BỨC THƯ VỀ ÔNG GIÀ NOEL SAU HƠN MỘT THẾ KỶ

 Phan Dương

Năm 1897, một cô bé 8 tuổi gửi thư lên tờ The New York Sun hỏi “Ông già Noel có thực không.”   Không ngờ bức thư phúc đáp trở nên nổi tiếng, hơn 100 năm qua được kể lại mỗi mùa Giáng sinh.  Những ngày cận kề Giáng sinh , cư dân mạng tiếp tục lan truyền bài xã luận Yes, Virginia, there is a Santa Claus, đăng ngày 21/9/1897 trên tờ The New York Sun.

Hầu hết mọi đứa trẻ đến mùa Giáng sinh đều hoài nghi liệu Ông già Noel có thực không.  Gần 120 năm trước, cô bé Virginia O’Hanlon, 8 tuổi ở Manhattan (New York, Mỹ) cũng có câu hỏi tương tự với bố mình.  Thay vì trả lời, bố Virginia đã gợi ý con gửi thư cho tờ The Sun, tờ báo nổi tiếng ở New York vào thời điểm đó.

Cô bé viết: “Xin chào quý báo.  Cháu 8 tuổi.  Một số bạn của cháu nói rằng Ông già Noel không có thực.  Bố cháu thì bảo nên hỏi The Sun.  Xin hãy cho cháu biết sự thật: Có Ông già Noel không?”  Biên tập viên Francis Pharcellus đã viết một bức thư trả lời cô bé, đồng thời đăng câu chuyện này lên số báo ngày 21/9/1897.  Nội dung bức thư trả lời: “Virginia, các bạn cháu nói không đúng.  Những người như họ luôn hoài nghi mọi thứ.  Họ chỉ tin vào những gì họ tận mắt nhìn thấy và hiểu được, mặc dù trí óc của họ nhỏ bé biết bao.  Virginia à, trí tuệ của con người, dù là người lớn hay trẻ em, tất cả đều nhỏ bé.  Trong vũ trụ vĩ đại mà chúng ta đang sống, nếu ta hình dung chân lý rộng lớn như là một không gian bao la thì kiến thức của con người chỉ nhỏ nhoi bằng một con kiến mà thôi.

Đúng thế, Virginia, ông già Noel có thực.  Ông có thực cũng như tình yêu và lòng quảng đại luôn hiện diện quanh ta, nhờ đó mà cuộc sống của chúng ta được vui tươi và hạnh phúc.  Nếu không có ông già Noel thì thế giới của chúng ta ảm đạm biết bao.  Nếu không có những em bé như cháu thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào?  Khi đó cuộc sống sẽ chẳng có những tâm hồn trẻ thơ, chẳng có thi ca, chẳng có lãng mạn.  Con người chỉ là những cỗ máy khô khan.  Ánh sáng niềm tin và hy vọng của trẻ em trên khắp thế giới cũng sẽ tiêu tan.

Nếu không tin có ông già Noel, cháu cũng sẽ chẳng tin vào những chuyện thần tiên.  Cháu có thể nói với bố nhờ người canh cửa trong đêm Giáng sinh để bắt gặp bằng được ông già Noel, nhưng ngay cả nếu như không gặp được ông đi chăng nữa thì cũng đâu chứng minh được điều gì?  Chưa ai tận mắt gặp ông già Noel bằng xương bằng thịt cả nhưng điều đó không có nghĩa là ông già Noel không có thực.  Những điều chân thực nhất trong thế giới chúng ta là những điều mà trẻ em và người lớn đều không thể thấy được.  Cháu có bao giờ nhìn thấy các nàng tiên nhảy múa trên thảm cỏ chưa?  Dĩ nhiên có thể là chưa nhưng đó đâu phải là bằng chứng để cho rằng không có chuyện đó.

Không ai có thể hiểu và tưởng tượng được những điều kỳ diệu mà họ chưa từng thấy và không thể thấy được trong thế giới của chúng ta.  Cháu có thể dễ dàng đập vỡ một cái lúc lắc để tìm xem cái gì kêu lách cách bên trong, nhưng trên đời này có một thế giới kỳ diệu được bao phủ bởi một bức màn kiên cố mà không một sức mạnh nào của thế gian có thể xuyên qua được.  Chỉ có bằng niềm tin và tình yêu chúng ta mới vén được bức màn và cảm nhận được vẻ đẹp lộng lẫy huy hoàng bên trong.  Những chuyện đó có thực không?  Virginia à, đó là điều chân thực nhất trên thế gian này.

Ông già Noel không có thực ư?  Nhờ Chúa, ông vẫn sống và sẽ sống mãi.  Hàng nghìn năm sau Virginia à, mà không phải, hàng trăm nghìn năm sau, ông vẫn sẽ tiếp tục mang đến niềm vui và hạnh phúc cho những tâm hồn trẻ thơ trên khắp hành tinh này.  Chúc cháu Giáng sinh hạnh phúc.”

Bức thư của biên tập viên Francis Pharcellus Church là hành trang theo suốt cuộc đời Virginia.  Trọn đời bà đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và trẻ em tật nguyền.

Những thông điệp từ bài báo đã tác động đến hàng triệu người đọc.  Hơn một thế kỷ sau nó vẫn được giữ nguyên, được đăng tải trên các tờ báo, sách vở ra hàng chục ngôn ngữ, phim ảnh, tem, áp phích…

Tại thành phố New York, một đài truyền hình đã kể lại những câu chuyện mỗi dịp Giáng sinh trong suốt 30 năm qua.  Tờ The Sun đã đăng tải câu chuyện mỗi mùa Giáng sinh suốt từ năm ra đời đến khi tờ báo đình bản năm 1950.  Ngày 21/9/1997, kỷ niệm 100 năm thành lập, báo The New York Times đã xuất bản một bài viết phân tích về sức hấp dẫn lâu dài của bức thư “Yes, there is a Santa Claus.”

Biên tập viên Francis Pharcellus Church là một cây bút bình luận kỳ cựu của báo.  Ông viết bức thư này khi 57 tuổi và qua đời năm 1906, ở tuổi 66.  Còn Virginia O’Hanlon đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và trẻ tật nguyền.  Bà mất năm 1971, ở tuổi 81 và đã mang lá thư phúc đáp của ông Church suốt cuộc đời mình.

Phan Dương

(theo The New York Sun)

From: Langthangchieutim

KHÔNG DỄ! – Ngô Trường An

Chân Trời Mới Media

KHÔNG DỄ!

– Ngô Trường An –

Thằng em họ gọi điện về hỏi mượn tiền cho con nó đi XKLĐ. Mình hỏi:

– Tại sao phải đi XKLĐ?

Nó nói:

– Vì ở nhà không có việc làm, nên phải đi chứ sao?

– Tại sao ở nước họ có việc làm, còn nước mình thì không?

– Ở mình thì cũng có việc làm, nhưng lương thấp quá không đủ xài chứ không hẵn là không có.

– Tại sao ở nước ngoài trả lương cho lao động cao, còn nước mình trả thấp?

Nó nổi quạu gằn từng tiếng:

– Anh có cho mượn hay không thì nói trớt đi, em chỉ mượn lần này thôi. Vậy, anh đừng có hỏi dông dài nữa.

Tôi đáp:

– Nếu mày không trả lời được câu hỏi của anh, thì không những mày mượn tiền cho con mày đi XKLĐ thôi đâu, mà sau này mày còn phải mượn cho cháu mày đi nữa đấy. Hiểu chưa!

Nó cúp máy cái rẹt.

Hazzzz!! khai dân trí không thể nào là chuyện dễ!

Biểu tượng VinFast

Báo Tiếng Dân

Lâm Bình Duy Nhiên

18-12-2022

Phạm Nhật Vượng tự hào với VinFast và ra sức đổ tiền để truyền thông trong nước và thế giới ca ngợi. Thị trường trong nước thì phủi tay, bỏ mặc nhưng lại dồn sức để “chinh phục” thị trường Hoa Kỳ.

Đã chơi thì chơi cho đến cùng. Hoa Kỳ là thị trường xe điện lớn và nghiêm ngặt, chẳng phải ai muốn cũng vào được. Chỉ mất vài năm mua công nghệ Đức, đốt cháy giai đoạn, tung tiền làm PR, cho ra đời sản phẩm và đòi “đe doạ” cả những tên tuổi lớn của công nghệ xe hơi và xe điện. VinFast như anh nhà giàu, lắm của, hoang tưởng cứ nghĩ rằng có tiền mua gì chả được, kể cả Hoa Kỳ, cường quốc kinh tế!

Hình ảnh tàu VinFast VF8 chở 999 chiếc xe điện “hiên ngang” dưới chân cầu Golden Gare, tiến vào vịnh San Francisco mang tính biểu tượng to lớn, không chỉ của riêng Phạm Nhật Vượng, mà còn của cả nhà cầm quyền trong nước. Sau chiến tranh, người cộng sản Việt Nam và giới tỷ phú đỏ chỉ muốn, bằng mọi giá, xâm nhập thị trường của “cựu thù” một thời để tạo tiếng tăm.

Từ các chính sách đầu tư, mua nhà cửa, gởi con cái đi du học và sinh sống,… bóng dáng của người cộng sản và tư bản đỏ hiện diện ngày càng nhiều trong đời sống kinh tế của Mỹ, đặc biệt tại các vùng có cộng đồng tị nạn cộng sản. Người viết từng nghe những lời tâm sự, có phần huênh hoang, từ những kẻ đầu tư vào thị trường bất động sản tại Mỹ: tụi tui mua nhà, rồi để đó cho bọn Mỹ trắng thuê, kiếm tiền cho vui…

Có tiền là có tất cả. Giới tài phiệt đỏ Việt Nam tự tin như thế, dưới sự giúp đỡ của nhà cầm quyền. Nhưng liệu Mỹ và EU sẽ chấp nhận cái giới hạn của những sản phẩm kém chất lượng, gây ảnh hưởng đến tính mạng người tiêu dùng như thế nào, đó mới là mấu chốt của vấn đề mà những ông chủ như Phạm Nhật Vượng có thể không lường đến!

Thấy ảnh tàu VinFast dưới chân cầu Golden Gate, lại nghĩ đến bức ảnh “O du kích nhỏ” năm nào. Người cộng sản Việt Nam rất khéo léo trong việc xây dựng những biểu tượng tuyên truyền có lợi cho họ.

“Đánh cho Mỹ cút” đã đành,

Đánh sang tới bển, tanh bành cờ hoa!

Dẫu thực chất chỉ là “treo đầu dê, bán thịt chó” nhưng cứ tự sướng và hoang tưởng trước mắt cho thoả thích cái đã…

MARANATHA!  Lạy Chúa, Xin Ngự Đến!

Trong thời gian sống mùa vọng, chúng ta có cơ hội để ôn lại câu chuyện tình của Thiên Chúa và dân Người trong lịch sử cứu độ của nhân loại.

Lịch sử cứu độ là một lịch sử của tình yêu.  Lịch sử ấy bắt đầu với một dân được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn và chăn dắt.  Tương quan giữa Thiên Chúa và dân được tuyển chọn là tương quan yêu thương.  Thiên Chúa chọn dân ấy làm dân riêng, và dân ấy chọn Thiên Chúa là Chúa duy nhất mà họ kính yêu tôn thờ.

Tuy nhiên, đó cũng là lịch sử của những sai lầm lỗi phạm từ phía con người.  Càng sống, con người càng đi xa đường lối của Thiên Chúa và đi ngược lại với những cam kết của mình.  Con người chọn tôn thờ nhiều thứ khác, nhiều thần khác và sống buông thả trong tội lỗi.  Lìa xa Thiên Chúa, con người đã phải đối mặt với biết bao là thăng trầm sóng gió và ê chề nhục nhã.  Họ bị lưu đày, bị đàn áp, bị khinh khi ruồng rẫy.  Về phần mình, Thiên Chúa không làm ngơ trước những thống khổ của dân, Ngài hứa ban cho họ một Đấng Cứu Độ vĩ đại, là Đấng sẽ giải phóng dân khỏi mọi đau khổ.  Hướng đến lời hứa ấy, dân Thiên Chúa sống trong nỗi niềm mong ngóng đợi chờ.  Họ không biết làm gì để Đấng Cứu Độ mau đến ngoài việc tha thiết cầu xin.

Phần lớn những kinh nguyện trong mùa Vọng, chúng ta mượn lại lời khẩn nguyện tha thiết của dân Thiên Chúa.  Đó là lời kinh toát ra từ nỗi đau của những người bị lưu đày viễn xứ, bị mất nước, mất đất, nhất là mất phẩm vị được làm Con Thiên Chúa.  Đó là lời kinh sám hối của một dân đã sai lầm lỗi phạm, đã không sống xứng đáng với những ân huệ mà mình được lãnh nhận, đã xa lìa bội ước với Thiên Chúa.  Đó là lời kinh tha thiết của những tâm hồn hoài nhớ cố hương, hoài nhớ những tháng ngày được sống vui trong điện đền nhà Chúa, trong tương quan tình yêu ngọt ngào với Thiên Chúa.  Đó là lời khấn xin được phục hồi được quay về với Thiên Chúa.

Chuyện của Thiên Chúa và dân Người cũng là chuyện của Thiên Chúa và nhân loại ngày nay, đồng thời cũng là chuyện của Thiên Chúa và của mỗi người chúng ta.  Chúng ta là những người được tuyển chọn và yêu thương.  Lịch sử sống tương quan với Chúa từng ngày là lịch sử của tình yêu.  Thế nhưng, đó cũng là lịch sử của nhiều sai lầm và lỗi phạm từ phía chúng ta

Mùa Vọng, chúng ta được mời gọi chuẩn bị đón Chúa bằng việc sửa mình mỗi ngày.  Trong tâm tình của một người con thảo chúng ta dâng lên Chúa lời kinh sám hối, dâng lên Chúa nỗi lòng tha thiết chờ mong, dâng lên Chúa niềm hy vọng và tin tưởng sắt son vào tình yêu vững bền của Thiên Chúa.  Hợp lòng với dân Thiên Chúa, chúng ta cùng cất cao lời khẩn nguyện: MARANATHA!  LẠY CHÚA, XIN NGỰ ĐẾN!

Lạy Chúa là Vua Tình Yêu, xin ngự đến!

trong tâm hồn hơn sáu tỉ con người

giữa lòng hơn 190 quốc gia trên thế giới.

xin ngự đến nơi những người bị tước đoạt tự do và nhân phẩm

những người bị tù tội khốn quẫn, bị ruồng rẫy khinh miệt

xin ngự đến nơi những thương tích mà con người đã gây ra cho nhau.

Xin tình yêu Chúa tỏa lan và thấm đậm vào giữa lòng thế giới của chúng con

để chúng con được phục hồi và chữa lành, được bình an và hạnh phúc. 

Lạy Chúa là Vua hòa bình, xin ngự đến!

nơi những đất nước đang còn tang tóc chiến tranh

nơi những cuộc chạy đua vũ trang không tưởng

nơi những tham vọng cuồng điên của con người

nơi những tâm hồn còn mang nặng óc kỳ thị, hận thù và bạo lực.

Xin thanh tẩy và luyện lọc lòng trí con người

để chúng con biết yêu chuộng hòa bình

và chung tay dựng xây một thế giới của yêu thương huynh đệ. 

