RẤT ĐỖI VUI MỪNG

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Vào thời Đức Giêsu, phụ nữ không được coi trọng.  Với truyền thống văn hóa của người Do-thái thời đó, Đức Giêsu không thể gọi một nhóm phụ nữ đi theo mình khắp nơi để làm môn đệ.  Tuy nhiên, vẫn có một nhóm phụ nữ vùng Galilê mộ mến và chịu ơn Thầy Giêsu, nên đã đi theo Thầy.

Họ đã có mặt bên Thầy trong những ngày cuối.  Họ đã theo Thầy trên suốt chặng Đàng Thánh Giá, trong khi các môn đệ nam bỏ trốn vì sợ liên lụy, các bà đã đứng xa nhìn Thầy chịu đóng đinh.  Họ đã chăm chú xem ông Giô-xếp tẩn liệm Thầy trong ngôi mộ mới, đục sâu vào núi đá, và họ đã ngồi ngắm nhìn ngôi mộ (Mt 27,55-61).

Biến cố Thầy chịu đóng đinh là một biến cố kinh hoàng, vượt sức chịu đựng của các phụ nữ.  Họ đã trải qua một đêm thứ sáu và thứ bảy thật dài, mong ngóng mau hết ngày sa-bát để ra thăm mộ.  Ngôi mộ là nơi tập trung tất cả tình thương của họ.  Người ta đã giết Thầy rồi, xác Thầy là điều duy nhất họ còn giữ được.

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, hai bà Maria là những phụ nữ đầu tiên ra viếng mộ.  Đơn giản họ muốn được gần xác Thầy, để khóc than, để nhớ thương, tiếc nuối…  Họ vẫn chưa hết bàng hoàng về chuyện đã xảy ra.  Cái chết của Thầy làm đức tin họ bị xao động.

Tại sao Thiên Chúa lại để cho xảy ra chuyện đó?  Khi đến mộ, các bà chẳng ngờ những gì sẽ xảy ra ở đây.  Đây không còn là ngôi mộ, với phiến đá to chắn ở cửa, vì bỗng nhiên mặt đất rung chuyển dữ dội, và phiến đá bị một vị thiên sứ lăn qua một bên.  Cửa mộ mở tung, cho thấy rõ những gì trong mộ.

Vị thiên sứ mang dáng vẻ của người thuộc thiên giới.  Cả khuôn mặt lẫn y phục đều bừng sáng trắng tinh.  Vị này khuyên các bà đừng sợ.  Thiên sứ tỏ ra hiểu biết lý do khiến các bà đến mộ: “Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh.”  Thiên sứ giải thích tại sao ngôi mộ lại không còn xác Thầy: “Người không có ở đây, vì Người đã được phục sinh.”  Thiên sứ còn mời các bà lại gần chỗ đã đặt xác: “Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm.”  Nhưng quan trọng nhất là câu nói sau của vị thiên sứ: “Rồi các bà hãy đi cho nhanh, và nói với các môn đệ: Người đã được phục sinh từ cõi chết.”

Đây là Tin Mừng cho các bà còn đứng đó phân vân.  Thầy Giêsu đã sống lại thật rồi, đã ra khỏi mộ rồi.  Các bà có bổn phận báo cho các môn đệ biết tin đó.  Họ trở thành những sứ giả đầu tiên đi loan báo Tin Mừng.  Họ cũng phải nhắc lại cái hẹn của Thầy Giêsu với môn đệ: “Người đến Galilê trước các ông, ở đó các ông sẽ gặp Người.”

Các phụ nữ thành cầu nối để Thầy phục sinh gặp lại trò cũ.  Vừa sợ, vừa vui, nhưng vui thì lớn hơn sợ nhiều lần, các bà nhanh chóng rời khỏi ngôi mộ mà họ quyến luyến.  Họ có một sứ mạng lớn lao và khẩn trương, khiến họ phải chạy nhanh cho kịp.  Chẳng ai ngờ trên đường đến với các môn đệ thì họ lại gặp chính Thầy Giêsu phục sinh, hay đúng hơn, chính Thầy đón gặp họ trên đường.

Thầy là người mở lời chào: “Chị em hãy vui lên!”  Có vẻ các bà nhận ra Thầy ngay, vị Thầy mà họ thấy chết trên thập giá đã ba ngày rồi, đã được chôn, và họ đã không thấy xác nằm ở mộ nữa.  Bây giờ vị Thầy ấy đang đứng trước mặt họ.  Lòng họ đầy nỗi sợ hãi cùng với niềm vui khôn tả.  Nhưng họ không thể cưỡng được chuyện lại gần Thầy, bái lạy Thầy và ôm lấy chân.

Thầy đã phục sinh thật rồi, đúng như lời thiên sứ nói.  Đây không phải là một thị kiến, hay một giấc mơ.  Thầy không phải là một bóng ma hay ảo ảnh.  Chẳng những họ được thấy mà còn được chạm vào Thầy.  Thầy lại nhắc họ đi báo Tin Mừng Thầy được phục sinh cho các môn đệ, mà Ngài gọi là “anh em của Thầy.”

Đức Giêsu không nhắc đến những vấp ngã của các ông.  Ngài muốn làm hòa với họ và nối lại mối dây thân thiết.  Bài Tin Mừng trong lễ Vọng Phục sinh thật là vui.  Hai phụ nữ đã trải qua bao kinh nghiệm thiêng liêng, bao cung bậc của tình cảm, từ sợ hãi đến vui mừng, và cuối cùng là niềm hạnh phúc ngây ngất vì gặp Chúa.

Họ đi tìm xác Thầy, nhưng lại gặp Thầy đang sống.  Nước mắt đớn đau từ hai ngày qua được Thầy lau khô.  Hôm nay, Chúa phục sinh cũng đón chúng ta trên đường, khi chúng ta đang tìm kiếm, khổ đau, mất mát, thất vọng.  Chỉ cần nghe tiếng chào của Ngài là con tim sẽ vui trở lại.  Chỉ cần lại gần Ngài, chúng ta sẽ nói được: Ha-lê-lui-ya.

******

Lạy Chúa Giêsu phục sinhChúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa, xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con.  Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.  Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.  Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.  Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.  Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.  Vượt qua những thành kiến con có về người khác…  Chính vì Chúa đã phục sinh nên con vui sướng và can đảm vượt qua, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.  Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng, tin tưởng và niềm vui.  Ước gì ai gặp con cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Năm 2023

Nếu có thể…

Nếu có thể…

Nếu có thể, để nỗi buồn ngoài cửa

Giữ tâm an rồi hãy bước vào nhà

Như giày dép dẫu bao nhiêu bùn đất

Để hiên nhà sau mỗi dặm đường xa!

Nếu có thể, đừng giận hờn trách móc

Chuyện áo cơm cũng đủ mệt nhọc rồi

Khi lòng thấy có muộn phiền ấm ức

Mình nhẹ nhàng ngồi xuống bảo nhau thôi!

Nếu có thể, đừng than thân trách phận

Ở ngoài kia còn bao kẻ khốn cùng

Còn sức khoẻ là mình còn hy vọng

Đừng tự dọa mình rồi suy nghĩ lung tung!

Nếu có thể, thương nhau thêm một chút

Nay bên nhau mai chưa chắc đã còn

Đời dài ngắn nào đâu ai biết được

Trông đợi gì câu hẹn biển thề non!

Nếu có thể, nhường nhịn nhau một chút

Tranh phần hơn nào được lợi ích gì

Chịu thua thiệt không phải là nhu nhược

Chẳng truy cầu thì hà tất phải sân si

Nếu có thể, chúng mình cùng cố gắng

Sống bao dung, đừng tính toán chi nhiều

Tâm rộng mở, không gì là không thể

Hãy nhìn đời bằng đôi mắt thương yêu!

ST.

From: TRUONG LE

ĐÓNG ĐINH MỘT VỊ THẦN-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần Thánh, TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính Tôi đây!”.

Heywood Broun nói, “Không ai luôn nói về Chúa cho bằng những người cho rằng, ‘Không có Ngài!’”. Một nhà tu đức khác thì nói, “Không ai biết Đức Giêsu là Chúa mà lại đóng đinh Ngài! Nhưng, với ai tin Giêsu, mỗi lần phạm tội trọng, là họ đóng đinh Ngài; ‘đóng đinh một vị Thần!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Ghi lại Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, chỉ một mình Gioan có được lời khẳng định tuyệt vời của Ngài, “Chính Tôi đây!”. Khẳng định này đưa chúng ta về với một sự thật vô cùng quan trọng. Rằng, Ngài là Thiên Chúa! Vì thế, đóng đinh Giêsu, nhân loại ‘đóng đinh một vị Thần!’.

“Chính Tôi đây!”, “Chính là Ta!”, “Tôi Là!”, hay “Tôi Hằng Hữu!” là những ‘danh xưng’ chỉ dành cho Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã sử dụng danh hiệu này để mặc khải chính Ngài cho Môisen trên núi Sinai. Kitô giáo sử dụng nó để nói về Đấng tạo dựng muôn loài, nghĩa là tất cả mọi vật hiện hữu. Tuyệt vời thay, “Chính Tôi đây!” cũng là lời mà Chúa Giêsu công khai tuyên bố trước quân dữ. Như vậy, chẳng vô tình chút nào, Ngài muốn công khai thần tính của Ngài! Vì lý do đó, Gioan viết, “Nghe thế, họ giật lùi lại và ngã xuống đất!”. Suy gẫm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, chúng ta đừng bao giờ quên thần tính của Ngài; Ngài là một Thiên Chúa bị đóng đinh, cũng là Đấng Cứu Độ Thế Giới, một thế giới trong đó con người ‘đóng đinh một vị Thần!’.

Thú vị thay! Cũng trong bối cảnh này, Phêrô tuyên bố một lời ngược lại hoàn toàn, một lời ‘không thể phàm nhân hơn’: “Không phải tôi!”. Đó là lời nói dối của ông trước một cô gái. Mỉa mai thay, không phải trước một bà hoàng, nhưng trước một đầy tớ! “Không phải tôi” là ‘nội hàm’ cho tất cả yếu đuối và mỏng giòn nhất của con người; Phêrô là đại diện cho mỗi người chúng ta. Khi làm vậy, Phêrô xác nhận sự yếu hèn của bản thân cũng như nhu cầu của mình đối với ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Về điểm này, bạn và tôi nên đồng ý với Phêrô!

Bối cảnh thương khó của Chúa Giêsu đặt liền kề việc chối Thầy của Phêrô và bản án thập giá của Ngài. Mặc dù cái chết của Chúa Giêsu vẫn sẽ xảy ra nếu không có sự chối Thầy của Phêrô; nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tác động đến ông. Ngài đã chết thay cho Phêrô và tất cả mọi người; qua đó, Ngài cứu cả nhân loại khỏi mọi tội lỗi. Sự thiếu đức tin và tình yêu  Phêrô không thay đổi được điều đó; nhưng một khi Phêrô quay trở lại và tin, ông nhận ra rằng, Chúa Giêsu đã làm tất cả cho ông. Từ đó, Phêrô loan báo chân lý này thật xa và thật rộng! Rằng, “Anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ mà đóng đinh Ngài vào thập giá” khác nào ‘đóng đinh một vị Thần’. Nhưng “Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại; đặt Ngài làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô!”. Tác phẩm “Thập Giá Chiến Thắng” của Janice Alexander đã vẽ Ngài vui mừng, như một vị Vua đang dang tay ôm lấy cả nhân loại.

Anh Chị em,

“Chính Tôi đây!”. Khẳng định của Chúa Giêsu nói lên tất cả! Ngài là Thiên Chúa, Ngôi Lời làm người, sống dưới chế độ lề luật của con người, và chết bởi lề luật của nó. Ngài chấp nhận bản án, chấp nhận cho nó ‘đóng đinh một vị Thần’. Thế nhưng, chính nhờ sự chết và những đau khổ Ngài chịu, nhân loại nhận được công chính hoá. Đó là đường lối khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa. Ngài là vị Thiên Sai mà Chúa Cha đã phán, “Tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy mọi tội ác của họ” như Isaia tiên báo qua bài đọc hôm nay; cũng là Đấng mà tác giả thư Do Thái hôm nay tuyên xưng, “Con Thiên Chúa trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Ngài”; hoặc đó còn là Đấng gọi Thiên Chúa là Cha như Thánh Vịnh đáp ca diễn tả, “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mỗi lần phạm tội, con đóng đinh Chúa, ‘đóng đinh một vị Thần!’. Như Phêrô, xin giúp con kiên trì xây dựng lại bản chất thứ hai; đó là khả năng thống hối và quay trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Phóng sự Nga: Sĩ quan phản chiến trong đội an ninh tinh nhuệ của Putin đã đào tẩu

Báo Tiếng Dân

AP

Tác giả: Erika Kinetz

Cù Tuấn biên dịch

5-4-2023

LONDON (AP) — Vào ngày 14 tháng 10, một kỹ sư người Nga tên là Gleb Karakulov đáp chuyến bay từ Kazakhstan đến Thổ Nhĩ Kỳ cùng vợ và con gái. Anh tắt điện thoại để không phải xem những tin nhắn khẩn cấp và tức giận, nói lời tạm biệt với cuộc sống ở Nga và cố gắng làm dịu trái tim đang đập nhanh của mình.

Nhưng đây không phải là một người Nga đào thoát bình thường. Karakulov là một sĩ quan trong cơ quan an ninh cá nhân ưu tú bí mật của Tổng thống Vladimir Putin – một trong số ít người Nga bỏ trốn công khai có cấp bậc, cũng như biết về các chi tiết thân mật về cuộc đời của Putin và các thông tin mật.

Karakulov, người chịu trách nhiệm về thông tin liên lạc an toàn, cho biết sự phản đối về mặt đạo đức đối với cuộc xâm lược Ukraine của Nga và nỗi sợ chết ở đó đã khiến anh phải lên tiếng, bất chấp rủi ro cho bản thân và gia đình.

