Đừng cố học giỏi ở Việt Nam

LÂU LÂU ĐỌC ĐƯỢC 1 BÀI VIẾT HAY

Bài viết gây bão cộng đồng mạng:

“Ăn thì phải no, học thì phải giỏi, yêu là phải cưới, cưới là phải sinh con, sinh con thì con cũng phải học giỏi, học giỏi là phải trường chuyên, trường chuyên nhưng còn phải lớp xịn, lớp xịn là phải đỗ đại học, đại học là phải top đầu, top đầu là phải… không thất nghiệp, và không thất nghiệp… rất có thể phải “chạy” – điều mà những người Giỏi thực sự không bao giờ làm.  Bạn thấy đấy, rất nhiều nghịch lý luẩn quẩn hiện có trong xã hội của chúng ta đều ít nhiều liên quan đến một từ: GIỎI. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn nghĩ chúng ta chẳng nên cố bằng mọi giá để học quá giỏi? Dưới đây là 5 lý do mà bạn có thể sẽ cực kỳ “phản đối”!

  1. Để học giỏi ở Việt Nam cần phải tốn quá nhiều thời gian cho việc học, học trên lớp, học ở nhà, học thêm, học phụ đạo… Trong khi một ngày mãi mãi cũng chỉ có 24 giờ do đó, thời gian dành cho những thói quen lành mạnh như chơi thể thao, thư giãn rèn luyện thân thể không có nhiều và càng học lên cao càng bị cắt ngắn, dẫn đến nguy cơ lâu dài: sức khoẻ yếu. Sức khoẻ yếu, học giỏi vô nghĩa!
  2. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải “học đều” – một khái niệm đặc sản nhưng không hề thơm ngon của nền giáo dục Việt Nam, tức là phải học giỏi tất cả các môn, đầu tư thời gian dàn trải để giỏi tất cả các môn đồng nghĩa là rất khó cho bạn để có chặng nghỉ nghĩ về những gì mình yêu thích nhất và có tiềm năng phát triển nhất. Rất nhiều học sinh giỏi cái gì cũng giỏi nhưng chẳng thật sự giỏi cái gì. Rất nhiều học sinh khi được hỏi “Em thích làm gì nhất?”, trả lời “Em không biết.” Một hành trang quá cồng kềnh và bị nhồi nhét chỉ làm cho cuộc hành trình của bạn thêm mệt mỏi. Hãy biết chọn lọc!
  3. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải hấp thụ rất nhiều kiến thức bạn học xong không biết để làm gì? Không là kỹ sư, không theo nghiệp kỹ thuật, bạn sử dụng đạo hàm, sử dụng hàm số, sử dụng tích phân để làm gì……….? Mà muốn sử dụng, bây giờ có vô số phần mềm và ứng dụng làm thay con người những tính toán đó. Bạn có định tự kéo cày trong khi nhà có trâu và có máy? Người ta hay nhắc bạn tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, nhưng không ai nhắc bạn tiết kiệm tài nguyên não của chính bạn.
  4. Để học giỏi ở Việt Nam, ít nhiều bạn bị mất một chút tự do, và buộc phải là bản sao tư duy của ai đó. Nói đến Tấm là phải ngoan hiền, nói đến Cám là phải gian ác, trong khi bạn đang nghĩ đến điều ngược lại, nhưng không được đâu, cô không thích điều này! Bạn chưa hiểu, bạn cần học lại, học kỹ hơn, không được, lớp cần 90% học sinh giỏi, chỉ tiêu chỉ được 10% học sinh khá, và tuyệt nhiên không được ai ở lại lớp. Bạn cần phải là một bông hoa đẹp trong vườn hoa toàn Học sinh Giỏi của cả lớp, của trường, trong cánh rừng học sinh giỏi của Thành phố. Việc chấp nhận mất tự do tư duy từ nhỏ trong học đường làm cho bạn dễ chấp nhận hơn với việc mất tự do trong cuộc sống sau này.
  5. Để học giỏi ở Việt Nam, cuộc sống của bạn rất dễ bị mẻ, bị nứt, bị lệch và rất có thể bị vỡ nữa. Bạn còn quá trẻ và non nớt, vì thế nên bạn cần đi học để trưởng thành lên theo năm tháng, nhưng bố mẹ và thầy cô luôn cần bạn phải là số 1, không được là số 2, nhất định phải là số 1, và họ thi nhau chất lên lưng bạn những áp lực nặng nề mà chính bạn cũng không thể biết được đâu là tới hạn. Đến khi bạn kém giao tiếp, ứng xử lúng túng, không biểu đạt ngay cả những gì mình muốn nói, không tự tin giữa đám đông chỉ vì ngoài giờ học bạn không còn người bạn thân nào hơn Facebook, Zalo và máy tính và điện thoại, không có thời gian để quan sát cuộc sống tươi đẹp xung quanh. Coi chừng! Rất có thể, đấy là cách những tờ giấy khen Học sinh giỏi âm thầm đánh cắp tuổi thơ của bạn.

Bố mẹ Việt đang nhầm lẫn tai hại giữa: học Tốt và học Giỏi, nhiều phụ huynh cứ có niềm tin mù quáng là con cứ học giỏi là chắc chắn là có vé đi ga “Tương Lai Hạnh Phúc” thế là cứ cố nhồi con học cho đến khi họ nhận ra sự thật bẽ bàng: học giỏi mà không hạnh phúc thì còn bất hạnh hơn học dốt mà biết cái gì là tốt.

Vấn đề không nằm ở Bộ Giáo dục, mà nằm ngay trong chính tâm thức mỗi ông bố bà mẹ: có dám để cho con mình học dốt – học theo đúng năng lực của mình hay không, hay sợ dư luận chê cười? Sợ đến chết!

Bên cạnh quyền được Khổ, quyền được Dốt cũng là một trong những quyền của học sinh đang bị phụ huynh Việt xâm phạm thô bạo.

Nếu con bạn là cây Tùng xin đừng trồng trong chậu, chăng đủ thứ đồ trang trí lên và gọi nó là cây Thông Noel”.

________________

Bài viết của tác giả Hoàng Huy.

Bạn nghĩ sao?

Khoảng lặng…

Khoảng lặng…

LS Ngô Anh Tuấn

Luật sư Nguyễn Văn Miếng và Luật sư Đặng Đình Mạnh tại thủ đô Washington, D.C Hoa Kỳ hôm 16/6/2023. Ảnh: RFA

Chỉ trong một thời gian ngắn, một số người bạn mà tôi yêu quý đã lần lượt rời bỏ đất nước ra đi. Nguyễn Anh Tuấn, một người bạn trẻ tuổi nhưng chín chắn, chững chạc, một người tri thức có tầm ảnh hưởng thực sự trong giới đấu tranh cho sự tiến bộ xã hội đã tới Canada. Luật sư Đặng Đình Mạnh, một luật sư mạnh mẽ, khôn ngoan, kiên định, một người đồng nghiệp thân thiết trong rất nhiều vụ án chính trị đã tới Hoa Kỳ. Hai luật sư thân tín khác là luật sư Nguyễn Văn Miếng và Đào Kim Lân cũng đã tới Hoa Kỳ. Tôi mừng cho cá nhân những người bạn của mình nhưng tôi lo cho những người ở lại. Liệu rằng làn sóng ra đi sẽ chấm dứt hay sẽ tiếp tục có những người sẽ ra đi? Liệu rằng những tiếng nói phản biện vẫn sẽ còn tồn tại hay sẽ tắt dần theo thời gian?

Những người bất đồng chính kiến dám thể hiện ra hành động (dù chỉ là thông qua lời nói), vốn đã rất ít. Những luật sư dám đứng ra bảo vệ những người này vốn đã ít nay càng ít hơn, khi mà một số người bị tước thẻ hành nghề, một số người dừng cuộc chơi giữa chừng, số khác thì phải đi nước ngoài. Tổng trên cả nước, những luật sư dám đứng ra bảo vệ thân chủ trong các vụ án có màu sắc chính trị, đếm đi đếm lại không quá hai bàn tay, nay bị bớt đi gần một nửa. Số lượng giảm, chất lượng chưa biết giảm đi bao nhiêu nhưng tinh thần người trong cuộc là giảm đi rõ rệt. Còn nhớ, khoảng 3 năm trước, trong một vụ án đình đám, khi kết thúc phiên toà dài ngày, tôi bị cưỡng ép để lấy luôn USB dữ liệu điện tử ghi nhận diễn biến phiên toà, luật sư Mạnh và luật sư Miếng chạy lại hỗ trợ, bảo vệ tôi nhưng bị cản trở, xô ngã. Phiên toà mới đây ở Đà Nẵng, tôi bị buộc ra khỏi phiên toà một cách tức tưởi dù không vi phạm nội quy phiên toà. Dù rất muốn lên tiếng, nhưng đồng nghiệp tôi phải ngồi im, vì nếu anh ấy phản ứng lại và theo chân tôi thì không còn ai ở lại bảo vệ thân chủ nữa. Nếu như trước đây, có nhiều luật sư cùng tham gia thì nếu có 1-2 người bị mời ra thì cũng bình thường vì những người còn lại vẫn có thể tiếp tục phần việc của mình. Thế nhưng, những ngày tươi đẹp ấy có vẻ như đã thành dĩ vãng xa rồi.

Những người ra đi: hoặc là họ bị dồn nén tới mức phải dứt áo ra đi hoặc là họ không còn động lực để ở lại. Không ít nghi vấn: nhiều người lên tiếng đấu tranh với mục đích là kiếm được “tấm vé” xuất ngoại; tôi nghĩ có thật, nhưng vô cùng hiếm hoi. Nhiều lần tôi tự hỏi, thay vì dồn ép những người bất đồng chính kiến tới mức họ phải đưa ra những lựa chọn cực đoan thì tại sao chính quyền không lắng nghe, đối thoại với họ để tháo gỡ mâu thuẫn, tận dụng tri thức của họ để góp phần xây dựng đất nước dân chủ, tiến bộ hơn? Tôi tự hỏi rồi cũng tự trả lời.

Với một số người khác đang nằm trong “danh sách đen”, có lẽ cả hai điều trên chưa có nên họ vẫn còn ở lại đây. Nếu chỉ sống cho bản thân thì quá dễ dàng với không ít người– họ có thể xuất ngoại mà không phải chọn con đường tị nạn chính trị. Tuy vậy, vì nhiều lý do riêng mà họ không chọn cách ra đi. Thế nhưng, điều họ muốn chưa hẳn đã là điều người ta muốn; nên việc họ muốn ở lại chưa chắc đã là thứ quyết định việc họ buộc phải ra đi. Trên mảnh đất này, bạn không thể tự quyết được mọi điều bạn muốn đâu! Vậy nên, hãy cứ sống tốt, sống vui được ngày nào thì hãy cứ cố gắng để mai này không phải ân hận khi ngước nhìn về quá khứ, thế là đủ. 

N.A.T.

Nguồn: FB Tuan Ngo

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC:-“Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan”

Đức Tâm (TBKTSG Online)

Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Tây Nguyên - YouTube

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của “Cuộc cách mạng một cọng rơm”, không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.

Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?

Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết, “Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều”.

Xin nói qua từ mọi. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.

Thật ra, từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar – Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố tơ bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.

Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: “Nói tầm bậy”. Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.

Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt – Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.

Emerging Ethnobiologists: Forest of Bhutan I. The biodiversity of the ...

Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày ngay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi  mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Ảnh: NV Nguyên Ngọc và Anh hùng Núp.

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen


 

Nhiều học sinh giỏi ở Nghệ An, Hà Tĩnh bỏ đại học, đi ‘xuất khẩu lao động’

Báo Nguoi-viet

June 20, 2023

HÀ TĨNH, Việt Nam (NV) – Nhiều năm qua, ở các làng quê Nghệ An, Hà Tĩnh, nhiều học sinh giỏi đỗ vào trường đại học danh tiếng ở Việt Nam nhưng bỏ không học, mà chuyển hướng đi “xuất khẩu lao động” ở xứ người mong đổi đời.

Theo báo VietNamNet hôm 19 Tháng Sáu, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do sau khi tốt nghiệp đại học nhiều em thất nghiệp, công việc trái chuyên môn, thu nhập thấp … đã khiến nhiều gia đình hướng con em mình ra ngoại quốc kiếm tiền.

Nhiều học sinh giỏi ở miền Trung từ chối vào trường đại học trong nước để đi “xuất khẩu lao động” mong đổi đời. (Hình: Người Lao Động)

Do vậy, số lượng học sinh học đại học trong nước giảm, thậm chí có nhiều làng xã, nhiều năm liền không có sinh viên đại học.

Trước đây, nhiều phụ huynh ở Hà Tĩnh vẫn luôn nghĩ rằng, dù vất vả thế nào cũng cho con đi học đại học, bởi đây là niềm tự hào của gia đình, cả dòng họ và đó là “con đường duy nhất để thoát nghèo.”

Tuy nhiên, rất nhiều sinh viên khi ra trường, thậm chí cầm trong tay tấm bằng “đỏ,” vẫn không xin được việc làm, nhiều em chật vật kiếm được việc làm nhưng lại không đúng chuyên ngành. Hoặc nếu có việc nhưng tiền lương không đủ sống.

Ông Lê Hoài Nam, phó hiệu trưởng trường trung học phổ thông Nguyễn Trung Thiên, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, cho biết trước đây, học sinh của trường đậu vào các trường đại học chiếm số lượng lớn. Nhưng hiện nay, nhiều học sinh giỏi, xuất sắc không thi đại học mà đi “xuất khẩu lao động” hoặc vừa học, vừa làm ở ngoại quốc.

“Thực tế, đi ‘xuất khẩu lao động,’ các em có tay nghề và có mức thu nhập cao. Mỗi năm, trường có nhiều học sinh khá, giỏi chọn phương án này thay vì học đại học,” ông Nam thừa nhận.

Nói với báo VietNamNet, nhiều hiệu trưởng trường trung học phổ thông ở Hà Tĩnh cho biết hiện nay, học sinh có định hướng rất thực tế, mục tiêu chỉ học hết lớp Mười Hai, lấy bằng tốt nghiệp tú tài và không thi vào đại học, mà dành thời gian học tiếng Hàn, Nhật… và các kỹ năng nghề phù hợp với bản thân để đi “xuất khẩu lao động.”

Gia đình chị Nguyễn Thị Hoa ở xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà, Hà Tỉnh, có năm người con có học lực khá giỏi nhưng không ai chọn lựa đi học đại học. Hiện, ba người con gái đi “xuất khẩu lao động” ở Nhật, còn con trai út 19 tuổi cũng đang học tiếng để đi Nam Hàn.

“Đi học đại học mất thời gian hơn bốn năm và một khoản học phí không nhỏ, nhưng không chắc chắn về cơ hội việc làm. Vì suy nghĩ đó, các con tôi chọn ra nước ngoài làm việc, có cơ hội kiếm được khoản tiền lớn. Khi có kinh tế, các con sẽ tự chủ trong cuộc sống,” chị Hoa nói.

Tương tự, thời điểm năm 2016, chị Nguyễn Thị Thu có con gái là em Nguyễn Thị H. thi đậu hai trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội và Đại Học Ngoại Thương được nhiều người ngưỡng mộ, song em H. từ chối vào đại học, mà xin đi du học nghề ở Nam Hàn.

Chị Nguyễn Thị Hoa có con đều học khá giỏi nhưng không ai theo học đại học ở Việt Nam, mà đi “xuất khẩu lao động.” (Hình: VietNamNet)

Hiện em H. đang học tập, làm việc ở Nam Hàn, có mức thu nhập tốt, hàng tháng, em gửi về 10 triệu đồng ($425) cho cha mẹ.

Chị Thu nói thêm, ở xã cũng có rất nhiều trường hợp như em H., đỗ đại học nhưng theo con đường “xuất khẩu lao động.” Gia đình ai có con đi theo hướng này thì cha mẹ có tiền tỷ gửi ngân hàng, xây được nhà cao tầng, càng khiến học sinh ở các vùng quê này không mặn mà với giảng đường đại học trong nước. (Tr.N)


 

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN – NỮ THẨM PHÁN TỪNG ĐOẠT GIẢI VĂN CHƯƠNG MỸ

Lê Vi

Chào đời tại Hội An, Quảng Nam và đến Hoa Kỳ năm 1975, Dương Như Nguyện (Wendy Nicole Dương) tốt nghiệp Cử nhân báo chí tại ĐH Southern Illinois, sau đó là Tiến sĩ Luật của ĐH Houston và LLM của Harvard.

Tuổi 24, cô đã làm tổng giám đốc Vụ Bồi thường rủi ro cho Quận Học chánh Houston, rồi tốt nghiệp luật sư năm 1984. Hành nghề luật được 18 năm thì cô trở thành giáo sư luật thực thụ ở Đại học Denver, là nữ thẩm phán Hoa Kỳ đầu tiên người gốc Việt.

Cô viết văn từ khi còn ở Việt Nam và là người cuối cùng đoạt giải danh dự Cuộc thi Văn chương Phụ nữ toàn quốc Lễ Hai Bà Trưng của VNCH năm 1975, khi ấy cô là nữ sinh 12C Trường Trưng Vương, Sài Gòn.

Hai cuốn sách của cô – “Mimi and Her Miror” (Mimi và tấm gương soi) và “Postcards From Nam” (Bưu thiếp của Nam), đoạt luôn giải nhất và giải nhì của Giải thưởng Sách quốc tế, dạng tiểu thuyết đa văn hóa (multicultural fiction), được tổ chức bởi JPX Media Group của Los Angeles, tiểu bang California, Hoa Kỳ, năm 2012.

Hai tác phẩm được chọn cho giải thưởng này nằm trong bộ ba tiểu thuyết (trilogy) của Dương Như Nguyện (bút hiệu Uyen Nicole Duong cho các tác phẩm tiếng Anh) do AmazonEncore xuất bản. Bộ ba tiểu thuyết này mô tả thảm cảnh cũng như đời sống của người di dân gốc Việt sau năm 1975, trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam chấm dứt với sự sụp đổ của Sài Gòn.

Amazon Corporation đã quyết định đem 2 cuốn sách của Dương Như Nguyện vào dự thi giải thưởng này. Việc AmazonEncore tham dự thi xảy ra trong thời gian tác giả đang phục vụ chương trình Fulbright ở nước ngoài qua sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, vì thế chính tác giả cũng không biết là tác phẩm của mình đã đoạt giải, cho đến nhiều tháng sau, khi bà đã kết thúc chương trình Fulbright và quay trở lại Mỹ.

Trước đó, cuốn “Con gái của sông Hương” xuất bản năm 2005 đã gây nhiều tiếng vang, là truyện đời của một cung phi, và tiếp nối cuộc đời của bốn thế hệ hậu duệ. Tác giả đã chân chính dùng tên tự “River Hương” cho dòng sông, thay vì ghi thành tên dịch ra tiếng Anh là “Perfume River”.

Như vậy Sông Hương đã hiện diện đúng cung cách, tên tuổi, đầy đủ nhiệm mầu để chuyên chở qua thời gian và không gian thân phận, định mệnh và truyền thống của những con người được chọn lựa đảm nhận cuộc sống trên mảnh đất lân cận, từ những cội nguồn xa xăm. Thân phận người ở đây được trao cho thân nữ làm đại diện nhân cách, vừa nhẹ nhàng thâm sâu, vừa quyết liệt khi phải đương đầu với sinh tử.

Có lẽ người đàn bà gần gũi nhất với cái sống và cái chết, khi sinh đẻ, nuôi dưỡng đàn con, nên bẩm sinh quyết liệt với sinh tồn, với lẽ sống. Hơn một lần trong truyện, người đàn bà đã đảm nhận hiện tượng sinh và tử như một đặc quyền bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt. Tác phẩm này đã được dựng thành phim ảnh.

(st)

Xin giới thiệu một bài văn của Dương Như Nguyện:

EM CHỈ MUỐN YÊU ANH

Em tỉnh giấc sáng nay để thấy tâm hồn mình tràn đầy cái tươi thắm của mùa xuân, cái mát lạnh của đầu thu… Em biết anh đang ở ngoài xa, có lẽ đang đợi chờ em băng lục địa để đến với anh… Nắng buổi sáng ôm lấy căn phòng em bằng tất cả sự rực rỡ và ấm áp và trái tim em gần vỡ tung vì em đang khám phá… Anh đã rót vào đời em tia hạnh phúc này, quá tuyệt diệu, quá bất ngờ như thể sự sống đã sinh nguồn trở lại, biến tất cả trong em thành một thực thể mới.

Nếu ngay giây phút này, em có thể mượn cánh thiên thần, em sẽ bay ngược thời gian, tung cánh vào không gian, để đến thăm anh không hẹn định. Em sẽ rón rén đặt môi dịu dàng trên đôi mắt say ngủ của anh và em sẽ đánh thức để mang anh ra khỏi mộng mơ nào đẹp nhất. Ðể đền bù, em sẽ mang với em mật nào ngọt nhất, trái dâu nào mật nhất, muỗng kekem nào bùi nhất, và những nụ hồng nào đẹp nhất, để bắt đầu một ngày của anh bằng những gì dịu dàng thân ái nhất. Em sẽ mở tung cửa sổ để căn phòng anh tràn ngập những tia nắng sớm nhất đầu ngày, đem đến cho anh an bình và hy vọng. Như một nữ thần Hy Lạp xưa, em sẽ hát bài hát nào hay nhất, múa những điệu vũ nào đẹp nhất, và tưới vào hồn anh khúc nhạc nào thần tiên nhất bằng phím tơ đàn của thời trung cổ. Và rất nhẹ nhàng, em sẽ nép đầu vào ngực anh để lắng nghe buồng tim anh hòa nhịp với em.

Nhưng em không thể mượn cánh thiên thần, nên giờ này em chỉ biết đứng đây lắng nghe tiếng chim buổi sáng, chiêm ngưỡng mặt trời buổi sáng… Và như trong giấc mộng dữ, em nhặt khẽ một sợi tóc vướng cô đơn trên gối. Em đặt sợi tóc của chính mình trong lòng tay, khẽ nhướng chân với ra bên cửa sổ, thở một hơi thật dài để thu lại cái yên tĩnh của một ngày mới. Rồi em thổi bay sợi tóc theo ánh mặt trời, hy vọng sợi tóc con sẽ vượt vạn lý để đến với anh ở một góc đặc biệt của địa cầu – nơi mà chúng ta đã gặp nhau.

Rồi khép mi cầu nguyện sợi tóc của em sẽ nối liền trái tim của chúng ta, sẽ thành lưới kéo hồn anh vào hồn em, sẽ buông trói chân anh và chân em để tự nhiên chúng ta ngừng bước viễn du. Phải chi sợi tóc ấy sẽ biến thành anh của riêng em, trong vòng tay của riêng em, trong vòng tay em hôm nay và ngày mai…

Phải chi sợi tóc ấy sẽ thay cánh thiên thần mang em đến với anh… Phải chi sợi tóc ấy sẽ rót lời em thầm thì vào tai anh… Ðể em nói cho anh biết rằng… em chỉ muốn yêu anh.

D.N.N.

(1998)

Fb Oanh Vy Lý


 

19/06 ngày lễ kỷ niệm sự giải phóng nô lệ ở Hoa Kỳ

Hôm nay, ngày 19 tháng 06, ngày lễ để kỷ niệm sự giải phóng nô lệ ở Hoa Kỳ. Ngày lễ lần đầu tiên được tổ chức ở Texas, nơi vào ngày đó năm 1865, sau cuộc Nội chiến, những người nô lệ được tuyên bố tự do theo các điều khoản của Tuyên bố Giải phóng nô lệ năm 1862.

 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH – Người Tiết Lộ Những Chuyện “Động Trời”

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi. Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – như theo ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Tuấn Khanh
Ng: Anh Huy.

From: Tu-Phung


 

Việt Nam Hôm Nay – Đỗ Duy Ngọc

Nhóm Thân Hữu NNHN

“Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào.

Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam…”

– Bùi Giáng (?)

  1. Chơi  thể thao

Nhiều bữa không ngủ được, nằm nghĩ toàn mấy chuyện tào lao.  Ví dụ như những năm sau 1975, cơm không có mà ăn; ăn toàn bo bo với khoai mì, thức ăn toàn cá ươn và rau héo. Lúc đó chỉ mong có bát cơm trắng, bữa cơm có thịt. Giải trí thì chỉ quanh quẩn mấy bài ca cách mạng; thể thao thì chỉ loanh quanh bóng đá, bóng chuyền.

Thời mở cửa, tiền bạc khá hơn, đời sống được nâng cao, bắt đầu xuất hiện phong trào chơi “Tennis.” Thật ra trước 75, ở miền Nam, “Tennis” cũng là bộ môn có khá nhiều người chơi, nhưng toàn là tướng tá, nhà giàu, công chức cấp cao vì sân “Tennis” không nhiều mà dụng cụ thì giá rất đắt.

Từ cuối thập niên 80, phong trào chơi “Tennis” nở rộ; sân “Tennis” mở ra nhiều; Vợt, banh, giày, vớ, áo quần được nhập về; và “Tennis” lúc đó là thú chơi của người có tiền, nhất là cán bộ. Ra đường mà mặc bộ đồ đánh “Tennis” trắng, giày hiệu Adidas, Nike… với vợt hiệu Wilson, Head… chính hãng là quý tộc rồi.

Vẫn biết đó là môn thể thao để mang lại sức khoẻ. Thế nhưng lắm người đến với bộ môn này để khoe khoang. Thời đó là thú chơi trưởng giả, có “đẳng cấp” cao trong xã hội.

Ngồi đâu cũng nghe bàn về “Tennis,” thể hiện đẳng cấp.  Dần dà, khi phong trào “Golf” du nhập vào, nhiều sân “Golf “xây lên, 18, 36 lỗ đều có đủ. Người ta lấy luôn đất sân bay làm sân “Golf.” Từ đó “Tennis” thành trò chơi bình dân, ít vốn, không còn được nhắc đến nhiều nữa.

Từ đấy “Golf” mới là quý tộc, là đẳng cấp, là dân chơi thứ thiệt.  Đi vào thế giới của trưởng giả, của trọc phú, của doanh nhân, của cán bộ đều bàn chuyện “Golf”; và giá cả của các món đồ phục vụ thú chơi này với giá cao ngất ngưỡng.

Tennis” xuống giá. “Golf” lên giá.

Giá trị của “đẳng cấp” đã thay đổi.

  1. Chuyện ăn chay / ăn thịt

Một thời người ta mong có miếng thịt mỡ để có chất béo, để rán, để chiên. Mong có miếng thịt nạc để có thêm chất đạm.

Đến khi mở cửa, thức ăn tràn trề, thích gì có đấy, chỉ sợ không có tiền thì lại rộ lên phong trào ăn chay.

Doanh nhân bạc tỷ cũng ăn chay; nghệ sĩ, người mẫu cũng ăn chay; tu cũng chay mà không tu cũng chay.  Tiệm cơm chay mở ra tràn ngập, bình dân có, sang chảnh có. Đi đâu cũng nghe bàn chuyện ăn rau cỏ. Vào nhà hàng sang trọng, giá cả trên trời cũng chỉ gọi món rau trộn. Ăn chay trở thành phong trào, trở thành mốt thời thượng.

Ngược với ăn chay lại có một xu hướng kiếm ăn thịt thú rừng.  Thú càng hiếm càng quý, càng được săn đuổi. Thưởng thức thịt rừng là một thú vui quý tộc. Ăn những món ăn bình thường là tầm thường, phải tay gấu, óc khỉ, mật rắn, chồn hương, tê tê…  rồi sừng tê, mật gấu, cao hổ, nhung hươu mới là dân chơi thứ thiệt.

Chay hay mặn…  Cán bộ ta toàn là dân chơi thứ thiệt!

  1. Chuyện cúng bái / mê muội

Từ chuyện ăn chay lại dẫn đến chuyện tu hành.  Xã hội càng tàn bạo, khát máu, bạo lực, lừa lọc, dối trá, láo toét thì người nói chuyện tu hành, kinh kệ càng nhiều.  Chùa chiền mọc lên như nấm.

Thằng du đãng giết người cướp của, bà cho vay nặng lãi, chứa gái, buôn ma tuý, cán bộ tham nhũng, cướp đất của dân ngày rằm, mồng một, lễ, vía… đều mang tiền, dâng hương, vàng mã cúng lạy Phật.  Họ cầu chức, cầu tiền, làm ăn phát đạt. Họ cầu giàu càng giàu thêm, ghế càng cao thêm, chức tước bổng lộc càng nhiều hơn.

Bởi có chức là có tiền, có nhà to, có đô la, hột xoàn, vàng ký.

  1. Chuyện tu theo phong trào

Chưa bao giờ mà câu “A-Di-Đà-Phật” lại xuất hiện nhiều trên cửa miệng dân gian nhiều đến thế.  Nó tràn đầy trong các mạng xã hội, đầy dẫy trong các “comment.”  Tự hỏi họ có hiểu câu ấy muốn nói điều gì, ẩn chứa tư tưởng gì, chắc hẳn chẳng mấy người hiểu.

Họ bắt con chim đang sống tự do trên trời, con cá đang sống hạnh phúc dưới nước nhốt vào lồng, vào chậu, giam đói, chết khát rồi đúng giờ, đúng ngày đem thả ra gọi là phóng sinh.  Sát sinh chứ phóng sinh nỗi gì?

Tu theo phong trào, đọc kinh ê a theo phong trào, dạy người khác đạo lý, tín điều cũng theo phong trào.  Trở thành một xã hội cuồng tín và mê muội.  Một thời loạn tăng, loạn pháp…

Một số không ít thầy tu thuyết pháp toàn nói chuyện vớ vẩn, phản khoa học, công kích, nói xấu các tôn giáo khác.  Xu nịnh người giàu, coi thường kẻ nghèo, cứ bước vào chùa là thấy rõ. Chùa thành doanh nghiệp,  thầy tu thành doanh nhân,  loạn xà ngầu cả lên.

  1. Phong trào từ thiện

Bản chất của việc từ thiện là sự chia sẻ, là chuyện tốt, Nhưng làm từ thiện mà khoe khoang cho tất thảy mọi người, mà tự hào xem đó là công trạng thì chưa hiểu hết nghĩa bố thí của nhà Phật.

Vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước tiên hết phải thuộc về người cho sở hữu, nghĩa là nó là vật của người cho (chứ không phải là lấy của người, hay của công rồi đem cho!).

Cho một vật không phải của mình thời không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy trở thành vật của người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấy nữa.  Cho như thế có nghĩa là “xả bỏ” các sở hữu của mình, “xả bỏ” những gì mà mình có.

Còn cho rồi mà vẫn cầu ân, kể lể thì đó chỉ là làm cho cái tôi của mình chứ chẳng phải vì tha nhân.

  1. Chuyện chơi lan, chơi “Bonsai” đột biến

Chơi lan, chơi “bonsai là thú vui tao nhã.  Nhưng rồi người ta không dừng lại đó, đưa tới chuyện phá rừng, cưa cây đem về trưng bày trong vườn nhà.

Cây trăm năm trong rừng già biến thành chậu “bonsai” cho lớp người nhà giàu mới. Cây lan biến hoá thành đột biến giá cả trăm tỷ đồng.

Những thú chơi thanh lịch ngàn năm biến thành những trò cờ bạc, lọc lừa.

  1. Phong trào lạ – Mặc quân phục lính Mỹ, lính VNCH và hát nhạc lính miền Nam.

Có một hiện tượng khó mà cắt nghĩa được là hiện nay ở miền Bắc có phong trào mặc quân phục lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng Hoà, hát nhạc lính miền Nam rất rầm rộ.

Họ tụ tập thành hội đoàn rất đông, có tổ chức đàng hoàng dù ngày xưa chửi Mỹ, hô hào “Đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào!” Nam thanh, nữ tú đủ cả.  Mỗi lần họ tập họp nhìn y như cả tiểu đoàn quân đội VNCH đang chuẩn bị hành quân diệt cộng!

Nhìn mặt họ hân hoan, sung sướng, tự hào, thoả mãn mới chết người!

Thế là sao nhỉ?

  1. Chuyện Phản quốc (?)

Cũng một thời, người ta toàn nói chuyện yêu nước thương dân, lòng ái quốc, nghĩa đồng bào.  Những gia đình vượt biên bị niêm phong với dấu đỏ lòm là phản quốc.

Giờ thì ngồi đâu cũng nói chuyện Mỹ, chuyện Pháp, chuyện Anh.  Người Việt ngày xưa trốn chạy, vượt biên giờ trở thành “khúc ruột ngàn dặm.

Con cán bộ từ cấp trung đến cấp cao đều du học Mỹ. Nhiều cán bộ chưa về hưu đã có thẻ xanh lận túi, chờ đến giờ là vọt qua Mỹ.

Thế mới thấy trên đời này mọi giá trị chẳng có chi là vĩnh cửu.

  1. Chuyện giàu sang

Trong tiếng Việt chữ giàu đi với chữ sang.

Nhưng thời nay, giàu tiền thì nhiều nhưng mà sang thì không có mấy.  Đốt đuốc cũng khó tìm ra.  Bởi sang nằm trong cốt cách, trong cách ứng xử, trong trí tuệ, trong ngôn ngữ thể hiện, trong điệu đi, cách nói, kiểu cười.

Chẳng phải chơi “Golf” mà sang. Cũng chẳng phải có cây hoa quý đắt tiền mà sang. Cũng chẳng phải tiền muôn, bạc tỷ mà sang.

Chẳng phải có chút sắc đẹp, có chút địa vị xã hội, có hột xoàn cả ký, có nhiều người xu nịnh tiền hô hậu ủng mà sang…

Hết biết!

Đỗ Duy Ngọc

Trần Văn Giang (ghi lại)

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Trần Duy Sơn is with Son Tran.

Một thời gian ta dài tưởng đó là chân lý chễm chệ vị thế giảng đường sinh vật học với những bộ óc giáo sư kiệt xuất hậu thuẫn cho con vượn rụng lông hóa kiếp người.

Theo thời gian hóa ra phi lý tỏ tường .

Chỉ là Thuyết thôi mà, Darwin nào có tội

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Người Việt trong nước cuối cùng đã lên tiếng rất nhiều về xe VinFast

Sự thật không thể che dấu nhất là về phương diện kỹ thuật, sự gian dối khi bị công chúng khám phá thì sẽ bị ghét bỏ và tẩy chay.

Đó là lý do chính làm cho xe VinFast bị ghét và chê trách quá thê thảm ở trong nước.

Tâm sự của một khổ chủ mới mua xe có 12 ngày, rất tội nghiệp:

  • Nói chuyện muốn khóc luôn.
  • Xe dán băng keo từ nhà sản xuất nguyên thủy.
  • Vì lý do gì mà các nạn nhân đã cả tin VinFast để rồi phải khổ như vậy? Chủ xe trả lời luôn.

Các người sắp mua xe nên xem clip này, vì được biết các kinh nghiệm rất đau lòng của các nạn nhân xe Vin Phét.

Khi Pin bị nóng chớ chạy xe trên xa lộ, rất nguy hiểm vì tốc độ bị  chậm còn chỉ có 21Km/h.

Ba tháng trước đây, có một người Singapore đang làm việc ở Việt Nam, ông Tom Peng mua xe VF8 để chạy thử, xe đã bị lỗi chết máy dọc đường và phải nằm ụ ở trạm sửa của VinFast hàng tuần lễ.

Đến nay, khi ông hào hứng mua xe VF9 cao cấp hơn vì họ (VinFast) đã rút tỉa kinh nghiệm kỹ thuật phần mềm nhiều hơn,  theo cách nói khuyến dụ của hãng Vin, chạy được mới có vài tuần thì xe mới cũng lại bị chết máy trong lúc đậu (cũng may không bị chết máy trên xa lộ như người khác)…

Mời Bạn nghe ông phàn nàn:

 

Chuyện gì sẽ tới trong tương lai gần: Một nghĩa địa cho xe VinFast.

Mời bạn đọc bài về nghĩa địa cho xe dỏm ở Trung Quốc và Việt Nam

 

Một Người Cộng Sản tương đối tỉnh táo nói gì về thành quả Cộng Sản sau 25 năm với 5 lần Đại Hội Đảng

Ông Nguyễn Bá Thanh nói Hàn Quốc chỉ cần 25 năm là họ dư sức chuyển mình từ đất nước nông nghiệp sang công nghiệp,  còn Đảng Cộng Sản 25 năm thì … Không làm được bao nhiêu, càng yếu kém và phức tạp hơn.

Còn gì là đất nước Việt Nam ta!

Cám ơn một người Cộng Sản can đảm và tự chuyển biến.

Điều vô cùng thiệt thòi cho nước Việt Nam là ông Nguyễn Bá Thanh đã bị Cộng Sản ta, Cộng Sản Tầu thuốc chết!

Bản án chết đương nhiên phải đến từ Cộng Sản Trung Ương cho người yêu nước Nguyễn Bá Thanh, nhưng mà tội cho tương lai dân tộc của tôi.

Hy vọng sẽ còn các Nguyễn Bá Thanh, Võ văn Kiệt tự chuyển biến  trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, mong mau có Gorbachev ở đảng Cộng Sản Việt Nam cho dân tộc Việt Nam được hết lầm than.

10 bí quyết sống hạnh phúc của Đức Thánh Cha Phanxic

Đức Thánh Cha từng đưa ra 10 chỉ dẫn để mang lại niềm vui cho cuộc sống của mình như sau:

  1. “Sống và hãy sống”. Tất cả mọi người nên làm theo nguyên lý này. Ở Rôma có một câu nói thời danh tương tự: “tiến lên và giúp người khác tiến lên.”
  2. “Hãy trao ban bản thân cho người khác.” Mọi người cần mở ra và quảng đại với người khác. Nếu bạn co cụm vào chính mình, bạn có nguy cơ trở thành ích kỷ. Nước không thông sẽ trở nên hôi thối.
  3. “Giữ điềm tĩnh trong cuộc sống.” Đức Thánh Cha, sử dụng hình ảnh nước trong một cuốn tiểu thuyết của Ricardo Guiraldes, Argentina, trong đó nhân vật chính Gaucho Don Segundo Sombra nhìn lại cuộc sống của mình như sau: “Tuổi trẻ tôi sống sôi động như một dòng thác lũ; khi trưởng thành nó trôi đi như một dòng sông, và khi tuổi già nó lặng lẽ như mặt hồ.” ĐTC nói rằng, ngài thích hình ảnh của mặt hồ vì “nước trôi cách tử tế và khiêm nhường, một sự điềm tĩnh trong cuộc sống.”
  4. “Một cảm thức về nghệ thuật.” Tìm niềm vui nơi nghệ thuật, văn học và vui chơi với con cái. Ngài nói “Xã hội tiêu thụ làm cho chúng ta lo lắng quá nhiều và căng thẳng, khiến mọi người mất đi một “nền văn hóa lành mạnh của giải trí.” Thời gian dường như “nuốt chửng” con người để rồi họ không còn có thể chia sẻ cho nhau được nữa.

Dù các bậc cha mẹ làm việc nhiều giờ, nhưng phải dành thời gian để chơi với con cái; ngài nói: lịch làm việc dầy kín, nhưng bạn phải dành thời gian cho con cái. Các gia đình cũng phải tắt TV để trò chuyện khi ngồi ăn chung với nhau. Dù truyền hình rất hữu ích cho việc cung cấp thông tin nhưng “không thể thay thế việc giao tiếp” với nhau.

  1. “Nghỉ ngơi ngày Chủ nhật.” Công nhân còn được nghỉ ngày Chủ nhật vì vậy “Chủ nhật là dành cho gia đình”.
  2. “Tìm những sáng kiến để tạo công ăn việc làm tốt cho người trẻ.” Chúng ta cần giúp cho người trẻ có công việc. Nếu người trẻ không có cơ hội làm việc sẽ dễ đi vào nghiện ngập, dễ bị tổn thương đưa đến việc tự sát. Tạo công việc cho họ không chưa đủ. Cho họ nhận ra phẩm giá từ đôi bàn tay lao động của chính mình.
  3. “Tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên.” Suy thoái môi trường là một trong những thách đố lớn nhất của chúng ta. Tôi nghĩ đến một câu hỏi mà chúng ta phải chất vấn luôn mãi là: Con người sẽ tự hủy diệt mình bằng việc sử dụng bừa bãi và độc tài trên thiên nhiên?
  4. “Ngăn chặn tiêu cực.” Nói xấu về người khác là hạ thấp lòng tự trọng của mình. Mang nghĩa là: Tôi cảm thấy yếu kém thay vì tự thân vươn lên tôi hạ người khác xuống bằng cách nói những điều tiêu cực về người khác.
  5. “Không chiêu dụ người khác theo tôn giáo; tôn trọng niềm tin của người khác.” Chúng ta có thể truyền cảm hứng cho những người khác bằng việc làm chứng để cùng lớn lên qua sự liên hệ giao tiếp. Nhưng điều tồi tệ là chiêu dụ người khác theo tôn giáo mình. Đừng bàn chuyện để thuyết phục người khác. Mỗi người có một bản sắc và cá tính riêng của mình. Giáo Hội phát triển nhờ sự ảnh hưởng chứ không phải là chiêu dụ người khác theo đạo.
  6. “Kiến tạo hòa bình.” Chúng ta đang sống vào thời điểm của nhiều cuộc chiến, lời kêu gọi hòa bình phải được la lên. Hòa bình đôi khi cho cảm giác là tĩnh lặng, nhưng không phải là thụ động hòa bình luôn luôn là chủ động và năng động.

Lm. Trương Hoàng Vũ DCCT

Niềm Vui Tin Mừng