Lạy Chúa là ánh quang chân lý, xin ngự đến!

nơi tâm hồn của những con người

đang lao đao tìm một hướng đi, đang vật vã tìm một lẽ sống.

Xin ngự đến trong con tim của những nhà lãnh đạo quốc gia

để họ phục vụ dân Chúa trong công bằng và sự thật.

Xin ngự đến nơi những góc tối mịt mùng của dối gian và sai trái

nơi những hố sâu thăm thẳm của tội lỗi và sa đọa

xin ngự đến cả nơi tâm hồn của những người đang còn từ khước Chúa.

Xin đưa dẫn những bước chân lầm đường lại lối

tìm về với Chúa là cội nguồn sự thật và sự sống. 

Lạy Chúa là mục tử giàu lòng thương xót, xin ngự đến!

nơi những mảnh đời lầm than vất vưởng

nơi những người cửa mất nhà tan vì thiên tai loạn lạc

nơi những người già cả neo đơn và không nơi nương tựa,

nơi những trẻ em côi cút bất hạnh trên đường phố

nơi những người bị dạt ra bên lề xã hội

xin ngự đến và nâng dậy những con người yếu đuối

xin vỗ về và an ủi những cảnh đời truân chuyên.

 

Lạy Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con hằng mong đợi

xin ngự đến với những cuộc đời đã vỡ nát vì sai lầm lỗi phạm,

với những cảnh đời cơ nhỡ vì sa chân lỡ bước.

xin ngự đến và thanh tẩy chúng con khỏi vết nhơ tội tình

xin ngự đến và chữa lành chúng con khỏi thương tật đau đớn

xin chuộc chúng con về từ nơi chúng con đã lạc mất

xin dẫn chúng con đi trên đường nẻo quang minh. 

Lạy Chúa là Vua của mọi loài

xin ngự đến và phục hồi chúng con

để chúng con lại được sống xứng đáng là con cái Chúa.  Amen! 

https://dongten.net

From: NguyenNThu

Bắt người có vá được lỗ hổng của TTCK không?

Báo Bauxite Việt Nam

Đỗ Ngà

Vụ bắt Trịnh Văn Quyết trước đây và bắt ông Phạm Thanh Tùng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Trí Việt cho thấy, hai ông này cùng phạm một tội giống nhau, tội thao túng chứng khoán.

Cho tới nay, có bốn vụ bắt bớ liên quan đến thị trường chứng khoán, trong đó có hai người liên quan đến thị trường trái phiếu và hai người liên quan đến thị trường cổ phiếu. Đó là Đỗ Anh Dũng và Trương Mỹ Lan lừa đảo trên thị trường trái phiếu; Trịnh Văn Quyết và Phạm Thanh Tùng lừa đảo trên thị trường cổ phiếu.

Thị trường trái phiếu đang có lỗ hổng rất lớn, 95% doanh nghiệp không có xếp hạng tín nhiệm, không bảo lãnh thanh toán của các tổ chức tài chính có uy tín và không tài sản bảo hiểm có thể chui vào lỗ hổng này để bán giấy lấy tiền dân.

Thị trường trái phiếu thế, còn thị trường cổ phiếu thì cũng chẳng khá hơn. Cả hai ông Trịnh Văn Quyết và Phạm Thanh Tùng có thể dễ dàng tạo ra cầu ảo đẩy giá cổ phiếu sau đó bán ra kiếm lời. Hai người cùng thực hiện một chiêu trò như nhau để trục lợi thành công thì đây là vấn đề của thị trường chứng khoán hay vấn đề của các chủ doanh nghiệp?

Thị trường chứng khoán có hai phần (thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu) mà cả hai đều thủng lỗ toang hoác thế kia thì làm sao ngăn cản được rủi ro cho nhà đầu tư? Bản chất con người là tham lam, khi các đại gia thấy kinh doanh vất vả mà kiếm bạc cắc trong khi đó chỉ cần dùng chiêu trò là có thể hốt hàng núi tiền của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thì làm sao họ không lao đầu vào?

Ông Chính quyền có một vườn rau, tuy nhiên cứ mỗi lần rau nảy mầm thì thú hoang vào đánh chén. Thay vì vá lại hàng rào bảo vệ vườn rau thì ông Chính quyền lại ngồi canh bầy thú chui vào vườn rồi dí bắt. Cả đàn hàng trăm con vào phá nhưng ông ta chỉ bắt được bốn con và ông đang canh me bắt thêm để bảo vệ vườn rau trong khi đó hàng rào thủng lỗ toang hoác chình ình ra đấy ông ta không chịu vá.

Việc Chính quyền này vẫn để lỗ hổng lớn như thế thì Việt Nam sẽ hình thành nên loại doanh nghiệp mới. Loại doanh nghiệp thành lập để ra chiêu lừa đảo trên thị trường chứng khoán nhằm kiếm tiền chứ không tạo ra của cải gì cho xã hội. Có chắc rằng trên thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ có mỗi Đỗ Anh Dũng, Trương Mỹ Lan, Trịnh Văn Quyết và Phạm Thanh Tùng không? E là không.

Bộ máy nào vận hành cũng dựa trên ba thành phần, đó là luật pháp, cơ chế và con người. Luật pháp thì đầy lỗ hổng, cơ chế thì lỏng lẻo và con người thiếu thượng tôn pháp luật thì bộ máy đó vận hành không thể trơn tru được. Bộ máy vận hành thị trường chứng khoán Việt Nam kiểu như thế. Nhìn vào đâu cũng thấy hỏng hóc thì biết vá vào đâu?

Những gì được sinh ra từ thể chế chính trị bòn rút nó đều như thế. Vá không dễ.

Đ.N.

Nguồn: FB SOI

Thói nguỵ biện ở người Việt

Báo Bauxite Việt Nam

GS Nguyễn Văn Tuấn

Tôi hay bị làm phiền bởi những người hỏi tôi “đã làm gì cho đất nước này” [1] khi tôi có ý phê bình các chánh sách của Nhà nước. Câu hỏi đó không chỉ không cần thiết mà còn biểu hiện thói nguỵ biện rất thô thiển.

Nguỵ biện (người phương Tây gọi là ‘fallacy’), nói ngắn gọn, là lỗi lầm mang tính logic trong bàn luận. Nguỵ biện trong bàn luận (chưa nói đến ‘tranh luận’ vốn cần một trình độ nhứt định) bao gồm những:

  • những luận điểm bất hợp lý,
  • những phát biểu nhằm đánh lạc hướng vấn đề, hay
  • những phát biểu mang tính khẳng định nhưng chẳng có gì làm chứng cớ.

Tất cả chúng ta đều ít nhứt 1 lần phạm phải những lỗi lầm này — có khi là vô ý. Người ta thốt ra những lời nói hay viết xuống những câu để đánh tráo vấn đề và gây nhiễu loạn trong bàn luận. Tôi quan sát thấy vài lỗi nguỵ biện phổ biến ở người Việt chúng ta. Những gì tôi quan sát không có gì mới cả, nhưng thiết nghĩ cần nhắc lại ở đây.

  1. Công kích cá nhân (ad hominem)

Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất. Nguy hiểm vì nó tấn công vào cá nhân của người phát biểu hơn là quan điểm của người phát biểu. Từ đó, người ta chỉ tập trung vào cá nhân hơn là quan điểm của cá nhân đó.

Có 5 hình thức phổ biến thuộc loại ngụy biện này:

– Loại thứ nhứt là tấn công vào uy tín cá nhân của người phát biểu, kiểu “Anh là dân làm kinh tế, biết gì về khoa học mà nói chuyện nghiên cứu khoa học”. Tức là, người ngụy biện không bàn về lý lẽ của người phát biểu về khoa học mà tấn công vào cái ‘background’ của người đó.

– Loại thứ hai là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Bà hay đánh con, bà không có tư cách nói chuyện nhân nghĩa”.