Anh nói: “Tổng thống của chúng tôi đã trở thành tội phạm chiến tranh. Đã đến lúc kết thúc cuộc chiến này và ngừng im lặng”.

Lời kể của Karakulov nhìn chung phù hợp với những lời kể khác đã miêu tả tổng thống Nga là một nhà lãnh đạo từng có sức thu hút nhưng ngày càng bị cô lập, người không sử dụng điện thoại di động hoặc internet và khăng khăng đòi quyền được xem truyền hình nhà nước Nga ở bất cứ đâu.

Karakulov cũng đưa ra những chi tiết mới về chứng hoang tưởng của Putin dường như đã trở nên sâu sắc như thế nào kể từ khi ông ta quyết định xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022. Putin hiện tại tránh dùng máy bay và đi trên một đoàn tàu bọc thép đặc biệt, và Putin đã ra lệnh xây boong-ke tại Đại sứ quán Nga ở Kazakhstan đã trang bị một đường dây liên lạc an toàn vào tháng 10 – lần đầu tiên Karakulov đã trả lời như vậy.

Một quan chức xuất thân từ ngành an ninh của một quốc gia NATO, người đã nói với điều kiện giấu tên để thảo luận về các vấn đề chính trị nhạy cảm, cho biết một vụ đào tẩu như của Karakulov “được quan tâm rất nhiều”.

Ông nói: “Đó sẽ được coi là một đòn rất nghiêm trọng đối với bản thân Tổng thống vì ông ấy cực kỳ quan tâm đến vấn đề an ninh của mình và an ninh của ông ấy lại bị xâm phạm“.

Điện Kremlin đã không trả lời các yêu cầu bình luận. Cha hay anh trai của Karakulov cũng vậy.

Là một kỹ sư trong một đơn vị hiện trường của bộ phận truyền thông tổng thống của Cơ quan Bảo vệ Liên bang, hay FSO, Karakulov chịu trách nhiệm thiết lập thông tin liên lạc an toàn cho tổng thống và thủ tướng Nga ở bất cứ nơi nào họ đến. Mặc dù không phải là người thân tín của Putin, nhưng Karakulov đã dành nhiều năm phục vụ cho Putin, quan sát ông ta từ những khoảng cách gần bất thường từ năm 2009 đến cuối năm 2022.

Karakulov, vợ và con của anh ấy đã rút vào bí mật và không thể nói chuyện trực tiếp với họ do những hạn chế về an ninh.

Trung tâm Dossier, một nhóm điều tra có trụ sở tại London được tài trợ bởi nhân vật đối lập người Nga Mikhail Khodorkovsky, đã phỏng vấn Karakulov nhiều lần và chia sẻ video và bản ghi hơn sáu giờ của những cuộc phỏng vấn đó với Associated Press, cũng như Danish Broadcasting Corporation DR, Swedish Television SVT, và Norwegian Broadcasting Corporation NRK.

Trung tâm Hồ sơ đã xác nhận tính xác thực của hộ chiếu và chứng minh nhân dân FSO của Karakulov, đồng thời kiểm tra chéo các chi tiết về tiểu sử của anh với hồ sơ của chính phủ Nga, dữ liệu cá nhân bị rò rỉ và các bài đăng trên mạng xã hội, tất cả đều được AP xem xét.

AP cũng xác nhận danh tính của Karakulov một cách độc lập với ba nguồn tin ở Hoa Kỳ và Châu Âu, đồng thời chứng thực các chi tiết cá nhân của anh ta, bao gồm số hộ chiếu, ngày và nơi sinh, hai địa chỉ đã đăng ký, tên và tuổi của các thành viên trong gia đình. AP đã không thể xác minh tất cả các chi tiết về cuộc đào tẩu của Karakulov.

AP cũng xác nhận rằng Karakulov bị liệt vào danh sách truy nã trong cơ sở dữ liệu công khai về các nghi phạm hình sự của Bộ Nội vụ Nga. Bộ đã khởi xướng một cuộc điều tra hình sự đối với Karakulov vào ngày 26 tháng 10 vì tội đào ngũ trong thời gian bị động viên quân sự, theo các tài liệu mà Trung tâm Hồ sơ có được và được AP xem xét.

FSO là một trong những chi nhánh bí mật nhất của các dịch vụ an ninh của Nga.

Katya Hakim, một nhà nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Hồ sơ cho biết: “Ngay cả khi nghỉ việc, họ không bao giờ nói gì, nhưng họ biết rất nhiều chi tiết về cuộc sống riêng tư của tổng thống và thủ tướng.”

Karakulov di chuyển như một phần của đội tiên phong, thường mang theo đủ thiết bị liên lạc chuyên dụng để lấp đầy một chiếc xe tải KAMAZ. Ông cho biết ông đã thực hiện hơn 180 chuyến đi cùng tổng thống Nga, và trái với suy đoán của nhiều người, Putin dường như có thể trạng tốt hơn so với hầu hết những người cùng tuổi với ông. Ông Putin chỉ hủy một vài chuyến công du do bị đau ốm.

Karakulov cho biết, không giống như Thủ tướng Nga, Putin không yêu cầu truy cập internet an toàn trong các chuyến đi của mình.

Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ông ấy với một chiếc điện thoại di động,” anh nói. “Tất cả thông tin ông ấy nhận được chỉ từ những người thân thiết với ông ấy. Nghĩa là ông ấy sống trong một loại chân không thông tin.”

Công việc của Karakulov đã đưa anh đến những khách sạn sang trọng dành cho các hội nghị thượng đỉnh, những khu nghỉ mát trên bãi biển ở Cuba, du thuyền – và trên một đoàn tàu bọc thép đặc biệt được trang bị cho tổng thống Nga.

Đoàn tàu của Putin trông giống như bất kỳ đoàn tàu nào khác, được sơn màu xám với sọc đỏ để hòa hợp với các toa tàu khác ở Nga. Ông Karakulov nói rằng, Putin không thích việc máy bay có thể bị theo dõi, ông thích khả năng tàng hình của một toa tàu có vẻ ngoài bình thường.

Tôi hiểu rằng ông ấy chỉ đơn giản là sợ hãi,” anh nói.

Karakulov cho biết Putin bắt đầu sử dụng tàu thường xuyên trước cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022. Thậm chí vào năm ngoái, Putin tiếp tục nhấn mạnh vào các biện pháp nghiêm ngặt chống COVID-19 và các nhân viên của FSO đã thay ca trong hai tuần cách ly để luôn có một nhóm người được phép đi cùng Putin trên tàu, anh nói.

Putin đã thiết lập các văn phòng giống hệt nhau ở nhiều địa điểm, với các chi tiết giống nhau từ bàn làm việc và tranh treo tường, và các báo cáo chính thức đôi khi nói rằng ông ấy ở một nơi trong khi thực tế ông ấy đang ở một nơi khác, theo Karakulov và báo cáo trước đó của một hãng truyền thông Nga.

Karakulov cho biết, khi Putin ở Sochi, các quan chức an ninh sẽ cố tình giả vờ rằng ông sắp rời đi, mang máy bay đến và cử một đoàn xe hộ tống, trong khi thực tế là Putin đang ở lại.

Tôi nghĩ rằng đây là một nỗ lực nhằm, thứ nhất, gây nhầm lẫn trong thông tin tình báo, và thứ hai, để không có âm mưu ám sát nào xảy ra,” anh nói.

Việc Karakulov đào tẩu là một bước ngoặt đáng ngạc nhiên đối với một gia đình có truyền thống quân sự yêu nước. Cha của Karakulov là một cựu quân nhân và anh trai của anh là một quan chức chính quyền địa phương.

Karakulov cho biết anh không thể nói với bố mẹ về sự vỡ mộng của mình, bởi vì tâm trí của họ đã bị xơ cứng do nhiều năm xem truyền hình nhà nước Nga. Vì vậy, anh không bao giờ nói với họ rằng anh ấy sẽ rời đi.

Nhưng Karakulov phủ nhận các cáo buộc rằng anh không yêu nước và kêu gọi những người khác phá vỡ sự im lặng của họ để ngăn chặn chiến tranh.

Anh nói: “Yêu nước là khi bạn yêu quê hương mình. Trong trường hợp này, quê hương của chúng ta cần được cứu vì một điều gì đó điên rồ và khủng khiếp đang xảy ra”.

Quy mô của sự thối nát

Báo Tiếng Dân

Võ Xuân Sơn

7-4-2023

Nếu không có giấy bút hoặc máy tính, chắc chỉ có chủ nhân của các giải thưởng Siêu trí tuệ mới có thể tổng hợp nổi đường dây của hệ thống “giải cứu” mùa dịch.

Hơn 100 doanh nghiệp chi hơn 170 tỉ đồng cho 21 cán bộ của 5 bộ để họ được tham gia “giải cứu”. Cái này đủ nói lên sự nhạy bén trong chống dịch của các cán bộ trong hệ thống cầm quyền của chúng ta. Không biết từ đâu mà họ có những “nhạy bén” đó? Có phải họ thấy “kết quả” quá đẹp của việc cách li tập trung, và ứng dụng ngay vào việc “giải cứu” và lập ra combo giải cứu + cách li?

Đấy là mới chỉ kể đến việc giải cứu và cách li liên quan đến giải cứu thôi, chưa kể đến việc phá cửa xông vô bẻ tay công dân bắt đi ngoáy mũi, và những việc còn chưa được đưa ra ánh sáng. Chúng ta đã thấy các công chức và cán bộ của hệ thống cầm quyền nhạy bén như thế nào với việc lợi dụng dịch bệnh để trục lợi trên sức khỏe và cả sinh mạng của người dân. Việc trục lợi trên sức khỏe và sinh mạng của người dân được thực hiện trên qui mô lớn, từ trung ương tới địa phương, từ những cán bộ rất cao cấp đến thấp cấp hơn.

Họ không hề ngu. Rất nhiều người trong số họ được đào tạo ở những trường danh tiếng, được gắn mác thạc sĩ, tiến sĩ… Họ không dùng những kiến thức họ học được để phụng sự nhân dân, mà ngược lại, để lừa dối người dân, để bòn rút tiền của người dân, bất chấp sinh mạng và sức khỏe của người dân. Trước khi bị bắt, họ là lực lượng cốt cán, là những cán bộ đắc lực và trung kiên của đảng. Và họ là những người nắm quyền lực. Trong thời gian dịch, quyền lực của họ là tuyệt đối.

Mặc dù thấy được những điều đó, nhưng hầu như tuyệt đại đa số dân ta, vẫn cứ như những con cừu ngoan ngoãn cúi đầu. Và chỉ im lặng trông chờ xem có ai đứng ra giải quyết các vấn đề của mình. Nếu như các thế lực có quyền yêu cầu họ chống lại người lên tiếng giúp họ (như nhiều thầy cô giáo được huy động để report trang facebook của tôi), thì phần đông họ cũng sẵn sàng nghe theo.

Có lẽ họ hi vọng, thế lực cầm quyền sẽ chừa họ ra vì sự trung thành của họ.

Vụ Bà Nguyễn Phương Hằng Với Số Tiền Đòi Bồi Thường “Khủng Nhất ” Trong Lịch Sử Tố Tụng .

N10Tv là kênh Youtube Channel chuyên bình luận về thời sự của nước Việt Nam và Thế Giới.

Mời các bạn xem, đặc điểm của N10Tv là lý luận sắc bén và nói thẳng về những bất công, tồi tệ của CS tại Việt Nam, họ không hề sợ hãi. Phóng viên chính, Trương Quốc Huy từng biết rõ CS và guồng máy, từng ở trong ngục tù CS 6 năm, từng nghiên cứu giảng dạy về triết lý Mác Lê. Không ai biết rõ thâm cung bí sử của Cộng Sản, biết cái tồi tệ nhất của sự tồi tệ bằng các Hồi Chánh Viên. Rất cảm kích N10Tv.

Mời các bạn xem để có nhận định của chính các bạn:

(119) 🔴06-04 : Vụ Bà Nguyễn Phương Hằng Với Số Tiền Đòi Bồi Thường “Khủng Nhất ” Trong Lịch Sử Tố Tụng . – YouTube

From: Phan Sinh Trần

Quân đội nước ngoài tại miền Bắc trong chiến tranh Việt Nam

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Trần Trung Đạo

Nhiều nguồn tin tình báo Mỹ trong thời kỳ chiến tranh đã biết không lực Bắc Hàn có thể đã tham chiến tại Bắc Việt. Nhưng mãi cho tới năm 1996, những tin đồn này mới được xác nhận qua sự kiện đại úy phi công Yi Chol-su thuộc không lực Bắc Hàn lái chiếc Mig-19 đào thoát sang Nam Hàn. Trong thời gian ở Nam Hàn, phi công Yi tiết lộ ít nhất 70 phi công Bắc Hàn đã tham chiến tại Việt Nam.

Năm 2000 những tin đồn cũng được CSVN xác nhận. Đầu tháng 4, 2000, trong dịp viếng thăm CSVN, Bộ trưởng Quốc Phòng Bắc Hàn Paek Nam-sun cũng đã đến thăm một nghĩa trang nhỏ ở Bắc Giang, nơi an táng 14 phi công Bắc Hàn chết trong chiến tranh Việt Nam.

Báo Tuổi Trẻ trong bài “14 chiến binh Triều Tiên trên bầu trời Việt Nam” phát hành ngày 18 tháng 8, 2008 nhắc lại “Những trận không chiến oanh liệt để bảo vệ bình yên bầu trời miền Bắc VN trong kháng chiến chống Mỹ lùi vào quá khứ gần nửa thế kỷ. Nhưng 14 tấm bia mộ liệt sĩ Triều Tiên ở khu đồi rừng Hoàng (xã Tân Dĩnh, Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) ngày ngày vẫn nhắc nhớ về những người bạn nước ngoài đã đổ máu cho độc lập của VN.”

Bài báo còn diễn tả hành động rất quen thuộc nhưng rất phi nhân trong lý thuyết CS áp dụng trong chiến tranh là “khóa chân vào súng” hay “khóa chân vào ghế máy bay” vì khẩu súng hay chiếc máy bay đối với đảng CS quan trọng hơn mạng người. Bài báo viết: “Cuộc chiến đấu của đội chiến binh Triều Tiên chủ yếu diễn ra trên vùng trời các tỉnh ven Hà Nội như Hà Bắc, Vĩnh Phúc và Hải Hưng. Với lòng cảm tử đặc trưng của dân tộc Triều Tiên đã chiến đấu là phải quyết tiêu diệt bằng được đối phương, không bảo vệ được phi cơ thì chiến binh cũng sẽ hi sinh theo nên trong các đợt xuất kích, 14 chiến binh Triều Tiên đều không trang bị dù cũng như các thiết bị thoát hiểm khác. Thậm chí một cựu chiến binh cùng thời với họ cho biết họ còn tự khóa chân mình vào chân ghế máy bay.”

Diễn tiến theo thời điểm trích từ văn khố của Wilson Center.

Ngày 21 tháng 9, 1966, tướng Phùng Thế Tài, tư lịnh không quân CSVN, báo cáo với Quân Ủy Trung Ương rằng Bắc Hàn muốn gởi các phi công tình nguyện chiến đấu tại Việt Nam. Các đơn vị Bắc Hàn sẽ ăn mặc quân phục Việt Nam.

Ngày 30 tháng 9, 1966, tướng Văn Tiến Dũng và tướng Choi Kwang, tổng tham mưu trưởng quân đội Bắc Hàn đạt tới thỏa thuận để Bắc Hàn đưa phi công sang bay các Mig-17. Theo thỏa thuận giữa hai bên, năm sau, Bắc Hàn sẽ đưa thêm phi công để bay một phi đội Mig-21. Các đơn vị Bắc Hàn được gọi dưới mật danh là Đoàn Z đặt bản doanh tại phi trường Kép, đông bắc Hà Nội.

Cũng trong thời điểm này, Võ Nguyên Giáp chấp thuận.

Các đơn vị Bắc Hàn đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Kim Chang-sŏn với các đơn vị đóng tại phi trường Kép và Phúc Yên. Phúc Yên là bản doanh của trung đoàn không quân 921 còn được gọi là trung đoàn không quân sao đỏ. Phi công của đơn vị này được gởi sang Trung Cộng huấn luyện và nhận các Mig-17. Một trung đoàn khác, 923, đặt bản doanh tại phi trường Kép và được trang bị với các Mig-17 nhận từ LX. Đây là hai đơn vị đầu tiên của không quân CSVN tại thời điểm nguy kịch này.

Theo giáo sư Jiyul Kim trong biên khảo chi tiết Bắc Hàn Trong Chiến Tranh Việt Nam, trích dẫn lời Phan Khắc Hy, cựu thiếu tướng CSVN, người đã làm việc với phi đoàn Bắc Hàn cho biết trong khoảng thời gian giữa 1967 và 1969, đơn vị Bắc Hàn có 200 người gồm 87 phi công. Một nguồn tin khác cho rằng đơn vị Bắc Hàn có tới 384 người bao gồm 96 phi công. ( Jiyul Kim, North Korea in the Vietnam War, 1 Sep 2017)

Vì thiếu phi công, sự có mặt của các đơn vị Bắc Hàn hết sức cần thiết trong giai đoạn quan trọng của cuộc chiến trên không vào những năm trước 1968. Không lực Bắc Hàn đã gia tăng 50% khả năng chiến đấu của không quân CSVN.

Ngoài việc gởi các đơn vị không quân sang chiến đấu, Bắc Hàn còn gởi các đoàn tâm lý chiến sang trộn lẫn vào bộ binh CSVN xâm nhập miền Nam Việt Nam để hoạt động chống lại các sư đoàn Nam Hàn đang có mặt tại miền Nam.

Trong suốt cuộc chiến, đảng Lao Động Việt Nam (CSVN) vẫn cho rằng cuộc “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” là cuộc kháng chiến “thần thánh” của “nhân dân Việt Nam”, các nước xã hội chủ nghĩa có giúp đỡ phương tiện nhưng không ai, không nước nào trực tiếp tham gia trận chiến.

Ngay cả mấy chục sư đoàn quân đội miền Bắc xâm lăng VNCH cũng được che đậy dưới màu cờ khác, “quốc ca” khác. Đừng nói chi thế giới, không ít người kể cả trí thức miền Nam vẫn ngây thơ tin rằng họ “đứng dậy” hay “vùng lên” từ Bến Tre, Huế, Quảng Trị, Quảng Nam v.v…

Sau khi Liên Xô (LX) sụp đổ, văn khố giữ các tài liệu bí mật trước đây được cho phép tham khảo. Tài liệu về sự tham gia của LX đã được công khai hóa. Việc trực tiếp tham gia của các lực lượng phòng không LX đã được nhiều nhà sử học đưa ra ánh sáng. Các đơn vị phòng không LX lên đến 3000 người, không chỉ đóng vai trò huấn luyện mà còn trực tiếp tham gia trận chiến.

Các lính bắn sẻ (snipers) LX còn trà trộn trong quân đội CSVN xâm nhập miền Nam Việt Nam.

Theo Paul Combs trong phân tích “Vai trò ít được biết của Liên Xô trong chiến tranh Việt Nam” (The Little-Known Role of the Soviet Union in the Vietnam War) dựa theo một số nguồn tin cho rằng các tay bắn sẻ của quân đội LX đã theo chân quân CS Bắc Việt xâm nhập miền Nam Việt Nam để thử nghiệm loại súng bắn sẻ SVD Dragunov mới của LX. Những người lính mắt xanh đi cùng quân đội Bắc Việt đã được phát giác nhưng những nguồn tin này chưa được kiểm chứng. Thậm chí còn có tin đồn các lực lượng đặc biệt LX trực thuộc cơ quan tình báo quân đội (Soviet GRU Spetsnaz special forces) cũng tấn công một đơn vị Mỹ gần biên giới VietNam-Cambodia.

Về phía Trung Cộng (TC) việc đưa 320 ngàn quân TC tham gia trong chiến tranh Việt Nam, trực tiếp và gián tiếp, không còn là một “nguồn tin” mà là các công bố chính thức. Rất nhiều sách và nghiên cứu đã phân tích một cách chi tiết sự đóng góp người và của TC đã đổ ra trong chiến tranh Việt Nam.

Năm 1950, Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu được trang bị và huấn luyện mà còn yêu cầu TC gởi sĩ quan chỉ huy sang Việt Nam để trực tiếp chỉ huy cấp trung đoàn quân CSVN. Yêu cầu này đã bị từ chối. (Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975, (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2000, 18-19)

Theo Bob Seals, tác giả của nghiên cứu Sự hỗ trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt trong Chiến tranh Việt Nam: Lợi thế quyết định” (Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge): “Viện trợ quân sự bắt đầu vào tháng 3 năm 1946 khi Trung đoàn I Cộng sản Trung Quốc vượt biên giới vào Việt Nam để tránh Quân đội thuộc đơn vị 46 và 64 của Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch trong Nội chiến Trung Quốc. Ngoài việc tránh bị tiêu diệt, Trung đoàn này của Trung Quốc sẽ bắt đầu đặt nền móng cho việc huấn luyện và cố vấn cho các lực lượng Việt Nam còn non kém. Đơn vị một nghìn người này của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cung cấp các sĩ quan cho Trường Bộ binh Tiên tiến Việt Nam và Trung tâm Huấn luyện Cán bộ ở Bắc Việt Nam với khoảng 830 nhân viên được đào tạo vào năm 1947. Liên hệ trực tiếp bao gồm lưu lượng truyền hình cáp và tài trợ đã tồn tại vào thời điểm ban đầu này giữa hai phong trào cộng sản.” (Bob Seals , Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge, 2008)

Quan hệ giữa TC và CSVN là quan hệ tư tưởng và ý thức hệ, và mối quan hệ đó đã kéo dài từ những năm đầu khi đảng CS Trung Quốc được thành lập, 1921, tới nay.

Sự thật gần như hiển nhiên rằng chiến thắng của Mao tại Trung Hoa lục địa là yếu tố quyết định dẫn tới chiến thắng của CSVN trong Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất 1946-1954 và Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai 1959-1975. Không đợi đến khi chiếm toàn lục địa 1949 mà trước đó quân TC đã xâm nhập Việt Nam.

Trong thời kỳ “cơm không lành canh không ngọt” sau 1979, bộ máy tuyên truyền của hai đảng tố cáo nhau không tiếc lời và “đàn rận” trong chăn một thời êm ấm đã chui ra. Họ kể tội nhau không khác gì mấy bà hàng xóm mất gà.

Tác phẩm Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam -Trung Quốc Trong 30 Năm Qua là một bản cáo trạng không chỉ tố cáo tội ác của đảng CSTQ thôi mà qua tác phẩm đó đảng CSVN còn tự tố cáo mình.

Tham vọng bành trướng của đảng CSTQ qua tác phẩm nêu trên quá rõ và các nhà phân tích chính trị cũng đều biết nhưng suốt giai đoạn lịch sử dài mấy mươi năm các thế hệ lãnh đạo CSVN im lặng.

“Đường chín đoạn” đặt Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh thổ Trung Hoa, được Trung Hoa Dân Quốc công bố 1948 khi Tưởng Giới Thạch còn là tổng thống tại lục địa. Thủ tướng Trần Văn Hữu, 1951, dưới thời Bảo Đại và Tổng thống Ngô Đình Diệm, 1956 và 1961, đều liên tục khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thành lập 1945, và theo tinh thần hiến pháp 1946, cũng tuyên bố đại diện cho “một khối thống nhất Trung Nam Bắc” nhưng im lặng suốt 10 năm.

Thế rồi mười năm sau, nhà nước CS này đã can một tội phản quốc nghiêm trọng chưa từng có trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc Việt khi thừa nhận chủ quyền của TC trên quần đảo Hoàng Sa gấm vóc, dù chỉ trong văn bản, chỉ với mục đích làm vừa lòng bảo hộ TC.

Cái đầu của các lãnh đạo CS là đầu chứa đầy tham vọng quyền lực chứ không phải đầu để nhìn xa, trông rộng.

Các lãnh đạo đảng hy sinh mọi phương tiện chỉ để đạt cho được mục đích thống trị nhưng họ không hề nghĩ những phương tiện mà họ hy sinh một ngày không xa sẽ trở thành mục đích sống còn của cả dân tộc.

Với các thế hệ lãnh đạo đảng, nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam quan trọng hơn Hoàng Sa, cần thiết hơn sinh mạng của nhiều triệu người Việt và xứng đáng hơn tương lai của dân tộc.

Hôm qua, 28 tháng 3, 2023, Bùi Thanh Sơn , Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN phát biểu trong điện đàm với Tần Cương, Bộ trưởng Ngoại Giao TC: “Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, đây là lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam; nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng của Bộ Ngoại giao hai nước là thúc đẩy các cấp, các ngành cụ thể hóa nhận thức chung của Lãnh đạo hai Đảng, hai nước.” (VOV, Thứ Tư, ngày 29 tháng 3 năm 2023)

Những lời nịnh bợ TC của Bùi Thanh Sơn như “chiến lược toàn diện“, “ưu tiên hàng đầu“ chẳng khác gì giọng văn một bồi bút điểm sách rẻ tiền cho thấy CSVN không có độc lập về chính sách đối ngoại mà chỉ rập khuôn TC. Bùi Thanh Sơn cũng đã thừa nhận “rập khuôn” TC, chỉ khác trong cách dùng từ khi gọi đó là “nhận thức chung của Lãnh đạo hai Đảng, hai nước.”

Dưới thời Tập Cận Bình, TC không cần phải xua quân lấn chiếm những ngọn đồi ở Hà Giang vì họ đã có bảy căn cứ quân sự, không tính Hoàng Sa, với các vũ khí hiện đại đặt trên các đảo nhân tạo dọc lãnh hải Việt Nam. Theo quan sát của Asia Maritime Transparency Initiative, một chương trình trực thuộc Trung Tâm Chiến Lược và Nghiên Cứu Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies) tại Washington DC, các căn cứ quân sự của TC trên Biển Đông có thể đặt các loại phi cơ oanh tạc mang bom ném tận Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, nói chi là Hà Nội, Sài Gòn.

Trong thời chiến đảng CSVN có khả năng bưng bít thông tin, nhưng cuộc cách mạng tin học đã mở ra một không gian mới cho mọi người Việt Nam quan tâm đến tiền đồ dân tộc.

Mọi tranh chấp và cách giải quyết tranh chấp đều bắt đầu từ con người. Sức mạnh của một dân tộc là tổng hợp sức mạnh của những con người. Không một Mỹ, Anh, Nhật hay “NATO Thái Bình Dương” nào có thể cứu Việt Nam ngoài chính người Việt từ mọi ngả đường cuộc sống, mọi thế hệ trưởng thành.

Lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam đã chứng minh, mọi bế tắt sớm hay muộn đều có một lối thoát dù đó là lối thoát chiến tranh. Bế tắc của Việt Nam cũng thế.

Việt Nam không thể nào bị tận diệt. Con đường phục hưng và khai minh Việt Nam dù nhỏ, dù hẹp nhưng vẫn luôn có người đi. Họ không cô đơn mà trái lại mỗi ngày một đông hơn, vui hơn và được trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật tinh vi hơn.

Lãnh tụ anh minh của cuộc vận động dân chủ ngày nay không mang họ Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn v.v… mà có một họ chung là Khát Vọng Dân Chủ. Khát vọng dân chủ là ngọn lửa thiêng không thể nào bị dập tắt, là ngọn hải đăng chỉ lối thuyền về. Bức tường CS chuyên chính đang bị bào mòn từng giờ, từng ngày, từng tháng, từng năm và chắc chắn sẽ đổ.

Trần Trung Đạo

Việt Nam điều tra TikTok về nội dung “độc hại”

Báo Tiếng Dân

Reuters

Cù Tuấn, dịch

6-4-2023

Việt Nam sẽ điều tra các hoạt động của TikTok tại nước này từ tháng 5, vì nội dung “độc hại” trên nền tảng video ngắn “đặt ra mối đe dọa đối với thanh niên, văn hóa và truyền thống của nước này”, Bộ Thông tin cho biết ngày 6/4.

Đại diện Bộ, ông Lê Quang Tự Do cho biết tại một cuộc họp báo rằng việc kiểm duyệt nội dung trên ứng dụng phổ biến do Trung Quốc sở hữu mang các video có kích thước nhỏ “khó khăn hơn nhiều” so với trên các nền tảng khác.

“Chúng tôi sẽ cần những biện pháp cứng rắn hơn để chống lại nội dung đó, chỉ gỡ bỏ thôi là chưa đủ”, ông Do nói. Ông không nói chi tiết về các biện pháp.

Ứng dụng do ByteDance sở hữu này có gần 50 triệu người dùng ở Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, chính phủ cho biết, trích dẫn dữ liệu từ công ty nghiên cứu DataReportal.

TikTok đã xóa 1,7 triệu video theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam trong quý 4 năm ngoái, vì chúng bị coi là vi phạm chính sách của chính phủ, theo dữ liệu của công ty.

Khi được hỏi liệu TikTok có bị cấm ở quốc gia Đông Nam Á này hay không, ông Do cho biết những công ty không tuân thủ các quy tắc địa phương sẽ không được chào đón.

“TikTok, Facebook và YouTube đều là mạng xã hội xuyên biên giới với các tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng khi hoạt động tại Việt Nam, nền tảng này cần tuân thủ các quy định của địa phương về cả nội dung và nghĩa vụ thuế”, ông Do nói trong một tuyên bố vào đầu tuần này. TikTok gần đây đã cho phép nội dung “độc hại, xúc phạm, sai sự thật và mê tín dị đoan” trên nền tảng của mình.

Bộ này cho biết TikTok là nền tảng duy nhất đang được kiểm tra vì đây là nền tảng duy nhất có văn phòng địa phương.

Công ty cho biết vào tháng Hai, Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin Điện tử đã thông báo rằng một phái đoàn chính phủ sẽ đến thăm các văn phòng của công ty tại Việt Nam trong quý hai.

“Đây là hoạt động thanh tra liên ngành theo kế hoạch của Chính phủ và phù hợp với pháp luật Việt Nam đối với các công ty hoạt động tại Việt Nam, không riêng gì TikTok”, TikTok Việt Nam cho biết trong email.

Trong một tuyên bố với Reuters hôm thứ Năm, TikTok Việt Nam cũng cho biết họ đã cập nhật các hướng dẫn của mình, dự kiến có hiệu lực từ ngày 21 tháng 4, để minh bạch hơn về các quy tắc và cách thức thực thi chúng.

Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? – Suy niệm Thứ Sáu Tuần Thánh -Dòng Tên SJ (bài hai)

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Di ngôn thứ Tư của Chúa Giesu trên Thánh Giá.

Mời Các Bạn cùng đọc bài suy niệm này dưới chân Thập Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Lạy Thiên Chúa,

Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?

 

(Mt 27,46; Mc 15,34)

      • Bài Tin Mừng.
      • Bối cảnh và ngôn ngữ.
      • Yếu tố thời gian.
      • Lời cầu nguyện của người lành thánh gặp khổ đau.
      • Thiên Chúa quyền năng im lặng trước khổ đau của Người Con yêu dấu?
      • Lời kêu cầu của niềm tin sắt đá không lay chuyển.
      • Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.
      • Không có sức mạnh nào ngăn chặn lời kêu cầu của người đau khổ, nhưng tràn đầy tin tưởng kêu xin Chúa.
      • Bị bỏ rơi, một trải nghiệm đau đớn gắn liền với cuộc đời. Chúng ta nên có thái độ nào trong lúc bị bỏ rơi?
      • Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, vì sự dữ không bao giờ thắng được.
      • Bài tập sống di ngôn thứ tư của Chúa Giê-su trên Thánh Giá. 
  • Bài Tin Mừng.

33 Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín.34 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni! ” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? “35 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Ê-li-a.”36 Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không.”37 Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở.38 Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới.39 Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” (Mc 15,33-39).

45 Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín.46 Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? “47 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Ê-li-a! “48 Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống.49 Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không! “50 Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.
51 Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ.52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người.54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” (Mt 27,45-54).

 

  • Bối cảnh và ngôn ngữ.

Các sách Phúc Âm của Matthêu và của Mác-cô kể lại việc Chúa Giêsu trên Thánh Giá, đã hai lần kêu lớn tiếng. Lần thứ nhất là di ngôn thứ tư (x.Mt 27,46 và Mc 15,34), mà hai thánh sử đều trích dẫn. Còn lời thứ hai thì Mátthêu viết như sau: “Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn” (Mt 27,50), còn Mác-cô thì viết: “Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở” (Mc 15,37).

Như thế, di ngôn thứ tư của Chúa Giêsu được hai thánh sử Mát-thêu và Mác-cô nhắc đến. 

 Cả hai thánh sử đều kể lại, một số người đứng ở dưới Thánh Giá Chúa đã không hiểu tiếng kêu của Chúa, họ nghĩ là Chúa kêu cứu ông Ê-li-a, và họ còn chế diễu: Để xem ông Ê-li-a có đến đem hắn xuống không” (Mc 15,36). Trong Do Thái giáo, Ê-li-a được coi như là người thường hay giúp đỡ những người cùng khổ.[4] Tuy nhiên, qua sự trích dẫn lời kêu cầu của Chúa bằng tiếng A-ram và Híp-ri của hai thánh sử, các nhà chú giải Thánh Kinh đã nhận thấy đó là những câu đầu tiên của Thánh Vịnh 22. Đó là về mặt ngôn ngữ của di ngôn, giờ đây chúng ta đi vào yếu tố thời gian của di ngôn.

  • Yếu tố thời gian.

Về thời gian của di ngôn, cả hai thánh sử đều nói là giờ thứ chín, nghĩa là ba giờ chiều theo lịch thời gian của chúng ta hiện nay. Để đi sâu vào ý nghĩa của thời gian mà Chúa Giêsu bị đóng đinh nói lên lời cuối cùng này, chúng ta lắng nghe suy tư của Đức Benedicto XVI: “Như chúng ta đã nghe, đây là điều mà Thánh Mác-cô viết: “Vào giờ thứ sáu (buổi trưa), tối tăm bao trùm khắp mặt đất đến giờ thứ chín (ba giờ chiều). Và vào giờ thứ chín, Chúa Giê-su kêu lên một tiếng lớn: ‘Ê-lôi, Ê-lôi, la-ma xa-bác-tha-ni!’ Nghĩa là: ‘Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (15,34). Trong cấu trúc của tường thuật, lời cầu nguyện, tiếng kêu của Chúa Giê-su ở tột đỉnh của ba giờ đen tối này, từ trưa cho đến ba giờ chiều, là những giờ mà tăm tối bao trùm khắp mặt đất. Ba giờ đen tối này là sự tiếp tục của một khoảng thời gian trước đó, cũng ba giờ, bắt đầu với việc đóng đinh Chúa Giêsu. Thực ra, thánh sử Mác-cô cho cho chúng ta biết rằng:“Khi đó là giờ thứ ba (chín giờ sáng), và chúng đóng đinh Người” (x.15,25). Chung quy thì những dấu chỉ về thời gian của tường thuật cho thấy rằng sáu giờ của Chúa Giê-su trên Thánh Giá được chia thành hai phần bằng nhau theo thứ tự thời gian.

Trong ba giờ đầu, từ chín giờ sáng đến trưa, chúng ta thấy sự chế nhạo của các nhóm người khác nhau, là những kẻ bày tỏ sự hoài nghi của họ và xác định rằng họ không tin. Thánh Mác-cô viết: “Những kẻ qua lại chế nhạo Người” (Mc 15,29), “Cũng vậy, các trưởng tế và luật sĩ đều chế giễu Người” (Mc 15,31), và“những tên cùng bị đóng đinh với Người cũng xỉ vả Người” (Mc 15,32). Trong ba giờ tiếp theo, từ trưa đến ba giờ chiều, thánh sử chỉ nói về bóng tối bao trùm khắp mặt đất: một mình bóng tối chiếm toàn cảnh mà không đề cập đến những chuyển động hay lời nói nào của các nhân vật. Khi Chúa Giê-su gần cái chết hơn bao giờ hết, chỉ có bóng tối đang bao trùm ‘khắp mặt đất’. Ngay cả vũ trụ cũng tham gia vào biến cố này: bóng tối bao phủ người và sự vật, nhưng ngay cả trong giờ đêm tối này Thiên Chúa vẫn hiện diện, Ngài không từ bỏ”. Và Ngài đã lên tiến. Tiếng kêu lên với Cha trên trời như một lời cầu nguyện của người Con yêu dấu của Cha. Như đã nói ở trên, tiếng kêu đó Chúa Giê-su đã trích dẫn từ Thánh Vịnh 22.

  • Lời cầu nguyện của người lành thánh gặp khổ đau. 

Thánh Vịnh 22 nói về người lành thánh gặp đau khổ và đã kêu cầu đến Chúa, và Chúa đã nhậm lời. Đức Benedicto XVI đã chia sẻ về Thánh Vịnh này như sau: “Thánh Vịnh này luôn xuất hiện trong những tường thuật về Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, với cả hai bình diện chịu sỉ nhục và vinh quang, sự chết và sự sống. Đó là Thánh Vịnh 22 theo truyền thống Do Thái hay Thánh Vịnh 21 theo truyền thống La-Hy, một lời cầu nguyện chân thành và cảm động, có sự phong phú về thần học và chiều sâu về nhân bản, khiến nó trở thành một trong những Thánh Vịnh được ưa thích và nghiên cứu nhiều nhất trong các Thánh Vịnh…Thánh Vịnh này trình bày hình ảnh của một người vô tội bị lùng bắt và bao vây bởi những kẻ thù muốn cho ông chết, và ông cầu cùng Thiên Chúa bằng một lời than thở đớn đau, trong niềm xác tín của đức tin, mở ra một cách bí nhiệm để chúc tụng. Trong lời cầu nguyện của ông, thực tại kinh hoàng của hiện tại và đầy an ủi trong quá khứ thay phiên nhau trong một ý thức đau đớn về tình trạng tuyệt vọng của mình, nhưng không muốn làm cho mình mất hy vọng. Lời kêu than lúc đầu của ông là một lời khẩn cầu cùng một Thiên Chúa dường như xa cách, không đáp lời ông và có vẻ đã bỏ rơi ông”.[6] Lời đầu tiên của Thánh Vịnh là:

Ôi Thiên Chúa của con! Ôi Thiên Chúa của con! Sao Ngài lại nỡ bỏ rơi con?

Dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nào xa vời! (Tv 22,2).

Chúa Giê-su trên Thánh Giá đã thốt lên lời cầu nguyện này. Thật vậy, cả hai thánh sử đều kể lại rằng, Chúa Giê-su đã kêu lớn tiếng. Theo Pesch, việc kêu lớn tiếng là tính cách của việc cầu nguyện kêu xin lớn tiếng. Điều này tương hợp với lời Thánh Vịnh Dù con thảm thiết kêu gào” (Tv 22,2b).

Lời cầu nguyện kêu xin lớn tiếng của Chúa “diễn tả tình trạng cô độc của Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, Người đang đối diện với thảm trạng bị chết, một thực tại hoàn toàn trái ngược với Chúa sự sống. Bị hầu hết những người thân yêu của Mình bỏ rơi, bị các môn đệ phản bội và chối từ, bị vây quanh bởi những kẻ nhục mạ Người, Chúa Giêsu đang bị đè nghiến bởi sức nặng của một sứ mệnh phải trải qua sỉ nhục và hủy diệt. Vì lý do đó mà Người than khóc cùng Chúa Cha, và nỗi thống khổ của Người được diễn tả qua những lời đớn đau của bài Thánh Vịnh”. 

… tại sao Thiên Chúa quyền năng không thể can thiệp vào biến cố đau thương này của Con mình, tại sao Ngài lại im lặng?

  • Thiên Chúa quyền năng im lặng trước khổ đau của Người Con yêu dấu? 

Trước hết, chúng ta thấy Đức Benedicto XVI đã đặt ra vấn nạn sau, khi Ngài suy niệm về di ngôn này: “Nhưng một câu hỏi phát ra trong trí chúng ta: làm sao mà một Thiên Chúa quyền năng như thế lại không can thiệp để tránh cho Con mình sự thử thách khủng khiếp này? Điều quan trọng là phải hiểu rằng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không phải là tiếng kêu của một người gặp gỡ cái chết trong tuyệt vọng, cũng không phải là tiếng kêu của một người biết rằng mình đang bị bỏ rơi. Trong giây phút ấy, Chúa Giê-su đã áp dụng toàn bộ bài Thánh Vịnh 22 cho mình, Thánh Vịnh cao cả của dân Israel đau khổ, và như thế Người tự mình gánh lấy không những chỉ nỗi thống khổ của dân Người, mà còn của tất cả mọi người bị sự dữ áp đảo, và đồng thời, Người mang tất cả những điều này đến trước trái tim của chính Thiên Chúa, trong khi tin chắc rằng tiếng kêu của Người sẽ được Thiên Chúa nghe trong biến cố Phục Sinh, “tiếng kêu của đau khổ tột cùng đồng thời vẫn là niềm tin chắc chắn về một câu trả lời từ Thiên Chúa, niềm tin chắc chắn về ơn cứu độ – không chỉ cho chính Chúa Giê-su, nhưng còn cho ‘nhiều người’” (Chúa Giê-su Thành Nazareth II, 239-240)”. 

Im lặng theo cái nhìn đầu tiên là không có tiếng nói, nhưng thực ra thì im lặng chính là một cách thức để nói. Vì thế, Thiên Chúa im lặng trong biến cố này, không có nghĩa là Ngài vắng mặt và không nói gì. Đức Benedicto XVI đã nói rằng: “Thiên Chúa nói qua sự im lặng: Sự im lặng của Thiên Chúa, cảm nghiệm về sự xa cách của Đấng Toàn Năng và Chúa Cha, là một quãng đường quyết định trong cuộc hành trình dương thế của Con Thiên Chúa, Ngôi Lời Nhập Thể. Khi bị treo trên cây gỗ Thánh Giá, Người đã than khóc về nỗi đau khổ mà sự im lặng như thế gây ra cho Người: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Cha nỡ bỏ rơi Con?” (Mc 15 34; Mt 27,46)…Nhưng sự im lặng của Thiên Chúa, như Chúa Giêsu cũng đã cảm thấy, không phải là dấu chỉ của sự vắng mặt của Ngài. Người Kitô hữu biết rằng Chúa hiện diện và lắng nghe, ngay cả trong đêm đen của đau khổ, bị khước từ và cô đơn. Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ của Người, và với mỗi người trong chúng ta rằng, Thiên Chúa biết rõ các nhu cầu của chúng ta, trong mọi hoàn cảnh của đời sống chúng ta”. Như thế, sự im lặng của Chúa Cha không có nghĩa là sự bỏ rơi, nhưng là một cuộc gặp gỡ thật sự, cuộc gặp gỡ trong thinh lặng của Cha với Con yêu dấu. 

Theo Anselm Gruen, khi Chúa Giê-su cầu nguyện với toàn bộ Thánh Vịnh 22, thì mầu nhiệm sự chết của Chúa mang một điều mới mẻ. Trên Thánh Giá Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả mọi nỗi thống khổ, nhưng Ngài đã bám chặt vào Thiên Chúa. Ngài đã trình bày với Chúa về việc Ngài cảm thấy bị bỏ rơi. Và trong tình trạng bị bỏ rơi này, Ngài đã biết chắc là Thiên Chúa lắng nghe Ngài và đón nhận Ngài. Vì thế Chúa Giê-su trong nỗi thống khổ đã cầu nguyện với tất cả niềm tin tưởng. Và trong các câu cuối của Thánh Vịnh Ngài đã cầu nguyện:

Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất
sẽ đều bái lạy một mình Người,
phàm những ai trở về cát bụi
sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.
Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa”
 (Tv 22,30)
.

sẽ đều bái lạy một mình Người,

phàm những ai trở về cát bụi

sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa” (Tv 22,30).

Elie Wiesel, một nạn nhân và cũng là nhân chứng về sự tàn ác của chế độ Phát-xít Đức. Ông đã từng phải sống trong trại tập trung Auschwitz và Buchenwald, nhưng may mắn cuối cùng ông được cứu thoát. Elie Wiesel người gốc Do-thái và là một học giả nổi tiếng, ông không ngừng đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và đã nhận giải Nobel hoà bình năm 1986. Elie Wiesel đã chia sẻ về một cuộc xử từ bằng cách treo các tù nhân thật dã man trong trại tập trung ở Auschwitz.

Có hai người trưởng thành và một cậu bé bị treo lên một cây cột, cậu bé này được mọi người thương yêu. Tất cả các tù nhân phải đứng thành hàng lối trật tự trước ba người bị treo trên cột, để nhìn họ chết như thế nào.

Ba người bị kết án được dẫn lên trên các cái ghế. Ba cái đầu được đưa vào trong cái ba cái dây thòng lọng đang chuẩn bị siết cổ.

“Tự do vẫn tồn tại!”, hai người trưởng thành kêu lớn.

Cậu bé kia thì im lặng.

“Chúa ở đâu, Ngài ở đâu rồi?”, một người đàng sau tôi lên tiếng hỏi.

Tên chỉ huy trại ra hiệu và ba chiếc ghế bị xô đổ.

Trong trại một sự im lặng tuyệt đối bao trùm. Mặt trời đã lặn rồi…

Hai người trưởng thành đã chết. Lưỡi của họ sưng lên và lè ra với một màu xanh. Còn cái thòng lọng thứ ba không được cột kỹ lưỡng. Cậu bé kia vẫn còn sống…

Hơn nửa tiếng đồng hồ cậu bé bị treo lơ lửng như vậy, trước mặt chúng tôi cậu đang chiến đấu giữa sự sống và sự chết. Còn chúng tôi phải nhìn thẳng vào mặt cậu bé. Khi tôi đi ngang qua chỗ cậu bị treo, tôi cảm nhận cậu vẫn còn sống. Lưỡi cậu vẫn còn đỏ, đôi mắt của cậu chưa đóng lại.

Đàng sau tôi lại một giọng nói:

“Chúa đâu rồi?”

Tôi nghe một giọng nói khác trả lời:

“Chúa ở đâu sao? Chúa ở đó, Ngài đang bị treo trên cây gỗ kia kìa…”.

Một câu chuyện khác về Primo Levi, một người Ý gốc Do-thái. Anh này cũng ở trong trại tập trung Auschwitz. Anh kể lại rằng, một ngày nọ tất cả đều bị bỏ đói và khát khủng khiếp. Anh nhìn thấy thùng nước bị đông đá, anh đưa tay để mong lấy chút đá để uống, nhưng các tên lính gác đã ngăn cản anh. Khi Levi hỏi: “tại sao?”. Một tên lính gác nói: Ở đây không có hai chữ “tại sao”.

Tất cả chúng ta đều có thể trải nghiệm những hoàn cảnh thật ngớ ngẩn và đồi bại không có chữ “tại sao”. Như vậy, chúng ta không thể tìm cho được câu trả lời nào. Tất cả điều mà chúng ta có thể làm được, là tin tưởng rằng, Thiên Chúa đang ở đó. 

Chúa ở đó, dù chúng ta có rơi vào hoàn cảnh đau thương đến mấy, và ngay lúc chúng ta tưởng rằng Chúa bỏ rơi chúng ta, thì Chúa lại cho chúng ta biết Ngài ở thật gần bên chúng ta. Chính Chúa là mẫu gương cao vời dạy chúng ta biết điều đó, và Ngài cũng nói với chúng ta cần kiên tâm và tin tưởng trong mọi hoàn cảnh, ngay cả lúc phải đối diện với sự chết. Trong những lúc như vậy, chúng ta không bao giờ quên kêu cầu lên Thiên Chúa với một niềm tin sắt đá không lay chuyển.

  • Lời kêu cầu của niềm tin sắt đá không lay chuyển. 

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?

Nếu đọc lời kêu cầu lớn tiếng của Chúa, di ngôn thứ tư của Ngài trên Thánh Giá, chúng ta dễ dàng cho rằng, đó là một tiếng kêu cầu đầy sợ hãi và bối rối, tiếng kêu của những người bị dồn vào ngõ cụt của cuộc đời. Có lẽ các thánh sử cũng muốn diễn tả tâm trạng thực sự đó của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, lời kêu cầu này còn diễn tả một niềm tin mãnh liệt của Chúa Giêsu. Theo Pesch: “Lời kêu cầu của Chúa không phải là tiếng kêu bối rối hãi sợ, mà là một sự biểu lộ của niềm tin, một cách diễn tả về niềm tin sắt đá không lay chuyển khi ở trong hoàn cảnh đau khổ nhất. Trong đêm tối của tâm trạng ‘bị Thiên Chúa bỏ rơi’, Chúa Giê-su trong cầu nguyện đã hướng nhìn đến Thiên Chúa”. Thật vậy, chính trong hoàn cảnh tưởng chừng vắng bóng Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã hướng nhìn đến Thiên Chúa. Vời những lời đầu tiên trích dẫn từ Thánh Vịnh 22, Chúa bước trong sự hoài nghi và hãi sợ, nhưng rồi Chúa đã xuyên suốt qua đó để đi vào chiều sâu của niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng

đưa con ra khỏi thai bào,

vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

Chào đời con được dâng cho Chúa,

được Ngài là Chúa tự sơ sinh” (Tv 22,10-11). 

… 

Chúa Giê-su đã bước qua tình trạng hoài nghi hãi sợ và bối rối, để đi vào niềm tin mãnh liệt, niềm tin sắt đá không lay chuyển. Niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa, ngay cả trong bóng tối của tử thần, Thiên Chúa vẫn ở bên. Qua niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa và qua tình yêu trung tín cho đến giây phút cuối cùng của Chúa Giê-su, mà cái chết của Chúa Giê-su đã trở thành một hành động đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại. 

Qua đó, chúng ta mới thấy ý nghĩa cao cả của lời kêu cầu của Chúa, như thần học gia Ratzinger, diễn tả trong tác phẩm căn bản Einfuehrung in das Christentum – Dẫn vào Ki-tôn giáo: “Lời cầu nguyện này trào lên từ nỗi đau khổ tột cùng vì Thiên Chúa như vắng bóng, nhưng lại kết thúc bằng lời ca ngợi sự cao cả của Người. Tiếng kêu hấp hối của Đức Giêsu cũng mang ý nghĩa như thế”. 

Ngoài ra, lời kêu cầu của Chúa Giê-su lên Cha còn diễn tả sự hiệp thông của Chúa với chúng ta, những con người luôn có thể gặp đau khổ. Lúc đó chúng ta cần xin Chúa cho mình có được niềm tin mạnh mẽ và hướng nhìn lên Chúa để kêu lên Ngài. Thật vậy, chúng ta được phép kêu xin Ngài với chính lời Thánh Vịnh 22.

  • Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.

Khi Chúa nói lời xin vâng để đồng ý cho chúng ta bước ra khỏi bào thai của người và bước vào cuộc đời, thì lời xin vâng của Chúa sẽ đồng hành và hiện diện bên chúng ta mãi mãi, để Ngài bồng ẵm và âu yếu, để Ngài che chở và đỡ nâng và để Ngài cho chúng ta một nơi tin tưởng và hy vọng. Vì thế, ở trong mọi hoàn cảnh chúng ta đều có thể kêu xin Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, nhất là khi chúng ta rơi vào hoàn cảnh đau khổ nhất. Thánh Vịnh 22 chính là lời cầu nguyện của chúng ta, khi chúng ta đau khổ và cầu cứu lên Thiên Chúa, Ngài chắc chắn sẽ nhậm lời.

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con? Đó là lời của Chúa. Làm sao con dám coi như lời của con? Làm sao con dám đem đau khổ của con để sánh với những thống khổ của Chúa? Làm sao con dám trèo lên thập giá mà thốt ra lời thở than của Chúa, lời muôn đời được thánh hiến nhờ cuộc tử nạn cá biệt của Chúa? Con biết Thánh Vịnh này của Chúa…Dù vậy, con cảm thấy Thánh Vịnh này cũng thuộc về con, trong cuộc đời con cũng có những giờ phút con được quyền và cần được thốt ra những lời ấy như tiếng vọng khiêm tốn từ những lời của Chúa. Con cũng sẽ gặp gỡ cái chết một lần nơi thân xác, và nhiều lần với nỗi cô quạnh tâm hồn trong khi phiêu bạt qua những khoảng tối trên trần gian này. Lạy Chúa, con không dám sánh mình với Chúa, nhưng con cũng gặp đắng cay và tuyệt vọng, cũng cảm thấy cô đơn và bị phụ bạc. Con cũng cảm thấy bị Chúa Cha ruồng rẫy, và những lời ấy đã vuột từ từ đôi môi khô nẻ của con: Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?”

“Thân sâu bọ chứ người đâu phải,

con bị đời mắng chửi dể duôi,

thấy con ai cũng chê cười,

lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” (Tv 22,7-8).

Chúa ơi, lời Thánh Vịnh này cũng diễn tả thân phận của con nữa, nhất là khi con rơi vào trong những nỗi đau khổ tuyệt vọng, đến nỗi con thấy phận người của mình sao mà thê lương quá. Vâng, “khi đau thương phủ bóng, nó làm cho mọi người nên như nhau. Cuộc sống mất hết ý nghĩa; chẳng còn gì ý vị; mọi mùi vị đều trở nên đắng cay và mọi sắc màu đều biến thành tối đen. Cuộc đời không còn mục đích. Mắt nhìn không thấy lối đường, và đôi chân ì ạch lê bước. Tại sao lại phải ăn, phải thở, lại phải sống? Đã tang thương cùng cực thì ai cũng như nhau, và chỉ những ai đã từng nếm trải mới biết điều ấy. Con biết những tang thương của con, và con biết đó là cái chết trong một cơ thể còn đang sống. Hoàn toàn cô đơn. Tột cùng chịu đựng. Mút cùng thất vọng. Đau khổ làm cho mọi người trở nên như nhau; và đau khổ tinh thần đến chỗ tột độ là thứ đau khổ khủng khiếp nhất. Con đã biết màu tối đen của nó”.

Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào,
nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,
đêm van Ngài mà cũng chẳng yên”
 (Tv 22,2-3).

Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

Dù con thảm thiết kêu gào,

nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!

Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,

đêm van Ngài mà cũng chẳng yên” (Tv 22,2-3).

Chúa ơi, Chúa không xa con, nhưng hình như Chúa vắng mặt lúc này? “Chúa ở đâu khi đêm đen bủa xuống hồn con? Lạy Thiên Chúa con, con kêu thâu ngày mà Người chẳng đáp, đêm đến, con cũng chẳng được nguôi ngoai. Thật vậy, chính sự vắng mặt của Chúa đã gây nên nỗi thống khổ của con. Giả như Chúa ở bên cạnh, có lẽ con sẽ chịu nổi cảnh tân toan ấy và kiên cường trước mọi giông tố.  

Chúa ơi, thật ra, những lời con than trách kỳ thực chỉ là một hành vi tin tưởng vào Chúa. Con than thở Chúa đã bỏ rơi con chỉ vì con biết Chúa vẫn hiện diện ở đó. Lạy Chúa, xin hãy tỏ mình ra cho con đi mà. Xin dang tay ra và xua tan bóng đen đang bủa vây con. Xin ban lại hy vọng cho linh hồn con và sức mạnh cho thần xác con. Xin kết thúc nỗi cùng khốn cho con, và xin cho con hoá thân thành một người hoan lạc, tin tưởng và tràn đầy nhiệt huyết. Xin cho con được như ngày trước, được nghiệm thấy sự hiện diện của Chúa và tán tụng ngợi khen Chúa. Đó là cuộc vượt qua từ cõi chết đến cõi sống, và con muốn làm chứng rằng, chính quyền năng Chúa đã đưa linh hồn con ra khỏi chốn thất vọng, như một biểu chứng về quyền năng Chúa dẫn đưa nhân loại vào cuộc sống muôn đời…

  • Không có sức mạnh nào ngăn chặn lời kêu cầu của người đau khổ, nhưng tràn đầy tin tưởng kêu xin Chúa.

 Nếu nhìn vào cuộc đời hoạt động của Chúa Giê-su, chúng ta thấy rằng, Ngài luôn luôn chú ý đến những anh chị em bất hạnh. Trái tim nhân hậu giàu lòng thương xót của Chúa luôn tìm thấy nhịp đập của những tâm hồn thống khổ, đôi tai Ngài rất thính trước những lời kêu xin của người nghèo khổ và bất hạnh, dù họ còn có khả năng kêu lên Chúa, hay không còn khả năng thốt lên lời. Người bạn hành khất Bác-ti-mê của chúng ta là một điển hình sống động.

Dưới sức nặng của chiếc áo choàng đè trên vai, anh Bác-ti-mê đã từ lâu rồi ngồi bên cửa thành Giê-ri-cô, để xin ăn, để chờ đợi những bàn tay nhân ái bố thí. Và một ngày nọ nhưng không giống như mọi ngày, anh nghe tin có Đức Giê-su Na-da-rét đi ngang qua nơi anh ngồi, với niềm tin vào Chúa, anh đã kêu lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Một lời kêu xin rất chân thật, rất khẩn thiết, lời kêu xin của kẻ tin. Chúa có nghe anh không? Chưa biết. Chúng ta chỉ biết rằng, nhiều người đứng ở đó đã quát mắng Bác-ti-mê, một kẻ hành khất, bắt anh phải im tiếng, bắt kẻ tin phải câm lặng. Không lẽ chỉ có những người giàu có, những người tự cho mình là đạo đức, những người hiểu biết và có vai vế mới có quyền kêu lên với Chúa? Nếu quyền làm người không ai cướp đi được, thì quyền cầu nguyện, quyền kêu cầu lên Chúa không ai được phép lấy mất đi. Chẳng màng tới sự quát nạt, anh ta vẫn tin tưởng và kêu lớn tiếng hơn nữa “Lạy ông Giêsu, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!” Lòng nhân hậu xót thương của Chúa không bao giờ điếc với những ai tin tưởng vào Ngài. Chúa Giê-su đã nghe lời kêu cầu của anh, và Chúa đã chẳng coi thường, chẳng khinh miệt anh là kẻ nghèo hèn khốn khổ, mang thân phận hành khất, Ngài cũng không ngoảnh mặt làm ngơ giả điếc bước đi tiếp để tránh bị quấy rầy, nhưng Ngài đã thương nghe lời cầu cứu, và dừng bước kêu anh lại, kẻ tin vào Ngài. Một cuộc gặp gỡ của lòng xót thương nhân hậu với tâm hồn thống khổ. Cuộc gặp gỡ của niềm tin. Cuộc gặp gỡ đó đã tháo cởi chiếc áo choàng nặng nề, như là biểu hiện của người ăn xin ra khỏi anh Bác-ti-mê, và sự mù loà đã phải trở về lại chỗ của nó, để trả lại cho Bác-ti-mê một thế giới của Ánh Sáng. Ánh Sáng soi chiếu anh bước đi theo Chúa trên con đường Chúa đi.

Lời kêu cầu của những con người bất hạnh và đau khổ luôn là quyền căn bản và quan trọng, đưa họ đến gần với Chúa. Không có ai và không có thế lực nào có thể cấm cản những người bất hạnh tin tưởng kêu cầu cùng Chúa. Dù đôi khi chúng ta tưởng rằng Chúa vắng mặt và im lặng, nhưng thực ra Ngài luôn hiện diện ở bên và lắng nghe chúng ta. Ngài ở bên chúng ta, lúc chúng ta cảm thấy mình bị mọi người bỏ rơi. Ngay cả khi cha mẹ, người phối ngẫu và cả những người bạn tri kỷ nhất bỏ rơi chúng ta, Chúa vẫn ở cạnh chúng ta. Cả những khi chúng ta rơi vào tình trạng đau khổ của bệnh nan y không còn cứu chữa được nữa, cả khi chúng ta bị sự dữ dồn vào đường cùng và manh nha nuốt chửng chúng ta, thì Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu, Ngài vẫn ở bên cạnh chúng ta. Chúng ta chỉ cần tin tưởng và cầu nguyện. Chúng ta được phép kêu lớn tiếng lên với Chúa. Chúng ta được phép khóc lóc kêu gào với Chúa. Niềm tin luôn có chỗ cho nước mắt, niềm tin luôn đón chào những lời kêu gào lên với Chúa. Chúa sẽ không bao giờ đóng cánh cửa của căn nhà nhân hậu đối với chúng ta. Vì thế, không có sự sợ hãi nào, không có thế lực của sự dữ nào có thể cướp mất mạng sống của chúng ta, linh hồn của chúng ta, nếu chúng ta tin tưởng vào Chúa.

Tiếng kêu lớn tiếng của Chúa Giêsu với Cha trên trời thật là một di ngôn tuyệt vời. Di ngôn chất chứa sự sợ hãi, hoài nghi và bối rối lúc đầu, tìm thấy được sự trọn vẹn tuyệt vời ở khúc kết. Sự trọn vẹn của niềm tin tưởng mãnh liệt vào Chúa. Đó là sự thánh hoá mà niềm tin đem lại. Sức mạnh của niềm tin là thế đó. Niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là khởi đầu, là trung tâm điểm và là cùng đích của mỗi phận người chúng ta. Ở đây, thần học gia Ratzinger nói rằng: “Ernst Kaesemann mô tả tiếng kêu đó như lời kinh vọng lên từ vực sâu, như tấm bia ghi khắc giới răn thứ nhất dựng đứng trong sa mạc xem ra hoang vắng Thiên Chúa. ‘Nhưng Người Con vẫn giữ vững niềm tin, dù niềm tin dường như mất hết ý nghĩa, và thực tế rõ ràng cho thấy Thiên Chúa vắng bóng và lời của tên cướp thứ nhất cũng như của đám đông chế giễu không phải là vô lý. Tiếng kêu của Người không vì ham sống hay sống còn, cũng không vì bản thân mình, nhưng vì Cha mà thôi. Một tiếng kêu đối kháng lại tất cả thực tại trần gian’. Vậy giờ đây, chúng ta có còn phải băn khoăn với câu hỏi: thế nào là thờ phượng trong giờ phút đen tối của cuộc đời ?”[22] Chính trong những giờ phút đen tối đó, giờ phút chúng ta trải nghiệm sự bỏ rơi, chúng ta cần phải hướng về Chúa hơn nữa, để thờ lạy, để tin tưởng, vì chính Ngài là nguồn hy vọng của Chúa ta.

  • Bị bỏ rơi, một trải nghiệm đau đớn gắn liền với cuộc đời. Chúng ta nên có thái độ nào trong lúc bị bỏ rơi?

Nếu chính Chúa Giê-su cũng đã phải trải nghiệm sự bỏ rơi của Cha trên trời, ở trong hoàn cảnh thống khổ của Ngài, thì một cách nào đó Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng với Ngài đón nhận những giây phút chúng ta bị bỏ rơi trong hành trình cuộc sống.

Nếu chúng ta sẵn sàng đón nhận, nghĩa là chúng ta cho phép việc “bị bỏ rơi” có mặt trong cuộc đời chúng ta. Dù cho mỗi lần bị bỏ rơi, chúng ta đều phải đón nhận những đau đớn, cô đơn, buồn tủi và đôi khi thất vọng hoàn toàn. 

Ngay từ thuở ấu thơ, khi mới sinh vào cuộc đời, chúng ta đã nếm cảm được trải nghiệm của sự bỏ rơi. Là trẻ thơ chúng ta sẽ khóc thét lên, khi cha mẹ chúng ta bỏ chúng ta một mình trong nôi, trong chiếc võng “trống vắng” kia.

… Ngay từ ấu thơ và thời thiếu nhi và thiếu niên, trải nghiệm “bị bỏ rơi” đã đồng hành với chúng ta. 

Và trải nghiệm này tiếp tục đến với chúng ta, khi các đấng sinh chúng ta vào cuộc đời, ấp ủ yêu thương và dạy dỗ chúng ta từ tấm bé cho tới lớn khôn, giờ đây qua đời và bỏ rơi chúng ta. Có giọt nước mắt nào không chứa đựng đau đớn và buồn tủi, khi mất cha mất mẹ? Bản thân tôi đã cảm nghiệm, khi cha mẹ qua đời. Khi đi làm mục vụ đám tang cho những người cao niên, chứng kiến khung cảnh của các người con quây quần xung quanh quan tài của cha hay của mẹ, để nhìn cha nhìn mẹ lần cuối cùng, trước khi quan tài được đậy nắp, thật xúc động biết bao. Tiếng kêu la, tiếng than khóc, sự bùi ngùi của chia ly vĩnh biệt, và trong đó có cả cái buồn đau vì “bị bỏ rơi”… Làm sao có thể lý giải được huyền nhiệm của sự chết? Câm lặng sẽ còn câm lặng hơn, khi cảm giác cha mẹ bị “con cái” bỏ rơi để về với Chúa trước cha mẹ, trước ông bà, trước mọi người thân trong gia đình. Dù có khóc lóc thảm thiết, kêu gào thế nào, thì phận người vẫn bị bỏ rơi.

image.png

“Bị bỏ rơi” thuộc về cuộc đời này, dù chúng ta có chấp nhận hay không. Mỗi lần bị bỏ rơi là mỗi lần chúng ta sợ hãi. Nói khác đi, chúng ta luôn sợ hãi bị bỏ rơi. Tình yêu đôi lứa thật đẹp biết bao, bởi vì tình yêu làm nên giá trị của đời người, làm cho con người cảm nhận được hạnh phúc và cuộc đời thật đẹp, cuộc đời thật đáng sống. Nhưng trong tình yêu đôi lứa, tình yêu vợ chồng vẫn có một mùi vị của sợ hãi. Sợ người yêu, người bạn đời không trung thành, và bỏ rơi mình. Trong tình bạn bè, tình đồng nghiệp cũng không thiếu vắng mùi vị “bị bỏ rơi” và “chia tay”. Nhiều người không có khả năng và không chấp nhận “chia tay” và không chấp nhận “bị bỏ rơi”.

Rồi còn chiến tranh mà con người chúng ta gây ra cho nhau đã tạo nên biết bao cuộc bỏ rơi. Những em bé mất cha mất mẹ và đôi khi mất hết mọi người thân trong những cuộc chiến. Tuổi thơ chẳng tội tình gì, giờ bị bỏ rơi giữa biển đời nhiều sóng gió. Cảnh cha mất con, vợ mất chồng vì chiến tranh có lẽ không còn lạ lẫm gì trong thế giới chúng ta. Như thế, chúng ta mới thấy việc “bị bỏ rơi” là một điều gì rất thật và thuộc về cuộc sống của con người.

Anselm Gruen, một tâm lý gia và nhà thiêng liêng học đã nói rằng, trong con người chúng ta luôn có “một em bé bị bỏ rơi”. Chúng ta mang em bé này trong lòng mình, dù chúng ta có muốn hay không…

Như thế, điều chúng ta cần làm trong lúc bị bỏ rơi là hướng về Chúa Giê-su, và lắng nghe lời kêu cầu của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Lời này khuyến khích chúng ta hãy đón nhận hoàn cảnh bị bỏ rơi của chúng ta. Chúa Giê-su, Đấng trải qua hoàn cảnh bị bỏ rơi, và trong cầu nguyện Ngài đã thánh hóa sự bị bỏ rơi đó trở thành niềm tin tưởng vững vàng. Chính Ngài cũng muốn thánh hoá và biến đổi nỗi sợ hãi của chúng ta thành một niềm tin tưởng, là Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Như vậy, cầu nguyện là thái độ căn bản và quan trọng trong những lúc chúng ta bị bỏ rơi. Hãy cầu nguyện và trung thành cầu nguyện luôn mãi! Đừng buông xuôi và đừng bỏ rơi việc cầu nguyện! Khi chúng ta không bỏ rơi cầu nguyện, là chúng ta không bỏ rơi Thiên Chúa, khi chúng ta không bỏ rơi Thiên Chúa là chúng ta không bỏ rơi bản thân mình.

Karl Rahner đã suy niệm rất hay về hình ảnh cầu nguyện của Chúa Giêsu trên Thánh Giá: “Cái chết đang đến gần với Chúa…Cái chết đang đến gần. Đó là sự trống rỗng vô ngần, sự bất lực rất tàn nhẫn, sự cô đơn dày xéo. Nơi mà tất cả đều mềm ra, tất cả đều chạy trốn, nơi tất không còn gì cả, thì có sự bỏ rơi. Sự bỏ rơi đang cháy bừng, và đó là cái chết. Và trong đêm này, trong sự trống rỗng của trái tim mà tất cả mọi sự đã bị thiêu đốt, tâm hồn của Chúa vẫn luôn chìm sâu trong cầu nguyện, và sự cô đơn tàn nhẫn của trái tim Chúa – trái tim bị thiêu đốt bởi mọi sự đớn đau – ở trong Chúa trở thành một tiếng kêu duy nhất đến Thiên Chúa. Ôi, lời cầu nguyện của đớn đau, lời cầu nguyện của tình trạng bị bỏ rơi, lời cầu nguyện của bất lực tột cùng, lởi cầu nguyện của Chúa đã bị bỏ rơi…

Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa trong hoàn cảnh thống khổ đó vẫn cầu nguyện, thì tận cùng ở chỗ nào đi nữa, người ta vẫn có thể kêu lên cùng Cha”. 

Cầu nguyện và cầu nguyện. Đó cũng là phương cách của cha Alfred Delp, một tu sĩ dòng Tên, sống những ngày cuối cùng trong tù của phát xít Đức ở Berlin, trước khi Ngài bị treo cổ. Cầu nguyện là ở trong tương quan thân tình với Chúa, và nhờ đó chúng ta sẽ tìm thấy được ủi an cho hành trình cuộc sống, nhất là những lúc thống khổ nhất. Paglia đã nói rất sâu sắc: “Thật vậy, trong chiều sâu của tâm hồn chúng ta phải hiểu rằng, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con cái của Ngài, vì trong một ý nghĩa nhất định, Ngài cần đến chúng ta, để Ngài có thể là Thiên Chúa”.

 Với Chúa Giê-su, khi chúng ta phải trải qua kinh nghiệm bị bỏ rơi và cô đơn giống Chúa, thì với Ngài chúng ta không bao giờ thất vọng, với Ngài chúng ta vẫn kêu cầu lên Cha, dù cho lúc đó bóng đêm tưởng như đang nuốt chửng lấy Ánh Sáng, sự cô đơn tưởng như đã phá tan tình yêu của Cha dành cho Con. Không, ngay trong bóng đêm dày đặc của đời mình, trong nỗi thống khổ tột cùng, với Chúa Giê-su chúng ta vẫn thốt lên lời kêu cầu. Chúa biết chắc rằng, Cha Ngài luôn ở bên và lắng nghe Ngài. Qua đó, Chúa dạy chúng ta hãy noi theo gương Ngài, theo gương anh Bác-ti-mê, không bao giờ bỏ cuộc, mà luôn kiên tâm và hướng nhìn về Chúa.

Khi giải thích những lời Đức Giêsu nói trên Thánh Giá: “Lạy Chúa Trời, lạy Chúa Trời, tại sao Ngài bỏ con?”, thánh Âu-tinh giám mục đã bàng hoàng: ‘Lạy Chúa Giêsu là Đấng trung gian, là Thiên Chúa cao cả hơn chúng con nhưng đã trở thành người vì chúng con, đây chính là do lòng thương xót của Ngài. Bởi chưng, dù cao cả nhưng Chúa đã chấp nhận bối rối hoang mang chỉ vì muốn quan tâm yêu thương chúng con. Điều này làm rất nhiều chi thể của Ngài được an ủi. Tuy xao xuyến vì bản tính yếu đuối, nhưng họ vẫn không vì thế mà tuyệt vọng và chấp nhận hư vong” (Chú giải Gioan số 52).

… Các bạn thân mến, trong cầu nguyện, chúng ta hãy mang Thánh Giá hàng ngày của mình đến dâng lên Thiên Chúa trong niềm xác tín rằng Ngài hiện diện và lắng nghe chúng ta”. 

Hơn nữa, “đặt tất cả niềm tín thác và hy vọng của mình vào Thiên Chúa Cha, và trong mọi hoàn cảnh khốn cùng, chúng ta cũng có thể cầu xin Ngài trong đức tin, và lời kêu xin giúp đỡ của chúng ta sẽ được biến đổi thành một bài ca chúc tụng”. 

Thật vậy, trong cầu nguyện và với niềm tín thác cùng hy vọng, chúng ta sẽ được Thiên Chúa đồng hành, ban ơn và giúp chúng ta biết sống như Chúa Giêsu đón nhận những đau khổ xảy đến, cũng như biết can đảm đối diện với sự dữ luôn gây ra khổ đau. Đối diện với sự dữ nhưng chúng ta xác tín rằng, sự dữ không bao giờ thắng được, vì có Chúa, Đấng quyền năng và nguồn mạch của lòng thương xót ở bên chúng ta.

  • Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, vì sự dữ không bao giờ thắng được. 

Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?” Lời này không chỉ xé tan bầu khí thinh lặng, mà còn xé nát cõi lòng thâm sâu. Ngày xưa Chúa Giê-su đã kêu lên với Cha, hôm nay chúng ta có thể kêu lên với Chúa Cha như vậy không? Khi chúng ta thất bại trước cám dỗ và rơi vào trong vòng tròn tối tăm và quỷ quyệt của sự dữ, chúng ta còn có thể kêu lên như Chúa Giê-su không?

…Trong hoàn cảnh đó, chúng ta biết rằng sức chúng ta có hạn, và tự bản thân chúng ta không thể thắng vượt được thần dữ. Nhưng may thay, chúng ta có Chúa ở bên chúng ta, người Cha đã dựng nên chúng ta và đưa chúng ta vào cuộc đời, Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta một mình, Ngài không bao giờ để chúng ta phải quằn quại đau đớn trong hố sâu của đêm đen mà thần dữ đang ngự trị.

Ở đây, chúng ta cũng nhớ lại lời Kinh Lạy Cha với hai câu “xin cứu chúng con ra khỏi sự dữ”, mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta và chúng ta ý thức rằng: “Con người sống trong lòng một thế giới luôn bị đe dọa bởi quyền lực của thần dữ, bởi sức mạnh của thế lực đen tối luôn đối nghịch với tình yêu của Thiên Chúa. Qua lời cầu nguyện căn bản này, con người xin Thiên Chúa giải thoát họ khỏi quyền lực của thần dữ, kẻ có thể bắt chúng ta, những con người yếu đuối, trở thành kẻ tòng phạm của chúng. Lời cầu xin này kết nối với lời cầu nguyện của Chúa Giê-su dành cho chúng ta : Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần’ (Ga 17,15).

Chúa Giê-su tiếp tục cầu nguyện cho chúng ta, và Ngài cũng dạy chúng ta ý thức cầu nguyện luôn mãi: ‘xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ’. Đó là một lời cầu nguyện căn bản và đầy tin tưởng, phát xuất từ chính tâm hồn của chúng ta, khi chúng ta rơi vào tay của ác thần đang giam hãm chúng ta trong đêm đen, và gây ra cho chúng ta biết bao đau khổ. Lời cầu xin này là tiếng cầu cứu của chúng ta với Thiên Chúa, một lời cầu cứu rất thật và rất đơn sơ của người con nhỏ bé và đầy giới hạn dâng lên Cha quyền năng ở trên trời.

Khi kêu cầu với Cha như vậy, là chúng ta đang tuyên xưng niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa, vì Người đã thắng thủ lãnh thế gian này, nhờ sự chiến thắng của Đức Giêsu phục sinh. Lời cầu nguyện của chúng ta cũng là một cách kêu gọi chúng ta tỉnh thức để luôn luôn sẵn sàng đón Chúa đến. Sau hết, lời cầu nguyện ấy chính là một tiếng kêu đầy hy vọng, tin tưởng rằng ơn Chúa sẽ làm cho ‘bất cứ ai sinh bởi Thiên Chúa’ (Ga 5,18) khỏi bị nhiễm độc. Vì Chúa Cha ‘dắt ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào Nước Con chí ái của Người’ (Cl 1,13).

Trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót, chúng ta tin rằng, quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi – non praevalebunt  (x.Mt 16,18b). Mặc dù tỏ ra yếu ớt, nhưng sức mạnh của thần tốt – thần lành sẽ chống trả lại với quyền lực của thần dữ và sẽ chiến thắng chúng. Đó cũng chính là sự xác tín của thánh Phao-lô tông đồ: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,8-10).

Ngoài ra, với những câu cuối cùng của Thánh Vịnh 22, chúng ta xác tín vào sức mạnh của Thiên Chúa, là Vua Vũ Trụ, là Đấng Công Chính và luôn giàu lòng xót thương với con cái của Ngài. 

“Bởi vì CHÚA nắm quyền vương đế,

Người thống trị chư dân.

Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất

sẽ đều bái lạy một mình Người,

phàm những ai trở về cát bụi

sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa,

con cháu tôi sẽ phụng sự Người.

Thiên hạ sẽ nói về Đức Chúa

cho thế hệ tương lai,

truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người,

rằng: Đức Chúa đã làm như vậy!” (Tv 22,29-32).

  • Bài tập sống di ngôn thứ tư của Chúa Giêsu trên Thánh Giá. 

Đến trước tôn nhan của Chúa Giêsu đang bị đóng đinh trên Thánh Giá, bạn kính cẩn cúi đầu thờ lạy Ngài. Dành một phút thinh lặng bạn chiêm ngắm Ngài. Đấng chịu chết cho bạn, vì Ngài yêu thương Bạn.

Sau đó, quỳ xuống hoặc ngồi xuống bạn tiếp tục chiêm ngắm Chúa, và lòng bạn tự nhủ: Ngài tự mình gánh lấy không những chỉ nỗi thống khổ của của tôi và của nhiều người, những nỗi thống khổ đó chúng ta chịu bởi tội lỗi chúng ta, bởi chúng ta bị sự dữ áp đảo. Ngài đang gánh mọi khổ đau của bạn, của tôi và của muôn người trên thân xác của Ngài.

Bạn hãy suy xét trong lòng: Trước tình yêu và lòng thương xót vô bờ của Chúa, tôi nên có tâm tình gì cho Chúa đây? Tôi có muốn nói gì hay làm điều gì để diễn tả lòng biết ơn của tôi, để chia sẻ phần nào nỗi thống khổ của Chúa?

Với lời kêu cầu “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”, Chúa Giê-su diễn tả cảm nhận bị bỏ rơi của Chúa, nhưng tiềm ẩn trong lời cầu nguyện này là một niềm tin tưởng mãnh liệt vào Thiên Chúa, Đấng không bao giờ ở xa Con Một của Ngài.

Có khi nào bạn đã cầu nguyện giống Chúa Giê-su như vậy không? Bạn hãy nhớ lại giây phút đó, trải nghiệm đó. Giờ đây, một lần nữa bạn hãy dâng lời cầu  nguyện với Thiên Chúa, lời cầu nguyện gắn liền với sự kiện trước đây bạn đã gặp! Bạn có cảm thấy Chúa ở gần bạn không? Chúa đã lắng nghe bạn thế nào? Qua dấu hiệu gì bạn cảm nhận được Chúa lắng nghe bạn và yêu thương chở che bạn?

image.png

“Bị bỏ rơi” là một điều thuộc về cuộc sống của đời người. Tuy nhiên, có những “cuộc bị bỏ rơi” mà chúng ta không thể chấp nhận được. Bạn có trải nghiệm đó không? Bạn hãy nhớ lại biến cố hay sự kiện bạn bị bỏ rơi, và bạn đau khổ sợ hãi quá đỗi, đến nỗi hôm nay bạn vẫn không thể chấp nhận điều đó đã xảy ra với bạn.

Bạn xin Chúa ban thêm cho bạn ơn can đảm và niềm tin tưởng cậy trông, để bây giờ bạn nhớ lại giây phút đó, giây phút bạn bị bỏ rơi. Đừng sợ hãi quá! Hãy cứ để những cảm giác của ngày xưa trở lại. Nhưng mỗi cảm giác tiêu cực đó trở về, bạn hãy đưa đến bên Thánh Giá Chúa, dâng lên Ngài, và cùng với Chúa Giê-su bạn hãy cầu nguyện với Cha trên trời, Đấng giàu lòng thương xót đang lắng nghe và dịu dàng đón nhận tâm tình của bạn.

Bạn hãy để lòng bạn tự nhiên thúc đẩy và đánh động bạn. Nếu bạn muốn khóc, hãy để những giọt nước mắt rơi ra! Nếu bạn cảm thấy chỉ muốn đứng im lặng và hướng nhìn lên Chúa, bạn hãy làm như vậy! Có thể, bạn hãy thử đưa đôi tay của mình lên và hướng về Chúa Giêsu trên Thánh Giá, như là bạn dâng nỗi niềm đang có trong tâm hồn cho Ngài!

Ngoài ra, nếu bạn cảm thấy muốn nói gì đó với Chúa, Đấng yêu thương bạn và không bao giờ để bạn cô đơn lẻ loi một mình, bạn hãy nói với Ngài.

Kết thúc, bạn dâng lên Chúa một lời kinh Lạy Cha hay một bài hát mà bạn cảm thấy muốn hát trong lúc này.

https://www.youtube.com/watch?v=7ArShQCDA8k

TÔI LÀ NGƯỜI NƯỚC NÀO?

Dĩ nhiên, tôi là Đỗ Chiêu Đức, được sanh ra ở xã Thường Thạnh và lớn lên ở xã Thường Thạnh Đông, chợ Cái Chanh. Cái Chanh, cách Thị Trấn Cái Răng khoảng 5 cây số đường đất, với cầu ván đóng đinh cũng có, mà cầu tre lắt lẻo cũng nhiều.

Nên mặc dù là người Việt gốc Hoa (Triều Châu), tôi chỉ biết gọi Cha Mẹ Anh Chị bằng Pá Má Hia Chế và các từ thông dụng như Ăn cơm, ăn cháo là ” Chìa bừng, chìa múi…” ra, thì toàn bộ sinh hoạt gia đình đều bằng tiếng Việt của Nam kỳ Lục Tỉnh.7 tuổi vào trường làng học lớp Đồng Ấu, học đánh vần với quyển Con Gà Con Chó.

Tôi lại nổi tiếng đánh Cờ Nhào giỏi nhất đám con nít ở Cái Chanh. Một hôm, có Bác Ba ở xóm Ông Cò Nhỏ, nghe tiếng tôi tìm đến đánh thử, Bác ghìm với tôi chừng nửa tiếng đồng hồ, rồi cũng bị tôi lừa thế nhào đôi, rồi nhào ba, bác thua là cái chắc. Bác Ba xô bàn cờ đứng dậy, xoa đầu tôi và khen : “thằng Đức thông minh thiệt!”. Tôi nổi tiếng “thông minh” từ đó!

10 tuổi (1958) ra chợ Cái Răng học chữ Hoa, cậu tôi mới dạy cho tôi đánh cờ Tướng, và câu chuyện bắt đầu từ đây…

Trước 10 tuổi, lớn lên và học chữ Việt ở xã Thường Thạnh Đông, chợ Cái Chanh. Tôi là một đứa bé nông thôn nhà quê Việt Nam thuần túy. Khi ra đến Thị Trấn Cái Răng học chữ Hoa ở Trường Tiểu học Tân Triều của người Hoa sáng lập, tôi mới thấy được chiếc xe hơi Traction chạy đưa khách từ Cái Răng đi Cần Thơ, phố xá nhà lầu hai ba từng, và điều làm tôi ngạc nhiên nhất là một hôm, đang trên đường đi tới trường, thì có mấy đứa nhỏ cũng đi học ở một trường Việt gần đó, chỉ trỏ và nói rằng: Mấy đứa “Ba Tàu” giàu hơn mình, đi học phải mang giày, còn mình thì đi chân không thôi !

Tôi không biết “Ba Tàu” là gì, nhưng rồi cũng phải biết, vì 2 tiếng “Ba Tàu” nầy theo tôi suốt thời gian niên thiếu, như khi chuyển sang học luyện thi bằng Tiểu Học ba tháng, lớp tôi 11 đứa đậu được 10 đứa, thì các bạn ở trường Việt lại khen: Mấy đứa “Ba Tàu” nầy giỏi thiệt. Một tháng sau, tôi đậu luôn vào Đệ Thất của trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, thì lại nghe: Cái thằng “Ba Tàu” đó giỏi qúa! Hai năm sau (1964), tôi đi thi ẩu … và đậu luôn bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Mấy anh học Đệ Tứ thi rớt lại mĩa mai một cách thán phục: Cái thằng “Ba Tàu” đó mới học Đệ Lục, sao mà đậu bằng Trung Học được ?!

16 tuổi (1964), Tôi và ông bạn Liêu Chương Cầu lên Chợ Lớn, làm lao công trong trường Phước Đức ở số 226 đường Khổng Tử (nay là trường Trần Bội Cơ). Chợ Lớn là nơi kinh doanh buôn bán của người Quảng Đông, cả người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng biết nói tiếng Quảng Đông. Tôi là người Tiều Châu, tiếng Tiều còn nói không rành, làm sao biết tiếng Quảng Đông mà nói. Tôi và ông bạn Cầu chỉ lỏm bỏm được vài câu Quan Thoại cà trật cà vuột, nên nhiều khi văn phòng hoặc thầy cô giáo sai biểu hoặc nhờ cậy điều gì, phải nói tới nói lui mấy lần hoặc phải ra dấu thì mới hiểu được, nên các thầy bà đó gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy” (tiếng Quảng Đông có nghĩa là “Thằng An Nam”). Và không chỉ ở trong trường, đi mua đồ, hay đi ăn cơm ở các sạp cơm bình dân, vì đang tập nói tiếng Quảng Đông nên phát âm không chuẩn, họ vẫn gọi chúng tôi là “Ón Nàm Chẩy” như thường.

50 tuổi (1998), định cư ở Mỹ, rồi phải chạy theo cuộc sống ở đây, đâu có thời giờ để mà đi học tiếng Anh. 56 tuổi (2004) nhập quốc tịch Mỹ, nhưng nói chuyện với Mỹ vẫn “mõi tay” như thường ! Và mấy người Mỹ làm chung ở trường học vẫn gọi tôi bằng Vietnamese, mặc dù tôi đã là công dân Hoa Kỳ rồi, nghĩ có tức không?! Nhưng nếu nói mình là người Mỹ, thì mình có nói rành tiếng Mỹ đâu mà câu mâu !? Nhưng, đây cũng là một điều bất công rất tự nhiên trên nước Mỹ: Người Đức, Người Ý, Người Pháp, người Anh… nói chung là người da trắng, khi nhập tịch Mỹ là thành ngay Mỹ Trắng. Người Châu Phi bất kể nước nào, nhập tịch Mỹ, thì thành Mỹ Đen. Nhưng người “da vàng mũi tẹt” nhập tịch Mỹ, không có ai gọi là “Mỹ Vàng” cả ! Ngay cả người da vàng với nhau, gặp nhau cũng hỏi : where do you come from?( Bạn từ đâu đến đây ?) Ý muốn hỏi, bạn là người đến từ Đài Loan, Nhựt Bổn, Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…

Dưới 10 tuổi ở Cái Chanh, tôi là em bé quê Việt Nam, khi ra đến chợ Cái Răng thì thành “Ba Tàu”, lên đến Chợ Lớn thì lại thành “Ón Nàm Chẩy”. Qua đến Mỹ, mặc dù đã nhập tịch rồi vẫn bị gọi là Vietnamese !!Việt Nam chê, gọi tôi là “Ba Tàu”, nhưng họ chưa chắc đã giỏi tiếng Việt bằng tôi. Cũng như Tàu chê tôi, gọi tôi là “Thằng An Nam”, nhưng họ cũng đâu có giỏi tiếng Tàu bằng tôi đâu ! Chỉ có Mỹ chê, gọi tôi là Vietnamese thì tôi chịu, vì tôi nói tiếng Mỹ rất “mõi tay”. Rốt cuộc, Đỗ Chiêu Đức là người gì đây?! TÀU – VIỆT – MỸ.

Hỏi chơi thôi! Chớ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng! Sanh ra và lớn lên ở VN, nơi chôn nhau cắt rún là VN, mồ mả ông bà tổ tiên ở VN, cha mẹ còn ở VN, anh em con cháu còn ở VN…Chỉ có cái “gốc Hoa” mà thôi! Mà đã là “gốc” thì mình đâu có chọn lựa được! Qua Mỹ 20 năm (1998-2018) tôi không có về thăm “gốc” lần nào cả, vì có biết ai bên đó đâu mà “thăm”, có thăm thì cũng có ai biết mình là ai đâu mà “viếng”! Nhưng, tôi lại về VN đến 10 lần, cứ chắc mót 2 năm đủ tiền mua vé máy bay là vợ chồng tôi lại bay về VN thăm Cha Mẹ, em út, con cháu và bà con cô bác …. Đặc biệt năm 2013 về VN đến 2 lần vì Ba tôi mất …

Không phải chỉ riêng tôi, mà tất cả người Việt gốc Hoa đều như thế cả! Về thăm Trung Quốc chỉ là để du lịch khi dư dả, còn về thăm thân nhân ở VN mới là chánh.

Tục ngữ Việt Nam có câu: ĂN CÂY NÀO RÀO CÂY ẤY.                                        (từ Cần Thơ xưa và Nay)

From: Tu-Phung

Báo Pháp nói cảnh sát Paris ‘phá đường dây ma tuý Việt Nam’ và bắt ông trùm N’Guyen V

BBC

4 tháng 4 2023

Ecstasy-hình minh họa

Trang Le Parisien ở Pháp hôm 02/04/2023 có bài nói về thành tích của cảnh sát nước này vừa phá được một đường dây ma tuý lớn.

Dùng cụm từ mang tính chỉ trích, bài của Denis Courtine gọi đây là “La Viet Connection” và cho hay một người đàn ông Việt Nam 37 tuổi, N’Guyen V, còn gọi là “Le Gros” đã bị bắt.

Cảnh sát vùng Val-de-Marne đã tịch thu được tới 120 kg ecstasy trong cơ sở mà người đàn ông kia sử dụng ở Kremlin-Bicêtre làm nơi xuất nhập khẩu hàng hóa, theo tờ báo Pháp.

Điều đáng chú ý là, theo nguồn tin của báo Pháp thì ma tuý ecstasy được “sản xuất ở một vài nước Phương Đông, trong phòng thí nghiệm của băng đảng Việt Nam”.

Loại hàng cấm này thường được đưa vào Đức lâu nay nhưng giờ thì có tại Pháp.

Nguồn tin cũng nói tại các nước thuộc Liên Xô cũ, “đường dây Việt” luôn tồn tại.

Vợ của N’Guyen V được cho là một thợ uốn tóc từ Hà Lan tới Pháp và cũng đang bị cảnh sát tạm giữ để thẩm vấn.

EU: Băng đảng VN tại Đức ‘buôn ma túy’ và nhận cha giả mạo

Cocaine trôi dạt đều đặn vào bờ biển Pháp

LHQ: Myanmar tăng sản xuất nha phiến, bán vào VN và TQ

Liên Hiệp Quốc: ‘VN là điểm đến hấp dẫn của giới tội phạm ma túy’

Cả nhóm nghi phạm này gồm 7 người đã bị tạm giam.

Cũng liên quan đến ma tuý ở Pháp, hôm 16/3/2023, tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, lực lượng chức năng đã phát hiện và bắt giữ bốn tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines chuyển từ Pháp về số lượng lớn ma túy cất giấu trong các tuýp kem đánh răng.

Tuy thế, sau một thời gian ngắn, họ đã được thả tự do và hình một trong số bốn phụ nữ cười tươi như hoa bên chiếc bàn đầy ắp ma tuý do nhà chức trách công bố đã khiến một phần dư luận VN bức xúc.

Sự thực là họ chỉ được tạm thả ra và nhà chức trách ở VN vẫn mở cuộc điều tra về hơn 11 kg ma tuý đem về từ Pháp.

Sân bay VN – hình minh họa

Vụ việc cũng làm dư luận đặt câu hỏi về hoạt động “buôn chuyến” hay “xách tay hàng hóa” của nhân viên, tổ bay Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam từ lâu nay.

ĐÃ TỪNG CÓ MỘT VIỆT NAM VĂN MINH, LỊCH THIỆP HƠN CẢ NHẬT VÀ MỸ

Tháng 9 năm 1987 tôi rời Hà Nội vô Sài gòn nhận công tác, chỗ tôi dừng chân tá túc đầu tiên là cổng Phi Long (khu vực Lăng Cha Cả).

Cũng là Việt Nam nhưng Sài Gòn tạo cho tôi những cảm xúc choáng ngợp và kinh ngạc, không phải vì Sài Gòn giàu có, cái mà tôi choáng ngợp chính là sự văn minh, lịch thiệp và tử tế của người dân Sài Gòn.

Trái ngược với dân Hà Nội, người Sài Gòn rất tử tế và thật lòng, mỗi lần đi chơi không biết đường về, khi chúng tôi hỏi đường, mọi người dường như không nề hà, chỉ bảo ân cần, nếu họ không biết, họ hỏi người khác rồi tận tình hướng dẫn cho chúng tôi.

Người Sài Gòn niềm nở dễ mến, ào ào nhưng nhân hậu và thật lòng.

Đi uống cà phê, đầu tiên nhân viên ra lau bàn sạch sẽ rồi mới nhẹ nhàng hỏi khách: “Anh uống (ăn) gì?”, khi thanh toán cũng thật nhẹ nhàng, thối tiền tử tế cho khách xong bao giờ cũng có câu:

“Cám ơn anh! Lần sau nhớ ghé quán em”. Có thế thôi, nhưng đối với tôi, lần đầu không khỏi kinh ngạc, vì Hà Nội không bao giờ được nghe những câu như thế.

Đi mua bán, đi chợ ở Sài Gòn, câu cửa miệng thường trực của các tiểu thương người Sài Gòn là “Cám ơn…!

Lần sau nhớ ghé”. Thật! Buôn bán như vậy thì làm sao mà không có lần sau kia chứ(!).

Một lần tôi ghé nhà thằng “lính” (cấp dưới tôi) ở Thủ Đức, nó là dân gốc Sài Gòn. Điều làm tôi kinh ngạc nhất là khi thằng em trai nó đi học về, nó khoanh tay cúi gập người và chào một lượt quanh nhà:

“Con thưa má, thưa ba con đi học về!”, “Em chào anh ba em đi học về”. Quay sang tôi, nó khựng lại giây lát rồi chào: “Em chào anh… em mới đi học về!”

Chưa hết đâu, không phải chỉ người Sài Gòn, khi tôi về vùng huyện Đất Đỏ, tỉnh Đồng Nai (nay thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu), vùng quê chân chất nhưng cũng văn minh không kém.

Hôm đó tôi đi coi hát (xem cải lương), tôi rất kinh ngạc khi mọi người rất trật tự, không la ó, chen lấn xô đẩy hoặc sàm sỡ con gái, phụ nữ như ngoài Bắc, họ vỗ tay tán thưởng ca sỹ những đoạn ca dài hơi hoặc ca hay. Tôi rất ngạc nhiên các bạn ạ!

Trên đây tôi chỉ sơ lược được vài điều khiến tôi “kinh ngạc” vào thời điểm đó. Kinh ngạc trước những cái mà nhà trường hồi đó đã dạy tôi.

Đấy, các bạn thấy đấy, đã “giải phóng” được 12 năm nhưng người Sài Gòn vẫn giữ được nét văn minh lịch sự vốn có của họ.

Nhưng, cho đến nay thì có thể do “Bắc hoá” nên hầu như những nét văn minh đó đã trở thành quá khứ.

Quay trở lại điều tôi muốn nói, mấy ngày nay, tràn ngập các trang mạng là hình ảnh lãnh đạo và nhân viên của cây xăng Nhật bản cúi gập người chào và cám ơn để tỏ lòng tri ân khách hàng, người thì ca tụng, kẻ thì chê bai họ “làm màu” với nhiều ý kiến trái chiều.

Việc báo chí và các trang mạng “lên đồng” với hành động mà nhiều người thấy lạ của ông Hidoki Honfo đứng dưới mưa gập người chào khách có phải là điều bất thường không(?) Xin trả lời là không(!)

Điều bất thường lại là chính chúng ta, Việt nam ta đã từng như thế, cũng văn minh không kém người Nhật tý nào. Nhưng chỉ có điều… những điều như thế đã trở thành quá khứ(!).

From: TU-PHUNG