Tàn nhẫn

Tàn nhẫn

Tôi không có dịp đi nước ngoài nhiều, nên không biết ở ngoài người ta có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo hay không. Nhưng nhìn từ góc độ y đức tôi thấy chuyện dành ra một tài khoản và ban bệ chỉ để lo chuyện sức khỏe cho lãnh đạo thật là vô minh.

Thời còn làm trong bệnh viện nhà nước tôi chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Thường dân không có thuốc phải nằm chờ chết. Cán bộ cao cấp thì được lệnh mua thuốc ngoại, giá bao nhiêu cũng được duyệt. Thường dân nằm la liệt hành lang bệnh viện. Cán bộ nằm phòng có máy lạnh. Đó là thời 79-85. Nhưng thời nay cũng chẳng có gì khác. Cũng như giữa giàu và nghèo, khoảng cách giữa dân và quan càng ngày càng lớn. Quan thì giàu, dân thì nghèo.

Người ta nói một chuyện làm một chuyện khác. Nói xóa bỏ giai cấp, nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tờ nhân dân, nhưng trong thực tế là cha mẹ nhân dân. Ngôn ngữ dưới thời XHCNVN không còn ý nghĩa thật của nó nữa.

Sài Gòn có bệnh viện Thống Nhất dành cho lãnh đạo. Nhưng ít ai biết rằng bất cứ tỉnh nào cũng có một khu trong bệnh viện chỉ dành cho lãnh đạo. Phải bao nhiêu tuổi đảng mới được nằm ở các khu đặc trị đó. Tôi không có vinh dự điều trị cho các vị lãnh đạo vì tôi đoán lý lịch của mình không “sạch” mấy (do học y thời trước 75). Nhưng tôi được biết đồng nghiệp điều trị cho các lãnh đạo than trời lắm. Họ nói các vị lãnh đạo coi bác sĩ chẳng ra gì, đối xử với bác sĩ như là cấp trên và cấp dưới. Chán lắm. Bực tức lắm. Nhưng nhiệm vụ và y đức thì phải làm, chứ chẳng ai ham làm trong các khu đặc trị cho lãnh đạo cả.

Thật ra, mấy khu đặc trị là những khu nguy hiểm trong bệnh viện. Dù trang bị tốt hơn các khu khác, nhưng tử vong vẫn cao trong mấy khu đặc trị. Lý do đơn giản là bác sĩ chẳng dám quyết định gì cả. Cái gì cũng hỏi cấp trên. Có lẽ nhiều người không biết, nhưng có ca phải hỏi ý kiến … cấp ủy. Không có hệ thống y khoa nước nào quái đản như nước ta, bác sĩ xin ý kiến cấp ủy để điều trị! Có cụ bị để nằm cho đến chết vì chẳng ai dám quyết định, ai cũng sợ trách nhiệm. Có lần tôi tham dự hội chẩn về một trường hợp và bị ám ảnh lâu dài về hệ thống y tế dưới thời XHCN. Ông cụ không phải là cán bộ cao cấp, nhưng là bố của một ông thứ trưởng, nên cũng được nằm khu dành cho lãnh đạo. Ông cụ bị cao huyết áp và tiểu đường, bệnh rất hay gặp. Người ta hội chẩn mãi, xin ý kiến mãi, thậm chí ông thứ trưởng bay vào Sài Gòn thăm bố. Chẳng ai dám làm gì! Ba tuần sau, ông cụ qua đời. Chính cái hệ thống phân biệt đối xử và giai cấp làm cho ông cụ chết.

Chính cái hệ thống đó đang giết người dân nữa. Đọc blog thấy có tin Thanh Hóa “đầu tư xây dựng trụ sở Ban Bảo vệ – Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Thanh Hóa“. Có cái gì ghê tởm ở đây. Chúng ta biết rằng người dân Thanh Hóa đang đói. Gần 250.000 người đói. Vậy mà người ta thản nhiên tập trung tiền bạc vào việc chăm sóc sức khỏe cán bộ!

Thử nhìn qua hai hình dưới đây để thấy bản chất của chế độ:

http://images.yume.vn/buzz/20110216/image/2.jpg

Đâu chỉ Thanh Hóa mới lo chăm sóc sức khỏe cán bộ. Trung ương cũng thế. Chẳng những huy động, mà còn huy động toàn hệ thống. Thử đọc bản tin Huy động sức mạnh của toàn hệ thống trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thì biết người ta muốn gì. Đọc bản tin đó gần chục lần tôi vẫn không giải thích được tại sao người ta lại vô cảm, ngạo mạn, ngang nhiên, trắng trợn như thế.

Trong khi bệnh viện các cấp quá tải, trong khi hai ba bệnh nhân phải nằm chung giường, trong khi bệnh nhân nằm ghế bố la liệt ngoài hành lang, mà có một giai cấp ngang nhiên huy động toàn hệ thống để chăm sóc cho một nhúm cán bộ đảng viên. Họ xem bệnh viện, bác sĩ, y tá, chuyên gia như là tài sản của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Không hiểu trong lịch sử nước nhà, đã có một giai cấp thống trị nào chẳng những bất tài mà còn tàn nhẫn với người dân như hiện nay. Tìm hoài trong cổ sử mà chưa thấy. Tạm thời có thể nói đảng viên là giai cấp tàn nhẫn nhất với người dân trong lịch sử Việt Nam?

BSNgọc

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN III

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN III
Phan Sinh Trần
09.2013
Bạn có bao giờ cảm thấy lòng lâng lâng tin yêu Chúa khi hát những bài thánh ca lúc Nhập Lễ, lúc Rước Lễ không ? Vâng, tôi biết Bạn cảm thấy điều đó nhiều lần, tôi cho rằng đó là một khởi đầu tốt trong sự Ca Ngợi Chúa. Đã có “Sự Đổi Mới” cùng với muôn vàn ơn phước trong đời sống các Thánh khi họ ca ngợi, thờ phượng Chúa hết lòng, hết sức vì Kinh Thánh đã hứa: “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Gioan I: 15). Một khi ta được ở trong Chúa, thì đương nhiên sẽ có đầy tràn ơn sủng vì Chúa vốn là nguồn của mọi sự thay đổi tốt đẹp, mọi ơn chữa lành, mọi ơn lành khác.

  1. 1. Chúa có quà tặng khi ta ca ngợi Ngài , tôi xin chia sẻ về một chuyện vui vui về ca ngợi, số là Mùa lễ Tạ Ơn năm 2009, Gia đình tôi đã muốn mời Nhóm Sinh hoạt trong Giáo Xứ đến nhà để họp mặt nhân dịp Lễ Tạ Ơn. Vợ Chồng chúng tôi chuẩn bị thức ăn đãi khách, vì là ngày lễ tạ ơn, chúng tôi đã làm món gà tây đút lò như thông lệ ở mọi nơi trên nước Mỹ. Vào ngày lễ Tạ Ơn, nhà nhà làm món gà Tây, văn phòng, hãng xưởng cũng đãi nhân viên bằng món truyền thống gà Tây, giầu nghèo gì cũng độc một món gà Tây đút lò, gà Tây chiên. Theo khẩu vị người Việt thì đây là một món khô khan và mau ngán.
Khi đó hai vợ chồng chúng tôi, đã vừa làm vừa hát Ca Ngợi Chúa rất là tâm đắc và ăn khớp với nhau. Chúng tôi hát những bài ưa thích, “Lời Ngài là sức sống đời con”, “ I love you Lord and I lift my voice to worship you” … Mọi sự chuẩn bị về đồ ăn, thức uống đã diễn ra khá là suôn sẻ, đến khi các Anh Chị Em trong Nhóm đến và thưởng thức món ăn, ai cũng trầm trồ là “chưa bao giờ ăn món gà tây đút lò mà lại ngon như vậy”. Thật là ngộ ! vì, đây là món lặp lại ở mọi nơi, ăn nhiều rôi nên không có gì hấp dẫn, nhưng mà … gà Tây cộng với sự ca ngợi Chúa vào hôm đó , đã là một món ăn rất đắt hàng, Chúa biến nó thành một món ăn ngon độc đáo như lời thực khách nhận xét “chưa bao giờ ăn gà tây đút lò nào mà ngon như thế ! ”. Có lẽ lời khen này là một sự thực vì kể từ đó đến nay, chưa bao giờ cả nhà tôi và các Anh Chị Em khác đã có dịp thưởng thức gà Tây với cùng chất lượng như lần đó mặc dù cách làm và công thức vốn đều giống như nhau. Thực là một sự chăm sóc, tỉ mỉ của Chúa, Ngài ban cho một món quà nhỏ, vui tươi cho cả Nhóm , gồm Chủ và Khách khi chúng tôi vừa làm món ăn vừa Ca Ngợi Chúa. Cũng có cách giải thích khác là khi ta ăn trong tâm tình yêu mến và cảm thông thì món ăn sẽ ngon hơn. Dù là cách giải thích nào đi nữa thì đó cũng là một bầu khí tốt lành, và một sự suôn sẻ đặc biệt mà Chúa ban cho bắt đầu bằng sự Ca Ngợi phải không Bạn ?
  1. 2. Ca Ngợi đích thực thì có sự hiện diện đầy quyền năng của Chúa: Lời hứa của Chúa Giê Su là… đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ”. Chỉ cần hai ba người cầu nguyện thôi là đã có Chúa rồi huống chi ta có cả Nhóm hết lòng ca ngợi thì Chúa sẽ ngự đến, Ngài hiện diện với đầy oai quyền trong khi chúng ta cùng ca ngợi Chúa. Dịp mùa Chay năm 2008 , Nhóm chúng tôi cùng với các Nhóm khác dự tĩnh tâm và chầu Chúa Thánh Thể tại tu hội Tận Hiến , Texas. Chúng tôi ca ngợi Chúa Thánh Thể trong giờ chầu rất hăng say và sốt sắng, đến cuối buổi chầu, Cha Duy An Nguyễn manh Hùng đã rước Chúa Thánh Thể đi từng hàng ghế để chúc lành cho mỗi người tham dự. Khi Chúa đi đến hàng ghế của gia đình Chị N, thì mọi người trong hàng ghế này gồm chồng, em và người nhà đều té nhào, đổ rụp xuống giống, họ như cây chuối đổ xuống trong cơn gió bão lớn . Chị N hét lến “ Chúa ơi , con thờ lạy Chúa, con tôn vinh Chúa, con biết Chúa rồi, con biết rồi …” còn anh T chồng của chị N thì vừa té vừa rên rỉ “Lạy Chúa , Lạy Chúa”. Khi đó tôi đang quì ở hàng ghế sát phía sau, Tôi cũng té nhào, chúi nhủi còn bao tử tôi thì nó nâng lên hạ xuống đến mấy lần một cách vi veo. Chưa bao giờ trong đời tôi ở trong tình trạng bao tử lên xuống với biên độ lớn như vậy, cho dù là đi máy bay vào ngày trời giông tố . Tôi thắc mắc, Chúa Thánh Thể đã ban ơn gì cho Chị N . Tới khi Chị N, vốn là tín hữu mới tin Chúa được 1 năm lên chia xẻ và làm chứng cho mọi người về ơn Chúa , chúng tôi mới vỡ lẽ: vì là người bên lương khi trước, nên theo thói quen, chị đã cầu nguyện theo lối dân gian như vầy:
Lậy Chúa , nếu Chúa đang hiện diện nơi đây thì xin Chúa hãy đụng chạm vào lòng con và lòng Anh Chị Em chung quanh .
Và Chúa đã nhận lời Chị, Chúa tỏ uy quyền của Ngài cho Chị và những người chung quanh trong một buổi cầu nguyện Ca Ngợi lòng thương xót Chúa rất sốt sắng.
  1. 3. Ca Ngợi Chúa có thể làm cho mình tha thứ, làm cho mình thay đổi đến mức độ hoàn toàn. Vì trong khi ca ngợi Chúa, nếu mình còn oán giận ai, thì mình sẽ không được Chúa nhận lời, lời ca ngợi của mình trở nên khô khan và vô nghĩa giống như nó đi vào hư vô và hoàn toàn không có sự hiện diện của Chúa trong lúc minh ca ngợi nữa, điều này sẽ thôi thúc lương tâm ta mau chóng làm hòa với người mà mình giận hờn để lại được có sự hiện diện của Chúa trong đời sống ca ngợi của mình, trường hợp này, thật là giống đúng như Lời Chúa căn dặn trong Kinh Thánh: “… hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,24).
Có một chị luật sư nọ, đã chia sẻ trong Nhóm của chúng tôi, khi chị bị một người bạn thân nói xấu và làm thiệt hại về uy tín và tình cảm, Chị buồn bã và tức giận vô cùng, không thể nào chấp nhận được một người thân của mình đã có hành xử coi thường và bêu xấu đời tư, thực là một diều kị cho uy tín của một người hành nghề liên quan đến công lý như Chị, đó là chưa kể tâm lý của nghề “ Thày cãi “ đòi hỏi phải làm cho ra ngô, ra khoai cái việc nói xấu vô lý này. Chị đã không thể ngưng lại lòng căm ghét và nghĩ xấu cho bạn, Chị liền vào phòng riêng ca ngợi Chúa trong khoảng 45 phút , càng hát nhứng bài hát tâm tình về lòng bao dung và độ lượng của Chúa kính yêu thì Chị càng thấy lòng nhẹ nhàng, thư thái. Đến khi ca ngợi Chúa xong, thì Chị đã có thể hoàn toàn quên đi lỗi lầm của người Bạn. Ca ngợi Chúa thật là có sức biến đổi lòng người , từ oán giận thành tha thứ , từ ghét bỏ thành chấp nhận và thông cảm.
Tôi cũng đã thử cách này của Chị, tôi là một người khi nóng giận với vợ thì lỗ mãng và nói nhiều câu làm cho vợ đau khổ cả nhiều năm trời, tôi lại còn có cái tự tôn và kiêu ngạo ngầm. Có những lần, bất đồng ý kiến, tôi cãi nhau với vợ tới mức muốn bùng nổ căn nhà. Áp dụng cách của Chị luật sư , khi cãi nhau đến mức nặng tệ , tôi bỏ đi, lái xe đến sân nhà thờ, ngồi trong xe, tôi xin lỗi Chúa và ca ngợi Chúa, khi đó thường thì Chúa sẽ làm cho mình nhìn thấy cái lỗi lớn là sự nóng nảy, hiếu thắng của mình, rồi tiếp tục trong tinh thần nhẹ nhàng, thanh thản của Ca ngợi tôi sẽ không còn coi phần ai thắng, thua , ai phải, ai sai là quan trọng nữa, và cho đến cuối buổi ca ngợi thì tôi đã có thể cầu nguyện cho người mà mình vừa cãi vã. Khi đó , việc quay về nhà để xin lỗi vợ, ôm hôn vợ sẽ trở nên là việc đương nhiên và dễ dàng , mặc dù chỉ vài giờ trước mình còn coi vợ như kẻ không thể nào ở chung. Tôi nhận ra rằng, chỉ có Chúa qua sự ca ngợi mới có thể thay đổi lòng tôi cách chóng vánh như vậy mà thôi. Cũng có lần giận một thày Phó tế nọ về cách điều hành lớp Giáo lý , tôi đã mất Chúa cả mấy tháng trời vì Chúa đã nói rồi hãy để của lễ lại đó …, đi làm hòa với người anh em ấy đã nếu như tôi không làm được thì Chúa không thèm nhìn đến những lời ca ngợi vô nghĩa , của tôi. Rồi trong một dịp ca ngợi Chúa trong Thánh lễ, được ơn Chúa thúc đẩy, tôi đã chay ra bắt tay và làm hòa với Thầy.
Như vậy, từ thái độ quên đi cái “TÔI” lớn bự đến chỗ có một tâm tình hết sức đơn sơ như trẻ em và tùy thuộc vào ý Chúa, khao khát làm theo ý Chúa . Tất cả, tôi đã chỉ có thể có được khi ca ngợi và kết hợp với Chúa.
Ơn đổi mới được ban cho người Ca Ngợi Chúa về mọi mặt nhất là về tinh thần, tính hạnh và tình yêu thương. Thực ra, “Sự Đổi Mới” trong đời sống mình khi ca ngợi sẽ là mấu chốt của mọi ơn khác, ơn lành phải bắt đầu từ nơi chính người ca ngợi Chúa trước rồi lan sang cho người mà mình muốn cầu nguyện cho.
Bạn ơi, chúng ta hãy cùng bước vào trong sự hiện diện của Chúa bằng cách ca ngợi Chúa với hết linh hồn, hết tâm tình như Vua Đa vít xưa, để chính hôm nay, Bạn được cảm biết cụ thể rằng Chúa Giê Su ngọt ngào, thương xót, thánh khiết và đẹp đẽ dường nào qua muôn vàn ơn phước mà Chúa ban cho.
Hãy hoan hô Yavê, toàn thể cõi đất,
hãy phụng thờ Người trong niềm hoan vui,
hãy đến trước nhan Người trong tiếng hò reo! (Thánh Vịnh 100: 1-2)
Phan Sinh Trần

KHOAN DUNG

KHOAN DUNG

Bạn thân mến,

Có bao giờ bạn bị lạc mất một món đồ mà phải vất vả đi tìm không?  Lúc chưa kiếm được thì tâm trạng bạn ra sao?  Có bồn chồn nóng nảy, bực mình cay cú không?  Còn khi tìm được rồi thì bạn cảm thấy thế nào nhỉ?  Có thấy vui và nhẹ nhõm không?

Tuần trước tôi để cái thẻ nhớ của máy chụp hình trong chiếc áo khoác ngoài mà quên bẵng đi.  Rồi cứ loay hoay cả buổi đi tìm.  Moi móc từng góc cạnh của căn phòng nhỏ để tìm cho bằng được.  Tìm mãi không ra, cứ ngỡ rằng đã mất, mãi cho đến khi tình cờ đem quần áo đi giặt, lục túi áo mới bắt gặp nó.  Tôi thở phào nhẹ nhõm!

Mất cái thẻ nhớ của máy hình thì tôi có thể mua mấy cái khác thay thế.  Nhưng tôi quyết tâm kiếm cho được vì trong đó có chứa một vài tấm hình phong cảnh tôi chụp ở VN.  Những tấm hình đó có đầy ở trên internet, có khi còn đẹp hơn là hình tôi chụp nữa.  Nhưng đây là những tấm hình quan trọng, có giá trị với tôi nên tôi đã vất vả đi tìm.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng nói lên một tâm tình tương tự như thế.  Ba dụ ngôn của Tin Mừng Luca chương 15 nói về con chiên lạc, đồng bạc bị mất, và người con đi hoang.  Cả ba dụ ngôn đều nói lên trọn vẹn tâm tình của một Thiên Chúa yêu thương và nhẫn nại.  Cả ba đều diễn tả niềm vui khi tìm được cái đã mất.  Cả ba dụ ngôn đều nhấn mạnh vào hai cụm từ được lập đi lập lại: “mất” (Hy lạp: apollymi) và “tìm đuợc” (heuriskô) và sự  vui mừng khi tìm thấy điều đã thất lạc.

Này nhé, trong dụ ngôn con chiên lạc, ta nghe thấy: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó!’”

Cũng tương tự như thế trong dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất, ta lại nghe: “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi,
bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.”


Và trong dụ ngôn người cha và hai đứa con, ta cũng nghe: “Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.  Và họ bắt đầu ăn mừng…  Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.”

Trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, điểm nhấn là hai dụ ngôn đầu chứ không phải là dụ ngôn thứ ba vốn đã được đọc trong Chúa nhật thứ IV Mùa Chay năm nay.  Ở đây nói lên sự quan tâm của Thiên Chúa cho từng cá nhân.  Lòng khoan dung của Thiên Chúa, chứ không phải thái độ ăn năn thống hối của tội nhân, là đề tài Hội Thánh mời chúng ta cùng suy tư.

Con chiên, đồng bạc và người con thứ bị thất lạc trong những hoàn cảnh khác nhau.  Con chiên đi lạc vì nó không định hướng được với đàn.  Có thể vì nó u mê đi lạc, có thể vì nó ham ăn quên cả đường về, hay có thể vì nó vấp ngã đâu đó, bị cả đàn bỏ lại đằng sau.  Còn đồng bạc không tự mình đi, nhưng có thể nó bị mất vì rơi rớt đâu đó.  Có khi nó bị lẫn lộn trong hàng trăm thứ vật dụng cỏn con.  Nhưng đồng bạc lại không thể kêu lên như con chiên để người chủ đi kiếm.  Nó phải an phận trong bóng tối cho đến khi ai đó tìm thấy được.  Còn người con thứ thì có đủ tự do chọn lựa, nhưng anh ta đã chọn lầm và đã phải trả một giá đắt cho sự sai lầm của mình.  Thông thường chúng ta nghĩ rằng anh ta ra đi vì ham chơi đua đòi, muốn độc lập, hoặc bất mãn với cha mình.  Nhưng biết đâu đó là vì hoàn cảnh mà anh ta phải ra đi.  Có thể vì cuộc sống ở gia đình quá ngột ngạt buồn tẻ, có khi vì bị người anh ganh tị chèn ép.  Dù sao anh ta cũng đã bỏ nhà ra đi, và đối với gia đình làng xóm, anh ta đã thất lạc.

Dù đến từ nguyên nhân nào, sự thất lạc cũng đều gây cho người bị mất mát một nỗi xót xa nuối tiếc.  Một con chiên, có thể là một con chiên nhỏ trong đàn, có đáng giá là bao mà người chăn phải vất vả đi tìm cho kỳ được?  Một đồng bạc, chỉ là một đồng trong chuỗi tiền dùng làm đồ trang sức, có giá trị thế nào để người đàn bà phải đốt đèn quét nhà tìm cho kỳ được?  Phải chăng hai dụ ngôn này cho thấy hình ảnh của mỗi người chúng ta trong ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa?

Từ cấp số 100 đến cấp số 10, Thiên Chúa luôn quan tâm đến từng cá nhân và quý trọng từng người một, như họ là những người duy nhất.  Không phải bởi vì 99 con chiên không lạc mà Ngài bỏ qua một con nhỏ nhoi.  Không phải vì 9 đồng bạc còn đó mà Ngài bỏ mặc một đồng bị rơi vào xó xỉnh nào đó.  Càng tha thiết gắn bó với của bị mất bao nhiêu, thì càng thôi thúc kiếm tìm bấy nhiêu.  Càng quý trọng vật bị mất bao nhiêu, thì càng làm cho nỗi vui mừng thêm chất ngất khi tìm gặp lại bấy nhiêu.

Đó cũng là tâm tình của người cha.  Ông vui mừng khôn tả khi thấy bóng con thất thểu từ đằng xa.  Ông quên hết những ưu phiền sầu muộn, những sỉ nhục dằn vặt mà đứa con thứ đã để lại cho ông khi nó đòi chia của rồi ra đi.  Ông quên hết tất cả.  Ông tha thứ tất cả.  Bây giờ chỉ còn lại trong ông là nỗi vui mừng hoan hỉ vì “con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” Niềm hân hoan sung sướng là tiếng cười dòn dã, là lời khoe báo tin vui cho mọi người.

Thiên Chúa của chúng ta là thế đó.  Như lời thánh vịnh mô tả
“Ngài chậm giận và chan chứa tình thương.  Ngài không xử với ta như ta đáng tội.  Và không trả cho ta theo giá của ta” (TV 103).

Như người chăn chiên tìm lại được con chiên bị lạc, như người phụ nữ kiếm được đồng bạc bị mất, như người cha mở tiệc, giết bê béo ăn mừng, Thiên Chúa hân hoan vui mừng khi một người con của Ngài ăn năn trở về hơn là bao người lành thánh.  Và Ngài mong ước chúng ta chia sẻ niềm vui này với nhau.  Trong dụ ngôn thứ ba người cha kiên nhẫn mời người anh cả bước vào bàn tiệc để cùng chung vui với cha, với em.

Ba dụ ngôn của Tin Mừng Luca chương 15 là câu trả lời của Đức Yêsu cho những lời phàn nàn và ganh tị của người Biệt Phái.  Nhưng đó cũng là những lời cảnh tỉnh cho chúng ta hôm nay.  Thông thường mỗi khi phạm tội, chúng ta có khuynh hướng khoan hồng nhân nhượng với chính mình, nhưng lại ít khoan dung với kẻ khác.  Qua ba dụ ngôn này Đức Yêsu nhắc nhở chúng ta về lòng thương xót vô lượng của Thiên Chúa, cho chúng ta và ngay cả cho những người chúng ta không chấp nhận trong cuộc sống của mình – những người mà chúng ta coi là con chiên lạc hay người con hoang đàng.

Trong cuộc sống chúng ta hôm nay có biết bao người sa đọa, lầm đường lạc lối.  Như người con thứ, họ cũng đã phải trả một giá khá đắt cho những sai lầm của họ.  Nhưng liệu chúng ta có sẵn sàng đón nhận họ trở về?  Liệu chúng ta có là những chướng ngại vật ngăn cản họ đến với Chúa Cha?  Liệu thái độ xét đoán và óc phê bình của chúng ta có làm họ chùn bước để trở về với Thiên Chúa qua Hội Thánh?  Liệu chúng ta có tập mở rộng lòng thương xót, đồng cảm để đón nhận họ như người anh chị em cùng một Cha trên trời?

Lòng quảng đại và khoan dung của chúng ta là thước đo mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa.  Chúng ta cần tập lòng khoan dung để có thể đón nhận người anh chị em lầm đường lạc lối với lòng thương xót, như lòng từ bi Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.  Và như thế, chúng ta tiếp tay với Thiên Chúa để chia sẻ sự tha thứ và hoà giải trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng khoan dung với anh em con như Chúa đã khoan dung nhân hậu với con.

Antôn Bảo Lộc


From: ngocnga_12 &

Anh chị Thụ Mai gởi

 

 

 

 

 

 

Bình luận về cái chết của anh Đặng Ngọc Viết

Bình luận về cái chết của anh Đặng Ngọc Viết

Đăng bởi lúc 1:53 Sáng 13/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (13.09.2013) – Sài Gòn – Các báo đài trong nước loan tin, anh Đặng Ngọc Viết (SN 1971) nổ súng khiến ông Vũ Ngọc Dũng, Phó giám đốc Trung tâm phát triển Quỹ đất TP Thái Bình tử vong và có ít nhất 4 cán bộ khác bị thương, tại Trung tâm Phát triển Quỹ đất Thành phố, thuộc UBND TP. Thái Bình, vào 14 giờ, ngày 11.09.2013. Sau đó, anh Viết dùng súng tự vẫn.

Hành động nổ súng của anh Viết là sai trái, vì nó đã cướp đi mạng sống, làm tổn thương người khác, nhưng nhiều người khi bình luận về vụ việc này cũng đưa ra những nguyên nhân sâu xa của nó.  Và nếu nhà cầm quyền không quay về với nhân dân, không đặt lợi ích của nhân dân lên lợi ích của nhóm nhỏ đang cầm quyền nước VN thì có thể sẽ xảy ra nhiều vụ việc tương tự như thế. Trầm Tử nhận xét: “Những dấu hiệu cho một “cuộc cách mạng” trong tương lai gần nếu chính quyền Cộng sản này không chịu sáng mắt ra.” Ngọc Thu bình phẩm: “Mình không khuyến khích những hành động thanh toán lẫn nhau, nhưng một khi công lý, lẽ phải không được tôn trọng, thì những chuyện xảy ra như thế là điều tất yếu. Người dân đã bị dồn tới bước đường cùng rồi. Nếu họ không biết lắng nghe dân sẽ còn nhiều vụ thảm khốc xảy ra hơn thế nữa.” Lê Anh Hùng cho rằng: “Gần 90 triệu “thế lực thù địch” sắp sửa vùng lên hết rồi”.

“Anh Viết bỏ trốn về quê ở xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và dùng súng tự sát.” Báo Nhân Dân xác nhận.

Theo báo Vietnamnet, anh Viết đã dùng loại súng col quay bắn đạn chì do Trung Quốc sản xuất (lại Trung Quốc !).

Cư dân mạng bày tỏ sự thương tiếc cho hoàn cảnh của anh Viết. Trương Ba Không chia buồn: “Mình đã khóc khi đọc 6 bài báo về một chủ đề. Khóc âm thầm cho những nỗi đau riêng của những kiếp người kém may mắn so với số đông cộng đồng nhưng khi chợt biết anh Đặng Ngọc Viết đã tự sát sau khi xả súng vào một nhóm quan chức địa phương Thái Bình thì mình đã khóc oà thành tiếng cho nỗi đau của cả một xã hội loạn.” Tien Hung Tran bày tỏ: “Tay cán bộ và cả cậu Viết đều là nạn nhân của cái xã hội đen tối khi mà toàn trị đến hồi điên loạn. Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận… Xin cho người nằm xuống, thấy bóng Thiên đàng, cuối trời thênh thang.”

Trong bài viết Tiếng gọi từ cái chết của tác giả Lê Diễn Đức  nhận định: “Bi kịch về cái chết của anh làm lắng đọng một điều tâm đắc: Cuộc sống là vô cùng cao quý, nhưng đôi khi vì những giá trị đích thực của nó, con người buộc phải chết khi không còn nơi nào nương tựa cho pháp lý, không còn lòng tin nào đối với thế lực cầm quyền. Cái chết của anh là tiếng gọi đánh thức lương tri và tinh thần tranh đấu chống lại bạo quyền của những người còn sống. Con giun xéo mãi cũng quằn, đó là bài học lớn cho chế độ chuyên quyền, cố vị hiện tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.”

“Nguyên nhân ban đầu được xác định là do chuyện mâu thuẫn giải phóng mặt bằng. Cách đây khoảng 1 tháng, Đội giải phóng mặt bằng có tiến hành giải quyết đền bù cho một số trường hợp, trong đó có trường hợp của gia đình anh Việt nhưng gia đình anh Viết không đồng tình với quan điểm giải quyết của cơ quan chức năng”. Đất Việt cho hay.

Osin HuyDuc nhận định: “Cái gọi là “chênh lệch địa tô” mà những người cộng sản đòi xóa bỏ đang trở lại và khiến họ trở nên mù lòa đồng thời đẩy người dân tới “bước đường cùng”. Quả bom Đoàn Văn Vươn đã không đủ để cảnh báo một hệ thống đã cạn kiệt khả năng thức tỉnh.” Sinh Lão Tà nhận xét: “Cuộc đấu tranh giai cấp có vũ trang ở Thái Bình đã có hậu quả đầu tiên. Nguyên nhân được tạm xác định là do việc giải tỏa, đền bù đất không hợp lòng dân”

Những lời nhận định trên có thể hiểu rõ hơn qua lời của bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nói: “Từ tiền thương binh liệt sĩ, đến tiền của trẻ em vùng cao, tiền dành cho người nghèo…, ăn hết. Ngay ở giữa thủ đô Hà Nội cũng xảy ra chuyện ăn vacxin…”. Báo Tiền Phong kết luận: “[Họ] ăn của dân không từ cái gì”.

Theo Wikipedia, tỉnh Thái Bình thành lập từ năm 1890, tách từ Nam Định và phủ Tiên Hưng và huyện Hưng Nhân (từ tỉnh Hưng Yên) là tỉnh có truyền thống cách mạng. Tháng 5-1930, ở Thái Bình đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình. Tháng 6-1942, nông dân Tiền Hải đòi chia ruộng công. “Tiếng trống Tiền Hải” đã đi vào lịch sử của Đảng Cộng Sản.

Trong vòng 10 năm (1987 – 1997) ở Thái Bình đã “xảy ra trên 300 (ba trăm) vụ mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu tố, khiếu nại về đất đai, tố cáo cán bộ xã đã cấp, đã bán (nhiều diện tích đất) sai thẩm quyền; tham nhũng, tiêu cực trong quản lý kinh tế, tài chính ngân sách xã…”.

HT, VRNs

Khi lòng tin bị đánh mất.

Khi lòng tin bị đánh mất.


Lm. Minh Tường

9/10/2013
Đọc bản cam kết đề ngày 3/9/2013 giữa lãnh đạo xã Nghi Phương-Nghi Lộc-Nghệ An với bà con giáo dân Mỹ Yên, Gp Vinh, tôi buồn cho cả lãnh đạo và người dân, cho quê hương đất.

Đối với lãnh đạo vì đã không giữ lời hứa với người dân

Đối với người dân vì đã mất niềm tin nơi người lãnh đạo.

Theo tôi được biết, phần đa người dân chỉ biết ông chủ tịch xã là người “to nhất”; là người điều hành mọi việc, lo cho người dân về đời sống tinh thần cũng như vật chất.

Ngoài ra họ ít quan tâm, hay không quan tâm ông bí thư xã là ai, làm gì… hay là công an cũng vậy.

Bởi đó, lời hứa của ông chủ tịch là một điều vô cùng cao quý, trân trọng và tin tưởng đối với họ. Sau bao ngày chờ đợi khi người thân của họ bị bắt giam mà không hiểu lý do gì, được ông chủ tịch hứa (bản cam kết) họ đã vui mừng chờ đợi. (Trước yêu cầu của người dân, tôi Nguyễn Trọng Tạo thay mặt UBND xã cam kết với người dân sáng mai trực tiếp đề nghị công an tỉnh thả người trước 16 giờ ngày mai (04/9/2013).Nếu đến thời gian trên mà công an tỉnh Nghệ an không thả ông Ngô Văn Khởi và ông Nguyến Văn Hải thì UBND xã chịu trách nhiệm trước nhân dân).

Chắc rằng đêm đó rất nhiều người đã không ngủ để ”đến hẹn lại lên” để nhận người thân về với gia đình như lời hứa của ông chủ tịch. Đến hẹn lại lên; họ lại không thấy như vậy, mà thay vào đó là “họ ngỡ ngàng nhận ra là không hề có chuyện thực hiện lời cam kết đó! Không hề có chuyện thả người. Ngược lại nhà cầm quyền đã bày binh bố trận với hàng trăm công an, cảnh sát cơ động, dân quân tự vệ, chó nghiệp vụ. lựu đạn cay…để án ngữ lối vào trụ sở của UBND xã.

Chưa dừng lại ở đó (theo video và người dân thuật lại) họ còn khơi mào cho “côn đồ” ra tay trước để hy vọng người dân bị kích động (nếu có), để có cớ bảo là người dân “gây rối trật tự “, theo kiểu ba ông cảnh sát không mặc sắc phục lục soát đồ đạc của người đi Lễ, sau đó lại kết tội cho hai ông, Hải và Khởi là người gây rối trật tự.

Và kết cục lời hứa của ông chủ tịch là “ít nhất 30 người bị thương, trong đó có cả phụ nữ và thiếu niên. Một số nạn nhân còn trong tình trạng nguy kịch tính mạng”TCTGM.

Đúng là:

“Bước sang năm con Khái

Sáng ăn phở bò tái

Họp nghe thơ “chị gái”

Ra về khéo vãi đái.

Chưa giải thích lời hứa cũng như sự thất hứa của mình đối với dân, ông chủ tịch này tiếp tục “phán” với dân qua kiểu nói: “Qua các nhà báo, tôi xin gửi lời đến bà con giáo dân hãy bình tĩnh, nhận thức được rõ vấn đề, đừng để bị xúi giục, lợi dụng làm những việc sai trái mà tập trung vào lao động, sản xuất, phát triễn kinh tế gia đình, xây dựng quê hương, đoàn kết lương giáo, sống tốt đời đẹp đạo”.Báo QĐND

Đến đây tôi nhớ tới câu nói của ai đó “Cả thế giới phải kiêng nễ người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Người Trung Quốc lại sợ Việt Nam vì Việt Nam nói một đàng làm một nẽo…”

Qua bản cam kết này, tôi chắc rằng, nếu sau này ông chủ tịch xã Nghi Phương có họp hành hay ban hành nghị quyết gì thì người dân vẫn luôn nhớ về “chị gái”cùng với kết quả mà “chị gái” đã tặng cho họ. Nói cụ thể hơn vì bản cam kết này đã đẩy người dân hiền lành vô tội phải đi tới chỗ: “Gây hỗn loạn, hoang mang và bất bình cho quần chúng; đặc biệt, ít nhất 30 người trong đó có nhiều phụ nữ bị đánh trọng thương, nhiều người trong tình trạng nguy kịch tính mạng” .

Lm Minh Tường.

Chấp nhận kế hoạch của Chúa

Chấp nhận kế hoạch của Chúa

Tác giả: Trầm Thiên Thu

Bộ phim “Unstoppable” (Không Thể Ngăn Chặn) của đạo diễn Kirk Cameron tập trung vào kế hoạch của Thiên Chúa. Khi người ta gặp tình huống khó khăn hoặc không biết chính xác mình muốn gì, đa số đều đổ lỗi cho Chúa. Trong đa số trường hợp, người ta không nhận ra cách mà Thiên Chúa làm cho mọi người hằng ngày.

Bộ phim “Unstoppable” đào sâu đức tin và cách nó ảnh hưởng mọi người. Thiên Chúa đã hy sinh rất nhiều và chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận kế hoạch của Ngài – bằng mọi giá. Đây là vài bí quyết giúp bạn chấp nhậ kế hoạch của Thiên Chúa:

MẠNH MẼ

Nên nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ cho chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta khả dĩ xử lý. Chúng ta cố gắng thì chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn. Một lúc nào đó, chúng ta nhìn lại và chúng ta sẽ thấy Ngài đã đưa chúng ta đi xa theo kế hoạch của Ngài trong cuộc đời chúng ta. Trong những lúc khó khăn, chúng ta thấy có vẻ như thế giới này sắp tận cùng, nhưng hãy nhớ rằng vẫn còn chút ánh sáng ở cuối bất cứ đường hầm nào.

TÍCH CỰC

Sống tích cực và tìm kiếm điều tốt lành trong mọi thứ sẽ giúp bạn giữ được thái độ tốt và chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa. Chính thái độ tích cực sẽ tiến xa và làm cho thử thách giảm bớt mức độ khó khăn.

NHIỆM VỤ NHÂN BẢN

Thiên Chúa tìm kiếm mọi người, bạn cũng phải tìm kiếm những người khác ở xung quanh mình. Hãy biến điều đó thành nhiệm vụ nhân bản, nghĩa là đến với người khác và giúp đỡ những người thiếu thốn. Nếu chúng ta cùng nhau làm cho thế giới này tốt hơn, chúng ta sẽ làm cho Thiên Chúa vui mừng. Điều đó sẽ làm cho cuộc sống tròn đầy hơn.

ĐỪNG HOÀI NGHI

Đừng đặt ra những điều chúng ta muốn đề nghị với Thiên Chúa hằng ngày: Tại sao con lại thế này? Tại sao con phải làm việc này? Tại sao con không thể có điều đó?… Thay vì “chất vấn” Chúa, chúng ta hãy biết ơn Ngài về những gì bạn có trong cuộc sống và đừng coi mọi thứ là chuyện dĩ nhiên. Nếu bạn có thể chấp nhận những gì xảy ra, bạn sẽ làm cho kế hoạch hành động của Thiên Chúa xảy ra dễ dàng hơn.

CHẤP NHẬN

Hãy chấp nhận và để Thiên Chúa hướng dẫn bạn, đồng thời hãy biết rằng Ngài sẽ dẫn bạn đi đúng đường và không để bạn lạc hướng. Chấp nhận sẽ cho phép bạn loại bỏ lo lắng và sẽ giảm căng thẳng bằng cách hoàn toàn để cho Chúa kểm soát cuộc đời bạn.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

SỰ BẤT MÃN THƯỜNG XUYÊN CỦA TÂM HỒN.

SỰ BẤT MÃN THƯỜNG XUYÊN CỦA TÂM HỒN.

Một tác giả nọ đã kể một câu chuyện ngụ ngôn về con lừa, con rùa và một con ruồi mà tuổi thọ chỉ có vỏn vẹn một ngày như sau:

“Nhận thấy kiếp sống của mình quá vắn vỏi, con ruồi đã than thân trách phận như sau:

-Nếu tôi được só nhiều thời giờ hơn, thì có lẽ mọi sự sẽ dễ dàng hơn. Các bạn cứ nghĩ xem, chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ tôi phải sinh ra, phải lớn lên phải học hỏi kinh nghiệm, phải vui hưởng cuộc sống, phải đau khổ, phải già rồi cuối cùng phải chết. Tất cả đều diễn ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ”.

Con lừa quanh năm ngày tháng chỉ bị đầy đọa trong những việc nặng nhọc thì lại than vãn:

-Giả như tôi chỉ có 24 tiếng đồng hồ để sinh ra, để sống, thì có lẽ tôi sẽ hạnh phúc hơn, bởi vì cái gì tôi cũng nếm thử được một chút và cái già tôi cũng chỉ chịu đựng trong một khoảng khắc mà thôi.

Đến lượt con rùa phát biểu như sau:

-Tôi không hiểu được các bạn, tôi đã sống được 300 năm nhưng tôi vẫn không thấy đủ giờ để kể hết những kinh nghiệm tôi đã trải qua. Khi được 200 tuổi, tôi chỉ mơ ước được chết cho xong, tôi thương hại chú ruồi, nhưng tôi lại ghen với ông bạn lừa.

Sau khi đã kể cho nhau nghe những kinh nghiệm sống của mình, xem chừng như không có ai thỏa mãn về kiếp sống của mình: người thì than phiền sống quá ngắn, người thì ngán ngẩm vì sống quá lâu. Cuối cùng ba chú mới rủ nhau đến tham vấn con nhện, vì con nhện vốn được xem là con vật khôn ngoan. Sau khi nghe mọi lời kể lể, con nhện mới dõng dạc ban cho mỗi con một lời khuyên. Với con rùa, nó nói như sau:

-Hỡi lão già rùa, đừng than phiền nữa, hỏi thử có ai được giàu kinh nghiệm cho bằng lão chưa?

Quay sang con ruồi, con nhện mới ra lệnh:

-Hỡi chú ruồi, chú đừng than thân trách phận nữa hỏi thử có ai có nhiều trò vui cho bằng chú không?

Với chú lừa, xem ra lời cảnh cáo của con nhện có vẻ nặng nề hơn cả, bác nói như sau:

-Còn đối với ông bạn lừa tôi không có lời khuyên nào cho ông bạn cả. Ông bạn là người bất mãn kinh niên. Ông bạn vừa muốn sống lâu như lão rùa, nhưng lại cũng muốn sống ngắn ngủi như chú ruồi. Trời nào có thể làm vừa lòng chú được.

Câu chuyện ngụ ngôn trên đây có thể nói lên sự bất mãn thường xuyên trong tâm hồn của con người. Thất bại hay thành công, nghèo hèn hay sang trọng, dốt nát hay thông minh, bệnh tật hay khoẻ khoắn, xem chừng như con người không bao giờ cảm thấy hoàn toàn hài lòng với chính mình, với người khác và với cuộc sống.  Con người dễ dàng đứng ở núi này để nhìn sang núi nọ. Tựu trung có lẽ sự bất mãn là biểu hiện của một thiếu sót lớn lao trong tâm hồn con người, đó là thiếu sót tình yêu. Có tình yêu, người ta sẽ không còn bất mãn, có tình yêu xem chừng như người ta cũng không màng đến thời gian. Một tác giả nào đó nói: “Thời gian quá chậm đối với kẻ chờ đợi và sợ hãi. Thời gian lại quá dài đối với những kẻ than phiền trách móc nhưng với những người đang yêu thời gian không còn nữa”. Phải chăng tình yêu không là liều thuốc để chữa trị căn bệnh bất mãn trong lòng người? Có chấp nhận chính mình, có yêu thương như chính mình chúng ta sẽ không còn phải than thân trách phận nữa. Có yêu thương tha nhân, có chấp nhận tha nhân chúng ta sẽ thấy được tha nhân là nguồn hạnh phúc của mình, và có yêu đời thì chúng ta mới thấy đời dễ thương. Nếu đưa mắt nhìn sang những tin “nóng” của thế giới: các em thai nhi bị giết từ trong lòng mẹ có được lên tiếng không? Những em nhỏ được cha mẹ “đồng giới” nhận làm con nuôi thì lên tiếng cách nào?

Hôm nay kỷ niệm ngày 9-11 của nước Mỹ.. Hỏi rằng những nạn nhân của tháp song đôi có thức dậy mà phàn nàn hay trả thù được ai không ? Những nước đang nội chiến thì họ than van trách móc ai để có “hòa bình” trở lại với họ ? Những nạn nhân “vũ khí hóa học” bên nước Syria có sống lại mà phản đối những người gieo tai họa không? Tỉ dụ trong tương lai những “cường quốc” muốn dùng vũ lực mà dậy đời cho những nước yếu thế thì sao? Đúng thế, trong mọi biến cố của cuộc đời đều có hai phía để nhìn vào; chỉ có những kẻ lạc quan vui sống sẽ tìm được chân lý trong đó: “đó là thánh ý Chúa thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

Lạy Chúa xin ban cho con được đôi mắt lạc quan để nhìn thấy nụ cười trong tất cả mọi sự. Xin ban cho con khối óc khôi hài để con có thể vững mạnh trước mọi hoàn cảnh, để cho dầu có khóc than, con cũng vẫn tiếp tục cười sau đó. Xin cho con đôi môi chỉ biết mỉm cười với mọi người và với cuộc đời. Xin ban cho con trái tim nồng nàn để chỉ biết yêu thương.

Amen.

Vhd sưu tầm 11-9-2013

Kỷ niệm 9-11-2001/2013

“Let Us Journey Together.”

-Pope Francis -St. Peter’s Balcony 3-13-2013.

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

nguồn:dântri.com.vn

(Dân trí) – Nhà tỉ phú nổi tiếng Bill Gates đăng lên facebook của ông bức ảnh cột điện chằng chịt dây điện mà ông chụp được ở đường phố Việt Nam kèm theo status: Tại Việt Nam, nhu cầu năng lượng đang tăng 14% một năm. Lưới điện cũ này bị quá tải. Nhưng đất nước như Việt nam làm sao để giải quyết nhu cầu điện ngày càng tăng”.
>>  Dân mạng Việt gây náo loạn Facebook của Bill Gates

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

Những dòng trên status không có gì ghê gớm, nhu cầu điện tăng là chuyện đương nhiên, là rất bình thường. Vậy tại sao facebook của tỉ phú Mỹ thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng như vậy?

Câu trả lời là vì cái cột điện. Có lẽ cộng đồng không quan tâm đến chuyện thiếu điện ở Việt Nam, mà sửng sốt trước cái cột điện như con quái vật trên đường phố. Bao nhiêu năm nay, dân mình thấy nó quá quen thuộc, quen thuộc đến độ chúng ta không xem nó là quái dị, là bất bình thường, là xấu xí, là nguy hiểm… Chùm dây điện trên đầu, chạy ngang qua cửa sổ nhà, dây điện từng gây chết người, móc vào cổ người đi đường, nhưng chẳng có gì quan trọng.

Nhưng cái cột điện với chùm dây mạng nhện “đặc sản” thuần Việt Nam trên facebook của Bill Gates đã gây sốc cho cả thế giới. Ở thế kỷ này rồi mà vẫn còn có quốc gia khai thác và truyền tải điện như Việt Nam quả thật rất đáng để tò mò. Những công dân văn minh của thế giới văn minh giật mình kinh hãi khi thấy cột điện nguy hiểm này, họ tự hỏi vì sao nó mất thẩm mỹ và mất an toàn như vậy mà vẫn cứ tồn tại ngay giữa đường phố của thủ đô Việt Nam.

Nhưng họ chưa biết rằng, không phải chỉ một cột mà ông Bill Gates chụp, còn có hàng vạn cột điện tệ hơn vậy trên khắp đường phố Hà Nội, TPHCM và nhiều thành phố khác của Việt Nam.

Nhiều người Việt Nam cảm thấy xấu hổ khi chuyện cái cột điện tệ hại được cộng đồng mạng đem ra bình luận. Ông tỉ phú người Mỹ đến Việt Nam và đã giới thiệu cho cả thế giới biết về sự lạc hậu của đất nước Việt Nam chỉ qua một tấm ảnh. Tấm ảnh đó rất điển hình, rất khái quát và rất trung thực về sự phát triển của ngành điện Việt Nam. Không trách ông Bill Gates, chỉ trách chúng ta quá tụt hậu và kém cõi.

Những người lãnh đạo ngành điện Việt Nam có xấu hổ khi hình ảnh quốc gia bị chính cái cột điện của các ông làm cho xấu xí trước mắt thiên hạ không?

Ngành điện độc quyền kinh doanh, bấu vào bầu sữa ngân sách, làm ăn thua lỗ, điện luôn không đủ cung cấp cho sản xuất và tiêu dùng. Những tồn tại và yếu kém đó bao năm không giải quyết được, hệ thống đường dây “quái vật” cũng thế, nó là một trong những sản phẩm từ sự yếu kém mà ra.

Cùng với cột điện và hệ thống dây điện trong thành phố, đô thị Việt Nam còn có hai thứ “đặc sản” khác là kẹt xe và ngập nước. Du khách nước ngoài đến Việt Nam luôn được thưởng thức quang cảnh kẹt xe. Nếu gặp cơn mưa, có thể câu cá hay chống xuồng đi trên đường phố. Những hình ảnh “ngộ nghĩnh” đó không thiếu ở các kênh thông tin, mạng xã hội. Làm một công dân có lòng tự trọng, thấy đó là một nỗi đau, huống chi là làm lãnh đạo.

Lê Chân Nhân

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

Từ Kinh Thánh cho đến sòng bạc, con số 7 thường được xem là con số may mắn, hoàn hảo và kỳ diệu. Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy tha thứ bảy mươi lần bảy cho những ai lỗi phạm đến mình.  Rõ ràng Ngài có ý muốn bảo chúng ta tha thứ đến vô cùng.  Sách Sáng Thế nói về bảy ngày tạo dựng, Kinh Thánh nói về bảy tổng lãnh thiên thần, và Sách Khải Huyền nói về Bảy dấu niêm phong Mặc Khải.  Kinh Thánh đầy dẫy con số bảy.  Phải mất vài trang để liệt kê ra cho hết.
Những gì có trong Kinh Thánh Kitô giáo cũng có trong các văn hóa khác.  Có bảy phúc thần trong thần thoại Nhật Bản, các Phật tử tin rằng khi mới hạ sinh, Đức Phật bước bảy bước.  Trong đạo Do Thái, có bảy ngày than khóc, buổi giảng kinh hàng tuần cũng được chia thành bảy phần riêng biệt, có bảy phúc lành được đọc lên trong đám cưới Do Thái, tân lang và tân nương mừng hạnh phúc trong vòng bảy ngày, và có bảy cảm xúc căn bản hướng đến Thiên Chúa.  Trong truyền thống Hồi giáo, có bảy thiên đàng bảy thế gian, bảy ngọn lửa trong địa ngục, bảy cửa lên thiên dàng, và bảy cửa xuống địa ngục.
Và còn có nhiều điều có liên hệ với con số 7: Có bảy châu lục trên thế giới, bảy màu cầu vồng, bảy ngày trong tuần, bảy nốt nhạc căn bản, bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng, và bảy thiên thể thấy được bằng mắt thường.  Số bảy là mã điện thoại ở Nga.  Ở Bắc Mỹ, các giải bóng chuyền, bóng rỗ, và hockey chính đều chia cuộc đua vô địch thành loạt bảy trận, và nhiều vận động viên ưu tú chọn số bảy làm con số áo, kể cả Mickey Mantle.  Các sòng bạc cũng rất thích con số 7.  Xếp được một hàng số bảy là cách chơi của rất nhiều trò may rủi.

Chúa Giêsu, Đạo Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, tự nhiên, cách xếp tuần, mã điện thoại của Nga, các giải thể thao chính, Mickey Mantle, và các sòng bạc – và bây giờ là một điều khác nữa!  Chẳng tình cờ khi người ta dùng rất nhiều số bảy:
Ví dụ như: chúng ta có đủ kiểu số bảy trong thần học và trong giáo hội:
Thần học Kitô giáo nói về bảy Ơn Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Hiểu biết, Lo liệu, Sức mạnh, Thông minh, Đạo đức, và Kính sợ Thiên Chúa. Về Bảy mối tội đầu: Kiêu ngạo, Ghen tỵ, Giận dữ, Biếng nhác, Tham lam, Ham ăn, và Dâm dục; cũng như về bảy nhân đức tương ứng: Khiêm nhường, Rộng rãi, Nhẫn nhịn, Siêng năng, Nhân từ, Tiết độ, và Trong sạch.  Giáo hội cũng nói về bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”; “Thật, ta bảo thật, hôm nay, ngươi sẽ được ở cùng ta trên thiên đàng”; “Lạy Cha, con xin phú linh hồn trong tay Cha”; “Thưa bà, này đây là con bà… Đây là mẹ con”; “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?”; “Ta khát”; “Mọi sự đã hoàn tất”.
Mohandas Gandhi cũng nói về bảy Tội lỗi của xã hội: Chính trị không nguyên tắc, không làm mà có ăn, buôn bán vô đạo đức, hưởng lạc vô lương tri, tri thức thiếu nhân cách, khoa học thiếu nhân đạo, và tôn kính Thượng đế mà không chịu hy sinh.  Và về điều này, Công giáo La Mã cũng đã có Bảy Luận đề về Huấn Giáo Xã hội của Giáo hội Công giáo: Mạng sống và phẩm giá con người; yêu cầu đối với gia đình, cộng đồng, và bổn phận; quyền và trách nhiệm; chọn người nghèo và người cô thế; giá trị của lao động và quyền của người lao động; tình đoàn kết; và chăm lo cho những gì được Thiên Chúa tạo dựng.
Giáo hội Công giáo La Mã có Bảy Bí tích:
rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, giải tội, xức dầu bệnh nhân, truyền chức thánh, và hôn phối.  Bảy Việc thương người: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ cơ nhỡ trú ngụ, thăm viếng người ốm, thăm viếng tù nhân, và chôn xác kẻ chết.  Và kèm theo là Bảy Việc thương người phần hồn: Sửa dạy kẻ ngu muội, lấy lời lành mà khuyên người, răn bảo kẻ có tội, nhịn kẻ mất lòng ta, tha kẻ dễ ta, yên ủi kẻ âu lo, và cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Hơn nữa, Giáo hội Công giáo La Mã còn tôn kính Bảy sự thương khó Đức Mẹ: Lời tiên tri của ông Simeon, chạy nạn đến Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu trong đền thánh, gặp Chúa Giêsu trên đường Núi Sọ, Chúa Giêsu chết trên thập giá, nhận xác Chúa Giêsu trong tay, chôn cất Chúa Giêsu vào huyệt đá.
Và tất nhiên, vẫn chưa hết, chúng ta còn có Bảy Kỳ quan thế giới, dù bây giờ người ta đang tranh cãi nhau xem chính xác nên chọn cái nào làm kỳ quan: Một số đồng ý với danh sách cũ, Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, số khác lại ủng hộ Bảy kỳ quan của thế giới hiện đại, số khác lại nói về Bảy kỳ quan của thế giới Đương đại, và số khác nữa lại nhất quyết rằng những kỳ quan thật sự của thế giới này được dựng nên bởi tự nhiên và liệt kê ra Bảy kỳ quan Tự nhiên của thế giới.
Vậy đâu là danh sách xác đáng đây?  Những cái nào mới đúng là Bảy kỳ quan thế giới?
Gần đây trên Internet có xuất hiện câu chuyện thế này:
Một giảng viên yêu cầu các học sinh nêu tên Bảy kỳ quan thế giới.  Một số, chắc chắn có nhờ vào các phương tiện điện tử, nhanh chóng đưa ra những danh sách khác nhau.  Tuy nhiên, một cô gái trẻ, không dùng đến những tìm kiếm trên mạng như thế, đã tự viết ra danh sách của mình.  Bảy kỳ quan thế giới, theo kết luận của cô là: NHÌN, CẢM, NẾM, NGỬI, SỜ, THỞ và YÊU. Tôi tin rằng, danh sách đó, thắng vượt tất cả mọi danh sách khác và chứa đựng đủ tất cả bí tích thiêng liêng.


Fr. Ron Rolheiser

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Đăng bởi lúc 2:13 Sáng 8/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (08.09.2013) – Sài Gòn – Chân phước Mẹ Têrêsa Calcutta cả đời đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo. Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái. Bà nói: “Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình”.

Cha mẹ của bà là người Albani. Bà sinh ngày 26-8-1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con. Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị. Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong giáo xứ, gọi là nhóm Tương tế Tôn giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo. Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ai-len, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào nhà tập. Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Đến năm 1950, nữ tu Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Dòng Thừa sai Bác ái, Missionaries of Charity). Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna (भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980. Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu biết Quốc tế năm 1972.

Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len. Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thi thoảng bà vẫn về thăm. Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ”. Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các nữ tu Dòng Loreto.

Hình ảnh nữ tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường. Bà luôn có một hoặc hai nữ tu choàng sari đi theo. Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ XX. Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy nữ tu nào choàng sari như vậy. Nhưng đó là thói quen của nữ tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các nữ tu truyền giáo.

Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi. Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công giáo? Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống. Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa”. Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời. Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp. Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị. Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ. Ai cũng sợ bị lây nhiễm. Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” (Điều tốt đẹp dành cho Chúa) của Malcome Muggeridge.

Bà không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi. Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các nữ tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa. Các chị em ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong. Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch. Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta. Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm. Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà. Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương. Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta. Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một”.

Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái, ĐGH Piô XII đã phê chuẩn dòng này. Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, chính Gx Thanh Đa (giáo hạt Gia Định, Saigon) đã được vinh dự đón tiếp Mẹ.

Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5-9-1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong đức ái của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa được ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 19-10-2003.

Lạy Chân phước Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi,… Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kinh cầu Chân phước Mẹ Teresa Calcutta

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con truyền bá hương thơm của Ngài tới mọi nơi con đến. Xin đổ vào linh hồn con tràn ngập tinh thần và tình yêu của Ngài. Xin làm thấm nhuần và sở hữu con hoàn tòn để cả cuộc đời con là ánh sáng của Ngài. Xin chiếu sáng con và ở trong con để mỗi linh hồn con giao tiếp đều có thể cảm nhận sự hiện hữu của Ngài trong linh hồn con. Xin để các linh hồn nhìn lên và không còn thấy con nữa mà chỉ thấy Chúa Giêsu. Xin ở lại với con và con sẽ bắt đầu tỏa sáng như Ngài tỏa sáng, tỏa sáng để thành ánh sáng cho người khác. Amen.

+ Kinh cầu này dùng làm Tuần Cửu Nhật kính nhớ CP Mẹ teresa Calcutta từ 27-8 tới 5-9.

(http://catholicism.about.com/od/dailyprayers/qt/Daily-Prayer-Of-Mother-Teresa.htm)

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

Trần-Đăng Hồng, PhD

image

Hiện nay, năm 2013 nước Việt Nam giàu hay nghèo? Câu hỏi được trả lời trong bài đọc “So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu cuả tác giả Trần-Đăng Hồng, PhD.

image

Ngày nay, người Việt nào cũng biết là Việt Nam còn nghèo. Chữ “giàu” hay “nghèo” chỉ diễn tả tình trạng định tính chung chung, ta không biết được giàu hay nghèo ở mức độ nào, vì vậy cần phải định lượng bằng con số để có thể so sánh dễ dàng.

Để so sánh mức sống (living standards) giữa các vùng hay quốc gia, các nhà kinh tế xử dụng chỉ số GDP đầu người (GDP per capita). GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ hay quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP đầu người là số trung bình (bình quân) của GDP toàn quốc chia cho dân số. Để so sánh mức sống giữa các quốc gia, GDP đầu người phải được chuyển đổi theo cùng một hệ thống tiền tệ, US Dollar (US$). Tuy nhiên, mức sống tùy thuộc vào giá cả và hối xuất của mỗi quốc gia, để chính xác hơn, tính GDP đầu người theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity, PPP) trên cơ sở chênh lệch giá cả hàng hóa ở nước đó so với giá cả hàng hóa tương tự ở Hoa Kỳ.

Từ năm 2010, báo chí cho biết GDP toàn quốc của Trung quốc rất lớn, khoảng $5880 tỉ cho năm 2010, vượt qua Nhật Bản ($5470 tỉ), và nay đứng hàng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Tuy đứng thứ 2 thế giới, nhưng mức sống của người Tàu còn rất nghèo so với người Nhật, vì GDP đầu người của Trung quốc chỉ $7.500 trong lúc của Nhật là $34.000 (4,5 lần cao hơn Trung quốc), chưa kể đến sự chênh lệch quá lớn giữa người nghèo và người giàu ở Trung quốc

Dựa vào chỉ số GDP công bố cho thời gian một hai thập niên qua, chúng ta biết Việt Nam hiện nay còn rất nghèo, nhưng không biết nửa thế kỹ trước Việt Namgiàu hay nghèo. May mắn, mới đây (2012), cơ quan Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund) công bố chỉ số GDP đầu người cho 185 quốc gia, bắt đầu từ năm 1960 (1).

Vì không phải là chuyên gia về chính trị kinh tế, người viết bài này không dám lạm bàn về nguyên nhân hay chánh sách kinh tế. Phần này để bạn đọc tự tìm hiểu (hay đã hiểu). Thiển giả chỉ trình bày lại các dữ kiện khô khan của số liệu do WB và IMF cung cấp bằng các biểu đồ dễ dàng theo dõi hơn.

Việt Nam năm 1960

image

Biểu đồ 1. So sánh GDP (US$) đầu người giữa vài quốc gia Á châu năm 1960 (Vẽ từ tài liệu 1)

Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều  hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$).

Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất. Vào năm này VNCH xuất cảng (xuất khẩu) tổng cộng 84 triệu US$, gồm 2 sản phẩm chánh là cao su (40 triệu US$) và gạo (27,7 triệu US$).  Riêng về xuất cảng gạo, năm 1960 là đỉnh cao nhất kể từ 1955 với khoảng 340.000 tấn, nhưng giảm dần sau đó, và từ 1965 Nam VN phải nhập cảng (nhập khẩu) 271.000 tấn, năm 1966 khoảng 434.000 tấn, và 1967 khoảng 749.000 tấn gạo (3). Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỉ đồng VN, trong số này gồm có 4,481 tỉ đồng (5,5%)  là tiền viện trợ (3). Hối xuất chính thức trong đầu thập niên 1960 là 1US$ = 118 đồng Ngân Hàng Quốc Gia VN (VNCH, South Việt Nam), trong lúc hối xuất chợ đen năm 1968 là 235-245 đồng (3).

Cũng cần nhắc lại là thời điểm 1960, chiến tranh du kích đã phá hủy khá nhiều nền kinh tế ở nông thôn của Miền Nam, nhất là sản xuất cao su và lúa gạo. Theo tài liệu 2, từ 1955 đến 1961, chính phủ VNCH đã gia tăng đầu tư, nhờ vậy kỹ nghệ (công nghiệp) và nông nghiệp phát triển mạnh, nhưng sau 1961, các yếu tố trên bị suy giảm vì chiến tranh. Vì vậy, năm 1967, lợi tức đầu người (income per capita) Việt Nam Cộng Hòa giảm xuống 126 US$, trong lúc Thái Lan tăng lên 141 US$ (3).

Việt nam trước 1960

Câu hỏi là trước 1960, Việt Nam có nền kinh tế ra sao? Theo Anne Booth (2003), vì hậu quả của đệ nhị thế chiến và chiến tranh dành độc lập sau đó, cho tới năm 1960, vài nước Á châu như Indonesia, Miến Điện và Việt Nam vẫn chưa khôi phục lại GDP đầu người của thời tiền chiến.

Chẳng hạn, Miến Điện có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1929 có GDP cao hơn năm 1960 tới 68%. Riêng Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1938, có GDP cao hơn năm 1960 là 69%. Vì Đệ nhị thế chiến (1939-1945) tiếp theo chiến tranh với Pháp (1945-1954) kinh tế Việt Nam kiệt quệ, suy giảm nặng nề, mải tới năm 1956 kinh tế mới bắt đầu tăng trưởng trở lại ở Miền Nam, và năm 1960 Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới phục hồi được 60% của GDP đầu người của năm 1938 (4).

Như vậy, ở cuối thập niên 1930s, Việt Nam có một nền kinh tế hùng mạnh có hạng của Á Châu, chỉ đứng sau Nhật Bản, có lẻ ngang ngửa với Malaysia (lúc này Singapore còn là lãnh thổ của Malaysia), Philippines, và hơn hẳn các quốc gia khác như Thái Lan, Trung quốc, Triều Tiên, Ấn Độ và Indonesia.

GDP đầu người của Việt Nam và vài nước Á Châu từ 1980 đến 2011

Việt nam thống nhất lãnh thổ từ sau biến cố 30/4/1975. WB không có công bố số liệu GDP của Việt Nam trong 4 năm từ 1976 đến 1979. Vì vậy, ở đây chỉ trình bày từ năm 1980 cho tới nay (2011).

Biểu đồ 1 trình bày GDP đầu người của 7 quốc gia Á Châu  trong thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Trong thời gian 1980 – 2011, có 3 thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới gồm 1984-1986, 1997-2003 và 2008. Mỗi kỳ khủng hoảng phải mất vài ba năm mới phục hồi lại. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng 1997, phải mất 6 -7 năm Singapore mới phục hồi, nhưng chỉ 1 năm với khủng hoảng 2008, trong lúc Nam Hàn với khủng hoảng năm 2008 tới nay mới phục hồi. Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam coi như không bị ảnh hưởng gì (biểu đồ 1).

Theo biểu đồ 1, mọi quốc gia đều có tăng trưởng, nhưng với vận tốc tăng trưởng khác nhau. Nếu tính theo vận tốc tăng trưởng thì Singapore và Nam Hàn mạnh nhất, kế là Malaysia. Mặc dầu Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng cao hơn chút ít, nhưng mức khởi đầu quá thấp, nên Nam Hàn vẫn chưa thể nào bắt kịp vàSingapore vẫn còn tiếp tục dẫn đầu. Còn Việt Nam phát triển chậm nhất, vẫn ở vị trí chót trong số 7 quốc gia Á Châu nói trên (biểu đồ 1).

image

Biểu đồ 2. Biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Thay đổi vị thứ. Trong vòng 31 năm qua, Singapore vẫn giữ hàng đầu. Tuy nhiên, Nam Hàn nhảy hạng từ thứ 3 của năm 1980 lên hạng 2 vào năm 1985, và Malaysia tuột hạng từ 2 xuống  3. Philippines từ hạng 4 xuống hạng 6  trong lúc Thái Lan nhảy từ hạng 5 lên hạng 4 từ 1987, và Indonesia nhảy lên hạng 5 từ 2005. Việt Nam vẫn tiếp tục giữ hạng chót trong số 7 quốc gia nói trên.

Cách biệt GDP của vài quốc gia lân cận với Việt Nam.

Bảng 1. Số lần cách biệt GDP đầu người giữa một quốc gia đối chiếu với ViệtNam (tỉ số của GDP quốc gia đối chiếu/GDP của Việt Nam) ở hai thời điểm 1980 và 2011. Cột 4 là số lần gia tăng GDP của năm 2011/GDP của năm 1980 của một quốc gia. Cột 5 là số năm cần thiết để GDP tăng lên gấp đôi…

image

Theo Bảng 1, GDP đầu người  của Singapore nhiều 9,25 lần GDP của Việt Nam vào năm 1980, và chênh lệch tới 35,86 lần vào năm 2011. Thái Lan và Indonesiachỉ hơn Việt Nam chút ít vào năm 1980 (1,35 và 1,14 lần), nhưng nay Indonesiagấp 2,5 lần và Thái Lan gấp gần 4 lần Việt Nam.

Trong vòng 31 năm qua, GDP của Nam Hàn gia tăng 13 lần, tức chỉ cần 4,7 năm GDP tăng gấp đôi, Singapore 10 lần tức mỗi 6 năm GDP gấp đôi, Thái Lan 7,8 lần trong khi Việt Nam chỉ 2,7 lần, tức Việt Nam phải mất hơn 23 năm GDP mới tăng gấp đôi (Bảng 1). Như vậy, càng về sau Việt Nam càng tụt hậu.

Việt Nam có thể bắt kịp Thái Lan không?

Nhìn biểu đồ 2, chúng ta thấy là Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp được Philippines, Indonesia, Thái Lan, chứ đừng mơ tưởng bắt kịp Malaysia, Nam Hàn hay Singapore.

Để có thể tiên đoán chính xác, tác giả dựa vào số liệu do IMF cung cấp trong 10 năm qua (2002-2011) để vẻ lại mức tăng trưởng GDP đầu người cho mỗi quốc gia. Sau đó, dùng máy vi tính thử nghiệm các mô hình toán học để vẻ nhiều đường biểu diễn, rồi chọn một đường biểu diễn nào phù hợp có độ chính xác cao nhất. Kết quả cho thấy là các đường biểu diễn cho các quốc gia trình bày trong biểu đồ 3 có độ chính xác cao nhất (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho ViệtNam). Ở mỗi đường biểu diễn, chương trình toán học thống kê cũng cho một phương trình. Giải đáp bài tính lần lượt giữa hai phương trình của hai quốc gia để tìm ẩn số thời gian nơi hai đường biểu diễn gặp nhau, tức là thời kỳ GDP của quốc gia này bắt kịp một quốc gia khác.

image

Biểu đồ 3. Đường biểu diễn biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 10 năm từ 2002 đến 2011. Đường biểu diễn do chương trình toán học thống kê cho kết quả phù hợp với các số dữ kiện với độ chính xác rất cao (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam).

Kết quả phân tích toán học bằng máy vi tính cho thấy đường biểu diễn tăng trưởng GDP đầu người của mỗi quốc gia không phải là một đường thẳng (linear) như mắt ta thấy, mà là một đường cong theo hình dạng của một cánh parabole (parabolic curve). Càng xa trục tâm 0, đường biểu diễn càng cong lên hơn, tức vận tốc tăng trưởng theo phương trình lũy tiến.

image

Biểu đồ 4. Đường biểu diễn tiên đoán GDP đầu người trong thời gian 50 năm tới (trục tâm 0 là năm 2013) cho Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Tiên đoán dựa theo vận tốc tăng trưởng của thời gian 2002-2011 của biểu đồ 3.

Cần nhớ rằng ở thời điểm 0 (tức năm 2013), các quốc gia không khởi hành cùng ở mức 0, mà ở những vị trí khác nhau trên trục tung (Y). Chẳng hạn Việt Nam có tọa độ 1.660 US trong lúc Singapore ở tọa độ 50.899 US$, tức GDP hiện có của các nước này ở thời điểm 2013. Ngoài ra, vận tốc lũy tiến (độ cong) của mỗi quốc gia cũng đều khác nhau.

Theo tiên đoán của biểu đồ 4, Indonesia sẽ bắt kịp Thái Lan trong 23 năm tới (tức 2036) và kịp Malaysia vào 2095. Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng lũy tiến chỉ hơn Singapore chút đỉnh nên Nam Hàn vẫn chưa bắt kịp trong thế kỷ 21.

Riêng phần Việt Nam, vì vận tốc gia tăng thấp hơn mọi quốc gia, nên tiếp tục ở hạng chót, không những không bắt kịp được nước nào mà càng ngày càng tụt hậu, càng nghèo nếu so với các nước trên.

Biểu đồ 5 trình bày dữ kiện cung cấp bởi IMF tiên đoán tăng trưởng GDP từ 2011 đến 2017, cũng xác định rằng Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp các quốc gia nói trên, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại (vận tốc ban đầu = (1374 – 440)/10 = tức tăng thêm 93.4 US/năm).

image

Biểu đồ 5. Tiên đoán GDP đầu người do IMF  thực hiện cho thời kỳ 2011 – 2017 cho Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Vẽ từ tài liệu của IMF (1).

Vì vậy, muốn bắt kịp các nước nói trên, Việt Nam phải có vận tốc tăng trưởng ban đầu tăng cao hơn nữa, trước nhất để bắt kịp Philippines, sau mới tới Thái Lan.

Sau đây là các bài tính với giả sử rằng Việt Nam từ năm 2013 lần lượt đạt được vận tốc tăng trưởng GDP từ thấp lên cao, trước nhất bằng Philippines, rồi Thái Lan, rồi tới Indonesia, Malaysia, Singapore và Nam Hàn.


Nếu Việt Nam tăng vận tốc tăng trưởng GDP ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93,4 lên 133 US$/năm), Việt Nam vẫn tiếp tục tụt hậu, vì vậy muốn bắt kịp Philippines phải có vận tốc tăng trưởng cao hơn, càng cao hơn thì bắt kịp sớm hơn.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu và vận tốc lũy tiến (độ cong) bằng Indonesia hiện nay (ban đầu tăng thêm 259 US, tuy thấp nhưng lũy tiến tăng nhanh, xem đường cong ở biểu đồ 5), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2023, bắt kịp Thái Lan vào năm 2040, và bắt kịp Malaysia vào 2093.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Thái Lan (tăng thêm 337,5 US$/năm, cao 3,6 lần hơn VN), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines trong 4,5 tới, tức giữa năm 2017, nhưng không bao giờ bắt kịp Thái Lan.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Malaysia hiện nay (tăng thêm 600 US/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2015, Indonesia vào 2019, Thái Lan năm 2028, nhưng không bắt kịp Malaysia, Nam Hàn và Singapore.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng của Nam Hàn hiện nay (tăng thêm 1583 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines và Indonesia vào năm 2014, Thái Lan năm 2017, Malaysia vào 2022, Singapore vào 2117 (104 năm nữa).


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Singapore hiện nay (tăng thêm 2724 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào giữa năm 2014, Indonesia vào cuối 2014, Thái Lan năm 2018, Malaysia vào 2020, nhưng không bắt kịp Nam Hàn và Singapore.


Trên đây chỉ là giả thuyết, bởi vì muốn đạt được vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93 lên 133 US$/năm) cũng vất vả lắm rồi.

image

Ông Lý Quang Diệu và sách mới xuất bản đầu năm 2013 “Hãy cảnh giác với Trung Quốc”.

Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.

image

10 quốc gia có GDP đầu người dẫn đầu thế giới năm 2030 và 2040

Sau đây là danh sách của Citygroup công bố vào tháng 2/2011 tiên đoán về 10 quốc gia và lãnh thổ (như Hồng Kông) có GDP đầu người dẫn đầu thế giới vào năm 2030 và 2040 (1).

Theo bảng xếp hạng tiên đoán này, Singapore dẫn đầu thế giới, tiếp theo làNorway, Switzerland và Canada trong năm 2030 và 2040. Nam Hàn từ vị trí 9 năm 2030 sẽ lên vị trí 6 năm 2040, Hoa Kỳ tụt từ thứ 7 xuống thứ 9, trong lúc Hồng Kông không còn nằm trong danh sách “Top Ten” của năm 2040, mà thay thế bằng Anh quốc.

image

Tài liệu tham khảo

1.List of countries by past and future GDP (nominal) per capitahttp://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_future_GDP_(nominal)_per_capita

2.Economy of the Republic of Vietnam

http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_the_Republic_of_Vietnam

3. Timothy Hallinan (1969). Economic prospects of the Republic of Vietnam.www.rand.org/pubs/papers/2008/P4225.pdf

4. Tran Van Tho (2003). Economic development in Vietnam during the second half of the 20th century: How to avoid the danger of lagging behind. In: The Vietnamese Economy: Awakening the dorming dragon, ed. by Binh Tran Nam and Chi Do Pham, Routled Curzon, 2003, Chapter 2.

5. Anne  Booth (2003). The Burma Development Disaster in Comparative

Historical Perspective. SOAS Bulletin of Burma Research, Vol. 1, No., 1, Spring 2003, ISSN 1479-8484

Trần-Đăng Hồng, PhD

Cám ơn Anh Lê Khôi gởi

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

Phan Sinh Trần. 09/2013.

1.Ca Ngợi Chúa có tác dụng chữa lành, bạn biết rồi nhưng mà Ca ngợi Chúa cũng có tác dụng chữa cho liệu pháp chữa lành nữa. Có bao giờ Bạn cầu nguyện cho ai đó theo yêu cầu của họ mà bị bế tắc không kết quả, chắc là cảm giác của Bạn khi đó rất là ngỡ ngàng và hoang mang nữa phải không? Chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm này.

Vào năm 2009, Chị Maria M, một người rất nhân hậu và nhiệt thành trong Giáo xứ Lord Incarnation, Houston, Texas. Chị thường đi viếng kẻ liệt và khi bệnh nhân hấp hối.Chị sẽ ở với người sắp ra đi cho đến khi họ về với Chúa, cho dù thời gian là 2 ngày, 3 ngày hay 1 tuần, dù lâu bao nhiêu đi nữa, chị túc trực đọc Kinh Thánh cho bệnh nhân. Ngồi bên cạnh giường bệnh, Chị an ủi bệnh nhân rồi thầm thỉ lần hạt và cầu nguyện cho họ. Có khi Chị phải nghỉ làm để có giờ gần gũi kẻ hấp hối. Chị M đã nói, đó là giờ phút quyết định của đời người khi mà Quỉ sẽ dồn hết sức để cám dỗ, làm nản lòng, gieo nghi ngờ tình thương của Chúa nơi bệnh nhân, nó mong lôi kéo cho bằng được linh hồn này về hỏa ngục với nó, cho nên đây là lúc mà người sắp ra đi cần đến sự hỗ trợ của Thiên Thần bản mệnh, cần lời cầu bầu của Đức Mẹ của Các Thánh và của mình nhiều nhất.

Rồi một ngày nọ, điều không may đã xảy ra , Chị bị suy nhược thần kinh nặng vì đã bị chồng bỏ rơi và đi lấy vợ khác, chị bị mất ngủ, các bắp thịt và tay chân đều đau, bệnh tình càng ngày càng nặng đến độ chị không nhắc nổi tay, chân để đi làm. Chị sống rất cô đơn ở nhà có một mình thôi. Điều đáng lo là nếu Chị không đi làm được thì có thể Chị sẽ bị mất nhà vì không có tiền đóng Mortgage cho nhà băng, đó là chưa kể đến tình trạng một thân một mình không có ai săn sóc và giúp đỡ Chị !

Dĩ nhiên là Chị đã đến Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh và các Hội Đoàn quen biết để nhờ chúng tôi cùng cầu nguyện xin Chúa Giê Su chữa lành cho, chúng tôi cầu nguyện cho Chị đã mấy lần, tình trạng bệnh vẫn kéo dài theo thời gian, đã 8-9 tháng trôi qua. Cuối cùng thì Chị mất ngủ hoàn toàn, không ăn được gần như không đi lại được. Chúng tôi càng cầu nguyện thì bịnh tình của Chị càng nặng, đến độ tôi mắc cỡ mỗi khi nhìn thấy Chị từ xa, lòng tôi vừa thẹn thùng vừa cảm thấy mình vô duyên! Thật là bế tắc !

Rồi hôm đó, là buổi tĩnh tâm Thánh Linh trong Giáo Xứ, chúng tôi ca ngợi Chúa rất hứng khởi với nhứng bài hát ý nghĩa này:

…Lời ca vang cánh đồng bên muôn hoa tươi hồng, tôi vui mừng luôn trong Đức Chúa.

In moment like this, I lift up my hand, I lift up my soul to the Lord.

Shine Jesus shine, Lạy Chúa, Ánh Sáng của Tình Yêu Chúa đang chiếu tỏa trong bóng tối …

Trong buổi ca ngợi này, ai cũng cảm thấy tình thương và sự hiện diện của Chúa, chúng tôi được mạnh mẽ trong đức tin. Thật là đúng lúc, Chị Maria đã đến, xin chúng tôi đặt tay cầu nguyện để có đủ sức đi đến Bác Sĩ và gặp được “thầy hay, thuốc đúng”. Chúng tôi họp lại thành một vòng tròn nhỏ, lòng tin tưởng dứt khoát và mạnh mẽ, chúng tôi cùng đặt tay cầu nguyện, xin Chúa cất đi bệnh tật cho Chị trong danh yêu kính đầy quyền năng của Chúa Giê Su, chúng tôi cầu nguyện tha thiết trong lòng cảm phục sự đẹp đẽ, nhân từ và thương xót của Chúa kính yêu. Ngay khi đó Chúa đã cho Chị hết đau nhức toàn thân, và lúc sau, khi Chị đi đến phòng mạch, Bác Sĩ khám và khuyên Chị ngưng dùng thuốc vì không thấy cần thiết nữa. Cảm tạ Chúa, năm ngoái, tôi đã trông thấy Chị, vẫn tiếp tục giúp hội chợ Giáo Xứ, Chị tươi vui, nhẩy múa và đùa giỡn như một cô gái 18 và làm việc nhiều như một cô gái đôi mươi mà không biết mệt dù tuổi chị đã lớn hơn gấp đôi con số đó.

Ca ngợi Chúa đã đem lại cho chúng tôi sức mạnh và có thể chữa cho sự cầu nguyện yếu và lu mờ trước đó của Nhóm Tôi. Cũng có thể lý do khác nữa là Chúa dành đến ngày Ca Ngợi để ban quà cho con cái người và dậy dỗ chúng tôi về lòng kiên nhẫn, cậy trông . Ca Ngợi Chúa có thể gia tăng mạnh mẽ lòng Tin, Yêu Chúa vốn là Sức mạnh cho lời cầu nguyện được có kết quả. Ca ngợi Chúa làm cho chúng tôi nên mạnh mẽ trong cầu nguyện và được Chúa nhận lời.

2. Sự Ca Ngợi Chúa một cách hết lòng của mình có thể biến đổi tâm hồn của người khác cách lạ lùng. Điều này thì có lẽ nhiều người trong chúng ta đã có kinh nghiệm, nhất là nơi các Bà Mẹ khi họ ca ngợi Chúa và dâng trình con cái mình cho Chúa.

Cuối năm 2010, Nhóm chúng tôi có kỳ tĩnh tâm 3 ngày cuối tuần tại trung tâm tĩnh tâm Renewal Centre, Dickinson, Texas do Cha Giu Se Nguyễn Thiện Lãm hướng dẫn. Bước vào Thánh lễ, chúng tôi hân hoan ca ngợi Chúa với tất cả sự hưng phấn của tâm hồn, với tất cả sự tin tưởng và phó thác . Chúng tôi cảm thấy Chúa thật là gần mình, lòng thanh lắng một cách nhẹ nhàng và rất an vui, sôt sắng, chúng tôi biết Chúa đang hiện diện trong Thánh Lễ này và như đã có lần xảy ra, Chúa sẽ có quà cho chúng ta.

Đúng là như vậy! Đến phần truyền phép Mình Máu thánh Chúa, chúng tôi thấy Chúa đang làm việc với một Anh Thanh Niên khoảng 25, 27 tuổi, to cao , vạm vỡ, anh đang quì và run rẩy toàn thân, Anh rên rỉ và nhăn nhó… Khi Cha dâng lễ xong và chuẩn bị đặt tay cầu nguyện thì Anh đã ngã ra và được bình an trở lại, anh nghỉ ngơi trong Chúa và thầm thì với Chúa .

Sau đó một vài tuần , anh có đến Nhóm tôi trong tình trạng rất an vui và làm chứng cho Chúa. Anh H cho biết mình là một người trong một băng đảng qui tụ khoảng trên một tá thanh niên trong khu vực, băng này thành lập đã mấy năm, bắt đầu khi Anh còn đang đến trường ở bậc Trung Học, thấy có những thanh niên Mỹ đen ăn hiếp người khác, anh tụ họp bạn bè lại để đánh trả, rồi từ từ đã đi đến chỗ phạm vào các hành vi đánh lộn và thao túng khác. Anh bỏ nhà ra đi, sống với băng nhóm của mình, Anh cho biết đã trải qua đủ mọi tội và từng sử dụng mọi thủ đoạn, rành rẽ từng loại vũ khí, dao, súng, … Rồi đến hôm đó, nể Mẹ năn nỉ và liên lỉ cầu nguyện ngày đêm cho Anh với Chúa và Đức Mẹ nên Anh H đã đến buổi tĩnh tâm, anh tham dự cho có, nhưng mà dần dần thì thấy quan tâm hơn, trong lúc Mình Thánh Chúa hiện diện, Chúa bắt đầu chiếu lại cuốn phim “lich sử đời Tôi” của chính Anh cho Anh xem, trong đầu Anh H diễn lại theo tuần tự thời gian các diến tiến manh động, bạo lực, với cảnh nạn nhân của anh thiệt thòi ra sao, đau khổ đến mức nào, cảnh mất mát của gia đình, … tất cả đã làm cho Anh thật là hối hận và đau đớn đến nhỏ nước mắt. Anh xin lỗi Chúa và quyết tâm không lầm lỗi nữa. Chúa đã nghe, đã tha thứ và ban cho Anh ơn đổi mới trong Chúa Thánh Linh. Anh cho biết, từ ngày đó, anh xa lánh băng nhóm, dù bạn bè có năn nỉ và rủ rê Anh, lòng anh luôn vui và bằng an. Chúa còn làm cho anh say mê đọc Kinh Thánh ngày đêm, có khi thức đọc Kinh Thánh đến quá khuya mà không hay! Thật là ngộ nghĩnh vì trước đó hầu như không bao giờ Anh muốn đụng tới sách vở, dù chỉ một vài dòng cũng không. Trong đời Anh cả khi người thân ra đi anh cũng không thể khóc mà nay anh lại có lúc mủi lòng. Ca ngợi Chúa làm biến đổi lòng Người, Chúa đã ra tay ban ơn khi ta đang ca ngợi Chúa và hiệp nhất với Ngài, trước khi chúng ta kịp xin ơn thì Ngài đã ban ơn hoán cải và đổi mới cho đối tượng rồi. Từ hung dữ thành hiền lành, từ thờ ơ thành sốt sắng, từ tham lam thành thật thà , chân thành… Ca Ngợi Chúa Thật là tuyệt vời phải không thưa Bạn ?

Thực ra Ca ngợi còn có nhiều kết quả cho cả nhà Anh H. Trước hết là Mẹ của Anh, bà N cũng được ơn yêu mến, đổi mới nhờ bền tâm trong 2 năm trời, tiếp tục ca ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh của Giáo xứ. Rồi ơn đổi mới lan sang Mẹ Chồng khi bà tham dự các buổi Ca Ngợi Chúa cùng với con dâu, hai mẹ con trở nên yêu nhau thắm thiết như mẹ con ruột, đi đâu cũng có nhau như cặp uyên ương thật tâm đắc, sau đó, ơn đổi mới lan sang cho cả 3 người con trong nhà. Hiện nay, ơn đổi mới đang từ từ lan sang cho Chồng chị N . Tất cả bắt đầu từ sự Ca Ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh và Cầu nguyện liên lỉ ở nhà.

Chúa cũng muốn ban ơn đổi mới cho gia đình Bạn nếu ta để hết lòng Ca Ngợi và Cầu Nguyện.

Tôi cho rằng Bạn biết bí quyết của sự Ca Ngợi là mặc lấy tinh thần đơn sơ, bé nhỏ của mình với Chúa và với Anh Em. Sự ca ngợi càng đơn sơ thì càng được Chúa yêu thích. Phần tôi cũng vậy, nửa đêm chợt thức giấc, nhớ đến Chúa Giê Su tôi thường hay thầm thì: “ Giê Su, thánh khiết của con, đầy lòng thương xót của con, gia tài của con. Con tôn thờ và cảm tạ Ngài”. Trong giờ phút kết hiệp với Chúa qua bí tích Thánh Thể, có lúc ta thảng thốt với Chúa: “Giê Su, (Chúa) là tất cả của con !”

Còn khi nào yêu Chúa quá thì sao ? Khi đó tôi và có khi một số trong các Bạn nữa phải không? Chúng ta sẽ nói đùa với Chúa, lời thì thầm, chỉ đủ cho một mình Chúa nghe mà thôi : “Cục vàng của con !!!”