TÂN NHẠC VIỆT NAM dưới thời Xã Hội Chủ Nghĩa

TÂN NHẠC VIỆT NAM dưới thời Xã Hội Chủ Nghĩa

 

LÊ DINH

 

Về âm nhạc, từ 38 năm nay, thành thật và công bình mà nói, chúng ta có thấy sự tiến triển nào trong bộ môn này không, hay là một sự tụt lùi tệ hại từ năm 1975 đến nay, hay nói một cách khác, CSVN đã giết chết âm nhạc Việt Nam.

Nhìn lại ngày khởi đầu của nền âm nhạc Việt Nam, từ những ca khúc đầu tiên mà những bậc tiên liệt của nền âm nhạc để lại – được gọi là nhạc cải cách – như Một kiếp hoa (Nguyễn văn Tuyên & Nguyễn văn Cổn), Khúc yêu đương (Thẩm Oánh) Bình minh (Nguyễn Xuân Khoát), Bản đàn xuân (Lê Thương), Tâm hồn anh tìm em (Dương Thiệu Tước), Bóng ai qua thềm (Văn Chung), Cùng nhau đi Hồng Binh (Đinh Nhu), Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)…, chúng ta thấy, dù đã ra đời hơn 80 năm nay, còn phôi thai, nhưng âm nhạc VN thuở đó nghe rất có hồn nhạc, lời lẽ tuy không trau chuốt văn chương, nhưng không khó nghe và lai căn như bây giờ. Chẳng hạn như bài “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương, một bài âm hưởng nhạc Nhật thời đó, tuy được sọan sau, nhưng cũng được coi như là một trong những ca khúc đầu tiên của gia tài âm nhạc Việt Nam.

Nhắc lại để chúng ta thấy rằng tuy là những ca khúc đầu tiên, khởi thủy của nền âm nhạc Việt Nam, nhưng dù đã 83 năm qua, vẫn còn nghe được, hơn nhạc bây giờ ở trong một nước có tên là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chứng minh điều đó là gần một thế kỷ qua mà người ta còn nhớ ca khúc “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương.

Tiếp theo thời kỳ âm nhạc phôi thai, hay âm nhạc cải cách, đó là giai đọan nhạc được gọi là nhạc tiền chiến mà tôi nghĩ rằng vài trăm năm sau đi nữa, vẫn còn được nhắc nhở tới. Những tác giả như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn, Hoàng Quý, Nguyễn văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn văn Tý, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương… đã để lại cho chúng ta một gia sản âm nhạc đồ sộ, chỉ trong vòng có 20 năm ngắn ngủi. Nhắc lại những bài như:

“Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc lối đào nguyên…”

Hoặc:

Suối mơ, bên rừng thu vắng

Giòng sông trôi lững lờ ngoài nắng…”

Hay:

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thoát rơi

Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi…”

Hoặc như:

“Biệt ly, nhớ nhung từ đây

Chiếc lá rơi theo heo may…”

Chúng ta nghe âm điệu sao mà du dương, uyển chuyển, tha thiết, thấm vào lòng người. Còn lởi ca sao mà lãng mạn, yêu đương, tình tứ ngọt ngào đến như thế.

Rồi bước qua giai đọan nhạc kháng chiến (nhạc cách mạng), một lọai nhạc hừng hực lửa của thời toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân. Những tác giả tiêu biểu cho lại nhạc hùng tráng như đánh thẳng vào lòng người này có Phạm Duy, Văn Cao,  Lưu Hữu Phước, Hoàng Quý, Lê Yên, Phạm Duy Nhượng, Phạm Đình Chương, Văn Giảng… Nhưng phải công nhận rằng Phạm Duy là người có tác phẩm âm nhạc cổ súy tinh thần tranh đấu bài thực nhiều nhất, hay nhất. Làm sao mà chúng ta quên được, dù 1000 năm sau, những âm điệu và lời ca như:

Ngày bao hùng binh tiến lên

Bờ cõi  vang lừng câu quyết chiến…”

Hoặc man mác căm hờn, như:

“Chiều qua, tôi đi qua vùng chiếm đóng

Không bóng trâu cày bên đồng

Vắng tiếng heo gà trên sân

Chiều qua, gánh nước cho Vệ Quốc Quân

Nghe tiếng o nghèo kể rằng:

Quân thù về đây đốt làng…”

Rồi 1954 ập đến, chia hai nền âm nhạc, một nửa phát triển mạnh mẻ ở xứ tự do, phóng khoáng và một nửa chôn vùi trong chốn ngục tù, sau bức màn tre. Một số đông nhạc sĩ sáng tác ở miền Bắc ngày trước đã tìm tự do nơi miền Nam – đất lành chim đậu – cùng chung với những nhạc sĩ sáng tác đã sống trước đây dưới chính thể Đệ nhất Cộng Hòa, kết hợp thành một lực lượng sáng tác mạnh nhất, vững chải nhất, nhân bản nhất và lãng mạn nhất. Thôi thì trăm hoa đua nở.

Ngay từ ngày đầu di cư, chúng ta có những Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Y Vân, Nhật Bằng, Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Huyền Linh, Phạm Đình Chương, Ngọc Bích, Đan Thọ, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Trọng Khương, Tuấn Khanh, Hoài Linh, Phó Quốc Thăng, Phó Quốc Lân, Canh Thân, Vũ Thành, Vũ Huyến, Hoài An, Thanh Bình, Lê Hoàng Long, Nhật Bằng…, cùng với những nhạc sĩ miền Nam nổi bật lúc đó, như Phạm Duy (đã có mặt ở Saigon từ 1951),  Lam Phương, Trúc Phương, Châu Kỳ, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Anh Việt Thu, Châu Kỳ, Mạnh Phát, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn văn Đông, Hoàng Nguyên, Anh Việt, Phạm Mạnh Cương, Lê Mộng Bảo, Huỳnh Anh, Trần Thiện Thanh, Duy Khánh, Khánh Băng, Minh Kỳ, Anh Bằng, Lê Dinh… và một số nhạc sĩ trẻ của thời đó như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trầm Tử Thiêng, Trường Sa, Trường Hải, Đỗ Lễ, Nguyễn Ánh 9, Thanh Sơn, Bảo Tố, Song Ngọc, Dzũng Chinh, Hàn Châu, Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang, Đinh Trầm Ca, Giao Tiên, Thăng Long, Đài Phương Trang… hợp thành một đội ngũ sáng tác dưới chính thể tự do của hai nền Cộng Hòa ờ miền Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975. ( Hình trên: Nhạc sĩ Văn Phụng )

Dù dưới hình thức nào, với bất cứ đề tài nào, nhạc sĩ của miền Nam tự do cũng viết nên những tác phẩm giá trị, nhất là những tình khúc và những bài ca ngợi người chiến sĩ VNCH, còn tồn tại, vang dội cho đến ngày nay.

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền

Trong khi đó, miền Bắc với chính sách bịt miệng và láo khoét, cho nên nhạc sĩ miền Bắc viết toàn những bài ca tụng bác Hồ (của họ) gàn dỡ, vô duyên, không thể nào lọt vào tai thính giả được. Chỉ một mình nhạc sĩ Thuận Yến thôi mà cũng có đến 26 bài ca ngợi bác Hồ. Ngoài ra còn có những Đỗ Nhuận, Phạm Tuyên, Vân An, Trần Hoàn, Lưu Cầu,Trọng Loan, Phong Nhã, Huy Thục, Lê Lôi, Chu Minh v.v…viêt những bài nhạc tuyên truyền, đề cao CS một cách lố bịch. Cả Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phan Huỳnh Điểu, Đỗ Nhuận… cũng bị lôi cuốn trong việc sáng tác lọai nhạc bưng bô này, như Văn Cao với “Ca ngợi Hồ Chủ tịch’, Lưu Hữu Phước với “Tình bác sáng đời ta”, Phan Huỳnh Điểu với “Nhớ ơn bác”, Đỗ Nhuận với “Bé yêu bác Hồ”… vì không viết để ca tụng, tung hô bác thì không có gạo mà ăn. Nội cái áo của bác và đôi dép của bác thôi mà cũng có đến 5 bài hát nói về áo và dép  này. Chỉ còn thiếu cái áo lót của bác thì chưa có nhạc mà thôi. (Dưới thời đệ Nhất Cộng Hòa – và luôn cả thời Đệ Nhị Cộng Hòa – miền Nam VN chỉ võn vẹn có một bài hát duy nhất ca tụng cá nhân vị nguyên thủ quốc gia mà thôi. Đó là bài Suy tôn Ngô Tổng Thống của Ngọc Bích và Thanh Nam. Đây không phải là chú trương của chính phủ đề ra để bắt buộc văn nghệ sĩ sáng tác ca tụng lãnh tụ, mà đó là ý nghĩ riêng của hai tác giả, vì muốn mang ơn người đã khó khăn lắm mới đem đến sự an cư lạc nghiệp cho gần một triệu đồng bào di cư miền Bắc, trong đó có hai tác giả. Đây chỉ là một hành động để nói lên lòng biết ơn thôi)

Từ 1975 là một sự tuột dốc thê thảm, nhìn thấy và nghe thấy, không cần phải đắn đo suy nghĩ khi nói về nền âm nhạc ở nước CHXHCN Việt Nam bây giờ. Không phải nhìn từ bên ngoài rồi chúng ta nói thánh nói tướng, muốn nói gì thì nói, hay nói để… chống Cộng, nhưng phải nói rằng sự thật là như vậy. Thử hỏi có ai nghe được hết một câu lời ca trong một bài nhạc nào đó không? Có ai hiểu ca sĩ hát gì, nói gì trong bài hát đó không? Còn nhạc thì nghe qua rồi – dù cho nghe 5 lần 7 lượt đi nữa – hỏi có ai nhớ âm điệu ra sao không, do-ré-mi-fa-sol-la-si thế nào không? Chúng tôi không nói quá lời đâu. Mở YouTube ra, bấm đại một bài nào đó ở VN ngày nay, quý vị sẽ thấy ngay lời nói của chúng tôi không mảy may quá đáng. Bấm đại bài của Cẩm Ly hát đi, thí dụ bài “Chồng xa”, chúng ta sẽ nghe lời lẻ, văn chương quá buồn cười, trong một bài hát, nghe sao giống như lời đối thọai trong một vở tuồng cải lương hạng bét:

“Dậy đi mua đồ nấu canh chua

Về cho ba mầy bữa cơm trưa…”

Về âm điệu, chúng tôi đố người Việt tự do ở hải ngoại nhớ một câu nhạc nào đó, trong một bài hát A, B, C nào đó ở VN bây giờ. Tại sao không nhớ được? Xin thưa vì đó không phải là âm điệu mà là những nốt nhạc khác nhau, bỏ chung vào một cái túi và rút ra 5, 6, 7 hoặc 8 nốt, rồi ráp lại cho thành một câu nhạc thôi. Trong khi đó, thử tình cờ lấy một bài nào đó của miền Nam, trước 1975, như:

”Xuyên lá cành trăng lên lều vải

Lòng đất ấm thương tình đôi mươi…”

Hay như:

“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn…”

Hoặc:

“Thượng đế hỡi có thấu cho VN này,

Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài…”

Chúng ta nghe sao mà tha thiết quá, du dương quá và dễ nhớ, dễ thuộc, dễ thương quá, dù cho cả đời mình hay một trăm năm sau cũng khó quên được.

Và xin quý vị thử bấm vào tựa một bài hát nào đó của CHXHCNVN ngày nay xem. Thí dụ như bài: “Xin anh đừng” (đừng cái gì mới được chứ?) Và vô số bài nữa, như Giấc mơ không phải của anh – Anh sẽ không níu kéo – Anh ba Khía – Ông xã bà xã – Khi cô đơn em nhớ ai – Anh sai rồi – Quen một ngày cho vui – Em có thể làm bạn gái anh không – Đừng buông tay anh…, nếu kể thêm, chắc chắn quý độc giả sẽ bị nhức đầu. Tựa đề của một tác phẩm âm nhạc là như vậy đó sao? Chúng tôi nghĩ tác giả là những trẻ con, chưa biết nói tiếng Việt hoặc là người đã trưởng thành nhưng chưa biết viết tiếng Việt. Tựa đề của một bài hát cũng phải nghe cho được chứ? “Xin anh đừng” rồi thôi, hết.

Về lời ca, mời quý vị nghe ca khúc “Giá như chưa từng quen”. Mới nghe qua tên ca khúc, chúng ta liên tưởng ngay đến một bài hát khác của miền Nam trước 1975, bài “Nếu ta đừng quen nhau”. Cùng một ý, một nội dung, nhưng người nhạc sĩ miền Nam viết tựa là: “Nếu ta đừng quen nhau”. Bây giờ, chúng ta hãy xem qua lời ca: Bài “Giá như chưa từng quen”:

“Giá như chưa từng quen, chưa quan tâm nhiều về nhau

Người yêu ơi, anh không thể nhớ mỗi lần cách xa…”

Còn bài “Nếu ta đừng quen nhau” có lời ca:

“Nếu ta đừng quen nhau, thì đời chưa vướng u sầu

Ngày xanh chưa nhuốm thương đau, màu hoa chưa úa phai màu…”

Chúng tôi để quý vị kết luận. Chúng tôi chỉ thấy “tội nghiệp” cho tác giả bài “Giá như chưa từng quen” mà thôi.

Nếu quý vị muốn nghe thêm nữa, thì đây:

“Vì ngày hôm qua anh đã thấy em ôm hôn một người…

Như muốn cào xé nát tan trái tim anh…”

Đây là lời ca của bài “Đừng làm anh đau” và xin nói thêm , chỉ có việc “anh đau” này thôi mà có tới ba bài nhạc khác nhau, của 3 tác giả khác nhau: “Đừng làm anh đau”, “Em khóc làm anh đau” và “Mưa làm anh đau”. Đó, âm nhạc XHCNVN là như thế đó.

Về phần ca sĩ trình bày, mà người bên đó gọi là “thể hiện”, phải nói một cách công bằng, vì là nơi đông dân số, gần 90 triệu người, thì làm sao không có ca sĩ hát hay. Nhưng tiếc thay, có một số đông chỉ biết la, biết hét, hét toáng lên, khiến người nghe không biết họ hát cái gì. Và còn nữa, họ hay uốn éo ở chữ cuối câu (fioritures), có người còn ẹo ở giữa câu, nghe rất khó chịu. Việc điểm fioritures này – tức là láy – người viết nhạc chỉ dùng khi nào thật cần thiết thôi. Nếu tác giả không có để thêm nốt fioritures thì ca sĩ đừng có tự động láy, tự động uốn éo, tự động ỏng ẹo cho nó lả lướt, như vậy là lả lướt không đúng chỗ, nghe không thể nào chịu được. Người mình có tài hay bắt chước và bắt chước giỏi. Cái uốn éo này xuất xứ từ nhạc Âu Mỹ, nhưng mà với lời ca tiếng ngọai quốc, và cũng tùy thuộc chữ nào, ý nghĩa ra sao, thì nghe được, chứ cứ uốn éo tự do, uốn éo lung tung, bất kể quân thần thì không hợp với lời Việt chút nào.

Một phần việc ca sĩ VN trong nước bây giờ hát khó nghe, lý do cũng tại cách viết lời ca của đa số những nhạc sĩ “lớp ba trường làng”, “trẻ tuổi tài cao” của thời XHCN này: chỗ nốt cao thỉ để chữ dấu huyền hay dấu hỏi, còn chỗ nốt thấp thì để chữ dấu sắc, hay dấu ngã. Viết lời ca như thế thì chỉ có giết ca sĩ mà thôi, bởi ca sĩ không thể nào truyền đạt cho thính giả hiểu được mình hát cái gì. Hát mà người nghe không hiểu gì thì hát làm chi?

38 năm, một thời gian đủ để những “đỉnh cao trí tuệ” giết chết tất cả, từ chữ nghĩa văn chương cho đến âm nhạc. Riêng về âm nhạc, họ đã vùi dập bao nhiêu công lao của những người đi trước, trải qua bao thế hệ, từ thời kỳ âm nhạc cải cách, đến nhạc mới hay tân nhạc, rồi nhạc vàng (chữ của họ gọi để ám chỉ nhạc miền Nam từ 1954 đến 1975 mà họ đã cố tiêu diệt nhưng không được) và nay là nhạc của thời XHCN, của thời:

“Dậy đi mua đồ nấu canh chua

Về cho ba mầy bữa cơm trưa”.

LÊ DINH

Bryan Do gởi

“Người ta xa lánh cả tôi rồi,”

Suy niệm Lời Ngài đọc trong tuần thứ 25 Thường niên năm C 24.9..2013

“Người ta xa lánh cả tôi rồi,”

“Trở gối, nghe hồn động biển khơi.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Lc 16: 1-13

Nhà thơ, nay thấy như mọi người cứ xa lánh mình mãi. Nhà Đạo, xưa tìm đến với mọi người để nghe và thấy “hồn động biển khơi”. Trình thuật thánh Luca, cũng mang nhiều ý/lời về những người tìm đến Chúa để nghe Ngài giảng. Trình thuật, kể về ngôn-ngữ sử-dụng trong Đạo, tiếng Hy Lạp có cụm từ “parrhesia” bên tiếng Anh nghĩa là: phát-ngôn thẳng thừng về nhiều việc và nhiều sự.

Parrhesia lúc đầu mang nghĩa tiêu cực để chỉ người nói nhiều không ngừng nghỉ. Theo nghĩa này, Parrhesia không xứng với người nói chuyện đứng đắn. Tính tích-cực ở Parrhesia là: phẩm-chất của ngưuời nói năng thẳng-thắn, không úp mở, cũng chẳng thêu thùa/thêm thắt, chỉ diễn-tả thông-điệp của người nói muốn đưa ra, không che đậy. Xem thế, thì đây là sự-việc đáng ta ca ngợi.

Parrhesia thực sự liên quan việc người nói có dính-dự, dám chấp nhận phản-ứng bất lợi từ người nghe. Người nói kiểu này, đã mê say cảm xúc nhắm vào sự thật, không cần biết điều mình nói có tốt lành hay không. Nói thế, là quyết thuyết phục cả những người kình-chống lại mình nữa. Nói năng kiểu huỵch toẹt ra ngoài, là nói với đám đông thường không nghĩ khác với điều mình muốn nói, hoặc chẳng nghĩ gì. Nói như thế, là giáp mặt/đối đầu và nghĩ rằng sự thật thắng thế, rất chắc chắn.

Nói theo kiểu thẳng thắn, là quyết phấn đấu trong lời mình nói ra. Là, đầu tư vào những gì mang tính đích thực, tức: thể loại này nói với nhiều người không theo sự thực; tức: nói theo kiểu ai oán là cốt tạo năng-lượng để nói cho tốt, cho nhiều và hữu hiệu hơn. Kiểu này, có thị-kiến ngoài tầm-mức địa-phương/cục-bộ hoặc riêng tư, mang tính hoàn-vũ ở trong đó. Đây là cách nói mãnh liệt, quyết chuyển tải tính chân phương, thật-thà mà có người, khi xưa, gọi là lối nói hiệu năng như có bia/rượu, ngấm trong người.         

Khi người nghe bị ảnh hưởng từ người nói hăng say/thẳng-thắn, thì họ chịu lắng tai nghe và chịu để cho người nói thuyết phục mình và lôi cuốn đi xa hơn điều mình tưởng tượng. Parrhesia tạo niềm tin nơi người nghe. Và, niềm tin đến từ sự việc nghe/biết lời ấy. Đây là trạng-thái gắn kết giữa người nói cũng như văn bản được nói ra và người nghe.

Người nói kiểu “parrhesia” hứng khởi với thông-điệp mình chuyển-tải đến độ không ‘thần-linh’ nào có thể dừng trên người nói. Quả là, có lúc Kitô-hữu sử dụng lối nói thẳng-thừng này, hứng thú đến độ họ dám chối bỏ sự hiện hữu hoặc tính hiệu năng của các ‘thần-linh’ như thế. Họ cười nhạo vào phụng vụ ngoài đạo và có khi vào cả nghi thức của Kitô-giáo nữa. Đôi lúc họ có vẻ tự cao tự đại, nữa.

Điều này là do lối nói thẳng nối kết họ với Thiên Chúa đích-thực, Đấng mở rộng lòng ra và thương xót không hạn chế, mà thánh Luca chuyển cho ta trong Tin Mừng và sách Công Vụ. Các vị thuyết-giảng lại nói thẳng theo kiểu perrhesia đã trở nên trong sáng với Chúa đích-thực và mở lòng ra với Đấng Cao Cả được nâng cao vượt quá chân trời tưởng tượng.

Nói thẳng thừng kiểu parrhesia còn đối chọi lại lối hùng biện, xã giao gột tỉa lối nói không rào đón khác hẳn ý nghĩa mà cụm từ Hy Lạp gọi là ‘eulabeia’, tức: lối hùng biện diễn-tả theo cách ‘hoa hoè hoa sói’, khó kềm chế.

Thế nên, không lạ gì khi ta tưởng tượng cảnh những người nói thẳng/nói thật kiểu parrhesia lúc đầu đã quảng bá Tin Mừng Chúa-Sống-lại đến tận thành đô của Đế Quốc. Nhưng, khi đã hoàn tất, người người ít cần lối nói thẳng thừng kiểu parrhesia, vì rất cứng. Đời sống thường con người đòi họ phải có lối nói thường tình như dân gian mọi người thường nói. Vậy, với thế hệ người nghe là con cháu về sau, hỏi rằng lối nói thẳng thừng như parrhesia có làm mất đi tính riêng tư của nó chứ?

Vương Quốc Nước Trời của Chúa là chế độ quà tặng mở rộng gồm các giá trị tự tại, trong đó con người quan trọng hơn sự vật. Và nhất là, tình thương-yêu còn quí hơn thành-đạt. Nhưng đây có nghĩa là tình thương-yêu thông minh/trí-tuệ và tình thương có suy-tư được ban phát, tức có nghĩa trong bối cảnh của nó.

Sự việc ta hiện diện ở Tiệc Thánh, nay tự nó có nghĩa: ta tin vào các giá-trị đang hiện diện quanh ta và ta muốn sống đích thực giá trị ấy và lối nói thẳng dẫn ta về sống xứng đáng con Chúa hơn. Sự việc ta ra đi hoạt động vào những ngày sắp tới trong tuần đang trờ tới, có nghĩa: ta là người thực tế/thực dụng sống thông minh/bén nhạy theo cách ta được dạy để sống cùng và sống với nhau. Nói thế, là: ta sống đứng đắn, dù không là thế hệ đầu nghe biết Tin Mừng, nhưng vẫn muốn thành người lý-tưởng và thực tế, cùng một lúc.

Dụ-ngôn ta nghe hôm nay, là thánh Luca muốn dùng để nói theo kiểu parrhesia, vào thời của thánh-nhân nhưng sắc thái có phần nhẹ nhàng hơn. Điều đó có nghĩa: phải biết khôn khéo, bén nhạy, ‘cẩn trọng’ và có khả năng tạo tầm kích cách biệt giữa lý-tưởng và thực tế; kỹ-năng giúp ta đọc được mức độ hiểu biết của người nghe ngõ hầu ứng-đáp với kiểu nói parrhesia, của thời trước. Đây là cách lối rất khôn khéo biết tạo tầm-kích về khả năng có được phẩm chất cuộc sống trong một nhóm.

Dụ-ngôn, nay thánh Luca sử dụng như để làm bớt đi tính căng thẳng nơi sắc thái nói năng của các nhà giảng thuyết, thời của ngài. Bằng không, ta sẽ nhận được một bó phẩm bình theo kiểu của Billy Grahams cứ hùng hồn biện-luận với nhóm giáo phái tách riêng, ngay vào lễ sáng.

Nối kết những đường lối nói năng này với tình cảnh của Giáo hội ngày nay, ta thấy được gì? Vài thập niên nữa, Giáo hội mình sẽ đi về đâu? Phải chăng sẽ có thời buổi trong đó sẽ có đổi thay trên thế giới? Và trong cả Giáo hội mình? Cũng có thể, sẽ có thời kỳ bất ổn về cơ cấu sẽ xảy đến với thế giới và Giáo hội!

Giáo hội theo ta hy vọng sẽ không rơi lại vào thời cũ xưa ở đó có nhiều thành-tựu. Hy vọng rằng: ta cũng sẽ vượt qua giai đoạn có những cãi tranh, giành giựt uy thế với ai đó. Cả đến xã hội phóng khoáng hay phóng túng, thời hiện đại, cũng sẽ tìm cách sống mà không cần biểu tỏ bằng mặt ngoài là đã qui chiếu vào với Giáo hội. Lâu nay, thế giới ngoại tại vẫn có khuynh hướng hoặc thái-đô chống đối Giáo hội. Tất cả những lối/những kiểu thẳng-thắn/thẳng thừng ấy sẽ đi vào dĩ vãng.

Bởi Giáo hội không là cơ cấu chống đối xã hội; Giáo hội cũng không ở bên trên lịch sử của người đời, cũng không vô nhiễm khỏi giòng lịch sử của thế-giới. Giáo hội vẫn cùng sống chung cởi mở và đối thoại với thế giới. Giáo hội chỉ sống sót nếu biết đối thoại với thế giới. Bởi Giáo hội ban bố cho thế giới cung cách diễn tả cách công khai về mọi xác tín của Giáo hội. Giáo hội cũng công khai cho thấy cuộc sống người đi Đạo theo cách tập thể, dễ thấy sự trong sáng, cách công khai.

Cần nói ra đôi điều về đạo đức chức năng của hai khối, cần nói về ý-nghĩa và giao ước về xác tín với cộng đồng, về niềm tin-yêu, rất đoàn kết. Cần nói thẳng và nói thật về kinh nghiệm riêng tư bên trong lịch sử của tập thể. Tất cả đều nên đề nghị không gian ban tặng để tạo giao ước sống cùng và sống với nhau, trong thuận hoà.

Vấn đề là: làm sao nói lên được điều đó? Nói thẳng và nói thật theo kiểu parrhesia được bao nhiêu và bao lâu? Nói công khai khôn khéo ư? Mỗi thứ mỗi kiểu được bao lâu và bao nhiêu ngõ hầu đạt thuận hoà, đoàn kết và vui sống, đó mới là mục tiêu đặt ra trước mắt cho cả xã hội ngoài đời và Giáo hội trong Đạo. Đó mới là vấn đề đặt ra cho ta hôm nay.

Trong tinh thần hiểu và biết được như thế, cũng nên ngâm lại lời thơ ở trên, mà hát rằng:

“Người ta xa lánh cả tôi rồi,

“Trở gối, nghe hồn động biển khơi.”

Xa bạn, xa lòng, xa mắt đẹp,

Gió mưa giòng tóc đắng vành môi”

(Đinh Hùng – Chớp Bể Mưa Nguồn)

Mưa nguồn chớp bể với nhà thơ, vẫn là giòng tóc, là “hồn động” xa lánh mãi. Xa lánh rồi, nhà thơ cũng nên về với nhà Đạo mình để thấy được rằng: người ta nay đã gần lại với bạn và với tôi, với tất cả những người không còn thấy đắng nơi vành môi nữa, nhưng đã ấm lòng về với dân gian nhà Đạo, rất thuận tình thuận thảo. Ở mọi nơi.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá luợc dịch

Chuyện Phiếm Đạo Đời đọc trong tuần thứ 25 thường niên năm C 22-9-2013

“Hãy nhìn vào đôi mắt em đây,”


Hãy nhìn vào tận trái tim này
Hãy nhìn vào đôi mắt thơ ngây
Anh sẽ hiểu được trái tim em.”

(Hạ Vy – Con Gái)

(Mt 5: 43-45 )

Câu hát trên, là tiểu khúc của bài hát “Con gái nói có là Không, Con gái nói không là có”. Bài hát này, thuộc loại ca khúc vui vui, cũng rất ngắn. Ngắn, không chỉ ở chiều dài của trường canh/câu nhạc hoặc âm thanh. Mà ngắn, vì chỉ nói mỗi thế chứ đâu dám nói nhiều. Bởi, nói về đàn bà/con gái vẫn có điều để nói nhiều hơn nữa.

Thế đó, là nhận định về nữ-giới còn trẻ ở đời, rất tình đời. Trẻ, thì mới hát thế chứ ai dám nói và hát điều này với các cụ, chí ít là các lão bà, ở nhà Đạo! Nữ giới nhà Đạo nói không nhiều, chỉ âm thầm nguyện cầu chứ không nói. Nhưng, mỗi lần các bà/các cô xuất-khẩu-thành-thơ, là có chuyện. Những chuyện có vấn đề hẳn hòi chứ chẳng chơi. Đây, không là tuyên ngôn hay tuyên bố gì của ai hết; mà là và chỉ là bí mật được bật mí giữa chốn bạn bè cà phê/cà pháo cũng rất “phê” khi nghe ca sĩ nhà hát bài “Con Gái” của người viết nhạc là Hạ Vy.

Nói gần nói xa, chỉ là dẫn nhập mỗi điều này, là: ngày nay, bà con ta bật mí với nhau nhiều bí mật, về đủ chuyện. Từ, chuyện vai trò người nữ phụ, xem ra có hơi sai về cung cách. Sai, cả đại ý với hình thức. Không tin ư? Mời bạn và mời tôi, ta để thêm ít phút tạt qua vườn hoa thông tin/truyện kể rất đáng nể, để rồi sẽ thấy những điều thiên hạ cứ bật mí các bí mật.

Trước nhất, để cho dễ thở, ta thử nghe đọc vài truyện…rất kể lể như sau:

“Truyện rằng,

Có lần nọ, một người nông dân bị mất chiếc đồng hồ trong kho thóc. Đó không là đồng hồ thông thường bởi nó có giá trị về mặt tình cảm đối với ông.

Sau một thời gian dài tìm kiếm rất vô vọng, người nông dân phải nhờ sự trợ giúp của mấy đứa trẻ đang chơi bên ngoài. Ông hứa, nếu ai tìm được chiếc đồng hồ của ông bị mất, sẽ có thưởng.

Nghe vậy, đám trẻ nhanh chân chạy quanh kho thóc tìm kiếm chiếc đồng hồ. Chúng đi khắp nơi, lục tìm mọi chỗ, từ nơi chứa thóc đến tận chỗ cho gia súc ăn, vẫn không thấy. Chỉ đến khi ông đề nghị bọn trẻ ngưng tìm kiếm, thì có bé trai chạy tới và yêu cầu ông cho nó một cơ hội nữa.

Người nông dân nhìn đứa bé rồi ngẫm nghĩ: “Tại sao lại không chứ? Cuối cùng thì, công nhận: cậu bé này khá chân thành!” Ông dẫn cậu bé trở lại kho. Một lúc sau, cậu chạy ra và trên tay là chiếc đồng hồ của ông. Người nông dân rất đỗi ngạc nhiên, ông hỏi cậu bé: “Làm cách nào mà cháu có được nó, sau khi tất cả các bạn đã từ bỏ?”.

Cậu bé đáp: “Cháu không làm gì cả và chỉ ngồi im một chỗ để lắng nghe. Trong im lặng, cháu thấy tiếng kim đồng hồ chạy và theo đó cháu tìm ra nó”.

Kể xong câu chuyện, nguời kể lại đã nghĩ:  Sự tĩnh lặng trong tâm hồn sẽ tốt hơn với trí não luôn hoạt động. Hãy để tâm trí bạn có nhiều phút nghỉ ngơi, thư giãn mỗi ngày. Hãy xem, hiệu quả nó đem lại để giúp bạn xây dựng cuộc sống mình mong đợi.” (trích dẫn truyện kể trên mạng, nhưng không rõ tên tuổi người kể.)

Thôi thì, kể gì thì kể, nói gì cũng chỉ đến thế. Nói hay kể, cũng chỉ như ý/lời mà người nghệ sĩ, lại cứ vời người nghe nhạc hãy lắng tai nghe câu hát, rất như sau:

“Con gái nói có là không,

Con gái nói không là có
Con gái nói 1 là 2,

Con gái nói 2 là 1
Con gái nói ghét là thương,

Con gái nói thương là ghét
Con gái nói giận là giận yêu,

Con gái còn yêu là còn giận
Đừng nghe những gì con gái nói!

Đừng nghe những gì con gái nói
(Hạ Vy – bđd)

Không hẳn thế đâu. Có thể, người viết nhạc có hát thế, cũng để người nghe cứ chú tâm vào những chuyện “kỳ khú” cho vui cửa vui nhà, mà thôi. Bởi, câu nói của người viết nhạc cũng chỉ muốn lặp đi lặp lại những lời này:

Con gái nói nhớ là quên,

Con gái nói quên là nhớ
Con gái nói buồn là vui,

Con gái nói vui là buồn
Con gái nói không biết ghen, là ghen như điên đấy nhé
Con gái nói không biết yêu, là yêu tới quên đường về
Đừng nghe những gì con gái nói

Đừng nghe những gì con gái nói.”

(Hạ Vy – bđd)

Đúng như tác giả viết: “Con gái có lúc hiền như nai”, nhưng lắm khi “như bà chằng”. Chứ đâu có ngạc nhiên vì: trời còn có lúc nắng lúc mưa, nữa là! Tóm lại, nếu chỉ nghe qua đôi lời ở bài hát, chắc có vị lại sẽ cho rằng: tác giả/tác “thiệt” đôi lúc cũng hơi “nặng lời” hoặc kỳ thị gái/trai. Kỳ thực, nói về con gái hay nữ phụ sao đó, cũng chỉ nên nói như người kể truyện khác, vẫn cứ kể và cứ nói những truyện như bên dưới:

Nhiều năm về trước, có một cậu bé mồ côi tên Jim, 12 tuổi, gầy gò. Jim sống lang thang, là đầu mối của mọi trò cười và trêu chọc của mọi người sống trong thị trấn. Không ai đối xử tử tế với Jim. Những nghi ngờ của mọi vụ ăn cắp hay rắc rối đều có tên Jim đầu tiên. Cậu chỉ nhận được những lời nói cay độc, nghi ngờ. Kết quả là Jim luôn lẩn tránh những người xung quanh. Cậu càng lẫn tránh, người ta càng nghi ngờ cậu.

Tài sản duy nhất của Jim là chú chó Tige, cũng luôn khép nép và lẫn tránh mọi người như chủ nó. Jim không đối xử thô lỗ với Tige nhưng cậu cũng luôn dùng thứ ngôn ngữ cay độc mà mọi người dùng với cậu. Phần vì cậu đã quen với những ngôn ngữ đó, phần vì để trút đi mọi nỗi uất ức.


Một hôm, Jim thấy cô gái phía trước làm rơi một gói nhỏ. Cô cúi xuống nhặt thì một gói khác lại rơi khỏi tay. Jim chạy đến, nhặt hai cái gói lên đưa trả cô gái.

– Cảm ơn cậu bé, cậu thật tốt

Cô gái cười và xoa đầu Jim.  Jim hoàn toàn sốc. Đó là những lời nói tử tế đầu tiên cậu nghe thấy trong suốt 12 năm. Jim nhìn theo cô gái cho đến khi cô đi khuất.
… Jim huýt sáo gọi Tige, con chó ve vẩy đuôi chạy tới bên. Cả chủ và chó đi vào rừng… Jim ngồi xuống cạnh bờ suối và trong đầu cứ vang lên: “Cảm ơn cậu bé, cậu thật tốt!” Jim cười một mình. Rồi cậu gọi: “

-Đến đây Tige!”

Tige chạy lại ngay, Jim xoa đầu nó và nói:

-Cảm ơn mày! Mày thật là tốt!”


Tige rất phấn kích và ngạc nhiên. Tai nó vểnh lên, mắt hướng về phía Jim chăm chú, đuôi vẫy lia lịa. “Đến con chó cũng thích nghe lời nói dịu dàng!” – Jim nghĩ và lôi trong túi ra một mảnh gương vỡ. Cậu bé thấy một khuôn mặt lấm lem. Jim rửa mặt thật cẩn thận. Sau đó, Jim lại nhìn vào gương. Cậu bé ngạc nhiên. Lần đầu tiên, cậu nhìn lên cao thay vì chỉ cúi mặt như mọi khi. Một cảm giác, cũng là lần đầu tiên cậu cảm thấy: cảm giác tự trọng.

Từ khoảng khắc đó, cuộc đời Jim hoàn toàn thay đổi bởi quyết tâm để xứng đáng với những lời nói dịu dàng.

Ngưng một lát, nhà tỷ phú tiếp tục nói: “Thưa các bạn, tôi chính là cậu bé đó. Thị trấn nhỏ mà tôi vừa kể đến chính là thành phố này 40 năm về trước. Cái cây ở đằng kia mà quý vị có thể thấy chính là nơi một người phụ nữ đã gieo hạt giống đầu tiên của lòng nhân hậu xuống cuộc đời tôi. Mong sao ai cũng có thể làm được như thế” (Lại một truyện kể lôi từ mạng lưới toàn cầu, rất không tên)

Lan man với truyện kể, hôm nay bần đạo chỉ muốn bảo rằng: thật ra cũng chẳng nên lưu tâm nhiều về người kể truyện rồi hỏi tại sao lại cứ kể những chuyện vẩn vơ, lơ tơ mơ như thế? Mà, chỉ cần xem bạn và tôi, ta có thích loại hình kể lể như thế không, thôi. Hỏi thế rồi, ta đi vào chi tiết bàn bạc xoay quanh truyện kể về lời con gái hoặc con người từng nói. Nói cho dữ, hoặc chỉ chút thôi, cũng là nói những điều người khác hát và nói. Mà, chỉ cần hỏi xem người nghe hát hoặc nghe kể, có tin hay không mà thôi.

Ở nhà Đạo, có nhiều trường hợp tương tự như thế. Tương tự, khi người nhà Đạo nghe nhiều về dụ ngôn/Lời Chúa nói, nhưng có khi vẫn bán tín bán nghi, chẳng hề tin. Tin làm sao, khi Chúa vẫn nói và vẫn kể nhiều truyện dụ-ngôn rất có lý, mà sao người nghe ở người nhà Đạo vẫn như chẳng bao giờ nghe và thực hiện như người rất tin và hay tin.

Có những sự và việc ở nhà Đạo nghe cứ như “lạo xạo”, tưởng chừng như đó chỉ là truyện kể không hơn không kém, nhưng lại là chuyện rất dễ nể, để ta suy nghĩ cho lung, hầu suy xong sẽ đi đến quyết định chứng tỏ mình tin rất vững và cũng xác thực.

Có nhiều lần, đấng bậc trong Đạo vẫn cứ nói và viết rất nhiều về chuyện rất thực trong tin tưởng. Như, người kể khác có tên là Michael McVeigh trênb tờ the Australian Catholics số mùa Đông 2013 ở Úc, như sau:

“Thế giới hôm nay giống như thể tiệm “chạp phô” đầy những tiếng ồn và ánh sáng; có cả những con người chỉ muốn lôi ta ra khỏi chốn miền lặng thinh bằng cách này hay cách khác chỉ để mọi người chú tâm lắng nghe biết thông điệp họ nhắn gửi ở bên trên và bên ngoài, hết mọi sự. Chạp phô này, là nơi là chốn ta dựng xây nên con người là chính ta. Là, tất cả những gì nói lên con người mình qua cung cách ăn mặc, chọn lựa kiểu tóc, bông tai hoặc hình-hài bên ngoài cho hấp dẫn. Có khi còn chọn đội ngũ thể thao, phe phái chính-trị theo ý mình nữa.

Đạo giáo vẫn còn là thành phần trong tiệm “chạp phô” như thế, mặc dù đôi lúc ta vẫn có cảm giác như thể nói đưa đẩy ta ra khỏi lằn ranh chính yếu, quan trọng. Hơn lúc nào hết, con người ngày nay hay tìm đến bản đồ đường đất hướng dẫn ta ngang qua mọi chọn lựa mà thế giới này gửi đến cho ta, và đó còn là nơi chốn khiến đạo giáo có thể đưa ra lời đề nghị về những thứ và những sự có giá trị bền vững. Loại hướng dẫn mà đạo giáo đưa ra cho chúng ta cũng như câu nói của cố linh mục tổng quyền Dòng Tên là Pedro Arrupe từng dặn dò người thân, rằng: “Hãy phải lòng nhau và tiếp tục yêu nhau rồi thì việc ấy cũng sẽ quyết định mọi sự.” …

Nói cho cùng, là tín-hữu Đức Kitô ta đều biết nguồn yêu thương là chính Chúa. Bất cứ con tim nào biết yêu đương cũng đều biết đôi chút về Chúa. Đạo giáo có thể bị thúc và đẩy ra khỏi các con lộ chính của xã hội qua vì các ngân-hàng, nhiều siêu-thị hoặc quán ăn nơi uống, nhưng khi chúng dân tiếp tục kiếm tìm tình yêu cho riêng họ, thì họ cũng sẽ tiếp tục được lôi kéo đến với Chúa, mà thôi.” (Michael McVeigh, Faith in the public square, Australian Catholics, số Winter 2013, tr. 6)

Nói về niềm tin qua yêu thương mà nói như thế, cũng có thể gọi được là “trên mức tuyệt vời”. Chỉ ngắn gọn một vài câu thôi, cũng đầy ý nghĩa, một nhận định. Nhận định, là nhận ra được sự thể ở đời rồi quyết định đường lối cho riêng mình, để sống cho phải phép, rất lẽ đạo. Nhận định, còn là hỏi xem niềm tin của ta “hung hăng xâm lấn” đến thế nào để có thể đi vào lề đường bên phải, của lòng đời? Hỏi và nhận định, còn xem người đi Đạo là ta đã đi vào với xã hội để đem Tin Vui về Tình Thương-yêu của Chúa đến với mọi người, như thế nào?

Hỏi và nhận định ở đây, không có nghĩa “tức, đã trả lời phần nào rồi”, mà là: cơ hội đề người người và mình cùng nhau tiến tới một quyết tâm thực hiện niềm tin trong nhau và có nhau.

Hỏi và nhận định với nhau trong cuộc diện đi vào lòng đời, còn để xem Đạo giáo của ta cống hiến cho đời được những gì? Tìm kiếm những gì nơi đời? Và, người đời? Nhận định và hỏi người hỏi mình, tức còn hỏi rất nhiều mà chưa tìm ra câu giải đáp cho thoả đáng. Bởi thế nên, người viết nhạc ở đời, hôm nay, lại cứ cho hát những lời bay bướm, ít thiết thực, và không hẳn thế, như:

Trời có lúc nắng lúc mưa, Trời có lúc mưa lúc nắng
Con gái có lúc hiền như nai, Con gái có khi như bà chằng
Trời vẫn cứ nắng cứ mưa,

Con gái lúc mưa lúc nắng
Con gái thế đấy bạn ơi,

mà sao con trai nhớ thương từng ngày
Đừng nghe những gì con gái nói

Đừng nghe những gì con gái nói

Hãy nhìn vào đôi mắt…….Đừng nghe…..con gái nói.”

(Hạ Vy – bđd)

Trái lại, hẳn bạn và tôi, có lẽ ta nên tìm về Lời Hằng Sống có những dặn dò thiết thực và rất đúng của Thày Chí Ái vẫn từng bảo:

“Anh em đã nghe Luật dạy rằng:

Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.

Còn Thầy, Thầy bảo anh em:

hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.

Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em,

Đấng ngự trên trời,

vì Người cho mặt trời của Người mọc lên

soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt,

và cho mưa xuống trên người công chính

cũng như kẻ bất chính.”

(Mt 5: 43-45)

Trên đường đời và trong cuộc đời, người xấu/tốt, công chính hay bất chính đều có đủ. Cũng nói và cũng làm không chỉ mỗi con gái hay con trai. Xấu tốt hoặc nói lời nghịch ngạo không phải là sở trường/sở đoản của riêng ai. Nên, vấn đề là dù có nghe những người ấy nói hoặc xử xấu với mình, vẫn còn thương hay không, đó mới là vấn đề.

Vấn đề còn là: dù biết nhiều người không muốn nghe hoặc đọc những lời người nhà Đạo nói, vẫn cứ làm. Vẫn cứ thực hiện điều Chúa truyền dạy, vì đó là điểm son tô đậm đặc trưng của “Con cái Chúa”, ta thường quên. Quên hay cố ý không thực hiện những điều Thày Chí Ái từng dạy, nhưng lại cứ thực hiện những hành xử rất trái khuấy/nghịch ngạo như truyện kể ở bên dưới làm đoạn kết, rất như sau:

“Một thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh bị phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh bèn ra bờ sông định tự tử.

Vào canh ba đêm nọ, anh đến trước bờ sông, bỗng nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến gần hỏi cô:

– Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?

Cô gái buồn bã nói:

– Tôi bị người yêu ruồng bỏ, tôi không muốn sống nữa, bởi vì không có anh ấy tôi không sống nổi. Vị thương gia vừa nghe xong lập tức nói:

– Ồ! Lạ nhỉ, sao lúc chưa có bạn trai, cô có thể tự sống được.

Cô gái vừa nghe xong liền bừng tỉnh và bỏ ngay ý định tự tử. Ngay lúc đó thương gia nọ cũng chợt nhận ra rằng: Khi chưa giàu, ta vẫn sống bình thường, cũng tay trắng làm nên! Lúc đó cô gái quay sang hỏi thương gia:

– Đêm hôm lạnh lẽo như vậy, anh ra đây để làm gì?

Thương gia ậm ừ trả lời:

– Ừ… đâu có làm gì, chỉ là tản bộ chút vậy thôi”.

Và, lời bàn của người kể rất “huệ-lộc” mà bảo rằng: “Thì ra, dù mất tất cả nhưng thực sự cũng chỉ bằng lúc ta chưa có mà thôi.” Thật ra thì, có hay không, vẫn là sự thể cuộc đời nhiều khi không có mà lại cũng có. Có-không/không-có, là cuộc đời cứ diễn tiến đến mất mát. Còn lại sẽ là và chỉ là tình yêu-thương chính mình và mọi người. Chính đó là triết-lý của “hư không/trống rỗng” Chúa dạy dỗ hết mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Lại nhận ra được chân lý

Của cuộc đời.

Với người đời.

Bức Tranh Ðời Người

Bức Tranh Ðời Người

Một họa sĩ vô danh nọ vào thời Trung Cổ đã tóm tắt đời người thành 4 bức tranh xếp bên cạnh nhau. Bức tranh thứ nhất họa lại tuổi thơ. Không gì đẹp và thanh thản cho bằng tuổi thơ. Một em bé hồn nhiên, vô tư ngồi trên một chiếc ghe buồm vừa nhổ neo ra khỏi bờ… Em bé nhìn theo sóng nước không sợ hãi bởi vì người đang cầm bánh lái là một thiên thần. Bóng đen đang ngủ một cách dịu hiền đằng sau bánh lái.

Sang đến bức tranh thứ hai, người ta bỗng thấy cậu bé trở thành một trang thiếu niên đang đứng nhìn chân trời xa tắp với những háo hức trước những điều mới lạ… Vị thiên thần vẫn còn cầm tay lái, nhưng sóng đã bạt đầu và bóng đen đã thức giấc.

Bức tranh thứ ba là cảnh tuổi trưởng thành. Bầu trời đã trở nên ảm đạm. Sóng gió ập phủ tứ bề. Bánh lái đã nằm trong tay của bóng đen. Vị thiên thần đã bị trói chặt trong một góc. Người đàn ông đã phải dùng tất cả sức lực của mình để chiến đấu, để chiếc ghe không bị lật úp…

Cuối cùng, trong bức tranh thứ tư, người ta thấy một cụ già đang ngồi ung dung giữa ghe. Sóng yên, gió lặng, mặt trời xuất hiện trở lại. Vị thiên thần đã dành lại được bánh lái, còn bóng đen thì bị trói chặt đằng sau.

Ðời là một cuộc hải trình gay go… Ðích điểm có thể là bến yên hàn mà cũng có thể là vực thẳm của chết chóc. Ðến nơi yên hàn hay đứt gánh giữa đường: số mệnh ấy không ai có thể định đoạt cho ta, mà chỉ có mỗi người phải biết làm chủ, lèo lái con thuyền của mình…

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã quá quen thuộc với trò chơi “Thiên Ðàng Hỏa Ngục” mà các em bé thường tụ tập trước sân thánh đường để cùng biểu diễn… Thiên đàng hỏa ngục hai bên, ai khéo thì nhờ ai vụng thì sa… Trả lời được một số câu hỏi thì được vào Thiên Ðàng, trả lời không được thì bị chận lại ngoài cửa.

Trò chơi đơn sơ nhưng cũng có tác dụng gieo vào đầu chúng ta một hình ảnh về cuộc đời. Ðời là một cuộc ra đi. Hướng đi của cuộc đời tùy thuộc ở sự định đoạt của mỗi người. Con đường dẫn đến hư đốn luôn rộng thênh thang. Con đường dẫn đến sự sống là một con đường chật hẹp, đòi hỏi nhiều chiến đấu…

Sự thánh thiện là một ơn Chúa ban, nhưng phải mất nhiều lao nhọc, vất vả chiến đấu, con người mới đạt được. Nói đến chiến đấu là nói đến kẻ thù. Con sư tử lượn quanh tìm mồi cắn xé trong cuộc sống của chúng ta là không biết bao nhiêu cạm bẫy giăng mắc trên lối đi của chúng ta. Những cạm bẫy đó từ bên ngoài cũng có, nhưng hầu hết đều xuất phát từ trong tâm hồn chúng ta… Ðó là những dục vọng, đam mê đang cào xé tâm hồn chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta đánh bại được kẻ nội thù ấy và biến chúng thành đạo binh trung thành thì lúc đó chúng ta mới chiến thắng được kẻ thù đến từ bên ngoài…

Khí giới tiên quyết và chủ yếu giúp chúng ta chiến thắng được nội thù đó là sự cầu nguyện. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Ngài: chỉ có ăn chay và cầu nguyện các con mới chiến thắng được loài quỷ này…

Trích sách Lẽ Sống

Jessica

Sống Thọ vui vẻ

Sống Thọ vui vẻ

Người ta có thể sống khoẻ ở lứa tuổi 90 và vẫn hạnh phúc?


Tháng 2 vừa qua ở Riverside, bang Connecticut của Hoa Kỳ, Đức ông Alan Detscher, Cha sở Nhà thờ Thánh Catherine thành Siena, giáo xứ của tôi, bước đến micro vào cuối Thánh lễ để rao vài thông báo. Thông báo cuối cùng của ngài là mời bà cụ Caroline Dulcibella, đang ngồi hàng ghế khoảng giữa nhà thờ, đứng lên để nhận tràng pháo tay của cộng đoàn: Cụ Dulcibella được 97 tuổi ngày hôm đó. Cụ tươi cười và chờ đợi. Chúng tôi vỗ tay và rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì nhìn thấy bà cụ với dáng người nhỏ nhắn nhưng mạnh mẽ, thực tế là chúng ta đang sống thọ hơn, một số ở lứa tuổi 100.

Năm 1900, tuổi thọ trung bình chỉ là 46-48 năm. Từ năm 1980 đến 2010, tuổi thọ trung bình ở Hoa Kỳ tăng từ 70 tới 76 năm đối với nam và từ 77 tới 81 năm đối với nữ, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC).

Được chứ, Dan Buettner, tác giả có số sách bán chạy nhất của New York Times và là người sáng lập và giám đốc điều hành của Khu vực Xanh (Blue Zones) cho biết.

Trong suốt 10 năm, Buettner đã nghiên cứu và viết về những người đã sống cuộc sống lâu dài trong hạnh phúc đo được ở “Khu vực Xanh”.

Buettner phối hợp với Nguyệt san National Geographic để tìm kiếm và nghiên cứu những người sống thọ nhất thế giới. Với sự hỗ trợ của các nhà nhân khẩu học, ông đã tìm thấy những nhóm người trên toàn thế giới với tuổi thọ cao nhất hoặc hầu hết những người sống đến 100 tuổi. 5 địa điểm phù hợp với tiêu chí: Barbagia thuộc vùng Sardinia; Ikaria của Hy Lạp; bán đảo Nicoya của Costa Rica; tín hữu Tin Lành Seventh Day Adventist quanh vùng Loma Linda của California; và Okinawa của Nhật Bản.

Với sự hỗ trợ của một nhóm chuyên gia, Buettner xác định 9 đặc điểm thường được tìm thấy ở những người có tuổi thọ cao nhất . Buettner khám phá ra rằng những người sống thọ như thế có một ý thức mạnh mẽ về mục đích, hoạt động, ăn uống lành mạnh và thực hành một truyền thống đức tin, trong số những đặc điểm quan trọng khác. Nó chỉ ra rằng cụ Dulcibella kết hợp nhiều thuộc tính vào cuộc sống hằng ngày của mình phù hợp với những khám phá của Buettner.

Sinh năm 1916 ở Danbury, bang Connecticut, Cụ Dulcibella, một y tá sức khoẻ công cộng đã về hưu, luôn cho rằng tuổi thọ của cụ là nhờ gen tốt từ bố mẹ. Trong số 7 anh chị em, chỉ có em gái Lucy, 88 tuổi, ở Georgetown, Texas, và em trai Peter 92 tuổi của cụ ở Silver Spring, Maryland, là còn sống.

Cụ theo học Trường Điều dưỡng Thánh Phanxicô ở Hartford, bang Connecticut. Ngay sau đó, cụ trở thành một y tá quân đội và đi đến châu Âu trong Thế chiến II. Sau chiến tranh, cụ nhận được văn bằng y tế công cộng tại Đại học New York do chương trình GI tài trợ.

Dù chưa từng kết hôn, cụ Dulcibella đã luôn luôn kết nối với mọi người trong vai trò một y tá công cộng và y tá ở Norwalk và Greenwich, bang Connecticut. Cụ nghỉ hưu vào năm 1978.

“Toàn bộ nhân viên điều dưỡng rất mến Carrie (tên thân mật của cụ Caroline Dulcibella) và học chuyên môn của cụ trong nhiều vấn đề”, ông Barbara Ward Bilek, nguyên là y tá và giám đốc điều dưỡng y tế công cộng của Phòng Y tế Gia đình ở Greenwich của bang Connecticut, cho biết. “Là một y tá thâm niên, Carrie là công cụ định hướng cho các nhân viên mới, trong đó có tôi. Cụ là cố vấn cho nhiều y tá”, ông nói.

“Ơn gọi làm y tá vẫn mạnh mẽ trong Caroline cũng như đức tin Công giáo của cụ”, Detscher nói. “Trong thực tế, người này nuôi dưỡng người khác. Vào lứa tuổi trung tuần 90, cụ vẫn quan tâm đến các cư dân của Hill House (cộng đồng hưu trí nơi cụ sống) và thậm chí còn đưa Mình Thánh Chúa cho những ai không thể tham dự Thánh lễ. Đối với Caroline, thể chất và tinh thần được liên kết mật thiết với nhau.”

Hiện nay, Cụ Dulcibella sống trong một nhà dưỡng lão chỉ cách nhà thờ 50 mét và cụ thường dùng khung đi bộ đến nhà thờ tham dự Thánh lễ. Là một người chịu lễ hằng ngày, Cụ Dulcibella tham gia ca đoàn giáo xứ và là một giáo lý viên.

“Tôi không thích uống thuốc, vì vậy tôi cố gắng chữa lành cho mình. Tôi dùng 6 viên vitamin mỗi ngày và một viên vitamin tổng hợp”, cụ nói. Vận động cơ thể rất quan trọng đối với cụ. “Tôi thường chơi bowling và có mặt trong một đội bowling. Tôi cũng cố gắng làm nhân viên cấp cứu càng nhiều càng tốt khi tôi có thể”, cụ chia sẻ.

Một chìa khoá khác cho cuộc sống hạnh phúc lâu dài là tăng trưởng đời sống tâm linh của mình.

“Thiên Chúa có tiếng nói cuối cùng”, cụ nói, “tôi tin tưởng mạnh mẽ trong lời cầu nguyện riêng, đặc biệt là Kinh Mân Côi. Tôi cố gắng lần chuỗi hằng ngày. Tôi nghĩ nó đã giúp cho tôi rất nhiều sức mạnh để đi tham dự Thánh lễ”.

“Tôi cầu nguyện cho những người trong gia đình tôi để họ được ra đi trong hạnh phúc. Tôi cầu nguyện cho hoà bình trên thế giới, trong các ngôi nhà và trong gia đình chúng tôi. Ở tuổi 97, mỗi ngày là một ân huệ”, Cụ Dulcibella nói.

“9 lời khuyên tuyệt vời” để sống lâu hơn

Với sự trợ giúp của các nhà nghiên cứu y tế, nhân chủng học, nhân khẩu học và dịch tễ học, Dan Buettner xác định 9 đặc điểm thường thấy trong số những người sống lâu nhất thế giới. Điều ông gọi là “9 lời khuyên tuyệt vời” bao gồm:

1. Vận động một cách tự nhiên: Sống lâu nhất thế giới là sống trong môi trường liên tục vận động mà không cần suy nghĩ về nó. Chẳng hạn, người ta làm vườn và không có phương tiện cơ khí cho công việc.

2. Có mục đích: Biết “lý do tại sao tôi thức dậy vào buổi sáng” và điều này giúp tăng thêm 7 năm tuổi thọ.

3. Trút bỏ: Những người sống trong “Khu vực Xanh” trải qua căng thẳng như chúng ta, nhưng có thói quen trút bỏ căng thẳng đó. Dân chúng Okinawa dùng vài phút mỗi ngày để nhớ đến tổ tiên của họ, tín hữu cầu nguyện, người Ikarians chợp mắt một chút và người Sardinia làm giờ hạnh phúc.

4. Quy tắc 80: Họ ngừng ăn khi dạ dày no đủ 80%.

5. Thiên về thực vật: Người sống lâu có chế độ ăn tập trung vào các loại đậu và ăn thịt chỉ 5 lần mỗi tháng.

6. Uống rượu vừa phải: Dân cư Khu xanh uống rượu vừa phải và thường xuyên. Người uống quân bình sống lâu hơn người không uống.

7. Thuộc về: Tất cả ngoại trừ 5 trong số 263 người sống trăm tuổi do Buettner phỏng vấn đều thuộc về một cộng đồng tôn giáo. Thuộc tôn giáo nào dường như không thành vấn đề. Nghiên cứu cho thấy việc tham dự các buổi phụng vụ đức tin 4 lần mỗi tháng sẽ tăng thêm từ 4 đến 14 năm tuổi thọ.

8. Ưu tiên những người thân: Những người sống trăm tuổi thành công tại Khu đất xanh đặt gia đình làm ưu tiên. Điều này có nghĩa là giữ cha mẹ già và ông bà cận kề hoặc trong nhà (nó làm giảm bệnh tật và tỷ lệ tử vong của trẻ em ở nhà). Họ cam kết với một người bạn đời (có thể tăng thêm 3 năm tuổi thọ) và đầu tư cho con cái bằng thời gian và tình yêu thương.

9. Môi trường tốt: Người sống lâu nhất thế giới đã chọn – hoặc được sinh ra – trong môi trường xã hội hỗ trợ những hành vi lành mạnh. Những thói quen tốt hoặc xấu thường dễ lây nhiễm. Vì vậy, các phúc lợi xã hội đã hình thành những hành vi lành mạnh khiến người dân được sống lâu.

Những tương đồng khác về văn hoá ở Khu vực Xanh bao gồm việc giữ mình năng đông, giao tiếp xã hội thường xuyên và có một “thói quen thiêng liêng hằng ngày”, dành thời gian để cầu nguyện, thiền định hoặc ngủ trưa – Buettner nói trong một cuộc phỏng vấn gần đây trong chương trình Sức khoẻ hằng ngày.

Hùng Nguyễn

Giọt nước mắt… vì niềm kiêu hãnh

Giọt nước mắt… vì niềm kiêu hãnh

 

 

 

 

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh

Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.

Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?

Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.

Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.

 

 

 

Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.

 

 

 

 

Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.


Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bõ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.

Ðó là cách trả thù vậy. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.

 

 

George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam, một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shana Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.

Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.

Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.

Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.

 

 

 

 

Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công, chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.

Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.

 

 

 

 

George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.


Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.

 

 

 

 

George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa. Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?

Bùi Bảo Trúc

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN IV

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN phần IV
Phan Sinh Trần
09/2013.
Từ phần III của loạt bài này, tôi cho rằng Bạn vẫn còn đang thắc mắc, không biết những sự “chạm vào lòng con” trong khi Ca Ngợi Chúa đó, có thực mang lại một sự ích lợi gì hay ý nghĩa nào không ?
Vâng , đã có nhiều thay đổi, như trong trường hợp của Chị N, sau những lần được Chúa tỏ mình ra cho và biết rằng không có gì ở trên đời quí giá bằng một đời sống làm con của Thiên Chúa , đời sống Chị đã hoàn toàn thay đổi, Chị khao khát tìm kiếm Chúa, đi khắp nơi, không biết mệt, để làm chứng cho Chúa, chị đã về Việt Nam đôi ba bận, làm chứng cho Chúa tại những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, vùng mà dân chúng nghèo khổ nhất như Cà Mau, Tây Ngu­yên, Miền Trung. Chị cũng đã bỏ cả “job” để đi làm chứng cho Chúa. Tại Cà Mau, có lần chị bị du kích xã triệu về văn phòng, gặp Chủ Tịch xã, không chút ngại ngần, Chị đã nói về Chúa cho Chủ Tịch Xã , thay vì bị no đòn vì tội giỡn mặt chính quyền, như đã từng xảy ra với các nhà truyền đạo khác, hay bị tù đầy, Chị lại được phép tiếp tục qui tụ mọi người lại nhà người quen để tiếp tục ca ngợi Chúa, tình yêu của Chị, sức mạnh của Chúa Thánh Linh qua ơn đổi mới và chữa lành đã đem về cho Chúa nhiều anh chị em Tân Tòng. Ngay cả tại Texas, USA, đã hơn 4 năm qua, Chị dùng nhà của mình làm nơi ca ngợi Chúa, kính Mẹ Maria, mỗi tuần hai đến ba lần, mỗi lần từ 2 đến 3 giờ trở lên. Người tham dự hầu hết là Tân Tòng, nhờ được ơn mà đi theo Chúa. Sự đụng chạm của Chúa Thánh Thể đã làm nên kỳ tích trong đời sống chị N, ơn Chúa ban cho rất nhiều, cần cả mấy bài mới nói hết.
Còn tôi thì sao khi được Chúa đụng chạm? Như Bạn đoán đó, phần tôi thì ít ỏi hơn Chị N nhiều , vì chỉ là hưởng phần sót lại thôi mà, nhưng ơn đụng chạm của Chúa cũng đủ cho tôi thao thức ngày đêm và viết lên lời làm chứng để gởi tới Bạn trong giờ này. Ơn đụng chạm của Chúa làm cho tôi nay ước ao được nói về Chúa, điều mà tôi rất ngại ngần và luôn cảm phục lòng can đảm nói về Chúa của Anh Chị Em Tin Lành. Nay thì tôi hiểu được, nếu khám phá ra Chúa thực sự là một kho tàng vô giá, môt kho tàng vô tận, thì ai mà không ước ao nói về Chúa, ai mà không thấy nhu cầu khẩn thiết phải thông báo cho Bà Con mình về kho tàng này để cùng hưởng dùng đến muôn thuở, khôn cùng. Không thế mà thánh Phao lô đã phải thốt lên: “Khốn cho tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1Corinto 9:16)
Hãy bắt đầu bằng những buổi Ca ngợi, thờ phượng Chúa hết lòng rồi chúng ta sẽ cảm biết Chúa kính yêu cùng với ơn Cứu Độ của Ngài tuyệt vời và vô giới hạn như thế nào.
2. Ca ngợi Chúa để chiến thắng vực thẳm u tối của nền văn minh sự chết, hơn lúc nào hết ta cần cầu nguyện vì sự sụp đổ của gia đình ở mọi quốc gia, vì sự lên ngôi của bạo lực khi mà bắn giết, cướp đoạt xảy ra khắp nơi, vì tôn giáo mất sức hấp dẫn và suy thoái, vì muôn vàn vấn nạn của thời đại… Tuy nhiên, Bạn đừng lo buồn , thất vọng vì khi có càng nhiều u tối thử thách thì ơn Chúa lại ban xuống càng nhiều, chưa bao giờ hồng ân Chúa ban lại đầy dẫy như thời này, khi mà Cộng Đoàn nào hết lòng thờ phượng Chúa cũng có thể trải nghiệm vinh quang và quyền năng của Chúa Thánh Thần giống như thời Hội Thánh Sơ khai. Qua sự Ca Ngợi, thờ phượng Chúa , Ngài đã ban cho rất nhiều ơn diệu kỳ như lời Chúa hứa về ơn phước dành cho con cái vào thời mạt vận thế gian:
Sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, Thiên Chúa phán:
Ta sẽ đổ Thần khí Ta trên mọi xác phàm.
…………
Ta sẽ tung ra điềm thiêng tại trời trên cao,
cùng những dấu lạ trên đất phía dưới, máu cùng lửa và khói hơi nghi ngút.
Mặt trời biến thành tối tăm,và mặt trăng sẽ thành máu,
trước khi đến Ngày vĩ đại huy hoàng của Chúa… (Công vụ Tông đồ 2:17-20)
Vậy Tôi và Bạn chúng ta đừng sợ hãi nhưng hãy cùng nhau ca ngợi, thờ phượng Chúa để có thể thắng được các khủng hoảng điên loạn bủa vây giới trẻ, bao vây các gia đình, thắng các làn sóng vật chất đang cuốn đi mọi thế hệ vào vực thẳm tối tăm, … trong hoảng loạn , tôi chỉ có thể tìm thấy bằng an vượt thắng cám dỗ nhờ Ca Ngợi Chúa. Sau đây là kinh nghiệm của hai Bác H và N về cầu nguyện cho con.
Chuyện xảy ra khoảng năm 2005 , ngày đó cả hai Bác H và N đều có vấn nạn về gia đình . Trường hợp của Bác H thì nhẹ hơn, cô con gái lớn của Bác chỉ muốn lấy một Anh bên lương, ngặt một nỗi anh này không muốn đi Đạo , chỉ muốn kết hôn theo nghi thức đời và sống chung thôi. Điều này hoàn toàn cấm kỵ đối với Bác H, một người luôn muốn con cái mình được hạnh phúc vì bắt đầu bằng một gia đình yêu mến Chúa. Bác cầu nguyện, khóc lóc, khuyên răn nhưng không có hiệu quả vì con gái Bác đã quá yêu anh chàng sau một thời gian mấy năm hẹn hò. Cô nói sẽ lấy Anh ta bằng bất cứ giá nào !. Bác H đến Nhóm Ca ngợi Chúa , dâng con mình lên cho Chúa và cùng nhóm cầu nguyện cho Cháu thêm ơn khôn ngoan để quyết định. Rồi vài tháng sau, vào một buổi cuối tuần đẹp trời, Cô gái lớn của Bác đã ở nhà không đi hẹn hò với Anh Chàng nữa và nói với mẹ một cách nhẹ nhàng, “Con tính hoãn lại ít lâu để xem có hợp nhau không ?”. Nhóm và Bác càng gia tăng ca ngợi Chúa , và cầu nguyện thêm nhiều, rồi đến vài tuần sau thì cô gái quyết định “không tiến đến hôn nhân” vì không hơp. Bác thử hỏi cô, “chịu nổi chia tay không ? tình đầu đó hỉ”. Cô nói, chịu được . .. Đúng là như vậy, có Chúa giúp thì chịu được chứ! bẳng đi đã 7 năm trời , nay Cô gái này đã thành hôn với người khác và có một gia đình yêu mến Chúa rất hạnh phúc , Chồng rất tốt đạo và bày con ngoan. Chúng tôi nói đùa với Bác H rằng “ Ca ngợi Chúa có thể thay đổi cả người tình đầu “.
Trường hợp của Bác N thì khó khăn, nặng nề hơn, Con gái Bác đã thương một người đã ly dị vợ, anh này vốn ăn nói duyên dáng và đẹp trai , làm cho nhiều cô mê mẩn, Anh là một người dày dạn kinh nghiệm trong tình trường. Con Gái Bác N cũng không ra ngoài lệ, Cô yêu chết mê, chết mệt, Cô tuyên bố nếu Mẹ không chịu thì dọn ra sống chung với Anh chàng, Cô “không thể sống nổi nếu không có Chàng”. Thoạt đầu , Bác N lo lắng tưởng phát điên lên được, nhưng rồi bình tâm lại, Bác lo làm tuần cửu nhật cầu nguyện Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp liên tiếp, hết đợt này đến đợt khác , kéo dài trong sáu tháng và đến Nhóm xin cầu nguyện, Bác bền bỉ cảm tạ Chúa vì tin vào điều Chúa sẽ làm cho con gái, cho nó nhận ra tình yêu thật ở đâu, Bác Ca Ngợi Chúa vì Chúa yêu con gái bác còn hơn chính Bác nhiều, Bác hoàn toàn phó thác “nó” cho Chúa mỗi khi lo lắng làm cho tinh thần Bác gần như phát điên.
Đến một ngày, cô con gái bỗng khám phá ra vẻ đẹp của Chàng chỉ có ở bên ngoài và không thực ở bên trong, tê hơn nữa, cô khám phá ra là Anh chàng còn có cả tá bạn gái đang ngày đêm hẹn hò và Chat , Email tới tấp vì bận bịu như vậy nên Anh không có nhiều giờ làm việc và nhiều giờ cho Cô. Lòng Cô như khô cứng lại và không còn thấy vẻ hấp dẫn, thu hút đó của Anh chàng là quan trọng, cô thấy cần đến một cái gì bên trong. Một ngày nọ, Cô chạy đến xin lỗi Mẹ và nói “con thôi không gặp Anh và nói Anh ta đừng đến gặp con nữa”. .. Ngày nay, thì cô đã lập gia đình với một con cái Chúa, rất hạnh phúc bên người chồng Tiến Sĩ của mình cùng mấy đứa con vừa xinh như Mẹ, vừa giỏi như Bố. Ca ngợi Chúa đã mang đến chiến thắng cho Bác N bên bờ vực sụp đổ. Ca ngợi Chúa đã chữa lành cho lo lắng của Mẹ và tránh đi yêu lầm của Con.
Thực ra , thì Chúa chăm sóc cho mọi gia đình, Gia đình chị N có con trong băng đảng, gia đình tôi có con ở tuổi chứng, quậy cãi om xòm… Cũng vậy, các người con đó đều được ơn đổi mới và muôn ơn lành khác nhờ Bố Mẹ chạy đến Chúa trong Ca Ngợi và dâng con mình, vấn nạn của mình cho Chúa. Bạn hãy thử Ca ngợi Chúa hết lòng đi, cho biết Chúa ngọt ngào dường bao khi Ngài chăm lo cho Bạn, cho con cái Bạn, cho người thân của Bạn !!!
3 Hãy hát mừng Người một bài ca mới,
hãy tấu nhạc du dương trong tiếng hò reo.
….
9 Hãy nếm và xem Yavê tốt lành nhường bao!
Phúc cho ai ẩn náu bên Người!
(Thánh vịnh 33-34)
Phan Sinh Trần

Về Lại Núi Rừng

Về Lại Núi Rừng


Người miền núi muốn ôm khung trời.
Trời tự do giữ trong vòng tay.

Tưởng Năng Tiến


Tiếng Trống Cao Nguyên – Y Vân


Hôm 8 tháng 8 năm 2013, báo Dân trí đi tin:

Chiều ngày 7/8, người dân và công an huyện Tây Trà đã tổ chức tìm kiếm đưa hai cha con người dân tộc Cor hơn 40 năm sống trong rừng, trở về địa phương…

Sống biệt lập trong rừng, ông Thanh và con trai tự chế tạo dụng cụ như rìu, dao từ mảnh sắt vụn của bom đạn, sử dụng vỏ cây khô làm khố mặc che thân, ăn uống bằng củ mì, bắp, lá cây và tự dựng túp lều trên thân cây cao khoảng 6m để phòng thú rừng.

Hiện hai cha con ông Thanh đã được đưa về xã Trà Phong (nơi ở cũ). Lực lượng chức năng tổ chức canh giữ, đặc biệt với người con Hồ Văn Lang thường xuyên có biểu hiện chạy trốn về lại rừng.”

hovanlang

Người con Hồ Văn Lang
luôn muốn bỏ trốn về lại rừng.

Ảnh và chú thích của Hồng Long

Về sự kiện này, có không ít lời bàn (ra) nghe không vui vẻ mấy:

– Blogger Khải Đơn:

Chuyện bắt đầu lãng nhách, bỗng nhiên một ngày nọ, có 1 đoàn người bu vô rừng tóm cổ hai cha con ông già 80 tuổi tên Hồ Văn Thanh và đứa con hơn 40 tuổi tên Hồ Văn Loan ra, và tuyên bố rằng mình ‘giải cứu’ được họ – người rừng.

Blogger Nguyễn Quang Vinh:

Tôi không coi việc lôi tuột cha con ông Lang từ trong rừng sâu ra mà gọi là ‘giải cứu’, là nhân đạo,‘trách nhiệm’, không, bởi vì bản chất của sự giải cứu không nằm ở trường hợp này, người ta ăn ở ổn định 40 năm, đùng đùng vào vây, bắt, trói, cùm, lôi cổ về rồi đồng thanh to mồm ‘giải cứu’ là nghĩa làm sao…

Chưa có một tờ báo nào có một bài tử tế với bạn đọc nhìn về khoa học nhân văn về thân phận của hai con người này, chỉ toàn là những chi tiết hiếu kỳ, và có vẻ như họ -NGƯỜI RỪNG, cuối cùng chỉ là phương tiện không hơn không kém cho báo chí ngấu nghiến tin bài ảnh và cho địa phương và gia đình hưởng lợi mà thôi, nói ác hơn chút, như hai con thú lạ trong công viên mà thôi. Tính nhân văn đã bị hoen ố, đã bị chà đạp, đã bị lợi dụng, đã bị biến chất, đã bị kinh doanh theo rất nhiều hình thức…

Rồi cũng sẽ qua hết. Vài tháng nữa, sẽ không còn ai về coi, không còn nhà báo nào đưa tin, lắng xuống, phẳng lỳ, và lúc đó, thậm chí ‘người rừng’ có khi ngửa nón đi ăn mày cũng chẳng ai hay, vì người “giải cứu” đã hoàn thành nhiệm vụ, kẻ bôi chuyện cũng đã xong, còn lại những đêm trắng bất an của cha con họ, còn lại cuộc sống lớ ngớ, vụng dại, bất cẩn, bế tắc của cha con họ…

Tôi muốn thay họ – cha con ông Lang – để hét lên: Câm hết đi, giải tán hết đi, quên chúng tôi đi như đã quên 40 năm, để chúng tôi yên ổn, để chúng tôi trở lại rừng, để chúng tôi tự do...”

Trời, tưởng gì chớ ở trong vòng tay nhà nước CHXHCNV mà đòi sống “tự do” thì đâu có được – cha nội? Còn viễn tượng về một cuộc sống “lớ ngớ, vụng dại, bất cẩn, bế tắc của cha con họ” coi như là… cầm chắc. Không tin, xem lại (Wikipedia) “cuộc hành trình về với cộng đồng” của người Rục là biết liền hà:

Tộc người Rục được một tiểu đội công an Quảng Bình phát hiện vào ngày 12 tháng 8 năm 1959 trong hang sâu tại vùng hang động Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa (Quảng Bình) gồm 11 hộ với 34 người. Người Rục có tập quán rất lạc hậu, quen ở hang sâu, săn bắt, hái lượm, nhưng họ cũng có một cuộc sống tinh thần phong phú với những nhạc cụ núi rừng như đàn trơ bon, đàn môi, sáo dọc và làn điệu cà lưm cà lềnh. Do tập quán lạc hậu, sống trong hang đá, săn bắt, hái lượm tận rừng sâu, người Rục có nguy cơ suy giảm dân số hết sức nghiêm trọng.Trong hơn 40 năm, người Rục đã làm một cuộc hành trình về với cộng đồng.”

Họ về tới đâu rồi?

Cứ theo như báo Quân đội nhân dân (số ra ngày 2 tháng 1 năm 2011) thì “người Rục đã vào hợp tác xã,” và “mô hình này đang được bà con người Rục hồ hởi đón nhận!”

Thiệt là quá đã, và quá đáng.

So với bước (“chân dép lốp đi vào vũ trụ”) của người miền xuôi thì đồng bào Rục –  rõ ràng – tiến nhanh, và tiếng mạnh hơn gấp triệu lần. Họ phóng (cái rẹt) từ thời kỳ săn bắt & hái lượm, nhẩy băng băng qua qua giai đoạn bán định canh và định canh, bỏ qua luôn giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, để bước (cái rột) lên chủ nghĩa xã hội chỉ trong một thời gian kỷ lục: năm mươi năm chẵn.

Tuy nhiên, mười tháng sau – sau khi người Rục “đã vào hợp tác xã” –  vào hôm 24 tháng 10 năm 2011, blogger Cu Làng Cát (chợt) nhận ra có điều… rất lạ:

Người Rục rời hang đá 50 năm đã có chi bộ Đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân… tức là đủ thứ hội. Mình thấy thế thì quả là thiên tài cho ai sắp xếp được ở đây các hội này.

Nhưng hội đầy đủ thế mà bà con vẫn 6 tháng không có gạo ăn là nỗi đau vô cùng. Nhà nước trợ cấp 6 tháng gạo, mỗi khẩu 15kg một tháng cho người Rục, 6 tháng còn lại chỉ biết sắn và củ quả rừng… Và Việt Nam là cường quốc xuất khẩu lúa gạo mà người Rục đói gạo là rất lạ.

Lạ hơn nữa là mới hơn hai tháng trước, theo báo Công an nhân dân (số ra ngày 20 tháng 7 năm 2011) ngay trong vụ thu hoạch lúa đầu tiên, mỗi gia đình người Rục  đã nhận được “cả tấn thóc” cơ mà:

“Mặt trời vừa ló rạng bằng con sào, cả bản Mò o Ồ Ồ như bừng tỉnh bởi tiếng cười, tiếng nói mùa vui giữa cánh đồng rộng 10 ha lúa vàng rực giữa thung lũng Trường Sơn. Đã nhiều lần lên với đồng bào Rục, nhưng con đường, ngõ xóm, những mái nhà thân thương của bà con hôm nay thấy thật lạ. Niềm vui của bà con đã lan toả đối với chúng tôi…

Dưới ánh nắng gắt gao của ngày hè, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ biên phòng và bà con dân bản vẫn thoăn thoắt công việc của nhà nông. Sau ba tháng cày sâu, cuốc bẫm; sau nhiều năm chờ đợi giờ được gặt thành quả lao động do mình tạo ra nên bà con dân bản ai cũng phấn chấn. Niềm vui vỡ oà trong ánh mắt…

Lần đầu tiên nhiều hộ gia đình nơi đây được nhận gần cả tấn… Cái đói bị đẩy lùi xa tít tắp.”

Cái đói (có lẽ) chỉ “bị đẩy lùi xa tít tắp” trên… mấy mặt báo Công an thôi. Còn trên trang mạng của blogger Cu Làng Cát, độc giả lại nhìn thấy qua những “ánh mắt” (vô cùng) buồn bã:

rừng 2

Ảnh chụp hôm 24 tháng 10 năm 2011

rừng 3

Ảnh chụp hôm 24 tháng 10 năm 2011

Nếu hai cha con người dân tộc Cor mà nhìn thấy những hình ảnh của đồng bào Rục (bây giờ) thì e rằng họ sẽ lo âu (lắm) về cuộc sống của chính mình – mai hậu.

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh !

Mà họ nào có cần nghĩ ngợi xa xôi hay lâu lắc gì đâu.Vừa mới được “giải cứu” xong hôm trước, qua hôm sau hai cha con người dân tộc Cor đã (lật đật) xin được… về lại núi rừng ngay – cho nó chắc ăn – theo như tường thuật của  ký giả Minh Tú, báo Đất Việt:

Cha anh Lang, ông Thanh luôn thốt lên giọng điệu thương nhớ núi rừng:“tra xú mờ gót”(muốn trở về rừng, thăm rẫy). Ở làng có người hỏi anh Lang:“xun manh lé” (thích ở đâu), Lang đáp không chần chừ:“manh gốc” (thích ở rừng).

Báo Dân trí, số thượng dẫn, cũng ghi nhận tương tự: “Lực lượng chức năng tổ chức canh giữ, đặc biệt với người con Hồ Văn Lang thường xuyên có biểu hiện chạy trốn về lại rừng.”

Cái “biểu hiện” này cũng “thường xuyên” tìm thấy trong cộng đồng người Rục. Ông Cao Pang, hiện vẫn đang cư trú trong một hang đá, mới nói với phóng viên của báo Gia Lai: (vào hôm 8 tháng 6 năm 2013) như sau: “Ở rừng thích hơn, tiện hơn, yên tĩnh hơn! Về bản ở vài bữa lại nhớ rừng không chịu được! Cái nhớ ấy khó nói lắm!”

Thằng chả ở hang mà sao cư xử và ăn nói tế nhị hết sức. Chớ không lẽ lại nói trắng phớ ra rằng cái cách tổ chức xã hội hiện nay, ở đất nước này – với chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân… tức là đủ thứ hội – khiến cho mấy cái cột đèn còn (nhấp nhổm) muốn đi thì có người nào mà muốn ở lại, bất kể là người rừng hay người Rục.

K’ Tien

Từ Tiên Lãng đến Thái Bình

Từ Tiên Lãng đến Thái Bình

Thanh Quang, phóng viên RFA
09-16 – 2013

RFA

000_APH2002010775969-305.jpg

Nông dân chuẩn bị đất cho vụ lúa mới trên một cánh đồng ở một tỉnh phía Bắc, ảnh minh họa.

AFP photo

Biến cố Mỹ Yên hiện giờ vẫn còn xôn xao công luận, khi – ngược dòng thời gian hơn một năm về trước – tiếng súng hoa cải cảnh báo chứ không cố sát của anh em Đòan Văn Vươn ở Tiên Lãng vẫn chưa nguôi trong lòng người dân oan nói riêng và dư luận nói chung, thì hôm thứ Tư ngày 11 tháng 9 vừa rồi, tiếng súng cố sát Thái Bình của dân oan Đặng Ngọc Viết thảm khốc hơn khi nhắm vào đầu 5 cán bộ tại Trung tâm Phát triển Quỹ đất TP Thái Bình khiến một người tử vong (tính cho tới thời điểm này), 3 người trọng thương, một người bị bắn trượt; và kẻ sát nhân – cũng là nạn nhân – sau đó tự sát. Như vậy là quê hương Thái Bình của Đặng Ngọc Viết – cũng là quê hương của những nông dân cần cù một sương hai nắng “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” – nói theo lời blogger Võ Văn Tạo – “lại chẳng ‘thái bình’ !”.

Thủ phạm là Luật đất đai

Qua bài “Giá nào để cứu chuộc ?”, blogger Dân Nguyễn nhận thấy tiếng súng Tiên Lãng phát từ “súng bắn chim săn thú” chỉ để “đánh động dư luận” trong khi súng Thái Bình “kê vào đầu quan chức mà nhả đạn ” ngay tại chốn công đường khiến người dân cắt nghĩa sự kiện này “rất ngắn gọn và chính xác” rằng “tức nước vỡ bờ”, “Con giun xéo lắm cũng quằn” hay “ nơi nào có áp bức thì nơi đó có đấu tranh”…cho dù phía chính quyền “tránh nói, tránh nghe tới” những cụm từ như vậy, mà chỉ có cái nhìn duy nhất như “ tội phạm cực kỳ nguy hiểm, cực kỳ manh động…” mà thôi. Tác giả Dân Nguyễn phân tích:

Dù thế nào thì hành động giết người cũng không thể được biện minh. Nhưng khi nghe một vụ xả súng của kẻ tâm thần, người ta hết sức xót xa thương tiếc những nạn nhân. Khi nghe tin một vụ đánh bom của bọn khủng bố, người ta cũng dành tình cảm xót thương cho những nạn nhân, và căm phẫn kẻ gây tội ác…Còn vụ nổ súng ở Thái Bình thì sao ? Xét đến cùng, kẻ gây tội vừa là thủ phạm, lại vừa là nạn nhân. Hệt Chí Phèo, muốn làm người lương thiện mà đâu có được! Đáng giận, nhưng cũng đáng thương! Thủ phạm đích thực chính là cái Luật đất đai “Sở hữu toàn dân” kia. Bởi vì bản chất của cái luật này, ai cũng thấy là “Sở hữu toàn quan”. Chừng nào cái luật “Sở hữu toàn dân” trí trá kia chưa bị “bắt”, thì nó vẫn còn là thủ phạm cực kỳ nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng cho toàn xã hội và cho toàn dân…

Nhắc đến “sở hữu tòan dân”, nhà báo Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Saigòn Giải phóng, cho đây là nguyên nhân của vấn đề:

“Chừng nào cái luật “Sở hữu toàn dân” trí trá kia chưa bị “bắt”, thì nó vẫn còn là thủ phạm cực kỳ nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng cho toàn xã hội và cho toàn dân…
– Tác giả Dân Nguyễn”

Luật lệ quy định đất đai là của toàn dân, chính là ở đó. Cái đó đã tạo điều kiện tước đoạt đất của dân cho nên dân người ta mới phản ứng như thế và phản ứng như thế là đúng. Muốn khắc phục phải thay đổi vấn đề “đất đai là của toàn dân” phải bỏ cái đó mới được.

Blogger Phạm Đình Trọng nhấn mạnh rằng:

Chỉ có trả lại quyền sở hữu đất đai thiêng liêng của người dân, cho người dân chứ không thể lấy cái quyền công hữu hóa đất đai là sở hữu toàn dân để cướp đất của người ta được. Chỉ tạo điều kiện cho bọn quan tham nó cướp đất của người dân và nó sẽ đẩy nhà nước này tới chỗ đối lập với toàn bộ dân tộc Việt Nam chứ không phải chỉ mấy người nông dân mà thôi đâu.

Bà Nguyễn Thị Thương, vợ dân oan Đoàn Văn Vươn đang bị tù tội oan khuất trong “biến cố Tiên Lãng” cũng lên tiếng:

Bất công, không công bằng với người dân, họ bị dồn đến bước đường cùng nên mới bộc phát đến như thế !

Theo blogger Osin Huy Đức thì “Cái gọi là ‘chênh lệch địa tô’ mà những người cộng sản đòi xóa bỏ đang trở lại và khiến họ trở nên mù lòa, đồng thời, đẩy người dân tới ‘bước đường cùng’. Quả bom Đoàn Văn Vươn đã không đủ để cảnh báo một hệ thống đã cạn kiệt khả năng thức tỉnh”.

Qua bài tựa đề “Những cái chết được báo trước”, blogger Thùy Linh cũng lưu ý rằng “Tiếng súng hoa cải của anh em Đoàn Văn Vươn hầu như không tưới tẩm một chút ân hận, một chút nghĩ lại, một chút thay đổi…của chính quyền. Kẻ xua quân đi cướp bóc dân thì ngồi ở vị trí điều tra và quan tòa. Và sau đó họ được tưởng thưởng bằng cái lon tướng với sự hả hê”. Theo nhà văn Thùy Linh thì  “Chưa khi nào mùi tử khí phả vào chúng ta với những đau đớn, nghẹn ngào lẫn phẫn uất, một cuộc sống được gọi là thời bình, được cho là ‘dân chủ gấp vạn lần’ tư bản; được coi là ‘đang bị các thế lực thù địch chống phá quyết liệt’; được rao giảng là một một nhà nước “vì dân, do dân, của dân”…Nhưng, nhà văn Thùy Linh báo động, “Nhiều năm rồi người ta không còn xa lạ với đoàn đoàn lũ lũ dân oan khiếu kiện đất đai trôi nổi, vật vờ khắp các thành phố nhỏ, to. Tiếng kêu của những kẻ bần cùng rơi vào một hố đen quyền lực, thăm thẳm những mưu mô, toan tính bằng một thái độ cương quyết, tàn bạo, lạnh lùng…Thậm chí những dân oan còn bị chính quyền xua đuổi, trấn áp, kể cả những ai muốn giúp đỡ họ. Phía trước là một tương lai không lối thoát. Phía sau là sự dồn đuổi, cướp bóc của bạo quyền. Họ đi về đâu ?”.

Blogger Lê Diễn Đức thì thấy “rõ ràng là có gì khuất tất” gây nên cảnh bất công ngoài sức chịu đựng của dân oan, dồn họ vào bước đường cùng thì mới “nảy sinh ra hành động trả thù khốc liệt như thế”. Qua bài “Tiếng gọi từ cái chết”, blogger Lê Diễn Đức cho biết:

Chúng ta đã từng chứng kiến sự bất công này khắp ba miền Trung Nam Bắc suốt hơn hai thập niên qua. Cảnh nông dân ăn nằm vật vã nơi vỉa hè, công viên để khiếu kiện đất đai trở thành bức tranh thường lệ. Bi kịch như nông dân Vụ Bản đeo khăn tang, nông dân Dương Nội bày biện âm binh để đòi đất và giữ đất. Biết bao bà mẹ Việt Nam cầm những tấm bằng “Tổ quốc ghi công” lê lết tìm đến các cơ quan công quyền với tờ đơn khiếu nại trong vô vọng và bất lực. Người ta đã phải khoả thân để chống đối như hai mẹ con bà Phạm Thị Lài ở Cần Thơ, phải tự thiêu như bà Đinh Thị Kim Liêng, phải nổ súng để bảo vệ thành quả mồ hôi nước mắt của mình như Đoàn Văn Vươn ở Tiên lãng, Hải Phòng…Tiếng súng Đòan Văn Vươn vì không chết nên anh phải chịu bản án 5 năm tù. Anh Viết không muốn thế. Anh chọn cái chết !

Những cái chết được báo trước

000_Hkg2312971-200.jpg

Một thanh niên đi ngang một dự án xây dựng tại Hà Nội hôm 24/4/2009, ảnh minh họa. AFP photo

Khi viết về “Những cái chết được báo trước”, nhà văn Thùy Linh cũng không quên nhắc tới “ thêm một trường hợp đau lòng” xảy ra ở Lâm Đồng, nơi dân oan Phạm Anh Nam tự tử vào tháng 10 năm 2011 mà mãi đến đầu năm 2013 này người ta mới biết cái chết oan khuất đó khi con gái ông, cô Phạm Thị Anh Kiều, mang di ảnh của cha ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng kêu oan cho thân phụ, với lá thư tuyệt mệnh mà dân oan đau khổ ấy để lại cho vợ con ông – nguyên văn – rằng “Anh rất thương em và các con. Nhưng vì hạnh phúc cho nhiều gia đình, anh phải đòi công lý”. Đó là chưa kể, nói theo lời blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh, cụ dân oan Hà Thị Nhung “gửi lại linh hồn mình nơi vườn hoa Lý Tự Trọng để đưa cái xác vô hồn về lại quê hương sau bao năm kiếm ăn lần hồi bằng nhặt rác để đi kiện, sau bao năm chạy tán loạn khi thấy công an hoặc côn đồ khủng bố ngày đêm”.

Nhà văn Thùy Linh nêu lên câu hỏi rằng thế còn trường hợp Đặng Ngọc Viết – vẫn liên quan đến chuyện đất đai, giải tỏa, đền bù – thì sao ? Nhà văn nhận thấy Đặng Ngọc Viết  không còn bất cứ hy vọng, sự cảm thông, đối thọai, công lý ở “những người khoát áo chính quyền” khi mọi ngôn từ không còn tác dụng, muốn đối thọai không ai lắng nghe, mọi ngả sống bị bít lối…Nhưng, blogger Thùy Linh nhấn mạnh, “ngôn từ tắt tiếng không có nghĩa là sự im lặng…”. Và “Cái chết được báo trước” của Đặng Ngọc Viết, theo nhà văn Thùy Linh, thể hiện qua “Cái cách Viết chuẩn bị ảnh thờ cho mình, nói lời tạm biệt với cha già bệnh tật trước lúc ra đi, quì trước tượng Bồ Tát Quan Thế Âm sám hối hay cầu xin vãng sanh chỉ ít giây tự bắn vào ngực mình…như một bi tráng ca thời đại”.

Qua bài “Chết ngay và chết từ từ”, nhà văn Nguyễn Quang Vinh nhấn mạnh rằng có một vấn đề còn lớn hơn cả vụ án mạng này, đó là giới cầm quyền không chỉ điều tra về phía người gây án, vì đây là điều tất nhiên, mà họ cần phải “điều tra nguyên nhân gây án, điều tra những người bị hại”. “Trưởng thôn Khoai Lang” Nguyễn Quang Vinh nhận xét:

“Không đi tới tận cùng nguyên nhân, chỉ xét về một phía đối tượng gây án đã chết mà đình chỉ vụ án thì lại dung dưỡng cho những ẩn họa đối kháng gây bất ổn xã hội.
– Nguyễn Quang Vinh”

Theo thông tin ban đầu công an Thái Bình nói với báo chí, nguyên nhân gây án có liên quan đến việc giá cả, phương thức, hành xử đền bù giải phóng mặt bằng giữa gia đình Viết và một số gia đình khác với chính quyền. Mâu thuẫn tới mức nào để sinh án mạng như thế, mà lại án mạng ngay tại cơ quan nhà nước. Bỏ qua nguyên nhân này, chỉ căn cứ vào đối tượng đã chết để đình chỉ điều tra là vội vàng. Phải khởi tố vụ án mới có đủ thực quyền và sức mạnh để truy đến cùng nguyên nhân. Nếu có chuyện chính quyền ép dân, chính quyền không tuân thủ quy định pháp luật trong đền bù đất hoặc tiêu cực thì phải xử lý nghiêm những người đại diện chính quyền làm việc này. Không đi tới tận cùng nguyên nhân, chỉ xét về một phía đối tượng gây án đã chết mà đình chỉ vụ án thì lại dung dưỡng cho những ẩn họa đối kháng gây bất ổn xã hội.

Sau cùng, nhà văn Thùy Linh “Cầu cho những hương hồn mệt mỏi nơi trần thế như ông Nguyễn Anh Nam, Đặng Ngọc Viết được siêu sanh. Vì họ đã trả nợ bởi chính cái chết của mình…Bởi những kẻ đáng bị xử án trước những cái chết như thế này vẫn sống nhởn nhơ và ‘giương cao ngọn cờ bách chiến bách thắng’ – một ‘chiến thắng’ trước cái chết của người dân mà họ làm ‘đại diện’…”.

Nhà báo Lê Diễn Đức thì “xin thắp nén nhang cho con người bất hạnh Đặng Ngọc Viết”, blogger Dân Nguyễn “Xin cắm một nén nhang lên mộ Viết, một người vốn dĩ hiền lành trên quê lúa Thái Bình”. Còn cư dân mạng Trương Ba Không bày tỏ nỗi buồn rằng:

Mình đã khóc khi đọc 6 bài báo về một chủ đề. Khóc âm thầm cho những nỗi đau riêng của những kiếp người kém may mắn… nhưng khi chợt biết anh Đặng Ngọc Viết đã tự sát sau khi xả súng vào một nhóm quan chức địa phương Thái Bình, thì mình đã khóc oà thành tiếng cho nỗi đau của cả một xã hội loạn.

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU ?

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU ?

PHÙNG VĂN HÓA, 9.2013

Trích EPHATA 579

Trong Đức Tin truyền thống thì Thiên Đàng hay Hỏa Ngục vẫn được nhìn nhận như là một nơi chốn trong không gian: Thiên Đàng ở… tít trên trời, còn Hỏa Ngục thì ở sâu dưới lòng đất. Thế nhưng cách hiểu như thế, Thần Học ngày nay đã thẳng thừng bác bỏ: “Nếu bạn đã từng nghĩ như tôi hoặc vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn thì sai rồi. Bạn cứ mở cuốn Toát yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI soạn thảo ra mà xem thì sẽ thấy quan niệm về nơi chốn của Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là nơi chốn là sai bét tè le” ( Nguồn Tinmung.net Lm Ansgar Phạm Tĩnh – Tháng các linh hồn – Tìm hiểu ).

Những ai cho rằng Thiên Đàng có một nơi chốn là… sai, vậy Thiên Đàng có thể là gì ? “Thiên Đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào sẽ được quy tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các Thánh được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” ( 1Cr 13, 12 )… sống trong sự hiệp thông tình yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta” ( Toát yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 209. Nguồn Tinmung.net, Lm. Ansgar Phạm Tĩnh, đã dẫn ).

“Nơi chốn” ( places ) khác với tình trạng ở chỗ, một đàng có vị trí cương vực rõ ràng, còn một đàng thì không. Khi nói Thiên Đàng không phải nơi chốn mà chỉ là một thứ tình trạng, điều ấy phải chăng là mâu thuẫn khi nói: Tất cả những ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào sẽ được quy tụ quanh Chúa Giêsu Đức Maria, các thiên thần và các Thánh… Vậy thử hỏi làm sao có thể… quy tụ nếu không có một nơi chốn nào đó để quy về, tụ về ?

Cái nơi chốn để tất cả những ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa sẽ được quy tụ đó chính là Nước Thiên Đàng mà Đức Kitô đòi hỏi cần phải tin: “Lòng các ngươi chớ bối rối, đã tin Đức Chúa Trời thì cũng hãy tin Ta nữa. Trong Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở. Bằng chẳng vậy, Ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi để sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đi mà sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, thì Ta sẽ trở lại tiếp các ngươi về với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng sẽ ở đó” ( Ga 14, 1 – 3 ).

Chúa Kitô Phục Sinh đã về Trời ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang. Chúng ta xác tín điều ấy đồng thời cũng tin nếu mình sống trong ân sủng thì rồi cũng sẽ được về ở nơi cõi hằng sống ấy. Tin vào sự hiện hữu của Nước Thiên Đàng đời đời cũng chính là tin vào lời hứa của Đức Kitô. Đây phải là Đức Tin chân chính ( chánh tín ) của người có Đạo, nếu không tất cả sẽ trở nên mờ mịt để rồi không khỏi đưa đến bế tắc khủng hoảng.

Dẫu vậy, để tin vào lời hứa của Chúa là điều rất khó. Chính Thánh Tôma khi nghe Chúa nói: “Nơi Ta đi các ngươi đã biết cũng biết đường rồi” ( Ga 14, 4 ) thì ngài chưa hiểu, bởi vậy nên mới hỏi tiếp: “Thưa Chúa chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu làm sao biết đường ? ( Ga 14, 5 ). Không biết Chúa đi đâu thì làm sao biết được chốn về của Chúa ? Nghe vậy Chúa Giêsu đã đưa ra lời khẳng định: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).

Chúa Giêsu tự nhận mình là Đường, điều ấy có nghĩa một khi đã là Đường thì phải dẫn đến một nơi chốn nào đó, chứ đâu cứ mãi mãi chỉ là con đường ? Sự thực thì với chủ trương Qui Kitô ( Christocentrisme ) tức lấy Kitô làm cứu cánh, Thần Học đã khiến con đường dẫn đến Chúa Cha trở nên hoàn toàn bế tắc. Sự bế tắc ấy chính là ở chỗ đã phủ nhận Tin Mừng Nước Trời Mầu Nhiệm của Đức Kitô thành ra một thứ Nước Trời tục hóa: “Vậy Nước Thiên Chúa mà Đức Kitô rao giảng không phải là một thực thể ở trên Trời nhưng là một tình trạng tương lai ở thế gian khi người nghèo không còn nghèo, người áp bức không còn bị áp bức. Nó được biểu thị bằng một ngôi nhà hay một đô thị có tường thành bao quanh” ( Lm. Micae Trần Đình Quảng – Đức Kitô trước khi có Kitô giáo – Một nỗ lực hiện đại trở về với Đức Giêsu lịch sử ).

Nói Nước Thiên Chúa mà Đức Kitô rao giảng không phải là thực thể… ở trên Trời, điều ấy là chính xác. Tuy nhiên với việc không cho Nước Thiên Chúa là thực thể ở trên Trời để rồi cho đó là tình trạng tương lai ở thế gian khi người nghèo không còn nghèo, người bị áp bức không còn bị áp bức, thì đó thuần túy chỉ là ảo tưởng. Ảo tưởng Thiên Đàng trần gian đã thể hiện qua nhiều chủ thuyết khác nhau. Saint Simon ( 1760 – 1825 ) đề ra nhiệm vụ của tôn giáo là hướng dẫn xã hội tiến tới mục đích trọng đại là cải thiện một cách càng nhanh càng tốt số phận của giai cấp nghèo khổ nhất” ( Karl Heinz Weger, SJ, Phê Bình Các Tôn Giáo ). F. Nietzsche ( 1844 – 1900 ) thì muốn xây dựng hình ảnh một con người siêu nhân. Trong số những ảo tưởng đó thì ảo tưởng về một thế giới đại đồng do Karl Marx khởi xướng thông qua đấu tranh giai cấp là tệ hại nhất, và thực tế nó đã sụp đổ tan tành như ai nấy đều biết.

Ảo tưởng nào mà chẳng sụp đổ, bởi bản chất của nó là vậy chẳng thể khác. Mục đích xuống thế của Đức Kitô là để rao giảng Tin Mừng Nước Trời: “Vào rạng ngày, Ngài ra đi đến nơi vắng vẻ. Có quần chúng kéo đi tìm Ngài, theo kịp và muốn giữ lại không cho Ngài đi khỏi họ. Ngài nói cùng họ rằng: Ta cần phải rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành thị khác. Vì cốt tại việc đó mà Ta được sai đến” ( Lc 4, 42 – 43 ).

Đức Kitô xác định mục đích xuống thế là để rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Thế nhưng Nước Trời ấy là một thực tại mầu nhiệm không ai có thể lãnh hội nếu không bước vào con đường thực hành bỏ mình: “Ai muốn theo Ta thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo. Vì hễ ai muốn cứu mạng sống mình thì phải mất. còn hễ ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ nhận lại được. Vì lợi lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì ?” ( Lc 9, 23 – 25 ).

Lời Chúa là Lời Hằng Sống và Lời Hằng Sống ấy chỉ có thể tác động nơi những kẻ nào thực hành nó. Thực hành phần nào sẽ có được lợi ích phần đó. Điều này cũng giống như việc ăn, có ăn mới no, còn không ăn thì chẳng thể no. Chỉ khi nào bước vào con đường bỏ mình thì chân lý mới được thể hiện và khi ấy sẽ chẳng quan ngại chi với việc Thiên Đàng ở đâu hoặc ở trong hay ở ngoài mình bởi lẽ tất cả đều được quyết định ở nơi tâm.

Đối với đại đa số người Công Giáo chúng ta thì Thiên Đàng luôn được đồng hóa với Nước Trời ( Nước Thiên Chúa, Nước Đức Chúa Trời… ). Niềm tin đơn sơ ấy quả thật đã nâng đỡ đời sống Đức Tin của bao thế hệ. Tuy nhiên xét về mặt Thần Học thì không thể chấp nhận. Lý do bởi vì nếu cho Thiên Đàng là nước ở trên Trời tức trong cõi không gian vật chất này thì Thiên Chúa cũng phải ở trong cõi không gian đó. “Đại chúng cho rằng có thể suy diễn vấn đề trên qua nguyên tắc: Thiên Đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Vậy nếu biết Thiên Chúa ở đâu ta sẽ biết Thiên Đàng ở đó.

Người ta cũng đã tưởng rằng chỉ có ba câu trả lời cho vấn đề ấy. Thứ nhất thuở xưa người ta tin Thiên Chúa tạo ra vũ trụ nhưng Thiên Chúa là Đấng siêu việt vượt trên vật chất nên không đồng hóa với vũ trụ. Thiên Chúa ( phải ) ở ngoài vũ trụ. Đến thế kỷ 18, con người khám phá ra vũ trụ vô cùng lớn, lớn đến mức dù ta có di chuyển với tốc độ ánh sáng qua hàng ngàn năm cũng chưa tới biên giới của nó. Con người không chấp nhận nổi có chỗ nào gọi là bên trên hay bên ngoài vũ trụ. Vả lại nếu Thiên Chúa ở bên ngoài vũ trụ, vậy vũ trụ càng lớn Chúa lại càng ở rất xa con người. Làm sao con người có thể gần Thiên Chúa để cầu nguyện ? ( Nguồn: Lamhong.org, 16.7.2013, Đỗ Trân Duy – Thiên Đàng ở đâu ? ).

Thiên Chúa không thể ở trên, siêu việt khỏi vũ trụ, mà cũng không thể ở ngoài vũ trụ, bởi vũ trụ thì vô biên. Sở dĩ Thần Học có những lập luận đại loại như thế là vì trước sau với họ, Thiên Chúa vẫn chỉ là một thứ khái niệm chết khô. Đang khi đó Đức Kitô là Đấng đến để mạc khải về một thực tại ẩn giấu. Thực tại ẩn giấu ấy có khi được gọi là Đấng Cha, có khi là Nước Trời. Dù dưới bất kỳ danh xưng nào thì thực tại ấy vẫn là Thực Tại Tâm mà con người cần phải hết lòng tìm mới gặp: “Trước hết hãy lo tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài” ( Mt 6, 33 ).

Chúa bảo phải tìm kiếm, nhưng nếu Nước Trời là nước ở tít trên chốn cao xanh thăm thẳm kia thì biết đường nào mà tìm mà kiếm ? Tìm kiếm ở đây không phải là tìm cái chi đó ở đâu xa khác nhưng là tìm cái Đạo vốn sẵn có ở nơi mình: “Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và ở trong lòng ngươi, tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi thừa nhận Chúa Giêsu là Cứu Chúa và lòng ngươi tin Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu” ( Rm 10, 8 – 9 ).

Đạo Chúa là Đạo Đức Tin, thế nhưng Đức Tin ấy cần phải gắn liền với việc tìm kiếm, nếu không nó sẽ sớm lụi tàn để trở thành một thứ đạo hình thức. “Bề ngoài xem ra có vẻ đạo đức thánh thiện nhưng thực ra đã chối bỏ quyền năng của sự ấy” ( 2Tm 3, 5 ). Đức Tin có một quyền năng rất lớn bởi nó là một trong ba Nhân Đức ( Tin Cậy Mến ) quyết định phần phúc cho ta ở đời sau vô cùng. Tin có Nước Thiên Đàng. Cậy vào lượng nhân từ vô lượng vô biên của Chúa. Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân như chính mình thì ắt sẽ gặp được Ngài: “Nếu ai thương yêu Ta thì vâng giữ Đạo Ta, Cha Ta sẽ thương yêu người. Chúng ta đều đến cùng người và lập cư với người” ( Ga 14, 23 ).

Chúa nói “chúng ta đều đến lập cư”, có nghĩa cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều đến và ở trong ta. Chúa ở đâu thì đấy là Thiên Đàng, vậy hà cớ chi phải hỏi: Thiên Đàng ở đâu ?

PHÙNG VĂN HÓA, 9.2013

Viện Dưỡng Lão

Viện Dưỡng Lão

BS. Trần Công Bảo

Cổ nhân có câu: “sinh, bệnh, lão, tử“. Bốn giai đoạn này không ai có thể tránh khỏi. Chuẩn bị ứng phó với bệnh tật và tuổi già của mình và của thân nhân mình là điều ai cũng có dịp nghĩ tới, kể cả chính kẻ viết bài này là tôi cũng đang sắp sửa bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi”. Anh bạn thân của tôi, Bs. TNT từ lâu có đề nghị tôi viết một bài về “Viện Dưỡng Lão” để giúp bà con mình có thêm một chút khái niệm về “Viện Dưỡng Lão” vì anh biết trong suốt 27 năm qua tôi đã liên tục săn sóc cho các cụ già tại các viện dưỡng lão, và cũng đã là “Giám Đốc Y Tế” (Medical Director) của nhiều “Viện Dưỡng Lão” trong vùng. Nay tôi muốn chia sẻ cùng qúy bạn một số kinh nghiệm và hiểu biết về “Viện Dưỡng Lão”. Trong Việt ngữ chúng ta thường dùng từ Viện Dưỡng Lão, nhưng trong Anh ngữ thì có nhiều từ khác nhau như Nursing home, Convalescent home, Rehabilitation and Nursing center, Skilled nursing facility (SNF), Rest home… Nói chung, “Viện Dưỡng Lão” là một nơi cho những người bị yếu kém về thể xác không thể tự săn sóc cho mình được trong cuộc sống hàng ngày. Thí dụ như không thể nấu nướng, giặt giũ, đi chợ… nặng hơn nữa như không đủ sức để làm những việc tối cần thiết cho cuộc sống như ăn uống, đi tiêu, đi tiểu… hoặc cần phải có thuốc men đúng lúc mà không thể tự làm được. Khi nói tới “Viện Dưỡng Lão” người ta thường chỉ nghĩ tới những người già mà thôi. Thật ra có nhiều người “trẻ” nhưng vì tật bệnh không thể tự lo cho mình được cần phải có sự giúp đỡ của SNF (skilled nursing facility). Vậy thế nào là “Viện Dưỡng Lão”? “Viện Dưỡng Lão” là nơi cung cấp những dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cho những người không đủ khả năng lo cho chính mình. Tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh tật mà có những

“Viện Dưỡng Lão” khác nhau:

1- Skilled Nursing Facility (SKF): là nơi cung cấp những dịch vụ cho những người bị khuyết tật nặng như tai biến mạch máu não gây nên bán thân bất toại, hôn mê lâu dài, hoàn toàn không còn khả năng ngay cả trong việc ăn, nuốt, tiêu, tiểu… Thường thường tại Skilled Nursing Facility có hai phần: phục hồi (rehabilitation) và săn sóc sức khỏe (nursing care). Có những người sau khi được giải phẫu thay xương khớp háng (hip replacement), thay đầu gối (knee replacement), hay mổ tim (bypass, thay valve tim)… cần thời gian tập dượt để phục hồi (rehabilitation). Sau đó họ có thể về nhà sinh hoạt bình thường cùng gia đình.

2- Intermediate care facility (ICF): cung cấp dịch vụ cho những người bệnh như tật nguyền, già cả nhưng không cần săn sóc cao (intensive care). Thường thường những người này không có thân nhân để lo cho mình nên phải vào đây ở cho đến ngày cuối cùng (custody care).

3- Assisted living facility (ALF): Thường thường những người vào Assisted living facility vẫn còn khả năng tự lo những nhu cầu căn bản như tắm rửa, thay quần áo, đi tiêu, đi tiểu một mình được. Họ chỉ cần giúp đỡ trong việc bếp núc, theo dõi thuốc men và chuyên chở đi thăm bác sĩ, nhà thờ, chùa chiền hay mua sắm lặt vặt. Họ vẫn còn phần nào “độc lập”.

4- “Viện Dưỡng Lão” cho những người quá lú lẫn (Alzheimer facility): có những bệnh nhân bị lú lẫn nặng, đến nỗi không nhận ra người thân như vợ, chồng, con cháu nữa. Không biết tự đi vào buồng tắm, phòng vệ sinh để làm những công việc tối thiểu. Họ không biết họ ở đâu, dễ đi lang thang và lạc đường. Nếu ở nhà thì phải có người lo cho 24/24. Những “Viện Dưỡng Lão” dành riêng cho những bệnh nhân này, thường là “locked facilty”, cửa ra vào được khóa lại để bệnh nhân không thể đi lạc ra ngoài. Cách đây khá lâu đã có trường hợp một bệnh nhân đi ra khỏi viện, lạc đường, bị xe lửa cán chết! Từ đó có locked facilty. Đôi khi cũng có những viện bệnh nhân được gắn alarm vào cổ chân. Nếu bệnh nhân đi qua cửa thì alarm sẽ báo động và nhân viên sẽ kịp thời mang về lại.

NHỮNG DỊCH VỤ ĐƯỢC CUNG CẤP TẠI “VIỆN DƯỠNG LÃO”:

Điều này tùy theo từng viện. Tuy nhiên những dịch vụ sau đây là cần thiết:

1- Phòng ngủ.

2- Ăn uống

3- Theo dõi thuốc men

4- Những điều tối thiểu hàng ngày như tắm rửa, thay quần áo, vệ sinh cá nhân…

5- 24/24 lo cho những trường hợp bệnh khẩn cấp.

6- Sinh hoạt hàng ngày như giải trí, tôn giáo…

7- Vật lý trị liệu. Dịch vụ này rất quan trọng để giúp người bệnh có thể phục hồi càng nhiều càng tốt. Trong vật lý trị liệu có nhiều dịch vụ khác nhau:

a. Tập dượt (physical therapy): như tập đi, tập lên xuống cầu thang, tập tự vào giường ngủ hay ra khỏi giường một cách an toàn, không vấp ngã…

b. Speech therapy: tập nói, tập nuốt khi ăn uống… Có những bệnh nhân bị stroke, không thể nói hay ăn được, cần được tập để phục hồi chức năng này.

c. Occupational therapy: Tập mang giầy, bí tất (vớ)… Tập sử dụng bếp gaz, bếp điện cho an toàn để tránh bị tai nạn.

AI TRẢ TIỀN CHO VDL?


Có nhiều nguồn tài trợ khác nhau:

1- Medicare

2- Medicaid (ở California là Medi-Cal).

3- Bảo hiểm tư, có nhiều người mua sẵn bảo hiểm cho “Viện Dưỡng Lão”.

4- Tiền để dành của người bệnh (personal funds). MEDICARE là do qũy liên bang, chỉ trả tối đa 100 ngày cho những bệnh nhân cần tập dượt để phục hồi khả năng tại một Skilled Nursing Facility (SNF). Thường những bệnh nhân bị stroke, gãy xương… cần dịch vụ này. Medicare KHÔNG TRẢ cho custody care. MEDICAID là do qũy liên bang và tiểu bang. Qũy này trả nhiều hay ít là tùy từng tiểu bang. Medicaid trả cho dịch vụ y tế và custody care.

BẢO HIỂM TƯ: thì tùy theo từng trường hợp sẽ có những quyền lợi khác nhau, nhưng thường rất hạn chế. Hiện nay người ta ước lượng trên nước Mỹ có khoảng 1.4 triệu người sống trong 15,800 “Viện Dưỡng Lão”. Các “Viện Dưỡng Lão” này đặt dưới sự kiểm soát của bộ y tế, đặc biệt là do Centers for Medicare & Medicaid Services (CMS) giám sát. Hàng năm các “Viện Dưỡng Lão” đều phải trải qua một cuộc kiểm soát rất gắt gao (survey) của CMS. “Viện Dưỡng Lão” nào không đúng tiêu chuẩn thì có thể bị đóng cửa! Mục đích thanh tra của CMS là để bảo đảm cho các bệnh nhân tại “Viện Dưỡng Lão” được săn sóc an toàn, đầy đủ với phẩm chất cao. Đồng thời tránh những trường hợp bị bỏ bê (negligence) hay bạo hành (abuse) về thể xác lẫn tinh thần. Tại mỗi “Viện Dưỡng Lão” đều có lưu trữ hồ sơ kiểm soát cho công chúng xem. Bất cứ ai cũng có thể xem kết quả của các cuộc thanh sát này. Tất cả các “Viện Dưỡng Lão” đều phải có các biện pháp để bảo đảm sự săn sóc cho bệnh nhân theo đúng tiêu chuẩn. Nếu không sẽ bị phạt tiền, và có những trường hợp bị đóng cửa. Trên đây tôi đã trình bày sơ qua về những điểm chính của “Viện Dưỡng Lão”. Tuy nhiên, như quý bạn đã từng nghe và biết, có nhiều khác biệt giữa những “Viện Dưỡng Lão”. Theo tôi nhận xét thì quan niệm chung của mọi người là “không muốn vào “Viện Dưỡng Lão””. Chúng ta từng nghe những chuyện không tốt thì nhiều, mà những chuyện tốt thì ít. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, là câu ngạn ngữ người mình vẫn nói từ xa xưa đến nay. Tôi đã đọc không biết bao nhiêu là bài viết về việc con cái “bất hiếu”, bỏ bố mẹ, ông bà vào “Viện Dưỡng Lão” rồi không đoái hoài tới. Tôi cũng thấy nhiều trường hợp các cụ vào “Viện Dưỡng Lão” một thời gian rồi không muốn về nhà với con cháu nữa! Trên đời này không có gì là tuyệt đối cả, trong cái hay có cái dở, và trong cái dở lại có thể tìm ra cái hay. Vậy chúng ta rút tỉa được kinh nghiệm gì trong vấn đề này? Tôi chỉ xin nêu lên những nhận xét chủ quan của riêng tôi mà thôi. Có thể quý vị không đồng ý hết, nhưng nếu rút tỉa được ít nhiều ý kiến xây dựng thì “cũng tốt thôi”.

NHỮNG “BỆNH” CÓ THỂ DO “VIỆN DƯỠNG LÃO” GÂY RA:


1- Lo lắng (anxiety): Trong tháng 9/2011 những nhà nghiên cứu hỏi ý kiến của 378 bệnh nhân trên 60 tuổi nằm “Viện Dưỡng Lão” tại thành phố Rochester, New York. Kết qủa là có trên 27.3% trả lời là họ bị bệnh lo lắng, từ vừa đến nặng. Nếu không được chữa trị sẽ đưa đến bệnh trầm cảm (depression). Nên nhớ là 378 bệnh nhân này là người Mỹ chính cống, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Chúng ta hãy tưởng tượng người Việt mình không biết rành tiếng Anh, không hợp phong tục, tập quán thì sự khó khăn sẽ nhiều như thế nào! Còn một vấn đề nữa là thức ăn, chúng ta quen “nước mắm, thịt kho”…, làm sao mà có thể nuốt hamburger, sandwich… ngày này qua ngày khác! Các vấn đề này càng làm bệnh lo lắng, trầm cảm nặng thêm!

2- Phản ứng của thuốc (adverse drug reactions): Trong tháng 1/2012 ngưòi ta theo dõi các bệnh nhân tại VDL, kết qủa là ít nhất 40% các bệnh nhân dùng trên 9 loại thuốc khác nhau. Uống càng nhiều thuốc thì phản ứng càng nhiều. Có ba loại phản ứng khác nhau:

a. Phản ứng phụ (side effects): thí dụ như uống aspirin làm bao tử khó chịu, thuốc cao máu làm táo bón… Loại này thường xảy ra, không cần phải ngưng thuốc.

b. Drug interference: (tạm dịch là thuốc đối tác với nhau): có nhiều loại thuốc uống chung với nhau sẽ làm tăng hoặc giảm sức tác dụng. Thí dụ thuốc loãng máu coumadin mà uống chung với thuốc tim như amiodarone sẽ làm dễ chảy máu. Có những thức ăn hay nước uống dùng chung với thuốc cũng ảnh hưởng đến thuốc. Thí dụ uống nước bưởi hay nho với một vài loại thuốc cũng sẽ tăng sức tác dụng của thuốc, dễ gây ngộ độc.

c. Dị ứng với thuốc (allergic reaction): Loại này nguy hiểm hơn, thường làm da nổi mề đay, đỏ, ngứa. Nếu nặng thì có thể chết được như phản ứng với penicillin chẳng hạn. Nếu bị dị ứng thì phải ngưng thuốc ngay.

3- Ngã té (fall): Người già rất dễ bị té ngã gây nên nhiều biến chứng quan trọng như chảy máu trong đầu (intracranial bleeding), gãy xương (như gãy cổ xương đùi, tay…). Khi già quá hoặc có những bệnh ảnh hưởng đến sự di chuyển, không còn đi lại vững vàng, nhanh nhẹn như lúc trẻ nên dễ vấp, té ngã.

4Da bị lở loét (decubitus ulcers): Những người bị liệt giường, không đủ sức để tự mình xoay trở trên giường, rất dễ bị lở loét da gây nên nhiều biến chứng tai hại.

5- Nhiễm trùng (infection): như sưng phổi, nhiễm trùng đường tiểu… nhất là những người cần phải dùng máy móc như máy thở (respirator), ống thông tiểu (Folley catheter)…

6- Thiếu dinh dưỡng, thiếu nước (malnutrition, dehydration): Ở các cụ già thì trung tâm khát (thirst center) trong não không còn nhạy cảm nữa, nên nhiều khi cơ thể cần nước mà không thấy khát không uống nên bị thiếu nước. Cái cảm giác “ngon miệng (appetite) cũng giảm đi nên không muốn ăn nhiều gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng.

VẬY CÓ NÊN VÀO VDL KHÔNG?

Việc này thì tùy trường hợp. Theo tôi:

1- Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn. Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time) đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…

2- Nếu không thể ở nhà được, mà tài chánh cho phép thì có thể ở những assisted living facilities. Ở đây thường họ chỉ nhận tiền (personal funds) chứ không nhận medicare & medicaid. Tại đây thì sự săn sóc sẽ tốt hơn.

3- Group homes (nhà tư): Có những người nhận săn sóc cho chừng 4-6 người mỗi nhà. Họ cũng lo việc ăn uống, chỗ ở, thuốc men, chở đi bác sĩ…Thường thì rẻ hơn tùy từng group.

4- Nếu “chẳng đặng đừng” phải vào “Viện Dưỡng Lão” thì phải làm sao để có được sự săn sóc “tốt nhất”? a. Làm sao để lựa chọn “Viện Dưỡng Lão”: * Vào internet để xem ranking của “Viện Dưỡng Lão” (tương tự như các tiệm ăn có xếp loại A, B, C…) * Mỗi “Viện Dưỡng Lão” đều phải có cuốn sổ phúc trình về các cuộc thanh tra (survey) do bộ y tế làm hàng năm. Trong đó bộ y tế sẽ nêu lên những khuyết điểm mà họ đã tìm thấy. Cuốn sổ này được để ở khu công cộng (public area) trong khuôn viên của “Viện Dưỡng Lão”. Hỏi receptionist thì họ sẽ chỉ cho.

* Hỏi ý kiến thân nhân những người có thân nhân đang nằm tại đó.

* Quan sát bên trong và ngoài của “Viện Dưỡng Lão”: xem có sạch sẽ, không mùi hôi, nước tiểu. Theo dõi cách đối xử, săn sóc của nhân viên với bệnh nhân.

* Nếu có thể thì tìm một “Viện Dưỡng Lão” có nhiều người Việt đang ở để có nhân viên nói tiếng Việt, có thức ăn Việt, có chương trình giải trí theo kiểu Việt. b. Nếu đã quyết định chọn “Viện Dưỡng Lão” cho người thân rồi thì phải làm gì sau đó?

* Chuẩn bị tư tưởng không những cho bệnh nhân mà còn cho cả chính mình và mọi người trong gia đình để có được sự chấp nhận (acceptance) càng nhiều càng tốt.

* Thăm viếng thường xuyên: Nếu nhà đông con cháu thì không nên đến thật đông một lần rồi sau đó nhiều ngày không có ai đến. Nếu được, nhất là trong vài tháng đầu, luân phiên nhau tới, mỗi ngày một lần một vài người. Làm lịch trình ai đi thăm ngày nào, giờ nào…

* Nên làm một cuốn sổ “thông tin” (communication book) để cạnh giường. Trong cuốn sổ này mỗi khi ai đến thăm thì viết ngày giờ, tên người đến thăm, và nhận xét xem bệnh nhân có vấn đề gì cần lưu ý, giải quyết. Nếu không có vấn đề gì thì cũng nên viết vào là không có hoặc cho nhận xét về vui, buồn, than thở của bệnh nhân…

* Cuối tuần hay ngày lễ: nên có người vào hoặc mang bệnh nhân về nhà nửa buổi để được sống với không khí gia đình dù ngắn ngủi, hay đưa ra khỏi “Viện Dưỡng Lão” để làm đầu, tóc hoặc tới tiệm ăn cho khuây khỏa…

* Nên sắp xếp để bệnh nhân có sách báo, băng nhạc bằng tiếng Việt cho bệnh nhân giải trí.

* Cho dù có những bệnh nhân bị hôn mê bất tỉnh lâu dài, nhưng khi đến thăm hãy cứ thì thầm bên tai họ những lời yêu thương, những kỷ niệm cũ. Nắm tay, xoa đầu để tỏ tình thương yêu. Tuy họ không có thể cảm thấy được 100% nhưng chắc chắn họ vẫn còn một chút nhận thức, làm họ hạnh phúc hơn, mặc dù mình không nhận thấy. Để bên đầu giường những băng nhạc, câu kinh mà khi còn khỏe họ đã thích nghe.

* Một điều chót mà theo kinh nghiệm của tôi, rất có hiệu qủa: đối xử tốt nhưng nghiêm túc với nhân viên của “Viện Dưỡng Lão”: – Đối xử tốt: lịch sự, nhẹ nhàng, không thiếu những lời cám ơn cho những nhân viên phục vụ tốt. Thỉnh thoảng mua một vài món quà nhỏ cho họ (tôi xin nhấn mạnh “nhỏ thôi”– đừng nên coi đây là hối lộ) như đồ ăn, thức uống… để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Mình tốt với họ thì họ sẽ quan tâm đến mình nhiều hơn. Người mình vẫn nói: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”). Tuy nhiên đối xử tốt không có nghĩa là mình chấp nhận những sai trái của họ. Thí dụ mình đã báo cáo những thay đổi về sức khỏe của bệnh nhân cho họ mà không ai quan tâm giải quyết thì mình phải lịch sự nêu ra liền. Nếu cần thì gặp ngay những người có trách nhiệm như charge nurse, nursing director và ngay cả giám đốc của “Viện Dưỡng Lão” để được giải quyết. Nên nhớ là phải lịch sự, nhã nhặn nhưng cương quyết thì họ sẽ nể phục mình. Tôi đã thấy nhiều trường hợp đạt yêu cầu một cách rất khả quan. Trên đây là những kinh nghiệm của tôi xin chia sẻ với quý bạn. Dĩ nhiên là không hoàn toàn đầy đủ tất cả những gì quý bạn mong muốn, nhưng hy vọng cũng đáp ứng được phần nào những ưu tư, lo lắng cho người thân của quý bạn.

Bác sĩ Trần Công Bảo

THIÊN CHÚA LÀ CHA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

THIÊN CHÚA LÀ CHA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Ai trong chúng ta hơn một lần rơi vào cảnh mất mát, thất lạc. Mất mát, thất lạc và khi tìm thấy sẽ thật là vui.

Giản đơn như khi ta đi đâu đó mà hành lý của ta bị thất lạc, ta sẽ cảm thấy khó chịu vô cùng vì những gì cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt thường ngày của ta. Nếu như tìm được thì phải nói còn gì bằng vì không phải sống trong cảnh khó chịu nhất là khi đi xa, khi cần đến những thứ cần dùng.

Mất, tìm thấy, quả là niềm vui lớn.

Chúa Giêsu, tất tâm lý khi dùng hình ảnh, bài học nào đó để dạy cho những người đi theo Chúa hay những người cần phải dạy – đặc biệt là những người Pharisêu hay Biệt phái mỗi khi có dịp. Chúa dùng dụ ngôn, Chúa dùng những câu chuyện, những hình ảnh đôi khi xem ra chẳng dính gì đến bài học hay thậm chí ngược với bài học Chúa cần dạy. Để khi ngộ ra rồi thì người nghe càng thấm và càng nhớ.

Hôm nay, Chúa lấy hình ảnh hết sức gần với đời sống du mục của người Do Thái vì nghề chính của người Do Thái là nghề chăn chiên : “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”. Lẽ dĩ nhiên là sau khi tìm được con chiên bị mất đó thì người bi mất vui và niềm vui đó được chia sẻ với bạn bè, với đồng nghiệp, với họ hàng, với hàng xóm.

Hình ảnh con chiên, con vật được đẩy xa hơn một chút đó là đồng tiền. Đồng tiền nó chính là gia sản của con người và họ tìm đủ mọi cách khư khư để giữ không để cho nó rơi rớt hay bị mất. Chúa Giêsu dùng ngay hình ảnh của người phụ nữ (nói đến phụ nữ là người chân yếu tay mềm, yếu thân yếu thế) bị mất tiền. Tiền nó quý đến độ phải thắp đèn soi cũng như quét nhà thật kỹ để tìm cho kỳ được đồng tiền bị mất. Tìm được, dĩ nhiên người phụ nữ ấy phấn khởi và mời bạn bè hàng xóm lại để chia vui.

Đỉnh điểm trong cái mất hôm nay không phải là mấy con vật, mất đồng tiền mà là mất người. Chúa Giêsu lại đưa ra câu chuyện hết sức hấp dẫn và lý thú. Những người có mặt hôm đó chăm chú nghe vì câu chuyện quá hay.

Câu chuyện về người con hoang đàng quá quen thuộc với chúng ta nhưng rất lạ với những người nghe hôm ấy. Giản đơn là có hai đứa con, đứa thì hư hỏng bỏ nhà ra đi. Sau khi ra đi mới chợt nhận ra lầm lỗi của mình và hối lỗi quay về. Người cha vui vẻ đón nhận con mình vào lại nhà. Niềm vui không thể nào diễn tả được để rồi người cha thết tiệt ăn mừng.

Tâm tình, câu chuyện mà Chúa Giêsu muốn chuyển tải đến đó chính là ơn cứu độ mà Thiên Chúa dành cho con người. Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người (1Tim 2,4), không phải chỉ cách tổng quát và tập thể, nhưng còn là một cách cá biệt. Ngài không muốn một số kẻ được chọn nào đó, Ngài muốn cứu vớt tất cả. Cho dù chỉ có một linh hồn cần được đưa về với Ngài (một con chiên trong số 100 con) Ngài cũng lo liệu tìm mọi cách để đưa kẻ ấy trở về.

Chúa Kitô là mục tử tốt lành, biết tên từng con chiên một (Ga 10,3). Sứ mệnh của Ngài là đưa những con chiên lạc nhà Israel trở về đàn (Mt 15,24). Cũng như Chúa Kitô, Kitô hữu không được bỏ rơi kẻ nào trong những tương giao nhân loại hay tôn giáo của mình, nhưng phải sẵn sàng tiếp nhận mọi thiện chí, sẵn sàng tiếp xúc một cách chân thành hữu ích. Không phải môi trường rộng lớn mới là quan trọng. Thánh Francois de Sales có nói: “Một linh hồn đã là một địa phận khá lớn cho một giám mục rồi”

Cho dù tội lỗi đến đâu, chúng ta không bao giờ được thất vọng vào Thiên Chúa. . Tình yêu của Thiên Chúa và của Chúa Kitô luôn đeo đuổi chúng ta (Rm 8,37-39). Thiên Chúa luôn mong chờ chúng ta, để vác chúng ta lên đôi vai khi cần (Is 40,11) và đưa chúng ta về lại ràng. Chúng ta hãy tin tưởng vào sự âu yếm của Thiên Chúa chúng ta. Hãy thưa với Ngài rằng chúng ta là con chiên lạc lối và hãy xin Ngài đến tìm kiếm ta cho mau (Tv 119,176) để từ đây săn sóc ta như con chiên thân thuộc (Tv 95, 7) trong tình yêu thắm thiết của Ngài.

Thiên Chúa vui mừng biết bao được tụ họp đoàn dân Ngài trong giáo hội để nhờ Chúa Kitô dâng lên hy lễ thờ phượng. Trong đoàn chiên đông đảo, vẫn có đó, vẫn còn đó những con chiên trung tín nhưng cũng có những con thất tín bất trung lầm đường lạc bước. Với những con chiên lầm đường lạc bước đó, Ngài đã bằng cách này hay cách khác, đặc biệt là tình yêu thương tha thứ để chờ đợi, để đón mừng những con chiên đó quay về..

Trong dụ ngôn người cha nhận hậu, chúng ta phảng phất nhìn thấy được dụ ngôn người cha của đứa con hoang đàng một mạc khải về lòng thương xót, sự âu yếm khôn lường của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Tình âu yếm đó đã được Chúa Giêsu tỏ ra cho loài người trong việc Ngài chăm lo cho các tội nhân suốt sứ vụ rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, và cách đặt biệt rõ nét nhất là trong viêc hy sinh mạng sống Ngài để chuộc tội cho họ.

Khi khám phá ra một tình yêu như vậy không thể làm cho ta tràn đầy tin tưởng vào Đấng đã yêu thương chúng ta. Chúng ta quá biết mình là những tội nhân; nhưng chúng ta từ nay không được quên rằng thân phận khốn nạn đó không làm Thiên Chúa ghét bỏ chúng ta, trái lại càng khiến Ngài yêu chúng ta hơn. Vì vậy chúng ta vững tin cho chính mình, và cũng vững tin cho những kẻ khác. Chúng ta cũng đang sống giữa những người tội lỗi. Khi thấy các anh em ấy gặp khốn khó hay lầm lạc, chúng ta hãy nhớ lại rằng họ vẫn được Thiên Chúa yêu, và tình yêu đó đủ mạnh để cứu rỗi họ.

Và khi khám phá ra khuôn mặt, tấm lòng, tình yêu của Thiên Chúa chúng ta lại thấy mở ra sự đòi buộc của tình yêu đó trong tâm hồn chúng ta.

Người con cả của dụ ngôn, vì không hiểu tình yêu của Cha, cũng không hiểu được lời mời gọi phát xuất từ tình yêu đó: anh ta chỉ thực sự là người con hiếu thảo của cha khi biết chia sẻ tình yêu của cha, biết thương mến đứa em. Việc đề phòng mà dụ ngôn muốn nhắc nhở cho người người biệt phái không phải là không liên hệ đến Kitô hữu. Dụ ngôn nhắc cho họ nhớ rằng người ta không thể phục vụ Thiên Chúa đúng ý Ngài nếu không yêu Ngài và không thông hiệp vào tình yêu của Ngài đối với anh em, cho dù những người này là tội nhân.

Thái độ của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với con tim lạnh lùng kiêu căng của người biệt phái, kẻ tưởng mình đang sống an toàn vì đã thi hành tỉ mỉ những giới luật. Người môn đệ chân chính và đích thực của Chúa Giêsu có lý nào hay có quyền gì để khinh bỉ xa tránh những kẻ đang gặp hoạn nạn khó khăn do tội lỗi. Tình yêu Thiên Chúa kêu mời chúng ta yêu mến anh em. “Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu mến ta như thế, thì ta cũng phải yêu mến nhau” (1Ga 4,11)

Khi chúng ta cảm nhận được tình thương tha thứ từ nơi Cha thì khi đó chúng ta cũng mở lòng bao dung và yêu thương anh chị em đồng loại như Cha chúng ta ở trên Trời vậy.

LỜI MỜI KHÓ

LỜI MỜI KHÓ

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” (Lc 9, 23)

Ở đời ! Có chăng người ta sẽ hăng hái bước đi theo ai đó, đi tìm điều gì đó nhẹ nhàng và thênh thang, êm ái và dịu chàng chứ chẳng ai đời lại muốn đi tìm cái khổ, cái khó cả.

Thoạt đầu, xem ra lời mời gọi khó nghe và nghịch lý nhưng ở khi đối diện với thực tại của cuộc đời, ai cũng có cây thập giá của đời mình. Và nếu như ai vui lòng vác những đau khổ, những vất vả thì đến cuối cuộc đời, đến cuối chặng đường sẽ cảm thấy lòng thanh thản và được hưởng vinh quang cùng với Đấng đã vui lòng vâng phục Chúa Cha.

Thập giá, từ xưa đó chính là dấu chỉ, là biểu tượng, là hình ảnh, là dụng cụ để người ta thi hành án tử cho tên tử tội. Với Chúa Giêsu cũng vậy, Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi cây thập giá khi thi hành án. Án tử người ta dành cho Chúa Giêsu cũng chỉ vì cái tội kiêu ngạo. Cũng vì loại trừ, vì khước từ một Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Độ trần gian cho nhân loại, những người Do Thái thời Chúa Giêsu đã tìm đủ mọi cách để khử trừ Đấng đó ra khỏi cuộc đời này khi có dịp.

Cái tội kiêu ngạo đẩy con người vào con đường chết đó không phải có vào thời Chúa Giêsu nhưng nó đã có từ khi con người xuất hiện. Chính ông bà nguyên tổ đã đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của mình vì tưởng rằng sau khi ăn trái cấm như lời con rắn dữ mời gọi họ sẽ hơn Thiên Chúa.

Vẫn là cái tội kiêu ngạo không chấp nhận thân phận thụ tạo của mình.

Trong cái thân phận là thụ tạo, điều chính yếu, điều căn cốt nhất mà con người phải nhận ra đó chính là mình chẳng là gì cả, tất cả là nhờ Chúa và bởi Chúa. Khi ý thức như vậy, con người sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản. Và ngược lại, khi con người không nhận ra căn cốt của đời mình thì con người sẽ nổi loạn để rồi lại bất phục tùng và cảm thấy mệt mỏi khi phải vác thập giá của đời mình.

Trong dòng chảy lịch sử cứu độ, những khuôn mặt, nhưng hình ảnh của những con người đau khổ vẫn còn đó như là bài học cho những ai bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá. Những khuôn mặt đó, nhìn thấy quả là đau khổ bởi lẽ không còn gì đau khổ hơn nhưng những người đó vẫn đi theo Chúa cho đến cùng.

Khuôn mặt sáng, khuôn mặt đẹp mà ta nhìn ngắm phải chăng là khuôn mặt của ông Giob. Đọc lại cuộc đời của ông. Nỗi đau tột cùng của ông sẽ không đau lắm khi ông là người bình thường mà lại rơi vào cảnh mất mát, đau thương cả tinh thần lẫn thể xác. Nỗi đau càng giày vò ông khi cuộc đời của ông đang sống trong vinh quang, trong phú quý và có thể nói là đỉnh, là điều mà nhiều người mơ ước với cái cơ nghiệp, con đàn cháu đống cùng với đàn súc vật thật đông. Nỗi đau sâu hoẵm đó nó khoét đời ông và thử thách niềm tin của ông khi những người bạn đến thách thức ông. Đau hơn nữa đó chính là lời phỉ báng, lời kém tin của người vợ của ông. Nhưng, trong những thử thách đó, lòng ông vẫn đơn thành : “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về lòng đất cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi. Người muốn sao nên vậy : xin chúc tụng danh Chúa. Mình biết đón nhận ơn lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ lại không biết đón nhận sao?” (G 1,21 ; 2,10b)

Lịch sử lại cứ trôi và cuộc đời vẫn chảy. Ta lại bắt gặp hình ảnh của người môn đệ đã hoàn thành cách xuất sắc khi bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá.

Nhìn, nghe, đọc những trang giấy trong sách Thánh, ta sẽ thấy những đau khổ của người môn đệ đau khổ đến tột cùng là Đức Trinh Nữ Maria. Thấy thôi chứ không cảm được đau khổ mà Mẹ phải chịu.

Thập giá ập đến ngay cuộc đời của Mẹ khi Mẹ nhận lời sứ thần truyền là mang thai Đấng Cứu Độ. Sẽ bị ném đá theo luật Do Thái ngay khi người ta truy tầm ra rằng thiếu nữ Maria không có chồng mà lại có mang. Thoát được án tử sau khi Giuse nhận Mẹ về làm vợ. Cuộc đời đâu êm ả như bao người suy và bao nhiêu người nghĩ. Tưởng chừng một màu hồng tươi đẹp trải suốt trên cuộc đời của Mẹ nhưng đâu được như thế ! Đau khổ cứ như cuộn, cứ như ôm lấy cuộc đời của Mẹ. Đau khổ đó cuộc vào đời Mẹ cho đến tận cùng đó chính là đỉnh đồi Canvê. Không còn nỗi nhục và nỗi đau nào cho bằng con mình vô tội lại chịu chết treo cùng với hai người có tội. Vô cớ, oan khiên nhưng đành phải chấp nhận bởi lòng người gian ác.

Mẹ đã thưa hai tiếng xin vâng cho đến cuối cuộc đời.

Và sẽ là một thiếu sót lớn hay nói cách khác là sẽ vô nghĩa khi không chiêm ngắm con người chịu treo trên thập giá để mang lại ơn cứu độ cho con người. Ơn cứu độ cho nhân loại khởi nguồn từ con người đã hoàn toàn vâng phục chịu chết treo trên thập giá như người mang trọng tội.

Thư gửi tín hữu Philip đã diễn tả :

“Đức Giêsu Kitô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân nô lệ

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự. (Pl 2, 6-8)

Chúa Giêsu, dù ở cái địa vị vinh quang nhưng lại trút bỏ và vâng phục và chết một cách nhục nhã. Còn ta, ta là ai mà ta lại tưởng mình thế này thế kia để ta lại muốn một lần nữa treo Chúa Giêsu – Đấng Cứu Độ trần gian – trên thập giá.

Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,

Ngài phán bảo : “Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi !”

Ngàn năm Chúa kể là gì,

tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,

khác nào một trống canh thôi !

Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,

như cỏ đồng trổi mọc ban mai,

nở hoa vươn mạnh sớm ngày,

chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.

Lạy Chúa, xin trở lại ! Ngài đợi đến bao giờ ?

Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây. (Tv 89,3-4.5-6.12)

Lời mời gọi bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá mãi mãi vẫn là lời mời gọi luôn luôn mới và giá trị trên cuộc đời của ta. Lời mời gọi đó quả là khó chứ không phải dễ dàng bước theo. Khi và chỉ khi ta nhìn nhận thật phận tôi đòi của chúng ta, thân phận thụ tạo của chúng ta thì khi ấy chúng ta lại nhẹ nhàng và thanh thản để đi theo con đường mà Chúa Giêsu đã đi. Và, khi vâng phục đến tột đỉnh vác thập giá đời mình thì dĩ nhiên ta cũng sẽ được hưởng phần phúc cứu độ mà Đấng Cứu Độ trần gian bị treo trên thập giá đã hứa ban cho những ai ngày mỗi ngày bước đi theo Ngài.

Lễ suy tôn Thánh Giá

Anmai, CSsR