– Loại thứ ba là tấn công vào động cơ của người phát biểu. Mặc dù không biết động cơ của người phát biểu là gì, kẻ nguỵ biện vẫn đặt ra một cái cớ để làm lạc hướng luận điểm của người phát biểu. Ví dụ tiêu biểu là “Anh nói như vậy là vì anh muốn được chút ơn huệ của kẻ cầm quyền”.

– Loại thứ tư là tấn công vào lòng yêu nước. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là: “Anh im đi! Nếu anh thấy nền giáo dục Việt Nam kém cỏi như vậy thì anh hãy đi Mỹ mà học”.

– Loại thứ năm là dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi”.

  1. Lợi dụng thẩm quyền (ad verecundiam)

Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Cái bàn chải đánh răng này được giới nha sĩ ủng hộ, nên nó tốt lắm”, hay “Báo chí loan tin hà rầm rằng gia đình đó loạn luân mà ông còn cãi à? Ai cãi là ngu si, hèn hạ”. Hèn hạ?

Cái sai ở đây là thẩm quyền (báo chí, chuyên gia, Nhà nước, v.v.) không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lý lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

Do đó, việc xem thẩm quyền là chân lý là một nguỵ biện, và loại nguỵ biện này rất phổ biến và nguy hiểm. Nguy hiểm là vì nó làm thui chột tư duy độc lập của người ta. Nguy hiểm là vì nó có thể đưa người vô tội vào tù.

  1. Lợi dụng nặc danh

Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một ví dụ tiêu biểu là “Các chuyên gia nói với tôi rằng chủ trương của chúng tôi là hợp lý”. Ở đây, chúng ta không biết chuyên gia là ai (nặc danh), mà cho dù có biết thì đây cũng là nguỵ biện loại lợi dụng thẩm quyền.

Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an cảnh sát hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Có nhiều đơn của nhân dân tố giác rằng cái hộ gia đình này phạm pháp”. Chẳng ai biết ‘nhân dân’ là ai, nhưng nó bị đem ra làm cơ sở cho nguỵ biện.

  1. Luận điệu ngược ngạo

Loại nguỵ biện này hay xuất hiện dưới hình thức bằng chứng. Chẳng hạn như kẻ nguỵ biện phát biểu rằng “Gia đình đó có loạn luân”, nhưng khi bị người ta bác bỏ phát biểu đó thì kẻ nguỵ biện quay sang hỏi: “Anh nói họ không loạn luân, vậy anh chứng minh đi”.

Đây là nguỵ biện khá phổ biến, mà theo đó kẻ nguỵ biện đùn đẩy trách nhiệm bằng chứng về phía người phát biểu trong khi chính người phát biểu cáo buộc phải trình bày bằng chứng. Loại nguỵ biện này khá thô thiển, nhưng ngạc nhiên thay nó thuyết phục khá nhiều người ngây thơ!

  1. Làm lạc hướng câu chuyện

Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề.

Một trong những ví dụ tiêu biểu của nguỵ biện loại này là những câu qua lại về tu sĩ. Người phát biểu cảm thấy tu sĩ đóng phim là không phải, người nguỵ biện quay sang tấn công … Đức Giáo Hoàng:

“Nếu bà cho rằng bà có cái quyền tấn công tăng ni tham gia đóng phim thì bà trước nhứt nên tấn công hai Đức Giáo Hoàng của bà trước thì đó mới là công bằng”.

Một ví dụ khác: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình phạt không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao?”. Tức là, người ngụy biện chuyển chủ đề về hiệu quả của án tử hình sang nạn nhân, hai vấn đề chẳng có liên quan gì với nhau. Đây là nguỵ biện cá trích.

Tranh luận và phản biện?

Ở Việt Nam, người ta thích dùng từ ‘phản biện’ và ‘tranh luận’, nhưng trong thực tế thì chẳng có tranh luận gì cả mà chỉ là cãi lộn. Trong cãi lộn thì không có phản biện. Muốn phản biện đàng hoàng thì cần phải có tranh luận nghiêm túc.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc?

Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, các võ sĩ phải tuân thủ luật chơi một cách nghiêm ngặt; tương tự, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc bàn luận có quy tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi.

Những quy tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lý lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo kiểu cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự nguỵ biện.

Nhưng rất tiếc là nguỵ biện là một thủ thuật rất rất phổ biến ở người Việt. Nó (nguỵ biện) xuất hiện hàng ngày trong các cuộc đối thoại, trên hệ thống truyền thông. Những câu như “Nhân dân tin tưởng …”, “Cơ quan chức năng đã kết luận …”, “Phương pháp điều trị này đã được các giáo sư, tiến sĩ chấp nhận …”, vân vân. Nhiều người đọc/nghe những câu như thế nhưng không thấy đó là nguỵ biện, và thế là họ nghiễm nhiên sử dụng trong các đối thoại sau đó.

Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí chỉ là những cuộc đụng độ giữa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lý luận của người tranh luận.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn. Vì chửi lộn nên người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lý lẽ của người đó.

Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu (như ‘phản động’ chẳng hạn) và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học. Chẳng có tranh luận hay phản biện gì trong những trường hợp như thế.

****

Ngụy biện, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí?

Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

Những phát biểu ngụy biện thốt ra từ những người mang danh tu sĩ và trí thức chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc và đánh lảng vấn đề, thay vì cung cấp cho họ một sự thật. Nhưng khi nguỵ biện làm cho người ta đi tù thì nguỵ biện trở thành một tội ác.

Cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên có lần nói rằng Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn kể với cô là “Văn hóa Tây thiên về khuyến khích, còn văn hóa Việt thiên về chỉ trích”. Tôi thấy rất đúng, nhưng muốn thêm văn hoá nguỵ biện nữa.

____

[1] Rất khó nói chuyện với mấy người như thế này vì họ chẳng biết những gì mình làm cho Việt Nam, nhưng chẳng lẽ mình phải ê a kể ra? Thành ra, cách tốt nhứt là bỏ qua loại ngụy biện này mà tập trung vào vấn đề đang bàn.

N.V.T.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

“Hai tư tưởng lớn” gặp nhau

Báo Tiếng Dân

Đỗ Ngà

18-12-2022

Lúc còn trên “đỉnh cao cao thành công”, Nguyễn Thái Luyện – Chủ tịch địa ốc Alibaba đã đưa ra hình thức “chứng khoán hóa bất động sản”. Như vậy “chứng khoán hóa bất động sản” là gì?

Nguyễn Thái Luyện lấy ví dụ trực tiếp dự án mà anh ta thực hiện để minh hoạ. Đó là dự án 11 hecta đất ở Nhơn Trạch – Đồng Nai. Anh ta phân phân lô bán nền với mỗi nền 100m2 với giá 6 triệu đồng/m2. Luyện chia nhỏ mỗi lô này thành 100 phần với giá trị 1m2/phần. Có người có thể mua 1 hoặc 2 mét vuông để đầu tư và sau đó có thể bán lại cho người khác để thu lời kiểu như một dạng chứng khoán.

Cách làm của Nguyễn Thái Luyện sau này cũng được Phạm Nhật Vượng thực hiện theo cách tương tự. Ông Vượng lập ra Công ty VMI để mua lại các bất động sản của Vinhomes (cả loại tồn kho vẫn loại trên giấy) rồi chia nhỏ ra, mỗi phần khoảng 40 triệu đồng và bán cho các nhà đầu tư. Cả Phạm Nhật Vượng và Nguyễn Thái Luyện đều lấy được tiền nhưng nhà đầu tư thì vẫn không giữ được nhà – đất mà những thứ đó vẫn ở trong tay người ra luật chơi, nhà đầu tư chỉ sở hữu tờ giấy.

Cách làm của Nguyễn Thái Luyện và Phạm Nhật Vượng đều giống nhau ở chỗ là họ huy động vốn rất triệt để. Nguyễn Thái Luyện đã vét được tiền của những người có rất ít tiền, chính vì thế mà nạn nhân của họ rất đông, hiện có hơn 4 ngàn nạn nhân bị Alibaba lừa mất tiền. Còn nạn nhân của Phạm Nhật Vượng thì chưa xuất hiện vì Phạm Nhật Vượng chỉ mới áp dụng.

Hiện tượng “chứng khoán hóa bất động sản” là cách huy động vốn tương tự như phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán. Trái phiếu doanh nghiệp bị chi phối bởi luật chứng khoán, ấy vậy mà những Tân Hoàng Minh và Vạn Thịnh Phát cũng đưa được nhà đầu tư vào tròng, trong khi đó hình thức “chứng khoán hóa bất động sản” né tránh thị trường chứng khoán tất nhiên đất diễn cho trò móc túi rất “bao la”.

Vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, phát hành cổ phiếu đều là hình thức huy động vốn của doanh nghiệp. Ngân hàng và thị trường chứng khoán được gọi là các công cụ trung gian tài chính, công cụ này bị chi phối bởi luật pháp, vì thế mà nó hạn chế được rủi ro cho nhà đầu tư. Trong khi đó, hình thức “chứng khoán hóa bất động sản” hay “chơi hụi” đều là cách huy động vốn không thông qua công cụ trung gian tài chính nên rất rủi ro.

Những năm gần đây trên thị trường xuất hiện hình thức “cho vay ngang hàng”. Cho vay ngang hàng là hình thức lập ra các trang web cho phép các cá nhân nhận được khoản vay trực tiếp từ người khác qua đó loại bỏ vai trò trung gian của các tổ chức tài chính. Cái lợi của vay ngang hàng là tiết kiệm được khoản phí trung gian, tuy nhiên, thực tế thì không như lý tưởng, những tổ chức tín dụng đen đã nấp bóng cho vay ngang hàng để bẫy khách hàng. Và lúc đó các con nợ tưởng mình được né phí trung gian nhưng lại rơi vào nanh vuốt của bọn xã hội đen.

Những ai đang có ý định đầu tư vào dự án của VMI thì cần đặt câu hỏi rằng, nếu Vin có đủ uy tín, tiềm lực tài chính đủ vững mạnh thì tại sao không huy động vốn qua công cụ trung gian tài chính mà ông lại né tránh nó? Nếu những nạn nhân của Nguyễn Thái Luyện đặt câu hỏi như thế thì hôm nay đã không hối hận.

16 điều điều thú vị về nước Úc


Úc là một trong những Quốc gia ” đáng sống nhất thế giới “ , nước Úc xinh đẹp, luôn ẩn chứa nhiều điều bất ngờ mà chúng ta chưa khám phá hết

1- Chiều rộng của Úc ngang ngửa với khoảng cách từ thủ đô Luân Đôn (Anh) chạy một mạch tới Moscow của Nga.

2- Bạn phải mất 27 năm trời để đi dạo hết các bờ biển tại Úc; với 10.000 bãi biển, đất nước này quả là thiên đường cho những ai có niềm đam mê khám phá.

3- Úc là một trong những quốc gia đa văn hóa nhất thế giới, khoảng 20% người dân sống ở Úc đã được sanh ra ở nước ngoài và 40% dân số là sự kết hợp của các chủng tộc khác nhau.

4- Có khoảng 225 ngôn ngữ được nói ở Úc. Mặc dầu tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ phổ biến và thông dụng nhất, nhưng ở từng cộng đồng di cư, tỵ nạn các ngôn ngữ như: Hy Lạp, Ý, Á rập, Việt Nam, Trung Hoa…vẫn được sử dụng thường xuyên.

5- Cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc lớn thứ 6 trong các trong các cộng đồng bạn sống ở nước này. Úc có khoảng 300.000 người Việt Nam đang sinh sống và làm việc trong đó Footscray (Cách TV Quảng Đức, Melbourne 30 phút lái xe) được xem là thủ phủ của người Việt tại tiểu bang Victoria. Khi sinh sống tại đây bạn sẽ cảm nhận được không khí quê nhà khi có các cửa hàng, quán xá mang đậm dấu ấn Việt Nam.

6- Melbourne gần như là một Athens thu nhỏ với số người Hy Lạp nhiều hơn bất cứ thủ đô nào trên thế giới. Điều này được phản ảnh rõ ràng nhất qua phong cách đậm chất Hy Lạp ở các nhà hàng tại đây.

7- Nơi duy nhất trên thế giới tìm thấy hóa thạch sống. Người ta vẫn có thể tìm thấy loài cá có phổi hóa thạch từ thời kỳ Triassic 350 triệu năm trước tại Úc, không những vậy trước khi có sự xuất hiện của con người nơi đây từng là mái nhà cho các loài dị thú như chuột túi cao 3 mét, kỳ đà dài 7 mét và những con vịt to bằng con ngựa.

8- Chỉ hơn 25 triệu dân nhưng có tới 150 triệu con cừu. Sở dĩ như vậy vì nước Úc có đến 2/3 diện tích là hoang mạc là địa điểm thích hợp cho các loài động vật hoang dã, trong khi dân số nước này hầu như sống tập trung ở một số thành phố lớn.

9- Hàng rào Dingo của Úc dài hơn cả Vạn lý trường thành. Bức tường thành 5.614 km này được xây để ngăn không cho chó hoang Dingo xâm nhập vào khu đất màu mỡ của người dân.

10- Không phải Sydney, không phải Melbourne mà là Canberra mới là thủ đô của nước Úc.

11- Khoảng 1/5 những máy đánh bạc trên thế giới ” hội tụ ” tại Úc. Người dân nước này được biết tới là những đại gia mát tay chi nhiều tiền cho việc cờ bạc nhất trên hành tinh.

12- Nếu sợ Gián bạn không nên đến Brisbane (Queensland) vào dịp 26/1. Đây được biết là ngày diễn ra cuộc thi ” đua con Gián toàn Quốc Úc “. Sự kiện này được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1982 với cái tên ” soft cocky ” các thí sinh Gián sẽ được người tham gia mang tới thi hoặc có thể mua ngay tại quầy trong khu vực.

13- Lực lượng nguy hiểm và đông nhứt trong khu vực lãnh thổ bên trong nước Úc chính là Lạc đà hoang dã. Bầy Lạc đà vô kỷ luật và đầu gấu đến nổi chánh phủ Úc phải đưa ra chương trình trị giá 19 triệu USD để đưa loài thú có bướu này vào khuôn khổ.

14- Chuột túi (Kangaroo) được chọn làm biểu tượng của nước Úc vì đây là động vật không biết đi lùi. Với tầm nhìn đó Úc trong suốt thập kỷ qua luôn tiến về phía trước.

15- Nếu đem ghép tất cả những mái bườm trên nhà hát Sydney Opera House (người Việt gọi là nhà hát con sò). Kết quả đạt được sẽ là một hình cầu tuyệt đối, ít ai hiểu rằng tòa kiến trúc độc đáo này được truyền cảm hứng khi kiến trúc sư đang ăn… MỘT QUẢ CAM.

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen 

Sau Kherson, tới Kharkiv mất điện vì các đợt tấn công của Nga – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt

Quân đội Nga hôm 16/12 đã bắn 76 tên lửa và thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào 9 cơ sở năng lượng của Ukraine, các quan chức địa phương cho biết.

“Chỉ trong vài phút, đèn bắt đầu nhấp nháy”, Anastaisa, người mẹ của một em bé hai tháng tuổi ở Kharkiv nói. “Chỉ 10 giây sau, chúng tôi mất điện, mọi thứ trở nên tĩnh lặng.”

“Hiện tại cũng không có nước vì các trạm bơm không thể hoạt động khi không có điện trong thành phố, vì vậy về mặt kỹ thuật, những gì chúng tôi có bây giờ là một thành phố không có điện và nước.”

Và Anastasia nói rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi mùa đông đến.

“Ban ngày thì vẫn ổn, có thể chịu đựng được và tôi có thể xoay sở được, nhưng khi trời tối, đó là lúc các vấn đề xảy ra vì tôi cần nhìn rõ để đong sữa và chăm sóc em bé – những điều đó thật căng thẳng,” cô nói.

Ukraine đã cáo buộc Nga “vũ khí hóa mùa đông” bằng cách tấn công các cơ sở năng lượng thiết yếu, vì nhiệt độ ở phần lớn đất nước này đang ở mức dưới mức đóng băng.

https://bbc.in/3uVgy19

BBC.COM

Sau Kherson, tới Kharkiv mất điện vì các đợt tấn công của Nga – BBC News Tiếng Việt

Haiti – Sổ tay thường dân-Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

Cũng như bao nhiêu đồng loại (và sinh vật) khác, với thời gian, mỗi lúc tôi một thêm già nua và cằn cỗi. Lưng còng, tóc bạc, da mồi, mắt mờ, tai điếc, răng long … thì đã đành rồi; não bộ, trí óc, trí tuệ, trí́ tưởng, trí nhớ … cũng mỗi ngày một thêm đù đờ/lờ quờ và mù mờ thì (hơi) khó đành hơn – chút xíu!

Bữa rồi đọc được một bài báo ngắn (Lời Nguyền Haiti”) của tác giả Đặng Văn Dũng, về cuộc khởi nghĩa ở xứ sở Haiti, tôi lờ mờ cảm thấy có nhiều điểm quen quen nhưng cố gắng mãi cũng không thể nhớ được là (hình như) mình cũng đã từng biết về một cuộc cách mạng từa tựa thế – xẩy ra ở đâu đó – rồi thì phải?

Cố gắng mãi cũng hoài công (và chỉ thêm nhức đầu nhức óc thôi) nên tôi quyết định cứ ghi lại vài điểm chính, của bài viết thượng dẫn, với hy vọng là sẽ có độc giả nhận ra được vụ này:

Haiti là nước độc lập sớm nhất tại Mỹ la tinh (1804) và là cuộc khởi nghĩa nô lệ thành công duy nhất trong thời cận đại. Lúc đó tại Haiti có khoảng 450 ngàn nô lệ da đen và 32 ngàn người da trắng…

Chuyện gì đến sẽ phải đến, các nô lệ da đen đã ngay lập tức thiết lập nền chuyên chính vô sản của mình. Trong năm 1804 họ đã thảm sát 5000 người da trắng, không cho phép người da trắng được sở hữu tài sản tại Haiti và cuối cùng là trục xuất toàn bộ người da trắng khỏi Haiti.

Các ông chủ da đen mới không biết gì về kinh doanh, làm giàu, cũng như không hiểu gì các khái niệm như phát triển đất nước, nâng cao dân trí, khai sáng dân tộc… lôi thôi của bọn da trắng.

Họ ra sức chiếm đoạt, vơ vét cho bản thân mình, đàn áp giết chóc thả cửa mọi loại thù địch mà chủ yếu là đồng bào của chính họ. Họ hết xưng là thủ lĩnh, toàn quyền rồi hoàng đế… các trang trại mía đường, cafe được chia cho các chiến binh và những người này lập tức chuyển sang trồng khoai, sắn, lạc… những thứ đủ cho cuộc sống hàng ngày của họ.

Trồng mía lôi thôi hơn, phải chế biến thành đường rồi xuất khẩu mà việc này chỉ bọn da trắng biết làm. Có thể nói sau khi độc lập, nước Haiti của nô lệ giải phóng, hoàn toàn không có tầng lớp tinh hoa. Trước đây các bác sỹ da trắng chữa bệnh thì sau cách mạng việc chữa bệnh là của thày phù thuỷ, chưa nói đến các kiến thức khác… Hễ ai có sáng kiến làm giàu một chút lập tức bị quan chức tước đoạt hết. Từ một nền kinh tế nông nghiệp xuất khẩu giàu có Haiti trở thành một nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp vì căn cứ văn hoá của phát triển đã bị trục xuất khỏi Haiti cùng với thành phần tinh hoa của xã hội…

Đất nước Haiti không thể tiến lên được vì họ thiếu hẳn tầng lớp tinh hoa làm hạt nhân tinh thần cho dân tôc. Ngày nay, 80% sinh viên Haiti tốt nghiệp đại học di cư ra nước ngoài; 50% dân số mù chữ. Haiti thật sự là địa ngục của chậm phát triển và lời nguyền của độc lập…

Một đất nước được thành lập và cai trị bởi các nô lệ ưa bạo lực và mù quáng đã không thể phát triển lên được vì đã huỷ hoại đi nền tảng tinh thần của phát triển. Thật kỳ khôi là điều này lại được lặp lại với nước Zimbawe. Từ một đất nước Rodesia đang phát triển của thiểu số da trắng trở thành đất nước Zimbawe cách mạng của đa số da đen, lụn bại và phụ thuộc vào Trung Quốc.

Dốt nát và độc tài không bao giờ đồng hành với phát triển. Phát triển có đạo lý riêng của nó; đó là: công bằng, minh bạch, khai sáng, dân chủ và tự do dân sự!

Thật là may mắn và kỳ diệu!

Những câu chữ dẫn thượng của tác giả Đặng Dũng vừa mới được đưa lên FB (chưa đến 30 giây) là đã có phản hồi tức khắc: “Ủa! Sao giống y chang như cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam vậy cà?”

Ơn Trời!

Tưởng vụ gì khác chớ chuyện cách mạng ở xứ sở mình thì tui rành (sáu câu) nên nói là “giống y chang” thì e không đúng đâu. Cũng có vài điểm dị biệt (nho nhỏ) chớ:

  • Trong năm 1804 họ đã thảm sát 5000 người da trắng, không cho phép người da trắng được sở hữu tài sản tại Haiti và cuối cùng là trục xuất toàn bộ người da trắng khỏi Haiti. Cách mạng Việt Nam thì không hề “thảm sát” hay “trục xuất” một người da trắng nào sất. Thay vào đó, họ giết chết đâu cỡ gần hai trăm ngàn nông dân (vì bị quy là thành phần địa chủ) trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất xẩy ra hồi 1953 – 1956. Qua tới 1975 thì họ nhốt tù dài hạn cả triệu binh lính VNCH mà không qua một phiên toà nào ráo.

Còn trong vụ “trục xuất” cái đám người “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” ra khỏi Việt Nam (bằng hình thức vượt biên) thì thiên hạ ước đoán là đã có chừng vài trăm ngàn thuyền nhân vùi thây trong lòng biển cả (*).

  • Họ hết xưng là thủ lĩnh, toàn quyền rồi hoàng đế… các trang trại mía đường, cafe được chia cho các chiến binh và những người này lập tức chuyển sang trồng khoai, sắn, lạc… những thứ đủ cho cuộc sống hàng ngày của họ. Việt Nam thì không đến nỗi kém văn minh tới cỡ đó đâu. Tất cả mọi chức vụ mà các đồng chí lãnh đạo cách mạng cấp cao đảm trách (liên tu bất tận, từ thập niên này qua thập niên khác) đều qua bầu bán đàng hoàng, và họ luôn luôn được từ 95 đến 99 phần trăm cử tri tín nhiệm.

Thêm chút khác biệt nữa là sau khi cách mạng thành công thì đất đai bỗng trở thành là tài sản của toàn dân nên khỏi cần chia chác gì hết. Bởi thế  mới có cảnh nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng,” và hình ảnh của các cựu chiến binh… : Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ/  Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ/ Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ !

  • Ngày nay, 80% sinh viên Haiti tốt nghiệp đại học di cư ra nước ngoài… Đại đa số sinh viên Việt Nam thì lại khác. Họ chọn lựa ở lại để phục vụ quê hương đất nước, trong lãnh vực giao thông vận tải, bằng cách chạy… Grabike.

Ngoài những tiểu dị trên thì Haiti và Việt Nam lại có một điểm tương đồng lớn:

Đất nước Haiti ngày càng điêu tàn, tài nguyên bị phá sạch, đất đai bạc màu dần. Những người lãnh đạo vơ vét tất cả những gì có thể vơ vét được còn nhân dân Haiti thì rơi xuống tận cùng của khốn khó …

TNT

(*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.
  • Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
    • The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

Vì Sao Tôi Không Về Việt Nam Sống? – Nguyễn Tuấn

Kimtrong Lam

Vì Sao Tôi Không Về Việt Nam Sống?

Nguyễn Tuấn

Thỉnh thoảng, một số bạn của tôi ở Việt Nam (và cả ở nước ngoài) hỏi rằng mai kia mốt nọ khi nghỉ hưu tôi có về Việt Nam sống không. Tôi có khi cũng nghĩ đến câu hỏi này, và lần nào thì câu trả lời đều là KHÔNG. Có lẽ cuộc sống ở đây khổ cực, nhưng tôi đã quen với cực khổ rồi, và đã nhận đây là quê hương thứ hai rồi.

Có lẽ các bạn ngạc nhiên hỏi: Ủa, cuộc sống ở Úc cực khổ à? Thì, tôi nói như vậy là theo một nhận xét của một anh ca sĩ đình đám trong nước thôi. Anh ấy từng đi nước ngoài như đi chợ, và có dịp quan sát nhiều nên có thể so sánh. Anh ấy nói rằng cuộc sống ở Việt Nam ‘sướng hơn nước ngoài nhiều’.

Sướng như thế nào? Anh ấy nhận xét rằng ở Việt Nam ngày nay cái gì cũng có, muốn gì cũng có, kể cả mướn tài xế riêng và mướn người giúp việc. Anh ấy đi nhiều nơi và có dịp so sánh, và đi đến nhận định rằng ở Việt Nam cái gì cũng nổi trội: bar hay club thì đẹp, máy bay thì bự, điện thoại thì toàn thứ xịn, mĩ phẩm thì toàn hạng nhứt, v.v. (Mấy cái này thì Úc tôi đúng là kém hơn Việt Nam thiệt.)

Những nhận xét trên của anh ca sĩ cũng được độc giả trong nước đồng tình. Có độc giả viết rằng ai chưa đi nước ngoài thì mong ước được đi, nhưng đi rồi thì mới thấy Việt Nam mình là sướng nhứt. Sướng như thế nào? Theo độc giả này, sướng là “Ở Việt Nam muốn ăn gì cũng có, bước chân ra khỏi nhà là có đồ để ăn, lai còn ăn ngon. Ra nước ngoài đi kiếm đồ ăn phải chay xe vòng vòng rồi gửi xe này nọ rất là rắc rối.”

Phải nói rằng đọc những dòng trên tôi mới biết rằng mình đã quá khổ đau trong 40 năm qua. Mình khổ mà mình không hề biết! Thiệt là tội nghiệp vậy.

Vậy mà tôi không về Việt Nam sống?

Nhiều khi tôi tự phân tích câu hỏi trên, và đi đến nhận xét rằng mình sống đâu phải vì vật chất. Tôi không có nhu cầu đi máy bay bự, vào club đẹp, xài điện thoại mắc tiền, xức nước bông ngàn đô. Không có những nhu cầu đó. Nhưng tôi muốn sống trong một môi trường thân thiện và xanh tươi, và trong một xã hội mà:

  • người với người tin tưởng nhau, không đòi phải có con mộc đỏ hay gì đó;
  • người với người thương yêu và giúp đỡ nhau mà không hề hỏi vì động cơ gì;
  • không ai phải mệt mỏi với ‘ghen ăn tức ở’;
  • bình đẳng, không ai phải ‘cạnh tranh’ với 5C (con cháu các cụ cả);
  • không ai phải bị đày đoạ vì khác chánh kiến;
  • không ai phải đi tù 23 năm 6 tháng vì câu nói ‘ngu như bò’;
  • không ai phải mua chức bán quyền;
  • công chức nhà nước là đầy tớ thực sự cho dân;
  • người trí thức có trách nhiệm với xã hội và cộng đồng, chứ không xu phụ nhà cầm quyền;
  • chánh phủ và cảnh sát biết sợ dân;
  • luật pháp vừa nhân đạo vừa nghiêm minh;
  • không phải bị tra tấn tinh thần bằng những khẩu hiệu nhồi sọ;
  • vân vân.

Và, tôi chợt nhận ra một trong những điều trên qua vụ việc liên quan đến ông cụ Danny Lim và mới đây là vụ Chánh phủ tiểu bang New South Wales phải hoàn trả hơn 10 triệu đôla cho những người bị cảnh sát phạt trong thời gian phong toả vì dịch covid.

Trong thời gian phong toả, cảnh sát NSW đã phạt hơn 62000 người. Một số bị phạt đến 3000 đôla chỉ vì đứng xếp hàng cách nhau dưới 1.5 m! Ngay lúc đó, đã có người phê phán cảnh sát là mất nhân tánh. Một số luật sư doạ rằng họ sẽ kiện chánh phủ ra toà.

Quả thật, đã có một nhóm luật sư kiện chánh phủ NSW ra toà, vì họ lí giải rằng chủ trương đó là vi hiến hay vi phạm luật pháp gì đó. Và, họ đã đúng. Hôm qua, chánh phủ NSW thú nhận rằng họ đã sai, và toà án ra lệnh chánh phủ phải trả lại tiền cho hơn 33,000 người bị phạt. Số tiền phải hoàn trả lên đến hơn 10 triệu AUD.

Các luật sư cho biết số còn lại (khoảng 32000 người bị phạt) thì còn trong vòng tranh cãi. Hiện nay, những người này vẫn phải trả tiền phạt, nhưng nếu toà án phán việc phạt là bất hợp pháp thì chánh phủ cũng phải hoàn trả tiền cho họ.

Tôi nghĩ trong tương lai, chánh phủ sẽ còn phải ra toà về chủ trương ép buộc tiêm vaccine.

Chúc mừng các bạn tôi đã bị phạt trong thời gian lockdown và được hoàn tiền! Cám ơn các luật sư đã đem lại lẽ phải cho nạn nhân bị phạt.

Phải nói là qua vài sự việc trên tôi nhận ra rằng sống trong một xã hội thượng tôn pháp luật và dân chủ (như Úc này) thiệt là một ‘privilege’. Giá trị của một xã hội không phải phản ảnh qua vật chất mà xã hội đó chỉ lệ thuộc vào nước ngoài (như máy bay bự, siêu xe, quán bar đẹp, điện thoại mắc tiền, nước bông ngàn đô), mà là qua chất lượng sống và con người cư xử với nhau trong tình thân.

Hình: “Only a life lived for others is a life worthwhile” (có thể hiểu là: Sống để phụng sự người khác là một cuộc sống đáng sống).

Nguồn: Fb Nguyễn Tuấn

Thầy giơ tay lên! – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Chuyện rằng: “Cô ấy dạy Toán ở thành phố Malappuram thuộc tiểu bang Kerala bên Ấn Ðộ. Một ngày nọ, học trò của cô nhìn thấy một người ăn xin gần ga xe lửa. Và sau đó, người học trò đó nhận ra người ăn xin đó đã từng dạy lớp của mình.

Cô ấy nói: “Sau khi về hưu, các con tôi đã bỏ tôi đi. Từ đó, tôi không biết về cuộc sống của chúng” Vì vậy, để sống còn, tôi bắt đầu ăn xin trước Ga xe lửa.

Nghe xong, người học trò cũ khóc và đưa cô về nhà mình. Em cho cô ấy ăn, cho cô ấy mặc.

Con của cô đã bỏ đi; nhưng những đứa trẻ ngày xưa ấy từng được cô dạy dỗ sẽ không bỏ cô. Ðó là sự vĩ đại của nghĩa ân sư.

Ở nước ta, thời triều Nguyễn, cũng có một câu chuyện cảm động như thế. Năm 1862, ông Phan Thanh Giản vào Nam nhậm chức Kinh lược sứ ba tỉnh: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Ðến Gia Ðịnh, ông ghé Gò Vấp thăm tôn sư Võ Trường Toản. Khi gần đến lều tranh của thầy, ông truyền xếp võng điều và lọng lại. Ông xuống đi bộ vào bái thăm thầy để hàn huyên ấm lạnh. Lúc bái tạ ra đi, ông dâng cho tôn sư hai nén bạc để uống trà. Tôn sư cho ông một chục bắp. Ông Phan Thanh Giản tự mình xách, không để lính hầu cầm. Ông đi bộ một đỗi xa mới dám lên lại võng lọng. Dẫu làm quan lớn, Kinh lược sứ ba tỉnh Miền Tây, ông Phan Thanh Giản vẫn giữ trọn đạo nghĩa tôn sư.

Ông Phan Thanh Giản 

Nhưng sau 75, cái truyền thống đáng quý nầy trong thời quỷ lộng thần suy không còn nữa.

Chuyện rằng: “Có một ông thầy tên Xuân dạy lớp đệ tam ở một trường trung học tại một huyện thuộc Vĩnh Long. Thầy rất ngạc nhiên vì trong lớp thầy có một em học sinh lúc nào cũng ngủ gục trong lớp. Một bữa, vui miệng thầy hỏi em: “Bộ ban đêm đi đắp mô sao mà thiếu ngủ vậy?!)

Sau ngày 30 tháng Tư, đứa học trò đó làm Chủ tịch huyện. Thầy Xuân bị bắt đi học tập cải tạo trên 3 năm vì cái tội làm thầy giáo mà còn làm cho “xịa” (CIA). Nếu không làm cho CIA, thì làm sao thầy biết tối nào thằng học trò đó cũng đi đắp mô?

Ông độc giả nầy kể xong rồi còn thòng thêm câu: “Chuyện có thật 72 phần dầu đấy nhé!” Chắc ông sợ tui nghĩ làm sao có một đứa học trò trời đánh thánh đâm, tàn nhẫn với thầy cũ của mình như vậy chớ?

Nói nào ngay, nghe xong là tui tin ngay đó là chuyện thật. Vì cách nay chừng hơn chục năm, một ông Phó Giáo sư ngoài Hà Nội có kể một câu chuyện như vầy: “Có một tay đã học và đã tốt nghiệp ở một trường Ðại Học loại có tiếng ở nước ta. (Nước ta xin quý độc giả hiểu là nước VNCS). Sau khi ra trường mấy năm, không hiểu trời xui đất khiến hay tổ tiên phù hộ, độ trì gì đó mà hắn được ‘bắn’ sang một nước ngoài nào đấy sinh sống và làm ăn. Rồi nghe nói: hắn ta dần dần nổi tiếng; trở thành một đấng trượng phu?!

Cô giáo dạy toán Ấn Độ và các học trò 

Rồi hắn muốn về nước chơi, thăm thú quê hương, mong góp sức mình cho đất nước trong thời kỳ đổi mới. Hắn về thăm lại trường xưa, vinh quy bái tổ. Hắn muốn có một cuộc ‘giao lưu’ với thầy, cô giáo cũ.

Cuộc họp cũng không ít người. Các bạn trẻ đến vì tò mò. Các thầy giáo già đến vì muốn xem mặt học trò cũ mà trước đây mình không chú ý nên không nhớ ra.

Sau vài câu xã giao thường lệ, con người thành đạt ấy dừng một lúc để mọi người tập trung chú ý và hỏi: “Ai đã từng dạy tôi thì giơ tay!”. Phòng họp đột nhiên im lặng như tờ. Không một cánh tay khẳng khiu nào giơ lên. Rồi có tiếng bàn ghế di chuyển. Các thầy cô giáo cúi đầu lẳng lặng ra về”

Ối! ông phó Giáo sư chỉ kể chuyện một con cắc ké. Tui chơi ngon hơn, tui kể chuyện con kỳ nhông. Chuyện rằng: Ông Quang Ðại tướng, Chủ tịch nước về Kim Sơn, Ninh Bình thăm thầy cũ. Cờ xí rợp trời. Kèn trống tưng bừng. Dân cả huyện, cả làng đi rước Ngài Chủ tịch nước vinh quy bái tổ.

Trò cũ lịch bịch như con vịt, vì mập quá, leo lên bục quơ tay chém gió, vừa dạy bảo các thầy cô của ngôi trường mình đã từng theo học là hãy thi đua dạy tốt và học tốt. Còn thầy cũ thì đáp từ phát biểu cảm tưởng: “Dạ thưa Ngài Chủ tịch nước! Ngày xưa, người thường hay trốn học, tụ tập với bọn chăn trâu, lấy cờ lau tập trận như ông Ðinh Bộ Lĩnh rồi làm nên nghiệp bá.”

Phùng Xuân Nhạ Bộ trưởng Giáo Dục cộng sản bắt tay thầy giáo cũ  facebook

Ông Phó Giáo sư Hà Nội chắc cũng có thấy, có nghe, có đọc chuyện tụi bồi bút viết kiếm cơm. Nhưng ông nín khe không dám phê bình ông Chủ tịch. Vì ngu sao mà chọc vô ổ kiến lửa. Ðừng xúi bậy nhe cha!

Ông Phó Giáo sư Hà Nội chỉ dám nghĩ: “Cho dù người học trò cũ có làm ông to, ăn trên ngồi trốc thì đối với người thầy cũ, mình vẫn phải khiêm cung”

Rồi ông Phó Giáo sư kể chuyện đời của tớ: “Tôi nhớ người thầy đã dạy tôi bài học tôn sư trọng đạo ấy ở ngôi trường làng”. “Thầy thường đánh vào mông tôi; mỗi khi tôi viết sai chính tả hoặc làm ồn trong lớp.” “Tôi cứ mong ước một ngày nào đó, tôi sẽ quay về đúng cái lớp học này, mở cửa bước vào. Tui không chỉ cúi đầu như ông Tổng thống nước Pháp Francois Carnot. Tôi sẽ quỳ xuống trước mặt thầy và nói: “Thưa thầy! Thầy còn nhớ con không?”.“Tôi không dám mất dạy, hỗn hào hỏi: “Ai đã từng có dạy tôi thì giơ tay lên.”

Một em độc giả thân mến của tui lại cắc cớ, thắc mắc: “Ờ tụi CS nó về thăm Thầy cũ là vậy. Còn anh, sao tui hổng thấy bài viết nào, anh thuật lại chuyện tưng bừng về thăm trường cũ hết vậy anh?

Tui cười khè khè, trả lời: “Tui giống ngài Tổng Bí Thư Lê Duẩn, chưa có đi học ngày nào thì làm sao có trường cũ, thầy cũ để về thăm để nổ, để khoe, để kêu ai từng có dạy tui thì giơ tay lên cho được?”

Hỏi thiệt ngặt, ông bạn tui mà chơi tao! Vạch cái dốt của tui ra cho thiên hạ cười? Thiệt làm tan nát lòng tui! He he!

ĐXT

From: Tu-Phung