No U No XI

No U No XI
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Hà Nội sáng ngày 3 tháng 11 năm 2015 diễn ra được là điều thật bất ngờ. Vì lực lượng an ninh Cộng Sản đã có kế hoạch đàn áp từ nhiều ngày trước, khi 21 tổ chức cùng ký tên kêu gọi đồng bào tập họp phản đối chuyến đi của Tập Cận Bình. Ngoài những biểu ngữ quen thuộc như: Ðả đảo Trung Quốc xâm lược, hoặc Hoàng Sa-Việt Nam, Trường Sa-Việt Nam, bà con còn trương lên một khẩu hiệu mới: “Phản đối lệ thuộc Trung Cộng.” Bốn chữ “Lệ thuộc Trung Cộng” có thể coi như một danh từ, gọi đích danh thủ phạm, tên của một đảng và một chính quyền!

Những người dự cuộc biểu tình đều mang nét mặt đăm chiêu cương nghị chứ không tươi cười như mọi lần trước, bởi vì họ biết công an đang chụp hình, sẽ theo dõi, và sẽ bắt bớ, giam cầm, hành hạ. Nhưng họ vẫn bất chấp mọi thử thách, hiên ngang tiến bước, vì quyết tâm bảo vệ tổ quốc. Nhiều người, nam, nữ, người lớn tuổi và thanh thiếu niên, mặc áo thung chữ T với khẩu hiệu NO U và NO XI!

Hai chữ NO XI, viết tiếng Anh cho cả thế giới hiểu, nghĩa là không đồng ý đón tiếp Tập Cận Bình (tên là Xi Jin Ping, phiên âm lối Bắc Kinh). NO U nghĩa là không chấp nhận vùng biển hình chữ U của Cộng Sản Trung Quốc bao gồm tất cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa coi là lãnh hải Trung Hoa, người Việt còn gọi là “đường lưỡi bò,” Trung Cộng gọi là “Cửu Ðoạn Tuyến.” Ngực áo NO U có vẽ bản đồ biển Ðông Nam Á, tô đậm vùng chữ U này với hai nét gạch chéo xóa bỏ.

Phong trào NO U mới tổ chức cuộc họp mặt kỷ niệm bốn năm kể từ ngày phát động phong trào. Từ mấy tuần qua trên Facebook khắp thế giới cũng được coi hình ảnh bốn người Việt yêu nước đeo tấm bảng NO XI trên ngực, đứng giữa đường với những khuôn mặt tự tin rạng rỡ. Họ đã biểu tình trên mạng trước khi thực hiện trên đường phố Hà Nội.

Những người dự cuộc biểu tình ngày hôm qua biết chắc sẽ bị đàn áp, vì trong tuần trước cuộc họp mặt kỷ niệm bốn năm hoạt động của anh chị em NO U đã bị công an trấn áp từ trước khi bắt đầu. Khi các thành viên NO U mới tề tựu, đã có mấy người vào trong quán, chiếc xe của họ bị chụp hình cho thấy cái mũ sĩ quan công an. Anh chị em NO U đang họp mặt thì đèn trong quán tắt ngúm, trong cả khu vực chỉ có một nhà hàng này bị cúp điện. Sau đó, một nhóm côn đồ chạy vào quán phá phách, đánh đập nhiều người rồi biến đi rất nhanh. Trong lúc điện tắt, mấy tay công an ngồi nhậu từ trước cũng biến luôn, cũng không trả tiền thức ăn và tiền rượu! Công an Cộng Sản không bỏ được thói ăn quỵt trong lúc làm nhiệm vụ trấn áp người Việt yêu nước!

Trước khi Hà Nội trải thảm đó đón rước Tập Cận Bình, báo chí quốc tế đã nghe nhiều người Việt lên tiếng và đăng lại. Ông Lã Việt Dũng nói với đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA rằng khi nào Trung Quốc vẫn còn tiếp tục chính sách bành trướng ở Biển Ðông thì dân Việt không muốn tiếp ông Tập Cận Bình. Blogger Lê Anh Hùng nhận xét rằng nhân dân Việt Nam lo cho chủ quyền đất nước hơn là giới lãnh đạo chính quyền. Ông yêu cầu họ phải lắng nghe tiếng nói của người dân.

Chính quyền Cộng Sản không nghe mà còn đàn áp không cho dân Việt được phát biểu ý kiến. Họ cấm các báo, các đài không được cho những người dân khác nghe những ý kiến chống Trung Cộng. Chắc phải rất hài lòng về hiệu quả đàn áp dân của đám đàn em, cho nên trước khi Tập Cận Bình qua nước ta tờ Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh đã khen ngợi, viết rằng: “…vấn đề Biển Ðông trong năm nay có xu hướng hạ nhiệt rõ rệt trong dư luận Việt Nam!”

Tại sao họ có thể nói phong trào phản kháng của dân Việt “hạ nhiệt rõ rệt?” Ký giả tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một cơ quan chính thức của Cộng Sản Trung Quốc, viết rằng: “Mở một trang báo Việt Nam bằng tiếng Anh hôm 29 tháng 10, chỉ thấy tin tức về các vấn đề kinh tế, dân sinh (mà không thấy tin dân chúng biểu tình chống Trung Cộng). Nhưng ngay người dân Trung Hoa cũng hiểu lý do: Cộng Sản Trung Quốc vẫn kiểm soát tất cả các cơ quan truyền thông. Ðám tay sai của chúng ở Việt Nam không bao giờ dám loan tin dân phản đối Trung Cộng!

Cũng vì bộ máy tuyên truyền ở nước ta phải làm tay sai cho cả Cộng Sản Trung Quốc, cho nên không một báo, một đài nào loan tin về bản tuyên bố của các nhà trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, phản đối cuộc công du sang Hà Nội của Tập Cận Bình. Nhưng bản tuyên bố này, được đưa lên mạng lấy chữ ký, đã trình bày những ý kiến thâm sâu, tha thiết của tất cả mọi người Việt, trước cảnh đất nước bị ngoại bang xâm lấn và đè nén.

Bản tuyên bố mở đầu với những lời khẳng định dân Việt Nam không thù nghịch mà biết xem trọng mối quan hệ hữu nghị láng giềng giữa nhân dân hai nước. Nhưng những người ký tên phải nêu lên những yêu cầu đối với giới lãnh đạo đảng Cộng Sản và nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Những lời yêu cầu tóm tắt như sau:

Thứ nhất, Cộng Sản Trung Quốc chấm dứt ngay những hành động đe dọa tính mạng, tài sản và quyền tự do đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của dân Việt, cụ thể là ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ nhì, bản tuyên bố “khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam mà nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực cưỡng chiếm năm 1974.” Vì vậy, cũng cảnh cáo: “Quyết tâm và nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam chúng tôi trong lịch sử ngàn năm chống xâm lược” là “không bao giờ quên mục tiêu giành lại từng tấc đất của tổ quốc!”

Bản tuyên bố nhấn mạnh thêm: “Chúng tôi cực lực phản đối việc nhà nước và đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo và bãi đá thuộc chủ quyền Việt Nam trong quần đảo Trường Sa và đang bồi đắp thành những cứ điểm quân sự ngăn chặn tự do hàng hải trên Biển Ðông.” Sau đó còn khẳng định: “Mọi âm mưu kìm hãm sự phát triển của đất nước chúng tôi để buộc đất nước này mãi mãi ở thế chư hầu là bất xứng với trí tuệ loài người, sẽ bị lịch sử nguyền rủa, và chắc chắn sẽ thảm bại!”

Sau những ý kiến nhắn cho ông Tập Cận Bình và Cộng Sản Trung Quốc, hai điểm còn lại của bản tuyên bố vạch rõ, dù không gọi đích danh, thái độ nhu nhược, hèn yếu của chính quyền Việt Nam hiện tại đóng vai trò tay sai nước ngoài.

Trước hết, bản tuyên bố minh định rằng “tình hữu nghị với bất cứ quốc gia nào” chỉ bền vững nếu hai bên tôn trọng lẫn nhau, khi một nước “luôn ở thế yếu hèn, không xứng tầm với đối tác” thì không thể nào kéo dài được.

Tiếp theo, những nhà soạn thảo bản tuyên bố nhắc đến giai đoạn “nước Trung Hoa bị đế quốc Nhật đô hộ từ năm 1937 đến năm 1945” để nhớ lại rằng “đã có một chính phủ tay sai Nhật được thành lập năm 1940 tại Nam Kinh” trong thời gian bốn năm (mà người Trung Hoa vẫn gọi là bọn Hán gian). Dùng thí dụ đó bản tuyên bố nói thẳng rằng hiện nay “chúng tôi chắc chắn rằng một số người Việt Nam cam tâm làm tay sai cho bọn bành trướng bá quyền, mà trong lịch sử chúng tôi đã có những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc,…” Những người đó “sớm muộn sẽ bị nhân dân Việt Nam chúng tôi vạch mặt.”

Cuối cùng, bản tuyên bố xác nhận, “Tình hữu nghị thật sự giữa nhân dân Trung Hoa và Việt Nam không thể dựa trên những phần tử phản bội dân tộc” và khẳng định rằng “nhân dân và đất nước chúng tôi chắc chắn sẽ loại bỏ trong tương lai” bọn phản bội này.

Từ khi phong trào phản kháng Trung Cộng cướp chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và bắn giết ngư dân Việt Nam, những người Việt viết kiến nghị hoặc đi biểu tình chưa hề công khai lên án những người Việt có trách nhiệm làm cho dân Việt thành nạn nhân của kế hoạch bành trướng của Cộng Sản Trung Quốc. Ngay trong các lễ tưởng niệm và các cuộc biểu tình nhân ngày giỗ các tử sĩ khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và đảo Gạc Ma năm 1988, ban tổ chức cũng tránh không nói thẳng đến thái độ nhu nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam về những biến cố này.

Cho nên bản tuyên bố phản đối chuyến công du của Tập Cận Bình, và cuộc biểu tình nêu đích danh bọn người “lệ thuộc Trung Cộng” cho thấy phong trào chống bành trướng đang thay đổi. Lịch sử sẽ ghi nhận biến chuyển này: Lần đầu tiên người dân đã công khai lên án “những người Việt Nam cam tâm làm tay sai cho bọn bành trướng bá quyền” và gọi đích danh đó là “những phần tử phản bội dân tộc,” là bọn “lệ thuộc Trung Cộng”

Chính “những phần tử lệ thuộc và phản bội” này đã âm mưu phá đám cuộc họp mặt của nhóm phát động phong trào NO U trong tuần trước. Ðó là một âm mưu được bí mật hoạch định và dàn dựng từ lâu, vì chúng đã ngăn cản cả những người biết rằng sẽ tham dự buổi họp này. Trong buổi chiều ngày 30 tháng 10, cô Ðoan Trang đã bị bắt vào công an phường Cát Linh trên đường đi tham gia kỷ niệm sinh nhật NO U. Nhà báo Gió Lang Thang (Nguyễn Anh Tuấn) bị 10 tên cảnh sát, an ninh và côn đồ canh giữ trước nhà. Khi Tuấn vẫn quyết tâm ra khỏi nhà thì bị chúng tấn công, phải quay vào.

Nhóm NO U nhận định: “Những kẻ tấn công NO U phải có lòng căm ghét chủ quyền của Việt Nam lắm, phải căm thù những người chống Trung Cộng lắm.” Và họ đặt câu hỏi: “Những kẻ này là ai? Ít nhất, chúng đã một lần lộ mặt khi phá đám lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh ở Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm nay mà báo chí trong nước cũng loan tin. Tiến Sĩ Nguyễn Quang lên án: “Những kẻ nào phá NO U là chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân Việt Nam!”

Nhưng chúng ta có thể tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, “nhân dân và đất nước chúng tôi chắc chắn sẽ loại bỏ” những kẻ phản bội này. Bản tuyên bố gửi cho Tập Cận Bình cũng như cuộc biểu tình ngày hôm qua phát xuất từ Hà Nội, đánh dấu một chuyển hướng. Người Việt Nam đã nhận thức rõ ràng là muốn thoát khỏi âm mưu bành trướng của Trung Cộng thì Việt Nam phải thay đổi những người lãnh đạo đất nước. Không thể nào “Thoát Trung” nếu chưa “Thoát Cộng!” Không U, Không XI cũng có nghĩa là Không Cộng Sản!

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Hà Nội, ngày 3 tháng 11 năm 2015.

Luật sư Nguyễn Văn Đài

(Luật Lê Luân và Trần Thu Nam sau khi bị đánh và bị cướp)

Luật sư Trần Thu Nam và luật sư Lê Luân là hai trong số 5 luật sư nhận bào chữa miễn phí cho gia đình em Đỗ Đăng Dư.

Trong nhiều năm qua, luật sư Trần Thu Nam là một trong rất ít các luật sư của Việt Nam nhận bào chữa trong các vụ án của những người hoạt động nhân quyền và dân chủ.

Những nỗ lực của luật sư Nam trong những năm qua đã được đền đáp khi gần đây đã có thêm rất nhiều luật sư bắt đầu hợp tác với nhau để bảo vệ cho các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền. Trong số đó, luật sư Lê Luân đã tham gia rất tích cực.

Có lẽ điều này đã làm cho những yêu độc tài tức giận và dẫn đến vụ tấn công bạo lực ngày hôm nay.

Phần thứ hai, có thể là lúc này mọi sự chú ý trên cộng đồng mạng đều tập chung vào chuyến thăm VN của Tập Cận Bình. Những kẻ thân TQ muốn chia sẻ bớt sự chú ý của cộng đồng mạng.

Do vậy, một vụ tấn công nhằm nhiều mục đích: thỏa mãn sự bức xúc của những kẻ yêu độc tài; dằn mặt những luật sư mới tham gia bảo vệ công lý; kéo bớt sự chú ý của cộng mạng ra khỏi chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Họ có thể thỏa mãn.

Nhưng họ đã nhầm!

Nhưng tôi tin là cả hai luật sư bị đánh, bị cướp sẽ không bỏ cuộc. Các luật sư khác cũng sẽ không bỏ cuộc. Đồng thời còn thu hút sự quan tâm ủng hộ lớn lao hơn của cả giới luật sư và dư luận. Chắc chắn Đoàn luật sư Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ không bỏ qua vụ này. Những kẻ tấn công bạo lực và cướp tài sản sẽ phải bị điều tra và đưa ra xét xử.

Cho dù có thêm những chuyện gì xảy ra thêm nữa thì Nhân dân Việt nam vẫn sẽ tiếp tục phản đối mạnh mẽ chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Dư luận quốc tế và cộng đồng mạng sẽ lên án mạnh mẽ vụ tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế, Liên hiệp quốc chắc chắn không bỏ qua vụ này.

Rất rõ ràng, họ đã sai lầm khi tổ chức tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Ảnh Facebook
 Ngày 3/11 Luật sư Trần Thu Nam của đoàn luật sư Hà nội đã bị tấn công gây thương tích, khi đến gia đình Đỗ Đăng Dư, một thiếu niên bị đánh chết trong trại tạm giam của công an. Luật sư Nam là người đại diện cho gia đình Đỗ Đăng Dư trong vụ án này. Sau đây là ghi nhận của Kính Hòa ý kiến của một số luật sư, trí thức Việt nam về chuyện luật sư Việt nam liên tục bị hành hung trong nhiều năm nay.

Đài Á châu tự do liên lạc được với Luật sư Trần Thu Nam vào buổi chiều ngày 3 tháng 11 khi ông đang chuẩn bị vào bệnh viện để chữa trị vết thương. Ông nêu lên giả thuyết của ông về nguyên nhân tại sao ông bị đánh:

Tôi đang khiếu nại công an Hà nội là không cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi người bị hại cho tôi. Tôi đang khiếu nại họ lên Viện kiểm sát và Liên đoàn luật sư, và Liên đoàn luật sư đã lên tiếng. Tôi không biết chắc chắn là tại sao họ lại đánh tôi vì tôi không có thù oán với ai cả. Nhưng trong quá trình bảo vệ vụ Đỗ Đăng Dư, tôi có khiếu nại công an thành phố Hà nội về việc gây khó khăn cho luật sư, và tôi đang làm một báo cáo gửi lên Ủy ban nhân quyền Liên hiệp quốc.”

Quyền lực của bộ máy công an

Trong nhiều năm qua, những luật sư đứng ra đại diện cho các tù nhân chính trị thường hay bị tấn công gây thương tích, thậm chí bị tù đày như các luật sư Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài,… Nhưng vụ án Đỗ Đăng Dư hoàn toàn không mang tính chính trị, vì nạn nhân phạm tội trộm cắp và bị đánh chết trong tù. Luật sư Võ An Đôn ở Tuy Hòa, người đưa tin rất sớm về vụ hành hung luật sư Nam nói với chúng tôi rằng:

Nguyên nhân theo tôi nghĩ là có thể người ta trả thù cái việc mà luật sư Trần Thu Nam bảo vệ cho gia đình bị hại (Đỗ Đăng Dư). Những vụ án không liên quan đến chính trị nhưng lại liên quan đến ngành công an, công an thì liên quan đến chính quyền, người ta cầm bộ máy hành pháp, lực lượng rất là đông, và người ta trả thù.”

Luật sư Đôn cũng từng bị các viên chức cao cấp ở tỉnh Tuy Hòa đe dọa xóa tên ông ra khỏi luật sư đoàn của tỉnh. Các vụ án mà luật sư Đôn tranh biện ở tòa cho đến nay cũng không dính dáng đến chính trị.

Một luật sư từng bị tù vì có liên quan đến các vụ án chính trị là Luật sư Nguyễn Văn Đài ở Hà nội còn nêu một lý do khác đằng sau vụ hành hung luật sư Nam là ý muốn đánh lạc hướng của nhà cầm quyền. Ông cũng nói là hiện nay có nhiều luật sư đứng ra nhận lãnh những vụ án liên quan đến sự lạm dụng quyền lực của cơ quan công quyền.

Gần đây có vụ án Đỗ Đăng Dư đã xuất hiện nhiều luật sư cảm mến tinh thần dấn thân của luật sư Nam mà tham gia cùng luật sư Nam trong các vụ án như vậy. Thì có thể đây là một điều làm cho chính quyền họ tức tối, và có thể dẫn đến vụ hành hung này. Lý do thứ hai mà tôi dự đoán là trên dư luận mạng người ta đang chú ý đến chuyến thăm của Tập Cận Bình vào ngày mùng năm mùng sáu tới đây. Thành ra vụ tấn công này là để làm giảm sự chú ý của mọi người trên cộng đồng mạng về Tập Cận Bình. Lý do thứ nhất thì có lý hơn nhưng tôi cũng nghĩ đến lý do thứ hai.

Chính trị hay không chính trị? Đảng trị hay pháp trị?

Một trí thức đối lập nổi tiếng của Việt nam là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, hiện sống ở Đà Lạt, khi được hỏi tại sao vụ án mà luật sư Nam đang làm đại diện không có tính chính trị nhưng ông cũng bị quấy nhiễu, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không đồng ý:

Chuyện đó cũng là chính trị đấy anh ạ, vì công an hiện nay lộng hành như là một đội kiêu binh của đảng. Cho nên chạm vào nó cũng là chính trị đấy. Nó giết người như không đấy, chửi nó thì cũng như là chửi đảng vậy, mặc dù nạn nhân (vụ án) không liên quan đến chính trị.”

Sau khi Việt nam quyết định cải cách kinh tế vào năm 1986, qui chế luật sư đoàn cũng được thành lập thay cho chế độ bồi thẩm đoàn nhân dân do nhà nước chỉ định trong các phiên xử án trước kia. Tiếng nói của các luật sư đã ít nhiều mang tính độc lập, các phiên tòa đã có sự tranh luận với sự hiện diện của các luật sư.

Đồng thời các luật sư lại thường hay bị bắt bỏ tù hay bị hành hung.

Ông Hà Sĩ Phu nhắc lại rằng trong nguyên tắc cầm quyền của các đảng cộng sản, thì lực lượng công an dùng để trấn áp là vô cùng quan trọng, hơn nữa các chế độ này lại không xem trọng luật pháp.

Anh có nhớ ngày xưa ông Phạm Văn Đồng có nói gì đấy không? Ông ấy nói rằng làm luật để nó trói tay mình à! Độc tài họ ghét luật lắm, vì luật là để bảo vệ dân quyền mà. Có hai giới mà họ ghét lắm, đó là giới luật sư và giới nhà báo.”

Tính đối kháng giữa đảng cầm quyền và giới luật sư thể hiện rõ nhất trong vụ luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi đảng cộng sản vào tháng chín năm 2014, với lý do được báo chí nhà nước Việt nam nêu rõ là cản trở sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Điều thú vị là luật sư Trừng cũng là một người tham gia đảng cộng sản và góp phần làm cho cuộc cách mạng cộng sản thành công ở Việt nam.

Xã hội dân sự và công lý

Theo dòng diễn biến chính trị xã hội gần đây, nhiều người hy vọng là một xã hội dân sự ở Việt nam sẽ được cho phép hình thành. Và trong xã hội dân sự đó vai trò của giới luật sư sẽ ngày càng quan trọng hơn.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không chia sẻ cái nhìn này. Ông liên hệ vụ hành hung luật sư Nam và vụ quấy nhiễu, hành hùng blogger Nguyễn Lân Thắng trong thời gian gần đây.

Họ sẽ dùng cái xã hội dân sự láo của họ. Cái kiểu Trần Nhật Quang đấy. Kiểu dùng côn đồ không liên quan đến chính quyền. Đây là bọn côn đồ nhân danh quần chúng. Thế thì muốn cái đội ngũ đó công khai thì họ phải làm ra vẻ chấp nhận xã hội dân sự. Để cho xã hội dân sự láo của họ ra đời, chứ không phải xã hội dân sự thực sự tử tế và dân chủ! Cũng còn khó khăn lắm chứ không nên tưởng là họ cho ra là được đâu.

Ông Trần Nhật Quang là nhân vật đứng đầu nhóm người đến quấy nhiễu gia đình blogger Nguyễn Lân Thắng.

Luật sư Trần Thu Nam vốn được nhiều đồng nghiệp nhận xét là một người thận trọng. Trong một lần trao đổi với chúng tôi ông có nói rằng nghề luật sư của ông là một nghề nhiều rủi ro. Luật sư Võ An Đôn cũng chia sẻ lo ngại này của luật sư Nam, và ông cho rằng muốn chấm dứt tình trạng này thì không có cách gì khác là phải để cho nền tư pháp của quốc gia được độc lập.

Sau khi vụ hành hung luật sư Nam xảy ra, luật sư Lê Công Định, người từng bị ở tù vì bảo vệ các bị cáo trong những vụ án chính trị, viết trên trang FB của ông rằng công tố và luật sư là hai trụ cột của nền công lý, việc tấn công luật sư sẽ đánh đổ một trong hai trụ cột đó, khiến cho nền công lý bị què quặt. Cũng qua FB, ông trao đổi với chúng tôi rằng Liên đoàn Luật Sư Việt Nam phải phản ứng mạnh mẽ, không đơn thuần vì hai đồng nghiệp bị đánh, mà còn vì nền công lý của Việt Nam.

NAY ANH MAI TÔI

NAY ANH MAI TÔI

LỄ CÁC LINH HỒN

Kn 3, 1-9; Rm 5, 5-11; Ga 6, 37-40

Tác giả:  Huệ Minh

Ngôi thánh đường nhỏ bé của giáo xứ tôi nằm cạnh nghĩa trang bé nhỏ của giáo xứ. Đứng bên đây thánh đường ngó bên kia thánh đường là những người thân thương trong giáo xứ đã ra đi trước chúng tôi. Không chỉ có nghĩa trang nhỏ bé này nhưng đâu đó ở các nghĩa trang và thậm chí đâu đó và tro cốt của ông bà cha mẹ của chúng ta vì có thể có những người xưa đã khuất nhưng không tìm thấy dấu vết bởi chiến chinh.

Nhìn những nấm mộ đó, nơi những người thân của ta nằm đó, ta lại nhớ đến phận người. Phận người vẫn không thể nào thoát khỏi cái định mệnh của kiếp người : sinh – lão – bệnh – tử. Phận người là thế đó như theo kiểu cách nói của cố nhạc sĩ họ Trịnh :

Con chim ở đậu cành tre,

Con cá ở trọ trong khe nước nguồn.

Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về trốn xa xăm cuối trời

Sương kia ở đậu miền xa

Con sáo ở trọ bao la đất trời

Nhân gian về trọ nhiều nơi

Bâng khuâng vì những đôi môi rất hồng

Mây kia ở đậu từng không

Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người

Tim em người trọ là tôi

Mai kia về trốn xa xôi cũng…gần

Mây kia ở đậu từng không

Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người

Môi xinh nở đậu người xinh

Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều

Xin cho về trọ gần nhau

Mai kia dù có ra sao cũng đành

Trăm năm ở đậu ngàn năm

Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Ơ hay là một vòng sinh

Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời

Phận người là thế, ở trọ để rồi cuộc đời khép lại sau cái chết.

Sau cái chết, tùy niềm tin của tôn giáo và gần hơn nữa là niềm tin của mỗi người khác nhau. Với niềm tin Kitô giáo thì cái chết chỉ là khép lại cuộc sống trần gian để bước vào vương quốc vĩnh cửu.

Với Trịnh Công Sơn thì : “Người chết nối linh thiêng vào đời”.

Không biết rõ tác giả định nói gì ? Chắc chắn phải có một ý nghĩa thâm sâu . Tuy không hiểu hết ý nghĩa của nó, nhưng nó giúp ta suy nghĩ : người chết nối linh thiêng vào đời vì thực tại cái chết là một thực tế đặt con người đứng trước một cái gì huyền bí, đáng sợ, và khi đứng trước thi hài người chết, ai ai cũng phải đối diện với cái ý nghĩ này : nay người, mai ta.  Và: nay tôi, mai anh.  Tôi chết, anh còn sống, nhưng còn sống đối với anh chỉ là “chưa chết”. Anh chỉ được “triển hạn”, chứ không bao giờ được “miễn trừ”.

Với những ý nghĩ như vậy mà chúng ta thường im lặng, trầm mặc đứng trước người chết, nhất là đứng trước thi hài một người thân yêu của mình.  Chúng ta im lặng, trầm mặc và buồn sầu, không chỉ vì người thân yêu không còn nữa, mà còn vì nghĩ đến cái chết  sẽ xẩy ra cho mình.  Người chết như mang theo phần nào chính chúng ta.  Trong người chết, nhất là những người ruột thịt máu mủ của chúng ta, một phần ruột thịt máu mủ của chúng ta đã ra đi.

“Người chết nối linh thiêng vào đời” là như vậy. Nghĩa là người chết đặt chúng ta đối diện với một thực tại khác, một thế giới của sự im lặng, huyền bí, một thế giới của sự tôn nghiêm, đáng kính, đáng sợ…  Vì sợ người chết,  sợ sự chết, nên người ta dù muốn hay không cũng phải nghĩ đến cái chết của mình, phải chuẩn bị cho cái chết không thể tránh được.

Có câu ngạn ngữ :”Cái chết ở trước mặt người già và sau lưng người trẻ”.  Đây là tâm lý chung cho mọi người vì người già dễ cảm thấy mình gần đất xa trời hơn người trẻ.

Tuy thế, nhiều khi người già cũng như người trẻ đều “tham sinh úy tử” nên ít khi nghĩ đến cái chết, nhưng khi thần chết đến thì người ta cảm thấy đã quá muộn. Vì thế, ông Henri Bordeaux nói : “Phần đông người ta chỉ mở mắt một lần, mà lần ấy lại là chính lúc tắt thở, nhưng người ta vội bóp mắt lại ngay”.

Đồng quan điểm với ông  Henri Bordeaux, ông John C. Collins nói : “Người chết mở mắt cho người sống”,  cũng có nghĩa là người sống bóp mắt người chết.

Ông Stephen Leacock nói : “Lạ lùng thay cái chuỗi đời người : còn nhỏ thì ước được lớn lên. Lớn lên rồi, ước đến tuổi trưởng thành. Đến tuổi trưởng thành rồi, ước được một tổ ấm.  Được tổ ấm rồi, ước làm ông nội nghỉ ngơi.  Được nghỉ ngơi rồi lại nuối tiếc  quãng đời quá khứ và cảm thấy một luồng gió lạnh đang rì rầm thổi tới.  Nhưng khi ý thức được rằng đời sống chính là ở hiện tại, ở trong ngày hôm nay, thì đã quá muộn rồi”.

Khi ta nhìn thấy những nấm mồ ở nghĩa trang như muốn nhắc nhở ta : hôm nay phiên tôi, ngày mai đến phiên anh.  “Hôm nay” là một ngày nhất định, rõ ràng, tại đây và lúc này, ai cũng phải công nhận rằng người thân yêu của chúng ta đã ra đi về đời sau, và lát nữa sẽ được chôn vùi trong lòng đất.

Nhưng còn chữ “Ngày mai” là một ngày bất định, mông lung, mờ mịt không biết bao giờ mới đến như người ta nói : “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ” (Tục ngữ).  Đây là điều bắt buộc chúng ta phải động não vì nó liên quan đến số phận đời đời của chúng ta.

Theo tâm lý chung, người đời ai cũng “tham sinh úy tử” (ham sống sợ chết).  Người ta cũng nhận xét rằng : các cụ già thường sợ chết hơn các thanh thiếu niên.  Nhưng có một điều thực tế : không bao giờ người ta thấy mình sống lâu cả.  Dẫu đã tóc bạc da đồi mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy  như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy :

Nhớ từ năm trước vẫn thơ ngây,

Thoát chốc mà già đã tới ngay

(Nguyễn Khuyến)

Dù cuộc sống cứ mãi trôi nhưng rồi thi thoảng ta phải  dừng lại lại để bình tĩnh đứng ra ngoài cuộc đời bề bộn, ra ngoài cái Tôi chủ quan, mà quan sát và ý thức  nhận định một cách khách quan :

Tại sao tôi sống ?

Sống để làm gì ?

Chết rồi, ra sao ?

Phải tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Có người không biết tại sao mình sống, rồi sẽ ra sao !  Cho nên họ có cái nhìn bi quan về cuộc sống bởi vì họ không tìm ra được lẽ sống.

Lẽ sống của người Ki tô hữu ngày hôm nay được làm rõ trong tất cả các bài đọc. Với tất cả lẽ sống đó, niềm tin đó ta lại hân hoan sống trong trần gian này với niềm vui, với niềm tin và hy vọng một ngày kia ta cũng sẽ đoàn tụ với cha ông chúng ta trên thiên đàng nơi mà Chúa đã dọn sẵn cho những ai mà Thiên Chúa Cha trao cho Chúa Giêsu.

Cuộc đời này rất ngắn và rất vội, Giáo Hội dành ra tháng 11 này cách đặc biệt để ta có dịp báo hiếu, cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, những người đã khuất trước chúng ta. Và, cũng nhắc nhớ phận người của mỗi người chúng ta. Ngày nào đó, ta cũng phải trở về với tro bụi trong quy luật hạn hữu của con người nhưng chuyện cần thiết và quan trọng nhất là sống làm sao để mai ngày được ơn cứu độ.

Sống ở đời, giàu hay nghèo, sang hay hèn, đại gia hay tiểu gia không phải là vấn đề. Không phải là vấn đề bởi lẽ ta thấy dù giàu hay nghèo, sang hay hèn đó khi nhắm mắt lìa đời chỉ có vài mét đất như nhau mà thôi. Vì thế, chuyện cần và đủ cho cuộc đời của mỗi người đó là sau khi chết ta có được một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa hay không ?

Với phận con người mỏng dòn và yếu đuối để rồi ta lại cứ tiếp tục cầu nguyện. Cầu nguyện cho những người đã khuất và cầu nguyện cho chính bản thân chúng ta để ngày mỗi ngày ta biết trút bỏ những gì không là cần thiết, những gì làm vướng víu không để ta thanh thoát về với Chúa. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta tiếp tục tin tưởng, cầu nguyện và tín thác những người thân của ta trong tay Chúa cũng như cuộc đời của ta trong tay Chúa vậy.

Tác giả:  Huệ Minh

Phản ứng của người dân trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình

Phản ứng của người dân trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình

RFA

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ

Phản đối chuyến thăm sắp tới của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Tận Bình. Photo: FB Nguyen Lan Thang

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm chính thức Việt Nam vào hai ngày 5 và 6 tháng 11 tới đây. Một số nhân sĩ, trí thức và người dân quan tâm, trong cũng như ngoài nước, lên tiếng phản đối chuyến công du này. Lý do vì sao và tình thế nào đối với mối quan hệ Việt- Trung lúc này?

Tuyên bố để bày tỏ thái độ

Sau khi tin về chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được chính thức xác nhận, vào ngày 15 tháng 10 có hơn 120 người trong nước công khai Bản Lên Tiếng về việc không hoan nghênh ông Tập Cận Bình đến Việt Nam vào thời điểm này.

Sang ngày 2 tháng 11, tám tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam cùng hơn 130 người cả trong và ngoài nước công khai Tuyên bố về Chuyến Thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình.

Tuyên bố gồm 5 điểm nêu rõ lập trường của những tổ chức và cá nhân ký tên về mối quan hệ Việt- Trung, những hành động xâm chiếm lãnh thổ- lãnh hải của Việt Nam do Bắc Kinh tiến hành lâu nay, việc hành xử bạo lực đối với ngư dân Việt đánh bắt hải sản tại khu vực ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa …

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng, một trong những người ký tên vào bản Tuyên bố cho biết lý do ông tham gia cùng bảy tỏ chính kiến với nhiều người quan tâm khác:

“Tuyên bố đó để nói rõ thái độ của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo có thể lấy lòng, khúm núm, cầu cạnh như thế nào; đó là một nhóm lãnh đạo chứ còn tiếng nói của chúng tôi là tiếng nói của người dân nhằm bộc lộ thái độ, ý chí của chúng tôi đối với Trung Quốc.

Chúng tôi nghĩ rằng trong (lúc) bị đàn áp, o ép thì chỉ có thể lên tiếng thế thôi; chứ còn biểu tình chắc không làm được, khó. Đáng lẽ một nước có dân chủ thì vào dịp này người ra rất cần có biểu hiện thái độ, ý chí bằng tập hợp lực lượng. Nhưng việc tập hợp lực lượng như thế chắc không được, không làm được nên chúng tôi phải làm là ra tuyên bố đó thôi.”

Giáo sư- tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng thuộc nhóm chủ trương trang Bauxite Việt Nam cũng là một trong những người ký tên cho biết quan điểm của ông khi tham gia hoạt động này:

“Cũng nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, nhưng trí thức, những người dân yêu nước Việt Nam cần bày tỏ cho ông chủ tịch Tập Cận Bình thấy những việc làm sai trái của họ đối với Việt Nam, những nguyện vọng, ước muốn của nhân dân Việt Nam cụ thể về vấn đề Biển Đông.”

Đường lối của Hà Nội

Thông tin cho biết chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam trong tuần đầu tháng 11 này là do lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

H1Ông Nguyễn Thiện Chí, giảng viên cao cấp Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng hoạt động ngoại giao như thế là đường lối lâu nay của Hà Nội:

“Châm ngôn của Bộ Ngoại giao, của đảng chúng tôi là đa phương hóa, đa dạng hóa. Tiếp đến là muốn gần gũi, trao đổi, tiếp cận. Hoan nghênh cả thôi. Nhà nước tiếp cận làm sao có lợi, cho tốt thôi. Dẫu sao họ nghe tiếng nói của bên này, của nhân dân Việt Nam thì họ sẽ có một thái độ nào đó đúng mực. Còn hõ khôn nghe thì nhân dân thế giới phê phán thôi!

Chúng tôi muốn thân thiện, hết sức thân thiện, muốn hòa bình, muốn hữu nghị. Nhưng hữu nghị thì phải cả hai bên, chứ một bên không được. Tối thiểu phải lịch sự, văn minh; bên kia quay lưng làm sao được?!”

Theo nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng thì phía Trung Quốc sang Việt Nam lần này cũng tương tự như vào những dịp đảng cộng sản Việt Nam tiến hành đại hội 5 năm đưa ra đường lối, chính sách và đội ngũ nhân sự lãnh đạo đảng và nhà nước. Ông nói:

“Dịp này là dịp mà Trung Quốc rất cần, họ muốn có mặt, có ảnh hưởng tại Việt Nam. Lý do vì sắp tới đại hội đảng sắp đặt ‘ghế ngồi’, nhân sự cho lãnh đạo Việt Nam trong thời gian tới. Trung Quốc họ rất cần có mặt lúc này để làm áp lực, sắp đặt theo ý muốn của họ về nhân sự. Chuyến đi của ông Tập Cận Bình sang Việt Nam lúc này là như thế và cũng để hỗ trợ cho những người, những tư tưởng ngóng vọng sang Trung Quốc và muốn tồn tại thế lực của Trung Quốc. Tập Cận Bình sang cũng để làm hậu thuẫn cho những con người đó, những tư tưởng ấy.”

Chính sách của Trung Quốc

Ông Nguyễn Thiện Chí còn là thành viên thuộc Ủy ban Thường Vụ Hội Hữu nghị Việt- Trung và trưởng ban liên lạc cựu lưu học sinh, thực tập sinh Trung Quốc, thừa nhận lâu nay Trung Quốc nói và làm không đi đôi với nhau. Nay toàn thế giới đã nhận thấy điều đó. Ông Nguyễn Thiện Chí nói rõ:

“Giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc không đi đôi với nhau. Điều này thế giới thấy cả rồi. Như Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam được thế giới công nhận và họ nói nhiều lắm. Có những nước không nói ra nhưng trong bụng vẫn cho đó là của Việt Nam.

Trong phạm vi vi mô của bản thân, một người dân trong nước và là sĩ phu, chỉ mong muốn thế này thôi: Trung Quốc bình tĩnh, thật cầu thị lắng nghe tiếng nói của nhân dân thế giới để hành xử cho đúng. Vì họ là nước lớn, nước lớn mạnh lắm; còn chúng tôi nước nhỏ đấu tranh thì còn chờ các nước láng giềng, chờ các nước trong Liên Hiệp Quốc, chờ những người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới họ quan tâm theo dõi, họ giúp đỡ chúng tôi trong vấn đề này. Nước nhỏ chống lại nước lớn khó lắm, phải có thời gian. Nếu nước lớn biết cầu thị, muốn sống trong hòa bình, đừng xâm lược, đừng tham lam (tham lam không được) thì phước quá. Nhưng thời gian sẽ ủng hộ chúng tôi.”

Nhà văn Phạm Đình Trọng đánh giá thực tế diễn tiến như hiện nay là một cơ hội mà chính quyền Hà Nội cần phải nắm bắt chứ không thể bỏ qua như nhiều lần khác:

“Tình trạng rất có lợi cho Việt Nam và cũng mở mắt cho Việt Nam về dã tâm của Trung Quốc ‘hai năm rõ mười’ rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Và xu thế của thế giới đối với Trung Quốc cũng đã rất rõ: Philippines như thế, rồi Mỹ như thế; nhưng mà thái độ của Việt Nam vẫn lập lờ.

Lực lượng Mỹ vào Biển Đông để hạn chế sự bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông đều được từ úc, Châu Âu ủng hộ nhưng Việt Nam vẫn có thái độ im lặng, lập lờ, không rõ ràng. Điều đó thể hiện là áp lực của Trung Quốc đối với những người lãnh đạo Việt Nam rất lớn. Áp lực đó, sức ép đó đang còn duy trì và ảnh hưởng rất nặng nề đếnViệt Nam, cho nên một cơ hội, thời cơ thuận lợi sẽ lại qua đi thôi!”

Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội trong trả lời phỏng vấn Tân Hoa Xã nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đến Việt Nam lần này nói rõ mục đích nhằm vạch ra đường hướng cho mối quan hệ Việt- Trung trong thời gian tới.

Những người quan tâm tại Việt Nam bày tỏ hy vọng lãnh đạo Hà Nội sẽ sáng suốt nghe theo tiếng nói của người dân và thế giới tiến bộ; không còn răm rắp tuân thủ chính sách do tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc vạch ra.

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

  LM Giuse Nguyễn Hữu An

Những ngày cuối tháng 10, Đất Thánh các Giáo xứ đông người đi tảo mộ.  Bên người thân yêu đang an nghỉ, con cháu, thân nhân thành kính đốt nến thắp nhang, hiệp thông cầu nguyện.

Mỗi chiều, tôi ra Đất Thánh của Giáo xứ cùng mọi người dọn dẹp cỏ rác, phát quang bụi rậm, sữa sang lễ đài, chuẩn bị cho ngày lễ các đẳng linh hồn.

Nhìn những chiếc lá vàng rơi rụng khắp Nghĩa Trang, tôi nghĩ về mùa thu, nghĩ về đời người và chiếc lá.

Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư:

Em nghe không mùa thu.

Lá thu rơi xào xạc.

Con nai vàng ngơ ngác.

Đạp trên lá vàng khô.

(Tiếng thu)

Màu vàng của lá, màu úa của cỏ, nắng nhạt gió chiều là hình ảnh đặc trưng của mùa thu.  Mùa “chịu tang” của những chiếc lá vàng.  Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách “chia tay.”  Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất.  Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha buông mình theo gió.  Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.  Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống.  Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành.

Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu.  Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc.  Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách thanh thản nhẹ nhàng thanh thản.  “Lá rụng về cội.”  Lá rơi bên gốc cây.  Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây.  Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây.  Đời lá ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Kinh: “Có thời sinh ra, có thời chết đi” (Gv 3,2).  Mỗi loài thụ tạo đều có thời hạn của nó.  Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi.  Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc. Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai.  Sức khoẻ, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết.  Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai.  Nó đến bất ngờ làm ta bang hoàng.  Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng.  Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng.  Một chuyến đi quyết định và quan trọng.  Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.  Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày… tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần ….  Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi?  Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Vịnh: “Đời sống con người giống như cây cỏ, như bông hoa nở trên cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không còn mang vết tích” (Tv 102,15-16).  Dù văn minh đến dâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết bằng sức mạnh của khoa học kỹ thuật.  Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu… ai ai rồi cũng phải chết.  Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng.  Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết.  Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống.  Chết là một phần của sự sống bởi lẽ trong sự sống đã có sự chết.  Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng.  Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết.  Đó là định luật chung của con người.  Không ai có thể sống mãi mà không chết.  Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết.  Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.  Đời người ngắn ngủi như chiếc lá như lời Thánh Vịnh:

Đời con là một kiếp phù du,

Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi.

Sống làm người ai không phải chết,

Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?

(Tv 88,48-49)

Con người không có quyền gì trên sự chết và sự sống.  Sống và chết là kỳ công và đều bởi Thiên Chúa.  Sự sống là mong manh, thế mà Thiên Chúa lại phải đánh đổi bằng máu của các tiên tri, bằng mạng sống của Con yêu dấu là Chúa Giêsu.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ.  Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì.  Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi.  Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được.  Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.

Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự “hiện hữu”, đừng bao giờ là sự “sở hữu”.  Ta hãy chọn phương châm “sống với” chứ đừng “sống vì”.  Thấu cảm được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền.  Như ai đó đã từng nói: “Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc.  Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười”.

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA

000_ARP2823700

Ông Ngô Đình Nhu cùng phu nhân, bà Trần Lệ Xuân cùng các con.

AFP photo

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm cùng với bào đệ là Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đình Nhu bị giết tại Sài Gòn trong một cuộc đảo chính. Đây cũng là khoảnh khắc khép lại thời vàng son của dòng họ Ngô Đình. Và đây cũng là thời điểm mà cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm gặp nhiều nguy biến nhất. Có thể nói rằng số phận lênh đênh của dòng họ xuất chúng này vẫn chưa bao giờ ngừng.

Cố hương vời vợi…
Một người tên Hàm, sống ở Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Ông đầu tiên học trường thuộc địa, gọi là trường Hậu Bổ, sau đó ra làm quan Tuần Vũ, cũng như tỉnh trưởng vậy đó. Sau đó nhờ tài năng ông được rút về trung ương, tức triều đình Huế. Sau đó đụng chạm với Phạm Quỳnh, đụng phải sự cố chấp, không chịu canh tân, ông từ quan. Sau đó nữa ông âm thầm hoạt động cách mạng độc lập, để có nền Việt nam Cộng Hòa sau này là nhờ ông biết hoạt động độc lập…”.

Theo cụ Hàm, quê gốc của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải ở làng Đại Phong, xã Phong Thủy, Lệ Thủy, mà là ở phủ Xuân Dục, Quảng Bình. Cụ Ngô Đình Dinh, ông nội của Tổng Thống Diệm là một con chiên mộ đạo. Do tránh nạn tiêu diệt Ki-Tô giáo của triều đình Huế, cụ đã trốn vào làng Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình để sống.

Ban đầu cụ làm nghề chèo đò, nấu nước trà cho làng mỗi khi có lễ lạc. Bởi quan niệm dân gốc và dân trú thời đó nên cụ gặp rất nhiều khó khăn, sống trong nghèo khổ, bần hàn. Cụ sinh được một người con là Ngô Đình Khả, chính là thân sinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau này. Cụ Dinh mất sớm do bệnh tật, lúc đó, Ngô Đình Khả là đứa bé sáu tuổi. Một vị linh mục người Pháp mang Ngô Đình Khả về nuôi và cho học hành tử tế. Vốn có tư chất thông minh, Ngô Đình Khả nhanh chóng thăng tiến sau này nhờ vào học hành.

Với đời vợ cả, cụ Ngô Đình Khả sinh ra được hai người con trai là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục. Sau khi vợ cả qua đời, cụ Khả tái hôn với bà Phạm Thị Thân, sinh ra sáu người con là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Thị Giáo và Ngô Đình Thị Hiệp.

Với gia thế làm quan kể từ sau giai đoạn khó khăn của ông nội Ngô Đình Dinh, có thể nói rằng đến thời cụ Ngô Đình Diệm là thời phát tiết của tộc Ngô. Cụ nổi tiếng là người học giỏi, cụ được Pháp đưa sang mẫu quốc để du học nhưng cụ không chịu đi để giữ khí tiết chống thực dân đô hộ, cụ ra Hà Nội để học Hành chính quốc gia, còn gọi là trường Hậu Bổ. Năm 1921, cụ tốt nghiệp trường Hậu Bổ và về làm quan tại Huế. Thời kì làm quan của cụ là thời kì mà nhân dân địa phương được sống sung túc nhất dưới sự dẫn dắt của cụ.

Cụ tổ chức đào kênh, đắp đường lộ, làm nhiều việc có lợi cho dân. Sau nhiều biến thiên lịch sử, cụ phải trốn sang nhiều nơi, thậm chí nhiều nước. Và đến năm 1954, cụ làm Thủ tướng dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại. Mười năm sau, năm 1955, nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự dẫn dắt của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Cuối năm 1955, cụ Diệm làm Quốc Trưởng và sau này đổi thành danh xưng Tổng Thống cho đến tháng 11 năm 1963.

Ông Hàm cho rằng cái chết và sự lưu vong của gia đình họ Ngô là do một thủ đoạn tính toán về phong thủy. Bởi lúc đó, Quảng Bình nằm phía Bắc vĩ tuyến 17, thuộc lãnh địa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nghiệt nỗi, mộ cụ nội của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn nằm trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Quảng Bình. Mà theo lời của một nhà chiêm tinh có uy tín lúc bấy giờ thì đất Lệ Thủy sinh ra bậc kỳ tài, ứng vào tộc Ngô và tộc Võ.

400
Sông Kiến Giang, đoạn ngang qua ngôi mộ cụ Dinh. RFA photo

Nếu giữ bậc hiền tài tộc Ngô thì khí vận của nhân tài tộc Võ không đủ để lay chuyển thời vận. Và người ta đã nhắm đến mộ của cụ Ngô Đình Dinh, ông nội cụ Ngô Đình Diệm để phá phách, trấn yểm. Việc trấn yểm, phá phách này kéo dài gần chục năm, cho đến khi ngôi mộ của cụ Dinh bị phá tan hoang cũng là lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị ám sát.

Hiện tại, không còn dấu vết nào của dòng họ nhà Ngô Đình trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Mặc dù trong quá trình di cư, vẫn còn nhiều người họ hàng của tộc Ngô Đình sống lại làng Đại Phong nhưng đã đổi thành một họ khác như Trần, Lê. Sau biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963, những người họ hàng này lại một lần nữa rời bỏ quê hương, sống lưu vong.

Dấu xưa không còn và ngôi mộ thiên táng

Cụ Hải, sống ở Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Nhà ông Giáp và ông Diệm gần nhau. Rõ ràng ông Diệm phải giỏi ngang ngửa với ông Giáp mới đấu nổi với nhau chứ. Nhưng do người ta giết hại ông Diệm nên đành vậy thôi.”.

Theo cụ Hải, lúc cụ Ngô Đình Dinh, tức ông nội của Tổng thống Ngô đình Diệm qua đời, vì gia cảnh nghèo khó, vợ chết sớm, chỉ có một con trai nhỏ là Ngô Đình Khả mới sáu tuổi. Hai cha con sống lây lất qua ngày bằng việc chèo đó thuê ban ngày và ngủ nhờ đình làng ban đêm. Khi cụ Dinh mất, dân làng thương tình mua áo quan khâm liệm và chèo thuyền đưa thi hài ông dọc theo sông Kiến Giang, đến núi Bến Đẻ để an táng.

Nhưng đi nửa đường thì trời đổ mưa, nghe tiếng cọp gầm, dân làng sợ quá đào qua loa một huyệt bên đường lên núi để chôn tạm rồi sáng mai tiếp tục an táng. Đang đào thì cọp gầm gần quá, người dân hoảng hốt lấp vội đất và bỏ chạy. Sáng mai, bà con lại bơi ghe lên chỗ huyệt mộ để lấp đất cho tử tế. Nhưng khi đến nơi thì thấy một gò đất tròn, cao đã phủ trên ngôi mộ. Gò đất này do mối đụn lên mà tạo thành. Người làng kháo nhau ngôi mộ được thiên táng, tức trời chôn, đời sau sẽ phát tích. Và chuyện này đã thành sự thật.

Cùng lúc đó, bên khu nhà thờ làng tộc Võ, một cây dừa bị bão đánh đã lâu, từ thân khô của nó mọc ra hai nhánh và phát triển rất nhanh. Tin đồn về khí vận ở Lệ Thủy đang phát tiết lan rộng. Trong đó, ngôi mộ thiên táng của tộc Ngô được cho là tụ khí hơn khu nhà thờ làng có cây dừa mọc đôi của tộc Võ.

Đến những năm 1950, công cuộc đào phá long mạch mộ tộc Ngô bắt đầu nhưng không có tác dụng. Đến năm 1961, một đường hầm đào xuyên qua trước ngôi mộ, gọi là công sự để chế tạo vũ khí nhưng thực chất chưa bao giờ có vũ khí nào chế tạo ở đây.

Sau đó một thời gian, các đường công sự đào ngang đào dọc và ngôi mộ cũng tự dưng biến mất. Cuối cùng là cái chết thương tâm của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuộc đời tứ tán của dòng họ Ngô. Dấu vết xưa của dòng họ Ngô trên đất Lệ Thủy, Quảng Bình cũng không còn.

Theo như chia sẻ của cụ Hải thì khi mà khí vận của đất Lệ Thủy bị tuyệt, từ đó đến giờ, đời sống khó khăn, người đỗ đạt cao một cách nghiêm túc rất hiếm và niềm tự hào của người dân về gia tộc họ Ngô cũng bị triệt tiêu một cách đáng sợ. Nhưng cụ Hải cũng khẳng định rằng nếu chọn một điều gì đó để nói về quê hương mình, ông sẽ chọn gia tộc họ Ngô bởi đây là một gia tộc đi từ nghèo khổ đến đỗ đạt và cống hiến cho dân tộc này rất nhiều.

“Hôm qua tiễn em đi,”

“Hôm qua tiễn em đi,”

Buồn biết nói năng gì.

Đường chiều mưa tiễn bước,

Hồn khóc theo người đi.”

(Đăng Khánh/thơ Du Tử Lê – Tiễn Em Chiều Mưa)

 ( 1Cor 14: 26-29)

 Trần Ngọc Mười Hai

             Vâng. “Tiễn Em chiều mưa”, hôm qua hay hôm nay đi nữa, cũng đều buồn để rồi lại những thưa và thốt “biết nói năng gì?”, “hồn khóc người đi”.

            Hồn còn khóc, nhiều hơn nữa, khi người đưa tiễn lại có ý-nghĩ cùng hành-xử khá lạ-kỳ như truyện kể sau đây:

“Vợ hỏi chồng:

            -Anh cắt bài gì trong báo Buổi Chiều, vậy? Báo này có gì hay ho đâu mà cắt?

-Cũng chỉ là bài báo kể về chuyện: có anh chàng nọ được toà án gia đình cho phép ly-dị vợ vì cô ta cứ liên tục lúc túi áo của anh cả khi treo lên mắc cũng như trước khi đem giặt, ấy mà!

-Đành là thế. Nhưng, anh định dùng mẩu báo ấy làm gì mà cứ lúi húi giấu mẩu giấy ấy thế?

-Ấy, anh địng bụng bỏ vào túi áo mình, ngộ nhỡ sau này…”

             Nói chữ “ngộ nhỡ sau này”, thật sự cũng khó biết. Chí ít là khi anh bạn cứ áp-dụng vào các trường-hợp sẽ xảy ra trong đời, với nhà Đạo. Trong đời người, có rất nhiều truyện để kể, làm sao nói hết, cho bớt buồn? Về chuyện nhà Đạo hay nhà Chúa, cũng hệt thế.

Duy mỗi chuyện cứ đến rồi đi ở chốn chóp bu nhà Chúa ở Vaticăng, vốn Đạo-hạnh không kém. Như, chuyện được ngành truyền-thông báo chí, cứ kể đi kể lại mãi một chuyện. Chuyện Đức Giáo Tông nhà mình vừa kết-đọan buổi Họp Thượng Đỉnh của Đạo mình hôm 29/10/2015 ở Rôma 2015, bằng một tựa đề, rất “đánh đấm”, như sau:

“Thượng Hội đồng kết thúc với chiến thắng lớn của Đức Phanxicô

Sau ba tuần thảo luận, Đức Giáo hoàng có được khả năng cho người ly dị tái hôn rước lễ xét theo từng trường hợp một.

Từ ba tuần nay, các giám mục họp Thượng Hội đồng ở Rôma về các vấn đề hôn nhân và gia đình, họ đã bỏ hai phần ba số phiếu quy định cho tất cả các điều khoản của hồ sơ cuối cùng và, nếu Đức Giáo hoàng chấp nhận thì sẽ có thể cho những người ly dị tái hôn rước lễ, xét theo từng trường hợp một.

 Cuộc bỏ hiếu này đánh dấu một bước chiến thắng quan trọng của vị giáo hoàng cải cách, sau lần họp đầu tiên năm ngoái bị một phần các giám mục từ chối.

 Điều khoản số 85 của tài liệu nói về việc cho người ly dị tái hôn được rước lễ theo một vài điều kiện. Trên 94 điều khoản thì điều khoản này nhận được ít số phiếu bầu nhất, với 178 phiếu thuận và 80 phiếu chống – nhưng vẫn đạt được đa số hai phần ba ấn định là 177 phiếu thuận trên tổng số 265 phiếu bầu…” (Nguyễn Tùng Lâm dịch tin-tức do Jean-Marie Guénois viết trên lefigaro.fr).

Chuyện “đánh đấm” hoặc đấu tranh/xung-khắc giữa các đấng bậc ở chốn chóp bu của Giáo-triều nhà Chúa sẽ thiếu-sót nếu ta quên không trích-dẫn một số sự-việc được ghi trên sách hoặc tự-điển Bách-Khoa Công-giáo như tác-giả Ralph Wroodrow từng ghi như sau:

 “Sự việc ‘phân-rã/cách-biệt’ lớn-lao trong Giáo-hội xảy đến vào năm 1378 và kéo dài đến 50 năm. Chức-sắc người Ý, khi ấy, đã bầu chọn Đức Urbanô 6 làm Giáo-Hoàng; trong khi đó, các vị hồng-y người Pháp lại chọn Đức Clêmentê 7.

 Khi ấy, các Giáo-hoàng lại cãi-vã/rủa sả lẫn nhau năm này qua năm khác, cho đến khi Công đồng quyết-định hạ bệ cả hai vị trên, để bầu lên một Giáo-chủ mới!

 Đức Sixtô 5 khi ấy có trong tay ấn-bản kinh thánh đã được soạn mà ngài tuyên-bố là ấn-bản xác-thực. Hai năm sau, Đức Clêmentê 8 tuyên-bố bản ấy đầy dẫy những sai-sót và truyền lệnh thiết-lập ấn-bản khác để sử-dụng…

 Khi cứu xét cả trăm sự-kiện và cung-cách các Đức Giáo-chủ đối-nghịch nhau hàng thế-kỷ, ta cũng hiểu rằng ý-niệm về quyền-uy cùng tính-chất rất “vô ngộ” của Đức Giáo Tông cũng rất khó cho nhiều người cảm-thông, chấp-nhận…

 Khi xem xét những sự việc như thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tin rằng việc gọi các Đức Giáo Hoàng là “ Hiện-thân của Đức Kitô” không có cơ-sở vững-chãi. Càng không vững hơn, nếu ta lại cứ gọi các ngài là “Đức Thánh Cha” của Giáo-hội Công giáo, nữa… (X. Ralphn Woodrow, Are Popes Infallible? Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow 1981 tr. 100-104)

             Trích-dẫn như trên, người trích và dẫn chỉ muốn nói rằng: ở giai-tầng/địa-hạt nào cũng thế, vẫn có nhiều thứ nhiều chuyện để bạn và tôi, ta coi đó như một đấu tranh hoặc chiến tranh giành phần thắng lợi hoặc chiến thắng đem về cho bản thân mình hoặc cho phe/nhóm của mình.

Về thành-quả do cuộc họp thượng-đỉnh của Hội thánh được gọi là Thượng Hộ-đồng Giám mục đem lại, cũng có những điều để tôi và bạn ta học-hỏi, cho riêng mình. Học và hỏi, hôm nay, có đôi điều đưa ra không chỉ để tôi và bạn, ta nghiên-cứu/khảo-sát mà thôi. Nhưng, còn để giúp ta ghi nhớ mà giữ lại cho đời mình, làm kinh-nghiệm.

Nghĩ thế rồi, bần đạo bầy tôi đây lại tiếp tục luận phiếm thêm cho vui đời, bằng những chuyện đời trong/ngoài Đạo. Nhưng trước khi đi vào truyện kể hoặc tìm về lời vàng ngọc ở Kinh Sách, tưởng cũng nên ca lại lời ca ở trên, hơi buồn, rằng:

Tim như vỡ trong mưa,

Còn vẳng tiếng ai thề.

Một mình trên ngõ vắng,

Buồn nhìn theo lối xưa.

Dù mãi mãi xa nhau,

Cố quên mối duyên đầu.

Tình này ai sẽ quên được sao,

Tình đã chết trong nhau.

Vẫn mơ phút ban đầu,

Một lần yêu dấu mãi cho nhau.

Sao em nỡ quay đi,

Tình đang lúc xuân thì.

Một đời sao bỗng vắng

Cuộc tình không lối đi

(Đăng Khánh/Du Tử Lê – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi vào truyện kể, rất bên dưới:

             “Truyện rằng:

Có một lần, Đức Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn, các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại và hỏi
– Ngài có điếc không?

–Ta không điếc.

–Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

– Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ, họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

–Quà ấy về tôi chứ ai.

– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

 Người kêu tên Phật ra chửi mà Ngài không nhận. Còn chúng ta, những lời nói bóng, nói gió ở đâu, nơi nào cũng đều lắng tai nghe, để buồn/để giận. Như vậy mới thấy những lời cuồng dại của con người. Ngài không chấp không buồn, còn chúng ta do si mê, chỉ một lời nói nặng nói hơn, ôm ấp mãi trong lòng, vì vậy mà khổ đau cứ triền miên, tiếp-diễn.

 Trong kinh sách nhà Phật, Đức Phật đã dùng ví dụ người ác lại cứ mắng chửi người thiện, mà người thiện không nhận lời mắng chửi đó thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rơi xuống ngay mặt người phun. Thế nên có tiếp-nhận mới dính mắc đau khổ, không tiếp-nhận thì an vui hạnh-phúc. Từ đây về sau mọi người có nghe ai nói gì về mình, dù tốt xấu, chớ nên tiếp-nhận thì sẽ được an vui.

 Và, lời bàn của người kể, rất như sau:

Hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây chuyện thị phi vì vô ý thức, cũng đừng vì một ai mà gây ra lầm lỗi trong quá khứ hoặc dùng lời lẽ nặng nề để hành hạ họ, như Oscar Wilde đã từng nói: “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

 Hậu quả của khẩu nghiệp thật vô cùng kinh khiếp. Không dương thì âm, sớm muộn gì cũng đều có báo ứng. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành-lặn, nhưng vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được.

 Chửi bới và nói xấu hay đi rêu rao về người khác mà người đó không có phản-ứng, hay không biết thì cũng giống như kẻ tự ngửa cổ lên trời phun nước bọt rồi chỉ rơi trúng mặt mình. Vậy, tốt nhất không nên nói xấu ai ở đâu/nơi nào, dù họ có làm điều không tốt nhưng có thể không gây hại đến bản thân và cộng đồng mình. Bởi ngậm máu phun người thì chỉ tanh mồm mình trước. (Sưu tầm)

            Kể truyện rồi, nay ta tìm về vườn hoa Lời Vàng của bậc thánh-hiền có những lời dịu dàng, nhưng thấm-thía để suy-tư/nghĩ-tưởng về những lời dặn-dò như sau:

             “Vậy, thưa anh em, ta phải kết luận thế nào đây?

Khi anh em hội họp,

người thì hát thánh ca, người thì giảng dạy,

người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ,

người thì giải nghĩa:

tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh.

Nếu có nói tiếng lạ,

thì chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi,

mỗi người cứ theo phiên mà nói,

và phải có một người giải thích.

Nếu không có người giải thích,

thì phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn,

mỗi người chỉ nói với mình và với Thiên Chúa thôi.

Về các ngôn sứ,

chỉ nên có hai hoặc ba người lên tiếng thôi,

còn những người khác thì phân định”.

(1 Cor 14: 26-19)

             Nói như bậc thánh-nhân hiền-lành, thì có nói trong buổi họp hay ở đâu nữa, cũng vẫn nên cẩn-trọng về lời mình nói. Chí ít, là lời nói đó hoặc phán bảo nọ xuất tự đấng bậc vị vọng trong Đạo. Cũng thế, có lần bần đạo được bảo rằng: các lời phát-biểu trên bục nhà thờ cũng nên cẩn-trọng vì lời ấy một cách nào đó vẫn là khuôn-mẫu cho người nghe ngồi bên dưới, tựa hồ lời thày giáo nói với học trò, vậy.

Không chỉ mỗi thế. Phán-quyết của đấng-bậc ở nhà Đạo vẫn là lời phán/bảo dù có mang tính-chất quyết-định hay không, cũng vẫn được coi như hành-xử quan-trọng cho cả người phán lẫn người nghe.

Trường-hợp đấng bậc trưởng-thượng Hội-thánh Công-giáo, tình-hình Giáo-hội nay rối rắm đã hiển-hiện cả vào lúc trước khi bắt đầu cuộc họp bàn cấp cao kéo dài nhiều tuần-lễ. Khi Thượng Hội-Đồng Giám mục 2015 đi vào giai-đoạn cuối, báo-giới truyền-thông Hoa Kỳ đã có những nhận-xét như sau:

“Toà thánh Vatican xem ra đang có những bí-mật, lộn xộn của toà án thời Trung Cổ, gồm những sự việc xảy ra theo cách nào đó, vẫn như xưa. Hành-xử khiêm-tốn đầy phô-trương của Đức Phanxicô, sự việc ngài quở trách các Giám-mục cao cấp không thay-đổi trạng-huống “như xưa” này, chút nào hết. Nếu có, thì cũng chỉ là tham-vọng của một giáo-chủ từng khuyến-khích các vị hay bày mưu-kế hãy cộng-tác mà làm việc chung với các vị khác từng chống cưỡng những chủ-trương như thế, mà thôi.

  Nhưng hiện nay, vị chủ mưu bày kế lại chính là đức Giáo-chủ, nhà mình. Quả là, mục-tiêu/mục-đích do Đức Phanxicô đưa ra, cũng đơn-giản là: ngài hỗ-trợ cho các đề-nghị nên đốc-thúc các vị có tinh-thần thông-thoáng khả dĩ cho phép bổn-đạo nào từng ly-thân/ly-dị nay tái-giá được phép hiệp-thông rước lễ mà không cần phải tiêu-hủy hôn-nhân đầu.

 Nhờ Đức Giáo-chủ âm-thầm hỗ-trợ, đề-nghị này trở-thành mối giây gây tranh-cãi trong lần họp thượng-đỉnh năm 2014 về gia-đình và lần thứ hai năm 2015 này…

 Giả như đề-nghị ở trên thật rõ ràng, thì con đường ngài đang đi cũng thật tăm-tối. Theo thủ-tục, thì quyền-bính của Đức Giáo-tông gần như tuyệt-đối: tức có nghĩa, nếu Đức Phanxicô quyết-định rằng ngày mai đây sẽ tán-thành cho phép những người tái-giá được lên rước Mình Chúa đi nữa, thì cũng chẳng có Toà án Tối cao nào của Công-giáo lại có thể phản kích quyết-định của ngài, được.

 Dù có thế, cùng một lúc, Đức Giáo Tông lại vẫn được coi là người không có quyền thay-đổi tín-lý/giáo-điều của Đạo, chút nào hết. Điều luật này, không có tính-cách công-khai trợ-lực cho ngài, nhưng cứ theo tục-lệ, có sự khiêm-tốn và tính kính-sợ Thiên-Chúa, thì nỗi lo-sợ sẽ có phân-rã trong hàng-ngũ lãnh-đạo đã kềm-chế các Đức Giáo-chủ có ý-đồ viết lại các tín-lý trong Đạo. Và, việc viết lại tín-lý/giáo-điều là những gì mà người Công-giáo bảo-thủ tin tưởng một cách hữu-lý rằng đề-nghị cho những vị từng tái-giá được phép rước Mình Thánh Chúa đã được sự hỗ-trợ của Đức Phanxicô….

 Với các nhà báo Công giáo, cũng như bất kỳ ký-giả nào khác, đây là câu truyện đầy tính hấp-dẫn; thế nên, nói theo kiểu nhà báo rất nghiêm-ngặt, tôi đây không có ý-kiến là Thượng Hội-Đồng kỳ này sẽ kết thúc ra sao. Nhưng, nói theo tư-cách của người Công-giáo, tôi trông đợi rằng cuối cùng thì mưu-đồ viết lại tín-lý/giáo-điều cũng sẽ thất-bại thôi. Mỗi khi có sự căng-thẳng giữa niềm tin lịch-sử và vị Giáo-chủ trong đạo, thì tôi luôn chọn phía niềm tin để đánh cá-cược. Thế nhưng, đối với một cơ-chế vốn đo-lường tuổi thọ của mình hằng thiên-niên kỷ, thì “cuối cùng” cũng phải mất một thời-gian khá dài ngày mới có thể đạt đích-điểm.” (Xem Ross Douthat, The Plot to change Catholicism, The New York Times SundayReview 17/10/2015

Nhà báo nhận-định ra sao, thì cứ nhận và cứ định. Sự việc xảy ra ở nhà Đạo vẫn là chuyện dậm chân tại chỗ, bàn mãi cũng không hết. Việc cuối, có lẽ sẽ không là ngồi đó mà bàn và luận nhưng là đi vào hiện-thực. Thực-hiện ra sao để mọi thành-viên trong Đạo, sẽ lại trở về với thực-tại diễn-tiến mãi, hệt như trước.

Nhận-định sao thì cứ định và cứ nhận. Định rồi nhận hoặc nhận rồi mới định, thật cũng tuỳ. Tuỳ người, tuỳ mình. Tuy nhiên, có tuỳ ai đi nữa, thì hỡi bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang vững chí hướng về trước mà ngâm nga ba câu hát ở trên mà lập lại những lời buồn, rằng:

Tim như vỡ trong mưa,

Còn vẳng tiếng ai thề.

Một mình trên ngõ vắng,

Buồn nhìn theo lối xưa.

 Dù mãi mãi xa nhau,

Cố quên mối duyên đầu.

Tình này ai sẽ quên được sao,

Tình đã chết trong nhau.

 Vẫn mơ phút ban đầu,

Một lần yêu dấu mãi cho nhau.

Sao em nỡ quay đi,

Tình đang lúc xuân thì.

 Một đời sao bỗng vắng

Cuộc tình không lối đi”.

(Đăng Khánh/Du Tử Lê – bđd)

Đúng thế đấy, bạn ạ. Những mong “Tình như vỡ trong mưa” sau bao lần bàn cãi lưa-thưa hay mạnh bạo, ta cũng đừng “buồn nhìn theo lối xưa”, mà hành-xử. Bởi, có hành và có xử theo lối cũ/xưa đi nữa, thì bánh xe lịch-sử cũng sẽ nghiền-nát tâm-can con người để rồi sẽ “vỡ trong mưa”, cũng rất buồn. Buồn về tình đời. Buồn, một đời người.

 Trần Ngọc Mười Hai

Đôi lúc cũng có buồn

Nhưng không buồn

về đời hoặc về người.

Bởi, mọi người vẫn cứ vui

ở trong đời.

. “Hy vọng muôn trùng, lời kinh trong gió bay bay,”

. “Hy vọng muôn trùng, lời kinh trong gió bay bay,”

Mai Tá lược dịch

Khi xưa, thiên hạ nguyện cầu bằng lời kinh trong gió như: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cầy, Đong đầy bát cơm…” (Tục ngữ – Phong dao) Lúc này, chúng dân lại mong mưa triền miên nên mãi lắng đọng: “Xin mưa triền miên mãi luôn lắng đọng, Cho đôi tình nhân đắm trong giấc mộng”. ( Đức Huy – Đường xa ướt mưa )

Thuở trước, giấc mộng con người vẫn gắn liền với hiện thực cuộc đời. Bao giờ cũng đủ ăn đủ uống, đủ ruộng để cày, rất đầy bát cơm đong. Ngày nay, mộng vàng người thương không chỉ có thế, nhưng thực tiễn. Thực tiễn như chính sự sống. Một cuộc sống đong đầy những thương yêu. Yêu như tình yêu trai gái, đắm đuối như giấc mộng ban đầu. Thương như tình thương yêu nhân hiền, vẫn thấy nơi các bà góa hồi đầu thế kỷ. Như truyện kể hôm nay.

Trình thuật hôm nay, kể lại câu truyện rất “đong đầy” về hai người đàn bà nghèo, góa bụa. Các bà vốn rất nghèo. Nghèo tiền nghèo của, nghèo cả chức phận lẫn công danh. Ở xã hội Do Thái thuở trước, mồ côi, góa bụa, nghèo nàn, cả ba đều bị liệt vào giai cấp cùng đinh mạt rệp. Vị thế của họ vẫn cứ hèn và mạt đến độ không ngóc đầu thoát khỏi kiếp vong mạng nơi bùn đen. Kiếp người đốn mạt trái ngang, luôn gặp cảnh chê bai, miệt thị. Lối hành xử đầy khinh chê mà các bà gặp phải, hiện diện cả trong giới linh thiêng nhà Đạo nữa!

Trình thuật kể rằng: Đức Kitô xếp loại các thủ lĩnh Kinh Sư thời Ngài vào cùng một hạng với những người ta cần dè chừng. Dè chừng không chỉ vì họ luôn tìm ra phương cách khai thác bóc lột giai cấp cùng đinh mạt rệp mà thôi. Dè chừng, còn vì các thái độ khinh chê miệt thị và bóc lột ấy vẫn hủy hoại tình người. Thứ tình cần đến cơn mưa triền miên, ơn lắng đọng.

Với Đức Kitô, thái độ “xúng xính”, “bóc lột” là lối hành xử giả hình, không chấp nhận được. Cần đổi thay. Với Tin Mừng Nhất Lãm, cả ba thánh sử thỉnh thoảng vẫn kể lại hành vi kiêu căng, ngạo mạn của các đấng Kinh Sư nhà Đạo, lúc bấy giờ. Nghĩa là, hành vi của những người này trái ngược khác hẳn lối xử sự của đám nghèo hèn cùng đinh như các bà góa. Hành vi yêu thương luôn giùm giúp những ai đang cần.

Kinh nghiệm chính bản thân mình, Đức Giêsu đã triền miên chịu đựng mọi khổ đau vì người đời. Ngài vẫn không thể chấp nhận nổi phong cách “làm bộ đọc kinh nhiều giờ” của đám Kinh Sư, Biệt Phái. Là môn đồ Đức Chúa, dù ở cương vị nào, chắc hẳn ta cũng không chấp nhận nổi thái độ trịch thượng dễ gây xa cách ấy.

Thật ra, tạo cho mình có được của cải, quyền bính này khác, tự nó đâu có gì xấu. Vấn đề đặt ra là: khi tiếp nhận quà tặng từ Trên, dù quà đó có là quyền thế hay của cải tiền bạc, ta vẫn có thể sống đúng tư cách của người công chính được như thường. Hệt như phương châm: hãy nói tôi nghe bạn sử dụng quà tặng như thế nào, tôi sẽ cho biết bạn là ai. Ở đây nữa, quyền bính và của cải tiền bạc vẫn là “bát cơm đong đầy”, ta phải luôn cầu Trời mới mong có.

Trớ trêu thay, mọi quyền uy con người tạo được, dù ở chính trường, nơi nhà Đạo hoặc tại gia đình và xã hội, cộng thêm sự giàu sang từ đó có được, vẫn là những thứ hấp dẫn khó chối từ. Càng có nhiều uy quyền, người ta càng cố tạo nhiều của cải. Càng có nhiều của cải, người ta lại những tưởng mọi sự đều thuộc về mình. Không ai có quyền gỡ bỏ hoặc rút đi. Và, một khi có nhiều quyền hành và tiền của, người ta sẽ dễ trở nên kiêu căng, thích bóc lột người khác, những nghèo và hèn hơn mình.

Lúc ấy, họ sẽ quên đi lời nhắc nhở dặn dò rằng: tất cả đều là quà tặng từ Trên. Và, khi đã quên lời nhắc nhở từ Trên, người ta có khuynh hướng quên luôn cả Đấng đã nhắc nhở mình. Đã cho mình mọi uy quyền và của cải ấy.

Trình thuật hôm nay, thánh Máccô ghi lại lời nhắc nhở ngợi khen phong thái của người cùng đinh nghèo hèn, như bà góa. Đức Chúa khen ngợi các bà thuộc giai cấp thấp hèn không phải vì các bà vốn người đốn mạt, nghèo hèn. Chẳng có gì là cao-sang, ca ngợi nơi sự nghèo hèn. Điều mà Đức Ki-tô ngợi khen, chính là phong cách độ lượng, thương yêu giùm giúp của các bà, những người chị, người em đang sống cuộc đời nghèo hèn tận tuyệt.

Nghèo/hèn tận-tuyệt, là biết mình cũng chẳng là gì, chẳng hơn ai, thế nhưng lại vẫn biết người biết mình, luôn khiêm tốn, vẫn thân thương. Thân thương trong thái độ nhớ đến người khác. Nhớ đến những người còn nghèo hèn tận tuyệt, hơn mình. Biết người biết mình là lâu nay tuy bị bóc lột đến cùng cực, rất túng thiếu, nhưng vẫn lẳng lặng yêu thương đùm bọc. Không hợm hĩnh khoe khoang.

Có biết mình và biết người như thế, mới nói được rằng: kẻ cao sang, quyền quý dù biết nhiều học rộng, vẫn cần học và hỏi nhiều nơi người nghèo hèn. Học và hỏi, không phải kiến thức khoa bảng nở rộ. Học và hỏi về phong cách nhè nhẹ khi thương yêu đùm bọc, lúc quyên góp.

Nơi cuộc sống Đạo – Đời, vẫn là chuyện thường nếu lâu nay các đấng bậc cao sang quyền quý vẫn cứ dạy và dỗ đám dân nghèo, thấp hèn. Điều khác lạ nơi Tìn Mừng hôm nay, chính là bài học này: hãy để cho lớp người cùng đinh thấp hèn có cơ hội minh chứng dỗ dạy các đấng bậc quyền quý, rất cao sang. Các đấng đang ngự trị nơi: chính trường, nhà Đạo, hoặc tại khắp các nơi chốn như xã hội, gia đình. Và đó là điểm sáng Tin Vui rất an bình mà trình thuật Thánh Mác-cô muốn gửi đến người đọc.

Nơi dân gian trần thế có vài truyện kể cũng mang dáng dấp an vui Tin Mừng. Như truyện kể về đối chất thần học giữa vị Hồng Y nhà Đạo và tín đồ nghèo Do Thái Giáo.

Nhiều năm về trước, giới nhà Đạo ở Rôma có quyết định: người Do Thái phải rời bỏ thủ đô này, không được sống gần người nhà Đạo. Cộng đồng bạn tỏ ra bất bình trước quyết định gay gắt ấy. Thấy thế, Đấng bậc nhà Đạo bèn giải hòa bằng đề nghị: nếu cộng đồng bạn toàn thắng cuộc thi đấu kiến thức thần học, họ được ở lại. Phía nhà Đạo, vị được cử lên thi đấu lại là Hồng Y chủ quản. Còn phía Giáo Hội bạn lại chỉ đề cử một tín đồ nghèo hèn tên là Mô-sê. Sợ mình không thể đối nhanh đáp lẹ, kẻ hèn Mô-sê liền đề nghị cuộc thi diễn ra trong im lặng. Chỉ giơ tay ra dấu. Hai bên đồng ý nhập cuộc.

Bắt đầu, vị Hồng Y đưa tay lên cao giơ 3 ngón. Tín đồ Mô-sê chỉ giơ một ngón rất gọn. Hồng Y nhà ta dùng tay vẽ một vòng cầu trên đỉnh đầu. Còn Mô-sê lấy tay chỉ xuống đất chỗ mình ngồi. Hồng Y bèn đem bánh miến rượu nho, một lượng nhỏ thôi, hết sức cung kính lãnh nhận. Trong khi đó tín đồ Mô-sê lại mang trái táo xanh ra… xơi gọn !

Cuối cùng, vị Hồng Y đứng bật dậy nói: “Tôi xin thua! Người này quá tốt lành, anh ta đã thắng”. Thế là, cộng đồng người Do Thái được quyền ở lại. Vài giờ sau, các đồng nhiệm đến hỏi vị Hồng Y: “Sao lại như thế?” Vị Hồng Y đáp: “Trước hết, tôi giơ tay ba ngón ý nói Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, thì anh ta chỉ giơ ra có một, ý muốn nhắc nhở tôi: Đạo của chúng ta chỉ tin một Chúa.

Thế rồi, tôi ra dấu đánh vòng trên đỉnh đầu, ý muốn bảo: Đức Chúa đang hiện diện quanh ta, thì anh chàng lại chỉ tay xuống đất, ý rằng: đúng đấy thưa ngài, Đức Chúa đang có mặt ở đây, ngay lúc này. Cuối cùng, tôi đem rượu cùng bánh có ý nhắc: sùng kính Thánh Thể Chúa là việc rất phải. Phần anh ta, anh ta lại lấy trái táo xanh đem ra nhắc tôi: về tội nguyên tổ, ta cần phải chú ý đề cao. Tóm lại, anh ấy có giải đáp rất nhanh về mọi vấn đề”.

Cùng lúc, bạn bè trong cộng đồng Do Thái rất thân, bèn quây quần bên người thấp hèn Mô-sê, mà hỏi: này anh bạn già thấp kém như thế mà sao anh thắng được đấng bậc đạo mạo bên ấy. Anh thưa: “Có gì đâu. Lúc đầu, ông ấy bảo tôi: cộng đồng mình có ba ngày để dời đi nơi khác. Tôi thưa ngay: không người nào trong bọn tôi sẽ phải ra đi cả ! Rồi ông ta lại bảo: Toàn bộ ngôi thành này sẽ sạch bóng người Do Thái, là ý nói các anh phải biến đi ấy. Tôi bèn cho biết: Không đâu, bọn tôi quyết đóng trụ trên mảnh đất này, chẳng bao giờ đi đâu !”

Cuối cùng, có người hỏi: “Mô-sê, thế rồi sao ?” Mô-sê nói: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Tự nhiên thấy ông lấy đồ ăn bữa trưa ra ăn, tôi cũng bèn lấy trái táo xanh của mình ra ăn cho đỡ đói, thế thôi !”

Qua truyện kể, phong cách hành xử giải quyết vấn đề giữa vị chóp bu nhà Đạo và đạo hữu thấp hèn Môsê, rất khác biệt. Khác biệt, không có nghĩa loại bỏ, tru diệt lẫn nhau. Khác biệt là cần thắc mắc, cần học hỏi do đâu. Khác biệt không phải để so sánh phân tranh ngôi vị. Vì so sánh phân tranh không là giải đáp tốt ở nhiều trường hợp.

Thông thường và thích đáng hơn, vẫn là thái độ biết học và hỏi. Biết áp dụng lối xử sự, phương cách sống của người khác. Chí ít, của người nghèo hèn tận tuyệt, phương cách sống và lối xử sự ấy, không nhất thiết phải như đấng bậc phú quý ở trên cao. Cách hành động và đối xử thích hợp, vẫn có thể và vẫn nên như là cách thế của kẻ nghèo hèn tận tuyệt.

Tham dự Tiệc Thánh hôm nay, ta cầu và mong cho cộng đoàn thân thương của ta có được phong cách hành xử, rất thư thái xứng hợp. Thư thái, như dân thường ở huyện, chốn dân gian. Những kẻ thấp hèn luôn mong chờ mưa xuống. Mưa hồng ân. Mưa cứu độ vẫn đi kèm theo mỗi quà tặng thông thường, ta nhận lĩnh. Một khi có được phong cách nhẹ nhàng thoải mái như kẻ nghèo hèn, cùng đinh, ta sẽ thư thái hát lên lời ca, đầy khen ngợi, như ý nhạc của nghệ sĩ Quốc Dũng, mà rằng:

            “Ngày dài anh yêu hỡi

            Em mong chờ từ bao đêm tối

            Một vòng tay thiết tha ấm nồng.” (Quốc Dũng – Cho nhau mùa đông )

Vòng tay thiết tha, đầy những ấm nồng giùm giúp. Thế đó, là sự thiết tha nồng ấm từ những bàn tay giúp giùm nhẹ nhàng của bà góa, những kẻ đơn côi, rất nghèo hèn. Nghèo, nhưng vẫn giúp, vẫn giùm, vẫn thương. Đó chính là thực chất của nền thần học. Học về thần yêu thương, thần giùm giúp.

Không chỉ riêng cho người Công Giáo, hay Do Thái, mà là: lòng yêu thương giùm giúp của chung nhà Đạo. Đạo của Chúa. Đạo tình thương yêu.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 12: 38-44)

Trong lúc giảng dạy, Đức Giêsu nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma.

Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

Chú chó dũng cảm xông vào biển lửa cứu mèo con.

Chú chó dũng cảm xông vào biển lửa cứu mèo con.

DAM CHAY

Một vụ nổ xảy ra tại Donetsk, Ukraine, ngày 20/10/2014

Căn nhà bốc cháy, người chủ trước lúc chạy thoát thân đã nhớ và tháo bỏ dây xích của chú chó trong nhà, hy vọng nó cũng mau theo chủ bỏ chạy ra ngoài. Nhưng không …. con chó này đã không làm như thế mà quay đầu xông vào căn nhđ đang cháy.

Đây là điều người chủ không ngờ tới, nhưng lửa mỗi lúc một lớn, họ không tài nào quay trở lại để cứu con chó của mình. Khi người chủ còn đang lo âu nôn nóng, thì con chó từ trong biển lửa xông ra, miệng đang ngậm một chú mèo con.

Con mèo này cũng là thú nuôi của gia đình, cả hai vẫn đùa giỡn với nhau, vậy nên khi ngọn lửa bùng cháy, phản ứng đầu tiên của chú chó chính là đi cứu bạn.

Hành động dũng cảm của chú chó này đã khiến người chung quanh cảm động. Con mèo con thân thể gầy yếu, bị mắc kẹt trong biển lửa, không biết lối nao mà chạy; nếu chú chó không quay lại cứu, mèo con chắc hẳn sẽ chết trong biển lửa.

CHU CHO CUU MEO

Trong lúc nguy cấp đó, chú chó không một chút do dự, lao vào biển lửa để cứu người bạn thân. Tình bạn có hậu của nó rất đáng cho chúng ta thán phục.

Chính chúng ta đây, ngay tại thời khắc giữa sự sống và sự chết, sẽ có người chỉ lo cho mạng sống của riêng mình, nhưng chú chó này hoàn toàn ngược lại. Chú không ngại tình huống sống hay chết.

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng hãy trân quý cuộc sống, ngay cả của những con vật, và tất cả mọi thứ xung quanh bạn, bởi chúng đều có linh tính và tình cảm.

Xin chuyển cho mọi người để càng nhiều người hơn nữa biết được câu chuyện cảm động này.

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP CỦA HAI VỊ TIÊN SINH HỌ NGÔ

Ngày 2/11/1963, trước khi một người sĩ quan bị mua chuộc và hèn nhát ra tay hạ sát cả hai anh em mình, ông Ngô Đình Diệm đã đến nhà thờ Cha Tam, Quận 5 để cầu nguyện.

Ít ai biết được lúc đó ông Diệm và em mình, ông Ngô Đình Nhu, đã im lặng cầu nguyện điều gì.

Không lâu sau đó, hai anh em lãnh đạo nền Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam bị hạ sát. Dân tộc Việt mất đi những nhà chính trị kiệt xuất mà có thể nhiều thế kỷ sau vẫn không thể có người sánh bằng.

Sự xuất sắc của anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được thấy, qua việc hai ông nhận ra rất sớm, âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh, thông qua ngõ Hà Nội. Các tài liệu nghiên cứu ghi lại từ 1952, cho thấy ông Ngô Đình Nhu đã lập nên một mạng lưới thu thập thông tin về việc can thiệp của Trung Cộng ở miền Bắc. Sự kiện cải cách ruộng đất đẫm máu mà ông Hồ Chí Minh thực hiện theo yêu cầu của cố vấn Trung Cộng vào năm 1953-1954 đã khiến cho hai vị lãnh đạo miền Nam càng quyết tâm hơn nữa trong việc ngăn không cho chủ nghĩa cộng sản tràn vào miền Nam.

Sau khi ông Ngô Đình Nhu mất, năm 1964, nhà xuất bản Đồng Nai, Saigon, cho ra mắt tập Chính đề Việt Nam của ông với bút danh Tùng Phong. Tất cả những gì viết trong đó, là máu và nước mắt, là tương lai đầy uẩn khúc của dân tộc Việt được dự đoán – xác đáng trong từng con chữ.

“Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô”. (trích)

Sự kiên quyết với tự do và độc lập, sự thành kính và quyết liệt với di sản của tổ tiên người Việt trao lại của hai ông vị lãnh đạo ấy, đã khiến cho hai ông vẫn được nhắc nhở, kính trọng sau khi qua đời. Đặc biệt, với những xung đột xã hội trước khi bị lật đổ – như với phía Phật Giáo – người Việt ngày càng nhận ra bên trong có sự dàn dựng và can thiệp từ phía Bắc.

Rất nhiều thông tin tuyên truyền cho rằng hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là căn cơ Công giáo nên ghét bỏ Phật giáo. Nhưng cũng ít ai biết rằng năm 1959, khi ông Ngô Đình Diệm được giải thưởng Leadership Magsaysay (dành cho các nhà lãnh đạo xuất sắc) với ngân phiếu 15,000 USD, ông đã gởi sang cho ông Đỗ Vạn Lý, Tổng Lãnh Sự VN tại New Delhi, Ấn Độ, để biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lúc đó đang rất khó khăn vì bị Mao Trạch Đông cho quân đội truy đuổi. Chính Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận điều này trong một bài nói chuyện trước cộng đồng Việt Nam – Mỹ, tại California.

Ý nguyện về một Việt Nam độc lập của hai vị Ngô tiên sinh cũng rất rõ. Năm 1961, khi đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Phía đón tiếp chuẩn bị rất nhiều cờ hai màu vàng trắng của Vatican. Thấy thiếu cờ quốc gia, Ngô tổng thống đã gọi viên thiếu tá tỉnh trưởng đến để chất vấn ”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”.

Thật khó mà biết được hai vị đã cầu nguyện điều gì với Đức Jesus trong những giây ngặt nghèo ấy của đời mình. Nhưng có thể không phải là sự sợ hãi cho bản thân, mà sự sợ hãi cho một nền độc lập, một nền tự do non trẻ của nhân dân Việt Nam sẽ mai một.

Sinh thời,  câu nói nổi tiếng của Ngô tổng thống vẫn hay được nhắc đến:

“Tôi tiến. Hãy tiến

Tôi lui. Hãy giết tôi

Tôi chết. Hãy nối chí tôi!”

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước ấy. Xin được nhắc lại vài lời của họ với sự kính trọng. Người Việt đã từng có người dẫn đầu cho cuộc trường chinh vào tự do, thoát khỏi bóng ma xâm lược của Trung Cộng. Người Việt cũng đã có người chết, có người tù đày vì hào khí anh linh của giống nòi. Người Việt cũng đang kêu gọi, chờ đợi một thế hệ sẽ nối chí để đưa đất nước này ra khỏi gọng kìm phương Bắc.

Sĩ khí của hai con người yêu nước, đã nhắc chúng ta rất nhiều điều vào lúc này.

Lại Thêm Một Bát Xáo Voi

Lại Thêm Một Bát Xáo Voi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Trăm voi không được bát nước xáo.

Thành ngữ Việt Nam

Bằng giờ này hai năm trước, báo Pháp Luật nghiêm nghị loan tin:

Tối qua (8/11), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng công bố ngày 9/11 là Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam Phát biểu tại buổi Lễ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là hình thức pháp lý cao nhất thể hiện tư tưởng, đường lối, cương lĩnh của Đảng, ý chí, nguyện vọng và những lợi ích cơ bản của nhân dân. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật. 

Sau lời “khẳng định” này, cả nước đã nô nức thi đua học tập về ý nghĩa của Ngày Pháp Luật. Khắp nơi đều tràn ngập bích chương hay tranh cổ động toàn dân sống & làm việc theo luật pháp.

Cũng trong ngày này, khi trao đổi với phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân bên hành lang Quốc Hội, đại biểu Lê Thanh Vân nhấn mạnh: “Điều quan trọng là phải làm sao để mỗi người dân thấm đẫm tinh thần thượng tôn pháp luật.” Trung tướng Trần Văn Độ, Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân, cũng nói thêm: “Phải thường xuyên giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho người dân.”

Một trong những địa phương có thể được nêu ra làm gương cho tinh thần “thấm đẫm thượng tôn pháp luật” là tỉnh Bến Tre, nơi mà năm thanh niên đã bị kết án 20 năm tù vê tội … trộm gà – như tin của báo Thanh Niên:

“Ngày 31.7, TAND huyện Ba Tri (Bến Tre) xử lưu động, tuyên phạt các bị cáo Đoàn Văn Tích 4 năm 6 tháng tù, Nguyễn Thanh Sơn 5 năm 6 tháng tù, Hồ Văn Nhi 7 năm tù; Phan Văn Lượn và Lê Văn Lộc 5 năm 3 tháng tù cùng về tội cướp tài sản. Khoảng 2 giờ sáng ngày 30.1, sau khi uống rượu, Tích rủ Sơn, Nhi, Lượn và Lộc cầm dao đến quán Ngọc Trâm để uy hiếp chủ quán là ông Lê Văn Tươi ở ấp An Lợi, xã An Thủy, Ba Tri; sau đó, bắt gà bán lấy tiền tiêu xài.”

Thanh Hoá cũng là một nơi rất đáng được biểu dương vì  cách “xử lý nghiêm” của chính quyền địa phương – theo VnExpress:

“Ngày 5/7, ông Hoàng Sỹ Quang, Đội trưởng Quản lý thị trường số 2 (Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa) cho biết, chính quyền thị xã Sầm Sơn vừa ra quyết định xử phạt nhà hàng Duy Anh (ở đường Hồ Xuân Hương, phường Bắc Sơn, thị xã Sầm Sơn) số tiền 20 triệu đồng về hành vi gian lận trong kinh doanh dịch vụ ăn uống.

Khi tính tiền bữa ăn của đoàn khách du lịch, một nhà hàng ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) đã ghi khống 2 tô cơm để lấy thêm 60.000 đồng.”

Ảnh S.S: VnExpress

Không riêng gì VnExress, vụ việc “ghi khống 2 tô cơm bị xử phạt 20 triệu đồng ”đã được tất cả các cơ quan truyền thông nhà nước (kể cả T.V.) đồng loạt thông tin, cứ y như là  một “tin vui” để cổ vũ cho Ngày Pháp Luật Việt Nam vậy.

Chính quyền tỉnh Thanh Hoá, rõ ràng, đã thực thi luật pháp một cách hết sức nghiêm minh và nhanh chóng. Tỉnh Quảng Trị, tiếc thay, “chưa thấm đẫm tinh thần pháp luật” gì cho lắm nên dù cũng có chuyện “ghi khống” xẩy ra mà chả có ai bị xử lý ráo trọi. Báo Lao Động số ra ngày 06 tháng 7 năm 2015 cho hay:

Kết quả xác minh của Bộ Tư lệnh Biên phòng tại BĐBP tỉnh Quảng Trị mới đây đã xác nhận trong năm 2013 – 2014 đã có 11 kế hoạch tuần tra giám sát nghề cá trên biển được lập khống với tổng số tiền đã được quyết toán gần 1,9 tỉ đồng, trong đó riêng nhiên liệu gần 1,750 tỉ đồng và tiền ăn thêm đi biển + phụ cấp đặc biệt là 91,4 triệu đồng. Tuy nhiên, một cán bộ công tác trên các tàu được quyết toán khống này khẳng định rằng trên thực tế số lượng tàu tuần tra được quyết toán khống còn lớn hơn nhiều.

Nguyên văn bài báo thượng dẫn (“Quảng Trị: Tuần Tra Biển Khống, ‘Rút Ruột’ Nhà Nước Hàng Tỉ Đồng”) gồm 1.000 từ. Không một chữ nào nói đến chuyện kỷ luật hay xử phạt ai cả. Những hạn từ thường thấy như “kiểm điểm,” “rút kinh nghiệm,” hay “khắc phục” cũng khỏi có luôn.

Vài tháng sau, ông ông Lê Hữu Thọ – Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Uy Quảng Trị – cho phóng viên báo Lao Động biết thêm rằng “Vụ tuần tra biển khống rút ruột Nhà nước hàng tỉ đồng chưa xử lý vì… quá nhiều việc, không có thời gian.”

Thời gian (buồn thay) không chịu đứng về phía công lý nên trên trang Anh Ba Sàm lại có thêm tin rằng bài báo (“Bỏ Mặc Ngư Dân Là Vô Trách Nhiệm, Vô Cảm và Không Thể Tha Thứ”) đề cập đến việc tuần tra giả và khống tiền nhà nước của lực lượng Biên Phòng tỉnh Quảng Trị – trên trang GDVN – đã “được”… gỡ bỏ rồi!

Bỏ cũng … đúng thôi. Ghi khống vài tỉ đồng tiền Việt, nói nào ngay, chỉ là chuyện nhỏ. Số tiền này chả đáng kể gì nếu nếu  so với hàng triệu (hay hàng tỉ Mỹ Kim) bị “khống” trong vụ Vinashin – theo như lời than phiền của nhà báo Bùi Hoàng Tám, đọc được vào hôm 27 tháng 07 năm 2015:

Cứ nghĩ tham nhũng nó chỉ như kiểu bà đi chợ, mua 10 đồng nói 11 hay 12 đồng. Nhưng không. Bọn chúng mua một đồng nhưng khai lên 3 – 4 đồng thậm chí 5-6 đồng. Ví dụ như cái ụ nổi của Dương Chí Dũng, giá mua chỉ có 2triệu USD nhưng được khai khống lên đến 9 triệu USD (cao hơn khoảng 150 tỉ VND). Một trạm biến áp tại Quy Nhơn nhà thầu trúng thầu với giá 30 tỉ đồng, khi đấu giá lại, số tiền cuối cùng chỉ là 7 tỉ, chênh lệch tới 23 tỉ đồng.

Và một chuyện cũng không mới, đó là hơn 1.000 tỉ đồng trong vụ Vinashin gần như chắc chắn mất tiêu.

Còn “gần như” gì nữa, cha nội. Mất trắng rồi, và mất từ mấy bữa trước lận – theo tường thuật của nhà báo Lê Chân Nhân (Dân Trí) vào hôm 22 tháng 7 năm 2015:

Cơ quan thi hành án dân sự vừa ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số tiền hơn 1.000 tỉ đồng vì xác nhận người phải thi hành án trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin không còn điều kiện thi hành án.

Minh họa: Ngọc Diệp

Trong hơn 1.000 tỉ đồng đó, cựu Chủ tịch Vinashin có 500 tỉ đồng nhưng chưa thi hành án được đồng nào. Xác minh tài sản thì coi như tay trắng, muốn thu hồi cũng không biết lấy gì để thu hồi...

Bắt được tham nhũng mà không thu được tiền tham nhũng về cho nhà nước thì coi như thất bại. Tuyên án, bắt bồi thường hàng trăm tỉ đồng, nhưng bị án không đền một xu. Người ta nghĩ rằng, đã vào tù rồi coi như bỏ, dại gì ôm tiền đem nộp, thà để cho vợ con hưởng. Hy sinh đời bố, củng cố đời con là vậy...

Cơ quan thi hành án dân sự đưa ra biện pháp thu hồi bằng cách động viên người thân các lãnh đạo Tập đoàn Vinashin và chính những người này thực hiện nghĩa vụ thi hành án, nộp tiền hoặc cung cấp thông tin về tiền, tài sản đang ở đâu. Cách này xem ra phiêu lưu, bởi vì nếu như gia đình họ có ý định nộp tiền thi hành án thì họ đã thực hiện, một biện pháp không chắc ăn thành công. Đã là động viên thi làm cũng được không làm cũng chẳng sao.

Từ chuyện này mới thấy kẻ hở của việc kê khai tài sản cán bộ. Mới đây, cả triệu người kê khai tài sản, chỉ có vài trường hợp không trung thực. Đến khi trong số những người kê khai trung thực bị phát hiện tham nhũng tương tự như những cán bộ của Vinashin, thì cơ quan thi hành án bó tay. Tài sản đứng tên của họ chỉ có căn hộ trị giá vài tỉ đồng, lấy gì để thi hành án?

Nói vắn tắt là ở Việt Nam cơ quan chức năng chỉ “thi hành án” (và xử lý nghiêm) khi đám dân đen bắt trộm mấy con gà, hay ghi khống vài tô cơm trắng thôi, chớ còn mấy vụ lùm xùm khác thì khỏi vì “quá nhiều việc, không có thời gian” – theo như nguyên văn lời của ông Lê Hữu Thọ,  Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy Quảng Trị.

Đồng chí T.B.T cũng đã nói trước rồi mà: “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng.” Nhà Nước mới “đẻ” ra cái Ngày Pháp Luật cho nó (thêm) vui thôi. Có thể, nó cũng sẽ vui y như ngày Thương Binh Liệt Sĩ vậy:

… tôi được đi dự rất nhiều ngày lễ “trọng đại “này, gọi là ngàythương binh, liệt sỹ”nhưng tôi chẳng thấy thương binh, gia đình liệt sỹ đâu, chỉ thấy nhẵn mặt đại diện các ban ngành mà bất cứ hội nghị nào cũng có mặt, có chăng lúc nhiều nhất tôi đếm được 4 người thương binh và 3gia đình liệt sỹ trên tổng số hơn 6 chục người đại biểu và khi sếp mâm thì đến trên 8 chục người.

Điều đáng nói là nhiều thôn, xã cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ chức huy động quyên góp quỹ “đền ơn, đáp nghĩa”chỉ đủ hoặc không đủ chi bữa cơm để tổ chức tọa đàm kỷ niệm ngày lễ thiêng liêng này. những đối tượng thương binh, gia đình liệt sỹ chỉ nhận được món qùa của nhà nước gửi đến, ngoài ra họ chẳng nhận được gì thêm.

Hình ảnh một người có quyền chức khá cao, trong không khí vui mừng, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”ông nói với giọng điệu giễu cợt, ông nói: theo tôi nên đề nghị đảng, nhà nước tách ra ngày thương binh riêng, ngày liệt sỹ riêng để anh em mình có dịp bù khú hơn, rồi ông cười khà khà chẳng cần giữ ý tứ gì với mọi người xung quanh. Mọi người đồng thanh tán thưởng, cùng nhau nâng chén hô to rô. . . rô. (Hồi Ký Vi Đức Hồi – Đối Mặt).

Tôi chưa hình dung ra những “dịp bù khú” nhân Ngày Pháp Luật sẽ rôm rả ra sao nhưng chắc chắn qúi vị cán bộ nhà nước (thuộc những cơ quan chức năng liên hệ) đã tìm tìm được cách rồi.