Vì sao mất nước?

Báo Tieng Dan

Là Công dân

4-4-2023

Khi phương Tây tràn sang, cõi Á đông từ trước vốn tự xưng hùng xưng thánh, bỗng nhiên hiện nguyên hình: Chưa đánh đã bại. Nước bị người lấy mất như lấy trái táo trên bàn ăn, là cớ làm sao? Những lý do như nghèo nàn, lạc hậu thì rõ rồi, nhưng vì sao mà ra thế thì có lẽ phải bàn cho sâu hơn.

Từ khi thiết lập nền cai trị chuyên chế, tạm tính từ Tần Thủy Hoàng cho đến khi quân chủ sụp đổ vào thế kỷ 20, mục đích lớn nhất, cao trọng nhất của các vua chúa Đông phương không phải là dân tộc hùng cường, dân chúng hạnh phúc mà là giữ ngai vàng.

Để giữ ngai vàng thì không gì diệu dụng cho bằng ngu dân.

Dân càng ngu thì ngôi cao càng vững. Chính vì thế, những triều đình ấy mới tận lực mà thi hành chính sách ngu dân. Dân không được bàn việc nước, một tiếng “yêu nước” thì phải tội phải khổ. Vua là nước, nước là vua, dân chỉ được yêu vua. Trong dân nếu có kẻ nào có chút tài thì phải ra cho vua dùng (mà thực ra là sai khiến và nắm chặt trong tay để phòng trừ mối họa), không ra là mắc vào tội khi quân. “Về quê” thì phải kiếm cớ “cáo bệnh” chứ không thể vứt áo mũ giữa triều đình mà khoát tay ra đi. Những cái “cầu hiền” cũng chẳng qua là mưu chước cốt không cho kẻ nào ở ngoài vòng kiểm soát.

Trong các xã hội chuyên chế ấy, vua chúa phải thiết pháp luật và bày ra tà thuyết mục đích là làm cho dân chúng tay chân yếu mềm, đầu óc giản đơn, suốt đời quay cuồng với miếng ăn không có thời gian mà nghĩ suy về lẽ đúng sai hay dở nữa.

Dân được chăn như bầy cừu, nếu có kẻ nào manh tâm đổi sắc thì nhân đó mà “dạy bảo” cho toàn cõi bằng cái án tru di. Dân đã ngu còn bị làm cho khiếp nhược.

Rủi thay, thế giới không chỉ một nước. Gặp kẻ mạnh tràn qua, dân dù triệu triệu cũng chỉ như gà trong chuồng nhỏ, muốn bắt muốn thịt thế nào cũng đành chịu. Triều đình quyền uy lộng lẫy xưa nay bỗng hóa ra lũ người hèn đớn thảm hại, vì chỉ lo ăn chơi hưởng lạc chứ nào đâu có tâm xây dựng cho quốc gia hùng cường. Hữu sự rồi mới thấy toàn là hổ giấy hàng mã cả.

Tất cả các nước chuyên chế đều là những cơ thể đầy bệnh tật. Dân chúng thì ngu dại nhưng đầy ảo tưởng tự hào, lại thêm sức vóc hèn kém; quan quân thì hôn ám, lâu nay mở miệng ra chỉ rặt một giọng giáo điều, khi đụng chuyện thì như kẻ què cụt không có thực lực để mà đối trị. Hãy cứ nhìn một nước rộng lớn luôn tự xưng “hùng cường” như nước Tàu mà hết bị Mông Cổ, Mãn Châu đến Nhật Bản đánh cho bại vong ê chề bao phen, thì rõ. Nhà Nguyễn mà bị Pháp vừa khẽ đụng tay đã đổ kềnh, cũng vì một lẽ ấy. Rồi lại nhìn vào nước Nga đây, khi chưa mang quân đánh Ukraine thì cũng hô hào lừng lẫy lắm, đụng vào chiến sự rồi mới thấy là võ mồm, không những không làm gì được một nước “vô danh tiểu tốt” đã đành mà còn bị đánh cho đến nhục nhã thảm hại.

Ở đâu và thời nào cũng thế, dù xưa hay nay, hễ bất cứ một nước nào đã đeo cái gông chuyên chế trên cổ thì nước ấy chỉ có đường làm nô lệ cho người. Xưa thì bị lấy mất nước, nay thì phụ thuộc kinh tế và bị lép vé đủ đường. Thân phận cũng chẳng khác gì một nước chư hầu hiện đại.

“Dân giàu nước mạnh” cũng chưa phải là đã đúng hẳn; dân phải khôn thì nước mới mạnh.

Nhìn cho rõ bản chất của các nhà nước chuyên chế, là luôn chủ trương ngu dân để giữ lợi lộc cho riêng mình, thì dân nước ấy phải nỗ lực mà tự học, đặng thoát ra khỏi vòng xiềng xích của tuyên truyền dối trá và giáo dục nhồi sọ.

Người Việt chỉ yêu nhà chứ không yêu nước, thành ra để mặc đất nước cho một nhóm người bóp nặn vày vò. Mà có biết đâu, yêu nhà như thế thì đâu có giữ được nhà. Chỉ khi nào mỗi mỗi người dân biết yêu nước mà làm chủ lấy cái đất nước của mình, thì lợi nhà không cố giữ mà cũng chẳng mất đi được. Cái yêu nước của người Việt xưa nay chỉ nảy ra mỗi khi có ngoại xâm chứ không màng đến việc nội trị. Yêu nước mà nếu chỉ có đến thế thì khác nào mang thân đi giữ lợi cho kẻ khác? Yêu nước là phải vừa lo giữ nước vừa nỗ lực làm chủ đất nước của mình, thế mới là người có trí não.

Nhỡn giới phải mở ra khỏi cảnh cổng nhà mình, thấy hàng xóm bị nạn thì bước ra, thấy người trong nước hữu sự thì chớ coi là việc chẳng can hệ. Chỉ có như thế mới mong đẩy lùi nạn chuyên chế, thiết lập quyền lợi quốc dân, xây dựng nên nền dân quyền pháp trị, mà giữ gìn đất nước cho con cháu mình mãi mãi về sau.

Vụ cha con Trần Quí Thanh bị bắt, có phải “nuôi béo rồi thịt”?

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

11-4-2023

Vụ cha con Trần Quí Thanh bị bắt, có phải là “nuôi béo rồi thịt” như thuyết âm mưu mà nhiều người vẫn đang nói? Đọc những bài như “Đồng Nai: Doanh nghiệp có nguy cơ mất dự án “nghìn tỷ” vì chiêu trò có dấu hiệu vi phạm pháp luật” trên báo Pháp Luật thì rõ.

Tóm tắt và ví dụ thế này cho dễ hiểu. Tôi đến nhà cha con ông Thanh vay tiền, ông ta nói ok, nhưng với điều kiện là phải làm thủ tục chuyển nhượng ngôi nhà mà tôi đang ở cho ông để “làm tin”. Nhà tôi có giá 100 tỉ đồng, nhưng trong hợp đồng này chỉ được “bán” với giá 10 tỉ. Lãi suất cao mà tôi phải trả sẽ được ghi trong hợp đồng với danh nghĩa “tiền cọc”.

Tôi vẫn trả lãi đầy đủ và đều đặn hàng tháng cho cha con ông Thanh, nhưng có 1 tháng bị chậm chỉ 1 ngày, thế là lập tức cha con ông Thanh “phạt” rồi cướp nhà luôn. Cũng ngay lập tức tôi gom tiền để trả cả gốc, cả lãi và số tiền bị phạt để hủy cái hợp đồng chuyển nhượng trá hình kia. Nhưng cha con ông này không chịu. Vậy là căn nhà 100 tỉ của tôi bị cha con ông Thanh “mua” với giá 10 tỉ đồng! Cũng theo bài báo, có nhiều người đã bị “cướp” theo phương thức này chứ không phải mình tôi.

Đây là chiêu thức lừa đảo vi phạm pháp luật, nhằm chiếm đoạt tài sản đầy dã tâm, độc ác và tàn bạo.

Ba cha con Trần Quí Thanh, Trần Uyên Phươngvà Trần Ngọc Bích đã bị bắt. Ảnh: Bộ Công an

Vụ “con ruồi” mà cha con Trần Quí Thanh đã giăng bẫy, đẩy anh Minh vào tù với 7 năm giam cầm, chắc chưa ai quên được.

Tôi từng biết vài người chuyên làm nghề cho vay tiền cũng với phương thức tương tự, nhưng chưa gặp trường hợp nào tàn bạo và dã man như cha con nhà đại gia này. Họ làm hợp đồng chuyển nhượng từ điện thoại/xe/đất/nhà, cũng chỉ để làm bảo đảm, rồi nếu khách hàng có kẹt tiền mà chậm trả lãi hàng tháng hay vài tháng, cũng sẽ được thông cảm mà tạo điều kiện, chứ không ăn cướp như “nhà ruồi” – dù họ là dân xã hội đen, sống bằng nghề cho vay “tín dụng đen”.

Vậy, có phải là “đánh tứ sản” hay “nuôi béo rồi thịt” không, chắc mọi người đã tự có câu trả lời. Nhưng có điều này thì đúng: trong các xã hội đổ nát, thì kẻ nào cũng có thể là tội phạm tiềm năng.

Việt Nam: Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo thất bại chia rẽ Giáo Hội Công Giáo

VOA

10/04/2023

Chính quyền Việt Nam công bố sách trắng tôn giáo ngày 9/3/2023. Photo Truyen hinh Thong Tan VNews.

Chính quyền Việt Nam công bố sách trắng tôn giáo ngày 9/3/2023. Photo Truyen hinh Thong Tan VNews.

 Khi tự do tôn giáo chưa trọn vẹn, UBĐKCG như ‘cây thánh giá’ mà Giáo hội Công giáo Việt Nam phải vác.

Võ Ngọc Ánh

Ủy ban Đoàn kết Công giáo (UBĐKCG) là tổ chức được chính quyền Việt Nam dựng lên với mục tiêu chi phối, kiểm soát đạo Công giáo.

Tổ chức này là kết quả của sự sáp nhập của hai nhóm Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc, thành lập tại miền Bắc năm 1955 và Hội những người Công giáo kính Chúa yêu nước, của Mặt trận Giải phóng miền Nam lập năm 1961.

Trái với tên gọi, UBĐKCG Việt Nam là tổ chức được lập ra để chia rẽ trong Giáo hội Công giáo.

UBĐKCG Việt Nam là sự bắt chước Hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc thần phục chính quyền và không hiệp thông với Đức giáo hoàng.

Tuy nhiên, từ khi thành lập tháng 11/1983 đến nay, UBĐKCG không thành công trong mục đích gây chia rẽ giáo hội Công giáo ở Việt Nam.

Gần như không có vị giám mục Công giáo nào công khai ủng hộ, tham gia vào UBĐKCG.

Việc cho phép các linh mục tham gia vào tổ chức này, cũng như ra ứng cử đại biểu quốc hội, tùy thuộc vào quan điểm của các giám mục. Có vị cấm, có vị làm lơ. Điều này phụ thuộc vào tương quan tôn giáo và nhà nước trong mỗi giáo phận.

Một số viên chức chính phủ cũng nhìn nhận sự thất bại của UBDKGG. Trong một bài viết đăng trên tờ Tạp chí Mặt trận, ông tổng biên tập tờ Người Công giáo Việt Nam ở Hà Nội đã nhận định: Khó khăn lớn nhất là do tổ chức này không phải là tổ chức của Giáo hội Công giáo. Đa phần tín hữu Công giáo xem đây là tổ chức “quốc doanh” do Đảng và Nhà nước lập ra, nên có cái nhìn thiếu thiện cảm.

Người trong cuộc cũng không tin vào UBĐKCG

Linh mục Benedictô Nguyễn Tấn Khóa (1935 – 2015), lúc sinh thời từng là Phó chủ tịch, rồi Chủ tịch UBĐKCG trong hai nhiệm kỳ từ 1997 – 2008, và ông cũng từng là đại biểu quốc hội khóa XI (2002 – 2007) tự nhìn nhận về việc tham giao vào ủy ban UBĐKCG.

“Tôi cũng như cái bình hoa, khi cần thì người ta bưng ra chưng, hết việc thì người ta lại cất vào”. Ông nói điều này một cách công khai chứ chẳng giấu giếm.

Bản thân ông không tin tưởng vào UBĐKCG, và nhận diện đây là tổ chức gây chia rẽ Công giáo. Mà ở đó chính quyền chọn linh mục làm lãnh đạo cũng chỉ là công cụ để nghe ngóng, theo dõi giáo hội Công giáo.

Tại Hà Nội, linh mục Khóa được chuẩn bị sẵn một phòng cho ông nghỉ mỗi khi ra đó làm việc. Trong một lần có thầy chủng sinh (người đang được đào tạo làm linh mục) đi cùng, ông đã nhắc nhở, “Vào đó chỉ ngủ thôi không nói bất cứ chuyện gì, vì máy nghe lén có thể đặt khắp nơi”.

Việc linh mục Khóa tham gia vào UBĐKCG nhận sự tấn công của không ít người Công giáo bên ngoài giáo phận Đà Nẵng. Những người này không biết hơn ngoài việc linh mục Benedictô Nguyễn Tấn Khóa tham gia vào UBĐKCG nhưng họ sẵn sàng ra tay ‘ném đá’.

Điều này tôi vẫn đang chứng kiến hiện nay. Không ít linh mục, giáo dân và cả không cùng tôn giáo nhân danh bảo vệ Công giáo, sẵn sàng tấn công các linh mục tham gia vào UBĐKCG. Số người này không biết gì ngoài cái tên có trong ủy ban của chính quyền lập ra. Họ cũng chẳng ngại thêm thắc, đặt điều để câu chuyện thêm tính ly kỳ, mà mục đích không ngoài việc thu hút thêm người ném gạch, đá tấn công.

Tại giáo phận Đà Nẵng, bốn đời giám mục, luôn tin tưởng chọn Benedictô Nguyễn Tấn Khóa làm hạt trưởng hạt Tam Kỳ trong 37 năm phần nào cho thấy được sự tín nhiệm đó.

Thái độ thân thiện, không ngại đối thoại, làm việc cùng chính quyền mà ông giữ được một xứ đạo thưa thớt trải rộng trên ba huyện với đầy khó khăn của hai chục năm đầu sau biến cố 30/4/1975. Giáo xứ Tam Kỳ ngày đó, trong 15 năm trở lại đây được tách ra và nâng lên thành 7 giáo xứ và giáo họ biệt lập.

Giáo hội Công giáo ‘mắt nhắm mắt mở’ với UBĐKCG

Giáo hội Công giáo Việt Nam không công nhận UBĐKCG. Do đó, khi một linh mục nào đó trong giáo phận tham gia vào ủy ban này sẽ bị gọi về tòa giám mục để được nhắc nhở.

Nhưng Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng không có luật cấm các linh mục tham gia vào UBĐKCG. Trên thực tế, thái độ của giáo hội với việc này là ‘mắt nhắm mắt mở’.

Việc một linh mục tham gia vào ủy ban này thường phụ thuộc vào nhu cầu của xứ đạo nơi các vị ấy đang phụ trách.

Bởi hơn ai hết các linh mục trực tiếp là người hiểu rõ nhu cầu, công việc của giáo xứ. Vì để thuận lợi hơn trong công việc có liên quan đến chính quyền với các thủ tục hành chính, một số linh mục chấp nhận tham gia vào UBĐKCG để việc được giải quyết thuận lợi hơn. Chứ các linh mục này cũng không thêm được chút thế quyền.

Tôi đã hỏi không ít linh mục tham gia vào Mặt trận Tổ quốc ở các cấp và UBĐKCG, lời chia sẻ của các vị ấy có điểm chung, đại ý: “Vào đó lâu lâu được mời thì đi họp. Họ có nói hưu nói vượn gì thì kệ, mình vẫn biết đâu là trách nhiệm trước Giáo hội và niềm tin”.

40 năm qua cho thấy, các linh mục tham gia vào UBĐKCG ít khi chống lại Giáo hội Công giáo. Trường hợp chống lại giáo hội nổi cộm, là UBĐKCG đã không đồng ý việc Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 phong thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam trong năm 1988 ở Vatican.

Không phải cứ linh mục tham gia vào UBĐKCG đều trở thành công cụ của chính quyền, nhưng cũng có không ít linh mục dù không tham gia vào ủy ban này lại gây cho giáo hội nhiều đau đớn.

Dù vậy, một linh mục khi tham gia vào ủy ban do chính quyền dựng lên đã tự chặn đường mình để được chọn nắm giữ những chức vụ quan trọng trong giáo phận, kể cả việc được chọn cử đi du học.

Giáo hội Công giáo có lý do chính đáng để đề phòng, lo lắng các vị này sẽ bị chi phối làm theo chính quyền.

Thực tế chính quyền và đảng cộng sản luôn tìm cách lôi kéo, thỏa thuận để cài người vào bên trong các tôn giáo nhằm gây ra chia rẽ và tạo khó khăn.

Đầu những năm 2000, tôi có một người em trước khi nhập vào chủng viện được công an tỉnh Quảng Nam gọi lên. Công an tỉnh đưa ra đề nghị, đồng ý vào đó học và cung cấp thông tin cho họ thì sẽ được cho đi học và mọi việc sau này sẽ thuận lợi hơn.

UBĐKCG như nơi mặc cả của chính quyền với các linh mục

Thực tế tại các xứ đạo xin sửa chữa, xây dựng các công trình mới thường bị chính quyền ‘ngâm’ rất lâu.

Khó xin phép, nên sau khi gởi hồ sơ đến các cơ quan chức năng của chính quyền, không ít linh mục quản xứ tổ chức thi công khi chưa có phép. Rất nhanh chóng, chính quyền sẽ đến thể hiện quyền hành.

Vụ việc tại giáo họ Phaolô, bị cán bộ chính quyền xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum bị quấy phá trong thánh lễ vào lúc hơn 6 giờ chiều ngày 22/3 vừa rồi là một minh chứng như thế.

Chính quyền thường dùng chiêu liên quan đến các thủ tục hành chính bắt chẹt các linh mục, giáo xứ để lôi kéo vào UBĐKCG.

Bởi thực tế thời gian qua cho thấy, với linh mục có tham gia vào các tổ chức do nhà nước dựng lên thường có sự ưu ái, dễ dàng, nhanh chóng hơn với các thủ tục, công việc liên quan đến chính quyền.

Do đó, một số linh mục tham gia vào UBĐKCG có thể hiểu như chấp nhận kiểu mặc cả của chính quyền.

Trong 30 năm trở lại đây Giáo hội Công giáo Việt Nam không còn cái nhìn quá khắt khe về UBĐKCG. Bởi ủy ban này không thực sự gây nguy hiểm cho Công giáo. Hiện nay đa số các giáo phận, cũng như tỉnh, thành đều có UBĐKCG và có linh mục, giáo dân tham gia.

Ngay cả tờ báo Công giáo và Dân tộc, tại Sài Gòn, trên danh nghĩa là thuộc UBĐKCG của chính quyền. Dù vậy, những gì tờ báo này thể hiện suốt thời gian qua cho thấy, vẫn truyền tải được thông tin giáo hội muốn loan báo và một chút những tin ‘cúng cụ’.

Tại Hoa Kỳ quốc gia có tự do tôn giáo thật sự, tôi không thấy có các các tổ chức do chính quyền lập ra để ‘nhúng tay’ vào các tôn giáo như ở Việt Nam.

Hội đồng Giám mục Hoa kỳ có 18 ủy ban đều thuộc về giáo hội.

Công giáo là tôn giáo có tín đồ lớn nhất ở Mỹ với gần 62 triệu người, nhưng không có linh mục nào trong hai viện tại quốc hội Mỹ.

Khi tự do tôn giáo chưa trọn vẹn, UBĐKCG như ‘cây thánh giá’ mà Giáo hội Công giáo Việt Nam phải vác.

Đọc lại Tuyên ngôn của đảng Cộng sản

o Tiếng Dân

Tạ Duy Anh

10-4-2023

Hồi còn trẻ, tôi đọc toàn văn Tuyên ngôn của đảng Cộng sản không dưới 10 lần. Đến mức tôi thuộc lòng từng đoạn dài. Chính vì thế mà cách nay khoảng chục năm, tôi nhanh chóng phát hiện ra “những lập luận sắc bén” của giáo sư Nguyễn Đức Bình về thời ký quá độ lên CNXH ở Việt Nam và thế giới, chỉ là do ông bỏ chút thời gian xào xáo lại nhiều đoạn trong Tuyên ngôn của đảng Cộng sản.

Cái thứ văn triết luận hùng biện của Tuyên ngôn đã khiến tôi mê mẩn. Và tất cả các lập luận được trình bày, với tôi khi đó, đều mang tính chân lý…cuối cùng!

Chúng tôi đã mất rất nhiều thời gian tranh luận xem ai trong hai người Mác và Ăng-ghen, chấp bút cho bản tuyên ngôn. Giọng văn ấy chắc chắn của Ăng-ghen! Tôi quyết định như vậy.

Giờ đây, đọc lại cuốn sách mình mê mẩn suốt một thời tuổi trẻ đói khát, tôi chỉ muốn cười phá lên. Cười nội dung cuốn sách thì ít, cười chính bản thân mình thì nhiều. Nhưng tôi cũng nhận ra THIÊN TÀI của các tác giả, khi mọi nhận định, phân tích, đánh giá, tiên đoán sẽ đúng gần hết, NẾU HIỂU NGƯỢC LẠI.

Tôi nhớ cuốn sách mình đọc hồi trẻ, dày khoảng 48 trang, in ty-po. Giờ đây nhờ công nghệ thông tin, tôi đếm được có tới 44 lần các tác giả sử dụng từ XÓA BỎ.

Tóm lại, tinh thần toát lên từ Tuyên ngôn là XÓA BỎ.

Xin trích lại một số đoạn, phục vụ bạn nào ngại đọc cả văn bản.

“Điều kiện sinh hoạt của xã hội cũ đã bị xoá bỏ trong những điều kiện sinh hoạt của giai cấp vô sản. Người vô sản không có tài sản; Quan hệ giữa anh ta với vợ con không còn giống một chút nào so với quan hệ gia đình tư sản; lao động công nghiệp hiện đại, tình trạng người công dân làm nô lệ cho tư bản, ở Anh cũng như ở Pháp, ở Mỹ cũng như ở Đức, làm cho người vô sản mất hết mọi tính chất dân tộc. Luật pháp, đạo đức, tôn giáo đều bị người vô sản coi là những thành kiến tư sản che giấu những lợi ích tư sản”.

“Những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá huỷ hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu”.

“Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội”.

“Trong khi phác ra những nét lớn của các giai đoạn phát triển của giai cấp vô sản, chúng tôi đã nghiên cứu cuộc nội chiến ít nhiều mang tính chất ngấm ngầm trong xã hội hiện nay cho đến khi cuộc nội chiến ấy nổ bung ra thành cách mạng công khai, mà giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản”.

“Người công nhân hiện đại, trái lại, đã không vươn lên được cùng với sự tiến bộ của công nghiệp, mà còn luôn luôn rơi xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh sống của chính giai cấp họ. Người lao động trở thành một người nghèo khổ, và nạn nghèo khổ còn tăng lên nhanh hơn là dân số và của cải”.

“Nhưng phải chăng lao động làm thuê, lao động của người vô sản, lại tạo ra sở hữu cho người vô sản? Tuyệt đối không”.

“…vấn đề đặt ra là chủ nghĩa cộng sản phải xoá bỏ buôn bán, xoá bỏ những quan hệ sản xuất tư sản và xoá bỏ ngay cả giai cấp tư sản nữa”.

“Gia đình tư sản hiện nay dựa trên cơ sở nào? Dựa trên tư bản, trên lợi nhuận cá nhân.”

“Đại công nghiệp phát triển càng phá huỷ mọi mối quan hệ gia đình trong giai cấp vô sản và càng biến trẻ em thành những món hàng mua bán, những công cụ lao động đơn thuần, thì những lời huênh hoang của giai cấp tư sản về gia đình và giáo dục, về những mối quan hệ thân thiết gắn bó con cái với cha mẹ, lại càng trở nên ghê tởm”.

“Đối với người tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất”.

“Công nhân không có tổ quốc”.

“Sự thống trị của giai cấp vô sản sẽ càng làm cho những sự cách biệt và những sự đối lập mất đi nhanh hơn. Hành động chung của giai cấp vô sản, ít ra là ở những nước văn minh, là một trong những điều kiện đầu tiên cho sự giải phóng của họ”.

“Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ”.

“Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất”.

“Cố nhiên, điều đó lúc đầu chỉ có thể thực hiện bằng cách xâm phạm một cách chuyên chế vào sở hữu và những quan hệ sản xuất tư sản, nghĩa là bằng những biện pháp, mà về mặt kinh tế thì hình như không được đầy đủ và không có hiệu lực, nhưng trong tiến trình vận động, những biện pháp ấy sẽ vượt quá bản thân chúng[10] và là thủ đoạn không thể thiếu để đảo lộn toàn bộ phương thức sản xuất”.

“Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác. Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt những giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp”.

“Những người cộng sản chú ý nhiều nhất đến nước Đức, vì nước Đức hiện đương ở vào đêm trước của một cuộc cách mạng tư sản, vì nước Đức sẽ thực hiện cuộc cách mạng ấy trong những điều kiện tiến bộ hơn của nền văn minh châu âu nói chung và với một giai cấp vô sản phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với nước Anh trong thế kỷ XVII và nước Pháp trong thế kỷ XVIII. Và do đấy, cách mạng tư sản Đức chỉ có thể là màn đầu trực tiếp cho một cuộc cách mạng vô sản”.

“Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc Cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Trong cuộc cách mạng ấy, họ sẽ giành được cả thế giới”.

Blinken đến thăm Việt Nam vào tuần tới, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ nói

Theo nhật báo Nikkei Á Châu

HÀ NỘI (Reuters) – Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken sẽ thăm Việt Nam vào tuần tới, Thượng nghị sĩ Jeff Merkley cho biết trong một cuộc họp báo ở Hà Nội hôm thứ Bảy, như một phần trong nỗ lực của Washington nhằm thúc đẩy quan hệ ngoại giao với Hà Nội lên một tầm cao mới trong năm nay.

Chuyến thăm của Blinken, chưa được công bố chính thức, sẽ diễn ra sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden có cuộc điện  đàm vào tuần trước với người đứng đầu Đảng Cộng sản cầm quyền Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng.
Hoa Kỳ hy vọng sẽ nâng cấp quan hệ với Hà Nội trong năm nay, lý tưởng nhất là trùng với dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam vào tháng 7.

“Tuần tới Ngoại trưởng sẽ có mặt tại đây,” Merkley nói với các phóng viên trong chuyến thăm Việt Nam của phái đoàn các nhà lập pháp Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy quan hệ với Hà Nội.
Blinken dự kiến sẽ đến thăm Việt Nam, có thể là vào thứ Bảy, trước khi ông tham dự cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao của Nhóm bảy quốc gia công nghiệp tại Nhật Bản vào ngày 16 tháng 4 đến ngày 18 tháng 4.
Trong cuộc gọi, Biden và Trọng đã đồng ý tăng cường quan hệ, theo tuyên bố của cả hai bên sau cuộc trò chuyện của họ, nhưng không đề cập đến việc nâng cấp quan hệ chính thức.

Trước cuộc gọi, nhiều nhà phân tích đã nói rằng Việt Nam thận trọng về việc nâng cấp trong năm nay vì sợ điều đó có thể gây căng thẳng với Trung Quốc.

Mặc dù là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Hoa Kỳ hiện được xếp hạng là đối tác ngoại giao cấp ba của Hà Nội. Cấp cao nhất của nó bao gồm Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc, trong khi cấp thứ hai, mà Washington muốn tham gia, bao gồm các nước châu Âu và Nhật Bản.

******

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam đã nói chuyện qua điện thoại với các đối tác ở Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tuần qua, nhấn mạnh những nỗ lực của Hà Nội trong việc tìm kiếm một nền tảng trung gian giữa các cường quốc cạnh tranh.

Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính, lãnh đạo số 3 trong Đảng Cộng sản, đã hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường hôm thứ Ba, chính phủ Việt Nam thông báo.

Chính đề nghị Trung Quốc thúc đẩy nhập khẩu hơn nữa, mở cửa thị trường cho hàng nông sản Việt Nam và tăng hạn ngạch đối với hàng hóa Việt Nam vận chuyển qua Trung Quốc sang nước thứ ba, theo thông báo của chính phủ Việt Nam.

Ông Chính cũng cho biết hai bên cần hợp tác để nâng cao năng lực và hiệu quả thông quan.

Các cuộc thảo luận này diễn ra ngay sau cuộc điện đàm riêng giữa Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden vào ngày 29 tháng 3.

Trong và Biden đã thảo luận về Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương do Hoa Kỳ lãnh đạo và hai bên nhất trí duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cũng như về sự cần thiết của việc đảm bảo tự do hàng hải, theo truyền thông địa phương.

Trọng, người đứng đầu hệ thống cầm quyền của đảng, đã trở thành nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh sau khi ông Tập đảm bảo nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 10.

Năm nay, chiến dịch chống tham nhũng của Trọng đã dẫn đến việc Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc , lãnh đạo quyền lực thứ hai trong đảng, phải từ chức. Phúc được biết đến là một phần của phe thân thiện với Hoa Kỳ, làm nảy sinh quan điểm rằng phe nghiêng về Trung Quốc đang giành được chỗ đứng trong Đảng Cộng sản.

Phan Sinh Trần 

Công lý đã thua và không thể phục hồi lại được

Báo Tiếng Dân

Lê Nguyễn Duy Hậu

5-4-2023

Trong khi cả thế giới chú ý đến vụ việc Trump xuất hiện tại phiên tòa ở New York để nghe cáo trạng chống lại mình, thì tại Việt Nam, bản cáo trạng liên quan đến vụ án chuyến bay giải cứu có lẽ là đáng quan tâm hơn rất nhiều. Năm mươi bốn bị cáo đại diện cho một vòng tròn khép kín “làm ăn” trong suốt hai năm chống dịch, từ người phê duyệt chuyến bay, tổ chức chuyến bay, giám sát chuyến bay, đến cả người sau này nhận trách nhiệm điều tra, xử lý sai phạm liên quan đến chuyến bay – tất cả đều cảm thấy, theo cáo trạng, bản thân có quyền làm giàu từ chức phận của mình.

Tần suất các bị cáo liên hệ, gặp gỡ nhau cũng làm mọi người đáng kinh ngạc và nếu có ai đó vẽ một bản đồ những địa điểm và số lần các bị cáo gặp nhau trong mùa dịch để giao dịch, thì kết quả chắc cũng không kém phần sửng sốt như cách mà chúng ta từng contact tracing và lên án những F0 có lịch trình di chuyển nhiều ngày xưa. Điểm khác nhau đó là các F0 là người vô tội, nhưng thời điểm đó có lẽ họ cũng bị chính những bị cáo ngày hôm nay lên án. May mắn là pháp luật cuối cùng cũng được đem ra để phân xử tội trạng của những bị cáo này, và hy vọng đó là một phiên tòa công tâm.

Nhưng trong chính cái “may mắn” đó, mình vẫn có một chút gợn trong lòng khi đọc những comment của người dân trên các bản tin về vụ án. Ngoài những tiếng hô vang ủng hộ Đảng và chính phủ làm quyết liệt, mình để ý đến những người đã từng bất đắc dĩ tham gia vào guồng quay đó. Có người chia sẻ họ mất trắng công sức làm việc mấy năm trời ở xứ người chỉ để mua một vé máy bay combo trị giá vài ngàn đô-la để về nước. Có người bồi hồi nhớ lại người thân mình đã mất mà họ không về kịp để nhìn lần cuối. Đó là những nạn nhân thật sự. Họ có câu chuyện, và mất mát của họ là thực tế. Nhưng chắc là họ sẽ không có một tư cách nào trong phiên tòa sẽ diễn ra. Điều trớ trêu rằng tội phạm nhận hối lộ đang được truy tố có khách thể được bảo vệ không phải là những nạn nhân là con người, mà là những thứ trừu tượng hơn: uy tín của nhà nước với nhân dân, hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước v.v…

Trong một vụ án hối lộ, “người bị hại” nếu có chính là Nhà nước, chứ không phải hành khách trên các chuyến bay. Nói cách khác, vụ án sắp tới diễn ra sẽ là một vụ án mà những nạn nhân thực sự của nó không xuất hiện. Một vụ án với những người bị hại vô danh. Hành vi của các bị cáo nếu đúng với những gì cáo trạng kết tội thì là hành vi tham nhũng, theo luật định. Nhưng với những người dân bình thường, những nạn nhân thực sự của vụ án, thì hành vi đó đơn giản chỉ một từ: Cướp. Và đó là một vụ cướp tinh vi, được thực hiện bởi những người lẽ ra phải bảo vệ họ. Tham nhũng suy cho cùng chỉ là một uyển ngữ cho hành vi Cướp mà thôi.

Trong lịch sử, sau mỗi một cuộc bể dâu, người ta thường sử dụng các phiên tòa tư pháp để khép lại thời kỳ biến động. Trong những phiên tòa như vậy, diễn ngôn chính thức về thời kỳ biến động sẽ được xây dựng nên. Vì các hành vi của bị cáo mà khiến bao nhiêu người lầm than. Vì những gì các bị cáo làm mà việc chống dịch thêm phần thất bại. Nhưng quả thật không ai dám chắc rằng nếu vụ án không xảy ra, thì lịch sử có khác đi không. Không ai quan tâm, vì mục đích của phiên tòa là để khép lại, không phải để mở ra thêm các câu hỏi.

Vụ án này có lẽ cũng là một phiên tòa như vậy. Những tội vạ của hai năm chống dịch Covid đang một phần được đổ lên đầu của 54 bị cáo, và sẽ đổ lên đầu một số bị cáo khác trong vụ Việt Á. Nhưng cho dù làm cách nào, rất khó để những phiên tòa sắp diễn ra tránh khỏi vết xe đổ của những phiên tòa kể trên. Những câu hỏi sẽ vẫn còn, và khó có lời giải đáp. Liệu đây có phải là cách tốt nhất để khép lại cuộc bể dâu? Ai là nạn nhân, ai là thủ phạm trong những vụ án này? Và nạn nhân có được điều gì từ bản án? Ai trả công bằng cho những “thủ phạm” bất đắc dĩ khác trong mùa dịch?

Công lý đã thua và không thể phục hồi lại được.

Phần Lan thoát khỏi lời nguyền địa chính trị, khi nào thì tới Việt Nam?

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

9-4-2023

Ngày 4-4-2023 lá cờ Phần Lan được kéo lên tại trụ sở Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở Brussels. Từ nay, bất cứ cuộc xâm lăng nào vào Phần Lan thì sẽ bị chống trả bởi 31 quốc gia có kỹ thuật và kinh tế hàng đầu thế giới.

Báo chí thế giới đưa tin này với sự nhấn mạnh đến sự thất bại chiến lược của tổng thống Nga Vladimir Putin. Ông Putin rất sợ chuyện biên giới NATO ngày càng ép sát vào nước Nga. Khi ông ta vô cớ tấn công Ukraine, ngoài tham vọng vĩ cuồng là tạo dựng lại đế quốc Nga (như thời Soviet) mênh mông, còn tiềm ẩn nỗi sợ NATO, theo như lý do ông ta nêu ra.

Thế nhưng, lợi bất cập hại là cuộc xâm lăng Ukraine lại đẩy đất nước vốn đề cao chủ trương trung lập là Phần Lan vào vòng tay NATO, giúp NATO có thêm một đội quân được đào tạo tinh nhuệ là quân đội Phần Lan, đứng ngay sát cửa nước Nga, cũng như giúp biên giới NATO – Nga kéo dài thêm 830 dặm (1.336km). (Biên giới NATO – Nga sau khi Phần Lan gia nhập là 1.584 dặm, khoảng 2.549km).

Tầm mức của cuộc chiến Ukraine cũng như tham vọng quá lớn, gần như phi lý của ông Putin, làm cho người ta quên đi một thay đổi vô cùng quan trọng, liên quan đến cả một khái niệm địa chính trị, đó là nước Phần Lan thoát ra khỏi một định mệnh kéo dài hàng trăm năm, mang tên Phần Lan, đó là khái niệm Phần Lan hóa (Finlandization).

Phần Lan hóa là gì?

Phần Lan hóa có nghĩa là trở nên giống như Phần Lan, trong đó một quốc gia nhỏ và yếu như Phần Lan (thống kê dân số năm 2021 chỉ độ khoảng 5,5 triệu dân), đành phải chịu sự ảnh hưởng của một cường quốc bên cạnh (nước Nga) để giữ vững sự độc lập của mình.

Trong một góc nhìn nào đó, Phần Lan hóa cũng là khái niệm đu dây, khi nói về quan hệ của nước Việt Nam nhỏ và yếu, bị mắc kẹt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trong Phần Lan hóa, Phần Lan đu dây giữa một bên là Nga Sô (bây giờ là Nga) còn bên kia là thế giới phương Tây. Khái niệm (hay chính sách) Phần Lan hóa chính thức xuất hiện sau thế chiến thứ II.

Cho đến năm 1917, Phần Lan chưa bao giờ là một quốc gia độc lập trên danh nghĩa, mặc dù bản sắc văn hóa và ngôn ngữ của Phần Lan rất mạnh mẽ, chưa bao giờ bị hai cường quốc lớn từng kiểm soát họ là Thụy Điển (trước thế kỷ 19) và Nga (sau đó là Nga Soviet) đồng hóa họ.

Thời Nga hoàng trị vì ở nước Nga từ đầu thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, Phần Lan có tên là Đại Công quốc Phần Lan, với một viên toàn quyền được Nga hoàng bổ nhiệm. Lợi dụng sự rối ren của cuộc cách mạng cộng sản năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập, và nước Nga Soviet phải chấp nhận điều đó.

Nhưng điều có thể đã làm cho Phần Lan trở nên… Phần Lan hóa sau thế chiến thứ hai, chính là Cuộc chiến mùa đông năm 1939, khi quân đội Nga Sô tràn sang tấn công sau khi Phần Lan từ chối cho đế quốc cộng sản này đặt căn cứ quân sự trong cuộc cạnh tranh với Đức Quốc xã.

Mặc dù gây cho kẻ địch tổn thất nặng nề, Phần Lan cuối cùng phải chịu một hiệp ước đình chiến bất lợi, mất nhiều lãnh thổ.

Kết quả phủ phàng của Cuộc chiến mùa đông 1939, trong đó các quốc gia phương Tây không có sự ủng hộ nào ngoài vài lời tuyên bố ngoại giao, có lẽ đã làm Phần Lan, như con chim sợ cây cong, tuyên bố đứng trung lập, chịu nhiều sức ép ngoại giao và chính trị của chế độ Soviet sau thế chiến thứ hai.

So sánh Phần Lan với trường hợp Việt Nam, đó là cuộc chiến biên giới Việt – Trung năm 1979, dù quân cộng sản Trung Quốc chịu nhiều tổn hại nặng nề trước đội quân cộng sản Việt Nam, đội quân vẫn còn thiện chiến sau cuộc chiến Việt Nam, và lúc đó vẫn còn tiến hành chiến tranh ở Cambodia, nhưng Việt Nam sau đó mất một số đất đai, cũng như ký một hiệp ước bình thường hóa quan hệ ngoại giao mà nhiều người cho là bất lợi.

Từ cuộc chiến 1979 đến nay, Việt Nam nằm trong vòng cương tỏa về chính trị và ngoại giao của Bắc Kinh, từa tựa như Phần Lan thời chiến tranh lạnh, dưới sức ép của Moscow.

Nhưng điều khác biệt lớn nhất giữa Phần Lan và Việt Nam là chế độ chính trị. Phần Lan là một trong những quốc gia có nền chính trị dân chủ bậc nhất thế giới, trong đó tự do báo chí, cùng với các láng giềng Bắc Âu, lúc nào cũng đứng đầu thế giới. Thể chế chính trị và tự do báo chí ấy không có gì giống với nước Nga (trước kia là Nga Sô) bên kia biên giới. Việt Nam và Trung Quốc lại có cùng một chế độ toàn trị trong đó tự do báo chí hoàn toàn vắng bóng.

Một điều quan trọng nữa là bàn cờ chính trị thế giới đã thay đổi rất nhiều. Khi Cuộc chiến mùa đông 1939 nổ ra, không có NATO, các đế quốc châu Âu như Anh, Pháp đang đi vào khủng hoảng, yếu ớt, không thể đứng ra bảo vệ Phần Lan, nước Mỹ thì ở xa và vẫn còn đang trong vòng ảnh hưởng của học thuyết Monroe, không vươn xa ra thế giới mà chỉ quanh quẩn sân nhà ở Tây bán cầu.

Khi cuộc chiến Ukraine bùng nổ, vũ khí và tiền bạc từ Mỹ và Tây Âu, Nhật Bản, lập tức đổ vào Ukraine. Chỉ trong vòng một đêm, tỷ lệ người Phần Lan ủng hộ việc gia nhập NATO vọt lên từ 30% đến 80%.

Giả sử có một liên minh NATO ở phương Đông (thực sự là nó đang hình thành), thì tôi tin rằng tỷ lệ người Việt ủng hộ gia nhập liên minh ấy cũng sẽ rất cao. Trên thực tế thì tỷ lệ dân chúng Việt Nam không có cảm tình với Trung Quốc lúc nào cũng đứng ở vị trí hàng đầu châu Á và Đông Nam Á. Như thế, những người đang cai trị Việt Nam hiện nay rơi vô một thế lưỡng nan, một bên là chế độ chính trị thân Trung Quốc, bên kia là lực hút của thế giới phương Tây.

Tính lưỡng nan đó làm cho Việt Nam tuy không phải là Phần Lan, nhưng thật sự là một quốc gia Phần Lan hóa nhất thế giới.

Tình hình đó đưa đến lá phiếu trắng của Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc về cuộc chiến Ukraine. Hà Nội đứng về phe thiểu số vài chục quốc gia, trong đó có Trung Quốc, với lá phiếu y hệt như nhau.

Nhưng mặt khác, chính phủ Việt Nam biết rằng dân Việt Nam không ưa gì Trung Quốc và Nga, nên họ có những phát biểu lạ lùng và dở hơi như ông đương kim thủ tướng Phạm Minh Chính nói về lá phiếu trắng của Hà Nội, là Hà Nội chọn chính nghĩa (?) chứ không chọn phe (sic).

Thưa thủ tướng Chính, chính nghĩa hay không chính nghĩa là một khái niệm rất chủ quan, nhưng điều quan trọng hơn là lợi ích của dân chúng. Vì lợi ích ấy mà Phần Lan đã chọn phe, cũng là chọn chính nghĩa. Chính nghĩa đó chính là bảo vệ người dân Phần Lan khỏi những chiến binh man rợ người Nga của Putin, chứ không phải là một chính nghĩa chủ quan.

Trong tình trạng Phần Lan hóa của Việt Nam hiện nay, sẽ không có quốc gia NATO phương Đông nào ra tay, nếu Hà Nội bị Bắc Kinh tấn công.

Khi nhìn thấy lá cờ Phần Lan được kéo lên ở trụ sở NATO, tôi nhớ ngay đến một buổi sáng mùa đông lạnh giá, trước bức tượng kỷ niệm Cuộc chiến mùa đông 1939 tại thủ đô Helsinki, người phụ nữ Phần Lan kể với tôi rằng, có đến 200 ngàn quân Nga Sô tử trận trong cuộc chiến anh dũng của người Phần Lan.

Cũng đã có cả chục ngàn lính Trung Quốc tử trận trong cuộc xâm lăng 1979, nhưng Việt Nam vẫn nằm trong lời nguyền địa chính trị Phần Lan hóa.

TIN MỪNG TỪ NGHĨA ĐỊA

Tác giả: J. Braaten, www.sermons.faithlife.com

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

Lễ Phục Sinh chính là thời điểm tốt lành để vỗ tay nồng nhiệt trong nhà thờ. Đó là một ngày để các Kitô hữu vui vẻ ăn mừng chiến thắng của Chúa Kitô trước cái chết. Rõ ràng tâm trạng chủ đạo trong buổi lễ của chúng ta sáng nay là niềm vui. Đó là một ngày để ban nhạc nổ ra, vỗ tay và hát vang lên: “Hallelujah! Hallelujah!”

Nhưng nếu bạn từng đọc các trình thuật Tin Mừng về sự phục sinh, bạn sẽ khám phá ra một điều khác thường; 

Phản ứng đầu tiên của những người đàn ông và phụ nữ đến mộ Chúa Giêsu không phải là vui mừng – mà là hoang mang và sợ  hãi! Tác động tức thời của sự sống lại đối với những người theo Chúa Giêsu là sự hoang mang và lo sợ. Maria Mađalêna đã bị chấn động và các môn đệ rõ ràng là rất bối rối. Rốt cuộc, họ đã đi ra khỏi ngôi mộ đó và tự nhốt mình trong một căn phòng bí mật.

Trong bất cứ những gì mà những người theo Chúa Giêsu có thể hình dung ra được sau cuộc đóng đinh, và trong bất cứ những gì mà họ có thể mong đợi, họ đều không nghĩ đến sự sống lại. Việc phát hiện ra ngôi mộ trống khiến họ bối rối, do dự và sợ hãi.

Nếu chúng ta muốn hiểu sức mạnh ẩn chứa trong chính tâm điểm của Lễ Phục Sinh, chúng ta cần phải chấp nhận phản ứng lạ lùng của các môn đệ là hoang mang và sợ hãi. Điều đó khó thực hiện vì lễ Phục Sinh không có gì ngạc nhiên đối với chúng ta. Chúng ta đã chờ đợi lễ Phục Sinh suốt cả Mùa Chay. Chúng ta lên kế hoạch cho ngày Lễ. Và bởi vì chúng ta mong đợi ngày đó,  chúng ta có khuynh hướng đánh mất cảm giác sững sờ và ngạc nhiên.

Nhưng các môn đệ lại hoàn toàn ngạc nhiên. Một người đã chết được ba ngày không thể đứng dậy và bắt đầu sống lại; điều đó sẽ vi phạm tất cả các quy luật tự nhiên ai cũng biết.Họ là những người thông minh; họ biết điều đó.

Vì vậy, khi Maria Mađalêna, Phêrô và Gioan gặp Chúa Giêsu Phục Sinh, họ đã không nắm tay nhau bước đi trong ánh hừng đông và hân hoan hát vang: “Chúa nay thực đã Phục Sinh. Halleluia! Halleluia!”Trái lại! Họ vô cùng sợ hãi. Và chúng ta sẽ cần phải hiểu tại sao họ lại sợ hãi như vậy nếu chúng ta thăm dò những chiều sâu của sự phục sinh và nắm bắt lại trạng thái ngây ngất trong lễ Phục Sinh.

Những người theo Chúa Giêsu bối rối và chán nản trước cái chết của Ngài. Họ đã khóc ở thập giá. Họ khóc trướcmộ. Nhưng họ đành chấp nhận việc đó. Chúng ta đọc thấy rằng những người phụ nữ đến sớm, trong khi trời vẫn còn tối, có lẽ là để xức dầu thơm cho cơ thể của Chúa Giêsu. Họ đã chấp nhận sự thật rằng Ngài đã chết.Họ cam chịu điều đó; Rốt cuộc, rồi ra tất cả chúng ta đều chết. Họ đã sẵn sàng quay lại cuộc sống bình thường của mình sau những ngày họ đã quên mất cuộc sống đó khi Chúa Giêsu qua đời.

Nhiều người trong số chúng ta ở đây hôm nay đã học cáchchấp nhận đau buồn. Chúng ta cũng đã chấp nhận thực tếnghiệt ngã của cái chết.  Chúng ta học cách tiếp tục sống. Chúng ta phải vậy thôi. Nhưng đối với những người đầu tiên theo Chúa Giêsu, một phần của sự ngạc nhiên lớn lao đó là việc nhận ra rằng Thiên Chúa hành động qua đau khổ và cái chết. Bi kịch khủng khiếp xảy ra trên đồi Sọ đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa! 

Chắc chắn rằng những môn đệ đầu tiên đó tin rằng có một cuộc sống chan chứa ở kiếp sau; Chúa Giêsu đã nói về điều đó nhiều lần rồi. Nhưng họ không nghĩ đến sự việc rằng mục đích cao cả của ân huệ Thiên Chúa sẽ được hoàn thành qua những điều như đau khổ và sự chết. Đương đầu với những thực tế khắc nghiệt như cái chết và sự vỡ mộng, sống với chúng, chấp nhận chúng là một chuyện nhưng đối mặt với thực tế rằng đây là cách Thiên Chúa chọn để hành động trong thế giới này lại là một chuyện hoàn toàn khác. Đây là những phương pháp mà qua đó các mục đích của Thiên Chúa được thực hiện. Bây giờ họ đã biết. Thiên Chúa không cứu chúng ta khỏi đau khổ và sự chết, nhưng Thiên Chúa cứu chúng ta qua đau khổ và sự chết. Thế giới tội lỗi, sa ngã này đã được đưa trở lại vòng tay yêu thương của Thiên Chúa qua những đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa.

Chúng ta tự hỏi, “Điều này có nghĩa là gì?” Sau đó, chúng ta nhớ lại rằng khi chúng ta chịu phép rửa tội, dấu thánh giá được in trên chúng ta như một dấu hiệu cho thấy chúng ta không chỉ chia sẻ quyền năng phục sinh của Chúa Giêsu, mà chúng ta còn biết thông phần với những đau khổ của Ngài. Dân Chúa được mời gọi chia sẻ những đau khổ của Chúa Giêsu Kitô.

Ở dạng nhẹ nhàng hơn, điều đó có thể có nghĩa là chúng ta được kêu gọi từ bỏ các biểu tượng địa vị xã hội mà người khác cho là rất quan trọng. Ở mức độ sâu xa hơn, chúng ta có thể được yêu cầu phải có những lập trường không như người khác, dẫn đến việc mất bạn bè hoặc gia đình xa lánh.

Có một khía cạnh khác dẫn đến sự hoang mang và sợ hãi của những người theo Chúa Giêsu mà chúng ta không được bỏ qua. Trước khi những người đàn ông và phụ nữ đầu tiên đó có thể trải nghiệm vinh quang choáng ngợp của Lễ Phục Sinh, họ phải chấp nhận sự thật rằng sự sống lại của Chúa Giêsu kéo theo sự phán xét sắp xảy ra. Khi tin tức về sự phục sinh của Chúa Giêsu được truyền đi từ tín đồ hoài nghi này sang tín đồ khác, nỗi sợ hãi bao trùm lấy họ! Họ sợ vì giờ đây người mà họ tưởng đã chết lại sống lại. Cùng với Ngài tất cả những thứ khác cũng trở lại. Đối với người ta, tất cả các môn đệ đã phản bội và chối bỏ Chúa của họ. Họ phải gặp mặt đối mặt Đấng mà họ đã phản bội, báng bổ và ruồng bỏ. Sẽ không có chuyện quên đi hay thoát khỏi những ký ức về những gì họ đã làm. Thảo nào các môn đệ sợ hãi. Thay vì có thể quên, họ buộc phải sống lại nỗi ô nhục của họ.

Có lẽ đó là lý do tại sao các trình thuật Tin Mừng thường nói từ đầu tiên không phải là “hãy vui lên”. Mà đúng hơn là “Đừng sợ”. Đừng sợ. Vì Đấng làm cho mọi sự sống lại chính là Đấng yêu thương bạn và phó chính mình vì bạn. Ngài không cho phép trốn thoát, không thể lãng quên, ngay cả khi chết, Ngài vẫn nhớ và u bạn. Tất nhiên không ai xứng đáng với tình yêu đó, những người đầu tiên theo Chúa đã không xứng đáng và chúng ta cũng vậy; Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là Thiên Chúa yêu bạn và lễ Phục Sinh công bố thông điệp này to tiếng và rõ ràng. Thiên Chúa yêu thương bạn. Tạ ơn Chúa vì không có lối thoát khỏi tình yêu đó. Không có lối thoát, ngay cả trong cái chết!

Đó là kinh nghiệm của Maria Mađalêna. Cuộc gặp gỡ của cô với Chúa Giêsu đã nói rõ điều đó. Khi Chúa Giêsu cất tiếng nói, tình yêu thương và sự chấp nhận tỏa ra từ lời của Ngài làm cho cô ấy vui mừng đến nỗi cô chạy đến bên Ngài để được Ngài ôm lấy. Chúa Giêsu đã tìm kiếm cô trong tình yêu và lòng trắc ẩn;  Ngài đến với các môn đệ cũng như vậy, không phải để phán xét, nhưng với tình yêu … và Ngài vẫn đến với bạn, với bạn và tôi, một cách trìu mến, đầy trắc ẩn.

Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta vì nó có nghĩa là chúng ta không phải chạy trốn khỏi Chúa nữa. Chúng ta không cần phải cố che giấu. Chúng ta không cần phải giả vờ, với Chúa, với người khác, hay với chính mình. Có nghĩa là Chúa Giêsu trở lại, không phải trong sự kết án, không phải trong sự phán xét, nhưng trong ân sủng và bình an. Chúa chúng ta trở lại để phục sinh chúng ta, để chúng ta, là những kẻ đã chết trong những vi phạm và tội lỗi của mình, không còn phải sống trong mặc cảm tội lỗi nữa, chúng ta không phải sợ hãi Thiên Chúa hay sự phán xét. Tất cả sự phán xét của Thiên  Chúa đổ trên Chúa Kitô. Khi viên đá chặn cửa mồ được lăn ra khỏi ngôi mộ của Ngài, trong sự phục sinh của Ngài, chúng ta được công chính hóa, được tuyên bố vô tội trước mặt Cha Trên Trời. 

Lễ Phục Sinh và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, tuyên bố rằng tất cả những cánh cửa đóng chặt chúng ta – sợ hãi, tội lỗi, lo lắng, bất an – tất cả đều đã bị vượt qua và chúng ta thoát khỏi chúng và những cánh cửa giờ đây đã được mở ra. Chúa Kitô mở những cánh cửa đó và ban cho bạn sự tự do. Ngài cũng mở cho chúng ta cánh cửa cuối cùng, cánh cửa của sự chết. Một số người tin rằng khi họ chết họ sẽ chết mãi mãi, nhưng điều đó không đúng. Bạn không xin được sinh ra, nhưng bạn được sinh ra. Bạn không chọn lựa khi nào bạn được sinh ra, nhưng bạn đã được sinh ra. Bạn đã không quyết định thức dậy sáng nay, nhưng bạn đã thức dậy. Vì vậy, bạn sẽ không yêu cầu được trỗi dậy từ cõi chết, nhưng bạn sẽ được trỗi dậy. Vì Chúa Kitô sẽ gọi bạn và bạn sẽ trỗi dậy và Ngài sẽ ban sự sống cho bạn. Những ai tin vào Ngài, vào sự tha thứ mà Ngài ban cho vì cái chết của Ngài, sẽ được sống lại từ cõi chết để bước vào đời sống mới trong Chúa Kitô.

Trong bài Tin Mừng của chúng ta, Thiên thần hỏi: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết?” (Lc 24: 5). Chắc chắn thiên thần ngụ ý rằng Chúa Giêsu không còn chết nữa và Ngài đã sống lại. Nhưng, có lẽ chúng ta có thể nhìn câu hỏi đó dưới một ánh sáng khác… dưới ánh sáng của sự phục sinh. Trước khi Chúa phục sinh, nghĩa địa thực sự là nơi chết chóc, vé một chiều. Giờ đây, những ngôi mộ của chúng ta có thể được coi là cánh cửa mà tất cả chúng ta phải bước qua, không phải dẫn đến cái chết, mà là dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu. Bây giờ, trong hy vọng và đức tin, chúng ta có thể tìm kiếm người sống giữa những người chết.

Thật kỳ lạ làm sao khi sự sống có thể chảy ra từ nấm mồ. Nhưng sau đó, lại giống như Thiên Chúa. Ra khỏi các phiên tòa xét xử chiến tranh ở Nuremberg ở Đức sau Thế chiến thứ hai, có sự chứng kiến của một người đàn ông. Trong cuộc chiến gần Willma, Ba Lan, một nhóm người Do Thái thoát chết trong phòng hơi ngạt đã trú ẩn tại một nghĩa trang. Họ sống ở đó, túm tụm và ẩn mình dưới đáy những ngôi mộ đào sẵn. Một bé trai được sinh ra vào một buổi tối tại một trong những ngôi mộ đó. Người đào mộ, một người Do Thái chính thống, già dặn, nghiêm khắc, mặc đồ tang bằng vải lanh, đỡ đẻ. Khi đứa trẻ sơ sinh cất tiếng khóc đầu tiên, người đào mộ già kêu lên: “Lạy Thiên Chúa vĩ đại, cuối cùng có phải Ngài đã gửi Đấng Cứu Thế đến cho chúng tôi không? Vì ai khác ngoài Đấng Cứu Thế sẽ được sinh ra trong một ngôi mộ?” Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, là người đầu tiên được sinh ra từ kẻ chết: “Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời. (Col 1:18)

Sinh ra trong một ngôi mộ. Đó là chúng ta. Cuộc sống của chúng ta thực sự bước ra từ một ngôi mộ, ngôi mộ của Chúa Kitô! Làm thế nào giống như Thiên Chúa để làm một điều gì đó như thế. Sinh ra trong một ngôi mộ. Sinh ra để ăn mừng. Sinh ra để nhảy mừng, để sống trong niềm mong đợi vì quyền năng phục sinh của Thiên Chúa đã được trải ra trên thế giới này.

Đó là Tin Mừng từ nghĩa địa: Chúa Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết để bạn và tôi có thể sống trong niềm tin chắc rằng cánh cửa sự sống đã mở ra cho chúng ta. Đó là cuộc chinh phục của thập giá, là chiến thắng của Sự Phục Sinh.

Vì vậy, chúng ta được mời gọi mở cánh cửa và bước vào cuộc sống với sứ điệp Phục Sinh kỳ diệu: Chúa Kitô không chỉ sống, mà còn ban sự sống, biến đổi sự sống, phục sinh sự sống.

Sự thật đó thật choáng ngợp, vượt xa khả năng diễn đạt hoặc hiểu biết của chúng ta. Hãy tin và để sự thật đó nắm giữ bạn. Tôi mời bạn ra khỏi nơi này, cầu xin Thiên Chúa cho bạn sống cuộc đời của bạn với niềm vui và sự công chính thảnh thơi, là điều phù hợp với một người đã nhận được rất nhiều ơn phúc nhờ Chúa Giêsu Kitô, Chúa Phục Sinh của chúng ta. Xin Chúa chúc lành cho bạn trong lễ Phục Sinh này và trong lễ mừng quyền năng kỳ diệu của Chúa Kitô trong cuộc đời bạn. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

Hẹn gặp lại

CÙNG MẸ, MỘT NGÀY LẶNG YÊN

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngài không có ở đây!”.

Tại các Giáo Phận, phần lớn giáo dân các họ đạo truyền thống có thói quen ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu vào Mùa Chay. Riêng Tổng Giáo Phận Huế, kinh nguyện quý báu này được ngắm vào Tuần Thánh; đặc biệt, sáng thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy. Nó được gọi là Kinh Lễ Đèn, vì có đến 15 ngọn nến hoặc đèn, được đốt lên trên cùng một giá. Cách thức đọc Kinh Lễ Đèn được hướng dẫn đến từng chi tiết; cách chung, ngắm một chặng, tắt một ngọn nến, đọc 1 kinh Lạy Cha, 10 Kinh Kính Mừng. Tuy nhiên, ở Lễ Đèn 3, tức sáng thứ Bảy, ngọn nến 15 sẽ không được tắt! Thật thú vị, nó được đem vào phòng thánh một chốc, đang khi cộng đoàn quỳ gối ngắm “Thánh Mẫu Thống Khổ Kinh”. Sau đó, ngọn nến này được đem tr
ở lại, đặt trên bàn thờ; ngọn nến đó tượng trưng cho Chúa Giêsu! Ngài đã chết, nhưng thực ra, cái chết của Ngài chỉ như một sự nghỉ ngơi trong mồ. Vì thế, thứ Bảy Tuần Thánh được coi như ngày mà Kitô hữu ‘cùng Mẹ, một ngày lặng yên’ đợi ngày Con Chúa phục sinh!

Kính thưa Anh Chị em,

Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội không có một nghi lễ nào, mãi cho đến buổi cử hành long trọng Đêm Vọng Phục Sinh. Hôm nay, Giáo Hội trầm tư suy gẫm chậm rãi với Đức Maria, Mẹ mình. Nắm lấy tay Mẹ, mỗi tín hữu tìm đến một ‘nơi vắng vẻ’, chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu; và nhất là, ‘cùng Mẹ, một ngày lặng yên’ để trải nghiệm các mầu nhiệm!

Phụng vụ của những ngày qua đầy cảm xúc với nhiều nghi lễ; thế nhưng, thứ Bảy Tuần Thánh lại trôi qua một cách lặng lẽ, thanh thản. Đó là một ngày để tận hưởng tất cả những tình cảm đan xen giữa trầm buồn lẫn hy vọng! Đừng để thứ Bảy Tuần Thánh trôi qua như bao ngày khác, hay chỉ là một ngày giữa thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Đó là một ngày mà tất cả chúng ta cùng Mẹ Maria và Mẹ Hội Thánh nữa, tĩnh lặng, chiêm ngắm và tôn thờ.

Chỉ trong sự suy gẫm thầm lặng này, các tông đồ, và cả chúng ta mới có thể nhìn thấy mọi sự đã xảy ra phù hợp và trùng khít với nhau thế nào. Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ những gì sẽ xảy ra với Ngài, kể cả sự phục sinh; Ngài đã nói với họ, nhưng tâm trí họ chưa chuẩn bị đủ để hiểu. Chỉ trong sự im ắng của ngày thứ Bảy, và nhờ có một ngày lặng yên với Mẹ Chúa Giêsu, họ mới có thể hiểu được những gì Thầy đã nói. Cũng thế, với chúng ta; cùng Mẹ Maria, chúng ta ghi nhớ những lời của Chúa Giêsu. Nhiều lần, chúng ta nghĩ, chúng ta biết Ngài là ai, dạy chúng ta điều gì, nhưng thực ra, những điều đó chưa đi vào trái tim chúng ta; bằng chứng là cuộc sống của bạn và tôi chưa biến đổi! Phải lắng nghe, cẩn thận suy gẫm những gì Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng, chúng ta mới hiểu được sâu sắc để áp dụng vào cuộc sống mình!

Anh Chị em,

“Ngài không có ở đây!”. Sự im lặng của ngày hôm nay không phải là một sự i
m lặng của thoái chí và tuyệt vọng, nhưng là ‘im lặng thánh’, một sự im lặng của niềm mong đợi lớn lao sẵn sàng bùng lên trong niềm vui ngập tràn của Đêm Vọng Phục Sinh. Chúng ta sẽ ‘đến mộ’ Chúa cùng với các thánh nữ, không phải để xức dầu cho một xác chết, nhưng để vui mừng với các thiên thần khi nghe họ tuyên bố, “Ngài không có ở đây. Ngài đã sống lại!”; “Tại sao các bà lại tìm người sống nơi những kẻ chết?”. Và như thế, nhờ có một ngày lặng yên với Mẹ, chúng ta mới có thể vui mừng nói cùng Mẹ, “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, hãy vui mừng, Halleluia!”, và với Mẹ, chúng ta hát khúc khải hoàn ca, “Chúa Đã Sống Lại, Halleluia!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, xin dạy con biết chờ đợi Chúa như Mẹ. Không chỉ hôm nay, nhưng mỗi ngày, từng ngày, và ‘một đời với Mẹ’, con chờ đợi Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen