lại mà nó có mùi rất riêng. Tôi gọi đó là MÙI CỦA TẾT. Mùi này một năm chỉ có một thời gian rất ngắn rồi phai đi chờ đến Tết năm sau.

Trước hết, trong tôi là mùi của hoa. Đó là mùi hăng hắc độc đáo và nồng nàn của những chậu hoa vạn thọ mà Ba tôi rất thích bày khắp sân mỗi dịp Tết về. Những chậu hoa với những bông vàng rực, sáng cả một góc sân. Đó là hương của những cành hoa huệ trắng Mạ ưa cắm trong chiếc bình bằng đồng được đánh bóng sáng ngời đặt trên bàn thờ. Ngay phòng khách mùi hoa lay ơn đỏ Mạ cắm đặt ở bàn salon cũng có mùi nhè nhẹ. Đó là mùi thơm thoang thoảng của những chậu lan khoe sắc trên giàn ở bìa sân do nhiều người biếu Ba trong dịp Tết. Đó cũng là mùi thơm rất mỏng từ chậu mai vàng nhiều cánh nở bung được đặt trang trọng ở giữa nhà. Tất cả hương của những thứ hoa bàng bạc trong nhà báo hiệu đã cận Tết rồi.

Mùi của Tết còn là mùi của nhang, trầm khiến cho căn nhà ấm lại trong cái lạnh đầu xuân. Mùi nhang khói như sợi dây nối liền những người đã khuất với những người đang sống. Mùi để nhớ về, mùi của những cuộc đoàn viên. Cháu con thắp lên cây nhang, đốt lên ánh nến, mẩu trầm rồi vái lạy trước bàn thờ, trước di ảnh của ông bà, cha mẹ. Cái mùi nhang khói ấy theo mãi suốt một đời người.

Đó còn là mùi thơm của thau mứt gừng, mứt dừa, mứt bí, mứt khoai, mứt me Mạ làm. Cái mùi cháy của đường phảng phất mùi va ni cuốn hút thằng bé chực chờ được vét thau. Cái mùi và miếng mứt hơi cháy ở đáy thau theo thằng bé đi suốt cho đến tuổi già. Giờ không mấy nhà tự làm mứt nữa, tiệm, siêu thị bán đầy, chẳng mấy ai mất công ngồi đổ mồ hôi bên bếp lửa. Mạ tôi mất hai chục năm rồi, tôi không còn được thưởng thức món mứt của Mạ và cũng chẳng còn được nhìn dáng Mạ chảy mồ hôi bên nhiều thau mứt nữa. Bóng Mạ vẫn về trong ký ức mỗi độ Tết đến, xuân về.

Tết còn có mùi của các loại bánh in. Ngày xưa Mạ làm đủ loại bánh gói trong những loại giấy bóng màu. Mùi của bánh thơm thơm hương bưởi, hương va ni, mùi của bột. Tất cả đặt trong những chiếc khay gỗ quý khảm xà cừ. Nó còn là mùi của những chén chè đậu xanh, chè khoai tím chứa trong những chiếc chén sứ mỏng tang vẽ rồng men xanh, xếp từng dãy trên bàn. Còn mùi bánh chưng trong thùng sôi sùng sục đêm giao thừa, nó có thoảng nhẹ của mùi nếp chín, mùi của lá chín và mùi chi nữa không tả được và cũng chẳng quên được.

Còn mùi của thịt heo luộc, thịt heo ngày xưa luộc chín có mùi thơm của thịt mà bây giờ khó tìm thấy nữa. Thịt luộc chín ăn đã ngon, ngâm vào nước mắm lại càng ngon. Ngâm đến khi thịt biến màu sẫm, mỡ trong màu hổ phách. Lúc đấy miếng thịt heo ngâm nước mắm lại mang mùi khác. Không phải mùi của thịt jambon, thịt nguội mà là mùi đúng chất Việt Nam bởi nó thấm đẫm mùi nước mắm Việt qua tay chế biến của người phụ nữ Việt. Cũng phải kể đến mùi của món bắp bò ngâm nước mắm nữa. Và cũng không quên tảng thịt heo quay thơm lạ lùng với những mảng da dòn tan. Đó là chưa kể đến mùi thơm của những đòn chả nóng, xâu nem chua, những cây tré đượm mùi riềng.

Rồi đến mùi hăng hăng của kiệu. Phơi một nắng, kiệu bỏ vào lọ giấm lại có mùi khác. Thêm mùi của dưa món, ngâm chín tới mà ăn với bánh chưng, bánh tét mới thấy hết cái ngon của dưa món. Một sự hoà điệu tuyệt vời.

Nó còn là mùi của những bếp than hồng đỏ lửa trên đó có nồi thịt kho tàu với trứng, trên đó có nồi cá kho thơm phức mùi nghệ, trên đó có mùi cá nướng, cá chiên chuẩn bị bữa cúng rước ông bà.

À còn mùi của những loại rau. Rau thơm miền Trung nhỏ lá nhưng thơm hơn nhiều vùng lá to mà tinh dầu kém. Món chi ăn cũng có rau kèm, ngày Tết ăn nhiều dầu mỡ lại càng cần rau.

Ngày xưa còn có mùi pháo. Mùi mang âm hưởng Tết nhiều nhất. Nghe mùi pháo là biết Tết đã tới rất gần. Đêm Giao thừa, trong khoảnh khắc giao thoa giữa cái cũ và cái mới, trong không gian thiêng liêng, mùi pháo, tiếng pháo báo hiệu Tết tới, thể hiện không khí rộn ràng của một năm mới, đón chào những thành công mới. Chỉ tiếc giờ đây Tết không còn pháo. Không tiếng nổ của pháo nên mùi của Tết thiếu đi một nửa khi không còn mùi pháo. Đứa bé ngày xưa chỉ giữ mãi hình ảnh những phong pháo nổ dòn và cậu bé hân hoan lượm pháo lép trong mùi nồng nặc của khói pháo. Tội nghiệp những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên khi Tết không còn pháo. Trong ký ức của chúng không có mùi của pháo. Không được nghe những tiếng nổ giòn giã và xác pháo hồng ngập sân.

Mùi của giấy tiền, vàng mã cũng là mùi của Tết dù ngày giỗ chạp cũng thường đốt loại này. Nhưng ngày Tết thì mùi này có khác hơn, đượm mùi thiêng liêng, trân trọng hơn. Lại nhớ Ba mỗi lần đốt vàng mã, Ba bắt phải đốt cháy hết thành tro, Ba bảo không thể cúng cho ông bà áo quần, tiền vàng rách vì chưa cháy hết.

Cuối cùng là mùi của những dĩa trái cây, mỗi loại trái có một mùi riêng, tổng hợp lại thành mùi hoa quả ngày Tết đến.

Mùi của Tết là sự tổng hoà của nhiều mùi mà chỉ có ngày Tết mới có. Nó không chỉ là mùi của những vật phẩm. Nó còn là mùi thiêng liêng đi theo suốt quãng đời của mỗi người. Có thể mỗi gia đình, mỗi dòng tộc có mùi Tết riêng nhưng tựu trung mùi của Tết là mùi khó quên nhưng giờ khó tìm cho đầy đủ cái mùi ấy như những ngày xưa cũ.

Chẳng còn bao ngày nữa lại đến Tết. Nhắc mùi của Tết lại nhớ Ba, nhớ Mạ, nhớ những người đã mất quá chừng. Nỗi nhớ trào nước mắt.
4.1.2023

FB DODUYNGOC

From: TU-PHUNG

YÊU THƯƠNG THUỐC TIÊN CHỮA BỆNH

Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.

Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.

Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói. Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.

Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.

Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:

– quan tâm đến người khác,

– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,

– bao dung, độ lượng, v.v.

Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.

– Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp.

Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.

Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Teresa lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.

Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn.

Còn với người có suy nghĩ tiêu cực,không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.

Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản.

Đây chính là bản chất của cuộc sống Thương Yêu

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ “yêu thương và được thương yêu”.

MD Đức Tâm

CÁC CÔNG THỨC TRONG KINH THÁNH VỀ THA THỨ!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Không có gì quan trọng cho bằng tha thứ.  Tha thứ là chìa khóa mở ra cho hạnh phúc và là mệnh lệnh thiêng liêng quan trọng nhất cuộc đời chúng ta.  Chúng ta cần tha thứ, cần làm hòa với những tổn thương và bất công mình đã chịu để khỏi phải chết trong giận dữ và cay đắng.  Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ, tha thứ cho người khác, cho bản thân, cho Chúa, vì mọi sự xảy ra trong cuộc đời chúng ta.

Nhưng không dễ để tha thứ, thật sự nhiều lúc không thể tha thứ nổi.  Cần phải nói rõ như thế, vì ngày nay, nhiều tác phẩm đủ thể loại, với ý định tốt, đem lại ấn tượng tha thứ chỉ là vấn đề có sẵn sàng và có bỏ qua hay không.  Cứ buông bỏ và đi tiếp!

Nhưng chúng ta đều biết, đâu có dễ như vậy!  Những vết thương hằn lên tâm hồn thì cần thời gian, có khi là một thời gian rất dài để chữa lành, và tiến trình đó vô cùng chậm rãi, một việc mà chúng ta không thể đi nhanh được.  Thật sự, chấn thương từ vết thương cảm xúc thường tác động lên sức khỏe thể xác chúng ta.  Chữa lành cần có thời gian.

Khi nhìn vào vấn đề chữa lành và tha thứ, chúng ta có một thấu suốt đầy giá trị nhưng lại lãng quên từ lâu linh đạo về ngày sa-bát trong Do Thái giáo và Kitô giáo.  Giữ ngày sa-bát không phải chỉ tôn vinh một ngày nhất định trong tuần, đó là một công thức của tha thứ.  Cách nó tiến hành như sau.

Thần học và linh đạo về ngày sa-bát dạy chúng ta, Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong sáu ngày và ngày thứ bảy là ngày sa-bát, ngày Ngài nghỉ ngơi.  Hơn nữa, không chỉ Thiên Chúa nghỉ ngơi ngày sa-bát mà Ngài còn tuyên bố đó là ngày nghỉ ngơi cho tất cả mọi người đến muôn đời, và như thế, Thiên Chúa tạo một nhịp điệu nhất định cho cuộc sống chúng ta.  Nhịp điệu đó phải như thế này:
• Làm việc sáu ngày, nghỉ một ngày.
Làm việc 49 (bảy lần bảy) năm, thì có năm đại xá, cả thế giới trải qua kỳ sa-bát.
Làm việc bảy năm, nghỉ một năm (kỳ nghỉ sa-bát).
Làm việc cả đời, rồi nghỉ kỳ sá-bat vĩnh hằng.
Nhịp điệu đó cũng nên áp dụng cho cách chúng ta tha thứ:
• Chúng ta có thể giữ ác cảm nhỏ trong bảy ngày, nhưng rồi chúng ta phải buông bỏ nó.
• Chúng ta có thể giữ ác cảm lớn trong bảy năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.  (Mức hạn định dựa trên điều này).

• Chúng ta có thể giữ một vết thương khủng khiếp khắc sâu vào tâm hồn trong 49 năm, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

• Chúng ta có thể giữ một vết thương làm cho tâm hồn chúng ta tan vỡ cho đến chết, nhưng rồi chúng ta cần buông bỏ nó.

Điều này nêu bật một chuyện vốn thường không xuất hiện trong giới tâm linh và trị liệu thời nay, đó là: chúng ta cần thời gian để có thể tha thứ, và thời gian đó tùy thuộc vào mức độ của vết thương.  Ví dụ như:

• Khi bị đồng nghiệp xem thường trong cuộc họp, chúng ta cần chút thời gian để bực mình cho sự bất công này, nhưng thường thì một vài ngày là đủ để chúng ta hướng về phía trước và có thể buông bỏ nó.
• Khi chúng ta bị đuổi việc một cách lạnh lùng bất công thì bảy ngày hay bảy tuần thường không đủ để chúng ta buông bỏ và tha thứ chuyện này.  Có lẽ bảy năm thì thực tế hơn.  (Xin lưu ý “mức hạn định” phỏng theo thấu suốt Kinh Thánh này).

• Có những chấn thương chúng ta chịu đựng để lại vết thương sâu sắc hơn cả do bị đuổi việc bất công.
Có những vết thương chúng ta chịu do bị lạm dụng, thờ ơ, do nhiều năm cam chịu bất công, và chúng cần hơn bảy năm để chữa lành.  Có thể phải mất đến 49 năm, nửa thế kỷ, để làm hòa với những chuyện chúng ta bị bắt nạt khi còn nhỏ, hoặc bị lạm dụng về cảm xúc, tình dục khi còn niên thiếu.

• Có những vết thương quá sâu sắc đễn nỗi phải đến giờ hấp hối, chúng ta mới chỉ có thể làm hòa với sự thật là chúng đã xảy ra với mình, buông bỏ chúng và tha thứ cho người hoặc nhiều người đã gây ra chúng.

• Cuối cùng, có những vết thương quá sức sâu đậm, quá sức hủy hoại, quá sức đau đớn đễn nỗi chúng ta không thể xử lý trong đời này.  Với chúng, may thay, chúng ta còn có cái ôm chữa lành nhân từ của Thiên Chúa sau khi chết.
    Năng lực tha thứ dựa vào ân sủng hơn là ý chí.  Phạm lỗi lầm là thuộc tính con người, nhưng tha thứ là thuộc tính thần thánh.  Câu đơn giản này chứa đựng một sự thật thâm sâu hơn những gì chúng ta nắm bắt thoáng qua.  Điều làm cho tha thứ trở nên khó khăn và nhiều lúc bất khả thi, không phải chủ yếu do cái tôi của chúng ta bị bầm dập và tổn thương quá đỗi.  Đúng hơn, khó khăn thực sự chính là việc một vết thương của tâm hồn cũng như vết thương của thể xác, nó làm chúng ta suy yếu.

***Điều này đặc biệt đúng với những chấn thương in sâu vào tâm hồn và làm tan nát tâm hồn, cần đến 49 năm hay cả đời để chữa lành, hoặc có lúc không thể chữa lành trong đời này.  Những vết thương như thế làm chúng ta cạn kiệt sức mạnh, nhất là khi đối diện với người đã gây cho chúng ta, làm chúng ta rất khó để tha thứ.
Chúng ta cần một linh đạo sa-bát để giúp đỡ cho mình.
Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: KittyThiênKim& KimBang Nguyen

Chiếc túi xách Hermes 1,6 tỉ đồng và những chuyện chỉ có ở xứ… Việt cộng.

Van Pham

 

Một đất nước không có cái gì để chứng tỏ, để “khoe” với thế giới, để đóng góp cho văn minh nhân loại ngoài những thói hư, tật xấu như tham lam, ích kỷ, vô cảm, lười nhác, dối lừa… thì còn gì để biện minh?.

Chẳng lẽ tất cả những gì báo chí, dư luận lên án mỗi ngày mãi cũng chỉ là “hiện tượng”, chưa phản ánh đủ và đúng về sự băng hoại văn hóa ở mức độ trầm trọng nhất với tốc độ nhanh nhất?

********

Chiếc túi xách Hermes 1,6 tỉ đồng và những chuyện chỉ có ở xứ… Việt cộng.

Đọc bài phát biểu của GS Tương Lai tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, không dám tin vào mắt của chính mình khi thấy câu chuyện thật mà ngay cả vua hề Sác Lô cũng nghĩ không ra:

Doanh nghiệp nhập về 4 bộ túi xách nhãn hiệu Hermes, giá mỗi bộ gồm 4 chiếc là 300.000 USD, chỉ có mấy ngày là các quý bà, tiểu thư mua hết (không bán lẻ), sau đó, cửa hàng còn bị trách móc là vì sao lại nhập ít thế để đến nỗi có nhiều người không kịp mua!?

Tính ra, mỗi cái túi xách trị giá 1.600.000.000 VNĐ, tương đương với lương trung bình của công chức (3 triệu đồng/tháng) trong khoảng gần… nửa thế kỷ(!)

Có biết bao câu hỏi, biết mấy nỗi đau từ cái sự thật hầu như ai cũng biết mà không ai nói – nhất là các cơ quan có trách nhiệm bảo vệ cán bộ, chống tham nhũng – không thể kết luận vì “không đủ chứng lý”.

Chứng lý ở đâu khi cái sờ thấy, biết rõ (tìm hiểu chẳng khó gì vì không lẽ người ta mua túi xách về để cất?) là không ai có thể đem đồng tiền đổ mồ hôi, sôi nước mắt để mua thứ có thì không làm cho béo hơn, thiếu chẳng gầy đi.

Số tiền khủng trên đây trong một đất nước có hàng triệu người nghèo, hàng triệu người thất nghiệp không thể nói khác hơn, đó là sự thách thức của tội ác, sự trơ tráo về mặt văn hóa, sự vô lương của đạo đức và là sự tàn nhẫn của lương tâm – nếu như lương tâm là cái có thật trong thời đại nhố nhăng này.

Những cái túi xách đó “sinh ra” cho các thứ trưởng giả của các nước nghèo chơi trội, với cái vỏ hợm hĩnh, không rẻ tiền về giá trị của… đồng tiền nhưng lại rẻ hều về nhân cách, lối sống; chỉ nhằm vào cái đích duy nhất là chứng tỏ cái gọi là đẳng cấp, xứng mặt tay chơi.

Nó là sự minh định cay đắng rằng cơ quan chống tham nhũng dường như đang nói nhiều, làm biếng và, chắc chắn, đang làm lãng phí thêm không ít tiền dân, của nước khi họ nhận lương rồi ngồi viết thành câu chữ cho các báo cáo thăng hoa, cho sự bao che liếc xéo những nụ cười mỉa mai, chua chát.

Một đất nước không có cái gì để chứng tỏ, để “khoe” với thế giới, để đóng góp cho văn minh nhân loại ngoài những thói hư, tật xấu như tham lam, ích kỷ, vô cảm, lười nhác, dối lừa… thì còn gì để biện minh?

Chẳng lẽ tất cả những gì báo chí, dư luận lên án mỗi ngày mãi cũng chỉ là “hiện tượng”, chưa phản ánh đủ và đúng về sự băng hoại văn hóa ở mức độ trầm trọng nhất với tốc độ nhanh nhất?

HÌNH: – Ngọc Trinh mang chiếc túi Hermes màu đen mới mua

Những cái túi Hermes đó không hề lẻ loi trên cuộc đời này. Nó có rất nhiều các anh chị em song sinh, đồng hành.

Chẳng hạn, quan chức mất trộm, để quên hàng tỷ đồng là chuyện bình thường;

Bộ GD-ĐT trình đề án làm SGK “nhầm lẫn” 34.000 tỷ đồng nay tụt xuống còn gần 800 tỷ cũng là chuyện bình thường;

Đường cao tốc dài nhất Việt Nam, đứng trong top ten Đông Nam Á chưa đi đã lún cũng là bình thường…

Những cái mà các nhà quản lý dán nhãn “bình thường” ấy là điều thậm bất thường trong một xã hội văn minh, nơi mọi khoản thu nhập của công dân được làm minh bạch, rõ ràng; mọi khả năng về quản lý không có chỗ cho nhầm lẫn bởi nhầm mà liên quan đến hàng núi tiền của là sự phá hoại rõ ràng.

“Nhầm lẫn” hàng chục ngàn tỷ mà chỉ có thể “thấy sợ”, rồi, không ai phải chịu trách nhiệm sao?

Giả sử nếu dư luận không phản đối, Quốc hội không tỉnh táo thì có phải là hàng vạn cái Hermes nữa lại được mua tấp nập?

Hầu như tất cả những ai có trách nhiệm đều tuyên bố phải quyết liệt, phải thay đổi vì tham nhũng đang là căn nguyên liên quan đến sự tồn vong của chế độ.

Có tìm thấy ở đâu giống với nước ta là nói nhiều, nói lắm mà tất cả sự sai trái, trì trệ vẫn ý nguyên?

Hình như, chỉ có một cái thay đổi thôi: Nỗi đau của hàng triệu người nghèo, thất nghiệp ngày một nhức nhối hơn?…

Nguồn: KenhSaoViet.vn

Đưa dân đi làm mướn để khẳng định… ‘vị thế, cơ đồ’?

Báo Tiếng Dân

Blog VOA

Trân Văn

18-1-2023

Theo một nghị quyết của Chính phủ Việt Nam vào tháng 7/2022, những người tham gia chương trình xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc được vay tiền ký quỹ 100 triệu đồng. Photo Cổng thông tin Chính phủ.

“Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay…”

Nam Hàn đang chuẩn bị để điều chỉnh chính sách cư trú dành cho người ngoại quốc. Theo đó, Bộ Lao động Nam Hàn sẽ mở rộng thời gian cư trú của lao động phổ thông từ ngoại quốc đến Nam Hàn làm việc cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Nam Hàn từ 4 năm 10 tháng thành mười năm nếu những người ngoại quốc này đã làm việc liên tục cho doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (sáu tháng, 24 tháng hoặc 30 tháng tùy lĩnh vực) và hội đủ một số điều kiện về Chương trình đào tạo hội nhập, về Hàn ngữ…

Bộ Lao động Nam Hàn cũng đã bổ sung một số loại việc như bốc vác, vận chuyển thịt… vào danh mục xét cấp visa làm việc ngắn hạn (dưới ba tháng). Bộ Lao động Nam Hàn còn cho biết thêm là nếu Bộ Tư pháp đồng ý thì thời gian mà người ngoại quốc được phép cư trú ở Nam Hàn để làm việc cho các doanh nghiệp Nam Hàn có thể dài hơn. Họ hy vọng việc điều chỉnh sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nam Hàn chủ động về nhân lực để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh (1).

Vào thời điểm này, Đài Loan cũng có nỗ lực tương tự Nam Hàn. Cơ quan có tên là Viện Hành chính ở Đài Loan mới chuyển “Dự luật sửa đổi một số điều khoản của Luật Xuất nhập cảnh và Nhập cư” cho Viện Lập pháp của Đài Loan xem xét để phê duyệt. Dự luật vừa đề cập sửa đổi nội dung 52 điều khoản hiện hành nhằm “nới lỏng các quy định về lưu trú và cư trú, tạo ra môi trường thân thiện nhằm thu hút nhân tài đến làm việc và định cư tại Đài Loan, đồng thời gia tăng hình phạt để hạn chế cư trú bất hợp pháp”.

Trong tương lai gần, những người ngoại quốc nằm trong nhóm được xác định là nhân tài (giảng viên đại học, chuyên gia khoa học, cố vấn học thuật,…) có thể nhập cảnh Đài Loan không cần visa, sau đó có thể đến Sở Di dân để xin hưởng quy chế cư trú vĩnh viễn cho chính mình, người phối ngẫu và con cái,…Ngược lại, nhằm hạn chế cư trú bất hợp pháp, Đài Loan sẽ nâng tiền phạt lên khoảng 15 lần, nâng thời gian cấm nhập cảnh lên khoảng ba lần và tăng mức phạt tương ứng với những ai môi giới, che giấu, kể cả phạt tù (2)…

***

Giống như Nam Hàn và Đài Loan, Việt Nam cũng đang trong giai đoạn chờ giao thừa âm lịch mở ra một năm mới nhưng khác với Nam Hàn và Đài Loan, cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống công quyền ở Việt Nam không làm gì cả dù kinh tế – xã hội Việt Nam đang đối diện với đủ loại vấn nạn nghiêm trọng đe dọa từ kinh tế đến xã hội: Doanh nghiệp bất kể quy mô tạm ngưng hoạt động hoặc xin giải thể càng ngày càng nhiều, thất nghiệp càng ngày càng cao, tất cả các giới đều bi quan vì bế tắc về tương lai…

Hoạt động chính của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền suốt từ năm ngoái đến nay vẫn thế, vẫn chỉ xoay quanh sắp đặt – bổ nhiệm nhân sự rồi xem xét – kỷ luật – truy cứu trách nhiệm hoặc… miễn nhiệm những nhân sự mới được sắp đặt – bổ nhiệm. Tình trạng bi thảm của nhiều giới (doanh nhân, công nhân, nông dân,…), đặc biệt là các thành phần yếu thế được qui cho… “diễn biến phức tạp trên thế giới” và “sự chống phá điên cuồng cũng như các âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của những thế lực thù địch, phản động”.

Nếu không có gì mới và khó mà có thể có gì mới, ít ngày nữa, trước ngưỡng năm mới âm lịch, cả trăm triệu người Việt sẽ tiếp tục nghe lại điệp khúc, đại loại: Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay nhờ nỗ lực phấn đấu bền bỉ, tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại (3)…

Nam Hàn và Đài Loan cũng ở châu Á nhưng vì không có đảng cộng sản lãnh đạo nên bị xếp vào “nhóm tư bản” mà giữa năm 2021 từng bị ông Nguyễn Phú Trọng phê phán là “đang khủng hoảng và liên tục gây ra các cuộc khủng hoảng” – những cuộc… “khủng hoảng” khiến kinh tế khát nhân lực thành ra phải điều chỉnh chính sách nhập cư, cư trú để… “lôi kéo” ngoại nhân đổ tới, góp sức, góp trí cho việc ổn định và phát triển sản xuất, thương mại, dịch vụ.

Bởi Việt Nam không thuộc… “nhóm”… đáng thương này nên đi theo hướng ngược lại. Có thể do kinh tế và xã hội Việt Nam đang trên đỉnh của sự… “ổn định” nên vài năm nay, các hệ thống từ trung ương đến địa phương đồng thanh thuyết phục đồng bào nên thu xếp ra nước ngoài làm mướn bởi con đường đó giống như “cơ hội” duy nhất đạt tới “quốc thái, dân an” (4). Thậm chí, tháng rồi, BCH TƯ Đoàn TNCS HCM còn muốn xác định việc gửi thanh niên ra ngoại quốc làm mướn là… “nhiệm vụ trọng tâm”, nhiệm kỳ này Đoàn TNCS HCM cần “tham gia tuyên truyền để thanh niên hiểu rõ lợi ích của việc đi lao động xuất khẩu theo thời hạn, để có nhiều thanh niên tham gia xuất khẩu lao động” nhờ vậy có thể đạt… “chỉ tiêu” là… chuyển được 500.000 “chủ nhân tương lai của quốc gia” sang diện làm… mướn cho ngoại nhân trên xứ người (5).

Khi xuất khẩu lao động được xem như giải pháp khả thi nhất để phát triển kinh tế – xã hội thì chuyện Tổng Bí thư đảng CSVN dõng dạc: Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay nhờ nỗ lực phấn đấu bền bỉ, tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại… dường như chẳng có gì sai, còn đúng ở chỗ nào thì tùy… người nghe!

Một triều đại cáo chung

Báo Tiếng Dân

Viet-Studies

Sao Băng

17-1-2023

Đại hội 13, tháng 1-2021, khát khao lưu sử sách nghìn năm, Nguyễn Phú Trọng khẩn khoản đề nghị Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ghi vào văn kiện đại hội Đảng câu nói bất hảo của ông ta: “Cơ đồ đất nước chưa bao giờ có được như ngày nay”.

Tròn hai năm sau, quả nhiên, toàn dân thấy đất nước chưa bao giờ được như ngày nay khi có tới hai trong “tứ trụ” viết đơn xin từ chức, điều chưa từng có trong lịch sử chính trường Việt.

Vào trung tuần tháng 1-2023, ông Nguyễn Xuân Phúc – Chủ tịch nước, đã có đơn xin thôi tất cả các chức vụ. Lý do của ông Phúc xin thôi, không phải là vì sức khỏe, mà là nhận trách nhiệm chính trị liên quan đến một số thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021. Trước khi viết đơn xin từ chức, ông Phúc đã được Trung ương Đảng ra kết luận cho việc ông ta và gia đình ông ta không dính dáng đến cái gọi là đại án test kit Việt Á.

Theo bước ông Phúc, ông Phạm Minh Chính, Thủ tướng, cũng có đơn xin thôi tất cả các chức vụ, lý do cũng không phải vì sức khỏe, mà vì nhận trách nhiệm chính trị liên quan đến thời kỳ làm Bí thư Quảng Ninh 10 năm trước.

Hai đơn từ chức của hai ông, một ông được xem xét ngay trước khi nghỉ Tết nguyên đán theo nguyện vọng, ông còn lại khi ra tết. Áp lực đủ lớn để cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận trách nhiệm chính trị về hàng loạt ủy viên trung ương Đảng trong hai năm qua lũ lượt đi tù, trong khi ông ta là Trưởng tiểu ban nhân sự đại hội 13. Dự kiến sự ra đi của Trọng  diễn ra vào mùa hè năm nay, khi Trung ương họp hội nghị giữa kỳ.

Nhưng ông Trọng có từ chức hay không, thì còn phải xem ở mức độ trơ trẽn của ông ta đến đâu, mặc dù luôn mồm nói về việc “nêu gương”.

Mặt khác, cũng còn phải xem các thế lực trong Đảng có muốn ông ta nghỉ hay không. Một khi, họ chưa tìm được “ngọn cờ”, thì ông Trọng, hẳn là vẫn tại vị.

Bây giờ, hãy nói về người đi đầu trong “nêu gương”. Nếu nói ông Nguyễn Xuân Phúc bị các đồng đảng đánh cho tan tác đến mức buộc phải chọn con đường rút lui cũng đúng; ông ta rút lui để mở đường sống cho các ủy viên trung ương Đảng cũng đúng, vì ông Phúc từ chức, thì mới có lý do để buộc ông Trọng từ chức, ông Trọng từ chức thì gần 200 ủy viên trung ương mới thoát kiếp nạn.

Nếu nói ông Phúc rút lui để bảo toàn mạng cho ông ta cũng đúng, bởi kể từ khi Trần Đại Quang chết, giới chóp bu cung đình đều đã biết đến lời nguyền của Quang: Ai ngồi ghế Chủ tịch nước quá hai năm đều khó giữ mạng. Thời kỳ Nguyễn Phú Trọng kiêm hai vai, Trọng hầu như không bao giờ sang ngồi bên Phủ chủ tịch. Vừa tiếp quản ghế Chủ tịch nước tháng 10-2018, tháng 4-2019, Trọng đã gặp một trận thấp tử nhất sinh khi vi hành ở Kiên Giang.

Vô số người dân có hay không quan tâm đến chính sự cũng đều còn nhớ, lúc 0h đêm đầu quốc tang Trần Đại Quang, sấm sét rền rĩ kinh hoàng khắp Ba Đình khi lời nguyền được chứng. Quốc tang, con cả Trần Đại Quang – Trần Quân, đọc lời điếu kiên quyết không nhắc dù chỉ một lời đến đầu Đảng Nguyễn Phú Trọng và trong giờ phút Trọng đứng viếng, chữ “g” trên phông nền “Vô cùng thương tiếc…” đột nhiên lao xuống đất.

Chữ ‘G’ của từ ‘cùng’ trong nguyên câu “Vô cùng thương tiếc đồng chí Đại Tướng Trần Đại Quang”, đột nhiên rơi xuống vào sáng 26-9-2018. Ảnh chụp từ VTV

Trọng vẫn còn như ngày hôm nay, dù chân quay quay và đầu quay quay, hẳn là vì Thiên triều phương Bắc có “hồng phúc”. Nhưng người Việt mấy năm nay đều lưu truyền một câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn 500 năm trước: “bạc phúc sản tất vong”.

Để Trong có thể lưu danh thiên cổ với câu nói bất hảo: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày hôm nay”, cả nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, ông Phúc và cả Chính phủ của ông ta nai lưng làm cật lực. Nhiệm kỳ đó đã tạo ra hơn 1.200 tỷ đô la GDP và hơn 8 triệu việc làm, chưa bao gồm rất nhiều việc làm ở khu vực kinh tế phi chính thức; Quan chức; Doanh nghiệp và người dân được an hưởng thái bình để cùng làm ăn, cùng sống.

Bởi suy cho cùng, quan chức, doanh nghiệp có yên ổn, thì dân mới có công ăn việc làm, có kế sinh nhai. Cũng có rất ít các vụ án oan xảy ra ở thời kỳ này. Nơi vỉa hè ở các văn phòng trung ương đảng, văn phòng chủ tịch nước, văn phòng chính phủ, văn phòng quốc hội, không hề có bóng của những đám đông kéo nhau đi kiện, khác hẳn thời kỳ trước đó, những nơi này đều là tụ điểm bị Đảng coi là “tập trung gây rối”.

Lần đầu tiên, thời kỳ ông Phúc làm Thủ tướng, dự trữ ngoại hối đạt được tới 111 tỷ đô la Mỹ (khi bàn giao lại cho Chính phủ của Thủ tướng Phạm Minh Chính – người được ông Trọng chọn ghế Thủ tướng – phương án nhân sự đặc sắc nhất Đại hội 13, thì chỉ chưa đầy một năm, số dữ trữ ngoại hối này đã bay hơn 2/3).

Ông Phúc – dù bị đánh cho buộc phải nghỉ, hay đến lúc bản thân ông ta đến lúc thấy cần phải nghỉ khi tuổi tác cũng đã 70, trong khi đường đến Tổng Bí thư thì đầy hiểm ác, ngồi lại thị bị ám ảnh lời nguyền; thì sự ra đi của ông ta cũng đi vào lịch sử.

Một khi sự ra đi của ông ta khỏi chính trường Việt bây giờ cùng sự ra đi nối tiếp của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong những ngày sau tết, đều có thể xem là những quyết định trọng đại, thức thời; nếu có thể tạo ra sức ép để Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng noi gương mà làm theo, cũng là điều may mắn cho đất nước.

Bất kể hai ông Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Minh Chính, đã từng làm những việc gì, tham ô hay không, tham nhũng hay không, thì giờ phút họ chọn cách ra đi như vậy, cũng có thể xem như những trang tuấn kiệt.

Một Việt Nam đã trở nên quá tồi tệ trong mắt bạn bè quốc tế khi có Đảng trưởng ngồi xổm lên điều lệ để tại vị. Một Đảng trưởng bệnh hoạn, cổ hủ, giáo điều, chỉ biết nhất nhất khom lưng khen trà Tàu ngon hơn trà Việt.

Có thể kẻ kế vị Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng còn đốn mạt hơn gấp bội.

Thì càng ứng lời sấm của Trạng Trình “bạc phúc sản tất vong”.

Đó mới là điều may mắn thực sự của dân tộc.

Một triều đại đã đến lúc cáo chung.

Trên thế giới, chỉ còn Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba còn duy trì chế độ cộng sản.

KHỞI TỐ VỤ ĐƯA TIN HUFLIT: NHỔ TOẸT LÊN HIẾN PHÁP.

Hoai Linh Ngoc Duong

Điều 25 của cái gọi là “ hiến pháp CHXHCNVN” quy định: “ Công dân có quyền tự do ngôn luận ,tự do lập hội ,biểu tình” .Thế nhưng trong nghi án hiếp dâm của trường Huflit công an lại lấy thịt đè người khi khởi tố để bịt mồm 3 admin của một trang web của sinh viên nhằm ngăn chặn một cuộc biểu tình tự phát .

Điều này cho thấy kiến thức về hiến pháp,luật pháp của bộ máy bảo vệ chính quyền rất hạn chế .Chúng ngang nhiên chà đạp lên bản giao ước giữa nhân dân và chính quyền là hiến pháp .

Ở Mỹ khi có một nghi án hiếp dâm xảy ra ,báo chí có quyền đưa tin ,đưa ra xác giả thiết và có quyền yêu cầu các cơ quan tư pháp khởi tố vụ án để điều tra nhằm trả lời trước công luận.Khôngbao giờ có chuyện cảnh sát khởi tố báo chí bởi điều đó là vi phạm hiến pháp .Các tòa án bảo hiến sẽ loại bỏ sự khởi tố này ngay tức khắc bởi việc khởi tố này chỉ tốn tiền thuế của dân .Khi mở phiên tòa các công dân có quyền yêu cầu được xử bởi bồi thẩm đoàn và đoàn bồi thẩm 12 người được chọn từ nhân dân sẽ không khó khăn gì để đối chiếu hiến pháp về quyền tự do ngôn luận để bỏ quyểt định khởi tố vào thùng rác .Không một văn phòng biện lý nào ở Mỹ lại đi làm việc thiểu năng này .

Nếu việc đưa tin hiếp dâm không đúng sự thật thì chỉ những kẻ bị nghi ngờ hiếp dâm mới có quyền kiện các cơ quan báo chí .Nhưng họ phải chứng minh được tin giả đã gây ra những tổn hại rè tinh thần ,thể chất trực tiếp cho bản thân họ thì mới có thể thắng kiện .Các cơ quan nhà nước hoàn toàn không bị xâm hại nên phải đứng ngoài vụ kiện .

Việc cơ quan công an khởi tố vụ Huflit đã tố cáo nó là một chính quyền độc tài .Nó chẳng khác gì một ông vua hiếp dâm dân thường bị bắt gặp bèn ra lệnh chém đầu dân để giữ thể diện .

Thực tế trong vụ án này có hằng hà điểm nghi vấn như :

– Chỉ một việc ăn cắp tiền tại sao nữ sinh lại kêu thét một cách phẫn uất trong đêm xé lòng như thế .

– Tiếng của đàn ông trong clip là tiếng của ai .Nếu có cắt ghép thì clip gốc phải được công bố .

-Tại sao có hình ảnh một nhóm người khiêng một cô gái đi giữa sân trường.

– Tại sao các nhân vật liên quan trong đêm đó đều bị bịt miệng ?

– Tại sao bà mẹ nghi phạm trộm tiền đón con về trong đêm không hề lên tiếng đính chính ?

Trách nhiệm của một nền tư pháp là làm rõ các nghi án đó chứ không phải bịt mồm những người đặt câu hỏi về nó. Chẳng qua là vì dân không tạo ra đối lập nên quan chức không hề sợ dân bỏ phiếu cho đảng khác nắm quyền .Chúng tha hồ thao túng hiến pháp ,dùng thứ luật rừng do chúng tự đặt ra để bịt mồm quyền công dân .

Tiền và sự cám dỗ

Báo Tiếng Dân

Tạ Duy Anh

15-1-2023

(Nhân vụ Việt Á và Giải cứu)

Một hôm, cánh lính cũ chúng tôi trong “Hội đạp xe”, đưa ra một tình huống thế này: Giả sử có người mang 100.000 USD (chỉ mới 100.000 USD, quy ra khoảng 2,4 tỷ đồng thôi nhé, so với 3 triệu USD hay 14,5 tỷ đồng thì nó chỉ là một món rất vừa phải) đến hối lộ, để cảm ơn về một việc gì đó (ví dụ giúp họ thắng thầu, ví dụ giúp họ giảm án tù, ví dụ giúp họ trốn thuế, ví dụ giúp họ mua rẻ bán đắt…) thì liệu ai trong số những người ngồi đây có thể từ chối?

Tất cả đều trả lời giống nhau: Khó từ chối vô cùng.

Bản năng sống của con người là hám lợi. Ở đâu có lợi là nó mò đến. Cái gì đem lại lợi ích là nó lao vào. Vì nó là con người, với đầy đủ những khiếm khuyết tự nó không hoàn thiện được (thế mới cần đến tôn giáo). Chính vì vậy, tham nhũng, nhận hối lộ, ăn cắp của công… xuất hiện từ thời thượng cổ, khi con người biết đến quyền lực và khi xã hội phân tầng về giai cấp.

Mặc dù cũng là ăn cắp, nhưng những hành động trên luôn được “bào chữa” rằng kẻ ăn cắp chẳng lấy không của ai (giúp và nhận công), chẳng lấy của ai cụ thể (của công cũng giống như của… trời!). Vì thế, tham nhũng, nhận hối lộ luôn có sức cám dỗ khủng khiếp, trong mọi xã hội.

Nếu nhìn thật sâu vào tâm can của chính mình, nói thật, bạn hay tôi cũng khó mà thoát khỏi cám dỗ đó.

Việc từ chối món tiền lớn, kể cả với những người giầu nứt đố đổ vách, có gì đó thậm chí còn “phản tự nhiên”. Vì thế đạo đức giả mới có đất để diễn và nó thường nhuốm mầu cay cú (Không nhận được thì nhè ra, tiện thể làm mầu, chứ từ sâu xa cũng tiếc đứt ruột).

Người ta chỉ từ chối món lợi lớn mang dâng tận miệng, trong các trường hợp sau:

1-Biết rõ là hành động đó không thể thoát sự trừng phạt của luật pháp, do xã hội có cơ chế giám sát tinh vi và sự trừng phạt lạnh lùng… (Báo chí tự do, tòa án độc lập…) Trong trường hợp này, con người từ chối phạm tội vì ý thức chấp pháp, lo sợ bị trả giá đắt gấp bội, chứ chả phải do họ có nhân cách, đạo đức lớn.

2-Ý thức về một cặp mắt vô hình NHÌN THẤY TẤT CẢ. Cái kết vẫn là nỗi sợ về sự trừng phạt nào đó. Sự trừng phạt tinh thần này thậm chí còn đáng sợ hơn sự trừng phạt vật chất. Chẳng hạn nó khiến lương tâm day dứt, sợ bị quả báo nhiều đời, sợ khi chết đi rồi vẫn bị phán xử, nguyền rủa, tức là sợ tiếng xấu truyền đời…

3-Ý thức về danh dự cá nhân vì thế mà bị ô uế.

Trong ba loại “barrier” ngăn cản người ta phạm tội đã kể, thì “barrier” đầu tiên có giá trị hiện thực nhất và cũng thực chất nhất về mặt hiệu quả. Bởi nó bao phủ số đông tuyệt đối. Cái số đông đó là trăm ngàn vạn triệu loại người, với ngần ấy cách sống, cách nghĩ, cách quan niệm khác nhau về đạo đức, phẩm giá, danh dự… Nhưng cho dù họ là ai, để đủ tư cách tối thiểu làm một công dân, thì tuyệt đại đa số họ đều đủ năng lực để làm theo luật pháp, với những quy định rành mạch, rõ ràng, không có ngoại lệ, hoàn toàn vô tình. Những gì luật pháp không cấm, họ có quyền làm, kể cả nó không phù hợp với quan niệm về danh dự, ứng xử được coi là hợp lẽ của nhiều người khác. (Vì thế mới cần đến văn hóa)

Tình huống thứ hai không hiếm nhưng chắc chắn không phổ biến và không thể là thước đo chuẩn mực để khép tội hay xá tội cho ai đó. Đơn giản là với một bộ phận đông đảo, nó chả có ý nghĩa gì (chẳng hạn với những người vô thần). Không ai có quyền tước bỏ niềm tin tôn giáo của người khác, nhưng cũng không ai có quyền ép người khác phải theo, phải tin một tôn giáo nào đó.

Tình huống thứ ba thì vô cùng hy hữu. Cho đến nay, trong hàng ngũ các nguyên thủ quốc gia, người ta mới chỉ khẳng định CHƯA THẤY tổng thống Mỹ nào tham nhũng, nhận hối lộ, ăn cắp của công?

Nhiều người lấy làm tiếc cho một vài quan chức, chỉ cần tiền quà biếu cũng ăn vài đời không hết, nhưng vẫn lập ra các sân sau để rút tiền ngân sách, vẫn chia chác tiền dự án, vẫn cài lợi ích vào việc đấu thầu…

Những người nghĩ như vậy là đang nghĩ như một nhà đạo đức, vốn của giả nhiều hơn của thật, chứ không phải đang nghĩ như một con người xã hội.

Bạn hãy đặt mình vào vị trí của một quan chức có rất nhiều cơ hội để tham nhũng, bạn sẽ thấy, ông/bà ta hành động chả có gì khác thường. Khuân của cải về nhà mình, chất đầy nhà, sau đó bình an sống ngoài mọi lo toan, thỉnh thoảng cúng dường, thỉnh thoảng ban quà cho đám trẻ con đói rách (chúng đói rách cũng một phần vì hành vi tham nhũng của họ)…trong khi đó vẫn có đủ các diễn đàn để lên mặt dạy đời (như ta vẫn thường thấy), nó tạo ra một thứ hạnh phúc chất ngất, thứ hạnh phúc của người thành công và may mắn, dù thực chất nó là cơn say sưa của ma quỷ. Nó còn tạo ra cảm giác họ đã sống trọn vẹn cho cuộc đời, cho gia đình, cho bạn bè. (Không ít quan chức tham nhũng kinh người bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, thầy cô, những người già yếu, neo đơn, nghèo khó; gương mẫu làm từ thiện, mạnh miệng kêu gọi xã hội rủ tình thương với những số phận không may… giống như hành động của một Bồ tát cứu khổ cứu nạn!)

Tiền là tiên là phật, tiền đi liền với ruột, tiền là tất cả…Xin đừng coi thường những quan niệm này, bởi có thể nó xấu xí, nhưng nó luôn thật, luôn đúng với hầu hết chúng ta.

Đừng đạo đức hóa, lý tưởng hóa các nguyên tắc chống lại những gì thuộc về bản chất tự nhiên.

Kết lại: Hiểu rõ bản chất của con người, bản chất của hành động tham nhũng, để thấy sự kiểm soát hành vi xấu xí, bản tính tham lam, thói quen khuất tất của con người bằng các điều luật, mới là giải pháp lâu dài để có được một xã hội ÍT THAM NHŨNG, ÍT CÓ KHẢ NĂNG THAM NHŨNG.

Và rõ ràng là nó không có tí ti gì mới mẻ.