THỐNG KÊ TUỔI ĐỜI – Trần Văn Giang

Trần Văn Giang

Thật may mắn khi sống quá 65 tuổi

Cảm ơn ai đó đã tổng hợp số liệu thống kê này ! Đọc để hiểu chúng ta may mắn như thế nào nếu đã lên tuổi 65 và có nhà, có đủ ăn và đủ mặc.

Dân số hiện tại của Trái đất là khoảng 7,8 tỷ người. Tuy nhiên, ai đó đã cô đọng 7,8 tỷ trên thế giới thành 100 người, và sau đó thành các thống kê tỷ lệ phần trăm khác nhau. Kết quả phân tích tương đối dễ hiểu hơn nhiều :

* Trong số 100 người có : 11 ở Châu Âu, 5 ở Bắc Mỹ, 9 ở Nam Mỹ, 15 người ở Châu Phi và khủng khiếp khi có tới 60 người ở Châu Á.

* Trong số 100 người: 49 sống ở nông thôn và 51 sống ở các thị trấn / thành phố.

* Trong số 100 người: 77 có nhà riêng và 23 không có nơi ở.

* Trong số 100 người: 21 người được nuôi dưỡng quá mức; 64 có thể ăn no; 15 người thiếu dinh dưỡng.

* Trong số 100 người: Chi phí sinh hoạt hàng ngày cho 48 người là dưới US $ 2.

* Trong số 100 người: 87 có nước uống sạch, 13 hoặc thiếu nước uống sạch hoặc tiếp cận với nguồn nước bị ô nhiễm.

* Trong số 100 người: 75 có điện thoại di động và 25 không có.

* Trong số 100 người: 30 người có quyền truy cập internet, 70 không có điều kiện lên mạng.

* Trong số 100 người: 7 nhận được giáo dục đại học và 93 đã không được học đến bậc đại học.

* Trong số 100 người: 83 người có thể đọc còn lại 17 người mù chữ.

* Trong số 100 người: 33 người theo Ki Tô giáo, 22 người theo Hồi giáo, 14 người theo đạo Hindu, 7 là Phật tử, 12 là các tôn giáo khác và 12 người không có tín ngưỡng tôn giáo. Như vậy Phật tử chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ và tỷ lệ này ngày càng giảm.

* Trong số 100 người: 26 sống dưới 14 năm, 66 người chết từ 15 đến 64 tuổi, 8 người trên 65 tuổi. Bạn thật may mắn khi đã sống trên 65 tuổi.

KẾT LUẬN 

Nếu bạn có nhà riêng của mình,

Ăn đầy đủ các bữa và uống nước sạch,

Có điện thoại di động,

Có thể lướt internet và đã đi học đại học,

Bạn đang ở trong một lô đặc quyền nhỏ (trong danh mục chỉ dưới 7% nhân loại được hưởng). 

Trong số 100 người trên thế giới, chỉ 8 người có thể sống hoặc vượt quá 65 tuổi.

Nếu bạn trên 65 tuổi. Hãy bằng lòng và biết ơn. Bạn đã là người có phúc giữa nhân loại.

Hãy chăm sóc sức khỏe của chính mình thật tốt vì không ai quan tâm tới bạn hơn chính bạn.

Trần Văn Giang


 

CHỌN PHẦN TỐT NHẤT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Quiet Forest 4 Photograph by Luke Robertson | Fine Art America

“Khu rừng sẽ rất im ắng nếu không có con chim nào hót ở đó, ngoại trừ những con chim hót hay nhất!” – Henry Van Dyke.

“Maria đã chọn phần tốt nhất!”

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Kính thưa Anh Chị em,

Như “những con chim hót hay nhất” không làm cho khu rừng mất im ắng, thì Giôna đã cất ‘tiếng hót ăn năn’; Matta cất tiếng hót ‘nhiệt thành’; và Maria, cất tiếng hót ‘chiêm ngắm’ hay nhất… nhưng vẫn giữ cho khu rừng Lời Chúa hôm nay linh thiêng im ắng! Đặc biệt Maria, người được Chúa Giêsu khen ngợi, “Maria đã chọn phần tốt nhất!”.

La question posée par Dieu à Jona – et à nous – Question de foi

Giôna, không chỉ là con người của bất tuân, nhưng còn là con người của sám hối;

Mary and Martha, by Del Parson, Luke 10:38–42 | Lds art, The church of jesus christ, Mary and marthaMatta, con người của bận rộn, nhưng là con người làm Chúa vui lòng; và nhất là, Maria, con người của chiêm ngắm, còn là con người đã ‘chọn phần tốt nhất’. Mọi Kitô hữu được gọi để sống ba nhân đức này. Cả khi cuộc sống tràn ngập đủ thứ công việc, bạn và tôi vẫn thường xuyên được mời gọi để ‘trở về’, ‘làm Chúa vui lòng’ và ‘chọn phần tốt nhất!’.

Trước hết, Giôna! Chúa gọi ông lần thứ hai sau khi cá ‘hóc’ ông lên bờ. Từ vực thẳm tanh tưởi như một quãng lặng trong bụng cá, Giôna bất động, nhầy nhụa, tối tăm; ở đó, ông trải nghiệm tình yêu của Thiên Chúa. Kẻ nổi loạn được cứu; thân xác được chữa lành; và linh hồn được thứ tha. Giôna không chỉ bị ném cho thuỷ thần nhưng còn được quăng vào đại dương từ ái của Thiên Chúa. Quờ quạng trên bờ cát, ông hiểu thế nào bất tuân, trốn chạy! Vì vậy, dẫu đang loi ngoi, nhơ nhớp, Giôna vẫn nghe rõ tiếng Ngài. Lần này, ông mềm mỏng; đứng dậy và làm theo. Nhờ ông, Ninivê sám hối, được thứ tha. Như vậy, trước khi Ninivê ăn năn, Giôna đã hết lòng sám hối. Thánh Vịnh đáp ca thật sâu lắng, “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?”.

BBC Radio 4 - The Prophets, Jonah

Thứ đến, Matta! Ngày sống của chúng ta đan quyện bởi những công việc; làm ăn, dạy dỗ, giải trí và chăm sóc người khác…  Chúng ta được tạo dựng để làm việc cho đến suốt đời; nhưng làm gì và làm thế nào để Thiên Chúa vui lòng mới là điều quan trọng! Làm sao bạn và tôi luôn ‘chọn phần tốt nhất’ hầu làm vinh danh Ngài nhất!

Sau cùng, tuyệt vời hơn cả, Maria! Trước khi là con người chiêm ngắm, Maria là con người lắng nghe. Lắng nghe và chiêm ngắm là điều cần làm trước nhất nếu chúng ta muốn hoàn thành tốt đẹp bất cứ điều gì. Trong cuốn Tennyson’s Morte d’Arthur, vua Arthur nói với Sir Bedivere rằng, “Nhiều điều được tạo ra bởi lời cầu nguyện hơn là tất cả những gì mà thế giới mơ ước!”. Người chiêm ngắm là người đã ‘chọn phần tốt nhất!’.

 

 

 

 

 

Tânia Rubim in English: Women of the Bible in real time: Martha and ...

 

 

Martha and Mary: A spiritual Lesson about Love and Duty

Martha and Mary | Marta y maria, Quien es jesus y Biblia imagen

Anh Chị em,

“Maria đã chọn phần tốt nhất!”. Lắng nghe, chiêm ngắm là phần quý nhất! Chỉ khi cầu nguyện, chiêm ngắm, con người mới thực sự vĩ đại trước mặt Thiên Chúa; và cũng chỉ khi chiêm ngắm, cầu nguyện con người thực sự là những con chim hót hay nhất, ngợi ca Thiên Chúa thay cho cả thế giới vốn là một khu rừng không bao giờ im ắng. Chúa Giêsu đã sống gắn bó với Chúa Cha, làm vui lòng Cha, và hoàn toàn vâng phục ý Cha. Hãy chiêm ngắm Ngài, hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể mỗi ngày, bạn và tôi sẽ làm mọi việc hết tình và hết mình cho vinh quang Chúa!

Men of prayer. A praying man is a powerful man.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết sám hối như Giôna, nhiệt tâm như Matta và biết ở lại với Chúa như Maria. Và như thế, con có thể là một trong những con chim hót hay nhất!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Ngoại giao cây tre (Phần cuối)

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Thông

6-10-2023

Tiếp theo: Phần 1 — Phần 2 — Phần 3 và Phần 4

Ngoại giao tức là quan hệ (giao) với bên ngoài (ngoại). Nhà này với nhà kia có mối đi lại với nhau cũng là ngoại giao, dù chỉ láng giềng cách nhau bờ dậu mùng tơi hoặc bức tường gạch cắm mảnh chai, mảnh sành. Nhiều người đã nhầm khi cho rằng đã nói tới ngoại giao thì chỉ ở tầm quốc gia.

Trong mối giao tiếp hàng xóm láng giềng đời thường đã đầy phức tạp, huống hồ giữa nước này với nước khác. Con người là thứ động vật nhiều mưu mẹo nhất trong muôn loài, và điều này được thể hiện rõ nhất ở ngoại giao. Đám cầm quyền mỗi quốc gia dùng đủ mọi thủ đoạn để giật lợi ích về cho nước mình, bất kể sự trơ tráo thủ đoạn hay mềm mỏng khéo léo. Dù nó có hiệu quả gì đi nữa thì cũng chẳng đáng khen. Không thể khen cái thứ trái với lương tâm, đạo đức con người.

Làm ngoại giao phải chân thật, lấy sự chân thật đặt lên hàng đầu. Mà không chỉ ngoại giao, mảng nào việc nào cũng vậy.

Tôi còn nhớ đã đọc đâu đó chuyện về ông Nguyễn Thọ Chân từng làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Liên Xô. Khi ông nhận nhiệm vụ với đôi chút lăn tăn thắc mắc, cụ Hồ có nói với ông rằng “Làm ngoại giao nhưng đừng có ngoại giao quá, đừng có lễ tân lắm. Cốt nhất là ở lòng chân thành của mình với người ta”. Theo tôi, điều này thì cụ Hồ đúng. Cứ phải chân thành, tin nhau. Hay hớm gì cái thói mưu mẹo, xảo trá, lừa miếng, lật lọng.

Người ta vẫn thường tuyên truyền và khen chủ trương “vừa đánh vừa đàm” của người cộng sản hồi nội chiến Bắc – Nam trước 1975. Ông anh ruột tôi, một thương binh thời ấy, đảng viên đàng hoàng, tuy là đảng viên nhưng mà tốt, có lần cười bảo hay ho cái đếch gì, đánh là đánh, đàm là đàm, đánh thì thôi đàm, đàm thì thôi đánh, làm quái gì có cái kiểu nện cho ra bã, “giết, giết, giết, bàn tay không chút nghỉ” nhưng lại kêu gào muốn hòa bình, bắt tay nhau. Giả dối.

Hình như sự giả dối đã ăn sâu vào não giới cầm quyền xứ này, từ lâu chứ không phải chỉ bây giờ. Giờ họ thực hành ngoại giao cây tre “làm bạn với tất cả” nhưng thử coi trong cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Ukraine họ đã tre pheo thế nào. Cả thiên hạ, toàn địa cầu, cả thế giới đều biết phân biệt thế nào là chiến tranh xâm lược, kẻ xâm lược, chính nghĩa, phi nghĩa, ngay chính những đám ủng hộ bọn xâm lược Nga cũng hiểu rõ điều ấy.

Họ đã từng ở vào hoàn cảnh của Ukraine “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta/ thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”, nếm mùi sự tàn khốc của chiến tranh, nhưng vẫn cứ lửng lơ tre pheo, mà thực ra đã ngầm đứng về một phía. Thà như đám độc tài ở Triều Tiên, Cuba, Iran, Venezuela công khai theo đóm ăn tàn, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, đằng này lại ở những người luôn tự nhận mình chính nghĩa.

Những tuyên bố không theo phe, không đứng về bên nào, chỉ ủng hộ chính nghĩa… chỉ là sáo rỗng, giả tạo, lời nói gió bay. Thiên hạ hiểu cả, qua thực tế phơi bày. Những phiếu trắng, những phát biểu chung chung kiểu quan ngại này quan ngại nọ chả giấu được ai. Nói đâu xa, cứ xem họ chỉ đạo đám báo chí mậu dịch thì biết chẳng tre pheo gì. Thà đám Quang lùn, Mẫu, Cương, Thống đã đi một nhẽ, không ai thèm chấp cá nhân. Đằng này đó là “tiếng nói” của hệ thống chính trị.

Đến ngay tên gọi thực chất của cuộc chiến tranh xâm lược cũng không dám chỉ ra, chỉ uốn éo thành “chiến dịch quân sự”, chiến tranh bị hạ thấp thành “xung đột”, ồn ào tin Nga thắng thế lọ thế chai, dựa vào truyền thông Nga để đem “tin vui bay đến tận bản làng”, háo hức trước tàn phá của bọn xâm lược đối với Ukraine… khiến người dân Việt không phân biệt được hay, dở, tốt, xấu, trắng, đen, phải, trái.

Ảnh: “Ngoại giao cây tre” Việt Nam. Nguồn: VnEconomy

Ngay cả những “tờ” tưởng chừng nghiêm túc như Giáo dục & thời đại (Bộ Giáo dục), Thế giới & Việt Nam (Bộ Ngoại giao), báo Nghệ An (tiếng nói của đảng bộ và nhân dân Nghệ An), đài tivi Nghệ An… mọi người cứ mở thử xem, chúng nịnh bọn xâm lược, tâng bốc bọn xâm lược đến mức Cương, Mẫu, Thống phải tôn bằng cụ. Cây tre kiểu vậy làm nhơ bẩn cả hình ảnh cây tre cứng cỏi bất khuất thẳng thắn. Bây giờ con người có thể bị lừa bởi bộ máy tuyên giáo nhưng với lịch sử thì không dễ lừa. Sau này sẽ là nỗi nhục.

Ở những quốc gia dân chủ văn minh, điều may mắn cho người dân là không có tuyên giáo, không có báo mậu dịch, và quan trọng nhất, hầu hết những người cầm quyền là con người tử tế, chân thật.


 

Cần biết lắng nghe và sửa sai (Kỳ 1)

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Thông

9-10-2023

Cách nay 69 năm, ngày 10.10.1954, những người lính Pháp cuối cùng xếp hàng ngay ngắn rời khỏi Hà Nội, theo lối cầu Long Biên do chính họ xây dựng, để về Hải Phòng tập kết 300 ngày chờ rút hết về nước. Nay ở bãi biển Đồ Sơn vẫn còn di tích bến Nghiêng, nơi quân Pháp xuống tàu hồi hương.

Pháp rút, quân ta vào tiếp quản thủ đô Hà Nội trong sự chào đón của nhân dân. Đoàn xe chở tướng Vương Thừa Vũ – Chủ tịch Ủy ban quân chính (quân quản) Hà Nội, bác sĩ Trần Duy Hưng – Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội đã cùng bộ đội vào nội thành qua 5 cửa ô một cách hòa bình, không một tiếng súng nổ nào.

Ảnh: Bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội trở về tiếp quản thủ đô trong sự chào đón nồng nhiệt của dân chúng, dĩ nhiên không một tiếng súng, và không phải là hành vi giải phóng. Nguồn: Tư liệu internet

Nhạc sĩ Nguyễn Thành viết “Khi đoàn quân tiến về mùa thu ấy/ Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường“. Ngày 10.10 được lịch sử gọi bằng cái tên chính xác với thực tế, “ngày tiếp quản thủ đô”. Lứa chúng tôi khi học phổ thông (từ lớp 1 tới lớp 10) sách giáo khoa và lời thầy cô, lời cán bộ đều ghi rõ, nói rõ là “ngày tiếp quản thủ đô 10.10”.

Chả hiểu do đâu, và cũng không biết từ khi nào, người ta, vốn quen xuyên tạc lịch sử, kiêu ngạo cộng sản, háo thắng, ngạo nghễ, đã đổi lát cắt lịch sử ấy thành “ngày giải phóng thủ đô”, “ngày thủ đô giải phóng”. Cả Hải Phòng cũng vậy, khi quân Pháp ở đó 300 ngày kể từ khi đình chiến để lần lượt rút về nước, người dân sống chung với những kẻ trước kia là quân xâm lược trong gần 1 năm hòa bình, không hề gây gổ.

Ảnh chụp màn hình/ báo Tiền Phong

Làng tôi là nơi tạm trú kiểu KT3 gần tiểu đoàn Pháp, họ đóng ở đình làng và lập doanh trại gần đó, họ khoan giếng máy lấy nước dùng, cho cả dân dùng, khi kéo nhau ra bến Nghiêng Đồ Sơn còn bàn giao đầy đủ, không phá bỏ thứ gì. Thày tôi kể, dân làng giao dịch buôn bán hàng tạp hóa với họ, họ dạy trẻ con tiếng Pháp, cho nông dân những hạt giống rau quả su hào, súp lơ, cà chua… từ Pháp gửi sang để bà con mình trồng trọt.

Nói chung là chả đánh nhau, chẳng giải phóng giải phiếc gì. Nhưng rồi cũng theo trào lưu mới tự sướng/ xuyên tạc lịch sử, người ta cũng gọi ngày 13.5.1955 là “ngày Hải Phòng giải phóng”, “ngày giải phóng Hải Phòng”, mỗi năm đến ngày này cứ um cả lên. Ông anh tôi có lần bảo, có đánh nhau đếch đâu mà giải mí chả phóng.

Giải phóng là gì? Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do GS Hoàng Phê chủ biên, giải phóng là hành động làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nước ngoài chiếm đóng; giải thoát con người bị kiềm chế, giam cầm. Giải phóng hoàn toàn khác sự tiếp quản, nhận những thứ được bàn giao. Cũng không thể lý sự rằng trước đó quân ta đã đánh nhau, đã chiến thắng, đã có trận Điện Biên nên Pháp bị thua, ta tiến vào thủ đô thì cũng là giải phóng. Vậy thì nên xóa những sự kiện lịch sử, như Hội nghị Geneve (Geneva), hội nghị Trung Giã ra khỏi biên niên sử, dù nó có ý nghĩa lập lại hòa bình, chấm dứt đánh nhau.

Vẫn biết việc tôn trọng lịch sử khách quan và việc thực hiện ý đồ chính trị luôn chỏi nhau, luôn xung khắc, thậm chí lịch sử chịu thua trong những chặng nhất định, nhưng không thể vì thế mà cứ im lặng mãi. Hỡi các nhà viết sử mậu dịch, các vị chắc đều biết tích anh em nhà Thái Sử Bá thời Chiến quốc chép sử thế nào. Nhà viết sử chân chính, chết còn không sợ, vậy các vị sợ cái gì mà không dám lên tiếng, hay là nghề sử chỉ để ấm thân mình.

KHI CHÚNG TA VỀ GIÀ …

Quỳnh Chi 

Năm tháng vô tình, đến một ngày nào đó ai rồi cũng phải già đi, cho dù đó là người giàu có hay bình thường, đều không ngoại lệ. Những năm tháng sung mãn trẻ trung không bao giờ trở lại, cũng như một ngày không thể có hai buổi bình minh. Thời gian không đợi người…

Khi chúng ta già đi, trải qua mấy chục năm cố gắng, kinh nghiệm phong phú đầy mình, tấm lòng rộng rãi. Đã từng tranh giành, đã từng chiến đấu, đã từng đắc ý, đã từng thất ý, những gì nên có đều đã có, cũng không còn ham muốn những thứ không thuộc về mình nữa, hết thảy đều đã quen rồi.

Khi về già, tôi lựa chọn mỉm cười.

Mỗi sáng sớm thức dậy rửa mặt, việc đầu tiên là soi gương, khi ta cười với nó thì nó cũng cười với ta. Thế là cả một ngày ta mỉm cười.

Mỗi sáng sớm thức dậy rửa mặt, việc đầu tiên là soi gương, khi ta cười với nó thì nó cũng cười với ta. Thế là cả một ngày ta mỉm cười. (Pixabay)

Khi về già, lựa chọn thay đổi.

Không phải là thay đổi người khác, mà là thay đổi chính bản thân mình, thay đổi tâm tính, thay đổi phong cách sống và thay đổi thói quen ăn uống của mình.

Khi về già, lựa chọn thong dong.

Bữa ăn nên ăn từng miếng một, việc làm nên làm từng chút một. Không có việc nào có thể làm xong trong một sớm một chiều, mọi thứ đều phải có quá trình. Đừng suốt ngày mệt mỏi kiệt sức, hãy sống bình tĩnh thong dong.

Khi về già, lựa chọn coi nhẹ.

Nếu chốn sơn hào hải vị, mỹ tửu giao bôi mà ẩn giấu người lừa kẻ gạt, thì sao bằng dăm ba người tri kỷ, chén trà nhạt hàn huyên.

Khi về già, lựa chọn sức khỏe.

Có một câu nói rằng: Lúc sự nghiệp có thành tựu chính là lúc cần trân quý thân thể của chính mình, lúc sự nghiệp thất bại chính là lúc cần phải làm cho mình khỏe mạnh hơn.

Du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tuổi trời, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời lúc hoàng hôn của chính mình. Để bù đắp sự thiếu hụt của thế hệ, tìm lại tự ngã đã mất. (Pixabay)

Khi về già, lựa chọn du lịch.

Du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tuổi trời, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời lúc hoàng hôn của chính mình. Để bù đắp sự thiếu hụt của thế hệ, tìm lại tự ngã đã mất.

Khi về già, lựa chọn nghỉ ngơi.

Đến tuổi này rồi, có thể không cần phải đóng góp thêm cho xã hội, không còn phải vất vả vì cháu con, không cần phải đi kiếm tiền, cũng không cần tích lũy di sản nữa.

Khi về già, lựa chọn độc lập.

Đừng quá nặng thân tình. Có câu “ở bên giường bệnh lâu ngày thì không có con hiếu thảo”. Vì vậy, cần phải chuẩn bị tinh thần để tự mình vượt qua khó khăn.

Khi về già, lựa chọn nói “có” ít, nói “không” nhiều.

Đừng làm những việc căng thẳng và nặng nề, và nên giảm những công việc cố định trong thời gian cố định.

Khi về già, lựa chọn cách đối xử tốt với bản thân và những người xung quanh.

Đối xử với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài, đối xử với mọi người xung quanh tốt một chút, vì có thể kiếp sau sẽ không còn gặp lại.

Đối xử với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài, đối xử với mọi người xung quanh tốt một chút, vì có thể kiếp sau sẽ không còn gặp lại. (Pixabay)

Khi về già, mong giữ được một trái tim trẻ trung và trong sáng.

Điều thay đổi chỉ là dung nhan, điều không thay đổi chính là tôi vẫn có một trái tim nhiệt huyết, trẻ trung, đầy đam mê. Vẫn mong muốn ngây thơ và đáng yêu như một đứa trẻ, duy trì một trái tim trẻ trung và trong sáng. Bất kể cuộc đời này là thống khổ, ưu thương hay là thất bại, hết thảy những điều này, thị phi thành bại đều đã thành hư không, yêu thương hay đau đớn đều đã là quá khứ.

Khi về già, sẽ có người thỉnh thoảng còn nhớ nhung và lo lắng trong lòng. Khi ta chống nạng, còng lưng, ngồi trên ghế đá công viên, mỉm cười nhìn mọi thứ xung quanh, sẽ có người chăm chú dõi theo và để ý, sẽ có người nguyện ý đi cùng ta, dìu lấy ta, cùng ta tản bộ chuyện trò.

Khi về già, hy vọng tự mình còn có thể lo được cho mình, đôi khi phơi nắng, chợp mắt bên bếp lửa, khẽ nhắm mắt nhớ lại con đường đời đã đi qua, nhớ về người thân, bè bạn, đôi lúc mỉm cười, và đôi khi thở dài.

Khi về già, tai điếc, răng rụng, tóc bạc, mong rằng người bạn đời vẫn còn ở bên, cùng chơi đùa, cùng nhau hồi tưởng về quãng thời gian cùng nhau trải qua, còn có thể nắm tay nhau đi trong ánh hoàng hôn, mỉm cười và ôm nhau khóc, nương tựa vào nhau, sẽ không rời xa.

Khi về già, tai điếc, răng rụng, tóc bạc, mong rằng người bạn đời vẫn còn ở bên, cùng chơi đùa, cùng nhau hồi tưởng về quãng thời gian cùng nhau trải qua, còn có thể nắm tay nhau đi trong ánh hoàng hôn. (Pixabay)

Khi về già, không còn thích náo nhiệt, thức khuya, chỉ muốn làm một khán giả tĩnh lặng, để thời gian cho bản thân một mình suy nghĩ, sống chậm lại, tĩnh tâm, lắng nghe tiếng nụ hoa hé nở, cứ như vậy lặng lẽ ngắm mọi thứ quen thuộc xung quanh rồi lặng lẽ rời đi.

Quả thật, cuộc đời của tôi quá đỗi bình thường như vậy, không oanh oanh liệt liệt, không kinh thiên động địa, nhưng tôi đã sống thật lòng, nhẹ nhàng ra đi, cũng như lúc nhẹ nhàng đến…

Mỗi người trong hơn nửa đời người đều đang theo đuổi:

Tuổi thơ theo đuổi sự thuần chân, tiện tay bôi bẩn những bức vẽ đầy màu sắc. Tuổi học trò theo đuổi lý tưởng, chăm chỉ không ngừng dệt những giấc mơ. Khi đi làm theo đuổi sự nghiệp và tình yêu, cảm nhận sự ngọt ngào và khó khăn của cuộc sống. Dần dần, cuối cùng, chúng ta bắt đầu truy cầu một cõi đi về, truy cầu một bến cảng bình yên và sự luân hồi của sinh mệnh!

Minh bạch được những điều này, cuộc sống tự nhiên sẽ nhẹ nhàng và hạnh phúc!

Quỳnh Chi 

From: tabard & NguyenNThu

Bài tập nâng cao sờ-ku-rờ-ty…

Ba’o Tieng Dan

Chu Mộng Long

8-10-2023

Ảnh tư liệu

Tôi nhiều lần lên tiếng yêu cầu bãi bỏ ngay quy định phiên âm tiếng nước ngoài trong sách giáo khoa. Cách phiên âm trên sách giáo khoa trước đây và cho đến bây giờ rất tùy tiện, thậm chí đọc lên nghe rất tục tĩu, phản văn hoá, vô giáo dục. Thực chất đó là tiếng bồi của kẻ vô học ở ngoài Bắc chứ tiếng bồi vô học ở trong Nam trước 1975 cũng không kinh dị như vậy.

Cách đây vài mươi năm, có thể chấp nhận cách phiên âm đó để thầy và trò dễ đọc. Nay chính Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia rồi phổ cập tiếng Anh từ lớp 1 đến lớp 12. Riêng học đại học, sau đại học và chuẩn năng lực thầy cô giáo đều bắt buộc phải có trình độ và chứng chỉ ngoại ngữ tiêu chuẩn châu Âu hoặc bậc của khung trình độ quốc gia. Vậy mà hà cớ gì cứ phải đọc tên nước, tên địa phương, tên người của người ta bằng thứ tiếng bồi của đứa vô học?

Lẽ nào các loại bằng cấp, chứng chỉ ngoại ngữ tiêu tốn hàng ngàn ngàn tỉ đồng lâu nay đều là giả?

Hội nhập mà gọi tên người ta như thứ ngôn ngữ mách qué thì có mạo phạm người ta không?

Tôi thật ngạc nhiên là trong Chương trình 2018, ông Thuyết, ông Thống còn bắt buộc đưa vào sách bài học, bài tập riêng về cách viết phiên âm. Cả hệ thống sách giáo khoa phiên âm rất tùy tiện, không thống nhất trên một quy tắc nào cả. Khi thì phụ âm kép, nguyên âm đôi bị tách ra thành 2 âm tiết độc lập (chẳng hạn Xít-ta-lin, Anh-sờ-tanh, Xi-át-tơn…), khi thì ghép một âm (chẳng hạn Ốt-strây-lia, Pát-scan, Stiêng…), khi thì âm cuối ng giữ nguyên (King, Sing, Hê-ming-way…), khi thì biến thành nh (Kinh, Xinh, Râu-linh, Hê-minh-uê…). Kể cả thích thì bỏ dấu thanh (sắc, huyền, nặng – U-nai-tịch, Oai-chịch, Uy-lích, Mai-cồ..), không thích thì không bỏ dấu thanh. Các phụ âm khi thì S khi thì X tùy tiện, bừa bãi. Bất quy tắc như vậy thì học sinh chỉ có thuộc lòng và nhớ mặt chữ ư? Trong khi ngay ở một tập sách, chỉ một tên người, tên đất mà phiên âm thành nhiều chữ khác nhau, khi thì phiên âm theo cách đọc tiếng Pháp, khi thì theo cách đọc tiếng Anh, loạn cả lên. Tổ chức học hành như vậy thì có làm loạn não trẻ em không?

Tác hại rõ nhất là khi học tiếng Anh, trẻ em đang thẩm âm và phát âm chuẩn theo người bản ngữ thì đến khi học tiếng Việt với cách đọc phiên âm méo mó của ông Thuyết, ông Thống, tiếng Anh của trẻ em bị méo mó theo và hỏng hết.

Tôi đề nghị ông Thuyết, ông Thống chấm dứt ngay việc áp đặt tiếng bồi của các ông vào tai, vào mắt, vào não bọn trẻ. Thứ tiếng đó không chỉ làm hỏng tiếng Anh mà còn hỏng cả tiếng Việt. Sờ-ku-rờ-ty là thứ tiếng của văn hoá con heo!

Khách hàng bị bệnh gan, thiệt mạng, công ty nước đóng chai ở Las Vegas phải bồi thường $228.5 triệu

Ba’o Nguoi-viet

October 6, 2023

LAS VEGAS, Nevada (NV) – Công ty nước đóng chai alkaline ở Las Vegas, Nevada, bị tòa buộc bồi thường gần $229 triệu cho nhiều nguyên đơn liên quan tới vụ khách hàng bị bệnh gan, có người thiệt mạng, sau khi dùng sản phẩm của công ty này, theo USA Today hôm Thứ Sáu, 6 Tháng Mười.

Hôm Thứ Tư, bồi thẩm đoàn ở Clark County quyết định công ty Real Water phải bồi thường thiệt hại tổng cộng $228.5 triệu. Hai công ty thiết bị thử nước cũng bị tòa buộc bồi thường.

Sản xuất nước đóng chai. (Hình minh họa: Jody Amiet/AFP via Getty Images)

Năm 2021, giới chức y tế công cộng khuyến cáo người tiêu dùng không uống nước đóng chai Real Water sau khi xác định sản phẩm của công ty này có liên hệ với bệnh gan của năm đứa trẻ được đưa vô bệnh viện. Ông Will Kemp, luật sư đại diện phần lớn nguyên đơn, cho hay nước đóng chai Real Water bị nhiễm hydrazine, loại hóa chất làm nhiên liệu hỏa tiễn.

Nguyên đơn trong vụ này có gia đình bà 69 tuổi thiệt mạng sau khi uống nước đóng chai Real Water và gia đình bé gái 7 tháng tuổi phải vô bệnh viện vì suy gan, ông Kemp cho biết.

“Sản phẩm căn bản như nước uống mà còn bị nhiễm bẩn thì làm sao người ta tin tưởng hệ thống phân phối thực phẩm,” ông Kemp nói với USA Today.

Tháng Ba, 2021, Real Water thu hồi sản phẩm sau khi nhận thấy sản phẩm của họ có lẽ liên hệ với những ca viêm gan không do virus (non-viral hepatitis) được báo cáo ở vùng Las Vegas khoảng Tháng Mười Một, 2020, theo thông báo của công ty đăng trên trang web Cơ Quan An Toàn Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA). Vài tháng sau, Real Water đồng ý ngưng sản xuất tới khi có thể đáp ứng tiêu chuẩn của liên bang.

Bệnh viêm gan không do virus là tình trạng gan bị sưng, có thể dẫn tới suy gan, theo Trung Tâm Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC). Triệu chứng gồm sốt, mệt mỏi, chán ăn, muốn ói, ói mửa, đau bụng, nước tiểu đục, đau khớp, phân màu đất sét hoặc xám, vàng mắt, vàng da.

Tới nay, Real Water vướng hàng loạt vụ kiện liên quan tới nước uống nhiễm hóa chất. Sản phẩm của họ bán trên Amazon.com và ở nhiều tiểu bang, gồm Nevada, Arizona, California, Tennessee, New York và New Mexcio.

Đơn kiện cũng nêu Hanna Instruments và Milwaukee Instruments là bị đơn, cáo buộc thiết bị thử nước của hai công ty này bị hư, góp phần làm nước bị nhiễm hóa chất, theo ông Kemp. (Th.Long) 

KHI BẤT THƯỜNG TRỞ THÀNH BÌNH THƯỜNG

Khi những bất thường được xã hội chấp nhận nó là bình thường

  1. Khi mà lương cán bộ chỉ 10 triệu/tháng mà họ có cuộc sống của triệu phú, tỷ phú. Nhưng toàn xã hội xem nó là bình thường và chấp nhận sự bất thường đó. 
  1. Khi mà doanh nghiệp nhà nước dùng tiền thuế của người dân để kinh doanh mà liên tục thua lỗ mà lãnh đạo lại vẫn được tăng lương. Nhưng toàn xã hội chấp nhận và xem đó là bình thường.

 3. Khi mà người dân nộp đủ tất cả các loại thuế để nhà nước sử dụng chi cho giáo dục, y tế mà ở đó mãi không thể tốt lên, để người dân vẫn phải bỏ tiền túi ra để mua nó bằng mỹ từ “xã hội hoá”, hoặc “tự nguyện”. Nhưng xã hội vẫn thừa nhận nó là bình thường và chấp nhận nó. 

  1. Khi mà vì ơn nghĩa trong quá khứ mà bảo vệ kẻ sát nhân, xâm lược và là tội phạm quốc tế và xem đó là tự hào. Nhưng xã hội lại cổ vũ và thừa nhận. 
  1. Khi mà lẽ phải hiển hiện rõ ràng mà người ta vẫn không thừa nhận, không bảo vệ và còn được đồng tình. 
  1. Khi mà môi trường giáo dục, y tế sặc mùi kim tiền và bạo hành mà vẫn phải im lặng để không làm mất uy tín của ngành. Nhưng xã hội vẫn chấp nhận nó là bình thường. 
  1. Khi mà hiệu trưởng có quyền đuổi học học sinh chỉ vì phụ huynh em đó dám có ý kiến. Khi mà cô giáo có quyền nhục mạ, xúc phạm nhân phẩm học sinh chỉ vì mua bánh không đúng ý… mà xã hội vẫn xem đó là bình thường và chấp nhận. 
  1. Khi mà mọi lời hứa toàn viễn vông và sáo rỗng đã được chứng minh qua hàng vài chục năm. Nhưng nó vẫn tiếp diễn và vẫn được xã hội kỳ vọng và hào hứng đón chào. 

Tóm lại, khi những điều bất thường mà được xã hội chấp nhận nó là bình thường thì ở đó, người dân là nguyên nhân chứ không phải là nạn nhân.

 Fb Le Xuan Nghia

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũ Bằng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhà báo Xuân Ba kể lại: “Đêm chuyển về sáng một ngày tháng tư năm một ngàn chín trăm tám tư, Vũ Bằng thều thào với Long kiếm cho ba cái điếu?! Trời đất, bệnh nặng vậy mà hút chi?

Nhưng ông cứ kéo cái điếu về phía mình kéo một hơi rồi ho sặc sụa… Vũ Bằng sau hơi thuốc dim lim vẻ như khỏe lại? Nhưng rồi cứ lịm dần, lịm dần… Nhà văn Vũ Bằng trút hơi thở cuối cùng lúc bốn giờ ba mươi sáng … Vũ Bằng nghèo quá, túng quá! Tội vạ bất như bần!”

Ông sinh ngày 3 tháng 6 năm 1913, mất hôm 7 tháng 4 năm 1984. Nhân sinh thất thập cổ lai hy. Dù vậy, tôi vẫn muốn nhà văn của chúng ta thọ thêm đôi ba tuổi nữa (ráng lết luôn qua thời bao cấp) để những ngày tháng cuối đời – may ra – đỡ cơ cự và cùng quẫn hơn được phần nào.

Còn nếu VB sống được tới trăm năm thì càng tốt vì sẽ có cơ hội để xem Red Family (phim Nam Hàn) của Kim Ki-duk và Lee Ju-hyoung, trình chiếu lần đầu vào năm 2013. Tâm sự (hay tâm trạng) của người làm “điệp báo” như ông đã được gói ghém trong tác phẩm điện ảnh này.

Kịch bản như sau:

Ở vùng ngoại ô của thủ đô Soul có hai gia đình sống cạnh nhau. Bên này là 4 công dân bình thường của Nam Hàn. Còn bên kia là 4 điệp viên (giả dạng thường dân) của Bắc Hàn, xâm nhập miền Nam để thu thập tin tức và xử tử những người đào tị từ miền Bắc.

Với thời gian, nếp sinh hoạt ở miền Nam (nói chung) cũng như của gia đình hàng xóm (nói riêng) đã dần thay đổi cách nhìn cũng như quan niệm của những kẻ nằm vùng. Họ chuyển biến dần dần. Nói cách khác, dung dị hơn, là họ bị miền Nam cảm hóa (hay Nam hóa) bởi cuộc sống tương đối an lành và nhân bản nơi vùng … địch tạm chiếm!

Cuối cùng, đám điệp viên Bắc Hàn đã từ bỏ công tác được giao phó, dù biết rằng tính mạng của mình và của thân nhân (còn ở bên kia giới tuyến) đều sẽ bị lâm nguy. VB cũng thế. Tuy thuộc diện tập kết ngược nhưng ông cũng bị “Nam hóa” hoàn toàn, và cũng đã quên mất vai trò điệp báo.

Tập kết ngược là sao?

Báo Quân Đội Nhân Dân (số phát hành hôm 22/04/2017) tường thuật: “Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7-1954), cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế mới. Bộ đội, cán bộ ta ở miền Nam tập kết ra Bắc, địch chuyển quân vào Nam và cưỡng bức dân di cư. Thời kỳ đó, Cục Địch vận (nay là Cục Dân vận) xác định: Cuộc chiến chưa thể kết thúc, cần phải đưa những đồng chí trung kiên vào miền Nam … những đồng chí được cử vào Nam (“tập kết ngược”) là chấp nhận đi vào nơi gian khổ, đầy hy sinh, thử thách.

Trong số họ có đồng chí vợ yếu, con nhỏ, có nữ đồng chí đang có người yêu, chỉ chờ tổ chức đám cưới… Vậy mà khi được giao nhiệm vụ, họ đều sẵn sàng, hào hứng lên đường, không mảy may đắn đo, suy nghĩ. Các đồng chí ra đi được giáo dục về tư tưởng và trang bị các nội dung về nghiệp vụ công tác binh-địch vận. Họ vào Nam bằng nhiều cách: Đi máy bay, đi tàu thủy theo đường di cư; có người vào giới tuyến rồi vượt biển vào Nam…”

Không ai biết VB đã vào Nam bằng cách nào nhưng tôi biết (chắn chắn) là ông chả có thực hiện được bất cứ một “công tác binh – địch – vận” nào sất cả. Ông chỉ viết thôi, viết rất hay (và viết không ít) trong suốt thời gian nằm vùng:

Miếng Ngon Hà Nội (bút ký, 1960)

Miếng Lạ Miền Nam (bút ký, 1969)

Bốn Mươi Năm Nói Láo (hồi ký, 1969)

Mê Chữ (tập truyện, 1970)

Nhà Văn Lắm Chuyện (1971)

Những Cây Cười Tiền Chiến (1971)

Khảo Về Tiểu Thuyết (biên khảo, 1969)

Thương Nhớ Mười Hai (bút ký, 1972)

Người Làm Mả Vợ (tập truyện ký, 1973)

Bóng Ma Nhà Mệ Hoát (tiểu thuyết, 1973)

 Nước Mắt Người Tình (tiểu thuyết, 1973)

Tác giả Anh Chi (báo Đại Biểu Nhân Dân) tường thuật: “Vũ Bằng được các nhà văn nổi tiếng Sài Gòn (cũ) ghi nhận là một hiện tượng văn chương đặc biệt trong đời sống văn chương – báo chí miền Nam. Họ chỉ biết, ngoài năm mươi tuổi ông lập gia đình với bà Phấn, rồi lao động vất vả để nuôi vợ con. Họ đâu có biết, nhà văn tài danh Vũ Bằng còn là một chiến sĩ quân báo, vào Sài Gòn để chống Mỹ cứu nước.”

Má ơi! VB vừa làm báo, vừa viết văn, “ngoài 50 mươi mới lập gia đình” (lần nữa) và còn phải “lao động vất vả để nuôi vợ con” thì ổng “chống Mỹ cứu nước” vào lúc nào? Chiến sỹ quân báo VB – rõ ràng – không lập được một thành tích nào ráo trọi nên cả chục năm sau (sau khi cách mạng thành công, miền Nam được hoàn toàn giải phóng) ông vẫn không được trả công, và không mua nổi một cái vé tầu về Bắc:

“Vũ Bằng sở dĩ chưa ra Bắc chứ phải không ra vì một lý do cực kỳ đơn giản, Vũ Bằng nghèo quá, túng quá! Tội vạ bất như bần! Không có cái tội chi khổ bằng cái nghèo! Vĩnh viễn nhà văn Vũ Bằng không có bao giờ có dịp một lần tìm về nơi mười hai thương nhớ ấy…” ( Xuân Ba. “Vì Sao Vũ Bằng Sau 75 Không Ra Bắc.” Tiền Phong Online – 17/05/2020).

Rồi mãi 16 năm sau, sau khi ông qua đời, đến tháng 3 năm 2000 Cục Chính Trị mới có “văn bản xác nhận nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo.” Cũng trong năm này, ông được CTN Trần Đức Lương trao tặng “Huân Chương Chống Mỹ Cứu Nước Hạng Ba về thành tích điệp báo nằm vùng.”

Coi: ông tập kết ngược vào Nam để thi hành công tác từ hồi 1954 lận. Gần hai phần ba thế kỷ sau, nhà nước mới có “văn bản xác nhận” cùng với một tấm “huân chương hạng ba”! Sao kỳ cục vậy kìa?

Báo Nhân Dân (số ra ngày 27 tháng 12 năm 2013) giải thích bằng những câu chữ hơi gượng gạo:

“Hơn 30 năm sống trong Sài Gòn, dưới vỏ bọc một nhà văn ‘quay lưng lại với Cách mạng’ để hoạt động trong mạng lưới tình báo, Vũ Bằng đã phải chịu nhiều điều tiếng và sự lạnh nhạt của bạn văn, cũng như người đời. Ngay cả sau khi đất nước thống nhất, Vũ Bằng vẫn mang tiếng ‘dinh tê, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đứt đoạn trong đường dây tình báo.”

Tôi thì ngại rằng có “sự đứt đoạn” với cả cái đám tập kết ngược (vào Nam) chứ chả riêng chi họ Vũ. Mấy thấp niên qua chưa bao giờ thấy có tổ chức một buổi lễ vinh danh (hay tưởng niệm) cho nhóm người này cả, dù “ăn mày dĩ vãng” vốn là sở trường của cái nhà nước hiện hành.

Thực trạng của tập thể cán bộ (“đứt đoạn”) này khiến tôi nhớ đến nhận xét của một vị chỉ huy – thuộc lực lượng tình báo Bắc Hàn – khi nói về đám cán bộ nằm vùng dưới quyền, trong cuốn phim Red Family: “No matter how much traning, they all fall to capitalism.

Thảm thiệt?

Nhưng nói thế (“chúng đều ăn phải bả của Chủ Nghĩa Tư Bản – they all fall to capitalism”) nghe e hơi cường điệu. Cũng như bao nhiêu cán bộ tập kết ngược khác, VB chả có bị hấp dẫn hay cuốn hút gì bởi Chủ Nghĩa Tư Bản đâu. Cuộc sống tương đối an bình, no đủ, thoải mái ở miền Nam đã khiến họ nhận chân được mọi sự, rồi “tự chuyển biến” và “lơ là” công tác – thế thôi.

Riêng VB thì biến từ một anh điệp báo (giả dạng nhà văn) thành một nhà văn thứ thiệt: độc đáo, tài hoa, có đông đảo độc giả và được rất nhiều người ái mộ. Đó là món quà tặng mà miền Nam đã dành cho ông trong thời gian tập kết.

Thế còn miền Bắc?

Tuy muộn, nhà cầm quyền Hà Nội – cuối cùng – cũng đã trao cho VB cái “Huân Chương Chống Mỹ Cứu Nước Hạng Ba” rồi đấy. Vậy còn thắc mắc, khiếu nại gì nữa – cha nội?

Thưa không. Có ai dám “thắc mắc” hay “khiếu nại” gì đâu. Tôi chỉ mong sao, ở bên kia thế giới, VB hổng biết có cái vụ huân chương (thổ tả) này thôi. Tội ổng chớ!

Sự khác biệt giữa hai miền Nam-Bắc là lòng tử tế

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Nguyễn Văn Lục

“Bản chất của chế độ ngụy là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân Bắc Kỳ’’ (Nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh, sau 1975, Hoài Thanh và vợ dọn vào Sài gòn ở theo lời kể lại của nhà phê bình Vương Trí Nhàn)

Phần Một

 Miền Bắc: biểu tượng của hận thù

Miền Bắc, sau 1954, được gọi là Bức màn tre do những hoàn cảnh xã hội, chính trị khắc nghiệt, khép kín. Kinh tế sau 1975 kiệt quệ vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Sau này phải nêu khẩu hiệu xóa đói, giảm nghèo.  Chính những nhà lãnh đạo miền Bắc cũng  không ai nhìn nhận những lỗi lầm tầy trời này: Dân chúng trong Nam vốn dư ăn, dư mặc nay phải ăn bo bo, khoai mì như tầng lớp dân chúng miền Bắc. Do thông tin một chiều, họ  che đậy, dấu kín riết rồi họ không hiểu chính họ, hoặc hiểu mà không chịu hiểu thì làm thế nào họ hiểu nếp sống,con người miền Nam được.

Học giả Nguyễn Mạnh Tường viết: “Aucun sentence n’est prononcé. Les communistes ont le gout de la clandestinité. Toutes les décisions sont prises et appliqués dans un silence de mort. »

(Không có bản án nào được công bố. Người cộng sản thường có thói quen che dấu. Vì thế các quyết định và việc thi hành đều tuyệt đối bí mật)

(Nguyễn Mạnh Tường. Un Ex-Communié. Hà Nội 1954-1991. Procès d;un intellectuel, trang 229)

Sự tử tế của miền Bắc hầu như không thể có theo như nhận xét của của nhà phê bình văn học kỳ cựu Hoài Thanh. Hơn ai hết, ông HT đã hiểu rõ chân tướng của dân miền Bắc cũng như chính quyền ấyChính quyền cộng sản chủ trương phân biệt Bạn-Thù dứt khoát, chính tà phải phân minh vì chủ nghĩa Marx- Lénine là chân lý sáng ngời, tuyệt đối. Thù thì phải bôi đen, triệt tiêu và chỉ đáng được được gọi là Thằng.

Đó là một nửa đất nước đã bị nhồi sọ, bị đầu độc từ trên xuống dưới lâu nó trở thành quán tính.

  • Tỉ như bác sĩ nhi khoa Nguyễn Khắc Viện, người đã để nửa đời người sống bên Pháp, một trí thức hàng đầu hiểu rõ văn hóa, hiểu rõ thế nào là tự do dân chủ của nước Pháp. Vậy mà khi viết một bài so sánh Cách Mạng và dân Sàigònđăng trên báo Nhân Dânđã ví von Cách mạng là Sen, dân Sàigòn chỉ là Bùn và ông NKV đã bị phản ứng dữ dội từ giới trí thức Sàigon. Nguyễn Trọng Văn lên tiếng trên báo Nhân Dân, nhưng bài của NTV dĩ nhiên đã không được báo Nhân Dân đăng..

Điều đó trước tiên bày tỏ một lập trường rõ rệt giữa Bạn-Thù và hàm ý sự khinh miệt.  Cách mạng tốt đẹp quá, thơm tho quá!! Cách mạng là SEN. Dân Sài gòn chỉ là bọn rác rưởi thối tha là đĩ hoặc điếm. Vì thế Dân Sài gòn chỉ là Bùn.

Không có Bùn làm sao Sen nở hoa. Chỉ nhắc nhở ông có bài thơ: Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá sen. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn..

 Nhưng đối với cá nhân ông bác sĩđiều quan trọng là : Chế diễu như thế là đi đúng đường lối của chế độ.

  • Tỉ như Đào Duy Anh, sau 1975, một học giả ăn mòn bát đĩa cộng sản, hiểu cộng sản từ chân tơ kẽ tóc, hiểu những mánh khóe tiểu xảo. Vậy mà khi vào miền Nam gặp các trí thức trong Nam, ông theo thói quen quán tính vẫn gọi xách mé: thằng Diệm. Nhiều người lảng tránh ông. Đào Duy Anh là tác giả tập ký: Nhớ nghĩ chiều hôm. Cuốn tập ký lược thuật các công trình biên khảo của ông viết trong nhiều năm. Trần Huy Liệu khuyên ông: muốn sống, muốn tồn tại thì liệu viết mà lách nữa. Ở đây, quả thực ông đã thuộc bài do trần Huy Liệu chỉ dẫnTội cho tiếng tăm một học giả. Viết mà sợ, viết mà phải lách vì sợ bị liệt vị, bị thổi còi!!!

Có thể đây chỉ là một sự lỡ miệng, theo thói quen. Như một Lapsus linguae. Nhưng nó cũng chỉ ra rằng gọi thằng Diệm là đúng đường lối.

Cũng chả trách được họ. Ông Hồ, theo ông Nguyển Minh Cần(1928-2016) kể lại trong những buổi họp đảng, có những đồng chi tuổi 80 vẫn bị gọi là các chú theo cái cách cá mè một lứa.

Nghĩ lại, tôi vẫn thấy tiếc nuối cho thời kỳ vàng son nhân hậu của cha ông để lại như thời của vua Lý Thánh Tông, thời trước thuộc địa. Nhà tù không phải là công cụ để trừng phạt. Do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, lấy cái tâm, cái đức làm đầu. Nhà vua có lòng thương người chỉ thị cho triều thần phải phát mền, chiếu và gạo cho tù nhân vào năm 1055:

Sống trong cung điện có lồng ấp than sưởi và mặc nhiều áo ấm, mà trẫm còn thấy lạnh. Trẫm hiểu nỗi khổ của người tù bị gông cùm, không đủ cơm ăn, không đủ áo mặc ấm để che thân thể, nhiều tù nhân chết một cách oan uổng trước khi bị luận tội. Trẫm thương cho họ.”

(Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I. Hà Nội 1972, trg 284)

Phải nhìn nhận với nhau rằng: thật không dễ để làm người tử tế. Còn khó hơn làm người anh hùng. Bởi vì làm người anh hùng chỉ là việc của một thời. Còn làm người tử tế là việc của cả một đời.

Đất nước chúng ta do thời chiến tranh 1946-1954 và nhất là 1955-1975 đã tự đánh mất đi cái lòng thương người, mất đi cái lòng tử tế . Ngoài cuộc chiến quân sự bạo tàn mà mạng người như cỏ rác, còn có cuộc chiến tuyên truyền ra rả mỗi ngày, đề cao cuộc chiến giải phóng, cứu nước thần thánh. Nhiều nhà lãnh đạo miền Bắc còn để lại các hồi ức như:

  • Trần Cung, Bùi Công Trừng, Hà Phú Hải, Văn Tiến Dũng, Xuân Thủy. Họ từng nếm trải cơm tù như Đỗ Mười 5 năm tù Hỏa Lò, sau trốn thoát được vào năm 1945. Nguyễn Văn Linh, hai lần ở Côn Đảo 1930-1935 rồi 1940-1945 và nhất là Hồ Chí Minh với “Nhật Ký trong tù “.Những bài học cay đắng trong tù, được tích lũy thành một mốiNuôi Thù.
  • Nuôi Thùấy đổ lên đầu nhân dân miền Nam vốn hiền lành và vô tư sau 1975. Trong các hồi ký đó, sự thật là bao nhiêu? Pha chế thêm mắm muối bao nhiêu? Nào ai biết được. Chỉ người trong cuộc mới biết được.
  • Ngoài ra, còn những người tù không thuộc phe cộng sản đáng kính nể đòi đời ghi ơn như Nguyễn Thái Học với Đời trong ngục, 1935 tiếp theo là những nhân sĩ như Hồ Hữu Tường, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. Những người tù này được xã hội kính nể nhất trong xã hội Đông Dương. Ngô Đức Kế được tôn xưng là chí sĩ Ngô Đức Kế. Phan Chu Trinh được chính ông Trùm thuộc địa Marius Moutet kính nể. Huỳnh Thúc Kháng được một người thợ may biếu ttặng cụ một bộ đồ không tính tiền.

(Đọc thêm tác giả Peter Zinoman: The Colonial Bastille. A history of Imprisonment in Viet Nam 1862- 1940)

Về phía những người lãnh đạo cộng sản sau này như Đỗ Mười, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng đều là những người nếm trải cơm tù. Chứng chỉ đi tù trở thành tấm thẻ bài để họ đi vào cửa chính.

Sau này, vẫn thái độ hận thù, miền Bắc vẫn tiếp tục ra rả luận điệu tuyên truyền với những khẩu hiệu: gọi là Mỹ-Ngụy- Mỹ xâm lược- thực Dân  kiểu mới-Giải phóng miền Nam..

Họ chỉ quên một điều là sau lưng họ còn có Nga, có Tàu. Ai kéo xe tăng, đại pháo vào miền Nam. Thế thì Ai xâm lược ai. Ai giải phóng ai? Miền Nam có cần ai giả phóng? Ai Ngụy hơn ai?

  • Vì thế, có lần ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thủy gặp phái đoàn miền Nam- đại diện là nhóm phản chiến, lực lượng thứ ba- được ra thăm miền Bắc, ở khách sạn Thắng Lợi. Ông Thọ nói rằng tiếng Ngụycần bỏ đi. Ông Xuân Thủy phụ họa: Bây giờ mà còn dùng chữ Ngụy là mất dấu nặng. Là Nguy.

Và xin trích dẫn văn bản chính thức của Cục báo chí xuất bản,  số 06BCXB.

Kính gửi: Các cơ quan Thông Tấn  Xã, Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình,các Báo chí Miền, Thành phố và các Tỉnh.

Chấp hành ý kiến của  lãnh đạo, chúng tôi xin thông báo các đồng chí được rõ:

Kể từ nay, các bài viết đăng trên báo và phát trên đài, ta nên thống nhất dùng chữ : Những người trong quân đội và chính quyền cũ thay cho chữ:  Ngụy quân và ngụy quân Sài gòn đã dùng trước đây.

Mong các đồng chí chú ý thực hiện đúng.

Này 17 tháng hai năm 1976.

TM Ban lãnh đạo

Cục Báo chí Xuất bản.

( Ký tên và đóng dấu)

T.T.T

(trích dẫn hồi ký của Hồ Ngọc Nhuận Đời hay Chuyện về những người tù của tôi, trg 52-53-.Ông vừa mới qua đời 1935-2022)

Tưởng rằng từ nay tiếng Ngụy đã đi vào dĩ vãng. Gần nửa thế kỷ, nó vẫn còn văng vẳng đâu đây.

Sự lăn xả nhập cuộc như lên đồng trong chiến tranh lúc ban đầu cũng như sự dứt khoát khước từ khi không còn chiến tranh của bà Dương Thu Hương là một tấu khúc hoàn hảo của toàn thể xã hội miền Bắc.

Bà Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn đã tuyên bố: “ Tôi thuộc thế hệ lớn lên trong“ chân lý không bao giờ thay đổi” rằng “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” , chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thủ đô Hà Nội và chủ tịch Hồ Chí Minh là quốc gia hợp pháp duy nhất trên toàn bộ mảnh đất hình chữ S. Chính quyền Sài gòn là bù nhìn. Rất lâu sau này, tôi mới nghe danh xưng Việt Nam Cộng hòa.

Chỉ sau này nhiều người trong số họ mới có thái độ phản tỉnh”

Biện chứng vào và ra là thái độ của nhiều đảng viên kỳ cựu khác- ước mơ-lầm lỡ và bội phản- như tướng Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nhật ký Tô Hải  Hồi ký một thằng hèn, nhất là nhà văn Trần Đĩnh với cuốn Đèn Cù.

 Họ đã lột xác trong đau đớn, bị khinh bỉ, tủi nhục và nỗi cô đơn.

Tóm một lời:

Khi biết được mình đã lầm lỡ thì tóc trên đầu đã bạc phơ!! 

 

Phần Hai về miền Nam với lòng tử tế.

*Lòng tử tế qua các bài học vỡ lòng: Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư   

Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư xuất bản từ năm 1935 do Nha Học Chính Đông Pháp. Soạn giả là các ông Trần Trọng Kim và các ông Nguyễn Văn Ngọc,  Đặng Đình Phúc, Đỗ Soạn… Nó gồm 4 cuốn : một cuốn cho lớp đồng ấu tương đương lớp một. Một cuốn cho lớp dự bị tương đương lớp hai. Cuốn Sơ Đẳng tương đương lớp 3. Và cuốn Luân lý Giáo khoa thư nói chung.. Nó thâu tóm toàn bộ các bổn phận làm Người tử tế. Nó bắt rễ sâu trong tâm thức người Việt Nam trong cách ứng xử với cha mẹ tổ tiên, với Trời đất, với thày dậy,với chính bản thân mình, với họ hàng, bạn bè, với kẻ ăn người ở, dĩ chí cả với súc vật. Nó như một gia tài đồ sộ, một thứ Văn Hóa Phi Vật Thể (Văn hóa phi vật thể là những giá trị tinh thần như Ca dao, Tục ngữc- khác với Văn hóa vật thể như Đền đài, lăng tẩm. NVL). Văn hóa phi vật thể dành cho mọi người- không trừ- từ ngoài Bắc trước 54 và tồn tại trong Nam từ 1954-1975.

Lớp trẻ tiểu học coi như những bài học vỡ lòng như hành trang chuẩn bị vào đời. Đây là những bài học giản dị, dễ hiểu, mỗi bài đều tóm tắt bằng một câu ngắn gọn, khắc in vào đầu mà nay chính bản  thân tôi còn nhớ được như:

  • Với Trời-Đất : Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm. Lấy rơm đun bếp…
  • Với Cha-Mẹ : Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con…
  • Với Con Trâu và Người đi cày : Trâu ơi ta bảo trâu nay. Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta..
  • Nó còn vô số các bài học thực tiễn khác như :Thờ cúng tổ tiên. Anh em như thể tay chân. Xuân đi học coi người hớn hở.  Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Lá rành đùm lá rách. Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Thấy người hoạn nạn thì thương. Không tham của người. Có học phải có hạnh. Chớ nên nói xấu người. Không nên hành hạ súc vật. Học trò đối với Thày. Nhất là câu chuyện ông Carnot về thăm thày cũ dễ thương và cảm động : ‘’ Thưa thày, con là Carnot đây..thày còn nhớ con không?

Nó được coi như cuốn cẩm nang hành trang cho tuổi trẻ miền Nam vào đời.

Trong Hương rừng Cà Mâu của nhà văn Sơn Nam, xb năm 1962, có truyện ngắn: ‘’Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” cho thấy hai người gặp nhau tình cờ, đã từng học QVGKT nên họ hiểu nhau. Dấu ấn tình tự con người bàng bạc trong thơ văn, trong nếp sống dân giã..của con người Đồng bằng sông Cửu Long, nơi còn được gọi là Văn minh miệt vườn.

Sau này, ở miền Nam QCGKT được đổi ra thành môn Công Dân Giáo Dục thời VNCH.

Nơi đây, tôi muốn bày tỏ riêng niềm tri ân đối với miền Nam mà tiêu biểu là các thày cô giáo bậc tiểu học đã cấy vào tâm hồn trẻ thơ của cả một lớp người trẻ trong tinh thần Giáo Khoa Thư và Luân lý Giáo khoa Thư. Không có họ, không có QVGKT thật khó có lòng tử tế.

Miền Bắc ngay từ 1935 đến 1954 cũng được thừa hưởng gia tài của QVGKT như miền Nam qua người dân Hà Nội.. Rất tiếc, sau 1954, Sách QVGKT  như nhiều tài liệu quy báu khác bị người cộng sản Hà Nội quăng vào sọt rác. Thay vì yêu cha, yêu mẹ, yêu tổ tiên ông bà. Thay vì yêu bạn bè, yêu súc vật thì nay thay thế bằng một hình tượng mới: Yêu Bác Hồ. Trẻ con đêm nằm mơ thay vì thấy Tiên thì nay chỉ thấy Bác Hồ.

Việc đầu độc đầu óc trẻ con như thế thật đáng xấu hổ.

Vì thế, ẫu người Người Tử Tế nay hiếm hoi ở miền Bắc. Động một tý là chửi bới, đâm chém theo luật giang hồ. Xã hội miền Bắc đảo lộn mọi trật tự về cha con, vợ chồng, bằng hữu. Nay thay bằng mẫu Người Anh Hùng đủ loại. Mẫu người anh hùng ở miền Bắc thì nhan nhản ngoài đường phố. Ra đầu ngõ là gặp.

 

  • Mẫu người Tử tế trong xã hội và chính quyền miền Nam. Miền nam có cái may mắn là được kế thừa lòng tử tế truyền lại. Vì thế, lãnh đạo chính quyền có các chính sách khoan hồng, hòa giải như chính sách binh vận, dân vận, nhất là Chiêu Hồi. Chính sách đó không hẳn là chính trị, nó vượt trên chính trịmà căn bản, nó dựa trên tình tự tình người như tình nghĩa đồng bào, tình nghĩa xóm làng, gia đình, họ hàng, bạn bè. Hiện tôi còn giữ trong tay tài liệu ghi rõ sự quan trọng của chính sách Chiêu Hồi thời đệ nhị Cộng Hòa: Bộ Thông Tin và Chiêu Hồi. Đánh nhau là truyện bất đắc dĩ. Chiêu Hồi mở đường cho sự gia nhập, hòa giải.

Cho nên, các tình tự con người trong các chính sách đó được coi trọng hơn là lập trường chính trị nhất thời.

Xin nêu ra một vài trường hợp được kể lại: Có lần nhà thơ Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ- một tướng võ biền đòi đem máy bay bỏ xuống miền Bắc- vào năm 1968 .Thanh Nghị vào khu. Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ cho phép anh đưa chị Tâm Vấn( vợThanh Nghị. Sau này bà Tâm Vấn lấy bác sĩ Nguyễn Đan Quế)) vào ở cư xá Không quân TSN. Tướng Kỳ đồng ý và thỉnh thoảng hhỏi thăm chị Tâm Vấn có khỏe không.? Đó là tình người- người vượt ranh giới chính trị.

Trường hợp Thanh Lãng cùng với Nguyễn Văn Trung đi chiếc xe hơi từ Vũng Tàu về, bị lính Mỹ lấy đá chọi chơi bể kiếng xe. Ông đã gửi thư đến tòa Đại sứ Mỹ phản đối việc đó. Tòa Đại sứ đã viết thư xin lỗi và đề nghị tiền bồi thường. Người Mỹ  biét tôn trọng dân chủ, biết tôn trọng luật pháp. Cứ giả dụ, thay vì lính Mỹ, đây là lính Cộng sản miềnBắc thì liệu họ có bồi thường không?

Những người bạn cùng lớp với tôi thời sinh viên đại học Đà lạt như Dương Văn Ba, Nguyễn Trọng Văn đều theo bên kia hầu như công khai, nhưng vì tình bạn nên chúng tôi làm lơ, chả ai tố cáo gì. Mà có tố cáo thì còn có thủ tục pháp lý, có nhân chứng, có luật sư nữa.

Rồi còn những nhóm thành phần thứ ba hàng vài chục người, thành phần phản chiến, hoạt động công khai như Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung có sao đâu!

Họ biết chắc một điều: Phản đối cứ phản đối. Họ không sợ đến an ninh của họ vì không có chuyện trả thù, không sợ công an chìm mò tới nhà bắt cóc mang đi.

Tôi nghĩ miền Nam thua miền Bắc vì cái tình người, cái lòng tử tế ấy.

Tôi hỏi và tự trả lời. Những hoạt động như thế có thể xảy ra ở Hà Nội hay không?

Vì thế, nhiều người phía bên kia do chính sách Chiêu Hồi đã quay về với chính quyền miền Nam mà con số lên đến vài chục ngàn người.

Tiêu biểu nhất có thể là nhà văn Xuân Vũ(ông là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, rồi được điều động vào miền Nam trên đường Trường Sơn. Rồi chấp nhận chính sách Chiêu Hồi.1930-2004)  ông đã có trên 90 đầu sách bao gồm truyện ngắn, truyện dài, hồi ký. Tôi đã từng đọc ông một cách hứng thú với lối viết không dài dòng, trung thực mà không tuyên truyền bịa đặt, xuyên tạc, cũng không phỉ báng ai, dù là chế độ miền Bắc mà ông đã từng đi tập kết. Cuốn Đường Đi không đến, tập hồi ký vượt Trường Sơn đã được trao giải thưởng văn chương toàn quốc, năm 1973.

Ngoài ra, hiện tôi cũng còn giữ một tập tài liệu photocopy khá đặc biệt nhan đề : ‘’Bội phản hay chân chính’’. Tác giả là cán bộ nằm vùng tên Dư Văn Chất bị mạng lưới tình báo của Đoàn Công Tác Đặc Biệt miền Trung Ngô Đình Cẩn giam giữ tại trại Lê Văn Duyệt, đường Tô Hiến Thành. Sau 1975, những người bị tù này được thả ra và chính quyền cộng sản không tin dùng, vì bị lê Đức Thọ coi là: Có vấn đề. Có người bị nghi ngờ vu khống, mất chức  hoặc chết oan uổng sau 1975 chỉ vì câu nói của Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức Trung Ương. Họ với họ từng là đồng chí, nay nghi ngờ nhau.

Người cộng sản lại sợ chính người cộng sản

Ông Dư Văn Chất đã viết tập tài liệu này để biện minh cho việc họ vẫn trung thành với đảng. Ông viết : ‘’Bằng tác phẩm này, tôi muốn nói với Đảng, với người thân và bạn bè, với người yêu và kẻ ghét, nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống.’ Tập ký 233 trang đề 19 tháng 8 và 2 tháng 9, 1992 và tháng 7, 1993. Đặc biệt nhờ ông Trần Quốc Hương ( tức Mười Hương), có thời là UVTƯĐ, linh hồn của cục tình báo viết thư tay cho ‘Anh Hai Tân, phó bí thư Thành Ủy và anh Tư Sang, phó bí thư Đảng Ủy TP. HCM, yêu cầu cho xuất  bản. Không được bị từ chối. Họ đành in phocopy 100 bản và đây là một trong những bản ấy’’.

Xin trích dẫn một phần tập tài liệu đề cập đến trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn.

Những sự kiện như thế là một thực tế có thật, chỉ có thể xảy ra ở miền Nam mà không thể nào xảy ra ở miền Bắc.

Sau này, với các trại Tập Trung Cải tạo một lần nữa sự độc ác, sự dã man của chế độ Hà Nội.

Tôi dám gọi các trại cải tạo ấy là một thứ tội ác chống lại con người. Ngụy quân, ngụy quyền bị nhồi sọ, tẩy não. Họ bị Giam không xét xử. Không thời hạn. Có người bị giam đến 17 năm tù”; Đó là một thứ nghĩa địa chôn vùi cuộc sống của người tù. Tất cả là một sự tính toán tinh vi, tàn bạo để con người chết chậm, chết dần dần đến tàn tạ. Nhiều người khi được thả về chỉ còn là một tấm thân tàn phế như một phế vật.

Vì thế, tôi mới ngộ ra, các nhà văn miền Bắc có từ: Sống mòn. Gớm thay, tội ác của cộng sản. Người miền Nam khó có thể quên được.

  • Lòng tử tế của miền Nam còn rộng mở đón nhận những tinh hoa từ miền Bắc.

Điều này càng cho thấy đất Bắc không thực hiện được lòng tử tế, vì toàn bộ miền Bắc bao phủ cuộc chiến với hận thù với xác quân thù. Quân thù nào, là ai? Chúng ta cứ thử nghe bài quốc ca- còn được gọi là Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác- được coi là là linh thiêng, là linh hồn của tổ quốc với nội dung rực lửa kể từ ngày 2 tháng chín năm 1945 đến nay đã hơn 70 năm!!:

‘’ Đoàn quân Việt Nam đi . Chung lòng cứu quốc

Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa

Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.

Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.

Đường vinh quang xây xác quân thù.

Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu

Vì nhân dân chiến đấu không ngừng

Tiến mau ra xa trường. Tiến lên. Cùng tiến lên

Nước non Việt Nam ta vững bền.

Bài hát xem ra không hợp thời nữa. Đáng nhẽ phải đổi.

Bản thân người viết đón nhận những nhà văn miền Bắc trong tâm tình tử tế và kính trọng. Những nhà thơ, những nhạc sĩ như gia tài chung của Việt Nam mà không chút nề hà. Những nhà văn lớp Nho học còn sót lại như Ngô Tất Tố. Ông từng đả kích những ông quan đầu sỏ như  Hoàng Trọng Phu, Phạm Quỳnh: ‘’Ấy thế mà ông chủ bút Nam Phong chỉ nhảy đánh vọt một cái lên làm được ghế Thượng Thư bộ giáo dục, bàng quan ai cũng phải ngạc nhiên. Người ta tưởng tượng như đứng trước một trò rất phi thường trong rạp xiếc.”

(Phê bình Văn Học, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài , trg 149).

Ông viết Việc Làng, Lều Chõng. Nhưng Tắt Đèn là tác phẩm hiện thực xuất sắc nhất với hình ảnh chị Dậu.Tôi đã có dịp đọc tất cả trong sự say sưa và nể phục. Rồi những nhà văn như Trần Tiêu (tác phẩm Con Trâu),ông là em ruội Khái Hưng .

Rồi một lượt những nhà văn như Nguyễn Tuân với Chùa Đàn,Tóc chị Hoài, nhất là Vang bóng một thời mà theo Vũ Thư Hiên ông được coi như bậc thầy của ngôn ngữ :” Chữ nào ông dùng cũng đắt, khó thay bằng chữ khác”. Rồi đến Tô Hoài, Nguyên Hồng.Tôi còn giữ Tuyển tập Nguyên Hồng, xb 1985. Đọc mà ngậm ngùi. Tô Hoài với Dế mèn phiêu lưu ký(1941), O chuột, xóm Mới, Nhà nghèo.

Cũng phải kể đến thi sĩ Hồ Dzếnh với những bài thơ lục bát mượt mà. Nói chi đến Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Khái Hưng, Nhất Linh trong các giáo trình của các lớp trung học đệ nhị cấp của VNCH trước 1975. Lưu Trọng Lư còn đình  đám hơn với bài Tiếng Thu , chỉ có 9 câu được phổ nhạc: Em không nghe mùa thu. Dưới trăng mờ thổn thức. Em không nghe rạo rực. Hình ảnh kẻ chinh phu. Trong lòng người cô phụ

Nhạc có Văn Cao sánh vai cùng với Trịnh Công Sơn, Phạm Duy một thời. Nhưng số phận ông cũng hẩm hiu mặc dầu là người sáng tác ra bài Tiến quân ca.

Nhưng trước hết và hơn cả là Nam Cao. Ông đã thênh thang vào ngưỡng cửa trường đại học văn khoa Sài gòn với truyện ngắn Chí Phèo. Đến ngay những nhà văn nổi tiếng một thời như Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến của miền Nam cũng không có được cái vinh dự ấy.

Trong khi số phận những nhân tài đất Bắc, số phận họ ra sao? Họ đều phải Tự kiểm duyệt, nơm nớp sợ bị thổi còi như Nguyễn Tuân, như học giả Đào Duy Anh, như Văn Cao và rất nhiều văn nghệ sĩ khác..

Văn học miền Bắc đã có cắm cột mốc: muốn làm gì thì làm, nhưng không được động đến chính trị. Tôi nghĩ đến một xứ chột bị bịt mắt, bịt mồm. Đời sống thì lao đao túng bấn như Văn Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài.

Số phận những trí thức, nhà văn miền Nam ấy ra sao sau 1975?

Còn ra sao nữa!! Bị Truy dập, bị tù đầy. Cả 200 giới văn nghệ sĩ Sài gòn đều bị bắt đi tù, đi cải tạo.

Mà cái tội chỉ vì cầm bút.

Như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ. Hoàng Hải Thủy, Tạ Tỵ, nhà văn Thảo Trường , Nguyễn Thụy Long và nhiều người khác vv..

Trong số đó có Nguyễn Văn Trung. Theo Nguyễn Văn Trung viết lại, một người trong Ủy Ban Quân Quản ĐHVK Sài gòn nói: ‘’ Chúng tôi không bố trí anh dạy học vì không thích hợp với cách chúng tôi đang thực hiện và để anh tự ý nghiên cứu theo lối nhìn của anh, thì những công trình nghiên cứu của anh sẽ ích cho đất nước nhiều hơn”.

Nhưng nếu không dạy học, không có lương lấy gì mà sống?

Đã hết đâu, ba năm sau, ông bị bắt giam, kết tội là: Phản động, C.I.A cho Mỹ(có thể bị tử hình hoặc chung thân). Vào chiều ngày 14-6-1978, một toán công an đến đọc bản án và xét nhà, ông đã chỉ cho họ vác tài liệu để họ lấy mang đi đầy một xe LaDalat. Sáng hôm sau, một xe tải lớn đến tịch thu kho sách trên sân thượng. Nhưng nghĩ thế nào, họ lại thôi. Chỉ niêm phong. Ông bị biệt giam một mình. Ngày ngày chỉ viết các bản tự khai. Sợ quá tưởng chết, ông viết chúc thư xin lỗi bạn bè, nhất là bà con anh em ruột thịt về những lời nói việc làm của ông. Con trai trưởng của ông chứng kiến cảnh bố bị bắt giam nên đã quyết định tìm đường vượt biển và đã sang định cư ở Canada.

Làm C.I.A cho Mỹ mà NVT không nói được một câu tiếng Mỹ. Phải nhờ Đặng Tiến hay Nguyễn Hữu Thái thông dịch. C.I.A nào nó mướn?

6 tháng sau, bất ngờ ông được trả tự do ở sở công an với lý do: Tạm tha vì lý do sức khỏe..

Từ Phản động đến tha là một điều không hiểu được.

Phần tôi, ngay từ hồi còn trẻ ở Hà Nội, trước 1954, tôi đã từng chứng kiến xác những người đàn ông, đàn bà, chết cong queo, ám khói đen, vì cộng sản gài mìn trên đường số 5-Hà Nội- Hải Phòng.

Lúc mới 5,6 tuổi, ở nhà quê, tôi đã nhìn thấy xác ngươi bị bỏ rọ, trương phình như lợn quay vập vờ đập vào kè đá cửa sông Đáy.

Những hình ảnh ấy đạp vào trí não tôi, không phai mờ

Tôi đã ghi lại những hình ảnh ấy trong một bài viết: Câu truyện của một dòng sông.

Đúng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn tâm sự :’’ Có lẽ lại phải viết thôi. Viết về tuổi trẻ bị đánh mất. Viết về tuổi già xót xa tuổi trẻ. Về nỗi xót thương nhau trong những trái tim mệt mỏi, những mái đầu bạc đang tính đếm những ngày còn lại. » ( Trả lời phỏng vấn với  nhà thơ Phạm Tường Vân trong dịp cuốn’’ Chuyện kể năm 2000 »  vừa được xuất bản).

Dù sao, sau này ông NVT cũng có được một câu để đời giống vài người như  Lý Chánh Trung, Ngô Công Đức.

Lý Chánh Trung trên báo Tuổi Trẻ, năm 1988 có viết một bài về môn học triết lý K. Marx mà trước đây ông đã chót từng ca tụng thì nay ông chế diễu ‘’Về một môn học mà thày không muốn dạy, trò không muốn học”.

Còn dân biểu Đối lập Ngô Công Đức thì thẳng thừng hơn: ‘’Tôi có hai điều không ưaĐó là tôi không thích những người công an.Tôi cũng không thích người Bắc Kỳ”. 

Nguyễn Văn Trung thì văn hoa hơn:’’ Tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự hủy diệt sau này”.

Phần tôi, tôi khẳng định triệt để, tôi giã từ người cộng sản ngay từ khi bước lên máy bay từ phi trường Gia Lâm di cư vào miền Nam năm 1955. Và sau nay cả đời tôi cho đến bây giờ.

Bởi vì họ thiếu tình người. Bởi vì họ không  là những người tử tế.

Cựu TNLT Nguyễn Viết Dũng: Tôi bị công an bắt cóc, tra tấn và bức cung

Ba’o Tieng Dan

RFA

7-10-2023

Cựu tù nhân lương tâm (TNLT) Nguyễn Viết Dũng, người vừa mãn hạn tù sáu năm vào cuối tháng trước, nói ông bị công an bắt cóc, tra tấn và bức cung trong thời gian tạm giam để điều tra về cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88 của Bộ luật Hình sự 1999.

Ông Dũng, 37 tuổi, bị bắt ngày 27/9/2017. Sau đó ông bị toà sơ thẩm ngày 12/4/2018 kết án bảy năm tù giam và năm năm quản chế. Trong phiên phúc thẩm ngày 15/8 cùng năm, ông được giảm án tù xuống còn sáu năm tù nhưng án quản chế bị giữ nguyên.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát tỉnh Nghệ An, từ đầu năm 2017 đến ngày 19/5/2017, ông Dũng đã có hành vi đăng tải trên trang Facebook cá nhân Dũng Phi Hổ bảy bài viết tự soạn thảo hay sao chép và chỉnh sửa có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ nhằm chống nhà nước Việt Nam.

Ngoài ra, ông Dũng còn làm và lưu hành 4 lá cờ vàng của chế độ Việt Nam Cộng hòa để treo tại nhà riêng ở huyện Yên Thành (Nghệ An) và một số địa điểm công cộng khác. Sau đó ông đã chụp ảnh, quay video để đăng lên trang Facebook cá nhân Dũng Phi Hổ để chia sẻ, phát tán lên các trang mạng xã hội.

Hơn một tuần sau khi trở về nhà từ Trại giam Nam Hà, ông nói với Đài Á Châu Tự Do (RFA):

Để đưa được tôi ra bục xét xử, cơ quan Công an thành phố Hồ Chí Minh và Công an Nghệ An đã áp dụng đầy đủ các biện pháp vi phạm dân quyền mà lẽ ra tôi được bảo vệ bởi pháp luật.

Tôi bị bắt cóc, tôi bị tra tấn, và tôi bị bức cung bởi cả ba cấp độ: ép cung, bẻ cung và mớm cung, bị xúc phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự và nhân phẩm”.

Ông cho biết, trước khi bị Công an Nghệ An bắt giữ, ông đã hai lần bị Công an thành phố Hồ Chí Minh bắt cóc, đánh đập rồi buộc phải lên máy bay về Nghệ An để rồi lại bị công an địa phương bắt cóc và đánh đập khi vừa xuống sân bay.

Tôi bị công an thành phố Hồ Chí Minh bắt cóc vào đêm 20/05/2016, họ đánh đập và giam giữ tôi trái pháp luật 2 ngày.

Sau đó vào ép buộc tôi phải bay về Nghệ An bằng một chuyến bay của Vietjet Air bằng chính tiền của cá nhân tôi. Tiếp đó Công An Nghệ An đã chờ sẵn để tiếp tục bắt cóc tôi tại chân cầu thang máy bay của chuyến bay trên tại đường băng của cảng hàng không quốc tế Vinh.

Sau khi bắt cóc được tôi vào ngày hôm đó là ngày 22/5/2016, Công an Nghệ An đã đánh đập tôi, đe dọa giết tôi, đe dọa hủy hoại thân thể tôi, giam giữ tôi trái pháp luật và đã bức cung tôi. Hơn thế nữa, họ còn ép tôi phải ăn hải sản trong thời gian biển Miền Trung khi đó vừa bị nước xả thải từ nhà máy Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đầu độc”.

Trong lần thứ hai vào tháng 7/2016, ngoài việc bắt cóc đánh đập và buộc phải quay về Vinh cũng bằng máy bay, công an thành phố HCM còn cưỡng đoạt một chiếc Iphone5-16GB màu trắng của ông.

Ông thuật lại lần bị bắt và bị khởi tố về cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước”, một điều của Bộ luật Hình sự thường được an ninh Việt Nam sử dụng để trấn áp giới bất đồng chính kiến.

Vào ngày 27/9/2017, tôi tiếp tục bị công an Nghệ An bắt cóc khi đang chuẩn bị ăn mì tôm trưa, tôi bị còng cả hai tay hai chân và tiếp tục bị đánh đập.

Sau khi đưa tôi vào Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An bằng một lệnh tạm giữ, đáng lẽ ra tôi phải được bố trí ở buồng dành cho người bị tạm giữ có camera giám sát là P9A1A bởi vì lúc đó phiếu nhập tiền lưu ký của tôi cũng ghi rõ tôi bị tạm giữ ở P9 A1A”.

Sau khi đã đánh đập ông trong xe trên đường đến Trại tạm giam Nghi Kim, công an cho nghi can hình sự đánh ông trong buồng tạm giam P1A1A không có camera giám nhằm khủng bố tinh thần ông.

Vào sáng ngày 28/9/2017, khi tôi báo cáo sự việc bị đánh đập cho cán bộ quản giáo lúc đó tên là Nguyễn Sỹ Hùng, người này đã lấy ra một cây thước dài ra để đánh tôi đồng thời nói ‘Tao không đánh mi thì ai đánh!’”

Ông Dũng cho biết trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra công an Nghệ An liên tục có hành vi đe dọa đánh đập và bức cung ông. Ông bị đánh đập và khủng bố tinh thần từ công an điều tra, công an trại giam, và tù hình sự được bố trí ở cùng buồng giam.

Ông nhớ lại thời gian sáu năm qua, kể từ khi bị bắt.

Quãng thời gian sáu năm vừa qua đúng là một khoảng thời gian phải nói là rất vất vả trong thời gian bị tạm giữ bị tạm giam cũng như quá trình thi hành án. Đương nhiên quá trình về sau này thì có đỡ hơn, tuy nhiên giai khốc liệt nhất phải nói rằng là rơi vào cái giai đoạn là tạm giữ tạm giam. Đây là một thời gian cực kỳ khốc liệt”.

Ông nói mình sẵn sàng đối chất với cơ quan Công an thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan Công an tỉnh Nghệ An, điều tra viên, cán bộ trại tạm giam cũng như những người được bố trí tạm giam cùng ông lúc đó về việc họ tra tấn, đánh đập ông.

Sau này, khi ở cùng trong phòng tạm giam một thời gian, chính những nghi can hình sự thú nhận với ông là họ đã được cán bộ công an tên là Lê Anh Tuấn giao nhiệm vụ đánh đập ông Dũng để buộc ông khuất phục.

Tuy bị tra tấn và bức cung nhưng trong cả hai phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm ông không dám phản cung và tố cáo việc mình bị đánh đập ép cung vì sợ tính mạng không được bảo toàn khi trở lại Trại tạm giam Nghi Kim, hoặc bị kết án nặng hơn.

Do vậy, trong cả hai phiên toà, ông nói rất ít. Trong phiên phúc thẩm, ông chỉ nói mình không có ý định chống phá nhà nước, nên được giảm án một năm.

Phóng viên có gọi điện cho lãnh đạo Công an tỉnh Nghệ An và Công an thành phố Hồ Chí Minh để kiểm chứng thông tin ông Dũng cung cấp, nhưng không ai nhấc máy.

Bị cùm chân và biệt giam khi phản đối lao động cưỡng bức

Sau phiên phúc thẩm, ông Dũng bị đưa đi thi hành án ở Trại giam Nam Hà (tỉnh Hà Nam). Tại đây, cũng như các tù nhân khác, ông bị buộc phải lao động đan lát bằng cói và song mây. Khi ông đòi được trả công lao động và viết đơn phản đối việc bị buộc lao động không có thù lao thì bị trại giam đưa đi kỷ luật cùm chân 10 ngày và sau đó bị biệt giam hai năm.

Ông cho biết những người tù khác như Phan Kim Khánh, Lê Thanh Tùng, và Lê Đình Lượng cũng bị kỷ luật như ông sau khi tham gia phản đối lao động cưỡng bức.

Sau hai năm bị biệt giam, ông được đưa trở lại giam cùng với những người tù khác, và lại bị buộc lao động không được trả lương, trừ thời gian bị ốm đau và chữa bệnh. Tuy nhiên, ông không bị ép sản lượng, chỉ làm theo khả năng trong khi nhiều người khác phải lao động cật lực để đạt được mức giao khoán.

Do bị đối xử hà khắc, nhất là trong thời gian kỷ luật cùm chân và biệt giam, sức khoẻ của ông suy giảm nghiêm trọng. Ông bị thoái hoá xương khớp nhưng chỉ được đưa đi khám bệnh ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam, nơi bác sỹ chuẩn đoán sai bệnh thành viêm cơ, và do vậy, đơn thuốc họ ghi cho ông không đúng dẫn tới việc ông uống thuốc nhưng bệnh không khỏi mà lại sinh thêm bệnh dạ dày.

Hiện giờ ông đang mắc hai bệnh thoái hoá xương khớp và đau dạ dày.

Kêu oan và yêu cầu giám đốc thẩm vụ án

Ông Dũng nói rằng mình bị oan và kết quả điều tra của Công an Nghệ An được làm ra bằng bức cung và nhục hình nên ông đã nhiều lần viết đơn đề nghị xem xét lại bản án của ông theo thủ tục giám đốc thẩm.

Cơ sở của việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đó là họ đã bắt cóc đánh đập bức cung tôi như thế này thì rõ ràng họ sai so với thủ tục tố tụng dân sự thôi đấy riêng điểm đấy đã đủ để viết một lá đơn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm”.

Sau khi bị chuyển đến Trại giam Nam Hà và biết được khả năng không bị đánh đập như khi còn ở Trại tạm giam Nghi Kim, ông Dũng đã ba lần gửi đơn khiếu nại về bản án của mình tới Toà án Nhân dân Tối cao, tuy nhiên, ông không nhận được phản hồi từ phía toà án cho dù cán bộ trại giam nói với ông rằng họ đã chuyển đơn của ông đi.

Ông có dự định sẽ gửi đơn kháng nghị trong thời gian tới sau khi chữa trị bệnh tật để nâng cao sức khoẻ.

Ông Nguyễn Viết Dũng, thường được biết đến với biệt danh Dũng Phi Hổ, từng bị tù 12 tháng với cáo buộc tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo Điều 245 của Bộ Luật hình sự 1999, sau khi tham gia cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh ở Hà Nội vào năm 2015.

Bản thân là một học sinh có thành tích học tập giỏi và đạt danh hiệu trong một đợt thi tháng của chương trình ‘Đường Lên Đỉnh Olympia’, một cuộc thi về kiến thức mang tính học thuật cao tại Việt Nam. Nhiều học sinh đoạt giải trong kỳ thi này đang học tập hay làm việc tại các nước ngoài như Úc.

Vào năm 2004, ông thi đậu vào Khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Bách khoa Hà Nội.

Vào tháng tư năm 2015, ông Nguyễn Viết Dũng chủ xướng thành lập “Hội Những Người Yêu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” và thường xuyên xuất hiện trong quân phục của lực lượng đó.

Một bác sĩ gốc Việt tại Orange County khai gian lấy $150 triệu từ quỹ COVID-19

Ba’o Nguoi-viet

September 29, 2023

LOS ANGELES, California (NV) – Một đại bồi thẩm đoàn liên bang đã buộc tội một bác sĩ điều hành các phòng khám ở thành phố Westminster và Garden Grove lừa gạt chương trình COVID-19 dành cho những bệnh nhân không có bảo hiểm bằng cách lập hóa đơn giả đòi tiền chính phủ lên đến khoảng $230 triệu, theo trang tin Local OC News cho biết hôm Thứ Sáu, 29 Tháng Chín.

Chính phủ đã trả khoảng $150 triệu dựa trên các hóa đơn giả nêu trên trên cho Bác Sĩ Đinh Hào Anthony, 64 tuổi, cư dân Newport Coast, theo Bộ Tư Pháp công bố hôm Thứ Tư.

Một bác sĩ gốc Việt điều hành các phòng khám ở Westminster và Garden Grove lừa gạt $150 triệu từ quỹ COVID-19. (Hình minh họa: Brian Van Der Brug/Pool/AFP via Getty Images)

Bản cáo trạng cáo buộc Bác Sĩ Hào với 12 tội lừa đảo chuyển tiền bất hợp pháp, năm tội rửa tiền (với hai tội trong số đó được cho là chuyển hơn $11 triệu vào tài khoản giao dịch chứng khoán cá nhân) và một tội cản trở công lý.

Ông Hào hiện được tại ngoại hậu tra sau khi nộp khỏan tiền thế chấp lên đến $7 triệu.

Bị cáo phải trình diện tại Toà Liên Bang ở Santa Ana vào ngày 30 Tháng Mười để nghe buộc tội trong phiên sơ thẩm.

Hai đồng phạm với ông Hào bị buộc tội vào Tháng Tư cũng phải đối mặt với tội danh mới.

Bà Đinh Trinh (Hằng) Hanna, 65 tuổi, ở Lake Forest, là chị của ông Hào, đã nhận tội âm mưu thực hiện hành vi gian lận chuyển khoản và thừa nhận đã giúp nộp hồ sơ gian lận để xin tiền từ Chương Trình Bảo Vệ Tiền Lương (PPP) và vay tiền trong chương trình khắc phục thiệt hại kinh tế do thiên tai (EIDL) để lấy về hơn $260,000 từ quỹ cứu trợ COVID-19.

Ông Hồ Matthew Hoàng, 66 tuổi, ở Melbourne, Florida, bị buộc tội vào ngày 2 Tháng Năm với tội âm mưu thực hiện hành vi gian lận chuyển khoản, lừa đảo chuyển khoản và rửa tiền liên quan đến các ứng dụng PPP và EIDL. Theo dự kiến, ông Hoàng ​​sẽ bị xét xử vào ngày 6 Tháng Hai, 2024. (MPL)