Ký Ức về hai ngôi nhà ở Phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội

Ký Ức về hai ngôi nhà ở Phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội

Sài Gòn–Tuần trước Mừng Lễ thánh Têrêsa, tôi nhớ đến hai ngôi nhà ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Năm 1984, lần đầu tiên tôi trở lại Hà Nội sau khi đi biệt 30 năm. Ngày ấy trước Đổi Mới, thành phố xưa không thay đổi mấy, chỉ cũ kỹ hơn và nghèo hơn. Lòng người không biết thế nào, nhưng phố xá còn giữ được cái vẻ yên tĩnh có phần trầm mặc tôi thấy rất gợi cảm. Một ngày cùng bạn  bè đi trên phố Nguyễn Thái Học, tôi để ý một ngôi nhà lớn,  trên mái có cây Thánh Giá. Ngày ra đi tưởng không bao giờ trở lại, tôi chỉ là một đứa trẻ ngu ngơ, đâu có biết gì về các cơ sở của Hội Thánh. Nay trở về thì đã có nhiều suy nghĩ. Tôi nghe nhiều, đọc nhiều về những gì xảy ra với Giáo Hội sau bức màn Tre, màn Sắt, sau đó lại còn cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc. Tin tức lọt ra ngoài cho thấy Giáo hội Miền Bắc ở vào tình trạng hết sức tiêu điều, xơ xác. Chuyến đi này tôi mong được thấy tận mắt. Và tôi cho rằng một điều học được trong chuyến đi là Đức Tin đã lưu  truyền như thế nào trong cảnh ngặt nghèo đó. Tôi hỏi ngôi nhà có Thánh Giá trên mái đó ngày trước là gì vậy, các bạn cho biết đó là Dòng Kín Cát minh xưa. Tôi hơi giật mình: thì ra đây là nơi 80 năm trước  thánh Têrêsa  đã muốn tìm đến vùi sâu  cả cuộc đời mình để thầm lặng hy sinh cầu nguyện cho nhiều người được biết Chúa. Xém chút nữa thi đất mẹ Việt Nam đã đón vào lòng mình một vị thánh  lớn.

Ngôi nhà thứ hai trên phố Nguyễn Thái Học có thể coi là láng giềng của Dòng kín Cát minh cũ. Từ chuyến đi năm 1984 ấy, tôi đã quen biết thêm và giữ liên lạc với một nhóm bạn trẻ Hà Nội và được nghe kể chuyện về cô gái ở trong ngôi nhà đó đã gặp Chúa như thế  nào. Đó là câu chuyện về một tai họa nhưng, như có lời đã nói, trong họa có phúc. Cô là con của một vị thứ trưởng, một thành phần được hưởng những ưu đãi về mọi mặt giáo dục, sinh hoạt, giao tiếp và tiện nghi vật chất mà tuyệt đại đa số thanh niên Việt Nam không thể mơ tưởng, đặc biệt trong hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn của miền Bắc thời ấy. Cuộc sống đang đẹp, tương lai đang hứa hẹn lộng lẫy, tuổi trẻ đang giầu những ước mơ trong tầm tay, bỗng đâu tai họa ập tới. Cô mắc phải căn bệnh không thuốc chữa, tay chân càng ngày càng co quắp lại, phải thở bằng máy, cổ phải đục một đường để đưa khí thở vào phổi, và cứ thế tê liệt đi dần dần tháng này qua năm khác. Có thể hiểu được với cô gái đang phơi phới thanh xuân và với cả gia đình, cái đòn định mệnh ấy nó khủng khiếp ra sao. Có thể mường tượng được những uất nghẹn, phẫn chí, tuyệt vọng… Thế rồi những đồ đệ trẻ của Chúa kín đáo, thầm lặng cũng có mặt trong nhóm bạn bè của Mai Trinh, (cô gái ấy tên là Mai Trinh). Cũng chẳng biết họ đã quen biết nhau thế nào, qua chuyện học hành, sinh hoạt…. Họ đã thì thầm chia sẻ tâm sự bên giường Mai Trinh. Họ chẳng qua những khóa huấn luyện giáo lý viên như ngày nay thường tổ chức, chỉ có tấm lòng thành, có sao nói vậy về ngọn lửa đức tin họ vẫn nuôi trong hồn giữa một môi trường nghịch cảnh. Tới một ngày đức tin ấy đã xuyên qua u ám đi vào lòng Mai Trinh.

Có một phép mầu đã xẩy ra: cô gái đau đớn uất hận trên giường bệnh đã thành một người đầy niềm vui bình an, và niềm vui bình an ấy ở lại với cô không đi nữa. Con sâu đã hóa bướm. Căn phòng và giường bệnh của Mai Trinh trở thành điểm hẹn cho một nhóm bạn trẻ rỉ tai nhau tìm đến chia sẻ nỗi niềm. Sự bình an của Mai Trinh lan ra cả gia đình. Cả ông bố thứ trưởng cũng được cô con gái cảm hóa. Ông cũng đã bị bệnh nặng và được chính con gái dội nước rửa tội cho trước khi qua đời. Tân tòng Mai Trinh đã được ơn làm người loan Tin Mừng của Chúa ngay trong gia đình ruột thịt bằng đời sống chứng nhân.

Trở lại Hà Nội vào đầu thập niên 90, tôi nhờ một bạn trẻ dẫn tôi đi thăm Mai Trinh. Chưa gặp mặt bao giờ, nhưng Mai Trinh nói chuyện rất chan hòa. Hình như chỉ cần chung nhau một hướng nhìn đức tin là người ta có thể nói với nhau rất nhiều điều. Câu nói của bà mẹ Mai Trinh cho tôi ấn tượng đậm đà về cả hai mẹ con. Bà nói: “Bây giờ tôi mừng lắm. Bao lâu cháu còn ở với tôi, tôi sẽ săn sóc cháu với tất cả tình yêu thương. Ngày nào cháu đi, tôi cũng sẽ an lòng, vì tôi biêt cháu đi bình an thanh thoát.”

Hai mẹ con khoe với tôi một bức tượng Đức Mẹ, nói là quà tặng của “bác Trần Xuân Bách”. Hồi đó dư luận xôn xao về việc ủy viên Trần Xuân Bách bị trục xuất khỏi Bộ chính trị. Đối với dân thường thì những việc ở Bộ chính trị lúc nào cũng được bao bọc bởi những tấm màn bảo mật rất thâm cung bí sử. Chỉ nghe loáng thoáng rằng ông Bách muốn làm Gorbatchev Việt Nam. Thất sủng vì bất đồng chính kiến ở mức độ đó trong một chế độ không chấp nhận đa nguyên tư tưởng thì đồng nghĩa với hoạn nạn lớn rồi.

Tìm hiểu thêm tôi lại biết ông quê ở Nam Trực, Nam Định, (hóa ra là đồng hương!). Vùng này mật độ và tỷ lệ dân Chúa khá cao. Trước đây ông lại từng giữ chức trưởng ban tôn giáo vận trung ương. Như vậy có thể đoán Giáo hội  đã phải chịu không ít khó khăn dưới tay ông. Nhưng cả đến một người vô thần gộc và quyền thế thì cũng chả  tìm được một món quà nào thích hợp để tặng cho Mai Trinh hơn là bức tượng Đức Mẹ. Thế là một lần đi công tác nước ngoài người vô thần xuất phát từ một vùng mộ đạo thỉnh Đức Mẹ về đem vui cho một cô  gái từ cõi vô thần mà lại phát hiện ra cánh cửa vào cõi Chúa. Thôi thì cũng là một lẽ đương nhiên, có những hoàn cảnh người ta chỉ còn giữ lại “điều duy nhất cần thiết”.

Tôi biết được thêm một điều: từ ngày chịu phép rửa, đã bốn năm năm rồi, Mai Trinh chưa bao giờ được dự một thánh lễ. Luôn luôn sống với một bộ máy thở, bình oxy cồng kềnh, dây nhợ linh tinh thì đến nhà thờ sao được. Hà Nội những năm đó rất thiếu linh mục, mỗi vị phải phụ trách mấy nhà thờ, chẳng thể cử hành lễ riêng cho ai. Tôi thì lại chẳng có việc gì làm,chỉ có thăm gia đình và đi chơi suốt, chứ không được tham gia mục vụ, đã có cảnh cáo rồi. Về Thái Hà thấy cha già Vũ Ngọc Bích sức đã yếu, mắt đã lòa mà ngày nào cũng bận bịu việc nhà Chúa, nhất là thứ bảy và Chủ nhật, rất muốn đỡ đần Ngài một chút mà cũng đành chịu. Tôi nảy ra ý định hay là dâng một thánh lể bên giường Mai Trinh?

Tôi lên tòa Tổng Giám mục trình bày sự việc và xin phép. Đức Giám mục Phạm Đình Tụng trả lời: “Tôi chỉ ngại cho sự an nguy của cha thôi. Nhưng nếu cha thấy làm được thì cứ làm đi.” Sự an nguy tôi lại không ngại, đã bàn với hai mẹ con Trinh rồi.

Tôi xem lại chương trình đi đây đi đó rồi chọn một ngày thuận tiện. Sáng hôm ấy tôi chỉ đi với một bạn trẻ và một túi đồ lễ đến nhà Mai Trinh. Tôi có tật hay lơ đãng không chú ý đến ngày tháng. Đến bên giường Mai Trinh mở sách lễ ra mới giật mình bỡ ngỡ: “Ô, hôm nay là lễ thánh Têrêsa Hài Đồng!” Mai Trinh chợt reo vui: “Thánh Têrêsa là thánh bổn mạng của con đấy!” Có một niềm vui bỗng nhiên vỡ òa. Bàn tay nào vô hình dẫn dắt chúng tôi vậy? Chúng tôi có định trước đâu? Thoáng cảm thấy thánh Têrêsa ở đâu đây đang mỉm cười. Chúng tôi mắc tội lơ đãng, nhưng chị thánh đã sắp sẵn cho cô em Mai Trinh một món quà lớn mừng lễ Bổn mạng. Ý cầu nguyện từ bao năm xưa của chị  cũng là của cả Hội thánh ngày nay vẫn nở hoa trên mảnh đất đã vắng bóng dòng Cát Minh trên phố Nguyễn Thái Học này! Tôi ở lại trong nhà Mai Trinh khoảng một tiếng, nhưng niiềm vui ấy theo tôi cả ngày.

Khoảng ba năm sau, Mai Trinh qua đời. Nhóm bạn trẻ ở Hà Nội xúm nhau lại tổ chức cho Mai Trinh một lễ tang thật ấm cúng, thật “hiệp thông”. Lần đầu tiên tòa Tổng giám mục cho phép cử hành thánh lễ an táng tại tư gia. Tôi ở trong Nam không ra dự được, nhưng các bạn Hà Nội cho xem những tấm ảnh Mai Trinh nằm rất bình an, rất đẹp trên giường đầy những cánh hoa tươi.

Ngày nay kiến trúc cổ của dòng Cát Minh Hà nội (1920) không còn nữa. Chính quyền đã cho phá đi rồi mặc dù tòa Tổng giám mục Hà Nội đã hết sức vận động yêu cầu giữ lại một mảng kiến trúc cổ nào đó mà người Công giáo nhìn về với những tâm tình thiết tha vì nó gắn bó với ký ức thiêng liêng về thánh Têrêsa. Thế gian này, và nhất là xã hội này, đã có quá nhiều tín hiệu về sự vô cảm của nó với những ký ức tâm linh đó.

Trong ngôi nhà gần đấy cũng chẳng còn Mai Trinh nữa, đã đi theo thánh Têrêsa rồi. Những người bạn trẻ của Mai Trinh thì vẫn còn đó, bây giờ đã đứng tuổi cả. Có người là nữ tu Dòng Mến Thánh Giá ở phố Nhà Chung, có người tham gia các công việc ở giáo xứ Hàm Long, có người làm trưởng ca đoàn ở nhà thờ Thái Hà, lại có người lang bạt sang tận nước Mỹ, năm ngoái tôi gặp ở Virginia và vẫn cứ lúi húi làm việc nhà thờ, và còn nhiều người khác nữa tôi không thể quen biết hay nhớ hết. Trong đời thường, họ sống vô danh với xã hội. Nhưng tôi cho rằng không chỉ có gạch đá hay kiến trúc mới tạo nên ký ức tâm linh cho Dân Chúa. Chính họ là những ký ức sống. Những ký ức nhỏ nhoi. Chẳng có gì để ghi vào sử sách, nhưng họp lại thành ra một dòng chảy triền miên, nó kết thành cái tâm, cái tình của người giáo dân trong Hội Thánh Chúa. Tôi nghĩ rằng nên góp phần vun trồng, gìn giữ những ký ức đó trong ngôi vườn Hội Thánh.  Đó là lý do tôi ghi lại câu chuyện này.

Một lý do nữa: đây không phải là chuyện riêng lẻ, nó nằm trong một chuỗi rất nhiều chuyện về những cơn “Mưa Hoa Hồng” mà Dân Chúa khắp nơi truyền tụng về thánh nữ Têrêsa Hài Đồng, tạo nên một nét đặc sắc khiến cho bao nhiêu tâm hồn tìm đến với vị thánh rất đơn sơ mà lại rất diệu kỳ này. Từ rất lâu tôi đã muốn giới thiệu và đóng góp vào Ký ức lớn ấy mà mãi vẫn chưa làm. Có lẽ một ngày gần đây, tôi sẽ xin trở lại câu chuyện này, nếu Chị Thánh cho phép…..

Mathêu Vũ khởi Phụng, CSsR

T.B. Vừa định gửi bài về trang Chúa Cứu Thế thì được xem trên truyền hình KTO quang cảnh di cốt của thánh nữ Têrêsa và của song thân Người là hai vị Chân Phước Louis và Zélie Martin được tôn kính đặc biệt trong lễ khai mạc Thượng Hội Đồng Giám mục ở Đền thánh Phêrô, Rôma và sau đó được rước về Đền Đức Bà Cả cho dân Chúa chiêm bái. Thượng Hội Đồng kỳ này bàn về đời sống các gia đình. Hội thánh tại gia là nguồn ân phúc nhưng cũng đang đối diện với  nhiều khó khăn thách thức. Đức Thánh Cha Phanxicô và các nghị phụ cầu mong sự hiện diện và hiệp thông của một gia đình thánh giữa Hội Đồng. Xin mong chờ nhiều Mưa Hoa Hồng trên các gia đình năm châu.

Chi Nguyen Kim Bang goi

Đức Giáo Hoàng ‘dịu giọng’ về chủ nghĩa tư bản trong chuyến thăm Mỹ

Đức Giáo Hoàng ‘dịu giọng’ về chủ nghĩa tư bản trong chuyến thăm Mỹ

 VOA

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đọc diễn văn trước Quốc Hội Hoa Kỳ.

 

Nhiều người dự kiến Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ gây ‘bão dư luận’ khi đến Mỹ vì những chỉ trích chủ nghĩa tư bản mạnh mẽ của ông trước đây khiến một số người phản đối, thậm chí gán ghép ngài là ‘cộng sản’. Thế nhưng kết quả thực tế là ngài không những không gây xung đột, mà còn khiến giới nhà lập pháp Mỹ ở cả hai đảng xúc động mạnh mẽ. Giám mục Nguyễn Thái Hợp nói Đức Giáo Hoàng đã không dùng ngôn ngữ của các chính trị gia mà là ngôn ngữ của Tin Mừng. Khánh An và thông tín viên William Gallo có bài tường thuật chi tiết sau đây.

Trước khi Đức Giáo Hoàng đến Mỹ, một số nhà phân tích dự liệu sẽ có một sự ‘bùng nổ’ trong chính trường và dư luận Mỹ vì sự kết hợp hoàn hảo của hai yếu tố: Một, Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nổi tiếng với phát biểu cho rằng chủ nghĩa tư bản là trung tâm mọi vấn đề bất bình đẳng, cội rễ của các căn bệnh xã hội. Hai, nước Mỹ là cường quốc thống lĩnh về kinh tế thị trường. Việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô đến Mỹ sẽ là cơ hội hội tụ đủ hai yếu tố gây ra xung đột.

Tuy nhiên, những bài phát biểu của vị đứng đầu Giáo hội Công Giáo, trong đó có bài phát biểu ở Quốc hội Mỹ, không những không gây ra xung đột mà còn đem lại kết quả ngược lại.

Điều này không có nghĩa là Ngài [Đức Giáo Hoàng] thay đổi thông điệp. Nó chỉ có nghĩa là Ngài quyết định nhấn mạnh những khía cạnh đức tin khác. Tôi nghi rằng là để không gây khó chịu cho chủ nhà và để hòa điệu tốt hơn với nhiều Mỹ nói chung.

Một số nhà phân tích nói ngôn ngữ ‘mềm mỏng’ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô có tác dụng cân bằng giữa vấn đề tôn trọng nước Mỹ chủ nhà và điều mà Ngài xem là mối nguy của chủ nghĩa tiêu thụ quá đáng.

Ông Marian Tupy, nhà phân tích chính sách cấp cao của Viện CATO, nói: “Ngài chắc chắn sẽ phát biểu chống chủ nghĩa tư bản nhiều hơn trong những chuyến đi khác đến Châu Mỹ Latinh và các nơi khác. Nhưng ở đây tại Hoa Kỳ, Ngài rõ ràng là đã dịu giọng xuống, đặc biệt là tại Quốc hội. Đó giống như là một vị giáo hoàng khác vậy”.

Nhưng Giám mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy ban Công lý Hòa bình, thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam cho biết: “Mỗi lần thì Đức Giáo Hoàng có những đề tài riêng, như lần này Ngài nói về môi sinh, về gia đình. Thành thử đâu phải bài nào cũng nói về chủ nghĩa tư bản, trước đây Ngài đã nói nhiều rồi”.

Mặc dù được cho là ‘dịu giọng’ hơn, nhưng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không hoàn toàn bỏ quên những vấn đề kinh tế trong chuyến thăm Mỹ của Ngài.

Trong bài phát biểu ở Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Đức Giáo Hoàng đã chỉ trích ‘sự ích kỷ và ham muốn quyền lực và của cải vật chất vô hạn dẫn đến việc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên và loại trừ người nghèo và người yếu thế’.

Trong bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ một ngày trước đó, Đức Giáo Hoàng Phanxicô liên tục lặp lại từ ‘công ích’ và nhắc các nhà lập pháp Mỹ về trách nhiệm không chỉ là bảo vệ quyền tự do cá nhân, mà còn phải để ý đến những người bị thiệt thòi.

Đức Giáo Hoàng nói: “Ngay trong thế giới phát triển, những ảnh hưởng của các hành động và cơ cấu bất công là quá rõ ràng. Những nỗ lực của chúng ta phải nhằm mục đích khôi phục lại hy vọng, sửa chữa sai lầm, duy trì các cam kết và rồi thúc đẩy phúc lợi của cá nhân và của dân tộc. Chúng ta phải tiến lên cùng nhau, làm một, trong thần khí canh tân của tình huynh đệ và đoàn kết, hợp tác quảng đại vì lợi ích chung”.

Có một chi tiết thú vị, đó là có một phần trong bài phát biểu đã soạn không được Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói tới khi Ngài đứng trước Quốc hội Mỹ. Đoạn này nhắc một chút về lịch sử chính trị của Mỹ và vai trò của tiền bạc trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ. Một trong những câu gây tranh cãi là: “Chính trị thực sự là để phục vụ con người, như thế nó không thể là nô lệ của kinh tế và tài chính”.

Quan điểm của Đức Giáo Hoàng là lấy Tin Mừng làm chính, thành ra ngôn ngữ, cách ứng xử, xử lý cũng dựa trên nền tảng của Tin Mừng. Thành thử ra là nói mà nói khéo, chứ không phải dùng ngôn ngữ của các chính trị gia, nhất là khi đang trong cuộc tranh luận… Chính vì vậy, nhiều người thấy đồng thuận và nhìn thấy nơi Đức Giáo Hoàng vai trò của một vị mục tử, một sứ giả của Tin Mừng, chứ không phải là người đến để gây chia rẽ.”.

Không ai biết tại sao Đức Giáo Hoàng lại bỏ qua đoạn này khi nói trước Quốc hội Mỹ, nhưng nhà phân tích Tupy nói ông ‘ngạc nhiên một cách phấn khởi’ vì sự thiếu vắng những lời lẽ chỉ trích chủ nghĩa tư bản mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng.

“Điều này không có nghĩa là Ngài thay đổi thông điệp. Nó chỉ có nghĩa là Ngài quyết định nhấn mạnh những khía cạnh đức tin khác. Tôi nghi rằng là để không gây khó chịu cho chủ nhà và để hòa điệu tốt hơn với nhiều Mỹ nói chung”.

Giám mục Nguyễn Thái Hợp cho biết không phải lúc nào Đức Giáo Hoàng cũng nói nguyên văn bài phát biểu đã soạn.

“Khá nhiều lần Đức Giáo Hoàng không đọc hết mà lại nói thêm, chẳng hạn như nói với các giám mục hay nói ở những nơi khác, Ngài nói thêm nhiều điều mà không có trong bản văn chính thức”.

Với lối nói từ tốn, nhẹ nhàng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khiến cho nhiều dân biểu Mỹ xúc động. Người ta thấy Chủ tịch Hạ viện John Boehner liên tục lấy khăn lau nước mắt. Những nhà lập pháp ở cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đã đưa ra những phản ứng tích cực về bài phát biểu của người đứng đầu Vatican.

Nhận xét về lối nói cũng như những phát biểu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong chuyến thăm Mỹ, Gíam mục Nguyễn Thái Hợp nói:

“Có thể nói và nói rất rõ là quan điểm của Đức Giáo Hoàng là lấy Tin Mừng làm chính, thành ra ngôn ngữ, cách ứng xử, xử lý cũng dựa trên nền tảng của Tin Mừng. Thành thử ra là nói mà nói khéo, chứ không phải dùng ngôn ngữ của các chính trị gia, nhất là khi đang trong cuộc tranh luận. Chuyện đó thì ta thấy rõ. Chính vì vậy, nhiều người thấy đồng thuận và nhìn thấy nơi Đức Giáo Hoàng vai trò của một vị mục tử, một sứ giả của Tin Mừng, chứ không phải là người đến để gây chia rẽ.”

Hoa Kỳ là quốc gia thứ 15 mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đến thăm trong hơn hai năm trở thành giáo hoàng. Những điểm đến ưu tiên đã thể hiện rõ quan điểm đến gần những người bị gạt ra ngoài lề xã hội trong khẩu hiệu ‘Cảm thương và lựa chọn’ của Ngài.

CẬU BÉ NỬA HỘP SỌ TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG CHIẾN THẮNG SỐ PHẬN

CẬU BÉ NỬA HỘP SỌ TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG CHIẾN THẮNG SỐ PHẬN

Tri’ch EPHATA 661

Jaxon Emmett Buell sinh ra bị khiếm khuyết một nửa não và hộp sọ. Các bác sĩ tiên lượng bệnh nhi không thể sống được, song cậu bé đã không đầu hàng số phận. Theo Telegraph, bé Jaxon Emmett Buell bị hội chứng bẩm sinh hiếm gặp gọi là Microhydranencephaly, khiến em bị thiếu phần lớn bộ não và hộp sọ.

Miracle baby ... Jaxon Emmett Buell recently turned one. Picture: Facebook

Không ai nghĩ cậu bé có thể sống được, các bác sĩ sau khi chọc ối phát hiện dị tật này đã khuyên người mẹ nên bỏ thai. Theo thống kê ở Mỹ, cứ khoảng 5.000 trẻ sinh ra mỗi năm thì có một trường hợp mắc hội chứng này, hầu hết đều tử vong ngay sau khi chào đời. Trường hợp của Jaxon là một ngoại lệ kỳ diệu. Em đã vượt số phận với một nghị lực sống phi thường. Tháng 8 vừa qua, cậu bé cười tươi hạnh phúc bên cha mẹ trong lễ mừng sinh nhật đầu tiên của mình.

Câu chuyện về nghị lực sống của cậu bé “nửa hộp sọ” đã lan truyền khắp nước Mỹ, trở thành nguồn cảm hứng sống cho hàng triệu người, đặc biệt là người mang trong mình bệnh nan y. Trang Facebook của Jaxon có 90.000 lượt thích và 18.000 lượt chia sẻ. Con số này không ngừng gia tăng.

Mẹ của em là Brittany 27 tuổi và cha là Brandon Buell 30 tuổi, sống tại Tavares, Florida, Mỹ. Người mẹ cho biết còn nhớ như in cảm giác tồi tệ lúc được bác sĩ thông báo con trai của mình bị một trục trặc não hiếm gặp khi mang thai bé ở tuần thứ 17. Jaxon đã được chẩn đoán bị thiếu não, một khiếm khuyết ống thần kinh khiến bé không có một số bộ phận của não và hộp sọ.

Jaxon was born with Microhydranencephaly. Picture: Facebook

Người cha cho biết, vợ chồng anh như sụp đổ khi nhận thông báo từ bác sĩ về đứa con chưa ra đời đã mắc phải căn bệnh hiểm nghèo. Bác sĩ khuyên hai vợ chồng nên bỏ thai ở tuần thứ 23. Tuy nhiên họ kiên quyết bảo vệ đứa trẻ bởi nghĩ rằng “Giết con của mình là tội ác. Bệnh tật của đứa trẻ không phải là lý do cho việc phá thai”.

Một số người chỉ trích vợ chồng Brandon “ích kỷ” hoặc “dại dột” không chịu bỏ cái thai. Ông bố trẻ đã đáp lại những lời chỉ trích bằng một bài viết chân thành trên trang Facebook. Anh khẳng định rằng hai vợ chồng quyết định bảo vệ đứa con bé bỏng bởi đó là “sự lựa chọn của cả hai chúng tôi và chúng tôi chỉ có sự lựa chọn ấy mà thôi”.

Người mẹ đã hạ sinh bé Jaxon bằng phương pháp mổ lấy thai. Cậu bé chào đời hoàn toàn khỏe mạnh trong sự ngạc nhiên của nhiều người.

Những câu nói nổi tiếng của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu

Những câu nói nổi tiếng của thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu

ThereseLisieux.jpg

  • Đức Tin của chúng ta thật hiển hách! Thay vì giới hạn các con tim, như thế gian mong muốn, Đức Tin lại nâng các con tim lên và gia tăng khả năng yêu thương của chúng.

– Xin nhớ rằng không có điều gì là nhỏ bé dưới mắt Thiên Chúa. Hãy làm mọi việc với tình yêu.

– Vẻ rực rỡ của bông hồng và màu trắng của bông huệ không tước mất hương thơm của bông hoa tím hay lấy đi vẻ hấp dẫn mộc mạc của bông cúc dại. Nếu mỗi bông hoa nhỏ cứ muốn làm một bông hồng, mùa xuân hẳn sẽ mất vẻ yêu kiều.

– Hẳn là bạn cũng biết rằng Chúa chúng ta không quan tâm nhiều đến vẻ lớn lao hay sự khó khăn của các hành vi chúng ta làm, nhưng là tình yêu chúng ta có khi làm.

– Không có tình yêu, các hành vi, dù sáng chói nhất, cũng không đáng kể gì.

– Tin tưởng và chỉ tin tưởng mới dẫn chúng ta đến tình yêu.

– Không nên bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào mà không làm một hy sinh nhỏ, ở đây bằng gương mặt tươi cười, ở kia bằng một lời khả ái, luôn luôn làm việc đúng đắn dù nhỏ bé nhất và làm vì tình yêu.

– Đối với em, cầu nguyện là một sự trào dâng của con tim; cầu nguyện đơn giản là một cái nhìn hướng về trời, là một tiếng kêu nhận biết và yêu thương, ôm lấy cả thử thách lẫn niềm vui.

– Một lời nói hay một nụ cười thường cũng đủ để đưa sự sống tươi mát vào trong một tâm hồn thất vọng.

– Bây giờ em biết rằng bác ái chân thật hệ tại gánh lấy tất cả những khuyết điểm của người thân cận – không ngạc nhiên trước sự yếu đuối của họ, nhưng vui sướng về những nhân đức nhỏ nhất của họ.

– Niềm vui ấy ta không tìm được nơi các sự vật bao quanh ta, nhưng chỉ ở trong tâm hồn; và ta có thể sở hữu nó dễ dàng khi ở trong một nhà tù tăm tối cũng như khi ở trong dinh thự của một vị Vua.

– Con cầm lấy quyển Kinh Thánh. Thế là mọi sự dường như sáng ra với con; chỉ một chữ thôi cũng mở ra cho con những chân trời vô biên, sự hoàn thiện tỏ ra đơn giản với con.

– Nếu em không chỉ sống từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, hẳn là em đã không thể kiên nhẫn; nhưng em chỉ nhìn đến hiện tại, em quên đi quá khứ, và em quan tâm không chặn trước tương lai.

– Đừng sợ nói với Đức Giêsu rằng bạn yêu thương Người; cho dù không cảm thấy gì, đó là cách để buộc Người giúp đỡ bạn, và bồng lấy bạn như một em nhỏ quá yếu không thể bước đi.

– Sứ mạng của con – làm cho Thiên Chúa được yêu mến – sẽ bắt đầu sau khi con chết. Con sẽ sống trên trời mà làm điều thiện dưới đất. Con sẽ gửi đến một trận mưa hoa hồng.

– Đức Giêsu không cần sách vở hoặc các Tiến sĩ thần học để dạy dỗ các tâm hồn; là Tiến sĩ của các tiến sĩ, Người dạy dỗ không cần nói năng ồn ào.

– Điều duy nhất con thực sự ước muốn… là yêu cho đến chết vì yêu.

http://conggiao.info/news/2108/18814/index.aspx

Ai đã ra lệnh giết Đức Thày Hùynh Phú Sổ?

Ai đã ra lệnh giết Đức Thày Hùynh Phú Sổ?

Tài liệu cần được công bố rộng rãi.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Sự kiện người cộng sản ra tay bắt cóc rồi sát hại Đức Thày Hùynh Phú Sổ, vị sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo vào ngày 16 tháng 4 năm 1947 tại khu vực miền Tây Nam Bộ – thì đã được nhiều người biết đến qua những chứng từ rõ ràng rất đáng tin cậy. Việc sát hại một vị lãnh tụ tôn giáo rất mực uy tín này đã gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với đại khối quần chúng tín đồ vốn đa số là nông dân ở địa phương đồng bằng sông Cửu Long suốt bao nhiêu năm nay.

Thế nhưng, cho đến gần đây người cộng sản cũng chỉ nói vu vơ đại khái rằng : “Những sự việc đáng tiếc như thế là do địa phương làm sai trái – chứ không phải do cấp trên ở trung ương quyết định v.v…” Tuy vậy, giới nghiên cứu sử học vẫn tìm ra được các bằng chứng xác đáng liên hệ đến hành vi tội ác này là do giới lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản vào thời gian ấy. Xin trình bày vấn đề ngắn gọn như sau.

I – Vào năm 2000, bác sĩ Trần Ngươn Phiêu đã tiết lộ trong một bài báo rằng: “Có hai sử liệu hiện được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp ở Paris, cụ thể như sau:

1- Quyết Định đề ngày 28 – 4 – 1947 của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, do Phó Chủ tịch Phạm Ngọc Thuần ký: Cách chức Ủy viên Đặc biệt và Truy tố Hùynh Phú Sổ về tội phản bội.

2 – Thông Cáo ngày 20 – 5 – 1947 của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ cho biết một phiên tòa đặc biệt được thành lập ngày 25 – 4 – 1947, đã lên án tử hình và cho hay đã xử tử Hùynh Phú Sổ.

(Các tài liệu này đã được nhà văn Như Phong Lê Văn Tiến phát hiện khi sang Pháp sưu tầm trong văn khố Thư viện Quốc gia Pháp – (Bibliothèque Nationale de Paris – Centre des Hautes Études sur l’Afrique et l’Asie Moderne – Notes sur le PGHH, Tác giả: Savani).

Bài báo khá nhiều chi tiết này của Bs Phiêu đã được đăng trên Việt Báo mà tôi đã tìm được trên online.

II – Và mới nhất đây, trong một bài báo phổ biến vào tháng 10 năm 2014, Giáo sư Shawn McHale giảng dậy tại Elliot School of International Affairs tại thủ đô Washington DC cũng đã tiết lộ rằng: “Thực ra, (việc xử tử nhà lãnh đạo Hòa Hảo Hùynh Phú Sổ) đó là một quyết định của tòan bộ Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, và Tướng Nguyễn Bình vị Tư lện quân sự cho miền Nam đã chấp thuận – (In fact, it was a decision of the entire Administrative Committee of Nam Bộ, and General Nguyễn Bình, military commander for the south, approved of it).

Trong phần Chú Thích, tác giả MCHale còn ghi nguyên văn chi tiết như sau:”I found a photograph of the order, signed by General Nguyễn Bình, this past summer in the French archives in Aix-en-Provence. See Indochine.Haut Commissariat de l’Indochine. Service de Protection du Corps Expéditionnaire dossier 385. BỐ CÁO CUẢ UỶ BAN HÀNH CHÁNH NAM BỘ. “VỤ ÁN HÙYNH PHÚ SỎ”. Ngày 27 tháng 5 năm 1947. (Signed:) NGUYỄN BÌNH.

Qua Ghi Chú này, thì chính Tướng Nguyễn Bình là vị có thẩm quyền cao cấp nhất tại Nam Bộ đã ký tên chấp thuận quyết định lên án và thi hành việc xử tử Giáo chủ Hùynh Phú Sổ vào năm 1947 vậy.

Và nếu coi kỹ lại, thì tài liệu do Giáo sư McHale ghi ở trên đây cũng chính là tài liệu số 2 như BS Phiêu đã ghi trong bài báo nói trên. Chỉ có điều khác là tài liệu do nhà văn Như Phong tìm ra thì được ghi là ở tại Thư viện ở Paris. Còn tài liệu do GS McHale nêu ra, thì ở tại Văn khố tại Aix-en Provence.

III – Tóm lược lại.

Theo sự hiểu biết của bản thân, thì tôi chưa được thấy phóng ảnh của 3 văn kiện nói trên được phổ biến ở đâu cả. Vậy tôi xin bà con, ai mà có bản phóng ảnh về các tài liệu này, thì xin vui lòng phổ biến rộng rãi cho công chúng được biết đến sử liệu có giá trị rất chính xác này.

Hoặc nếu chưa ai có, thì tôi xin các vị học giả đang cư ngụ tại Pháp vui lòng đến tìm kiếm mấy tài liệu đó và cho công bố để bà con được biết với. Mong lắm thay.

Costa Mesa California, Ngày Đầu Thu năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Ghi chú:

Bài báo của Giáo sư Shawn McHale có nhan đề là “Caught Between Propaganda anh History” là bài Điểm sách về cuốn “Lịch sử Nam bộ Kháng chiến” do Hội Đồng chỉ Đạo Biên Sọan Lịch Sử Nam Bộ Kháng Chiến ấn hành năm 2010. Bài báo được đăng trong Tủ sách“Cold War International History Project”, October 2014

NHỮNG HÌNH ẢNH NGOÀI ĐỜI được kể trong truyện chưởng của Kim Dung

NHỮNG HÌNH ẢNH NGOÀI ĐỜI được kể trong truyện chưởng của Kim Dung
Nhạn Môn Quan, Nga Mi, Võ Đang vốn rất quen thuộc với tín đồ tiểu thuyết Kim Dung. Ngoài đời thật, đây là những địa danh nổi tiếng và có nhiều cảnh quan đẹp như trang vẽ.
Nhạn Môn Quan, Nga Mi, Võ Đang vốn rất quen thuộc với tín đồ tiểu thuyết Kim Dung. Ngoài đời thật, đây là những địa danh nổi tiếng và có nhiều cảnh quan đẹp như trang vẽ.
      Nhập mô                                                          tả cho ảnh
1. Nga Mi
Núi Nga Mi còn gọi là “Đại quang Minh sơn” nằm ở Trung Nam tỉnh Tứ Xuyên, thuộc miền Tây Trung Quốc. Đỉnh cao nhất của Nga Mi sơn là Vạn Phật, nằm trên ngọn núi chính Kim Đỉnh với độ cao 3.099 m.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nga Mi cũng là ngọn núi có nhiều chùa miếu và là một trong Tứ đại
Phật giáo danh sơn của Trung Hoa, bên cạnh núi Ngũ Đài, núi Cửu
Hoa và núi Phổ Đà.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhắc đến Nga Mi, bạn sẽ nhớ ngay đến những nhân vật nổi tiếng trong
bộ truyện Ỷ thiên Đồ long ký của nhà văn Kim Dung là Chu Chỉ Nhược,
Diệt Tuyệt sư thái…Cũng theo bộ tiểu thuyết võ hiệp này, võ lâm Trung
Nguyên có ba phái lớn là Thiếu Lâm, Võ Đang và Nga Mi. Sư tổ sáng
lập ra võ phái Nga Mi là Quách Tương, con gái của Quách Tĩnh và Hoàng
Dung, 2 nhân vật trong bộ Anh hùng xạ điêu đã được ông sáng tác trước
đó khá lâu.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Chùa Vạn Niên trên núi Nga Mi có kiến trúc mang đậm dấu ấn của Đạo 
giáo.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Trong chùa có bức tượng Phổ Hiền Bồ Tát cao 7,35 m, nặng 62 tấn,
được xem là bức tượng Phật cao nhất thế giới, được đúc bằng đồng
mạ 20 kg vàng bên ngoài và là điểm thăm viếng không thể bỏ qua khi
đến Nga Mi.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhập mô                                                          tả cho ảnh

Kim Đính hay còn gọi là Vạn Phật Đính, một trong những ngọn núi nổi
tiếng của Nga Mi. Điểm độc đáo khi đến đây là du khách có thể nhìn
thấy được 4 kì quan nổi tiếng của Nga Mi Sơn, gồm Nhật xuất (mặt
trời mọc), Vân hải (biển mây), Phật quang (hào quang của Phật) và
Thánh đăng (đèn Thánh).
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Trong đó Thánh đăng, hay còn gọi là Phật đăng, là hiện tượng kì bí nhất:
vào mỗi đêm tối không trăng, dưới địa danh “Xã thân nhai” thường xuất
hiện hàng vạn chấm tròn sáng màu xanh lục nhấp nháy như những chòm
sao dày đặc. Có nhiều lời giải thích khác nhau cho nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng này: do lửa lân tinh, hoặc do một loại nấm phát sáng mọc dày
đặc trên các thân cây …
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Núi Nga Mi còn là nơi tập trung nhiều chủng loại sinh vật phong phú cùng hệ thảm thực vật Á nhiệt đới.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Hiện nay Núi Nga Mi có 242 loài thực vật cấp cao, 3.200 loài cây,
trong đó có hơn 100 loài đặc thù chỉ có ở núi Nga Mi và hơn 2.300
loài động vật quý hiếm.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Chùa Báo Quốc nằm ở chân núi Nga Mi, trên lối vào Nga Mi sơn, đồng
thời cũng là nơi diễn ra các hoạt động Phật giáo chính. Chùa này được
xây dựng vào thời nhà Minh (cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17) còn có tên
gọi là “Hội Tông đường”. Đến thời vua Khang Hi nhà Thanh đổi tên
thành“chùa Báo quốc”. Chùa tọa trên diện tích 40.00 m2, bao gồm Sơn
môn, điện thờ Di Lặc, điện Đại Hùng, điện thờ Thất Phật, điện thờ Phổ
Hiền và lầu chứa kinh văn nhà Phật.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài ra, khi đến thăm Nga Mi, du khách cũng nên đến thăm viếng
Bức tượng Đại Phật Lạc Sơn tạc trên vách núi lớn nhất thế giới, nằm
ở ngọn Thế Loan, đối mặt với Nga Mi sơn. Đại Phật Lạc Sơn cao 71m
và được chế tác trong 90 năm, kéo dài gần cả thế k. Thân tượng Phật
cao 59,98m, đầu cao 14,6m. Đỉnh đầu có 1.021 búi tóc và độc đáo nhất
là phần móng tay của bức tượng, dù là bộ phận nhỏ nhất cũng đủ cho
một người ngồi. Đại Phật Lạc Sơn cùng với Nga Mi Sơn đã được UNESCO
công nhận là Di sản thế giới năm 1996.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
2. Nhạn môn quan
Dưới ngòi bút của Kim Dung, Nhạn Môn quan trong bộ tiểu thuyết
kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ đã trở thành vùng đất huyền thoại. Đây
chính là nơi nhân vật Kiều Phong, một đại anh hùng võ công trác tuyệt,
dùng chính sinh mạng của mình để đổi lấy sự bình yên cho nhân dân
2 nước Tống – Liêu.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đây cũng là nơi mà độc giả Thiên long Bát bộ đã phải nức nở trước
tình yêu trắc trở của Kiều Phong, cũng như ám ảnh với cái kết buồn
cho số phận của A Tử, một trong những nhân vật nữ được Kim Dung
xây dựng rất thành công trong bộ tiểu thuyết này.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhạn Môn Quan nằm trên một thung lũng ở huyện Đại, cách thành
phố Hân Châu, tỉnh Sơn Tây 20 km về phía Bắc và là cửa ải trọng yếu của Trường thành thời xưa.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Do nằm lọt thỏm giữa hai bờ vách núi dựng đứng với địa thế cực kỳ
hiểm trở, mà vùng đất này được đặt tên là Nhạn Môn Quan, hàm ý
chỉ có những con chim nhạn, chim én mới bay vượt qua được cửa ải
hùng vĩ này.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Vào thời xưa, có rất nhiều cuộc chiến khốc liệt đã diễn ra ở Nhạn Môn
Quan. Vì vậy, ngày nay khi đến với điểm du lịch này, du khách không
chỉ thăm thú các danh lam thắng cảnh trong khu vực, mà còn được dịp
tìm hiểu về lịch sử thăng trầm rất thú vị của vùng biên ải.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Hiện tại, cả 3 cửa ải của Nhạn Môn Quan vẫn được bảo tồn tốt và địa
danh này đã trở thành một di tích quân sự cổ quan trọng của tỉnh Sơn Tây.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đồng thời, Nhạn Môn Quan cũng là một phần quan trọng của di sản
văn hóa thế giới và còn được biết đến với tên gọi “Trung Hoa đệ nhất
quan”.
 
3. Võ Đang
Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, sư tổ sáng lập ra phái võ Đang nằm trên
ngọn núi cùng tên, là Trương Tam Phong hay còn gọi là Trương Quân
Bảo. Nhân vật này cũng là người sáng tạo Thái Cực quyền và Thái
Cực kiếm.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Tại đây, giữa vòng vây của các cao thủ võ lâm, Trương Tam Phong đã truyền thụ bí quyết Thái Cực quyền và Thái Cực kiếm cho Trương Vô Kỵ.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài ra, tín đồ tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung cũng đã rất quen thuộc với phái Võ Đang, vì đây là 1 trong 3 môn phái lớn rất hay xuất hiện trong tiểu thuyết của ông, ngay từ bộ Anh hùng xạ điêu và Thần điêu hiệp lữ. Ngôi Cổ mộ của Tiểu Long Nữ cũng được Kim Dung mô tả có vị trí gần sát núi Võ Đang.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài đời thật, núi Võ Đang hay còn gọi là núi Thái Hòa, là một dãy
núi nằm ở phía Nam thành phố Thập Yển, Tây Bắc của tỉnh Hồ Bắc
với ngọn núi chính là Hải Bạt cao 1612 m.
 

Phong cảnh nơi đây rất hùng vĩ nên thơ, là đất thánh của võ thuật Đạo giáo với phái Thái Cực quyền và Bát Quái chưởng được phát triển từ thế kỷ 13.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đoạn đường dài 70 km từ chân núi đến đỉnh núi Võ Đang có đến 32
đền thờ Đạo Giáo chủ yếu được xây dựng theo lối kiến trúc thời nhà
Nguyên, Minh, Thanh. Đạo Giáo ở Võ Đang thịnh vượng nhất vào thời
Minh. Ngọn núi xinh đẹp này cũng được công nhận là Di sản thế giới
vào năm 1994.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Một kiến trúc độc đáo không thể bỏ qua khi đến thăm núi Võ Đang, đó là tòa Trúc Kim Điện làm bằng đồng mạ vàng nặng đến 405 tấn, được xây dựng từ năm 1416 trên đỉnh núi.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Với không gian hùng vĩ, u tịnh, Võ Đang thu hút du khách gần xa đến để không chỉ thưởng ngoạn mà còn là được đắm mình vào thiên nhiên trong lành, không gợn chút bụi trần.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Với những ai say mê thế giới thần tiên của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, tìm về Võ Đang là cuộc hành trình trải nghiệm lại thế giới nhân vật mà mình yêu thích qua hàng loạt bộ tiểu thuyết nổi tiếng có đề cập đến địa danh này như Ỷ thiên Đồ long ký, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ

Houston

Houston

  image

 Mỗi năm cứ vào độ tháng tư tôi lại bùi ngùi nhớ về quê cũ, những ngày bỏ nước ra đi. Nước mắt cũng đã chảy ra nhiều, những giấc mơ hãi hùng vẫn chợt đến chợt đi, tỉnh dậy ngơ ngác một lúc mới nhớ ra mình đang nằm trên giường, chăn ấm nệm êm trên đất Hoa Kỳ tự do và thịnh vượng. Vùng đất ngọt ngào luôn nâng đỡ, che chở, nuôi dưỡng tôi như một người mẹ hiền.  Ôi mừng hết lớn! Khi nghĩ đến quê hương vẫn là Việt Nam. Có ai đó, lạ mặt, hỏi tôi, bạn người nước nào? Từ đâu đến? câu trả lời vẫn là Việt Nam. Ôi cái nước Viêt Nam trong trí nhớ già nua của tôi, đọa đầy khốn khổ, chạy gạo ăn từng bữa, cả một mái nhà để chui ra chui vào cũng không có, bom đạn nổ ầm ỹ từng giờ, sống nay chết mai, anh em ly tán; Con cái, cha mẹ mong chờ biền biệt tháng ngày. Có lẽ đến đời cháu tôi, may ra chúng mới có thể tự nhiên trả lời “tôi là người Mỹ, đến từ Houston, Dallas,  LA, NY”

image

Ở đây, chẳng bao giờ tôi phải nghĩ đến cái ăn, cái mặc, phương tiện di chuyển, tối nay ngủ đâu, có gì ăn không nhỉ? Cả đến việc nhỏ nhặt tầm thường nhất, xin lỗi quý vị, như chạy quanh chạy quẩn đi tìm một chỗ làm công tác vệ sinh, tôi cũng chẳng phải lo. Nhưng tôi vẫn là người Việt Nam da vàng mũi tẹt, nói tiếng Việt rành hơn tiếng Mỹ, chỉ biết lịch sử Viêt Nam còn lich sử Mỹ thì mù tịt. Chính trường Mỹ thì càng không quan tâm tới. Vẫn nôn nao coi giải Túc Cầu Thế Giới, hơn là những môn thể thao của người Mỹ như foot ball, base ball, basket ball. Có ai trong sở hỏi: “Bạn cá ai sẽ thắng trong giải Super Bowl này?” -Super Bowl gì?. Hay người nào đó phang một câu “Anh chàng Yao Ming bị thương hoài chẳng làm nên trò trống gì!” – Yao Ming nào?, mặc xác hắn chứ!

image
Tại sao tôi chưa hội nhập được vào xã hội Hiệp Chủng Quốc này. Tôi vẫn chưa tan ra, hòa lẫn với các giống dân khác trong chiếc “The Melting Pot” vĩ đại này nhỉ?

Tôi đã sống hơn nửa đời người trong thành phố này, nhưng biết rất ít về nó. Một ngày nọ, người bạn thân từ hồi còn trai trẻ, lâu ngày không gặp, ca bản “Houston có gì lạ không em?” cho tôi nghe. Tôi chẳng thấy gì lạ cả, vẫn những cao ốc nhìn mỏi cổ, vẫn những xa lộ đầy ắp xe cộ chạy lên chạy xuống cả ngày lẫn đêm. Hình như thiên hạ chẳng biết làm gì cho hết giờ nên cứ lái xe ra xa lộ tiêu khiển, đốt săng chơi. Vẫn những ngày hè nóng nực chẳng khác gì Saigon, với những cơn mưa hạ xầm xập kéo đến rổi vội vã ra đi để lại bao nỗi tang thương trên hè phố! Mùa thu vẫn đến âm thầm nhẹ nhàng như cơn gió thổi sau vườn, lúc ra đi cũng chẳng hẹn trước, nhưng không quyên mang theo đám lá vàng xào xạc, chừa lại những hàng cây cao  trơ trọi khẳng khiu chào đón gió Đông Phong. Tuyết ư? Hơn 30 năm tôi chỉ thoáng thấy mặt nàng một đôi lần, nàng e lệ đến gõ cửa một buổi sớm mai, hỏi thăm dăm ba câu rồi bye bye ra đi biền biệt! Vâng Houston của tôi chỉ có thế. À, còn nữa chứ, ai đó hay ca bản Mãi Mãi Bên Em của nhạc sỹ Từ Công Phụng:

“Đôi khi có nhng mùa giông bão qua đây,

Em thy đi là nhng hư hao”

Vâng đôi khi cũng có bão tố như Cali có động đất nhưng không sao, ông Trời chỉ dọa hoảng vậy thôi, đâu có hư hao gì nhiều, nắm tay nhau, nhìn vào mắt nhau là thành phố lại hoàn toàn như cũ.

Hãy giả như một du khách nhìn từ ngoài vào, may ra có thể trả lời bạn tôi câu hỏi:

 *Houston có gì lạ không em?

Cứ vậy đi, bạn già, hãy nói về Houston của tôi:

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay.

image

Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi  vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng!.  Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao.  Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng!  Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa .

image

 Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều.  Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người VietNam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

image


Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp…. Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn: Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt.  Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau:

Austin

New Orleans

Houston

San Antonio

Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền.

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, cỡ đường hầm Củ Chi, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất.  Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc,  làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm.

image

 Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

 *Houston sử lược

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quyên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh! Chỉ có tử chiến mà thôi!

Cuộc cách mạng giành độc lập của Texas

image

Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas  rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu giệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

Chuẩn bị phòng thủ

image

Alamo

 Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio,  thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị tổng chỉ huy nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn  theo 30 dân quân để  phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và  Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch!”  Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn.  Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

Tử chiến thành Alamo

image

 Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836  Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành.  Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha.  Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành!

Mỗi đêm, quân mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.

image

 Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đòng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến  đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng”

image

 Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết.

 

image

 

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

 

image

Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 – 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

TEXAS tuyên bố độc lập

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas gấp 6 lần!

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

Trận chiến cuối cùng

image

 

 Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo!”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận.

 

image

 

Cuối cùng  Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên.  Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bầu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

Cuộc đời của Sam Houston

image

 

Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết.  Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc – Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ.

 

image

 

Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như Ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng Hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ?

 Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Chủ tịch Việt Nam đáp trả tuyên bố của ông Tập Cận Bình

Chủ tịch Việt Nam đáp trả tuyên bố của ông Tập Cận Bình

VOA

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu tại Hội châu Á ở New York hôm 28/9.

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu tại Hội châu Á ở New York hôm 28/9.

NEW YORK—Ông Trương Tấn Sang hôm nay, 28/9, đã lần đầu tiên phản hồi bình luận của Chủ tịch Tập Cận Bình rằng Trường Sa “thuộc về Trung Quốc từ thời xa xưa”.

Khi được VOA Việt Ngữ hỏi về phản ứng đối với tuyên bố của nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông Sang nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa “thực sự thuộc về tổ quốc Việt Nam của chúng tôi”.

Nguyên thủ Việt Nam nói tiếp: “Người Trung Quốc, trong những lần gặp gỡ Việt Nam, cũng thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc, không gì tranh cãi. Thì người Việt Nam chúng tôi cũng nói lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam, không gì tranh cãi. Chắc các câu này các bạn đã nghe suốt”.

Ông Sang nói thêm: “Vấn đề đặt ra là chúng tôi mong muốn rằng mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng luật pháp quốc tế và con đường duy nhất dẫn đến chỗ đó thôi, chứ không thể nói mãi như thế này được. Một anh đứng ở bên đây sông thì nói là của tôi, và một anh đứng ở bên kia sông thì nói là của anh. Như tôi đã nói với các bạn vừa nãy, trong lúc quá độ, hai bên đều thống nhất 6 nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo các vấn đề trên biển”.

Tuyên bố của ông Sang được đưa ra tại Hội châu Á ở New York, ít ngày sau khi Chủ tịch Trung Quốc trả lời tờ The Wall Street Journal rằng Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa.

Ông Tập nói hôm 22/9 rằng hoạt động mà Trung Quốc “thực hiện trên một số những hòn đảo và bãi cạn ở quần đảo Nam Sa không ảnh hưởng hoặc nhắm tới bất kỳ quốc gia nào khác”, và “việc này không nên bị diễn giải quá đáng”.

Trong bài phát biểu tại Hội Á châu, ông Sang cũng đề cập tới 6 nguyên tắc cơ bản mà Việt Nam đồng ý với Trung Quốc để giải quyết vấn đề biển Đông trong tình thế hiện thời.

Ông cho biết: “Chúng tôi hết sức chủ động bàn với Trung Quốc rằng trong khi tìm một giải pháp lâu dài, cơ bản mà hai bên có thể chấp nhận được, thì phải kiểm soát tình hình, kiểm soát hoạt động, không thể để cho xung đột xảy ra. Ý tưởng này đã dẫn tới thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản, chỉ đạo các vấn đề trên biển đã được ký cách đây mấy năm”.

“Rất tiếc rằng trong quá trình diễn ra trên thực tế ở trên biển diễn ra không đúng như mong muốn của cả hai bên bằng thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản”, ông Sang nói. Chủ tịch Việt Nam không nói rõ điều đáng tiếc này là gì.

‘Trước sau như một’

Về các nguyên tắc trên, Chủ tịch Việt Nam cũng cho biết là chính quyền Manila cũng quan tâm.

Ông nói thêm: “Nội dung đó, khi tôi gặp các bạn Philippines, họ cũng thắc mắc và lo lắng không biết Việt Nam thỏa thuận gì với Trung Quốc. Tôi có nói rằng vấn đề song phương thì Việt Nam và Trung Quốc bàn với nhau. Còn vấn đề đa phương, chẳng hạn như Trường Sa thì liên quan tới 5-6 bên, thì rất khoát phải có hành vi liên quan để cùng với các bạn giải quyết với Trung Quốc vấn đề tranh chấp trên biển”.

Chủ tịch Việt Nam nói tiếp: “Ngài Tập Cận Bình khẳng định Nam Sa từ lâu là của Trung Quốc thì chúng tôi cũng nói lại rằng đối với chúng tôi, lập trường trước sau như một không thay đổi. Chúng tôi gọi đó là Trường Sa và Hoàng Sa, trước sau như một thuộc về Việt Nam chúng tôi. Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về lịch sử và thực tiễn pháp lý để xác định chủ quyền của Việt Nam”.

Ông Trương Tấn Sang tới New York để tham dự các cuộc họp cấp cao của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc từ ngày 24 – 28/9.

Hôm 25/9, ông đã đưa vấn đề biển Đông vào bài phát biểu tập trung vào mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc.

Hôm nay, Chủ tịch Việt Nam sẽ rời Hoa Kỳ để đi thăm chính thức quốc gia cộng sản Cuba.

Trong một diễn biến mới nhất liên quan tới biển Đông, hôm nay, phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Barack Obama một lần nữa nhấn mạnh tới quyền lợi quốc gia của Mỹ đối với việc duy trì các nguyên tắc cơ bản về tự do hàng hải và dòng chảy thương mại.

Người đứng đầu Nhà Trắng cũng nói tới quyền lợi của Washington trong việc “giải quyết tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, chứ không phải đe dọa vũ lực”.

“Chúng tôi sẽ bảo vệ các nguyên tắc đó, trong khi khuyến khích Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền khác giải quyết các khác biệt một cách hòa bình”, ông Obama nói.

Có Đi Có Lại – Mới Toại Lòng Nhau

Có Đi Có Lại – Mới Toại Lòng Nhau

Bài Ghi Ngắn của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tại nông thôn của ta từ xa xưa, thì bà con sống đùm bọc gắn bó với nhau thật là chặt chẽ. Vì thế mà có sự liên đới tương trợ, gia đình này giúp đỡ gia đình khác một cách rất hồn nhiên, thỏai mái trong mọi trường hợp. Bà con trao đổi miếng ăn thường ngày với nhau hoặc chuyên giúp đỡ nhau trong các vụ hiếu hỷ như đám tang đám giỗ hay lễ cưới lễ hỏi v.v…

Chuyện bà con chia sẻ với nhau như vậy, thì trong tiếng Mỹ người ta cũng thường nói: “To live is to share” (Sống là Chia sẻ với nhau). Dân gian ta từ lâu cũng hay nói: “bánh ít gửi đi, bánh quy gửi lại” để diễn tả cái mối quan hệ trao đổi hai chiều giữa con người với nhau (two-way communication).

Ngày nay, với tình trạng đô thị hóa càng mở rộng, thì người dân sống tại các thành phố không còn giữ được cái khung cảnh nền nếp thân thương chan hòa giữa các gia đình với nhau như xua nữa. Đó là cái mặt trái không sao tránh khỏi do sự phát triển kỹ nghệ trong xã hội đem lại.

Để chấn chỉnh tình hình suy thóai như thế trong nếp sống tình cảm nơi các đô thị, nhiều tổ chức do các tôn giáo cũng như các nhóm chuyên họat động về văn hóa xã hội đã có sáng kiến phát động những chương trình cải thiện nếp sống cộng đồng tại các khu phố nghèo nàn chật hẹp – mà thường gọi là “khu ổ chuột” (slums).

Đồng thời họ cũng gây áp lực đòi hỏi cơ quan nhà nước phải đầu tư nhiều hơn nữa trong việc cung cấp những dịch vụ xã hội thiết yếu cho tầng lớp người dân lao động như nhà giữ trẻ, trường học, bệnh viện, viện mồ côi, nhà chăm sóc người già v.v…

Từ đó, mà chính sách “An ninh Xã hội” (Social Security) lần hồi được hình thành và với thời gian chính sách này đã đạt tới mức độ hòan thiện như ta thấy tại nhiều quốc gia văn minh tiến bộ ngày nay trên thế giới. Qua hệ thống An ninh Xã hội như vậy, những viên chức trong cơ quan chính quyền nhà nước hiện đang thực hiện đúng cái vai trò của người “đày tớ phục vụ quần chúng nhân dân” – mà trong tiếng Anh người ta gọi đích danh là “public servants”.

Rõ ràng nhân dân là những người “đóng thuế” cho nhà nước (taxpayers), thì đổi lại họ có quyền đòi hỏi phải được viên chức chính quyền phục vụ một cách thật là trân trọng tương xứng. Như thế, mói đích thực là “Có Đi, Có Lại – Mới Tọai Lòng Nhau” vậy./

Lừa tiền cơm, cậu bé ăn xin bị giữ lại, 20 năm sau…

Lừa tiền cơm, cậu bé ăn xin bị giữ lại, 20 năm sau…

Đôi khi, một câu nói có thể làm thay đổi cuộc đời của một con người. Đôi khi, chỉ có lòng tốt và sự hiền lành thôi thì chưa đủ. Đôi khi, cuộc sống sẽ cho mỗi người một cơ hội nữa…

Một ngày, sau khi hết tiết giảng và trở về văn phòng, bảo vệ đưa đến cho tôi một số tiền cùng hóa đơn thanh toán. Cả chục triệu đồng tiền nợ… Tôi thấy rất kỳ lạ, không nhớ nổi là đã cho ai mượn số tiền này. Nhìn vào cột người gửi, tôi thấy viết “Cậu bé ăn xin của 20 năm trước“… mọi kỷ niệm chợt ùa về. Tôi tự hỏi, chẳng lẽ là cậu bé đó sao?

20 năm trước, hồi đó mẹ tôi còn làm nghề bán hàng cơm cho học sinh ở cổng trường học. Bà thấy nhiều đứa trẻ rất khổ và đáng thương nên luôn làm những hộp cơm ngon hơn mà chỉ bán với giá rẻ. Vì thế học sinh đến mua cơm rất đông.

Hồi đó mẹ tôi còn làm nghề bán hàng cơm cho học sinh

Tôi vừa tốt nghiệp đại học, đang chờ được phân công tác, nên đã ra phụ mẹ bán cơm. Trong một lần bận rộn phục vụ những em học sinh vừa tan học, tôi bỗng nhiên cảm thấy ai đó đi qua quệt phải lưng mình. Đó là một cậu bé chừng 10 tuổi, mặc một bộ quần áo mỏng, rách tả tơi, trong khi trời đã bắt đầu vào đông.

Khi đó, như đã rất quen thuộc, mẹ tôi liền mỉm cười rồi đưa cho cậu bé một hộp cơm. Không đợi tôi cầm hộ, cậu bé vội giật lấy cơm, ném tiền vào hộp rồi chạy mất. Một học sinh bên cạnh tức giận nói: “Thằng ăn mày này toàn lừa tiền cơm, rất nhiều lần đều như vậy, nếu lần sau còn thế thì phải dạy cho nó một trận!” Tôi ngạc nhiên kiểm tra lại hộp tiền, thì thấy quả thực là cậu bé chỉ đưa có 1 tờ 200 đồng.

Khi tôi trách mẹ quá sơ ý, bà nói: “Mẹ biết mỗi lần thằng bé chỉ bỏ vào đó 1 tờ 200 đồng. Chỉ có điều ta cũng nên giữ đạo nghĩa. Đứa trẻ này đã mất cả cha lẫn mẹ, rất đáng thương, mẹ cũng chỉ có thể giúp nó đến như vậy.

Mẹ tôi luôn làm những hộp cơm ngon hơn mà chỉ bán cho những đứa trẻ với giá rẻ bèo (Ảnh: Extraordinary Amazonaws)

Tôi không đồng ý nói: “Mẹ thật quá hồ đồ, đây mà là giúp cậu ta sao?” Nhưng tôi chưa kịp nói xong thì đã bị mẹ la mắng. Tôi biết rõ là dù có nói gì cũng vô dụng, mẹ suốt ngày niệm Phật, chỉ một lòng muốn giúp người khác, nhưng lại không nghĩ sâu hơn. Thế là tôi đột nhiên muốn xử lý thật tốt chuyện này.

Ngày hôm sau, cậu bé ăn xin lại tới. Cậu ta vẫn giành lấy cơm như những lần trước, ra vẻ rất vội vàng và chuẩn bị ném tiền vào hộp. Lúc đó tôi thình lình nắm lấy tay cậu… tờ tiền ít ỏi rơi ra ngoài. Mọi người đều quay lại nhìn, làm cậu bé rất bối rối, xấu hổ, và chực khóc. Lúc đó tôi cười nói: “Mua như vậy thì không đủ ăn đâu! Em cứ lấy cơm đi, phần còn thiếu sau này hãy trả.” Nói xong tôi thả tay cậu ra.

Cậu bé sợ hãi cầm hộp cơm, ánh mắt tràn đầy nghi hoặc. Tôi lại bảo: “Đi đi, anh biết rõ em nhất định sẽ trả! Nhớ nhé! Sau này phải trả cả vốn lẫn lãi!” Cậu bé suy nghĩ mất một lúc, rồi sau đó im lặng quay người, đi thẳng từng bước một, chứ không còn chạy như trước kia nữa.

Kể từ đó, cậu vẫn thường đến ăn, và trả 200 đồng…

Đang suy nghĩ miên man thì anh Trương lại vội vã quay lại nói với tôi: “Tôi quên! Còn một phong thư nữa!

Nhận lấy phong thư, tôi vội vàng mở ra đọc. Trong thư viết:

“Tôi cuối cùng đã tìm được địa chỉ của anh. Suốt bao năm tìm kiếm, tôi mới có thể đem tiền trả lại, mới có thể hoàn lại ân tình 20 năm về trước. Lúc đó tôi đã lang thang khắp nơi, thường xuyên chịu đói rét. Một lần tôi tới cổng trường học giả vờ mua một hộp cơm. Tôi ném thử tờ 200 đồng vào hộp rồi nói xin mua cơm. Lúc đó tôi nghĩ, dù có bị phát hiện đi nữa thì dì bán cơm cũng rất hiền lành, sẽ không trừng phạt tôi. Nhưng dì cũng không phát hiện ra, tủm tỉm cười rồi đưa tôi một hộp.

Sau đó tôi bắt đầu dựa vào thủ đoạn và mánh khóe để có được bữa ăn. Tôi cảm thấy người tốt trong xã hội rất dễ bị lừa. Tôi thường xuyên nói dối, và trộm đồ trong hành lang, còn định trộm cả trong cửa hàng nữa. Lần đó khi bị anh tóm lấy, tôi đã nghĩ mình vậy là xong rồi, bị đánh rồi. Nhưng tôi đã không phải chịu trận đòn nào, mà lại còn được anh thả đi. Những lời nói của anh đã bảo vệ danh dự cho tôi, khơi dậy trong tôi mong muốn làm người tốt thực sự. Trong những năm sau này, mỗi khi nhớ đến ánh mắt của anh, tôi lại có thể tránh xa những điều xấu. Và dù phải tìm kiếm khắp nơi, dù phải đi bao xa, mất bao nhiêu thời gian, tôi vẫn muốn hoàn thành lời hẹn ước cũ.”

Mỗi khi nhớ đến ánh mắt của anh, tôi lại có thể tránh xa những điều xấu ở những đứa trẻ ăn xin khác…

Và sự thành thật của cậu bé ăn xin cuối cùng đã được đền đáp…

“Một ngày nọ, khi nhìn thấy tôi ngồi co ro vì giá rét, một phụ nữ đã trở về nhà mang cho tôi mấy chiếc áo. Sau đó tôi phát hiện trong túi áo có rất nhiều tiền. Lúc đó tôi rất đói, rất muốn giữ lại số tiền này, nhưng ánh mắt của anh lại hiện lên làm tôi thay đổi ý nghĩ. Tôi phải mất cả ngày mới tìm được nhà người phụ nữ nọ. Hai vợ chồng họ đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi tới trả lại tiền. Họ khóc nức nở ôm tôi vào lòng, rồi liên tục nói tôi là đứa trẻ tốt. Khi đó con gái hai vợ chồng vừa bị bệnh mà qua đời, tôi may mắn trở thành con nuôi của họ. Cuộc sống từ đó trở nên tốt hơn, tôi được cha mẹ nuôi thương yêu hết mực, được đi học. Giờ tôi đã trở thành giáo viên…”

Giờ đây đứng trên bục giảng, chắc chắn cậu bé ăn xin năm xưa sẽ nói với học sinh của mình rằng: Chỉ có thành thật mới mang lại hạnh phúc! (Ảnh: Nature World News)

Đúng là cậu ta! Quả là một niềm vui ấm áp. Tôi thầm cảm thấy may mắn vì đã không vô tình hủy hoại một con người. Cậu bé ăn xin học được đức tính thành thật ngay thẳng, vì vậy mà đã gặp một gia đình tốt.

Giờ đây đứng trên bục giảng, chắc chắn cậu bé ăn xin năm xưa sẽ nói với học sinh của mình rằng: “Chỉ có thành thật mới mang lại hạnh phúc!

Khúc ruột ngoài da

Khúc ruột ngoài da

Tạp ghi Huy Phương


Theo định nghĩa chữ “kiều” là “ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác” nên những người này thường được gọi là kiều cư, kiều dân. Chế độ Cộng Sản ở trong nước dùng chữ Việt kiều hay kiều bào để chỉ chung những người Việt hiện đang sống ở hải ngoại. Đây không phải là kiểu dốt chữ nhưng họ có thâm ý “nhận vơ” cho rằng những người Việt này là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài.

Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh ở Hà Nội, cơ quan phụ trách ra vào Việt Nam
của “Việt Kiều.” (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Do sự “nhận vơ” đó mà ông Trương Tấn Sang trong dịp được Tổng Thống Mỹ Barack Obama tiếp kiến ở Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Bảy, 2013, đã cám ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn vô duyên, khá trơ trẽn, có lẽ trong thâm tâm hay cố tình, ông Sang cho tất cả những người Việt ở Mỹ đều là con dân của chế độ Cộng Sản Việt Nam, trong khi thực chất Việt kiều của ông chỉ là những người Việt du học tạm thời, nhân viên ngoại giao, mang thông hành Việt Nam đang ở Mỹ.

Trong một bài viết về Học Viện Quân Sự West Point của Hoa Kỳ bằng tiếng Việt, một tác gỉa trong nước đã hạ bút rằng: “Sinh viên người Việt ở West Point khá đông, nhưng đều là Việt kiều…” thật tình tôi không hiểu hết ý của tác giả, và đây là một câu khá ngớ ngẩn.

Tại Trung Quốc, khái niệm “Hoa Kiều” mang tính cách đứng đắn hơn, vì “Hoa Kiều” chỉ để nói đến những người còn mang quốc tịch Trung Quốc đang “ở nhờ” bên ngoài đất nước của họ. Còn nếu như muốn nói đến tất cả mọi người gốc Hoa tại nước ngoài, không kể họ đang tạm trú hay là thường trú nhân, có quốc tịch hay không có quốc tịch, thì các cơ quan truyền thông nước này dùng danh từ “Hải Ngoại Hoa Nhân” (người Hoa ở hải ngoại). Chúng ta, nhất là những người trong nước, phải dùng danh từ “người Việt hải ngoại” để gọi những người Việt đang sinh sống ở nước ngoài mà không thể cá mè một lứa, hễ cứ người Việt ở ngoại quốc, ai cũng là… “Việt Kiều.”

Những ai đã sống dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa hẳn đã không quên “Hoa Kiều” tập trung ở Chợ Lớn, họ di cư sang Việt Nam từ mấy đời trước, làm ăn buôn bán, sinh con đẻ cái, nhưng không chịu vào quốc tịch Việt Nam. Chính phủ Ngô Đình Diệm, không những đã ra sắc luật cấm ngoại kiều, bất cứ Chà Và hay Tàu Chợ Lớn, đang sinh sống tại Việt Nam làm tám nghề chính liên quan đến huyết mạch kinh tế, mà còn bắt buộc những người cư trú lâu đời phải nhập tịch Việt Nam, từ đó, họ không còn là “ngoại kiều” nữa, mà trở thành “người Việt gốc Hoa” tồn tại cho đến ngày nay. Vậy thì ngày nay chúng ta nhận là “người Mỹ gốc Việt” hay “người Úc gốc Việt” là chính danh.

Vậy thì chính phủ Cộng Sản cũng đừng bao giờ nhận vơ những Dương Nguyệt Ánh, Lương Xuân Việt, Alan Phan là Việt Kiều. Có điều lạ là chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19 Tháng Năm của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam “về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới” có 2,199 chữ, nhưng không hề có một chữ “Việt kiều” nào. Tuy vậy trong Bách Khoa Toàn Thư tiếng Việt, người ta vẫn còn dùng chữ một cách lơ lửng: “Việt kiều hay người Việt hải ngoại…”

Nói chung toàn bộ người Việt hiện nay ở ngoại quốc, có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có gần 2 triệu người ở Mỹ là những người Việt ở hải ngoại, phần lớn là người tị nạn, không mang quốc tịch Việt Nam (khi ra đi đã bị “cắt” hộ khẩu) không thể gọi đây là Việt kiều!

Nếu nhắm vào các sinh hoạt của người Việt ở ngoại quốc, chúng ta sẽ khẳng định ai là Việt kiều, ai là không. Việt kiều là những người mang cờ đỏ sao vàng, thường tụ tập tại các sứ quán Việt Nam Cộng Sản trong các dịp lễ, Tết, sắp hàng đón tiếp các quan chức Cộng Sản sang thăm nước họ đang sinh sống hoặc “hồ hởi” về nước tham gia các buổi hội nghị hay đón tiếp để được mang thêm hai chữ “yêu nước!”

Nghĩa tốt xấu của mỗi Việt kiều tùy theo hoàn cảnh, được báo chí trong nước loan tin.

Nếu một Việt Kiều Mỹ hay Úc về nước lường gạt thì đó là một người Việt tha phương cầu thực đang sinh sống ở nước ngoài, nhưng nếu là một Việt kiều tiếng tăm, thành công vượt bực thì đó chính là một người gốc gác Việt Nam, khúc ruột ngàn dặm thương yêu trìu mến của chúng ta.

Cộng Sản là bậc thầy của chuyện đổi giọng và đổi trắng thay đen, cho nên Việt Kiều nguyên xưa kia, chỉ là “những kẻ chạy theo bơ thừa sữa cặn của Đế Quốc Mỹ” nay đã hóa thân thành “khúc ruột ngàn dặm, một thành phần không thể thiếu của tổ quốc.” Và chúng lên mặt kẻ cả dạy dỗ: “Ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống,” cũng như sẽ “phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú.”

Trước kia những nhà đại trí thức như Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng nghĩ lầm là Việt Cộng yêu nước mà trở về, mới sống trong tai ương, chết trong vùi dập. Ngày nay, bài học của những Việt Kiều cỡ lớn như Nguyễn Trung Trực (Úc), Trịnh Vĩnh Bình, (Hòa Lan), Nguyễn Gia Thiều (Pháp), Nguyễn An Trung (Nhật), Nguyễn Đình Hoan (Mỹ)… đến Việt kiều “tép” như Trần Trường đã cho chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là Cộng Sản.

Gần đây việc một “Việt Kiều” tên Bùi Văn Tánh, nguyên dân Nha Trang, năm 1980 vượt biển đến Mỹ, định cư tại Mỹ đã 25 năm, trở về cố quốc bị công an bắt giữ về tội vượt biên trước đây. Tị nạn ở hải ngoại hiện nay có bao nhiêu người mang tội vượt biển, vượt biên trái phép, trốn trại, cướp tàu, trốn thuế, hối lộ chính quyền địa phương, mua bãi, “sở hữu hai bao cao su đã dùng rồi,” tội còn sờ sờ ra đó!

Chúng ta “được gọi” là “khúc ruột ngàn dặm” nhưng 40 năm qua chúng ta đã chịu bao cảnh “ruột héo, gan bầm,” đoạn trường (đứt ruột!) khi phải bỏ nước ra đi.

Tiền Baht và Tiền Bác

Tiền Baht và Tiền Bác

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão Nông

Tôi dừng chân ở Bangkok (lần đầu) vào một buổi chiều Hè, năm 1980. Đây cũng là thời điểm tôi mới làm quen với cuộc sống tha hương nên đã ghi lại vài chục câu thơ (hơi) ướt át:

Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê

Chiều về trên xứ lạ
Xe ngược xuôi trăm đường
Trăm ngàn khuôn

Chiều về trên xứ lạ
Excuses me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề

Chiều về trên xứ lạ
Thoáng thấy mình trong gương
Tôi nhìn tôi bối rối mặt lạ
Mong một người đồng hương
Sao trông mình thảm thương

Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây rượu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao

Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha ơi đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)

Thì cũng nói cho nó bảnh, và nghe cho có vần điệu (chơi) vậy thôi chớ tiền đâu ra mà … “dừng chân nơi quán lạ” – hả Trời? Tui “chuồn” ra Bangkok, từ một trại tị nạn chuyển tiếp, và trong túi chỉ có vỏn vẹn mỗi một đồng đô.

Vào thời điểm này, một Mỹ Kim tương đương với 24 đồng tiền baht. Xe bus lượt đi lượt về đã mất hết 4 baht rồi, tô mì xe giá 5 baht, chai Coca Cola 3 baht nữa. Tiền còn lại chỉ đủ mua (lẻ) vài điếu thuốc lá Samit nữa thôi.

Không lẽ “dừng chân nơi quán lạ” uống (đại) dăm chai bia Singha rồi bỏ chạy sao? Mà chạy đi đâu giữa kinh đô Vọng Các xa hoa, và xa lạ này?  Đ… mẹ, tui chỉ (thường) say thôi chớ có điên hồi nào đâu – mấy cha?

Tiền Baht. Ảnh: fotolibra.com

Ba mươi lăm năm sau, tôi trở lại chốn xưa (vào mùa Hè năm 2015) với cả … đống U.S.A dollar trong túi. Tiền đã nhiều mà một Mỹ Kim hôm nay còn đổi được tới 35 đồng baht lận. Tuy vậy, mãi lực của tiền Thái không còn được như xưa nữa.

Giá xe bus đã lên hơn gấp bốn, tới 9 baht. Và đó là loại xe không máy lạnh, dành cho người nghèo. Nghe nói nay có loại xe điện mới, rất tân kỳ (lạnh ngắt và sạch bóng) đi lại trong thành phố rất tiện nhưng tôi chưa có dịp thử nên không biết giá cả ra sao.

Tô mì hôm nay đã giá gấp 7 rồi, 35 baht. Chai Coca Cola cũng vậy, 10 baht chớ không còn 3 baht như hồi năm cũ  nữa. Lương bổng, lợi tức của người dân Thái – tất nhiên – cũng tăng, và chắc là tăng kịp với đà lạm phát nên không nghe thiên hạ ca cẩm gì nhiều về nạn vật giá leo thang, như ở Việt Nam. Mọi người, xem ra, có vẻ hài lòng với cuộc sống tương đối an lành và phú túc mà họ đang được hưởng.

Khác với những quốc gia láng giềng, dường như, không có cái khoảng cách hay sự tương phản nào (rõ nét) giữa mức sống giữa nông thôn và thành thị ở Thái Lan. Những người chạy taxi, và ngay cả xe tuck tuck, hay xe ôm nữa –  nơi xứ sở này – trông cũng tự tin và thoải mái hơn đồng nghiệp của họ ở Cambodia, hay Lào.

E là mình chủ quan nên tôi viết thư hỏi một anh bạn, người đã sống ở Thái Lan từ năm 1992, hiện là một trong những thông tín viên thường trực của RFA ở Bangkok. Qua ngày sau, tôi nhận được hồi âm:

Anh Tư mến,

Em đọc thư anh viết từ hôm qua, song bận quá giờ mới viết trả lời anh được.

Đợt vừa rồi tìm hiểu để viết về cuộc sống của những người Việt tỵ nạn ở Thái lan, đặc biệt là những người Thượng Tây nguyên thì vượt quá sức tưởng tượng của em.

Họ khổ quá, thương họ quá dù rằng mình cũng hiểu phần nào song không hình dung trên thực tế thì nó là như thế.

Chuyện lương của cháu K. 300$/tháng (9,000 baht) là mức lương tối thiểu của một lao động phổ thông người Thái theo quy định của nhà nước. Mức lương đó mà dành cho 03 người thì khá vất vả, vì riêng tiền thuê nhà ở Bangkok một phòng 12-14 m2 có nhà vệ sinh tồi nhất cũng phải mất 2-2,500 baht. Số tiền còn lại còn trăm thứ phải tiêu: diện, nước, internet và ăn uống tiêu dùng.

– Lương của một Hạ sỹ quan CS Thái lan khoảng 18,000 baht

– Lương của một Sỹ quan CS Thái lan mới ra trường khoảng 20,000 baht.

– Lương cho giáo viên thì rất cao, bằng khoảng 130% của lương viên chức khác.

– Lương của một viên chức trung bình khoảng 23,000 baht.

Nhìn chung lương viên chức ở Thái lan thì thấp, song họ có các chế độ đãi ngộ khác kèm theo khá tốt như các vấn để an sinh xã hội dành cho người nhà của viên chức như bố, mẹ, vợ con v.v…

Mặt khác ở Thái lan có chế độ giáo dục miễn phí 12 năm, chữa trị y tế hoàn toàn free 100%, có trợ cấp cho người già, người tàn tật. Vì vậy với mức lương trung bình 23,000 baht/tháng cũng đủ sống không phải kiếm thêm. Hầu như không thấy hiện tượng viên chức người Thái phải làm thêm. Hầu như đối tượng này có nhà riêng và xe hơi.

Những người có khả năng thì họ đi làm cho các công ty tư nhân, lương cao hơn khoảng 140% so với lương viên chức.

Vật giá ở Thái lan khá rẻ. Thức ăn bán sẵn cho 03 người một bữa có 03 món thịt, cá và canh khoảng 100 baht là tạm ổn, cơm thì nấu ở nhà.

Lái xe taxi cũng là một nghề tự do kiếm tiền khá, song nếu phải thuê xe thì một ngày cũng phải trả tiền thuê khoảng 7-800 baht/ngày nên cũng chẳng thừa được bao nhiêu. Còn lại khoảng 7-800 baht/ngày sau khi trừ tiền mua gaz.

Có xe riêng thì được nhiều. Chạy xe ôm là việc dễ làm, chỉ cần có moto và trả phí hàng ngày chừng 50-60 baht cho chủ bến (Cảnh sát) thì mỗi ngày chịu khó cũng kiến được khoảng 1,000 baht.

Lạm phát ở nước Thái thì ít so với VN, em ở bên này 23 năm thì thấy vật giá mới tăng khoảng 150%, thế cũng là phù hợp với tốc độ suy thoái kinh tế toàn cầu. Tất nhiên cũng phải kể đến nguyên nhân chính là việc nâng mức lương tối thiểu của lao động phổ thong từ 6,000 baht/ tháng lên 9,000 baht/tháng.

Em viết vội cho anh như vậy, có gì cần biết anh cứ bảo em nhé.

Chúc anh khỏe.

Ở VN thì đơn vị tiền tệ không phải là tiền baht mà là tiền Bác. Đồng tiền này được lưu hành trên toàn quốc từ ngày 23 tháng 9 năm 1975. Sự kiện này được báo Sài Gòn Giải Phóng (số ra ngày 27 tháng 9 cùng năm) ghi lại thế này đây:

Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Tiền Bác. Ảnh: facebook

Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức mới có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.”  (Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Thảo nào mà trong dân gian không thiếu những câu thơ (nghe) hơi thừa cay  đắng:

Máu rợn mùi tanh, cuộc đổi đời

Ba lần cướp trắng lúc lên ngôi

Miền Nam “ruột thịt” âm thầm hiểu: 

Cách mạng là đây: bọn giết người !

Mà đắng cay là phải vì hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong mười quốc gia có đồng tiền trị giá thấp nhất thế giới, , theo như ghi nhận của dondwest.hubpages.com/hub/Worthless-Fiat-Currency:

1. Somalia
2. VIETNAM
3. São Tomé and Príncipe
4. Iran
5. Indonesia
6. Laos
7. Guinea
8. Zambia
9. Paraguay
10. Sierra Leone

Theo thời giá thì 100 baht, nếu tiện tặn, có thể đủ tiền chợ nguyên ngày cho một gia đình ba người. Còn 1.000 ngàn đồng tiền Bác thì ngay cả đến giới ăn xin cũng không muốn nhận – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, trên Vietnamnet:

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá!’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Ảnh: vtc

Lý do khiến đồng Bác bị nhân dân, cũng như nhân loại, rẻ rúng được nhà báo Nguyễn Vũ Bình lý giải như sau:

“Nhà nước VN, từ khi thành lập tới nay, đều giữ bí mật về lượng tiền in ra, phát hành. Ngoài mấy lần đổi tiền, làm người dân vô cùng điêu đứng, thì khi bước vào chuyển đổi cơ chế kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường cũng liên tục vi phạm nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và năng lực của sản xuất của nền kinh tế.

Việc in tiền không căn cứ và không có giới hạn khiến cho giá cả hàng hóa năm nào cũng tăng ít nhất từ 20-50%/năm (trong khi các nền kinh tế thị trường chỉ từ 5-7%). Đồng tiền mất giá đã bóp méo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giảm mức sống mà người dân đáng ra phải được hưởng…”

Những cái “người dân đáng ra phải được hưởng” – xem chừng – mỗi lúc một xa khỏi tầm tay, và càng ngày thì cuộc sống càng thêm “điêu đứng.”  Đã đến lúc mà vấn đề được đặt ra theo một chiều hướng khác, thách thức thấy rõ:

“Liên tiếp trong một thời gian ngắn, xăng và điện tăng giá, một số thành phố sẽ thu phí đường bộ đối với xe máy từ ngày 1-7 tới… Tiền điện tăng 100%, giá xăng dầu được dự báo vẫn theo chiều hướng tăng vọt dù giá nhập giảm tới… 40%, nồi cơm của nhiều gia đình chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi thu nhập không tăng kịp theo tương xứng. Nhiều bà nội trợ chắc chắn sẽ chật vật vì phải cắt khoản chi tiêu này, giảm khoản kia để tổ ấm của mình tồn tại…

Ảnh: Pháp Luật

Trong cuộc sống sự nhẫn nại là một đức tính tốt nhưng vấn đề là nhẫn nại của chúng ta có giới hạn không?” (Benjamin Ngô. “Sự Nhẫn Nại Của Chúng Ta.” Báo Pháp Luật, số ra ngày 28 tháng 6 năm 2015).

Tôi may mắn không “phải” sống ở Việt Nam nên không dám lạm bàn chi về mức độ “giới hạn nhẫn nại” của đồng bào mình. Lêu bêu ở xứ người, đôi lúc, tôi chỉ trộm nghĩ rằng giá mà đừng có Bác (và mấy đồng bạc của Người) thì thiệt là đỡ khổ cho dân Việt biết chừng nào!