Việt Nam sẽ ký mua chiến đấu cơ F-16 của Hoa Kỳ?

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES
Chính quyền ông Biden đang có các cuộc đàm phán với Việt Nam về một thỏa thuận chuyển giao vũ khí lớn nhất trong lịch sử giữa hai cựu thù, hãng tin Reuters loan tin.
Gói vũ khí có thể sẽ được chuyển giao trong năm tới, với việc mua bán các chiến đấu cơ F-16, theo Reuters.
Thỏa thuận, nếu được thực hiện, sẽ gạt Nga sang bên lề trong quan hệ mua bán vũ khí với Việt Nam. Moscow vốn là đối tác truyền thống của Hà Nội trong việc cung ứng các vũ khí của Nga sản xuất, có giá thành thấp hơn nhiều so với hàng Mỹ.
Thỏa thuận vũ khí lớn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng sẽ khiến cho Bắc Kinh khó chịu, trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang tiếp tục diễn ra ở Biển Đông, và Hà Nội đang muốn tăng năng lực phòng thủ trên biển.
Hiện vẫn còn trong giai đoạn đàm phán sơ khởi ban đầu, chưa có nội dung chi tiết nào được đưa ra. Tuy nhiên, thỏa thuận mua bán vũ khí là một chủ đề then chốt trong các cuộc thảo luận chính thức giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tại Hà Nội, New York và Washington trong tháng qua, Reuters nói.
Trong chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden tới Hà Nội hôm 10-11/9 vừa qua, hai nước đã công bố nâng cấp quan hệ song phương từ mức ‘đối tác toàn diện’ lên ‘đối tác chiến lược toàn diện’. Việc nâng cấp này khiến cho vị thế của Washington trong quan hệ với Việt Nam nay ngang bằng với quan hệ của Hà Nội với hai đồng minh lâu đời, Nga và Trung Quốc.
Đa dạng hóa kho vũ khí
Quân đội Việt Nam vốn chủ yếu dựa vào vũ khí, khí tài của Nga, nhưng các khoản chi để mua sắm hàng Nga đã giảm mạnh trong những năm gần đây.
Theo số liệu từ Stockholm International Peace Research Institute (SIPRI), thời điểm Việt Nam nhập khẩu vũ khí Nga nhiều nhất là năm 2014, với tổng trị giá 1 tỷ đô la. Đến 2021, con số này chỉ còn là 72 triệu đô la.
SIPRI nói từ năm 1995 đến 2021, Việt Nam nhập khẩu tổng cộng 9,07 tỷ USD vũ khí, trong đó Nga chiếm 7,4 tỷ USD (81,6%).
Lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được gỡ bỏ vào năm 2016, tuy nhiên, xuất khẩu của Hoa Kỳ vào nước này kể từ đó vẫn bị giới hạn ở tàu tuần duyên, máy bay huấn luyện và công tác đào tạo sử dụng thiết bị, trong lúc Nga cung ứng tới khoảng 80% cho kho vũ khí đạn dược của Việt Nam.
Trong khoảng một thập niên qua, tổng chi phí của Việt Nam vào việc nhập khẩu vũ khí, thiết bị và đào tạo quân sự Hoa Kỳ đạt chưa tới 400 triệu đô la, Reuters nói.
Sau khi Nga mở cuộc chiến tại Ukraine, Việt Nam dường như đang tăng tốc đa dạng hóa kho vũ khí của mình ngoài Nga, thông qua mua vũ khí từ Mỹ, Israel, Hà Lan và Hàn Quốc.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng vẫn rất tích cực đàm phán với Nga về một thỏa thuận cung ứng vũ khí mới.
Hồi trung tuần tháng 8, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phan Văn Giang tham dự hội nghị an ninh quốc tế Moscow lần thứ 11 (MCIS-11) và Diễn đàn Kỹ thuật-Quân sự quốc tế 2023 (Army 2023) tại Moscow.
Tại đây, Tướng Giang đã có cuộc gặp với ông Nikolai Patrushev, Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Liên bang Nga, và có buổi làm việc với Bộ trưởng Quốc phòng Nga Shoigu, truyền thông Việt Nam nói.
Tính tương thích trong vũ khí sẽ là một vấn đề lớn cho Việt Nam khi muốn theo đuổi chiến lược đa dạng hóa kho vũ khí của mình.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES
‘F-16, đứa con ra đời từ Cuộc chiến Việt Nam’
Theo bài blog của cây viết Sebastien Roblin đăng trên trang tin NationalInterest.org chuyên về an ninh, quốc phòng và ngoại giao Hoa Kỳ, chiến đấu cơ F-16 ra đời từ những trải nghiệm không mấy dễ chịu của các phi công Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.
Thời đó, các chiến đấu cơ F-4 Phantom nặng nề với công nghệ tên lửa tầm xa chưa hoàn thiện và thiếu khả năng dịch chuyển linh hoạt trong phạm vi hẹp đã khá vất vả khi đương đầu với phi công Bắc Việt trong các cuộc không chiến. Điều này khiến Hoa Kỳ nhận ra rằng họ cần có một loại phi cơ nhẹ, giá thành rẻ để có thể tối ưu hóa năng lực chiến đấu trong các cuộc không chiến giáp lá cà.
Là một trong số ít các loại chiến đấu cơ hàng đầu thế giới về tính hiệu quả chi phí, F-16 rất nhanh nhẹn, linh hoạt so với các chiến đấu cơ động cơ kép kềnh càng hơn như F-15 Eagle, với mức chi phí chưa tới một nửa.
Vào năm 2017, giá thành một chiếc F-16 là khoảng 27 triệu đô la Mỹ, và cho đến nay nó vẫn là loại phi cơ được lựa chọn nhiều nhất cho việc hiện đại hóa quân sự.
Được chuẩn thuận từ 1976, trong số 4500 chiếc đã xuất xưởng tính đến năm 2021, có gần 2700 chiếc vẫn đang hoạt động ở khoảng 26 quốc gia khác nhau.
Ly rượu máu người
24-9-2023
Con hươu mang đôi sừng màu máu là con giống duy nhất tử tù Lê Văn Mạnh làm trong tù. Cái chết của anh kết thúc 19 năm giam cầm và kêu oan không ngừng nghỉ.
Có người đặt câu hỏi vì sao tòa án tỉnh Thanh Hóa ra lệnh xử tử Mạnh lúc này?
Chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong thông báo họ gửi cho gia đình.
Theo đó, họ thi hành án Mạnh thể theo yêu cầu của Vụ I, Tòa án Nhân dân Tối cao (TANDTC) thông qua công văn đề ngày 11/8/2023.
Công văn 189 ngày 11/8/2023 từ Vụ I Toà án Nhân dân Tối cao là căn cứ gần nhất để toà Thanh Hoá ra quyết định xử tử Lê Văn Mạnh. Ảnh trên mạng
Trong hệ thống thứ bậc của bộ máy quyền lực ở Việt Nam, chúng ta biết rằng Vụ I không thể gửi công văn này nếu không có sự chỉ đạo của Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình.
Chánh án Bình, đến lượt mình, chắc hẳn đã bàn bạc kỹ trong cơ quan nội chính tối cao là Ban Bí thư mà ông là một thành viên chủ chốt, để tìm kiếm đồng thuận cho một quyết định chắc chắn sẽ làm xôn xao dư luận.
Bởi vậy, cần phải nói rõ với nhau, xử tử Lê Văn Mạnh không phải là một hành động bột phát từ giới chức tòa án cấp thấp ở Thanh Hóa, mà là một quyết định có cân nhắc tính toán của chóp bu chính trị trong Đảng.
Nhưng vì sao họ phải làm như vậy?
Hãy nhìn thời điểm Vụ I gửi công văn, ngày 11/8/2023 – một tuần sau quyết định xử tử một tử tù khác, Nguyễn Văn Chưởng.
Quyết định xử tử Chưởng ngày 4/8/2023 đã làm dậy lên một làn sóng phản đối chưa từng có với vô số bài viết, thư từ, kiến nghị nhắm thẳng vào Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, đặt chính quyền vào tình thế buộc phải hoãn thi hành án, nếu không muốn đổ thêm dầu vào lửa một dư luận đang sục sôi.
Nhưng thay vì nhìn thấy điểm hợp lý trong đòi hỏi của công luận để từ đó nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, ám ảnh “luôn đúng” của một thứ quyền lực độc tôn lại khiến họ mù quáng cho rằng hoãn thi hành án như thế là thua dư luận.
Mà đã thua keo này thì ta bày keo khác.
Vụ xử tử tiếp theo được lên kế hoạch kĩ càng hơn, chọn đúng thời điểm dư luận xao lãng với phiên tòa Phương Hằng. Nhiều người hoạt động bị giám sát chặt chẽ, nhất là những ai về quê Mạnh để hỗ trợ gia đình.
Và họ đã thành công, Mạnh bị xử tử gọn ghẽ, nhanh chóng.
Cái chết của Mạnh, bởi vậy, chỉ là sự tiếp nối vô số cái chết oan ức khác, khi thì trên những cánh đồng tha ma của cải cách ruộng đất, lúc thì nơi rừng sâu núi thẳm của những trại lao cải, thời chiến cũng như thời bình, chỉ để Đảng Cộng sản Việt Nam – trong tư cách một chế độ – thỏa mãn sự hơn thua với dân có tính cách bệnh lý của mình.
Hôm nay, khi máu của một người Việt chết oan đổ xuống, cũng là lúc ly rượu mừng, ít nhất là trong tâm tưởng, của những kẻ quyền uy trong Đảng nâng lên…
Ly rượu máu người.
Nguyễn Phương Hằng đã đổ lệ vẫn chưa thấy quan tài
Gió Bấc
24-9-2023
“Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” là khẩu ngữ mà người dân mượn hình ảnh những kẻ nghĩa chưa nhìn thấy cái chết nên chưa biết sợ. Câu này dùng để nói tới những người coi thường sự nguy hiểm, làm những việc cận kề với cái chết nhưng họ vẫn không biết sợ, bởi họ chưa biết đến cái chết là gì, đến khi hối hận thì đã muộn, hậu quả đã xảy ra.
Với nữ đại gia “cuồn cuộn” Nguyễn Phương Hằng, qua phiên tòa sơ thẩm, lãnh án ba năm tù, nước mắt đã rơi nhưng tội nghiệp thay đương sự vẫn chưa thấy được cái quan tài nguyên nhân, hậu quả. Chưa biết mình phạm lỗi gì, với ai, và ba năm tù vẫn chưa phải là hậu quả sau cùng.
Phiên tòa xử vụ nữ đại gia Phương Hằng có nhiều điểm vui, hay, mới lạ, đúng là chuyện vui chỉ có ở “xứ thiên đường”!
Phiên tòa kín, hở oái oăm!
Chửi lộn online, bị khởi tố điều tra theo điều 331 là chuyện hiếm hoi trong lịch sử tố tụng của loài người. Hồ sơ điều tra bị trả tới lui, quá tam ba bận, cân lên nhắc tới khởi tố bổ sung cũng hai ba lượt, kéo dài 18 tháng mới đưa ra xét xử.
Các nghệ sĩ họ Đàm, Vy Oanh, Hoài Linh, nhà báo Năm Mực (Đức Hiển) bị Phương Hằng vạch mặt chỉ tên, bị tố cáo thâm lạm, chiếm đoạt tiền từ thiện ít nhiều có dấu hiệu nhưng chưa đủ chứng cớ cấu thành tội, không được xem là bị cáo, cũng không là bị hại mà lừng lững sắm vai người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Trong tố tụng “xứ thiên đường” vai trò pháp lý này dễ bị chuyển hóa thành vai khác, ai cũng kêu oai oái đòi được làm người bị hại, tòa nhất định không cho.
Người tham gia chửi hàng xáo như nhà báo Hàn Ni, luật sư Đặng Anh Quân… dính chưởng cùng một tội danh 331 cũng là kỳ. Những nhân viên kỹ thuật đơn thuần bưng mâm dọn chén, bấm nút chuyển file lại bị tuyên đồng phạm, với vai trò giúp sức. Nếu theo logic ấy thì cả các công ty cung cấp đường truyền và các kênh youtube, các nền tảng xã hội chuyển tải các clip chửi nhau cũng phải xem là đồng phạm.
Trớ trêu là người đồng giường chiếu, đồng ngồi livestream với nữ đại gia hàng chục buổi lại thoát tội đồng phạm. Ngay sau khi xử xong, tòa cũng không biết ông này có phạm tội không nên ra cái kiến nghị mông lung, yêu cầu cơ quan điều tra xem xét!
Phiên tòa xét xử vụ thường phạm chửi lộn nhưng kín kẽ, long trọng như án an ninh quốc gia. Công an, dân phòng bảo vệ, rào chắn nhiều tầng nhiều lớp quanh tòa. Dân không được vô coi, báo chí tác nghiệp qua màn hình. Điều tra, truy tố kéo dài 18 tháng nhưng xét xử, tuyên án cái rụp trong một ngày làm các fan của hai phe và người hiếu kỳ chưng hửng mất hứng vì hạ màn quá sớm.
Phương Hằng, Hàn Ni: Kẽ phởn phơ, người xơ xác
Phiên tòa “thành công rực rỡ” khi tái diễn màn chửi mắng, đá xéo, đá đểu công khai giữa các phe. Sau 18 tháng nghỉ mát, người đẹp Phương Hằng ra tòa với vóc dáng phổng phao, thậm chí còn đẫy đà hơn lúc trước, dung mạo được make up chỉnh chu, thần thái tươi tỉnh không hề hom hem mệt mỏi như các bị cáo tội 331 khác. Ngay như cựu nhà báo Hàn Ni, dù bị bắt sau Phương Hằng nhiều tháng, số ngày tạm giam ngắn hơn nhưng dáng người gầy đi, vẻ mặt hốc hác thấy rõ. Chứng tỏ, hoặc Phương Hằng có chế độ cơm tù đặc biệt, hoặc người đẹp này hạp khẩu với cơm tù.
Trước tòa, khẩu khí của Phương Hằng dù có hạ nhiệt, phong thái dao búa có giản lược so với các buổi livestream, nhưng sự cao ngạo chua ngoa thì vẫn còn nguyên.
Phương Hằng khai lấy các thông tin trên trên mạng và một số bài báo, có nội dung kiểm chứng, có nội dung không. “Thực ra ban đầu bị cáo không biết mình vi phạm. Khi Công an TP HCM mời lên làm việc cũng không nói bị cáo vi phạm luật an ninh mạng. Bị cáo thấy trên mạng nhiều người mắng nhiếc nhau cũng không bị gì, nên có phần chủ quan“.
Luật sư hỏi tại sao khi không biết thông tin của mình có đúng sự thật hay không, bị cáo tiếp tục livestream, Phương Hằng không trả lời mà câu mâu, dấm dẳng “Tại sao, thì đứng đây rồi mà cứ hỏi tại sao. Về học thêm đi!”. Phương Hằng tận dụng quyền im lặng và được tòa tạo điều kiện để sử dụng quyền im lặng đó. Câu thần chú vạn năng của nữ đại gia này là “Mọi thứ đã được thể hiện trong cáo trạng rồi, đó là lý do tại sao tôi phải đứng tại phiên tòa này. Luật sư có đọc cáo trạng trước khi ra tòa chưa?” (1)
Phải nói rằng, trong nền tố tụng có “bình đẳng cao với bình đẳng thấp”, nữ đại gia “cuồn cuộn” đứng trước tòa đường bệ hiên ngang gấp vạn lần các bị cáo từng là quan chức đầu triều. Không chỉ xem các luật sư bảo vệ quyền lợi ca sĩ Vy Oanh, Đàm Vĩnh Hưng như rơm rác, mà cả với quan tòa, Phương Hằng cũng gắt gỏng như những người bằng vai phải lứa. Chủ tọa hỏi, có hay không đồng ý xin lỗi những người liên quan tại tòa? Bà Hằng trả treo: “Đến nay bị cáo đã bị tạm giam gần 18 tháng. Bị cáo đã phải trả cái giá quá đắt. Một lời xin lỗi không là gì nhưng bị cáo cũng đã bị xúc phạm nhiều nên không thể xin lỗi“. Sau đó đá quả bóng cho tòa “chấp nhận mọi phán quyết của tòa” (2).
Đáp lại, tòa cũng hành xử hết sức “nhân văn”, nhẹ nhàng khuyên người đẹp không được đôi co với luật sư và luôn miệng nhắc tuồng rằng, bị cáo được quyền không trả lời.
Nhà văn Thu Trân đã dí dỏm, tự hỏi: “Nói trộm vía hội đồng xử án, chứ không biết bà Hằng có sân sau nào không, mà khi ra toà tưng tưng quá thể và có phần bất kính với mọi người chung quanh” (3).
Giá mà các bị cáo khác phạm tội theo điều 331 đều được quý tòa cho hưởng quyền bình đẳng cao, được không trả lời câu hỏi thẩm vấn, không bị răn đe là thái độ thiếu hợp tác, thiếu thành khẩn sẽ là tình tiết tăng nặng thì người dân ở nền tư pháp “xứ thiên đường” sẽ hạnh phúc biết bao.
Tòa không xao xuyến nước mắt giai nhân
Dù hiên ngang với các đối thủ là người có quyền và nghĩa vụ liên quan nhưng sau khi nghe bị đề nghị mức án từ 3 đến 4 năm tù, trong phần tự bào chữa, “người hùng” Nguyễn Phương Hằng đã nhiều lần bật khóc, kể lể công lao.
“Bị cáo biết ở ngoài xã hội còn rất nhiều người nghèo chờ đợi bị cáo. Bị cáo thiết tha mong muốn được trở về để giúp đời, giúp người. Bản thân bị cáo được sinh ra trong gia đình có giáo dục, bị cáo chưa bao giờ cãi nhau với ai cả, nhưng bị cáo đau khổ do bị biết bao nhiêu con người tấn công nên đã sai phạm. Bị cáo đã biết sai, xin tòa xem xét cho bị cáo sớm trở về làm việc kiếm tiền lo cho dân nghèo.
Bị tổn thương quá mức nên bị cáo mới có những lời lẽ như vậy, cũng do bị cáo uống rượu, do đau khổ, bị ức chế. Một mình bị cáo mà chống chọi với bao nhiêu con người. Bị cáo xin lỗi tất cả các cấp chính quyền, xin lỗi tất cả những người mà bị cáo đã vô tình hay cố ý đụng chạm.
Bị cáo là người có nhiều việc để làm chứ không phải rảnh rỗi để lên mạng xã hội dẫn đến ngày hôm nay. Bị cáo mong HĐXX thấu tình, đạt lý và hiểu được lòng bị cáo lúc nào cũng vì dân nghèo.
Quỹ mổ tim của bị cáo đã cứu hơn 3.000 trẻ em, đó là 1 bằng chứng thật sự. Xin HĐXX cho bị cáo được về để làm những điều bị cáo từng làm. Hôm nay bị cáo vô cùng ân hận” (4).
Vì sao người đẹp kể lể dễ thương vậy mà tòa vẫn không động lòng giảm án?
Dù nước mắt đã rơi, nhưng qua thái độ trước phiên tòa và nội dung đã bày tỏ lòng hối hận xin lỗi chính quyền, nữ đại gia Phương Hằng “chưa thấy được cái quan tài” là nguyên nhân hệ quả phải ngồi tù và sau khi ra tù.
Thiếu hiểu biết văn hóa xã hội, mù quáng về sức mạnh đồng tiền, thành công dễ dàng từ những mưu mẹo trong các quan hệ với thế giới quyền lực trước đây làm Phương Hằng không hiểu được tình thế, thực trạng của mình, vẫn hy vọng vào quan hệ với nhà nước cộng sản, dù bị xử thua trước Đức Hiển, Thủy Tiên, Hoài Linh, Đàm Vĩnh Hưng, vẫn lồng lộn không chịu xin lỗi Mít stờ Đàm, vẫn muốn ăn thua đủ với ca sĩ Vy Oanh trong phiên tòa khác.
Tội “người có khả năng ảnh hưởng”
18 tháng tĩnh tâm trong trại giam, Phương Hằng vẫn không hiểu được vì sao không bị xử về tội làm nhục người khác hay vu khống mà bị xử theo điều 331? Khi tòa giải thích với các luật sư của Đức Hiển, Đàm Vĩnh Hưng về tư cách người có quyền nghĩa vụ liên quan chứ không phải là người bị hại, Phương Hằng cũng không hiểu nốt.
Tòa đã xác định chủ thể mà Phương Hằng đã xâm hại ở đây là “các quan hệ xã hội, lợi ích nhà nước” chứ không phải là 10 đối tượng mà Phương Hẳng đã “chửi lộn”. Thật ra Phương Hằng đã “chửi trúng”. Nếu chửi sai thì đã phạm tội vu khống hoặc làm nhục người khác. Nếu chửi sai thì 10 đối tượng bị chửi đã được xác định là bị hại, chứ không phải người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cái vai trò pháp lý lưng lửng đó giống như sợi dây thòng lọng treo lơ lửng trên đầu họ có thể chuyển hóa thành bị can, bị cáo bất cứ lúc nào, tùy theo ý muốn của cơ quan điều tra.
Hành vi thật sự để nhà nước “thương yêu” mà Phương Hằng vẫn hy vọng xuống tay, bắt giam, phạt tù, không phải là việc chửi. Bằng chứng là trong thời gian dài hơn một năm, nhà nước cho Phương Hằng chửi thả ga, không chỉ livestream, mà còn họp báo khua chiêng, giống trống. Không hề bị cúp điện như các đêm nhạc của Khánh Ly hay các ca sĩ hải ngoại.
Phương Hằng khai trước tòa, công an nhiều lần mời lên làm việc nhưng không hề nói Phương Hằng phạm luật An ninh mạng, thậm chí ngay trong cao điểm mùa dịch covid, Phương Hằng xuất quân đến Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ hạch tội cụ Lê Tùng Vân, quy tụ hàng ngàn người hiếu kỳ, đã không bị xử phạt vi phạm 5 K mà bên ngoài có công an Đức Hòa bảo vệ, bên trong xe có hai đại tá đi cùng (5).
Tính về công thì Phương Hằng có hai đại công với đảng, nhà nước.
Công thứ nhất, đắp đập, be bờ, khóa kín dòng tiền cứu trợ của xã hội chảy ra cửa tư nhân, lùa hết gà này vào túi Mặt Trận Tổ Quốc độc quyền tiếp nhận. Một chủ trương lớn mà đảng nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhưng chưa thực hiện được. Qua vạ miệng từ cái loa Phương Hằng, niềm tin của người dân vào giới văn nghệ sĩ những nhà từ thiện tư nhân sẽ giảm sút. Sợi dây thòng lọng “người có liên quan” treo lơ lửng trên đầu Hoài Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Thủy Tiên… cũng làm những người tâm huyết phải chùn tay.
Công thứ hai, Phương Hằng đã khuếch đại tối đa làn sóng vu cáo Thầy Ông Nội Lê Tùng Vân và Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ để công an dễ bề tung đòn dứt điểm khởi tố, bắt giam, sau mấy năm dài ủ mưu, tìm cớ.
Công lớn nhưng tội cũng không phải nhỏ. Tội lớn nhất của Phương Hằng cũng giống như Thiền Am là, có quá nhiều người hâm mộ. Với chế độ cộng sản thì tiền bạc, lợi ích vật chất có thể chia sẻ được, nhưng niềm tin, quyền lực chính trị thì không. Gần 50 năm sau chiến tranh, quyền lập hội vẫn nằm im trong Hiến Pháp và mãi mãi nằm im. Ngay tổ chức xã hội phi chính phủ rất hữu ích trên toàn thế giới như Hướng Đạo Sinh từng được ông Hồ Chí Minh đứng ra làm chủ tịch danh dự, lại không được phép tồn tại. Hội Chữ Thập đỏ được phép hoạt động, do đã quốc doanh hóa, được đảng lãnh đạo hoàn toàn.
Ngay các tổ chức bình phong do đảng lập ra để tuyên truyền, dụ khị người dân, như Mặt Trận Giải Phóng, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, Đảng Xã Hội, Đảng Dân Chủ… khi xong việc, đều được cho “hoàn thành nhiệm vụ”. Đảng phòng xa và tiêu diệt những cá nhân, tổ chức có ảnh hưởng đến đông đảo công chúng từ trong trứng nước.
Thiền Am nổi tiếng vì các kênh youtube đạt nút vàng, nút bạc, các chương trình văn nghệ có hàng triệu lượt view, lại không đầu phục “triều đình” giáo hội quốc doanh.
Phượng Hằng có hàng vạn fan cuồng, hàng triệu lượt view qua các livestream. Phương Hằng lại ngắn não, ảo tưởng về sức mạnh tiền bạc, mối quan hệ thân quen với anh này, anh khác, nên nói năng quýnh cướng, tố cả chị Doan, Phó Chủ Tịch Nước, lấy 10 tỉ mổ tim xài chuyện khác, cờ đèn kèn trống kéo quân ra Bắc, đầu đơn với bác Trọng, hò hét kể công với anh Mãi, tội đáng chết gấp trăm lần. Án 3 năm là có châm chước rất nhiều cho giai nhân phồn thực.
Lời khuyên không dành riêng cho Nguyễn Phương Hằng về bài học chọn bạn mà chơi. Đừng thấy đỏ mà tưởng là chín. Phải biết “quan tài” để không “đổ lệ”.
Chú thích:
1- https://www.youtube.com/watch?v=xn26E1oqYo8
2- https://vnexpress.net/ba-phuong-hang-toi-da-phai-tra-gia-qua-dat-4655733.html
Sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam- trách nhiệm và hậu quả
Tác Giả: Nguyễn Tường Tâm
23/09/2023
Chiến tranh Việt Nam- Ảnh Getty images
I-Ai chịu trách nhiệm việc Miền Nam sụp đổ?
“Quốc Gia Hưng Vong Thất Phu hữu trách”. Khi mất nước, tất cả mọi người dân đều phải chịu trách nhiệm. Mỗi người hãy tự vấn, “mình đã làm gì khi tổ quốc lâm nguy?”
Nhưng dù sao, người lãnh đạo, chỉ huy, tức là người có quyền ra quyết định sẽ phải chịu trách nhiệm trước hết và trên hết. Trận chiến ở Cao Nguyên đã mở đầu cho sự sụp đổ của miền Nam, như vậy vị Tư Lệnh Vùng 2, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Phú phải là người chịu trách nhiệm trước tiên. Tướng Phú đã đơn phương quyết định phòng thủ Pleiku, Kontum; phòng thủ nhẹ ở Ban Mê Thuột, vì ông tin rằng, khác với dự đoán của Phòng 2 (Phòng Tình Báo), địch quân sẽ đánh Pleiku, nơi đặt đại bản doanh của ông. Chưa biết nếu tin theo đề nghị của Ban Tham Mưu để tăng cường phòng thủ Ban Mê Thuột thì có thể cầm cự được không, nhưng chắc chắn đối phương không thể đột nhập chiếm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu ở Trung Tâm thành phố chỉ trong 1 tiếng đồng hồ, rồi sau đó Tiểu đoàn 82 BĐQ đã đột nhập vào trung tâm thành phố áp sát đối phương, nhưng phải rút lui vì không có tăng viện. Cuối cùng đối phương đã làm chủ toàn thành phố một cách dễ dàng vào trưa hôm sau.
Người kế tiếp chịu trách nhiệm là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông đã không làm tròn nhiệm vụ của cấp chỉ huy khi không yểm trợ được cho Tướng Phú. Cuốn “The Decent Interval” của Frank Snepp (trg. 193) ghi: “Ở hội nghị Cam Ranh, ông Phú cho Tổng thống Thiệu biết rằng tất cả mọi con đường xuống vùng duyên hải đã bị đối phương ngăn chặn. Ông chỉ có thể giữ được Cao Nguyên khoảng hơn một tháng nếu có quân tăng viện, đạn dược và không yểm. Nghe vậy Tổng thống Thiệu nhìn Tướng Phú và lắc đầu: Không có gì hết, không có quân, không có thiết bị. Quân đội đang bị rải ra khắp nước, các kho dự trữ cần được giữ ở gần những vùng cần bảo vệ. Như vậy không có cách gì tăng cường phòng thủ Pleiku, Kontum. Cách duy nhất là bỏ hai tỉnh này, đưa quân xuống củng cố vùng Duyên Hải và hỗ trợ cho cuộc phản công lấy lại Ban Mê Thuột.” Rút cách nào và bao giờ rút Tổng thống Thiệu không chỉ thị mà để Tướng Phú quyết định.
Chiến tranh Việt Nam ngoài tính chất nội chiến còn là chiến tranh ủy nhiệm (Proxy War). Miền Nam bị Hoa Kỳ, lãnh đạo Phương Tây, xúi giục. Miền Bắc bị Liên Xô, Trung Cộng xúi dục. Hoa Kỳ đã ủy nhiệm Miền Nam làm tiền đồn của Thế Giới Tự Do ngăn chặn sự bành trướng của Đế Quốc Cộng Sản thì Hoa Kỳ có trách nhiệm phải yểm trợ đầy đủ. Nhưng sau khi hòa hoãn với Trung Cộng năm 1972 thì Hoa Kỳ lơ là đồng minh Việt Nam Cộng Hòa, rồi cuối cùng thì bỏ rơi luôn. Như vậy trách nhiệm phải là chính phủ Hoa Kỳ.
Ở Mỹ, Quốc Hội nắm quyền quyết định chính sách qua quyền quyết định ngân sách, như vậy, Quốc hội Hoa Kỳ, với tư cách cơ quan có quyền hạn cao nhất, cũng là cơ quan có trách nhiệm.
Trong Quốc Hội, những Dân Biểu, Nghị Sĩ lại bị ảnh hưởng bởi các nhà báo. Các vị này luôn viết bài không chính xác, thiên lệch có hại cho Miền Nam. Bởi thế chính các nhà báo Hoa Kỳ và Phương Tây cũng phải chịu trách nhiệm trong sự sụp đổ của miền Nam.
Đứng ngoài hệ thống chỉ huy quốc gia, tuy không có quyền nhưng uy tín của những trí thức lớn khuynh tả Phương Tây như Jean Paul Sartre, Bertrand Russell v…v đã góp phần kêu gọi thế giới ủng hộ miền Bắc, giúp họ chiến thắng. Như vậy chính họ cũng phải chịu trách nhiệm về sự sụp đổ của miền Nam.
Trước 1975 lý thuyết Karl Marx là vô địch, đã ảnh hưởng phần lớn trí thức khuynh tả Phương Tây, kéo theo đám đông quần chúng sẵn sàng biểu tình ủng hộ miền Bắc, một vùng đất cộng sản. Trong một khóa đào tạo sĩ quan chiến tranh chính trị cấp trung đoàn năm 1969, khi mãn khóa, Đại tá Lâm Ngươn Tánh, chỉ huy trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt đã có cuộc tiếp xúc với từng nhóm nhỏ 3 sĩ quan học viên, Đại Tá Tánh hỏi, “Các anh thấy có thể mang các điều học hỏi ở trường này về áp dụng trong đơn vị được không?” Hai vị sĩ quan kia hăng hái trả lời, “Dạ được! Khi về đơn vị chúng tôi sẽ mang những điều học hỏi ở trường này về áp dụng trong đơn vị.” Đại tá Tánh tỏ vẻ phấn khởi. Nhưng tới phiên tôi, thì cả Đại tá chỉ huy trưởng với 2 sĩ quan đồng khóa tròn mắt ngạc nhiên. Tôi trình bày với Đại Tá chỉ huy trưởng rằng, “Thưa Đại tá, chương trình học gồm 2 phần. Phần Tâm Lý Chiến có mục đích giúp vui cho anh em quân nhân thì tôi thấy hữu ích; còn phần chính huấn tôi thấy không áp dụng được gì.” Tất cả im lặng tiếp tục dồn ánh mắt về tôi. Tôi tiếp tục, “Lý thuyết Mác xít là một lý thuyết tổng hợp triết lý, chính trị, kinh tế, xã hội, và lịch sử rất chặt chẽ. Hiện nay ngoài những phản biện đơn lẻ về kinh tế và triết lý, chưa có một lý thuyết tổng hợp nào đánh đổ hệ thống Mác xít. Khuyết điểm đó không phải của riêng trường này, cũng không phải của riêng Việt Nam, mà của toàn thế giới.” Đại Tá Chỉ Huy Trưởng không nói gì, lặng lẽ nói cám ơn rồi bắt tay chúng tôi tạm biệt.
Chưa kể, bản tuyên ngôn cộng sản của Karl Marx và Engels có câu cuối hết sức thu hút tầng lớp nghèo, chiếm đa số trên thế giới, đặc biệt tại Việt Nam, “Vô sản khắp thế giới hãy đoàn kết lại! Chúng ta không có gì để mất ngoài xích xiềng.” (“The proletarians have nothing to lose but their chains. They have a world to win. Workingmen of all countries, unite.”) Sự hấp dẫn của lý thuyết Mác xít đã khiến Miền Nam phải sụp đổ.
Như vậy sự sụp đổ của miền Nam chính là sự thất bại của thế giới Tự Do– Nguyên nhân là sự “ngu muội” của nhân loại. Miền Nam chỉ là một thành phần của thế giới tự do nên sụp đổ theo là đương nhiên.
II-Hậu quả của sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam.
Tại sao cùng bị chia cắt nhưng Tây Đức và Nam Hàn đứng vững? Về chính trị thì ba quốc gia bị chia cắt giống nhau nhưng về địa thế (địa chính trị) và văn hóa thì khác nhau, cho nên mỗi dân tộc có một định mệnh khác nhau. Địa chính trị của Nam Việt Nam như thế thì số phận của miền Nam phải như thế! Dù cho ai lên lãnh đạo cũng không xoay chuyển được số phận. Đây không phải là thuyết định mệnh mà là lý thuyết địa chính trị (geopolitics, một ngành khoa học khảo cứu ảnh hưởng của địa lý–gồm cả môi trường, tài nguyên và văn hóa– trên chính trị quốc nội và quan hệ quốc tế). Chỉ khi nào văn hóa nhân loại thay đổi thì chính trị quốc tế mới thay đổi. Miền Nam xụp đổ vì trình độ chung của nhân loại, nhưng cũng là yếu tố khởi đầu cho sự thay đổi văn hóa của nhân loại theo chiều hướng tốt hơn. Sự xụp đổ của miền Nam đã giúp nhân loại (thế giới tự do) tỉnh ngộ, kéo theo sự tỉnh ngộ và sự thay đổi thể chế ở toàn khối cộng sản.
Cùng với sự chiếm đoạt miền Nam của cộng sản, hàng triệu người miền Nam bất chấp hiểm nguy của bão tố, hải tặc đã ào ạt ra đi. Hàng trăm ngàn người đã vùi thân trên biển cả. Hàng triệu người khác đã sống sót sau vùi dập từ địa ngục trần gian bởi đói khát lênh đênh trên biển cả dưới trời giông bão. Hàng chục ngàn người khác bị hải tặc giết hại, bắt cóc, hãm hiếp, hành hạ. Trước thảm trạng thuyền nhân nạn nhân của cộng sản, thế giới đã mủi lòng thương xót dang vòng tay cứu vớt. Ngày 20 Tháng Bảy, 1979, tại thành phố Geneve, Thụy Sĩ, 65 quốc gia đã họp bàn tìm cách cứu giúp thuyền nhân Việt Nam. Kể từ đó nhân loại mới hiểu sự tàn ác của cộng sản.
Văn hóa nhân loại thay đổi tất yếu đưa tới sự thay đổi xã hội. Sự thay đổi văn hóa tiệm tiến nhưng có khả năng lan rộng. Không biết trong các thay đổi xã hội ở Đông Âu cộng sản có mấy phần trăm do ảnh hưởng của thảm trạng thuyền nhân nạn nhân của cộng sản Việt Nam? Nhưng trong một thế giới toàn cầu thì ảnh hưởng hỗ tương về văn hóa là chắc chắn xảy ra. Từ một thế giới đa số ủng hộ cộng sản, chỉ một thời gian sau thảm trạng thuyền nhân Việt Nam, thế giới đã quay 180 độ, kéo xập đổ khối cộng sản Đông Âu, rồi tiếp đến là xây những tượng đài tưởng niệm hơn 100 triệu nạn nhân của cộng sản, trong đó có người Việt. Một cách hình tượng, có thể ví trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, thế giới đang mông muội ở trong thời kỳ Trung cổ (The Middle Ages). Khi miền Nam sụp đổ, làn sóng thuyền nhân Việt Nam tị nạn cộng sản đã khiến thế giới tỉnh mộng, xét lại những giá trị cũ, tương tự như trong thời kỳ Phục Hưng của Âu châu (The Renaissance). Mười bốn năm sau, 1989, thế giới chuyển mình sang thời kỳ Ánh Sáng (The Enlightenment): Cộng sản Đông Âu sụp đổ.
Kể từ đó chủ nghĩa cộng sản bị toàn thể thế giới loại trừ, một bức tường Tưởng Niệm hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản trên khắp thế giới đã được dựng lên tại thủ đô Hoa Kỳ, Washington, D.C. ngày 12/6/2007.
Như thế, Miền Nam Việt Nam có số phận vừa bi đát vừa đóng góp vào việc soi sáng cho thế giới!
Nguyễn Tường Tâm
Lời bàn của Kẻ đi tìm
- Vào thập niên 70, chủ nghĩa Cộng Sản còn đang ru ngủ và thắng thế trên thế giới, khi đó, trí thức trong các trường đại học Âu Châu thì nói “Nếu không là người xã hội khuynh tả thì chưa thức thời”, còn ở Việt Nam thì có nhiều kẻ theo cộng sản, chúng nằm vùng trong các cấp chính quyền trung ương (tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng như Trịnh đình Thảo) và quân đội (cấp tá như Đoàn Công Lập trung tá trưởng ty CSQG Thừa Thiên Huế, cấp tướng như Nguyễn hữu Hạnh). Kẻ địch vào đến nội bộ của ta, biết các tin tức chiến lược thì ta có thể bị thua trận.
- Kissinger đã phải thốt lên “muốn thắng Cộng Sản thì phải thua nó trước” và điều này đã xảy ra. Cuối thập niên 1980, chủ nghĩa Cộng Sản lộ bộ mặt thật và bị tan rã bởi chính cán bộ và người dân trong nước XHCN liên quan.
- Ngày nay không còn ai tự nhận mình là trí thức mà tin vào Chủ Nghĩa Cộng Sản vì nhân loại đã quá tiến bộ về khoa học kỹ thuật làm cho khung phạm trù lý luận của Karl Max bị biến mất, cuộc cách mạng tin học làm cho vô số công nhân thành triệu phú, họ chả bị chủ nhân nào bóc lột cả. Chủ Nhân của họ là những thanh niên trẻ nhờ đầu óc, nhờ chất xám mà làm nên nghiệp tỷ phú chả cần đến sức lao động của công nhân, ngược lại chính họ làm cho công nhân trong hãng trở thành triệu phú. Thế là Chủ nghĩa Cộng Sản bị ném vào sọt rác lịch sử thế giới.
- VNCH đã không kịp chuẩn bị để đối phó với một cuộc tấn công khổng lồ sau khi chính phủ ký hiệp định hòa bình Paris 1973 và không còn được Hoa Kỳ quân viện. Đúng ra, VNCH phải thay đổi chiến lược và chiến thuật quân sự để có thể du kích chiến, cảm tử chiến, hậu cần chiến, bắc tiến chiến, … để cầm cự lâu dài trong khi cầu cứu với thế giới tự do. Đã không có một kế hoạch sống còn như vậy.
- Đành rằng trong cuộc chiến hiện đại quân viện quyết định thắng thua nhưng để mất miền Nam dễ dàng, chóng vánh như vậy là trách nhiệm của Tổng Thống và Tướng lánh Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.
Thư giãn cuối tuần: Nghệ sĩ đường phố Việt Nam
1,4 tỷ dân Trung Cộng không ở hết các căn hộ trống hoặc bỏ hoang
Một dãy tòa nhà dân cư ở Thường Châu, Trung Quốc – Ảnh: CNN
Theo Đài CNN, ông He Keng, cựu phó cục trưởng Cục Thống kê Trung Quốc, đưa ra tuyên bố trên trong một bài phê bình công khai hiếm hoi về khủng hoảng thị trường bất động sản của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.
Trung Quốc Tân Văn xã – hãng thông tấn quốc doanh lớn thứ hai Trung Quốc, sau Tân Hoa xã – đã công bố đoạn video có phát biểu của ông He.
Dữ liệu mới nhất từ Cục Thống kê quốc gia (NBS) Trung Quốc cho thấy tính đến cuối tháng 8-2023, tổng diện tích sàn của những ngôi nhà chưa bán được là 648 triệu m2.

Theo tính toán của Hãng tin Reuters, con số trên tương đương với 7,2 triệu ngôi nhà, với diện tích trung bình 90m2/căn.
Tổng diện tích sàn này chưa tính số dự án nhà ở đã được bán nhưng chưa hoàn thành do vấn đề về dòng tiền, hoặc nhiều ngôi nhà được các nhà đầu cơ mua trong đợt phục hồi thị trường vào năm 2016 vẫn còn trống.
Các chuyên gia ước tính chúng cùng nhau chiếm phần lớn số không gian nhà ở chưa sử dụng.

“Hiện có bao nhiêu căn nhà trống? Mỗi chuyên gia đưa ra một con số rất khác nhau, trong đó cực đoan nhất tin rằng số nhà trống hiện nay đủ cho 3 tỉ người” – ông He, 81 tuổi, cho biết.
Phát biểu tại một diễn đàn ở thành phố Đông Quang, phía nam Trung Quốc, ông He cho rằng “ước tính trên có thể hơi nhiều, nhưng 1,4 tỉ người có lẽ không thể lấp đầy” các căn hộ còn trống.

Giới quan sát đánh giá quan điểm không mấy lạc quan của ông He về bất động sản, một lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế quan trọng, hoàn toàn trái ngược với quan điểm chính thức rằng nền kinh tế Trung Quốc “có khả năng phục hồi”.
Trung Quốc từ lâu đã dựa vào phát triển bất động sản như một khoản đầu tư an toàn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng điều đó đã tạo ra nguồn cung dư thừa, với vô số dãy nhà cao tầng bị bỏ trống.
Ke đi tìm sưu tầm một số hình ảnh về tình trạng “nhà không đường trống” ở Tàu

3000 biệt thự hoàn tất ở thành phố mới Jingling nhưng chỉ có 10% trong tổng số biệt thự đang có người ngụ cư.

Dự án Caofeidian bị ngưng xây cất sau khi các ngân hàng không tiếp tục cho vay trong khi giá vật liệu lại gia tăng.

Dự án nhà ở bỏ dở dang ở ngoại ô Vũ Quỳnh một nơi không xa thủ đô Bắc Kinh.

Dự án chưa hoàn tất ở Kangbashi.

Thành phố ma Ordos từng có thời được người ở địa phương mệnh danh là Dubai của Trung Hoa.
Ordos, gần biên giới với Mông Cổ, có sức chứa hơn 1 triệu người và trở thành trung tâm văn hóa và kinh tế. Nhưng đến năm 2016, dân số của nó chỉ khoảng 100.000 người và được mô tả là “thị trấn ma lớn nhất thế giới”.
Ngày 11 tháng 8 (Reuters), Tổng thống Joe Biden nhận định rằng những căng thẳng về kinh tế xã hội trong nước có thể ảnh hưởng đến cách Bắc Kinh tương tác với Thế Giới, “Trung Quốc là một quả bom hẹn giờ… Trung Quốc đang gặp rắc rối…”
Chỉ mới vào năm 2021, tạp chí “Tay Trong” đã báo cáo, khi gã khổng lồ công nghiệp Evergrande trở thành công ty mắc nợ nhiều nhất thế giới và vỡ nợ. Vào thời điểm đó, có ít nhất 65 triệu bất động sản bỏ trống trên cả nước, đủ để chứa toàn bộ dân số Pháp, Nay tố cáo mới của Ông He Keng, cựu quan chức bộ thống kê Trung Cộng cho thấy tình trạng còn tệ hại hơn gấp nhiều lần.
Chuyện cười ra nước mắt: Chỉ có ở CHXHCN, tòa tối cao cho phép án oan sai ở mức 1,5%
Công lý được phép sai sót đến 1,5% là không chấp nhận được!
2023.09.21
Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình báo cáo về công tác của các Toà án trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIV, vào ngày 12/1/2021.
Oan sai ở VN do lỗi “định mức”!
Câu nói của ông Bình gây bất bình trên mạng xã hội khi nhiều người lập luận rằng: những người cầm cân nảy mực mà được phép sai sót thì người dân biết đòi công lý ở đâu?
Cựu Trung tá Quân đội Vũ Minh Trí nhận định với RFA với tư cách một người dân, về vấn đề trên:
“Về mặt lý luận hay về mặt nguyên tắc thì phát biểu như vậy là hoàn toàn sai. Bởi đã xử án thì phải bảo đảm đến mức tuyệt đối chính xác không có oan sai. Đằng này, họ đặt ra định mức cho phép như thế, có nghĩa án oan sai dưới định mức coi như hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tôi thấy điều này hoàn toàn sai trái. Với những người ở những nước dân chủ tự do và có tam quyền phân lập thì họ sẽ không bao giờ chấp nhận. Cái phát biểu như vậy và con số đó nó phản ánh đúng một thực tế ở Việt Nam. Tức là án oan sai do lỗi chủ quan nó vượt quá con số 1,5%. Sai bao nhiêu thì mình chưa biết, nhưng có rất nhiều vụ án tử hình đang kêu oan nổi cộm như Hồ Duy Hải, Lê Văn Mạnh, Nguyễn Văn Chưởng… Chính vì vậy, để giảm sự oan sai thì người ta bắt buộc phải đặt ra định mức để kéo nó xuống.
Nhưng theo tôi, để giảm oan sai thì không phải đưa ra một chỉ tiêu mà phải xem xét lại toàn bộ quy trình từ truy tố, điều tra, xét xử… Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là ở Việt Nam thật sự chưa có tam quyền phân lập. Riêng lỗi chủ quan đã được 1,5% thì lỗi khách quan là bao nhiêu nữa? Giữa lỗi chủ quan và khách quan rất dễ chối.”
Về mặt lý luận hay về mặt nguyên tắc thì phát biểu như vậy là hoàn toàn sai. Bởi đã xử án thì phải bảo đảm đến mức tuyệt đối chính xác không có oan sai. Đằng này, họ đặt ra định mức cho phép như thế, có nghĩa án oan sai dưới định mức coi như hoàn thành tốt nhiệm vụ. – Cựu Trung tá Quân đội Vũ Minh Trí
Với cái nhìn ở khía cạnh luật pháp, Luật sư Vũ Đức Khanh cho rằng, nếu cho tỷ lệ sai sót chỉ là 0,01% thì cũng phải nghĩ đến sinh mạng của người bị oan sai và thân nhân của họ nữa, huống chi tỷ lệ đến 1,5%. Ông nói tiếp:
“Điều này chỉ nghe nói đến đã thấy không bình thường và không có tính công bằng. Điều đó không có nghĩa không có những sai phạm của ngành tư pháp. Vấn đề đầu tiên là bên cơ quan điều tra và bên công tố. Thứ hai là bên cơ quan xét xử. Lỗi phần nhiều là bên cơ quan điều tra và công tố.
Nên, việc đầu tiên là phải thay đổi bên điều tra và bên công tố. Nhưng ngay cả khi hồ sơ ở hai cơ quan đã hoàn thiện thì vẫn có những trường hợp sai sót và đưa qua tới bên cơ quan xét xử, tức là thẩm phán và tòa án. Do đó, thẩm phán và tòa án phải hoàn toàn độc lập với Viện kiểm sát, là bên công tố và bên điều tra. Thẩm phán phải độc lập và có năng lực để ra quyết định riêng của mình. Nhưng tất cả do con người thực hiện nên cũng có thể có sai sót, nhưng nếu lấy tiêu chí là thẩm phán phải độc lập với các bên khác thì điều đó đã hạn chế sai sót.
Bước sau cùng là tòa án. Giả sử tòa án có sai, số lượng sai không biết là bao nhiêu nhưng để cho phép ở mức 1,5% thì không thể chấp nhận được. Quá nhiều.
Tuy nhiên, với sự hội nhập của Việt Nam với thế giới và sự lớn mạnh của xã hội dân sự, vai trò của luật sư sẽ được nâng cao. Các luật sư nên được mời với tư cách các chuyên gia hoàn toàn độc lập cùng với những thẩm phán được chọn, vào một ủy ban để xét lại những vụ án oan sai của người dân.”
Án oan, sai gây ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe của người bị oan rất lâu dài. Nếu là án tử hình thì không gì có thể bù đắp được. Điều này từng được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu rõ trong buổi làm việc với lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao ở Hà Nội cách đây sáu tháng rằng, mỗi phán quyết, quyết định của tòa án liên quan đến sinh mạng chính trị và thậm chí là sinh mạng con người, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, vì thế không được để xảy ra oan, giảm tối đa tình trạng sai hoặc với yêu cầu cao là không được để xảy ra sai.
Gây mất lòng tin vào hệ thống tư pháp
Trao đổi với RFA, một số chuyên gia trong ngành tư pháp cho rằng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ án oan, sai ở Việt Nam mấy chục năm qua là do yếu tố con người. Các bị cáo bị oan nhưng vẫn nhận tội vì không chịu nổi bức cung, nhục hình. Hơn nữa, các cơ quan tố tụng không đảm bảo được nguyên tắc suy đoán vô tội cho bị can, bị cáo dù tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được hiến định tại khoản 1, điều 31 Hiến pháp 2013.
Cụ thể: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Trước nay, tuy công chúng đã hoàn toàn mất lòng tin vào hệ thống tư pháp, thế nhưng, sự tiết lộ mang tính cách công khai, chính thức của người đứng đầu ngành tư pháp vẫn khiến công chúng choáng váng. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì lẽ, từ nay trở đi, mọi phán quyết của tòa án trong bất kỳ vụ án nào cũng sẽ đều bị công chúng nghi ngờ về khả năng nằm trong 9000 vụ án oan sai(!?) – Luật sư Đặng Đình Mạnh
Trở lại câu chuyện Quốc hội cho phép 1,5% của 600.000 vụ án, tức là khoảng 9.000 vụ án, được phép sai do lỗi chủ quan, Luật sư Đặng Đình Mạnh nói với RFA quan điểm của ông:
“Tiết lộ của ông Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình rằng, ‘bây giờ cứ sai là bị kỷ luật hết thì lấy đâu ra người làm việc’ đã cho thấy một bức tranh quá u ám về nền tư pháp XHCN do Đảng Cộng Sản lãnh đạo.
Trước nay, tuy công chúng đã hoàn toàn mất lòng tin vào hệ thống tư pháp, thế nhưng, sự tiết lộ mang tính cách công khai, chính thức của người đứng đầu ngành tư pháp vẫn khiến công chúng choáng váng. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì lẽ, từ nay trở đi, mọi phán quyết của tòa án trong bất kỳ vụ án nào cũng sẽ đều bị công chúng nghi ngờ về khả năng nằm trong 9000 vụ án oan sai (!?).
Hệ thống tư pháp sẽ không còn được công chúng trông cậy để ban phát công lý, công bằng nữa. Mà họ sẽ tự mình hoặc thuê các thế lực khác giúp họ. Xã hội rối loạn… Điều đó chính là hệ quả tất yếu của hệ thống đào tạo luật gia trong nước đã không đáp ứng được và cũng không có khả năng ban phát công lý, công bằng cho người dân. Bên cạnh đó, là sự xuống cấp đạo đức xã hội của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành tư pháp ở mức độ trầm trọng.”
Luật sư Mạnh cho biết, tất cả đã khiến ông hoàn toàn bi quan về mọi hoạt động của ngành tư pháp hiện nay, đến mức ông nghĩ, “xóa bàn làm lại” là giải pháp duy nhất cho ngành tư pháp nói riêng và tất cả các ngành khác trong hệ thống công quyền nói chung.
Lời bàn của Kẻ Đi Tìm
Hỡi nhưng anh Bò Đỏ, Bò húc, Bò vàng. Các anh có lạnh gáy không? Tòa tối cao cho phép 1, 5% án oan sai, coi chừng có ngày chính những người Yêu XHCN sẽ bị kết án oan uổng.
Xin hỏi những ai yêu XHCN đã sáng mắt ra chưa? Các bạn yêu một chế độ đang ở vào thời kỳ đồ đá mạt hạng của nền công lý nhân dân.
IM LẶNG LÀ CÙNG CHẾT VỚI NHAU
IM LẶNG LÀ CÙNG CHẾT VỚI NHAU
Một tử tù vừa bị xử tử trong khi vụ án đang bị chính bản thân tử tù và gia đình kêu oan, công luận ở Việt Nam và quốc tế quan tâm kêu gọi tạm dừng thi hành án để điều tra minh oan. Vậy tại sao tử tù vẫn bị xử tử? Chúng ta chưa thấy câu trả lời thích đáng nào của cơ quan thi hành án từ bộ công an, từ bộ tư pháp và của nhà nước CHXHCNVN trả lời cho gia đình tử tù, cho công luận trong nước và cả quốc tế được minh bạch.
Phải chăng họ cho rằng, đây là pháp luật của họ, họ muốn xử thế nào cũng được, người dân trong nước và quốc tế không được quyền can thiệp vào “nội bộ” của họ.
Khi họ xử lý công dân mà họ cho là vi phạm, họ luôn đưa ra một lập luận rằng, là công dân Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam, đừng có so sánh với luật pháp của những quốc gia khác, nếu muốn, thì người dân cứ đi nước ngoài mà sống, đừng ở Việt Nam. Lập luận như vậy khác nào các bạn đem bản thân mình vào một cái hang hay khu rừng tách biệt với thế giới loài người?
Lập pháp, hành pháp, tư pháp phải lấy QUYỀN CON NGƯỜI để làm nền tảng chuẩn mực.
Lập pháp, hành pháp, tư pháp phải bảo vệ tối đa quyền con người, mà quyền con người là gì, như thế nào thì phải dựa trên quy chuẩn chung của thế giới loài người chứ không phải của riêng mỗi quốc gia. Vậy nên, QUYỀN CON NGƯỜI khác với QUYỀN CÔNG DÂN. Khi bộ máy nhà nước không chuẩn mực, cốt chỉ để bảo vệ cho đảng phái lãnh đạo họ sẽ đánh tráo khái niệm quyền con người thành quyền công dân, bởi vì, công dân quốc gia nào thì tuân theo luật lệ quốc gia đó, đây là khái niệm bóp chẹt quyền con người cơ bản, chưa kể, ở Việt Nam, quyền công dân cũng chưa bao giờ được thực thi đúng tiêu chuẩn thì làm sao công dân có được quyền con người trọn vẹn.
Việc đánh tráo khái niệm của bộ máy lãnh đạo và sự hiểu biết không rốt ráo của người dân về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình làm cho sự độc tài như hổ mọc thêm cánh.
NHÂN LÀ NHẤT NGUYÊN, DÂN LÀ ĐA NGUYÊN. Đây là khái niệm cơ bản mà một chính phủ chuẩn mực phải nắm được cốt tủy và thực thi.
Nhân là nhất nguyên, có nghĩa là nhân loại phải có cùng những đặc điểm cơ bản, về chủng tộc, sinh sản, phát triển, trong quá trình sống đó, có sự liên kết thành các giềng mối gia đình, giềng mối xã hội. Có những quyền lợi và nghĩa vụ phải thực thi để có thể duy trì cá thể và tập thể, đó là đặc định, là đặc điểm chung cho loài người, không phân biệt chủng tộc và quốc gia, nên gọi là nhất nguyên.
Trong nhất nguyên đó, mỗi cá thể là một sự sống có tâm thức, mà tâm thức là sự phát triển riêng biệt, cho nên các cá nhân có sự khác nhau về nhận thức, sự khác nhau đó sẽ càng cách biệt khi các cá thể ở những địa phương khác nhau, ở những quốc gia khác nhau. Vậy nên mới hình thành nhiều thành phần, nhiều kết cấu về các cấu trúc phân bố trong xã hội, đó là điều căn bản để thấy được, trong cái chung, có cái riêng và ngược lại, nên nói, dân là đa nguyên là vậy.
Vậy nên, nhà nước là một thành phần quan trọng nhất để đại diện cho những thành phần “đa nguyên” của quốc gia thì không thể nào duy trì độc tài để điều hành được, đó là sai quy chuẩn ngay từ nền tảng. Lấy “nhất nguyên” để làm cốt tủy vì phải hiểu được đặc tính loài người là gì, từ đó mới hiểu rốt ráo quyền con người là thế nào, mới xây dựng một nền lập pháp cốt chỉ để bảo vệ quyền này. Hành pháp, tư pháp phải từ quy chuẩn này mà thực thi, trên nền tảng hiểu được dân là đa nguyên, phải linh động, rõ ràng và minh bạch.
Vậy nên, nhất nguyên khác biệt với độc đảng mà đa phần vẫn đang nhầm lẫn khái niệm này.
Có người dân nào không mong muốn một cuộc sống tự do, được hiểu và thụ hưởng quyền con người mà đúng ra là con người, tất nhiên phải được thụ hưởng, vì trong sự bình đẳng, quyền con người là đặc định một cách tự nhiên, không ai ban cho, cũng không có bất kỳ ai được quyền tước đoạt nó.
Huỳnh Thị Tố Nga
Sep 23, 2023
Tử tù Lê Văn Mạnh bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9
23-9-2023
Mẹ tử tù Lê Văn Mạnh (thứ 4 từ trái qua) sau khi biết tin con mình bị thi hành án hôm 23/9. Ảnh: FB Đặng Bích Phượng
Tử tù Lê Văn Mạnh đã bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9 sau hơn 18 năm kêu oan trong một vụ án có nhiều tình tiết, bằng chứng không rõ ràng mà theo các luật sư là không đủ để kết tội.
Luật sư Lê Văn Luân, thuộc Văn phòng Luật sư Hưng Đạo Thăng Long ở Hà Nội – nơi gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã đến nhờ nộp đơn kêu oan hôm 20/9 – vừa đăng dòng trạng thái trên Facebook cá nhân với nội dung: “Tin và văn bản chính thức cho biết, bị án Lê Văn Mạnh đã bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9/2023.”
Trên các trang mạng Facebook đồng thời đăng tải một văn bản “Trích lục khai tử” đề ngày 22/9/2023 của UBND xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình cho biết tử tù Lê Văn Mạnh (sinh năm 1982) đã chết vào 8 giờ 45 phút ngày 22/9/2023 tại nhà thi hành án tử hình, Công an tỉnh Hòa Bình, xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình.
Trích lục khai tử. Ảnh trên mạng
Trước đó, vào ngày 18/9, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã nhận được giấy báo có chữ ký của Chánh án Toà án Nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc đối với Lê Văn Mạnh.
Ngay sau khi nhận được tin này, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã nói họ không chấp nhận bản án vì đây là án oan sai và tiếp tục ra Hà Nội để kêu oan cho con.
Năm 2005, khi mới 23 tuổi, Lê Văn Mạnh bị kết tội tử hình về hành vi “hiếp dâm và giết” một nữ sinh ở cùng thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá trong vụ án xảy ra hồi đầu năm đó.
Mẹ của Mạnh là bà Nguyễn Thị Việt cho biết, trong đúng ngày xảy vụ án, bà cùng Mạnh giúp chuyển đồ cho con gái bà cả ngày, và khi trở về nhà vào chiều muộn thì mới nghe tin thiếu nữ ở cùng thôn tên Lan bị giết chết. Bà đã giục con trai và chồng ăn cơm rồi cùng bà con trong thôn đi mò xác của người xấu số trên con sông ở làng.
Bà cho biết vì quần áo của con trai mình đã đem đi giặt trước đó nên Mạnh buộc phải mặc quần đùi rách để đi phụ giúp.
Người trong thôn mò được xác, Mạnh lên bờ với cái quần rách đó nhưng sau đó cởi ra vứt vào bụi cây để mặc quần khác vì bị trêu.
Khi công an về khám nghiệm tử thi và khám nghiệm hiện trường, họ tìm thấy cái quần đùi rách của Mạnh cách đó không xa, cho rằng đó là quần của thủ phạm và từ đó họ bắt người thanh niên này.
Vụ án xảy ra từ ngày 21/3/2005 nhưng đến ngày 20/4 công an Thanh Hóa mới bắt Mạnh về cáo buộc “cướp tài sản” trong một vụ án khác xảy ra ở Đồng Nai.
Sau bốn ngày bị tạm giam, Lê Văn Mạnh tiếp tục bị khởi tố bị can về cáo buộc “giết người, hiếp dâm trẻ em” vì một lá thư gửi cho gia đình thú nhận hành vi phạm tội.
Bà Việt cho biết, con trai bà kể lại là bản thân đã bị điều tra viên tra tấn, đánh vào chỗ hiểm để buộc phải nhận tội, và Mạnh phải viết giấy nhận tội theo ý của điều tra viên nếu không khó có thể bảo toàn tính mạng.
Trong các phiên toà, Mạnh liên tục kêu oan. Luật sư của Mạnh yêu cầu giám định thân thể của bị cáo để xác định liệu có bị tra tấn trong quá trình điều tra không nhưng toà bác bỏ.
Hôm 21/9, Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) cùng với Đại Sứ quán của Canada, Vương quốc Anh và Vương quốc Na Uy tại Việt Nam ra tuyên bố chung kêu gọi Hà Nội dừng việc thi hành án đối với ông Lê Văn Mạnh.
Tuyên bố chung đăng tải trên trang Facebook của Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, đại diện ngoại giao của khối 27 quốc gia và ba quốc gia khác viết:
“Chúng tôi cực lực phản đối việc áp dụng hình phạt tử hình trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, đây là một hình phạt tàn ác, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm và không bao giờ có thể biện minh được, đồng thời vận động Việt Nam hoãn thi hành tất cả các án tử hình.”
Đây là tuyên bố chung thứ hai của EU và Anh quốc, Na Uy và Canada về án tử hình ở Việt Nam trong hai tháng gần đây. Cuối tháng trước, các quốc gia trên đã ra tuyên bố kêu gọi nhà chức trách Việt Nam dừng thi hành án tử hình đối với Nguyễn Văn Chưởng, người cũng bị kết tội giết người trong một vụ án hình sự ở Hải Phòng năm 2007.
Tản mạn về một bài viết: Một môn học mà thầy không muốn dạy trò không muốn học của Lý Chánh Trung
Tác Giả: Nguyễn Văn Lục
22/09/2023
Tôi đã dụng tâm lấy lại tựa đề bài viết của Giáo sư Lý Chánh Trung đăng trên tờ Tuổi Trẻ chủ nhật, 13.11.1988 làm tựa đề cho bài viết của mình. Nay đã 35 năm trôi qua, 1988- 2023, qua mà như thể nó vẫn đúng.
Cũng ít ai làm như thế, vì thiếu gì tựa đề. Dụng tâm đó có thể là muốn nhắc lại, như ghi nhớ hình ảnh những người đã gặp, đã đi qua đời tôi. Nhưng cũng đồng thời muốn nói cho mọi người, nói cho độc giả đọc bài này thấy rằng: Cái tựa đề đó hay quá, súc tích và đủ nghĩa, muốn chê cũng không được. Vì thế, phần đầu bài viết của tôi chỉ cố gắng triển khai cái tựa đề của bài viết mà không đụng tới nội dung bài viết.
Ông Lý Chánh Trung, mặc dầu dân du học Pháp nhưng gốc gác vốn dân Vĩnh Bình, còn gọi là Trà Vinh, thuộc miền Tây. Ông bảo, về đến Vĩnh Bình là như chui vào cái rọ: tới nữa là lọt xuống biển, sang hai bên thì đụng hai cửa sông Cửu Long. Ông là dân miệt vườn, chữ nghĩa tuy có đầy mình nhưng cách diễn tả vẫn là dân ruộng, có sao nói dzậy. Ông nói: một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học.
Ðối với ông cũng như đối với dân ruộng, nói dzậy là đủ rồi. Qua không muốn nói nữa. Ðủ rồi là không cần nói nữa, nói nữa là thừa. Nói nữa là qua nổi quạu.
Ðã không nói nữa thì ta thử xem, tựa đề đó muốn nói cái gì? Có đời nhà ai, có cái môn học kỳ quái gì mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học? Thường thì chỉ có trò không muốn học. Ðiều đó hiểu được đối với những tên học trò lười. Nhưng học trò giỏi, học trò chăm thì vẫn muốn học.
Nhưng chữ trò ở đây, ông thầy muốn ám chỉ tất cả mọi trò, không trừ đứa nào. Ðứa dốt không muốn học đã đành, đứa giỏi cũng không muốn. Ðứa nhà quê, đứa ở tỉnh, đứa trong Nam, đứa ngoài Bắc, đứa học năm nay, đứa năm tới sắp lên, đứa thế hệ hôm nay, đứa thế hệ ngày mai…
Tất tần tật. Tất cả các trò, bất kể lứa tuổi, bất kể trai gái đều không muốn học.
Chúng đồng lòng bảo nhau không muốn học.
Trò đã không muốn học, đến thầy cũng không muốn dạy là cớ làm sao? Ai đã từng đi dạy học đều ôm lấy nghề, ấp ủ môn mình dạy như đứa con tinh thần. Nghề dạy nó chỉ cao quý ở chỗ ấy, chỗ muốn truyền đạt, muốn để lại di sản tinh thần cho những thế hệ đàn em. Nhưng chính ông thầy không muốn dạy thì còn gì là giáo dục?
Không thể có một nền giáo dục chân chính khi không có thầy, hay có thầy mà thầy không muốn dạy. Không thể nói tới một nền giáo dục hay một môn học mà cả người đi dạy và người đi học đều không muốn nhìn nhận nó.
Mà khi thầy không muốn dạy và trò không muốn học có nghĩa là những người lớn, những đàn anh, những cha mẹ, những cô dì chú bác, những bạn bè, những họ hàng, những láng giềng đều đã có thời chui qua cái ngưỡng cửa hẹp của môn học đó rồi.
Họ đều đã có thời không muốn học. Và ngay cả những kẻ cầm quyền, những kẻ đang hò hét ở bên trên bắt người khác phải học cái môn học đó, cũng đã một thời cố thu nhỏ mình lại để có thể chui lọt qua cái lỗ nhỏ của môn học ấy.
Họ cũng đã cố nhồi nhét cho xong, trợn mắt trợn mũi nuốt cho bằng được chữ nghĩa của môn đó, ê a tụng như tụng kinh cứu khổ. Họ học mà không tin, biết nó tào lao, nhưng vẫn học.
Nói cho cùng, té ra cả nước đều không ai muốn học.
Nhưng nếu không muốn dạy mà vẫn phải dạy, không muốn học mà vẫn phải học thì cớ sự sẽ ra làm sao? Còn làm sao nữa, chết cả nước! Hậu quả không lường hết được.
Nào ta thử xem. Thầy không muốn nói cứ phải nói trở thành giả dối, nói điều không thật, nói một đằng nghĩ một nẻo, hay nói xuôi, nói ngược, nói lắt léo. Thầy lúc đó đánh mất phẩm cách, tự hạ giá mình. Thầy phải đóng kịch giả bộ như tin tưởng vào điều mình muốn nói, giả bộ khen lấy được.
Ðóng kịch như thế thầy không còn là thầy, thầy không phải là người mà hóa ra ngợm. Trò không muốn học mà vẫn cứ phải học hóa ra đầu óc trở thành trì trệ, u tối, nói sảng hay học vẹt. Mất sáng kiến, mất sáng tạo, thiếu óc phê bình, thiếu tinh thần cầu học, thiếu óc tìm tòi.
Thà đừng học, nói cho cùng là càng học càng ngu. Cứ nhân bội số lên cả nước thì sẽ có một dân tộc đầu óc trì trệ, xuẩn động. Một dân tộc có tinh thần nô lệ, bảo thủ, giáo điều cản trở mọi xu hướng canh tân, mọi đà phát triển.
Nếu cả nước đều đóng kịch thì cả nước sẽ làm thành một vở kịch.
Cả nước đóng kịch cho nên bộ môn kịch nước ta coi như không khá được. Trước đây còn miền Nam, trụ sở nhà hát lớn đổi thành trụ sở Quốc hội. Trước thì nghệ sĩ trình diễn, nay có các dân biểu trình diễn thay thế họ. Ðã thế thì cần gì phải đi coi kịch nữa.
Và đây là một vài kết quả để chúng ta cùng nhau suy nghĩ về hậu quả của nền giáo dục của đất nước chúng ta.
Báo Tuổi Trẻ, ngày 21.08.1993 đã báo động về nguy cơ hụt hẫng nghiêm trọng đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao. Dân chúng nghi ngờ các bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ ở Việt Nam như ông Hoàng Ngọc Hiến, một người đỗ tiến sĩ ở Liên Xô về đã nói đại ý: «Dắt con bò sang Liên Xô về cũng đậu tiến sĩ». Nói quá đáng chăng? (Trích Nhìn lại những chặng đường đã qua, Nguyễn Văn Trung, Nhà xuất bản Nam Sơn, Montréal, 1989).
Vì thế, người ta trù liệu ở Việt Nam đến năm 2010 có khoảng 35 ngàn tiến sĩ 62 ngàn thạc sĩ. Con số kể là lớn, đáng nể, nhưng chỉ tội là có đến 75% các ông bà có bằng tiến sĩ đó không giảng dạy mà lại đi làm cho các cơ quan công quyền. Theo Viện Thông tin Khoa học Philadelphia, từ 1998 đến 2002, Việt Nam có công bố gần 1500 công trình khoa học tự nhiên, nghĩa là cứ 200 người làm công trình khoa học ở Việt Nam, chỉ có hơn một người có công trình nghiên cứu (0,3 ở Mã Lai, tức cứ ba người làm công tác khoa học, có một người có công trình. Ở Ðại Hàn, riêng năm 2001, có đến 43.000 bằng sáng chế). Ðã thế, có vị có bằng tiến sĩ về sinh vật, nhưng lại viết hằng trăm bài về những đề tài chẳng có liên quan gì đến ngành học của ông cả (trích «Cái danh và cái thực của Giáo sư, Phó Giáo sư ở Việt Nam», tác giả Nguyễn Thế, talawas, 16.11.2004).
Ðã đến lúc, cần quy định rõ ràng như ở Mỹ, Publish hay Perish, hoặc là công bố công trình nghiên cứu hay xé bỏ văn bằng như tấm giấy lộn. Ở nước người, sau ba năm cầm cái bằng tiến sĩ về treo ở phòng khách mà không dùng để làm gì, không có công trình cũng không có giảng dạy thì nếu có tư cách, nên tước bỏ cái danh đó đi. Ðó chỉ là một thứ tiến sĩ giấy giống như những ông cửu phẩm, bát phẩm thời xưa thôi.
Về phía học trò, dưới đây, xin ghi lại một vài câu trả lời theo lối học vẹt, trả lời ngô nghê đến như… vô học.
«Năm 1963, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Cao Kỳ, cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm đã đi đến thành công tốt đẹp.»
«Ðến rạng sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, quân và dân ta hoàn toàn thắng lợi. Ðế quốc Mỹ và tay sai đầu hàng với một số đã rút về nước và một số đã trúng vào mũi tên đã tẩm thuốc độc đã hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam ta.»
«Nhiệm vụ của cụ Phan Chu Trinh là đứng ra thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo các tổ chức của phong trào quần chúng thay đổi về nền kinh tế theo lối tư bản chủ nghĩa.»
Ngay từ những năm sau Hiệp định Genève, tháng 10 năm 1956, nghĩa là 3 tháng sau khi Đảng nhìn nhận những sai lầm trong cải cách ruộng đất, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư trường Ðại học Văn khoa, Hà Nội đã đọc một bài tham luận: «Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo», nhằm vạch ra những sai lầm trong sự lãnh đạo của Ðảng và nhà nước. Cũng vì bài diễn văn này, ông đã mất chức giáo sư đại học và sống cuộc đời còn lại trong túng thiếu và bị bỏ rơi.
Năm 1991, nhân được dịp sang Pháp, ông đã đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật của mình: cuốn L’ excommunié (Kẻ bị khai trừ).
Kể từ lúc LCT cho đăng trên nhật trình cái bài báo quái đản: «Một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học» đến nay đã gần nửa thế kỷ. Mặc dầu có chính sách cởi trói cho khoa học xã hội, mặc dầu đất nước đã có những thay đổi lớn lao về mặt kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường với những quy luật của nó.
Cái môn học đó vẫn ngồi lì ra đó.
Ngay từ các nước cộng sản Ðông Âu. «Chính Đảng cộng sản và các người cầm đầu kể từ Hồ Chí Minh đã là nguyên nhân cho không biết bao nhiêu sai lầm, di lụy đến số phận dân tộc, đất nước. Di lụy đó kể từ chính sách cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, cải tạo tư sản, đấu tố, chỉnh huấn, Nhân Văn Giai phẩm, chống xét lại.» (Trích Lữ Phương: «Lại một bóng ma của Mác», talawas, 16.4.2005).
Vì đánh mất cơ hội, họ lấn sâu thêm một lần nữa vào những sai lầm đáng nhẽ có thể tránh được sau 20 năm sai lầm ở miền Bắc. Nay thì có những sai lầm với những tên gọi mới: Chính sách đi vùng kinh tế mới, chính sách bần cùng hoá toàn bộ dân chúng miền Nam bằng đổi tiền, đánh tư sản mại bản, đánh tàn dư văn hoá Mỹ ngụy và nhất là chính sách học tập cải tạo đối với quân nhân và công chức miền Nam. Ðất nước Việt Nam thống nhất, một lần nữa chìm đắm trong những hận oán, trả thù đã quẳng hàng triệu người ra biển theo chính sách «con bò sữa thuyền nhân».
Sau 30 năm, chưa hề có một ngày vui. Chưa hề có một lời xin lỗi và chúng ta đòi hỏi cái tối thiểu là một lời xin lỗi đối với dân miền Nam.
Xin lỗi tất cả không trừ.
Xin lỗi ngững người làm ăn buôn bán vì bị tước đoạt tài sản, nhà cửa, tiền bạc. Truất hữu, chiếm đoạt tài sản của hằng trăm ngàn người, phải gọi tên nó là gì? Xin lỗi những nhà văn, những nhà trí thức vì bị sỉ nhục, mất cái quyền được phát biểu, được viết. Xin lỗi những sĩ quan, công chức đi học tập cải tạo chỉ vì khác chiến tuyến, chỉ vì thua và thắng, bất chấp luật lệ, giam giữ vô hạn định. Xin lỗi vợ con những người đi học tập, vì đã chia cắt, xa lìa vợ chồng con cái, làm đổ nát tan vỡ không biết bao nhiêu gia đình. Xin lỗi những người lính đã nằm xuống như tử sĩ ở nghĩa trang Biên Hoà vì không được mồ yên mả đẹp. Xin lỗi tuổi trẻ vì đã đánh mất tương lai, lẽ sống của họ vào những chủ nghĩa giáo điều áp đặt. Không muốn dạy mà phải dạy, không muốn học mà phải học.
Xin lỗi cả nước vì bao nhiêu năm đã làm cả nước buồn.
Trước giải phóng, người dân miền Nam cùng lắm chỉ biết lo. Sau giải phóng, chưa có một ngày vui, người dân chỉ thấy buồn. Nỗi buồn đó lan khắp phố phường, từ ngoài ngõ đến trong nhà, rồi thâm nhập vào tâm hồn mỗi người. Cái cảnh mà Trần Dần đã từng ghi lại:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà.
Chỉ thấy mưa sa
trên mầu cờ đỏ.
Hòa Thượng Tuệ Sĩ, một cao tăng còn sót lại, cũng ghi lại cùng một cảm nghiệm như thế :
Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Sầu trên thế kỷ điêu linh.
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa nắng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời Ðông
Trời ơi tóc trắng rũ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên hà buồn tênh.
Cũng xin ghi lại đây cảm nhận của một người xa quê hương, sau 13 năm du học, trở về thăm quê nhà vào năm 1977: «Trở về Huế sau mười mấy năm xa cách, tôi đã gặp lại một Huế thật là – người Huế thường chỉ tình trạng này bằng bốn chữ ‘xanh xương mét máu’ – một Huế đang giật mình, một Huế đang run sợ kinh hãi cho ngày mai, bên cạnh một Huế rất nghèo, rất khổ. Ði trên đường phố, ít ai ngẩng đầu lên, có trao đổi một nụ cười với ai thì nỗi gượng gạo nơi người ấy đã ngăn vành môi bên kia không cho cười hết miệng.
Huế 1977 mà tôi gặp lại là một Huế lơ đãng, sầu hận và nghi ngờ, một Huế bị phá sản hết mọi thiết tha.» (Thái Kim Lan, «Một niềm vui. Một giọt nước mắt», 1977).
Xin lỗi chính họ vì sự mù quáng, dốt nát của họ đã làm cả nước khốn khổ.
Lẽ dĩ nhiên là họ không bao giờ nhận lỗi. Họ cũng chẳng tự khúm núm để xin lỗi chính mình.
Nhưng tôi vẫn cứ đòi. Ðòi hôm nay. Không được. Mai đòi nữa. Không xin lỗi, cho nên không lạ gì, sau gần nửa thế kỷ, người miền Nam vẫn không quên và hiện nay vẫn chưa hàn gắn được những vết thương cũ.
Vì thế, đất nước chỉ thống nhất về mặt địa lý, nhưng lòng người vẫn chưa thực sự thống nhất.
Tôi cũng xin ghi lại ở đây: Hình ảnh một thanh niên Âu Châu trên chiếc áo T-Shirt với câu: Good bye Lenin. Thế hệ thanh niên, thế hệ tương lai của các dân tộc trên toàn thế giới giã từ cái chủ ngĩa Mác-Lê để lên đường.
Ðiều đó cũng muốn nhắn nhủ, hay mong mỏi, hay ước mơ, hay cầu vọng tuổi trẻ Việt Nam cũng có cơ may giã từ cái chủ nghĩa ấy để cùng với thanh niên thế giới, để có cơ hội xây dựng một đất nước Việt Nam chẳng những thanh bình, thịnh vượng mà còn Nam Bắc một nhà.
Tác giả Hoàng Tùng, với bài tham luận «Thời đại mới, tư tưởng mới» đã đề ra những hướng thay đổi chủ nghĩa xã hội cho kịp thời đại mới, nhưng vẫn khăng khăng cho rằng cho đến nay «chưa có học thuyết nào hơn hẳn học thuyết Marx trong việc thay thế chủ nghĩa tư bản để xây dựng tương lai con người.» (trích Lữ Phương, bài đã dẫn). Nhưng bằng vào cái ý hướng muốn cải sửa chủ nghĩa Mác của một số người trong Đảng, người ta vẫn hy vọng đản cộng sản đem lại một chút ánh sáng mới vào đêm trường tối tăm của cái chủ nghĩa ấy.
Trong bài viết của mình, ông Lý Chánh Trung viết vào năm 1975, ông Phạm Như Cương, Viện trưởng Viện Triết học có cho rằng cần mở thêm một khoa triết học đầy đủ ở trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội. Ðã 30 năm rồi, lời hứa của ông Phạm Như Cương vẫn chưa thực hiện nổi. L.C. T viết: «Chúng tôi nghĩ không phải chỉ học triết học trước Mác, mà còn học cả triết học sau Mác… ngay cả cái triết học mà chúng ta đã phê phán rất nhiều như triết học hiện sinh thì nó cũng có những phần tích cực của nó. Một anh học trò cũ của tôi, đã thoát ly đi kháng chiến năm 1968, sau đó khi ra Hà Nội thì mấy anh có hỏi: tại sao anh lại đi theo cách mạng, động cơ nào thúc đẩy anh đến với cách mạng? Anh học trò trả lời rằng do triết học hiện sinh, chính vì triết học hiện sinh mà tôi đi theo cách mạng.»
Câu trả lời thật trớ trêu, nhưng vẫn là sự thật.
VẪN LUÔN TUYỆT VỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Có nhóm Mười Hai cùng đi với Ngài, có cả mấy phụ nữ”.
Một trong những ca khúc được yêu nhất của Irving Berlin là “I’m Dreaming of a White Christmas”, “Mơ Về Một Giáng Sinh Tuyết Trắng”. Trong một cuộc phỏng vấn, Berlin được hỏi, “Có câu hỏi nào mà ông chưa từng được hỏi, nhưng lại muốn ai đó đặt ra?”. Berlin trả lời, “Có chứ!”; đó là, “Bạn nghĩ sao về nhiều ca khúc mà chúng không là những ‘điểm nhấn’ nổi tiếng?”. “Tôi sẽ trả lời rằng, tôi chỉ nghĩ, chúng ‘vẫn luôn tuyệt vời!’”.
Kính thưa Anh Chị em,
Trong nhãn quan của thiên đàng, của đời đời, bất cứ ai theo Chúa Giêsu, dẫu không là những ‘điểm nhấn’ nổi bật, họ ‘vẫn luôn tuyệt vời!’. Tin Mừng hôm nay tiết lộ, trên bước đường rao giảng của Con Thiên Chúa, “Có nhóm Mười Hai” và “Có cả mấy phụ nữ!”.
Đó là những cộng tác viên tuy khác biệt, nhưng có Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu, họ trở nên đặc biệt! Bởi lẽ, khác biệt của từng người lại trở thành điểm mạnh. Việc chọn các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cho thấy Ngài là một con người đầy tư chất và bản lãnh của một lãnh đạo bậc thầy. Ngài chọn họ từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Họ sẽ không là bạn của nhau, càng không là những người làm việc với nhau nếu không vì Ngài. Kết quả là họ hợp tác, trân trọng và đánh giá cao khả năng của nhau. Có Ngài, khác biệt không còn là dị biệt cản trở, nhưng là những ưu thế để họ ‘vẫn luôn tuyệt vời’.
Không chỉ các ông đi theo Chúa Giêsu; bên cạnh đó, còn có các phụ nữ. Ngài giao cho họ những vai trò khác nhau, dẫu việc Ngài cứu chữa và biến đổi cuộc đời họ xem ra giống nhau. Cũng thế, những phụ nữ này dẫu không như nhau nhưng một khi chọn theo Ngài, họ trở thành những điểm mạnh; ít nữa, đã hy sinh của cải và thời giờ cho công cuộc loan báo Tin Mừng.
Chúa Giêsu có khả năng truyền cảm hứng cho bất cứ ai. Bạn và tôi được mời gọi xây dựng Vương Quốc ở mọi cấp độ, đấng bậc, trong vị trí của mình. Vấn đề là Ngài có trở nên trung tâm cuộc đời chúng ta không? Bạn và tôi có thuộc về Ngài không? Hay đi theo Ngài, chúng ta lại cứ tính toán theo thói đời, rán thành những ‘điểm nhấn’, để rồi không biết mình thuộc về ai, làm gì! Trong thư Timôthê hôm nay, Phaolô lưu ý, “Bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc”; Giuđa Iscariôt là một ví dụ. Lời Đáp Ca cũng thật thâm trầm, “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ!”. Nước Trời ở đây chính là Chúa Giêsu, trái tim mọi ơn gọi, để mỗi người quy về và ‘vẫn luôn tuyệt vời!’.
Anh Chị em,
“Có nhóm Mười Hai cùng đi với Ngài”. Là những môn đệ Giêsu, Thánh Kinh không gọi chúng ta là ‘con ngươi mắt Chúa’ đó sao! Cũng thế, bạn và tôi đừng bao giờ coi thường một ai, dù người ấy không là ‘điểm nhấn’. Lấy Chúa Giêsu làm điểm quy chiếu, chúng ta trở nên những cộng sự viên của Ngài dù khác biệt nhau; và bằng một đời sống yêu thương, chúng ta đón nhận nhau. Với ơn Chúa, không ai không trở thành môn đệ và trở nên anh chị em của nhau. Và như thế, khác biệt không làm chúng ta phân hoá, nhưng có Giêsu, chúng ta gắn bó, trở nên những ‘điểm nhấn’ cho nhau và cho thế giới.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, chẳng cần là ‘điểm nhấn’ nổi bật trước mắt người đời, cũng không mơ trở nên tuyệt vời; chỉ cần con luôn ‘dễ thương’ như một em bé trước mặt Chúa!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen










