VẾT CHÉM !

VẾT CHÉM !

TIEU HO,

trích EPHATA số 568

Tai ương lắm lúc tựa như con dao sắc, chém chặt vào những mảnh đời, để lại những vết đau khôn lường. Nó dai dẳng làm tấy máu, bầm dập, lâu ngày tưởng lành nhưng vết thẹo còn sót lại lặn vào trong một nỗi đau sẵn sàng mưng mủ lở loét bất cứ lúc nào.

Con hẻm nhỏ bé này cứ mãi là những câu chuyện nối dài của những mảnh đời nghiệt ngã, nó khắc đậm một vết khắc của làng quê Việt Nam vốn dĩ hiền hòa chân chất, chân lấm tay bùn, chật vật ngoi lên giữa biển đời đầy giông bão luôn ập xuống.

Ngước mặt nhìn lên những tòa nhà cao ngất nơi phố thị để tận hưởng một chút phồn vinh rồi nhìn nhanh lại những mảnh đời rã nát nơi đây, lòng mênh mang từng sợi cảm xúc, có cái gì đó như thắt chặt, như đau nhói tận sâu thẳm con tim, nơi chất chứa những rung động, nơi khơi nguồn những xúc cảm để cùng chia sẻ với cuộc đời.

Bước chân chiều lòng vòng dẫn tôi ghé thăm nhà anh Trần Văn Quỳnh và chị Phạm Thị Bảy cùng sinh năm 1956, tại ấp Ba Rinh, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Anh Quỳnh và Chị Bảy trước đây là một gia đình nông dân chí thú làm ăn. Ngoài việc canh tác 6 công ruộng, chị Bảy còn hàng ngày chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm, ngồi chợ để kiếm thêm đồng rau đồng cá bổ sung thêm cho bữa ăn gia đình. Anh chị sinh được 5 người con, 3 trai, 2 gái. Con cái anh chị do được thừa hưởng gien di truyền chăm chỉ làm ăn của anh chị, nên từ nhỏ đã biết cật lực làm việc. Con cái lớn, anh chị vui với niềm vui dựng vợ gả chồng cho con, cho con ra riêng, cơ ngơi lập nghiệp.

Chỉ còn duy nhất đứa con trai út, em Trần Thanh Dũng, sinh năm 1990. Học xong lớp 9 do cảm nỗi vất vả của cha mẹ già, cha em bị tai biến nhẹ nên không thể lao động, mẹ nặng vai gánh gồng, em đã xin phép cha mẹ cho nghỉ học và xin lên Sàigòn tìm việc làm và đã được nhận vào làm tại Công Ty TNHH Lốp Kumho Việt Nam.

Niềm vui chưa tròn trịa, buổi sáng định mệnh ngày 15.12.2009 tai nạn ập xuống đời em khi đang trên đường từ nơi trọ đến công ty. Chị Bảy kể chuyện, đôi mắt như còn cô đọng lại vẻ thất thần, nhìn sâu vào đôi mắt người phụ nữ ấy tôi như sờ mó được những vết chém ngang dọc cuộc đời chị, để rồi hằn cộm lên vết đau. Tin dữ báo về con bị tai nạn xe, chị quơ vội nắm tiền chắt chiu, chân ướt chân ráo ngơ ngác lên bệnh viện tìm con. Tim chị co thắt lại khi nhìn con bất động cộng với lời khuyên của bác sĩ nên đưa con về. Chị gào khóc van xin các bác sĩ cứu con chị. Cảm thương với tấm lòng bao la như biển cả của người mẹ như chị.

Bác sĩ đã mời chị vào ký giấy cam kết vì tình trạng nguy cấp của con chị. Theo chẩn đoán máu tụ ngoài màng cứng trán đỉnh phải. Mười phần chết chín chỉ còn may mắn một phần. Giọng điệu chất phác chị kể: “Bác sĩ nói tui ký giấy, có gì chịu trách nhiệm. Còn nước còn tát. Còn 1% cũng cố gắng. Rồi người ta bóp bong bóng ba ngày ba đêm, con tui từ từ thở được…”

Hai mươi lăm ngày con chị nằm ở tầng 2 nhà thương Chợ Rẫy là khoảng thời gian đau khổ nhất trong cuộc đời chị, sinh mạng con chị như ngàn cân treo sợi tóc. Bao nhiêu tiền dành dụm phút chốc tan biến nhanh, bao nhiêu món đồ quí giá trong nhà lần lượt chia tay gia đình chị. Tình nghĩa máu mủ các con chị trút hết những giọt máu cuối cùng có thể được để san sẻ cho em mình. Sau 25 ngày em được chuyển sang Quận 8, ba tháng ở Quận 8, mỗi ngày ít nhất phải chi năm triệu tiền thuốc, cơm thì chị xin của hội từ thiện.

Một số tiền quá lớn, họ hàng rồi cũng chỉ biết ngồi nhìn mà ngậm ngùi. Anh chị bán dần 6 công ruộng, rồi bán luôn căn nhà hai trăm rưỡi triệu, cũng không thấm vào đâu. Con trai thứ của chị vì thương em cũng bán luôn căn nhà 150 triệu để phụ lo cho em. Cả nhà về tá túc ở ngôi nhà của bà nội. Bốn năm nay anh chị phải chuyển con từ bệnh viện này sang bệnh viện khác, cho đến bây giờ phế quản vẫn chưa đóng lại được.

Ngôi chợ chồm hổm buổi sáng cảm thương với gia đình chị, người chia sẻ bó rau, người cho miếng xương heo, người cho con cá giúp em Dũng. Thương vì em là đứa con có hiếu, biết nghĩ cho cha mẹ, thương vì chị phải gánh nỗi đau quá lớn. Nhà cửa tiêu tan, bốn năm nay chị kề cận chăm sóc Dũng, không làm gì ra tiền, gia đình lùi dần vào con đường bế tắc. Em Dũng còn đang chờ đợi để đương đầu với một cuộc phẫu thuật rút ống thông thanh quản ra. Đôi mắt chị xa xăm tìm kiếm một điều gì đó trong vô vọng…

Nhìn cách em Dũng bắt đầu bình phục, nghe hiểu rồi viết được tên mình, ai cũng vui mừng. Nhìn sâu trong mắt chị Bảy ai cũng đọc được sự hy sinh cao cả, tình mẫu tử thiêng liêng. Còn anh Quỳnh thì lặng lẽ âm trầm với nỗi đau quá lớn của gia đình. Anh thở dài vì anh cũng đang bệnh, mọi thứ chất hết lên vai chị. Các anh chị em Dũng thì cố sức làm việc, bên cạnh cái gánh gia đình còn cái gánh ruột thịt không bỏ vào đâu được. Sức nặng đang đè nặng trên vai mọi người, không ai nói với ai, nhưng tất cả đều cảm nhận từ nhịp đập con tim.

Tôi đưa tay bắt lấy tay Dũng hỏi em có muốn ngồi trên xe lăn tôi đẩy em ra khỏi con hẻm này cho vui không ? Em gật đầu vui vẻ, nhưng ngồi trên xe lăn đôi chân em run lên bần bật, em bấu chặt tay tôi. Chắc có lẽ tai nạn khủng khiếp vẫn còn ám ảnh trong em, nỗi sợ hãi run lên theo từng vòng bánh xe lăn. Tự dưng giọt nước mắt tôi rớt xuống, lòng tôi lại dậy lên niềm khao khát, không phải chỉ đẩy em ra khỏi con hẻm này để tìm nguồn vui mà luôn cầu mong mọi người hãy chung tay đẩy gia đình em thoát khỏi cơn khốn khó. Hãy cùng nhau dùng tình thương xoa dịu nỗi đau, tìm lại cho em nụ cười và tiếng nói trong trẻo. Hãy san sẻ với một người mẹ vì trái tim bà vẫn sáng như một kỳ quan của thế giới.

Chia tay gia đình anh chị Bảy, con hẻm nhỏ khuất sau lưng tôi nhưng hình ảnh thương tâm của em Dũng và ánh mắt sâu thẳm của anh Quỳnh và chị Bảy theo tôi, như thúc giục tôi hãy cố gắng làm một điều gì đó, ít ra là hãy đưa vào em vào thế giới yêu thương của mọi người. Để tình thương của mọi người đấp ấm làm lành vết chém mà cuộc đời vô tình đã đánh trúng vào gia đình em.

TIEU HO, 6.2013

THEO CHÚA

THEO CHÚA

M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

Trích EPHATA số 568 ngày 30-06-2013

Cuộc sống nhiễu nhương không biết bao nhiêu là ngã rẽ, vậy đâu chính là con đường để nhân loại thủ đắc được cuộc sống hạnh phúc đích thực ? Ai cũng muốn hạnh phúc, muốn được tồn tại cách an toàn nhất. Thế nên, người ta thao thức truy tìm cho mình con đường không phải quá vất vả đấu tranh, đối mặt với cơm áo gạo tiền. Thế nhưng, có lối mòn trần thế nào không vướng đầy bụi của vật chất, danh vọng, tiền tài. Càng lo cơm ăn áo mặc, người ta càng tranh giành chém giết lẫn nhau. Muốn mình chiến thắng, tất yếu kẻ bên cạnh thành chiến bại. Chỉ có một con đường duy nhất, có thể giải thoát nhân loại thoát khỏi cám dỗ của dục vọng, của tham sân si đó là đường thập giá.

Trớ trêu, trong khi nhân loại khóc than, oán trách cuộc đời đã không cho mình lối thoát để không bị bóng tối thế trần xâu xé chỉ bởi cơm áo, thì con đường Đức Giêsu vạch ra lại chẳng mấy ai theo. Cuộc sống trần thế này phức tạp thật đấy, nhiễu nhương thật đấy những cạm bẫy khiến con người khó có thể tìm được hạnh phúc đích thực, nhưng lại chẳng mấy ai muốn bước theo con đường thập giá, con đường phải từ bỏ chính mình để sống cho Thiên Chúa và tha nhân.

Có lẽ, ai trong chúng ta cũng có thể hiểu được nguyên nhân. Không nguyên nhân nào khác hơn ngoài nhu cầu chủ nghĩa cá nhân được đề cao đến mức tuyệt đối. Ai cũng muốn sống cho mình, và là chính mình. Ai có thể từ khước bản thân để chỉ có thể sống cho Thiên Chúa và tha nhân cách nhưng không được ?

Nói trúng hơn, nhân loại chẳng phải không muốn trở nên tốt lành, nhưng khổ nỗi, cái thực tế cuộc sống với những nhu cầu tối thiểu đã khiến cho thế giới bị điên đảo trong những vòng lẩn quẩn của mất niềm tin và phương hướng. Đời sống tâm linh thực sự quan trọng nhưng thực tế cuộc sống lại phũ phàng hơn rất nhiều. Cứ thế, cứ thế… nó cấu xé nhân loại, để rồi con người bị cuốn vào vóng xoáy của đam mê và tham vọng. Thiên Chúa còn bị lãng quên, nói gì đến chân lý mà Ngài muốn để đời cho nhân loại.

Giữa muôn vàn lựa chọn bởi lý tưởng cuộc sống, các tông đồ phân vân tự hỏi không biết mình nên đi đâu về đâu, không biết phải làm gì để sống, phải theo ai giữa cái thế giới xô bồ đầy vất vả truân chuyên này. Sự hiện diện của Đức Giêsu với đường lối và những giáo huấn của Ngài như một mở ngỏ dẫn các ông bước sang một thế giới khác. Sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Các ông tin rằng, khi theo Đức Giêsu, các ông sẽ tìm được nơi nương tựa vũng chắc cho cuộc sống đầy bấp bênh này: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo” ( Lc 9, 58 ). Nhưng Đức Giêsu đã trả lời rất chân thật: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” ( Lc 9, 58 ). Mặc dầu đã khẳng định như vậy, nhưng Đức Giê su vẫn mời gọi: “Anh hãy theo tôi” ( Lc 9, 59 ).

Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ hiểu giá trị Nước Trời mà các ông đang muốn theo đuổi, giá trị ấy không tùy thuộc về bất kỳ điều gì trên thế gian này, nhưng chỉ đặt nền tảng trên sự tôn kính Thiên Chúa và yêu mến tha nhân. Nhân loại ai cũng ngỡ rằng theo Chúa sẽ được tất cả, cơm đủ no, áo đủ ấm, địa vị xã hội được cải thiện… thế nhưng tất cả mọi việc thuộc về thế gian này đều không quan trọng bằng việc loan báo triều đại Nước Thiên Chúa, tất cả đều không quan trọng bằng việc làm chứng cho thế giới này hiểu rằng Thiên Chúa chính là tất cả, quan trọng hơn tất cả.

Đường lối Thiên Chúa và nhân loại khác nhau xa quá. Trong khi con người ngày càng cố gắng xây đắp của cải vật chất và địa vị vững chắc, thì Đức Giêsu lại dẫn đưa họ đến một lối sống khác biệt, sự sống ấy hoàn toàn không được xây nên bằng của cải thế gian này nhưng bằng tình yêu và lòng mến. Tình yêu với Thiên Chúa và lòng mến đối với tha nhân. Sự đòi hỏi ấy dường như vượt quá khả năng nhân loại, để rồi người thì tiếc xót, kẻ thì níu kéo và những thái độ ấy đều bị Đức Giêsu khiển trách: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” ( Lc 9, 62 ).

Lạy Chúa, “đi theo Ngài”, cụm từ ấy với con trải qua bao năm rồi nhưng vẫn không hề thay đổi. Ở tận đáy lòng, khi nào con chỉ cũng muốn theo Chúa và bước đi với Ngài mà thôi. Vì chưng, ngoài con đường ấy, con còn biết đặt chân đến nơi nào khác hơn. Chỉ có điều, có những giai đoạn trong cuộc đời con đã phải dừng lại, rẽ ngang, rẽ dọc… Thế nhưng, cho dù con có đi đến đâu, cũng không đi ra khỏi cõi lòng, nơi có con đường đưa con đến gặp Ngài. Dẫu hiện tại có phải mang gánh nặng nề bởi kế sinh nhai, nhưng niềm tin vào tình thương của Thiên Chúa đã giúp con vượt qua mọi thử thách.

Xin giúp con luôn hiểu rằng cho dù cuộc sống có cam go đến đâu, cũng đừng từ bỏ “đường theo Người”, để mà can đảm buông tay gửi mọi phù hoa cho thế trần.

M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

Tất Cả Là Hồng Ân.

Tất Cả Là Hồng Ân.

Giuse Thẩm Nguyễn

nguồn:vietcatholic.net

Khi nghĩ về những hồng ân, người đời thường nghĩ về những điều phúc, điều lành, chứ không ai coi cái họa, cái xui là hồng ân cả. Tuy nhiên, câu thành ngữ : “tái ông thất mã, an tri họa phúc”, có nghĩa là “ông lão ở biên giới mất ngựa, biết đâu là họa hay là phúc” thì chứng tỏ phúc hay hoạ là do chúng ta thôi.

Chuyện Tái Ông Mất Ngựa trong sách Hoài Nam Tử như thế này: Ông lão ở nước Hồ bị mất một con ngựa, tưởng là xui. Ai ngờ vài tháng sau, con ngựa kéo thêm cho ông con ngựa khác, tưởng là phúc. Có ngựa nên con trai ông cưỡi ngựa bị gãy chân, tưởng là hoạ. Bị gẫy chân nên con trai của ông được miễn đi lính, tưởng là phúc….

Cái vòng luẩn quẩn phúc và họa ấy sẽ chấm dứt khi con người chết.Chết là hết chuyện. Thật vậy đối với đời sống con người cái chết là kết thúc mọi chuyện. Dù khi sống người ấy có là ông này bà kia, có giàu sang phú quý, hay nghèo hèn thế nào thì chết cũng là hết. Bởi thế không bản án nào nặng bằng bản án tử hình, tức là cướp đi sự sống của một người. Nói một cách khác, sự sống là món quà quý nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho con người.

Chết quả là sự cay đắng cho những ai chỉ cậy dựa và muốn hưởng thụ thế gian này, nhưng chết đối với người tin Chúa thì lại là niềm hy vọng được trở về hưởng Tôn Nhan Thiên Chúa, Đấng đã tạo ra mình.

Đối với đức tin Công Giáo, thì sống cũng là hồng ân mà chết cũng là hồng ân, nếu cái chết ấy được chuẩn bị chu đáo để sẵn sàng về hưởng Tôn Nhan Chúa. Thánh Phaolô quan niệm sự sống và sự chết của Ngài như thế này “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi “. (Pl 1,21

Theo quan niệm nhân gian, thì điều gì mình thích thì gọi là phúc, điều gì mình không thích thì gọi là họa. Sống thọ, có sức khỏe tốt, được người ta kính trọng, được giàu có thì ta gọi là phúc (hên). Ngược lại chết chóc, bệnh tật, bị hiểu lầm, bị nghèo đói thì gọi là họa (xui).

Cho nên trong các lời rao đầu lễ Chúa Nhật, tôi thường nghe thấy những lễ xin tạ ơn như được khỏi bệnh, được thăng chức, được thi đỗ, được có việc làm, được bằng an.. chẳng bao giờ tôi nghe thấy xin lễ tạ ơn vì đã bị bệnh, đã bị hiểu lầm, đã thất nghiệp, đã bị đau khổ… mà thực ra những điều chúng ta không thích cũng là hồng ân Chúa ban để giúp ta đến gần Chúa.

Suy tư về điều phúc và họa, tôi giật mình khi thấy đã bao lần tôi cất tiếng trong nhà thờ đọc kinh ‘Tám Mối Phúc Thật” mà chẳng ý thức về những điều Hội Thánh dạy.

Phúc thay người có tâm hồn nghèo khó, người hiền lành, người sầu khổ, người đói khát sự công chính, người từ tâm, người có tâm hồn trong sạch, người kiến tạo hòa bình, người bị bách hại vì sự công chính, người bị xỉ nhục, bị bắt bớ, bị nói xấu, bị đặt điều vì Danh Chúa.

Tôi không biết có bao nhiều người hiện diện trong nhà thờ cầu mong những điều phúc này. Toàn là những điều mà thế gian gọi là tai họa, thế mà những người Công Giáo đích thực lại cho là có phúc?

Cái phúc ở đây ,theo người tin Chúa, là những cơ hội dẫn đưa ta về với Chúa là hạnh phúc cùng đích của đời sống. Sống không phải chỉ là sống mà là chuẩn bị cho sự sống bất diệt sung mãn cùng với Chúa Yêu Thương trong nước của Người.

Lần tìm trong Sách Giáo Lý Công Giáo, tôi được hiểu thêm: “Những phúc thật này vẽ lên khuôn mặt Chúa Kitô và mô tả đức bác ái của Người. ..Các phúc thật là những lời hứa nghịch lý để nâng đỡ niềm hy vọng trong những lúc gian truân, loan báo nhưng phúc lành và những phần thưởng mà các môn đệ của Chúa đã âm thầm đạt được.” (GLCG, câu 1717)

Người đời cho rằng trúng xổ số là có phúc, vậy mà theo báo Houston, ông Bille đã tự tử vì những đồng tiền từ trên trời rớt xuống ấy. Phóng viên Steve viết trong báo Houston rằng: ông Bille Bod Harrel Jr đã trúng 31 triệu dollars độc đắc bang Texas. Lúc đầu mọi sự đều tuyệt vời…Ông dùng tiền mua nhà, xe, làm từ thiện. Ông có thêm rất nhiều bạn… nhưng chỉ 20 tháng sau, gia đình ông tan tác, ông bị vỡ nợ và đã tự tử. (From A Treasury of Terribly sad Stories of Lotto Winners)

Có ai khổ cực trăm bề bằng những người Công Giáo bị bắt đạo thời xa xưa. Họ bị hành hạ thể xác, hành hạ về tinh thần và phải chịu chết một cách dã man. Thế mà đối với chúng ta, các Ngài đã được phúc tử đạo.

Tôi đã nghe và rất thích bài hát “ Tất Cả Là Hồng Ân”, tác giả cho rằng có những biến cố chúng ta cho là phúc, có những điều khác chúng ta cho là họa thì đối với Thiên Chúa Tất Cả Là Hồng Ân.

Những phúc/họa này có mục đích hướng chúng ta nhận biết sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình và giúp chúng ta yêu mến Chúa nhiều hơn, giúp chúng ta đạt được mục đích đầu tiên khi được sinh ra trong cõi đời này là “ thờ phượng và yêu mến Chúa”. Như thế trong đời sống đức tin Công Giáo không có gì là họa, mà tất cả là hồng ân. Chúng ta phải cảm tạ Chúa về mọi hồng ân Chúa ban cho mình.

Một bài thánh ca khác “ Khúc Ca Tạ Ơn”, tác giả cho rằng cuộc đời chúng ta được dệt bằng những niềm vui hân hoan hoà lẫn với những nỗi buồn da diết, những phút cười vui an bình pha lẫn những thử thách, long đong. Tất cả dệt thành Khúc Ca Tạ Ơn.

Nếu đời của chúng ta găp toàn chuyện may lành, thì chúng ta không biết giá trị của đau khổ, ngược lại nếu đời toàn là đắng cay thì cuộc sống chưa trọn vẹn. Một bức tranh đẹp do người hoạ sĩ tài ba là Chúa Giêsu vẽ lên cho đời ta phải điểm muôn màu muôn sắc. Tạ ơn Chúa vì chính Ngài đã dùng những nét chấm phá phúc-họa để vẽ lên con giống Chúa hơn.

Chúa đã dẫn tôi qua mọi biến cố của cuộc đời. Chúa đã cho tôi được gia nhập đạo Thánh Chúa khi vừa chào đời, Chúa đồng hành với tôi qua những tháng ngày tăm tối trong trại cải tạo, Chúa vui với tôi qua những tháng ngày bơ vơ nơi xứ người và Chúa nâng đỡ, kề cận tôi trong lúc tuổi già. Tôi đã phó thác trong tin tưởng để bước đi theo Chúa. Con đường quanh co, lúc thì phúc, lúc thì họa là con đường “Thánh Ý Chúa”.

Lạy Chúa, con đường phúc-hoạ nào Chúa đã đi qua, xin cho con được bước đi theo Ngài. Xin dạy con nhận ra sự hiện diện và hướng dẫn của Chúa qua những biến cố trong đời con. Xin cho con biết chấp nhận để kiên trì vác thánh giá theo chân Chúa suốt đời con vì có Chúa thì “ Tất Cả Là Hồng Ân “. Amen.

Giuse Thẩm Nguyễn

CÓ THƯỢNG ĐẾ!!!

CÓ THƯỢNG ĐẾ!!!

Tác giả: Gs. Phan Văn Phước

nguồn:conggiaovietnam.net

(Bài viết cũ, có bổ sung, vào ngày 27.6.2013, bằng tài liệu về Kỳ Công của Đấng Tạo Hóa.)

I- Lời dẫn nhập:

Có ”kẻ” cho rằng con người LÀM nên tất cả, chẳng hạn: vô số ”nhà LÀM RA Khoa Học” đáng được cả thế giới khâm phục!!! Tôi bèn hỏi: ”Vậy AI LÀM RA vũ trụ?” Và đây là câu trả lời của lắm người KHÔNG tin có Thượng Đế: ”Đó là DO TỰ NHIÊN!” Tôi liền nói: ”Chữ ”tự” có nghĩa là MÌNH, TỰ MÌNH; chữ ”nhiên” có nghĩa là NHƯ VẬY. Cả hai chữ ấy có nghĩa: KHÔNG DO sức người LÀM RA! Mà có MUỐN LÀM chăng nữa, con người cũng CHỊU THUA!!! Thua AI, ông biết không? Thua ĐẤNG LÀM ĐƯỢC. Đấng ấy xưng MÌNH là TA như trong Kinh Thánh vì Ngài TỰ MÌNH phán THÌ có vũ trụ. Ngoài ra, chữ TỰ NHIÊN đồng nghĩa với THIÊN NHIÊN. Mà THIÊN là TRỜI!!! Như vậy, THIÊN NHIÊN có nghĩa là DO TRỜI LÀM RA! (Xin xem từ điển của Cao Đài.) Chữ ”tự nhiên; thiên nhiên” (nature; Natur”) là do từ Latinh: NATURA, có nghĩa: ĐƯỢC SINH RA: BE BORN!!!

Cho nên, thật là VÔ LÝ và BẤT CÔNG, BẤT CHÍNH, VÔ ƠN khi con người ”mở miệng” CA TỤNG hết lời ông A ”CHẾ RA” đủ loại máy móc, nhưng QUÊN rằng kim loại (mà ông ấy sử dụng) là DO TRỜI LÀM RA, tức THIÊN NHIÊN như đã định nghĩa.

Nhắm giúp ”nhân-vô-tri-bất-mộ” được sáng mắt, sáng lòng, tôi xin giới thiệu, ở cuối bài viết, Video ”Birds of Paradise; Winged Seduction Birds Of Paradise ” là phần trích từ bộ phim dài mà ”thiên hạ” (40 cameramen: người quay phim) phải bỏ ra hết 3000 ngày, tới 200 địa điểm trên khắp thế giới để khám phá Quyền Năng của Đấng Tạo Hóa. Ngoài ra, còn có Truyền Hình của Việt Nam (VTV2) giới thiệu con người HỮU HẠN đi TÌM HIỂU về THIÊN CƠ (thang máy) DO Ông TRỜI làm ra.

II- BÀI VIẾT:

Những người vẫn ”khư khư chủ trương KHÔNG CÓ Thượng Đế” sẽ CHẲNG bao giờ chứng minh được rằng ”không có Ngài” CHO DÙ họ dựa vào những phát minh mới về Khoa Học! Tại sao vậy?

Bởi vì ”Khoa Học” (1) KHÔNG PHẢI DO con người LÀM RA. Ví dụ: Sức đẩy của nước (định luật Archimède) KHÔNG DO ông ấy ”sáng chế” VÌ nó ĐÃ CÓ từ thuở ”TẠO THIÊN, LẬP ĐỊA”! Càng ”khám phá” phần nào đó ”Khoa Học CỦA ĐẤNG Tạo Hóa” (The Science OF The Creator) qua vũ trụ, con người, BỊ ”giới giạn bởi thời gian và không gian”, vẫn THẤY mình quá NHỎ BÉ và còn ”DỐT” trước ”Tri Thức CỦA Kiến Trúc Sư Tuyệt Đối” LÀM RA ”thiên cơ” (then máy của Trời) mà mình KHÔNG tài nào HIỂU THẤU được hết.

Ban đầu, đào đất, tôi tạo được một cái lỗ nhỏ. Càng đào đất ngày nầy qua ngày nọ, tôi KHÔNG còn thấy cái lỗ, mà quanh mình lại là một ”cái hố” rất rộng. Trong Lĩnh vực Khoa Học, cũng thế! Với ”viễn vọng kính” hiện đại, tối tân, sự hiểu biết CỦA con người (VỀ vũ trụ) CHỈ LÀ một phần ”tri thức” QUÁ NHỎ nên nhiều nhà nghiên cứu Khoa Học phải khẳng định rằng ”vũ trụ bao la, không cùng” là điều chứng minh CÓ ”Đấng Lạ Lùng” chế ra thiên cơ. Xin đơn cử trường hợp như sau:

Ngoài mặt trời, ngôi sao ”gần chúng ta nhất” được gọi là ”Proxima” nằm trong ”chòm Alpha Nhân Mã” (Alpha du Centaure), CÁCH chúng ta chừng 41 NGÀN TỶ cây số!!! Các nhà thiên văn phải ”tính gọn” khoảng cách ấy bằng NĂM-ÁNH-SÁNG (l’année lumière)! Mà vận tốc của ánh sáng trong mỗi giây là 300 NGÀN cây số! Vậy, trong một năm, ánh sáng đi được là 9,5 NGÀN TỶ cây số. Muốn ”bay” nhanh BẰNG ánh sáng để lên tới sao Proxima, tôi phải mất 4 năm và 3 tháng!!!

Quả Đất là hành tinh trong thái dương hệ (solar system) gồm có: Mercure, Venus, Terre, Mars, Jupiter, Saturne, Uranus (được khám phá năm 1781), Neptune (năm 1846) et Pluton (năm 1930). Thái dương hệ lại nằm trong ”Giải Ngân Hà” (Voie Lactée / Milky Way / Galaxy) có chừng 200 TỶ (200.000.000.000) ngôi sao! Các nhà thiên văn CHỈ mới khám phá được chừng 100 tỷ Ngân Hà trong một phần nhỏ của vũ trụ bao la! Cho nên ”chiêm tinh gia” nọ phát biểu và đặt câu hỏi như sau: ”Mới khám phá NGẦN ẤY về vũ trụ bằng viễn vọng kính TƯƠNG ĐỐI, mà tôi đã CHÓNG MẶT. Vậy, nên thư giãn tí xíu bằng cách tính kích thước ngắm được, thật KINH HOÀNG của Vũ Trụ, theo tỷ lệ KHIÊM TỐN của loài người! Phải chăng số NGÂN HÀ trong Vũ Trụ NHIỀU HƠN CÁT trên Địa Cầu?

Big Bang (Sự Bùng Nổ Lớn: Gigantesque Explosion) KHÔNG phải là chân lý (2), mà CHỈ là giả thuyết thuần túy siêu hình (une pure hypothèse métaphysique) bắt NGUỒN từ Cựu Ước nói về việc Sáng Thế từ HƯ VÔ (La création ex nihilo: Creation out of nothing) DO Quyền Năng của Thiên Chúa. CHẲNG chứng minh được rằng ”không có Thượng Đế”, còn DÈ DẶT vì lý do này, lý do kia, một số nhà nghiên cứu Khoa Học BÈN phát biểu: ”Do KHÔNG thể thấy Vũ Trụ ra sao trước Big Bang, chúng ta cũng CHẲNG biết được điều gì trong giai đoạn ẤY. Nhưng một số lý thuyết cho rằng có thể Vũ Trụ của chúng ta ‘chào đời giữa lòng Vũ Trụ khác’ ĐÃ CÓ TRƯỚC (préexistant).”

Như vậy, xét cho cùng, khái niệm ”Vũ Trụ Đà CÓ TRƯỚC” không phải là thiên cơ hữu hình, MÀ LÀ ”Đấng Vô Hình, Toàn Năng, Tuyệt Đối, Toàn Tri, Toàn Hảo…” Ngài có TRƯỚC thời gian và không gian, TỨC Đấng Tự Hữu (The Self-Existing) CHÍNH LÀ Thượng Đế. Cựu Ước nói ngắn gọn về việc Ngài khởi sự TẠO DỰNG vũ trụ như sau:

BAN ĐẦU, Thiên Chúa SÁNG TẠO trời và đất. Ðất còn trống không, mông quạnh, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa là là trên mặt nước. Và Thiên Chúa PHÁN: “Hãy có ánh sáng.” Và có ánh sáng. Và Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp và Thiên Chúa phân tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Và Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, bóng tối là đêm. Đã có buổi chiều và buổi sáng: ngày thứ nhất.” (Sáng Thế Ký 1,1-5)

Gottfried Wilhelm Leibniz, nhà Toán Học, Triết Gia Đức, phát biểu: ”Thượng Đế tính toán, sử dụng ý tưởng của Ngài, cho nên thế giới đã được tạo thành. Trước hết mọi sự, Thượng Đế là VỊ tính toán vĩ đại, Nhà luận lý VĨNH HẰNG.” (Dieu calcule, il exerce sa pensée, et le monde est créé. Dieu est avant tout le grand Calculateur et l’éternel Logicien.)

Ông ta còn nói: ”KHÔNG gì CHẲNG gì mà KHÔNG lý do.” (Rien n’a rien sans raison.) Câu ấy phải được hiểu như thế này: Mọi sự đều CÓ nguyên nhân. Nhưng Thiên Chúa KHÔNG phải là ”sự, cái gì” VÌ Ngài là Nguyên Nhân CỦA mọi sự, mọi loài, TỨC Đầu Hết, LÀ Alpha bởi vì, trước chữ Alpha của mẫu tự Hy-lạp, KHÔNG CÓ chữ nào cả!

Tên đao phủSaulô đi lùng người tôn thờ Chúa Giêsu, đã được Ngài cho mù mắt để sáng lại, trở thành ‘‘Thánh Phaolô” đã cảnh cáo hạng người TƯỞNG mình là trí thức, nhưng vẫn MÊ MUỘI như sau: ”VÌ những gì thiên hạ có thể BIẾT về Thiên Chúa thì đã được mạc khải CHO HỌ. Từ thuở tạo thành vũ trụ, những việc tốt lành của Ngài mà mắt người đời không thấy được, TỨC là Quyền Năng vĩnh cữu và Thần Tính của Ngài. DO ĐÓ, họ VÔ phương chạy tội. VÌ đã BIẾT Thiên Chúa, NHƯNG họ KHÔNG tôn vinh Ngài là Thiên Chúa và cảm tạ Ngài. Trái lại, họ suy luận LẦM LẠC và tâm trí ngu si của họ trở thành TỐI TĂM. Họ tự KHOE là khôn ngoan, NHƯNG đã trở nên điên rồ.” (Roma 1,19-22)

Thật vậy, NHÌN cái ”máy vũ trụ” QUÁ LẠ LÙNG, vượt sức tưởng tượng của mình LÀ thọ tạo HỮU HẠN, ai CÒN ngoan cố, CÒN tự cao và CÒN KHÔNG TIN có Thượng Đế THÌ người ấy CŨNG nên làm kẻ ”điên rồ” bằng CÁCH lý luận rằng chiếc đồng hồ đeo tay chẳng có người nào làm ra!!!

Đaminh Phan văn Phước

Đức Quốc, 27 và 28.5.2012, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, ban Ơn cho Kitô hữu mạnh dạn tuyên xưng Đức Tin.

Ghi chú:

1. Chữ ”science” là cách biến âm của từ Latinh ”scientia” vốn là danh từ của động từ ”scire”: savoir; know; biết! Có bản dịch dùng chữ ấy trong thành ngữ ”l’arbre de la science du bien et du mal”: cây biết điều lành và sự dữ. Như vậy, chữ ”science” đồng nghĩa với ”connaissance; knowledge”. Cây ẤY ở Vườn Eden LÀM biểu tượng NHẮC Adam-Eva nhớ tới Lời của Thượng Đế LÀ Đấng Toàn Tri. (L’OMNISCIENT) ”Cây” gậy của Mosê đập đá để lấy nước nuôi Dân Chúa khỏi chết khát trong sa mạc. Vì Adam-Eva muốn được BẰNG CHÚA, ”Cây” Vườn Eden đã biến loài người trở thành nô lệ của Satan! Nhưng ”CÂY” Thập Giá giúp loài người đè đầu NÓ!!!

2. Bài khác sẽ nói về Big Bang.

Đức Quốc, 27 và 28.5.2012, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, ban Ơn cho Kitô hữu mạnh dạn tuyên xưng Đức Tin.

Đaminh Phan văn Phước

Kính mời xem Video về Kỳ Công của Đấng Tạo Hóa:

Birds-of-Paradise Project – YouTube

Winged Seduction Birds Of Paradise – YouTube

Khám phá thế giới – Kính thiên văn Hubble – YouTube

Tác giả: Gs. Phan Văn Phước

Ba điều ước của Alexander

Ba điều ước của Alexander

Đăng bởi lúc 1:00 Sáng 30/06/13

nguồn:chuacuuthe.com

VRNs (30.06.2013) – Đồng Nai – Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ông nhận ra rằng cái chết sắp sửa đến và ông sẽ không về kịp mảnh đất quê hương. Ông bảo các sĩ quan của mình:

– “Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo”.

Các vị tướng tuân lệnh trong dòng nước mắt.

– “Điều ước đầu tiên của ta là hãy bảo thầy thuốc của ta mang cái hòm rỗng của ta về một mình”.

Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander nói tiếp:

– “Ước nguyện thứ hai của ta là hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho tàng của ta trên suốt dọc đường đến nấm mồ của ta khi các ngươi mang quan tài của ta ra nghĩa địa”.

Sau khi quấn mình trong chiếc áo khoác và nghỉ một lúc, ông nói tiếp:

– “Ước muốn cuối cùng của ta là hãy đặt 2 bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài”.

Mọi người xung quanh ông tất cả đều rất tò mò, nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân. Vị cận tướng của Alexander hôn bàn tay ông và hỏi:

– “Thưa đức Vua, chúng thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng Ngài có thể cho chúng thần biết tại sao Ngài lại muốn chúng thần làm như vậy hay không?”.

Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời:

– “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã học được:.

– “ Mong ước thứ nhất của ta, để người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình, là để cho người ta nhận ra rằng một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng, phải trân quý cuộc sống của họ.

– “Mong ước thứ hai của ta, là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên giống như ta, theo đuổi mộng giàu sang. Nếu ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu có, ta sẽ lãng phí hầu hết thời gian quý báu của đời người.

– “Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng, ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng”.

Nói xong ông nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.

Người Việt Nam có câu: “Khôn dại cùng chung ba thước đất”. Vâng, với kinh nghiệm của mình, chúng ta thấy rằng: cho dù khi còn sống người đó là ai, làm gì đi chăng nữa, thì đến khi từ giã cõi đời cũng chỉ còn lại “ba thước đất”. Cũng chính vì thấy rõ sự giới hạn của thế giới vật chất mà tác giả sách Giảng Viên đã nói: “Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không”. Và tác giả đã nêu lên lý do tại sao ông cho rằng tất cả là hư không, đó là “vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không”.

Chúa Giê-su trong thân phận con người, Ngài đã sống thật thanh thoát với của cải. Ngài không để danh lợi thú cản trở bước chân của Ngài. Ngài đã từng nói: Cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”. Ngài không lệ thuộc vào phương tiện vật chất. Vì phương tiện chỉ hữu dụng khi con người làm chủ nó, còn khi con người phải lệ thuộc vào phương tiện thì lúc đó con người mất tự do và để phương tiện làm chủ mình. Ngài hoàn toàn tín thác vào Chúa Cha, cho dù phải uống chén đắng cuộc đời, Ngài vẫn xin vâng ý Cha trọn đời.

Thế nhưng, những người môn đệ Chúa hôm nay vẫn còn có những người thích tích lũy của cải trần gian. Vẫn còn có những linh mục sợ phải vào rừng sâu, phải đến những nơi thiếu thốn mọi bề. Cuộc sống của họ đang đầy đủ phương tiện nhưng bây giờ phải đối diện với thiếu thốn họ sợ hãi và muốn lẩn tránh.

Nhưng cũng có nhiều linh mục biết dấn thân mà không quản ngại khó khăn. Họ đến những vùng rừng núi hoang vu. Họ sống giữa bản làng thiếu thốn tư bề. Họ vẫn sống thanh thoát bình an. Đây là những hình ảnh đẹp của người môn đệ. Thanh thoát, nhẹ nhàng trong cuộc đời. Không để vật chất làm cản trở bước chân truyền giáo. Không để những tình cảm níu kéo làm mất đi tinh thần hăng say phục vụ.

Cuộc đời người ky-tô hữu cũng chỉ đẹp khi biết sống thanh thoát với của cải trần gian. Đừng vì ham mê của cải mà sống ti tiện, sống tham lam, bất công và bất chính. Cuộc đời người ky-tô hữu phải để Chúa làm chủ linh hồn và thân xác mình, đừng để những lạc thú làm mê hoặc lòng người. Hãy bước theo Chúa trong tin yêu phó thác. Hãy buông mình trong vòng tay quan phòng của Chúa để Chúa hướng dẫn cuộc đời chúng ta.

Viết bằng đức tin

Viết bằng đức tin

TRẦM THIÊN THU

Đăng bởi lúc 1:56 Sáng 30/06/13

nguồn: chuacuuthe.com

VRNs (30.06.2013) – Sài Gòn – Ngày 9-5 là Ngày Quốc Tế Nhà Báo (OIJ, thành lập năm 1946) và ngày 21-6 là Ngày Nhà Báo Việt Nam, liên quan chuyện viết lách (bài viết, thời sự, phóng sự, cảm nhận, văn, thơ, nhạc,…). Với người Công giáo còn liên quan Đức Tin. Sự cân bằng giữa việc viết lách và Đức Tin là gì? Đâu là điểm phải dừng lại và suy nghĩ xem mình có tập trung quá nhiều vào việc viết lách mà quên Sự Thật? Tôi có thực sự nhìn thẳng vào các vấn đề? Tôi có nghĩ về các điều không thực tế? Tôi có lãng phí tài năng Chúa ban? Tôi tin mình tìm thấy sự cân bằng đó, và câu trả lời đó có thể gây ngạc nhiên!

Nghệ thuật không có giới hạn, không có quy luật, không có cách đúng hay sai. Nhưng, đối với người Công giáo chúng ta, chúng ta đang sống sự thật mà chúng ta muốn giữ là điều quan trọng ngay cả khi chúng ta viết lách lúc rảnh rỗi. Truốc khi tôi bị thu hút vào các lĩnh vực mà tôi tạo ra trong đầu, tôi vẫn cầu nguyện hằng đêm. Tôi thức dậy và tìm cuốn Kinh thánh, tôi không hiểu sao mình lại để không đúng chỗ. Làm sao tôi chọn giữa 2 điều tôi thích nhất – Thiên Chúa và sự viết lách – khi Thiên Chúa ban cho tôi năng khiếu viết lách?

Tôi thấy các nhạc sĩ có vẻ tìm thấy sự cân bằng nào đó, đặc biệt là các nhạc sĩ Công giáo. Họ biết mình là Kitô hữu, nhưng vẫn lắng nghe những giai điệu. Đôi khi họ còn làm cho những giai điệu đó được nhiều người biết đến. Mất nhiều thời gian để đọc một cuốn sách hơn là nghe một bản nhạc, cho nên tôi thấy ít hy vọng khi chú ý vào bí ẩn của một nhạc sĩ. Cả hai dạng nghệ thuật đó đều kể lại một câu chuyện và và thu hút những đối tượng khác nhau. Các nghệ sĩ là Kitô hữu thu hút vì cá tính của họ, vì phong cách của họ, hoặc có thể vì bút chiến. Tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều về điều đó. Tôi không biết cách tìm ra sở trường của tôi trong các bài viết khi tôi vừa là Kitô hữu vừa là người viết lách. Cuộc đời luôn bắt tôi chọn lựa: Thiên Chúa và viết lách.

Đừng để bị cuộc đời lừa dối

Tôi thường cảm thấy không thoải mái trong ngày vì tôi cứ miên man suy nghĩ về những câu chuyện của tôi, đặt mình vào các nhân vật và các tình huống, tìm cách giải quyết cho họ hoặc đơn giản là diễn đi diễn lại cảnh tượng đó. Đôi khi trong đầu tôi vang lên lời thúc giục đọc Kinh thánh hoặc Giáo lý thay vì chia trí vì những chuyện vặt. Dĩ nhiên tôi nên dành nhiều thời gian để đọc Kinh thánh, và tôi đang làm vậy để có lợi cho tôi và những bài viết của tôi.

Vấn đề là tôi cảm thấy có lỗi vì chú tâm nhiều về những gì tôi biết và tôi viết. Người ngoại giáo có làm như thế? Nếu vậy, tất cả các văn nghệ sĩ đều không là Kitô hữu. Trong tôi luôn có sự giằng co như Thánh Phaolô: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi” (Rm 7:19-20).

Văn là người. Người viết luôn đặt tâm trí vào điều họ viết. Bài viết hay phải có trải nghiệm thực tế. Tưởng tượng cũng phải dựa vào thực tế. Người viết hay phải đổ tâm huyết vào bài viết, không được bỏ chi tiết cần thiết nào, và tạo được “nét riêng” của mình. Nét riêng đó là dấu vết tâm hồn, là dấu vết riêng. Tìm được sự cân bằng giữa tư cách một Kitô hữu và tư cách một người viết liên quan việc sống và nghĩ với tư cách một Kitô hữu. Đó là đặt Thiên Chúa ở mức cao nhất. Ưu tiên Ngài thì chúng ta sẽ không gặp rắc rối nào!

Tôi muốn bạn nhận thức rằng bạn có thực sự là một Kitô hữu hay không. Nếu bạn thực sự là một Kitô hữu, bạn đang sống đức tin của mình một cách có thể trọn vẹn nhất. Nếu bạn là một Kitô hữu, hoặc bạn có niềm tin tôn giáo khác, điều đó sẽ tỏ rõ trong cách viết của bạn. Nếu bạn có lương tâm đúng đắn và có kinh nghiệm sống đời thường, nếu bạn biết điều gì làm nên một câu chuyện hay và bạn biết các giáo huấn của Chúa Giêsu, nếu bạn chưa bao giờ bỏ qua một ngày mà không cầu nguyện với Ngài một lúc, bài viết của bạn sẽ phản ánh điều đó – dù chỉ là ngẫu nhiên.

Có thực sự là ngẫu nhiên?

Như một người thích biển, xung quanh họ là biển với nhiều cát và những cách hải âu bay lượn, chắc chắn họ sẽ phản ánh điều đó bằng cả tâm huyết trong bài viết. Kitô hữu cũng thể hiện đức tin tôn giáo trong bài viết của mình, tâm hồn họ đầy những điều về Đức Kitô. Hãy biết ưu tiên điều gì trong cuộc sống, và hãy tập trung công việc vào Thiên Chúa – Đấng quan trọng nhất. Hãy tập trung vào Nguồn Sáng Tạo là Thiên Chúa, và những gì liên quan Ngài. Bài viết của bạn sẽ làm chính bạn ngạc nhiên vì có Chúa Thánh Thần tác động. Đừng sợ và hãy tin tưởng, vì Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta nếu chúng ta làm những điều đẹp Tôn Ý Ngài!

MARIELLA HUNT

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

Ủy ban đối ngoại Hạ viện thông qua Dự luật nhân quyền VN

Ủy ban đối ngoại Hạ viện thông qua Dự luật nhân quyền VN

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-06-28

20130508_093722-305.jpg

Dân biểu Ed Royce phát biểu tại buổi đệ trình lên Quốc Hội bản dự thảo “Đạo luật Nhân Quyền VN năm 2013” ở tòa nhà Hạ viện Rayburn hôm 8/5.

RFA

Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam H.R.1897, đồng soạn thảo bởi dân biểu Christopher Smith và dân biểu Ed Royce, được Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Hoa Kỳ đồng loạt thông qua trưa thứ Năm 27 tháng Sáu vừa qua.

Thông qua với đa số áp đảo

Ngay sau buổi điều trần kết thúc, dân biểu Ed Royce trả lời phần phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện, trước tiên ông cho biết:

DB Ed Royce: Trong bao năm qua Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện đã mở nhiều cuộc điều trần về Việt Nam. Nếu những cuộc điều trần ấy có cùng một tiếng nói ố chung thì đó là nhân quyền tại Việt Nam càng ngày càng giảm sút. Những kẻ thừa hành trong chính phủ đó đã mạnh tay đàn áp người bất đồng chính kiến. Những ai dám dưa lên trang blog hoặc loan tải những tài liệu liên quan đến dân chủ, hoặc bất cứ điều gì có tính cách phê bình chỉ trích đảng cộng sản đương quyền, đều phải đối diện những năm tù giam và bị hành hạ đánh đập. Dự Thảo Luật Về Nhân Quyền Cho Việt nam được Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện thông qua hôm nay là một thông điệp dứt khoát đối với đảng cộng sản Việt Nam là phải thay đổi phải cải thiện nếu muốn nhận thêm những nguồn viện trợ nằm ngoài tính cách nhân đạo từ Hoa Kỳ.

Thanh Trúc: Thưa ông dân biểu ED Royce, khi trình bày những điều này có phải ý ông muốn nói đó là lý do khiến Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện, mà ông là chủ tịch, đã đồng loạt thông qua H.R.1897 với đa số áp đảo như thế?

DB Ed Royce: Là vì ai cũng phải sửng sốt và quan ngại trước cách hành xử của chính phủ Việt Nam. Chỉ trong vòng sáu tuần lễ đầu năm nay, nhà cầm quyền Việt Nam bắt giữ 40 người bất đồng chính kiến, buộc tội họ bằng những phiên tòa nặng phần trình diễn hơn là công lý. Chỉ hơn sáu tuần lễ thôi mà số người bất đồng chính kiến bị bắt giữ đã ngang bằng con số toàn năm ngoái. Nhà nước cộng sản Việt Nam đánh đập hành hung những ai dám lên tiếng bảo vệ nhân quyền.

20130508_093934-250.jpg

Dân biểu Chris Smith phát biểu tại buổi đệ trình lên Quốc Hội bản dự thảo “Đạo luật Nhân Quyền VN năm 2013” ở tòa nhà Hạ viện Rayburn hôm 8/5. RFA PHOTO.

Một lý do nữa mà tôi muốn trình bày là dự luật phải được thông qua bởi vì ở Việt Nam đề cập đến tự do tôn giáo là một cái tội, nói những gì nhà nước không thích cũng là phạm tội mà hậu quả là nhiều năm bị giam cầm. Đã có nhiều buổi điều trần tại quốc hội Mỹ về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, bằng chứng, hình ảnh và danh sách tên tuổi những người bị hành hạ bị đánh đập được trưng lên cho các vị dân biểu thấy.

Cộng đồng thế giới từng nói về những điều tệ hại này, và bây giờ chúng tôi cảm thấy đến lượt quốc hội phải lên tiếng, bước tiếp nữa là trình dự luật, đã được Ủy Ban Đối Ngoại nhất trí thông qua hôm nay, ra trước hạ viện để biểu quyết.

Thanh Trúc: Thưa ông, bao giờ thì H.R.1897 sẽ được đưa ra trước toàn thể hạ viện để biểu quyết?

DB Ed Royce: Tôi nghĩ vài tuần lễ nữa thì dự luật, vừa được Ủy Ban Đối Ngoại chúng tôi thông qua hôm nay, phải được trình ra trước toàn thể hạ viện để biểu quyết. Theo tôi có thể khoảng cuối tháng Bảy chứ không lâu hơn.

Thanh Trúc: Vậy ông có tiên liệu những khó khăn hay trở ngại có thể xảy ra khi Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam được mang ra trước toàn thể hạ viện sắp tới?

DB Ed Royce: Việc Dự Luật được Ủy Ban Đối Ngoại có các dân biểu lưỡng đảng thông qua hôm nay với đa số áp đảo tôi thấy không có sự khó khăn nào khi nó được đưa ra trước hạ viện lần này.

Thanh Trúc: Thưa trong quá khứ Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam từng được thông qua hai lần ở hạ viện cũng với đa số áp đảo, nhưng đã bị khựng lại khi lên tới Thượng Viện? Liệu năm nay có điều gì khác hơn?

DB Ed Royce: Là vì khi đó thượng nghị sĩ John Kerry, trong tư cách chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại trên thượng viện, đã tìm cách ngăn chận Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam lại. Hiện tại ông John Kerry không còn là chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện nữa mà là ngoại trưởng Hoa Kỳ, thay vào chỗ ông ta là thượng nghị sĩ Robert Menendez.

Ông Robert Menendez cũng là người dễ bất bình về chuyện nhân quyền bị vi phạm. Từ Cuba di cư sang Hoa Kỳ, gia đình thượng nghị sĩ Robett Menendez từng trải nghiệm những hình thức vi phạm chà đạp quyền con người trong chế độ cộng sản Cuba, cũng là kinh nghiệm thực tế mà các nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động nhân quyền trẻ tuổi ở Việt Nam đang nếm trải khi tìm cách phổ biến, liên lạc, nối kết và giao lưu với nhau trên Internet.

Chính vì vậy tôi tin rằng lần này H.R.1897 sẽ được sự ủng hộ của trước nhất và quan trọng nhất là Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện mà thượng nghị sĩ Robert Menendez đang là chủ tịch như vai trò chủ tịch hiện thời của tôi trong Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện mà đã đồng loạt thông qua Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam hôm nay trước khi đưa ra hạ viện sắp tới.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn ông dân biểu Ed Royce.

TRƯỚC ĐÃ

 

TRƯỚC ĐÃ

Theo một tôn giáo thường được gọi là theo đạo.

Theo đạo là theo một con đường.

Điều này đặc biệt đúng đối với Kitô giáo (x. Cv 9, 2).

Làm môn đệ Đức Kitô là theo Ngài trên con đường Ngài đi, con đường đất quanh co trong xứ Palestine hay con đường đầy chông gai nhọc nhằn của sứ vụ.

Đức Kitô chẳng những dạy Đạo, Ngài còn là Đạo (x. Ga 14, 6).

Theo đạo là theo một ngôi vị hơn là theo một giáo lý.

Sống đạo là sống như Ngài, với Ngài, cho Ngài và trong Ngài.

Phần cuối của đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện ba người muốn theo Chúa.

Chúng ta chẳng biết họ là ai, cũng chẳng rõ cuối cùng họ có theo Chúa hay không, nên mỗi người chúng ta dễ thấy mình nơi hình ảnh họ, để rồi chúng ta phải đưa ra lời đáp trả của mình.

Người thứ nhất hăng hái xin theo Ngài đi bất cứ nơi đâu.

Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình.  Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường.  Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x. 1Pr 2, 11).  Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu, chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ, chỗ tựa cuối là thập giá.

Cuộc sống nghèo làm Ngài tự do hơn, sẵn sàng hơn trước những đòi hỏi bất ngờ của Cha và nhân loại.

Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã.

Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con.  Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x.Mt 15, 3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng.

Câu trả lời của Ngài làm chúng ta bị sốc thực sự.

Loan báo Tin Mừng ư?  Cần gì phải vội vàng đến thế!  Dầu sao cái sốc giúp ta nhận ra mình vẫn quen thờ ơ trước một bổn phận thiêng liêng và hết sức cấp bách.

Người chết nằm xuống thật đáng kính trọng; nhưng có bao người sống đang cần phục vụ khẩn trương.

Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.

Chúa Giêsu đòi anh dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa.

Trong đời sống, nhiều lúc ta phải chọn lựa.  Chọn lựa là chấp nhận hy sinh, bỏ một trong hai.

Chúa Giêsu không dạy ta sống vô cảm hay bất hiếu…  Ngài dạy ta can đảm tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã.

Có bao nhiêu cái trước đã chi phối đời ta?  Đâu là lựa chọn ưu tiên một?  Chúng ta cần sắp xếp lại thứ tự các ưu tiên cho đúng.

Nếu Chúa Giêsu gặp tôi hôm nay và mời tôi theo Ngài, tôi có xin phép Ngài để làm cái gì đó trước đã không?

 

*****************************************

Lạy Chúa Giêsu, giàu sang, danh vọng, khoái lạc là những điều hấp dẫn chúng con.

Chúng trói buộc chúng con và không cho chúng con tự do ngước lên cao để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin giải phóng chúng con khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất, nhờ cảm nghiệm được phần nào sự phong phú của kho tàng trên trời.

Trích trong ‘Manna’

From: langthangchieutim và

Anh chị Thụ Mai gởi

TRÁI TIM CỦA THẦY

TRÁI TIM CỦA THẦY

“Tình yêu” có lẽ là hai chữ được dùng nhiều nhất trong đạo Công giáo chúng ta.  Mà hình ảnh để diễn tả tình yêu lại không gì khác hơn là hình trái tim.  Nhưng thế nào là một trái tim hoàn hảo?  Tôi nhớ có một câu chuyện kể như sau:

Một chàng thanh niên nọ một hôm đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có tí tỳ vết hay rạn nứt nào.  Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy.  Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: “Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”.  Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ.  Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo.  Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo ra một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế.

Chàng trai cười nói:
– Chắc là cụ nói đùa!  Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt.

Cụ già ôn tồn giải thích:
– Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè…  Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra.  Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi.  Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến, vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ.   Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết.  Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại, cậu ạ.  Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, và lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.

Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má.  Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già.  Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai.  Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai.  Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh…

Câu chuyện gợi nhắc tôi về trái tim của Thầy Giêsu.  Trái tim ấy có vòng gai xung quanh, có cây Thánh giá cấm xuống giữa cuống tim và có ngọn lửa tỏa lan ánh sáng.

Vòng gai cho thấy con tim Thầy chẳng còn được nguyên vẹn.  Gai của lòng đố kỵ nơi các bác Pha-ri-sêu.  Gai của bọn lính hung hăng chỉ biết xả giận trên người tử tù trắng án.  Gai của sự phản bội nơi người môn đệ được Thầy tin tưởng giao cho quản lý túi tiền: Giu-đa.  Gai của nỗi sợ hãi trơ trẽn đến thê thảm của Phê-rô lãnh đạo.  Gai của nỗi đau khi thấy Chúa Cha bỏ rơi mình.  Những mẫu gai từ xa đến gần, từ sơ đến thân dường như chực chờ làm con tim Thầy tan nát, vụn vỡ.

Vậy mà, Thầy đã can đảm cắm thẳng cây Thánh giá vào giữa con tim còn mang thương tổn đầy vị đắng chát ấy.  Thầy như muốn khẳng định chỉ có ân sủng đổ ra từ cây Thánh giá mới có sức chữa lành và hàn gắn thật sự.  Chiều dọc của Thánh giá như chiếc máng kéo ân sủng từ trời xuống con tim nhân loại, làm con người lỗi tội có cơ hội chạm tới được sự thánh thiện của Trời.  Chiều ngang của Thánh giá như chiếc cầu hòa giải những tương quan đổ bể, xa vắng giữa người với người.  Hóa ra, Thánh giá của Thầy là phương dược làm khép miệng các vết thương do vòng gai tạo nên.  Vết thương đã hết nhưng sẹo còn đó.  Sẹo làm cho trái tim không còn đẹp nữa.

Nhưng hệ chi, một khi đã được lành, con tim ấy lại có sức tỏa lan ánh sáng.  Ánh sáng của một thứ tình yêu đã được luyện lọc.  Thứ tình yêu có khả năng “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.  Ánh sáng tình yêu kia không bốc cháy rừng rực tựa hồ muốn thiêu rụi tất cả; nhưng trường kỳ liên lỉ tỏa hơi ấm an ủi những tấm lòng lạnh lẽo, soi lối những con tim lang thang, hun rèn những tâm hồn sốt mến.

Như thế đó, trái tim Thầy không còn độ cong hoàn hảo, cũng chẳng đẹp hồng như tranh vẽ; nhưng nó chứa đầy tình yêu cứu độ.  Đạo của Thầy không quảng cáo một tình yêu lãng mạn, không thương tích; nhưng nhắm thẳng đến những con tim đau khổ, tan nát mà vẫn khát khao đập những nhịp tha thứ, trắc ẩn và rộng mở.  Ước gì con cũng biết cắm cây Thánh giá của Thầy vào trái tim héo mòn của con để ơn cứu độ chữa lành và làm con bừng cháy lửa yêu.

Bảo Ân, SJ
Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu
06 – 2013

From: ngocnga_12 và

anh chị Thụ Mai gởi

CẢM ƠN TRỜI

Cảm ơn

TRẦM THIÊN THU

Đăng bởi lúc 8:32 Sáng 24/06/13

VRNs (24.06.2013)– Sài Gòn-

CẢM ƠN TRỜI

Cảm ơn Trời đã để tôi sống nghèo thê thảm

Nhờ đó tôi mới biết cảm thương người nghèo nàn

Cảm ơn Trời đã để tôi bị hàm oan

Nhờ đó tôi mới cảm thông người bị xét xử

Cảm ơn Trời đã để tôi bị người ta ghét bỏ

Nhờ đó tôi mới thấy cảm thương những người cô đơn

Cảm ơn Trời đã để tôi bình thường nhất trong những người bình thường

Nhờ đó tôi mới cảm nhận thế nào là mơ ước

Cảm ơn Trời đã để tôi bị thua thiệt

Nhờ đó tôi mới biết khao khát vươn lên

Cảm ơn Trời đã để tôi không hiểu thấu những điều cao siêu hơn

Nhờ đó tôi mới không sa vào hố kiêu ngạo

Cảm ơn Trời đã để tôi biết phân biệt thực, ảo

Nhờ đó tôi mới cảm nhận cuộc sống vô thường

Cảm ơn Trời đã để tôi tha phương

Nhờ đó tôi mới có thể hòa đồng với người xa, kẻ lạ

Cảm ơn Trời đã để tôi mồ côi cả Cha lẫn Mẹ

Nhờ đó tôi mới biết trân quý tình cảm gia đình

Cảm ơn Trời đã để tôi “lạc loài” giữa cuộc đời loanh quanh

Nhờ đó tôi mới cảm nhận thế nào là bóc lột, áp bức

Cảm ơn Trời đã để tôi không giống ai hết

Nhờ đó tôi mới hiểu đừng bắt chước, cứ là chính mình

Cảm ơn Trời đã để tôi không may mắn như bạn bè, thua chị, kém anh

Nhờ đó tôi mới cảm nhận cảm giác của người bị hại

Cảm ơn Trời đã để tôi có những lần thất bại

Nhờ đó tôi mới cảm nhận chút hạnh phúc khi thành công

Tất cả là bất đẳng thức, bất thường mà bình thường

Tôi cố gắng vẽ bức-tranh-cuộc-đời-tôi bằng nét-cọ-số-phận

Trông lên thấy mình chẳng bằng ai, vô duyên và lận đận

Nhưng khi nhìn xuống, thấy còn bao người khổ đau

Họ không thấy niềm vui ở đâu

Không thể có – dù họ vẫn khao khát sống thanh thản!

TRẦM THIÊN THU

CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?

CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?

VÂN ĐÊ 07: Tôi đã ở bên rất nhiều người sắp chết, mà khi họ chết tôi chẳng thấy có linh hồn nào bay ra cả. Các nhà tôn giáo lợi dụng bản năng muốn tồn tại mãi của con người nên đã bày đặt ra linh hồn thiêng liêng bất tử để làm tiền những người ngu dốt tin theo. Thực sự chết đi là hết.

TRẢ LỜI:

I. CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN, NHƯNG THIÊNG LIÊNG NÊN TA KHÔNG THẤY ĐƯỢC.

1. Giác quan con người có giới hạn:

Trong vũ trụ thiên nhiên, có nhiều vật hiện hữu thực sự, nhưng lại vượt quá tầm tiếp nhận của giác quan con người. Chẳng hạn: Mắt ta đâu có xem thấy dòng điện, đâu nhìn thấy được quang tuyến X, tia xích ngoại tuyến hay tử ngoại tuyến… Nhưng ai dám quả quyết không có điện, không có những tia kia? Giả như tạo hóa cho mắt con người xem được 4000 tỷ rung động của ánh sáng trong một giây đồng hồ, thì bộ mặt thực chung quanh ta sẽ thay đổi hẳn: Chúng ta sẽ chỉ còn thấy các bộ xương ngươì đeo đồng hồ tòn ten ở cổ tay đi lang thang ngoài đường phố: Tai cũng thế, nó chỉ có thể tiếp nhận âm thanh trong một giới hạn nào đó. Tai của loài chó được huấn luyện có thể nghe được tiếng còi siêu âm của chủ, đang khi tai con người đành chịu bất lực không thê nghe được.

Như vậy, KHÔNG XEM THẤY LINH HỒN BAY RA NƠI MÔT NGƯỜI CHẾT, KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ ĐỦ ĐỂ QUẢ QUYẾT CON NGƯỜI KHÔNG CÓ LINH HỒN.

2. Con người có linh hồn có đăc tính thiêng liêng :

Con người có linh hồn, nhưng sở dĩ ta không thấy được vì linh hồn có đặc tính thiêng liêng vô hình khác hẳn vật chất. Cũng như dù không trông thấy dòng điện nhưng ta vẫn công nhận có điện, khi thấy được hiệu quả của nó làm sáng bóng đèn, làm quay máy quạt thế nào, thì cũng vậy, dù mắt ta không trông thấy linh hồn thiêng liêng nhưng vẫn công nhận có linh hồn, nhờ thấy được hiệu quả của linh hồn làm cho thân xác sống động, và là nguyên nhân phát sinh tư tưởng và ý chí tự do qua trung gian óc não con người.

II. CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT.

Con người vốn có 2 phần: thân xác vật chất và linh hồn thiêng liêng siêu hình. Chết là khi thân xác không còn sống động, không ăn uống, đi đứng, nói năng suy nghĩ… Nói cách khác: chết là khi linh hồn lìa ra khỏi xác. Khi ấy thân xác chỉ còn là một khối vật chất, gồm những tế bào không liên kết chặt chẽ với nhau như khi còn sống, vì thiếu sợi dây kết hợp là linh hồn. Xác con người sẽ theo định luật biến hóa của vật chất như bao vật khác: thịt xương, sẽ bị thối rữa do ảnh hưởng của nhiệt độ, không khí, vi trùng,v.v…để trở thành những chất khác.

Chết đi không phải là hết như có người lầm tưởng, vì linh hồn con người không tiêu tan theo thể xác, nhưng sẽ còn tồn tại mãi vì những lý do như sau:

1. Vì linh hồn có đặc tính thiêng liêng:

Linh hồn là nguyên lý sự sống của thân xác con người. Người ta chỉ có thể nhìn thấy hiệu quả của sự sống với hai tài năng là trí khôn và ý chí, nhưng không thể thấy được vì có đặc tính thiêng liêng vô hình. Vì linh hồn không phải vật chất cũng không bị biến hóa do ảnh hưởng của hoàn cảnh vật chất theo các định luật tiến hóa, nên linh hồn bất diệt, và luôn tồn tại mãi mãi.

2. Vì là một điều hợp lý:

a) Nhìn vào vạn vật trong vũ trụ thiên nhiên, ta nhận thấy có một sự xếp đặt trật tự hoàn hảo, vật dưới phải phục vụ cho vật trên, vật này làm thỏa mãn vật khác. Chẳng hạn: Mắt có khả năng và nhiệm vụ xem thì trong thực tế đã có ánh sáng, hình thể, màu sắc… đáp ứng với khả năng xem ấy. Tai có khả năng và nhiệm vụ nghe thì thực sự đã có âm thanh, tiếng đông làm thỏa mãn khả năng nghe ấy. Con cá có khả năng và nhu cầu sống dưới nước, thì khi thấy ở đâu có cá, đương nhiên ta cũng thấy có nước là thỏa mãn nhu cầu cần nước ấy v.v…Cũng thế, về phạm vi tinh thần, hầu như mọi người đều tự nhiên muốn đươc tồn tại mãi mãi, đều có nhu cẩu được trường sinh bất tử… thì thực tế cũng phải có đời sống vĩnh cửu sau khi chết để đáp ưng ước vọng chung tự nhiên ấy mới hợp lý.

b) Giả như bạn có thể nói chuyện với một bào thai, thì bạn sẽ nói với nó vê một đời sống tương lai của bào thai mà chính bạn đã có kinh nghệm và thực sự đang sống như sau:

– Hỡi bào thai, đời sống của mày ngắn ngủi nhưng tiếp theo còn một đời sống khác thực sự và lâu dài.

Vậy bào thai sẽ trả lời bạn ra sao? Nếu thiếu suy nghĩ thì chắc nó sẽ trả lời:

– Tôi chỉ công nhận có thực những gì tôi trông thấy và kiểm nghiệm được. Do đó chỉ có một đời sống hiện tại tôi đang sống, còn đời sống khác như ông nói chỉ là sự bịa đặt mê tín, không thể tin được.

Nhưng nếu có chút trí khôn suy nghĩ chắc bào thai sẽ cho rằng bạn có lý và tự nhủ:

– Ừ nhỉ, đây tôi có hai tay, mỗi ngày một phát triển hoàn bị thêm, Thế mà tôi chẳng cần dùng tới nó chút nào cả. Tôi cũng không thể duỗi chúng ra được! Nhưng tại sao tôi lại có hai cánh tay? Chắc là để dành cho một chặng đường tương lai mà sau này tôi sẽ cần đến chúng. Chân tôi cũng mọc dài ra mà tôi cũng phải buộc co gấp chúng. Vậy có chân làm gì trong khi hiện giờ tôi không cần mà mỗi ngày nó một phát triển thêm? Chắc là tôi sẽ phải sống ở một hoàn cảnh khác mà ở đó tôi sẽ phải sử dụng chân để bước đi. Tại sao có hai mắt? Trong căn phòng tối tăm dày đặc này thì có mắt cũng như mù. Vậy có mắt để làm gì? Chắc là tôi sẽ bước sang một thế giới đầy màu sắc và ánh sáng và khi ấy tôi sẽ cần sử dụng tới đôi mắt…

Tóm lại: Nếu bào thai có thể suy nghĩ về sự tiến triển của nó, thì nó sẽ hiểu rằng: Phải có một đời sống khác ngoài bụng mẹ, đời sống mà hiện nay nó chưa có chút kinh nghiệm, nhưng chắc chắn phải có vì hợp với nhu cầu phát triên tự nhiên của nó.

– Đối với linh hồn con người với hai tài năng là trí khôn và lòng muốn cũng vậy: khi còn trẻ, chúng ta thường suy xét thiếu khôn ngoan. Nhưng với năm tháng, dần dần trí óc học hỏi mở mang theo và con người mỗi ngày càng tăng thêm vốn liếng hiểu biết, khôn ngoan. Thế rồi khi chưa sử dụng sự khôn ngoan được bao lâu, thì thần chết lại đến dẫn đưa chúng ta xuống mồ. Như vậy, trí khôn thêm hiểu biết khôn ngoan làm gì nếu thực sự chết đi là hết? Vậy cũng như tay chân, mặt mũi dần dần xuất hiện với bào thai là để đề phòng cho đời sống ngoài đời thế nào, thì tâm hồn con người dần dần thêm kiến thức khôn ngoan, cũng là để nhằm đến đời sống khác thiêng liêng vĩnh cửu sau khi chết vậy.

Hơn nũa nếu chết là hết thực sự thì người tốt có khác gì kẻ xấu? Kẻ ăn trộm, tiểu nhân với những bậc vĩ nhân quân tử có gì là khác biệt ? Nếu chết là hết thì cần chi phải kêu gọi từ bi hỉ xả, đề cao sự lương thiện công bằng? Chết mà hết thực sự thì ai làm lành là ngu, nhân từ là nhu nhược, bác ái là dại dột. Chết mà hết thì sống trên đời cứ việc giết người cướp của thật nhiều, hưởng thụ khoái lạc cho đã, cần chi phải đề cao tinh thần nhân đạo? Chết mà hết thì tại sao phải cử hành giây phút mạc niệm anh linh những liệt sĩ ? Dựng đài tưởng niệm hoặc dâng hương trước di ảnh người quá cố? Nhưng may mắn thay, hầu hết nhân loại đều không thưa nhận chết là hết, mà mọi người đều tin chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết.

Socrate, nhà hiền triết Hi Lap thế kỉ năm trước công nguyên, khi được một người bạn hỏi ý kiến về việc chôn cất ông như thế nào, ông trả lời : ”Anh có thể vùi thân xác tôi như thế nào tùy ý … nhưng còn chính tôi, anh không thể chôn vùi được.” câu nói ấy đã chứng tỏ Socrate tin tưởng linh hồn vẫn còn tồn tại sau khi chết.

Nghiên cứu những di tích thơi kỳ tiền sử ta thấy một điểu chắc chắn là mọi dân tộc đều tin có đời sống trường cửu sau khi chết. Thực vậy, từ Âu sang Á, từ Bắc xuống Nam, ở Úc cũng như ở Mỹ hoặc Trung Hoa, đâu đâu cũng có những dấu tích chứng minh con người tin tưởng một đời sống bất diệt khi họ để khí giới, dụng cụ, lương thực trong tầm tay người chết là có ý để họ có thể sử dụng ở thế giới bên kia. Trong mộ chôn của người Ai Cập hầu hết đều có thuyền bồng, là để cho người quá cố đi sang kiếp khác. Ngày nay dân Pic-mê, một dân tộc sống trong thâm sơn cùng cốc ở Phi Châu, Úc Châu tượng trưng cho cố nhân ngày xưa còn tồn tại, cũng tin linh hồn bất tử. Nói đâu xa, nếu ai đó muốn điều tra về lòng tin tưởng linh hồn bất diệt của con người thời đại ngày nay như thế nào, thì cứ ra nghĩa trang trong những ngày lễ các linh hồn, hoặc ngày lễ Vu Lan … sẽ biết.

Ngay những người ngoài miệng tuyên bố không tin, nhưng trong thực hành vẫn làm những việc chứng tỏ lòng tin vào lúc sắp chết, nhiều người đã bỏ lập trường của mình để quay về với niềm tin: Điển hình hơn cả là cái chết của Voltaire, một người chống đối tôn giáo say mê nhất. Với ngòi bút sắc bén, ông đã cố hạ bệ Thiên Chúa và đánh đổ Giáo hội. Châm ngôn của ông là: “Phải tiêu diệt đứa quái gở“ (tiếng dùng để ám chỉ Thiên Chúa). Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một lời cáo gian nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu mộ một nhóm người lấy tên là nhóm “Anh em Beelzebuth” với mục đích tìm cách hạ bệ Thiên Chúa . Năm 1753 ông đã tuyên án cho Thiên Chúa như sau: “20 năm nữa Thiên Chúa có thể hồi hưu, vì không còn ai thèm phục vụ Ngài nữa“. Đúng 20 năm sau, năm 1773 Voltaire đã tắt thở cách thê thảm trên giường bệnh. Khi gần chết ông trông thấy những hình ảnh rùng mình ghê rợn đến nỗi ông la lên : “Một bàn tay đang lôi kéo tôi đến với Đức Chúa trời … Đây quỷ muốn tôi … Tôi trông thâý hỏa ngục ghê quá”. Rồi ông tru trếu gầm thét như thú vật hung dữ, lấy móng tay cấu xé thịt mình và rứt ra từng miếng. Một bà già chuyên giúp đỡ những người hấp hối sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire đã nói: “Khi ấy tôi ở gần giường Voltaire đang hấp hối. Tôi không còn muốn chứng kiến 1 người vô đạo chết nữa”. Một người khác cũng đã nói thêm: “nếu quỉ có thể chết được thì chắc cũng không chết dữ như Voltaire”.

3. Vì chính Thiên chúa đã mạc khải cho biết có đời sống vĩnh cửu

Ngoài những lý lẽ suy luận của trí khôn nói trên, những người Thiên Chúa giáo còn có một lý chứng chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết dựa vào mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh, đặc biệt là lời giảng dạy của Đức Giesu về đời sống của con người sau khi chết như sau: ”Linh hồn con người sẽ chịu xét xử về công việc của mình đã làm khi còn sống. Đến ngày tận thế, mọi xác chết đều được Thiên Chúa dùng quyền phép của Ngài mà cho sống lại để cùng chịu phán xét và chung số phận với linh hồn”.

Để chứng minh lời dạy bảo về việc kẻ chết sống lại, Đức Giêsu đã dùng quyền phép riêng của Ngài để tự sống lại sau khi chết chưa đủ 3 ngày. Ngài đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, trước khi về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Thánh Phaolô tông đồ đã viết: “Nếu việc kẻ chết sống lại mà không có thì Đức Kitô cũng chẳng sống lại. Và nếu Chúa Kitô không sống lại, tất nhiên lời tôi giảng cũng uổng công và Đức tin của chúng ta cũng hóa ra vô ích. Nếu những người chết không sống lại thì Thiên Chúa đã không cho Ngài sống lại…”

KẾT LUẬN : Với những lý lẽ do dự, suy luận của trí khôn con người, với những lời mạc khải của Thiên Chúa về một đời sống vĩnh cửu sau khi chết, linh hồn con người không bị tiêu hủy nhưng sẽ tồn tại mãi mãi…Chúng ta có thể quả quyết mà không sợ lầm lẫn: CHẾT ĐI KHÔNG PHẢI LÀ HẾT, CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ TRỞ VỀ VỚI HƯ VÔ NHƯNG LINH HỒN SẼ TỒN TẠI MÃI ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC BẤT DIỆT HAY SẼ PHẢI TRẦM LUÂN NƠI HỎA NGỤC MUÔN ĐỜI, TÙY THEO ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHI CÒN SỐNG Ở TRẦN GIAN NÀY.

PHÚT HÔI TÂM

Chúa phán: “Linh hồn Thầy buồn phiền đến nỗi chết , anh em ở lại đây và tỉnh thức với

Thầy…”(Mc 14,,28-31). “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”

Lạy Chúa Giê-su. Qua lời Chúa cầu nguyện, chúng con xác tín răng: mỗi người chúng con đều có một linh hồn thiêng liêng bât tử. Làm cho thân xác sống động. Chết là khi linh hồn lìa ra khỏi xác về với Thiên Chúa, Đâng đã thổi hơi ban linh hồn cho thân xác bằng bùn đất của A-đam xưa. Xin cho chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa, để sau này con được Chúa đón nhận vào Nước Chúa muôn đời. Amen.

LM ĐAN VINH- HHTM

Trích từ Đặc san Giáo Sĩ số 199 ngày 23-06-2013

HÃY TIN VÀO CHÚA THÌ NGƯỜI SẼ NÂNG ĐỠ CON!

HÃY TIN VÀO CHÚA THÌ NGƯỜI SẼ NÂNG ĐỠ CON!

… Sáng thứ bảy 12-1-2013 nhà thờ Saint-Cyprien ở thành phố Poitiers miền Trung nước Pháp đông chật tín hữu đến tham dự Thánh Lễ an táng bà Gisèle Calmès, Giám Đốc Bệnh Viện. Nhà thờ được trang hoàng nhiều hoa tươi lộng lẫy như dấu chứng nói lên lòng quý mến của những người đến tiễn đưa một nữ giám đốc qua đời ở lứa tuổi 52. Đặc biệt có sự hiện diện đông đảo của cộng đồng y khoa toàn nước Pháp đến vĩnh biệt và nói lời tri ân đối với một đồng nghiệp hoàn toàn xả thân vì lợi ích của người khác.

Trong tờ cáo phó của gia đình có hàng chữ viết: ”Gisèle, nữ giám đốc bệnh viện, hiệp sĩ huân chương, đã giã từ chúng ta để tiếp nối công trình phục vụ nơi khác và mãi mãi”.

Thật vậy,
người phụ nữ mang hai dòng máu Pháp-Việt có đôi bàn tay dịu dàng khéo léo, từng khởi đầu sự nghiệp với kết ước giản dị căn bản đã kiên trì tiếp tục một hành trình đưa đến những trọng trách sau đó, nhưng vẫn giữ nguyên phong độ của một phụ nữ luôn nghĩ đến người khác và dâng hiến cuộc đời cho người khác.

Bà Gisèle Calmès đã trải qua không biết bao nhiêu là thử thách cá nhân và gia đình trước khi nhận trách nhiệm nữ giám đốc bệnh viện. Bà làm việc cực nhọc không biết mệt mỏi như thân phụ từng dạy bà ngay thời thơ ấu. Đức tính can cường ấy đi kèm niềm hứng khởi đã khiến bà Gisèle luôn say mê công việc, yêu mến nghề nghiệp và không ngại gian khổ. Bà lắng nghe và gần gũi hết mọi người, từ các bệnh nhân, những kẻ bé nhỏ đến các y tá bác sĩ những người mà bà phải tiếp cận và có quan hệ trong lãnh vực y khoa.

Từ thân mẫu là người Việt Nam bà được nhắn nhủ: ”Con nên luôn luôn thực thi điều lành dẫu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Điều lành luôn dội lên trên trẻ em, trên những người nhận nó và đến phiên họ, họ cũng có thể thực thi điều lành. Bởi vì, sự thiện rất dễ lây và luôn luôn chiến thắng”. Chính giáo huấn từ mẫu này đã chiếu sáng soi dẫn trọn cuộc đời bà Gisèle. Thêm vào đó, bà còn được thấm nhuần nền văn hóa Á Châu luôn giữ nơi nhà các vị lão thành đau ốm để tận tay chăm sóc với tâm tình trìu mến và kính trọng.

Sức sinh động, sự hữu hiệu, niềm vui sống và nụ cười luôn tươi nở trên đôi môi khả ái đã để lại một kỷ niệm khó phai mờ nơi tất cả những ai từng hân hạnh quen biết bà Gisèle Calmès. Nơi bà lan tỏa lòng quảng đại, sự vi tha, luôn nghĩ đến người khác. Bà khéo léo tạo nên các mối giao hảo, các cuộc gặp gỡ, thoa dịu các tranh chấp, kết nối mọi người xuyên qua các khác biệt để trở thành bạn hữu. Bà là thanh nam châm thu hút mọi người. Bà có niềm tin tưởng nơi con người.

Cuối năm 2012, khi cơn bệnh đi vào giai đoạn trầm trọng, vô phương cứu chữa, thì chính bà lại trở thành người can đảm, kiên trì, rạng rỡ và giúp mọi người chung quanh vượt lên trên thử thách của cơn bệnh. Đau thương nhất là các thắc mắc của những người thân yêu: ”Tại sao thế? Sao lại phải ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ? THIÊN CHÚA, Ngài đang ở đâu?” Bao câu hỏi quay cuồng trong các đầu óc. Làm thế nào để tìm ra ý nghĩa của biến cố đau thương này?

Chưa hết. Khi hồi tưởng cuộc đời bà, người ta biết rằng bà đã mất người chồng trẻ thân yêu khi đang mang thai đứa con trai thứ hai. ”Tại sao thế? THIÊN CHÚA là Ai? Và người ta có thể nói gì về sự lành, sự dữ?”

Trước tất cả các nghi vấn xốn xang này, bà Gisèle Calmès đã trở thành một tấm gương can đảm và một Đức Tin vững chắc nơi THIÊN CHÚA là CHA. Chính tâm tình đơn sơ tốt lành tự nhiên đã hướng dẫn soi sáng cuộc đời bà. Và lòng quảng đại dâng hiến cuộc đời để phục vụ người khác là một chứng tá sống động hùng hồn nhất của bà Gisèle Calmès, giám đốc bệnh viện, hiệp sĩ huân chương qua đời ở lứa tuổi 52. Xin THIÊN CHÚA Nhân Lành đón rước linh hồn bà vào nơi an nghỉ muôn đời.

”Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự THIÊN CHÚA, thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách. Hãy giữ lòng ngay thẳng và cứ kiên trì, đừng bấn loạn khi con gặp khốn khổ. Hãy bám lấy Người chứ đừng lìa bỏ, để cuối đời, con được cất nhắc lên. Mọi chuyện xảy đến cho con, con hãy chấp nhận, và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn. Vì vàng phải được tôi luyện trong lửa, còn những người sáng giá thì phải được thử thách trong lò ô nhục. Hãy tin vào Người, thì Người sẽ nâng đỡ con. Đường con đi, hãy giữ cho ngay thẳng và trông cậy vào Người. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy trông đợi lòng lân tuất của Người, đừng lìa xa Người kẻo ngã. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy tin vào Người, và các bạn sẽ không mất phần thưởng đâu. Hỡi ai kính sợ THIÊN CHÚA, hãy đợi trông ơn lành, niềm vui không cùng và lòng thương xót” (Huấn Ca 2,1-9).

(”Église en Poitou”, Revue religieuse du diocèse de Poitiers, 13 Mars 2013, No 199, trang 26-27)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt