THÁNH GIOAN TẨY GIẢ – Lm Nguyễn Hồng Giáo

Lm Nguyễn Hồng Giáo

Trong Giáo hội, ngày lễ kính một vị thánh là ngày từ trần của vị ấy, quen gọi là “ngày sinh nhật trên trời” của người, ngày người sinh ra trên trời.  Duy chỉ có thánh Gioan Tẩy Giả là được kính mừng cả trong ngày Người sinh ra lẫn trong ngày Người tạ thế.  Tưởng không có gì lạ.  Tất cả cuộc đời của thánh nhân từ lúc sinh ra, và ngay cả trước lúc sinh ra, chỉ là một lời chứng duy nhất cho Chúa Giêsu.

 

Con người của một sứ mạng

Có những người cho rằng người ta sinh ra ở đời là “bị vất vào đó,” một cách tình cờ, vu vơ, vô nghĩa.  Thông thường hơn, người ta nói mỗi người có một định mệnh.  Trước định mệnh ấy con người đành bó tay chịu đựng, không cách nào thoát ra được.  Người Công giáo thì tin rằng mỗi người sinh ra là do ý muốn đầy yêu thương của Thiên Chúa, rằng không phải một sức mạnh mù quáng hay khắc nghiệt nào đó đã ném họ vào đời, nhưng chính Tình Yêu của Chúa “gọi” họ vào cuộc sống, và khi cho một con người sinh ra, Thiên Chúa có một ý định, một dự tính về người ấy, không phải như một kế hoạch áp đặt nhưng như một sứ mạng để hoàn thành trong tự do và trách nhiệm, hầu cho con người được hạnh phúc và cuộc đời họ được thành tựu đích thực.  Ta gọi sứ mạng đó là một “ơn gọi.”  Về mặt này, trường hợp của ông Gioan Tẩy Giả là tiêu biểu và rõ ràng.

Qua tường thuật của Kinh Thánh, chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa về Gioan đã được biểu lộ hiển nhiên ngay từ giây phút ông được thụ thai, rồi trong việc ông sinh ra, việc đặt tên cho ông, việc mẹ ông và mẹ Chúa Cứu Thế gặp nhau v.v…  Trong các biến cố đó, ta thấy có sự can thiệp lạ lùng của Chúa vào trong cuộc đời của Gioan để định hướng cho nó.  Điều đáng nói hơn là về phần ông, một khi đã khôn lớn và nhận ra sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó, Gioan Tẩy Giả không còn biết gì khác hơn là sống trọn vẹn cho sứ mạng đó một cách lô-gic, kiên quyết, trọn vẹn, cho tới cùng.  Ông rút lui sớm vào hoang địa, sống khắc khổ xa lánh mọi mời mọc, níu kéo của trần gian là để được sống trọn vẹn hướng về Đấng Cứu thế mà ông phải làm kẻ “dọn đường.”  Ông rao giảng bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc, mạnh mẽ để lôi kéo người ta sám hối đổi đời vì thời gian không còn nhiều, Nước Thiên Chúa sắp tới.  Sau khi thiên hạ đã rời ông để quay sang Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, ông âm thầm rút lui vào bóng tối vì đã hoàn thành nhiệm vụ “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi,” ông tuyên bố như thế (Ga 3,30).  Rồi cả cái chết của ông cũng là một phần không thể tách lìa sứ mạng của một kẻ “dọn đường” và “làm chứng cho ánh sáng và sự thật.”

Gioan và Hêrôdê

Tôi thấy thánh Gioan Tẩy Giả Và vua Hêrôđê, kẻ đã ra lệnh chém đầu Người, là hai khuôn mặt hoàn toàn tương phản.  Gioan là người mạnh mẽ, chí khí, còn Hêrôđê là người yếu đuối, do dự.  Một đàng thì sống khắc khổ, giản dị, còn đàng kia lại thích xa hoa, hưởng thụ.  Hêrôđê đã bắt giam ông Gioan vì ông mạnh mẽ tố cáo nhà vua đã lấy vợ của anh mình.  Thật ra vua cũng tỏ ra kính phục nhà tiên tri, biết ông là người công chính và thánh thiện, nhiều khi ông đã bênh vực Gioan.  Nhưng ông là người thiếu ý chí, bị bao vây bởi đam mê, dục vọng.  Và tuy là người cai trị khôn khéo nhưng ông lại bị các khuynh hướng xấu xa làm chủ mình.  Thế nên ông đã bắt Gioan tống ngục, chắc hẳn là dưới sức ép của bà Hêrôđiađê, người chị dâu mà ông ta đoạt làm vợ.  Rồi trong một bữa tiệc, ông đã hài lòng về điệu múa của cô con gái của bà đến độ đã hứa ban cho cô ta bất cứ điều gì cô xin.  Một lời hứa bốc đồng.  Đó không phải là tiếng nói của lý trí, của lương tâm mà là của cảm tính, của bản năng.  Và thế là ông đã mắc mưu bà Hêrôđiađê rồi.  Bà bảo con gái hãy xin cái đầu của Gioan.  Đã lỡ hứa trước mặt các thực khách, nhà vua đành phải giữ lời, mặc dù trong thâm tâm ông không muốn giết con người công chính này.

Vua Hêrôđê tiêu biểu cho những con người để cho phần thú tính nơi mình lấn lướt; mặc dù đôi khi lý trí và lương tâm vẫn còn lóe lên nơi họ, kêu gọi họ hãy vươn cao lên, nhưng không đủ sức kéo họ ra khỏi vũng bùn lầy bởi họ đã quen sống trong những sự thấp hèn.  Đối diện với Hêrôđê, ông Gioan Tẩy Giả xuất hiện như một con người có lý tưởng, sống nhất quán vì lý tưởng đời mình; một con người của bổn phận; con người biết chiến đấu cương quyết chống lại những lôi cuốn của bản năng thấp hèn; con người của những đỉnh cao.

Thánh Gioan Tẩy Giả và chúng ta

Như Gioan, mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng, một ý định của Thiên Chúa về chúng ta.  Nhưng làm sao biết được?  Kinh Thánh và giáo lý của Hội Thánh cho ta biết rằng con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa,” “có khả năng hiểu biết là yêu mến Tạo Hóa” và “chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa.”  Đó chính là mục đích của việc tạo dựng con người.  Con người phát xuất từ Thiên Chúa, sẽ được trở về với Thiên Chúa.  Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (năm 1992) trích dẫn lời thánh nữ Catarina thành Sienna như sau: “Vì sao Ngài đã dựng nên con người với phẩm giá cao trọng như vậy?  Với tình thương vô biên, Ngài đã nhìn ngắm thụ tạo nơi chính mình và say mê nó.  Vì thương yêu, Ngài đã tạo ra nó; vì yêu thương, Ngài cho nó khả năng hưởng phúc vĩnh cữu, (sđd, số 6).

Đó là ý định chung của Thiên Chúa là ơn gọi chung của chúng ta.  Mỗi người sẽ phải thể hiện ơn gọi đó cho nên mình tùy theo diễn tiến cụ thể đời mình, theo những điều kiện và hoàn cảnh sống thực tế, khi ra sức tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa trong lề luật của Người và lời dạy của Giáo hội, trong việc bổn phận của bậc sống mình, trong lương tâm ngay thẳng, trong luật lệ chính đáng của xã hội, trong các biến cố…

Không phải tự nhiên và dễ dàng mà chúng ta có thể thực hiện ý định của Chúa đối với chúng ta.  Trong mỗi người đều có hai khuynh hướng: một nâng ta lên cao, một kéo ta đi xuống.  Chúng ta thường xuyên kinh nghiệm rằng hai khuynh hướng thiện ác đó đấu tranh kịch liệt với nhau ngay trong ta.  Muốn chiến thắng, phải tỉnh thức và cầu nguyện, phải tập nghe theo tiếng nói của lý trí, của lẽ phải và lương tâm, trong việc lớn cũng như việc nhỏ; đồng thời cũng phải tập sống khổ chế, nghĩa là sống có kỷ luật, biết hy sinh và từ bỏ.  Làm sao có thể có một đời sống tinh thần phong phú nếu lúc nào cũng tìm kiếm và chiều theo những sự dễ dãi, thoái mái, nếu lúc nào cũng chạy theo vui thú vật chất và xác thịt?

Ít năm sau chiến tranh, tôi có dịp đi thăm một anh em tu sĩ chúng tôi ở Xuyên Mộc.  Ngài phụ trách một giáo xứ khoảng 4.000 giáo dân và ba địa điểm cách giáo xứ từ 7 đến 20 cây số với số giáo dân khoảng 6.000 người nữa.  Tôi đã đi thăm hai địa điểm lớn ở xa.  Đó là hai làng kinh tế mới.  Tôi thấy giáo dân thật sốt sắng, đầy can đảm trong công việc làm ăn cũng như trong việc đạo.  Đặc biệt tôi gặp một gia đình Dòng Ba Phanxicô gốc ở Phú Nhuận.  Khi tôi đến, ông đang dạy giáo lý hôn nhân cho một chị độ 25 tuổi.  Ông bà cho biết: họ có mấy người con trai, trong đó có đứa nghiện xì ke đã làm cho họ rất khổ tâm.  Để tránh cho mấy đứa khác khỏi bị lôi kéo vào con đường hư hỏng đó, hai ông bà đã quyết định đưa cả gia đình tới đây sinh sống từ 1980.  Bây giờ họ sống nghèo nhưng vui và bình an.  Tinh thần đơn sơ, nghèo khó, vui tươi và phó thác của Dòng Ba đã giúp họ can đảm sống cuộc đời thiếu thốn vì lợi ích của con cái.  Họ nói tuy họ không giàu có nhưng con cái họ không hư hỏng.

Theo “ơn gọi” và hoàn cảnh riêng của mình, hai người công giáo này đáng cho ta khâm phục không kém Gioan Tẩy Giả, và chắc chắn là gần gũi và dễ noi gương hơn noi gương vị Tiền Hô.

Lm Nguyễn Hồng Giáo

From: Langthangchieutim

Thánh Luy Gonzaga ( 09-03-1568 đến 21-06-1591)

Hôm nay 21/06 Giáo hội mừng kính thánh Luy Gonzaga, quan thầy của giới trẻ và các sinh viên. Chúc mừng chúc mừng những ai có tâm hồn trẻ trung nhé!

Cha Vương

Thứ 4: 21/06/2023

Thánh Luy Gonzaga chào đời ngày 09-03-1568 trong một gia đình quyền quý và danh  giá, thuộc xứ Castiglione, miền bắc nước Ý. Cha ngài là bá tước Ferdinand, người muốn hướng Luy vào nghề binh nghiệp; còn mẹ ngài là một người đạo đức, biết dạy con yêu mến Chúa, sùng kính đức Maria và thương giúp người nghèo. Với gương sáng đạo hạnh của người mẹ, thánh Luy đã sớm khát khao bước đi trên con đường trọn lành như Chúa muốn.

Chúng ta có thể tóm lược cuộc đời thánh nhân qua hai điểm sau:

(1) Sùng kính và dâng hiến cuộc đời cho Đức Maria—Nhờ hương thơm thánh thiện của người mẹ, thánh Luy đã sớm có lòng sùng kính Đức Maria cách đặc biệt. Tại Florence, vào năm 1577, thánh nhân đã khấn giữ mình trinh trong trước tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, tại nhà nguyện Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ.

Ngài luôn lánh xa mọi dịp tội, hay bất cứ sự gì có thể làm cho mình cắt đứt mối hiệp thông thân tình với Thiên Chúa. Ngài chuyên chăm cầu nguyện, sống nghiêm nhặt và khắc khổ. Sau khi trở về quê nhà Castiglione, ngài còn tăng thêm các việc lành đạo đức, và coi đó như một bổn phận: quỳ đọc kinh Nhật Tụng về Đức Mẹ, các Thánh Vịnh sám hối và các kinh nguyện khác.

Ngày 15-08-1583, đang khi cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ trong nhà thờ, thánh Luy cảm thấy như mình được Chúa kêu gọi dâng hiến cuộc đời cho Ngài trong đời sống tu trì. Sau đó, thánh nhân quyết định bước theo tiếng gọi của Chúa và  gia nhập dòng Tên, dù bị người cha phản đối. Có thể nói, cuộc đời thánh Luy đã trao hiến hoàn toàn cho Đức Mẹ và để cho Mẹ dẫn dắt đời mình theo Thiên Ý. Do đó, người ta thường gọi thánh nhân là “Thiên thần con”.

(2) Hy sinh phục vụ—Bước vào nhà dòng, thánh Luy chỉ muốn quyên mình, sống khiêm tốn, nhiệt tâm phục vụ cộng đoàn, thương giúp những người nghèo hèn và bệnh tật. Ngài làm các công việc nhỏ nhặt như: làm bếp, rửa chén bát, lau nhà… hầu như thánh nhân không nề hà công việc gì, dù công việc đó có khó khăn, nặng nhọc và nguy hiểm đến tính mạng.

Năm 1591, nước Ý lâm vào cảnh đói kém và cơn bệnh dịch lan tràn tại Roma và các vùng khác đã làm cho nhiều người chết. Trước cảnh khốn cùng của người dân, thánh Luy cùng với nhiều người khác đi quyên góp quần áo, thực phẩm và thuốc men để giúp đỡ những ai đang gặp gian nguy. Với những người đang hấp hối trên đường phố, thánh nhân đưa đến bệnh viện, tận tình chăm sóc, tắm rửa và giúp họ lãnh nhận các bí tích sau cùng. Chính lòng bác ái với người khác, nên thánh nhân cũng bị nhiễm bệnh.

Trên giường bệnh, thánh nhân đã viết thư cho mẹ với tất cả niềm trin ân và niềm tin tưởng vào Chúa: “Thưa mẹ, con thú thật với mẹ rằng: mỗi khi con suy nghĩ về lòng tốt của Chúa, giống như biển không đáy không bờ, linh hồn con như rơi xuống vực sâu ấy, chìm trong cảnh bao la bát ngát, lạc lõng và không biết đáp lại làm sao, vì sau một thời gian làm việc vắn vỏi và sơ  sài như thế mà con đã được Chúa ban cho nghỉ ngơi muôn đời”.

Ngày 21-06-1591, thánh Luy lãnh nhận các bí tích sau cùng, và ra đi bình an khi mới 23 tuổi đời.

Đức Giáo Hoàng Phaolô V tuyên phong chân phước cho ngài vào ngày 19-10-1605; và ngày 31-12-1726, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII đã nâng ngài lên bậc hiển thánh.

Santuario Basilica San Luigi GonzagaVƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG SAN LUIGI GONZAGA, gần thành phố Brescia nước Ý.

Thánh địa, được xây dựng bởi những người cha Dòng Tên bắt đầu từ năm 1608, luôn là điểm tựa cho lòng sùng kính vị thánh của những người trẻ tuổi, họ đến trung tâm hành hương này từ khắp nơi trên thế giới.

Lạy Chúa! Chúa đã ban cho thánh Luy Gonzaga đầy hương thơm thánh thiện, luôn giữ mình trinh trong, tôn sùng Đức Maria và thương giúp kẻ nghèo. Nhờ lời chuyển cầu của thánh nhân, xin Chúa ban cho mỗi người chúng con biết giữ mình khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, sống yêu thương và quảng đại phục vụ anh chị em. Amnen.

(Nguồn: Simonhoadalat—hạnh các thánh)

 

Tiểu Sử Thánh Luy Gonzaga chi tiết, (Trang Mạng Dòng Tên)

Thánh LU-Y GONZAGAOggi celebriamo San Luigi Gonzaga, che rinuncio a molte ricchezze

Sinh năm 9.3.1568 tại Dastiglene, nước Ý.

Vào Dòng, ngày 25.11.1585 tại Rôma

Qua đời, ngày 21.6.1591 tại Rôma;

Phong thánh ngày 31.12.1726.

Lễ nhớ 21.6

Đến ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1488, Lu-y đã chắc chắn phải theo con đường nào: Dòng Tên.

Khi được biết quyết định ấy, Hầu tước Ferrantê Gonzaga nổi giận lôi đình, ông buộc Lu-y phải bỏ ngay ý định “quái gở” ấy đi, nếu không ông sẽ cho một trận đòn nên thân ngay trước mặt bá quan văn võ ở triều đình Tây Ban Nha. Lu-y không chút nao núng: “Con sẽ sung sướng chịu trận đòn ấy vì yêu mến Chúa.” Hầu tước cho gọi lần lượt tất cả mọi người mà ông nghi ngờ đã thổi cho Lu-y ý định vào Dòng Tên, và nặng lời trách móc, kể cả bà Hầu tước cũng như cha linh hướng của Lu-y.

Nhưng ai nấy đều chối không hề xúi giục anh làm chuyện đó. Hầu tước đành gọi Lu-y đến: “Ít ra đáng lẽ con phải nghĩ đến một đàng khác hi vọng được quyền cao chức trọng trong Giáo hội cho khỏi bẽ mặt dòng họ nhà mình.” Lu-y giải thích: “Thưa cha, đó chính là lý do tại sao con chọn Dòng Tên. Con muốn dứt hẳn đường danh vọng, nếu ham danh vọng thì con chỉ cần ở nhà nối nghiệp cha, tội gì con lại đi thả mồi bắt bóng!”

Cái gì đã dẫn Lu-y Gongaga đến một quyết định hệ trọng như thế năm mới 15 tuổi?

1.     ÔNG HOÀNG CON

Ngày 9.3.1568, Lu-y mở mắt chào đời. Hôm sau tất cả dân xứ Castigline miền bắc nước Ý tưng bừng mở hội ăn mừng Hầu tước đã có thế tử. Chuông tất cả các nhà thờ đồng loạt đổ trong 3 ngày vào đúng 11 giờ, đồng thời ban nhạc trình diễn lưu động trên khắp các đường phố, thôn xóm. Suốt một ngày, Hầu tước thết tiệc mọi người, tự do ăn uống no say thỏa thích. Các cuộc chơi được tổ chức khắp nơi. Ban đêm mở hội hoa đăng và bắn pháo bông. Hình như Hầu tước đặt tất cả hi vọng của mình cũng như cả dòng họ nơi “cậu Hoàng con.” Sau này khi Lu-y vào Nhà Tập, ông viết cho cha Tổng quyền Dòng Tên: “Tôi trao cho cha kho tàng quí báu nhất của tôi trên cõi đời này.”

Sinh trong gia đình một lãnh chúa thời Phục Hưng ở châu Âu, Lu-y đã sống đúng như một ông hoàng ngay từ thời thơ ấu. Hầu tước yêu quí anh vô chừng, nên anh được săn sóc cực kỳ chu đáo. Ông cũng mong anh nối nghiệp mình và còn đưa lại vinh dự cho dòng họ Gonzaga hơn nữa.

 

Năm lên 5 tuổi, anh được ông cho mặc đồ sĩ quan, và sống với ông trong trại quân. Lu-y rất thích mang súng và bắn súng. Một hôm khi cả trại quân đang ngủ, cậu hoàng con đã lẻn đi ăn cắp thuốc súng và khai hỏa một khẩu đại pháo. Tiếng nổ dữ dội khiến Hầu tước tưởng là một cuộc khởi loạn. Lệnh báo động tức tốc được ban hành và cuộc truy nã bắt đầu. Ít phút sau quân lính đem đến trình bày trước thủ phạm. Ông ra lệnh: “Đã là quân nhân thì dù 6 tuổi hay 60 tuổi cũng phải bị phạt theo quân luật!” Dầu sao hôm ấy ông rất hãnh diện thấy Lu-y đầy hi vọng nối nghiệp mình.

June 21 – He Was More Angel than Man - Nobility and Analogous ...

Ở trại lính về, Lu-y làm mọi người sửng sốt vì cách ăn nói kỳ dị. Thật vậy, bây giờ anh dùng ngôn ngữ của những người ăn nói bừa bãi nhất. Tiếng lóng pha trộn với những tiếng chửi thề nhiều khi tục tĩu làm cho bà Hầu tước và nhiều người phải đỏ mặt. Viên thái sư được lệnh ngay lập tức, phải tập lại cho thế tử ngôn ngữ của hàng vương giả.

Sau này, khi đã lớn, Lu-y rất hối hận vì những chuyện không hay xảy ra trên đây, và phần nào đã cho thấy phải đổi môi trường sống để có được một đời sống thánh thiện.

Lên 7 tuổi, Lu-y cùng với em là Rôđôlphô bắt đầu gược gởi đi thọ giáo tại các triều đình danh tiếng. Đâu đâu anh cũng thấy những cảnh vinh hoa có thể làm nhiều người lóa mắt. Đời sống ở các triều đình có thể tóm tắt trong hai chữ: hưởng thụ. Người ta không biết làm gì hơn là tổ chức những bữa tiệc linh đình, đàn ca múa hát cho qua ngày. Những cuộc chơi được tổ chức liên miên. Những buổi bàn luận có vẻ đúng đắn thỉnh thoảng được tổ chức để tỏ ra vẻ là những nhà tri thức. Thời gian còn lại dùng để chuyện trò. Đề tài các câu chuyện hầu hết là những chuyện tình tứ, nhiều khi chẳng đúng đắn bao nhiêu.

Sống trong xã hội ấy, Lu-y phải tập giữ đúng phong cách một ông hoàng, cách cư xử tao nhã, cách xưng hô cầu kì, nói chuyện kiểu cách… anh cũng học khiêu vũ và nhiều thứ trò chơi khác, đi đâu thì lên xe xuống ngựa, kẻ đưa người đón, về đến nhà, anh được hầu hạ đủ mọi cách, đến nỗi sau này lúc vào Dòng, anh lúng túng khi phải tự mặc quần áo lấy. Dĩ nhiên bàn ăn của anh luôn đầy đủ mọi thứ cao lương mỹ vị. Trong nhà kẻ hầu người hạ không bao giờ thiếu, ra đường được người ta kính nể cúi đầu.

 

2.     HẠT GIỐNG NƯỚC TRỜI

Nhưng giữa vùng đất hoang lạnh ấy, hình như hạt giống nước trời đã nãy mầm trong lòng cậu hoàng con.

The Mother of St. Aloysius Gonzaga, Martha Tana Santena (1550-1605)

Bà Hầu tước là một người đạo đức sốt sắng. Ngay từ những ngày thơ ấu, Lu-y đã được hun đúc trong trường cầu nguyện của bà, từ những mẫu kinh đơn giản cho đến những cuốn sách thiêng liêng. Khoảng năm 12 tuổi, anh bắt đầu cầu nguyện theo cuốn “Suy niệm hằng ngày” của thánh Phêrô Kanis. Lời văn sáng sủa, luận lý mạch lạc, và nhất là lòng nhiệt thành của vị Thánh Tiến sĩ đã góp phần không nhỏ vào việc tạo cho anh một vài nét chấm phá về con người anh ngày mai. Tuy nhiên, anh có vẻ đóng kín, theo tính tự nhiên, nay lại đóng kín cả về vấn đề đạo đức, anh chỉ thích ở một mình để cầu nguyện, điều này được sửa chữa phần nào khi chẳng bao lâu sau, anh đọc cuốn “Lá thư Ấn Độ” tường thuật những chuyện táo bạo và anh hùng của các thừa sai ở Ấn độ. Từ đây, không bao giờ anh quên những miền truyền giáo, và sau này sẽ nóng lòng muốn đi loan báo Tin Mừng cho lương dân, anh bắt đầu thực tập ngay. Bị gương các nhà truyền giáo thu hút, anh quy tụ một số trẻ em và giảng giáo lý cho chúng, rồi anh đơn sơ trò chuyện với những người nghèo, thăm hỏi những người đau yếu, giúp đỡ những người thiếu thốn, nhờ đó anh cũng khám phá ra cảnh đối chọi giữa những người dân lam lũ đầu tắt mặt tối kiếm cơm ăn, trong khi hàng vương giả và quí tộc sống phè phỡn đến phát ngượng.

Rồi anh may mắn được tiếp xúc với một vị thánh khác: Thánh Carôlô Bôrômêô. Đây là một Hồng Y Tổng Giám Mục dòng dõi quí phái, có liên hệ thân thuộc với gia đình Gonzaga, hiện làm kinh lược Tông tòa ở quê hương anh. Chỉ sau một lần hội kiến, anh liền được ngài cho phép xưng tội rước lễ lần đầu. Được đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể do một vị thánh như thế, hẳn Lu-y đã nghĩ đến một đời sống nhiều ý nghĩa hơn là sống hưởng thụ nơi cung điện. Từ đây, hễ có dịp, anh thường lui tới các nhà dòng. Có lẽ vào thời gian này, anh đã có ý định từ bỏ địa vị để tìm đến một đời sống cầu nguyện và hãm mình. Từ năm 13 tuổi, anh thực sự đã chăm chỉ cầu nguyện và làm việc đền tội nặng nề: ăn chay, đánh tội, mùa đông không sưởi ấm, đặt một khúc cây vào giường nằm cho đau. Anh tưởng đó là con đường nên thánh. Anh cầu nguyện liên lỉ: “Lạy Chúa, xin hướng dẫn con, xin hướng dẫn con sống tốt hơn.”

Cũng vào thời gian ấy, anh cùng với cả gia đình sang sống tại triều đình Tây Ban Nha. Ở đây anh được thấy tận mắt cách sống ngạo nghễ diêm dúa của hàng quí tộc. Sự lười biếng không những được coi là thanh tao, nhưng còn được biến thành một thứ nghệ thuật nữa. Tây Ban Nha lúc ấy là quê hương của những khám phá về thế giới ngoài Châu Âu, nên nhờ học hỏi tầm mắt của anh cũng mở rộng hơn. So sánh đời sống vương giả của mình với những con người xấu số ở các phương trời xa, anh bắt đầu cảm thấy không ổn. Vua Philip nước Tây Ban Nha lúc đó có thể nói là người quyền thế nhất trên mọi địa cầu. Dưới quyền ông là 22 nước, gồm cả những vùng đất xa lắc xa lơ, một quân đội hùng mạnh, nhiều đoàn tàu biển xông xáo đi tìm nguồn lợi. Chính tại triều đình này, Lu-y đã khám phá ra một điểm động trời: Chỉ có một vị vua toàn hảo đáng ta xả thân phục vụ là Đức Kitô. Và chỉ có một nước đáng cho người xây dựng là Nước Trời. Từ nay, mọi thứ vinh hoa thế gian đối với anh chỉ còn là phù vân, giả trá. Và đây anh cũng thâm tín hơn về lời chính anh đã nói với những người hầu cận năm anh mới 10 tuổi: “Được làm tôi Chúa còn hơn làm tôi vua cả thế gian.”

Santa Maria

Vấn đề của Lu-y bây giờ chỉ còn là chọn dòng nào. Và anh đã chọn Dòng Tên. Lý do là vì Dòng Tên mới thành lập còn đầy sức sống và lòng nhiệt thành tông đồ. Thứ đến, trong Dòng Tên có lời khấn từ chối mọi phẩm tước trong Giáo Hội, anh cũng ước mong một ngày kia được gởi đi làm thừa sai để góp phần vào việc truyền giáo. Vào hôm lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1563, trong một giờ cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ trong nhà nguyện Dòng Tên ở Madrid, anh hoàn toàn xác tín về ơn gọi. Lập tức, anh đi bàn hỏi với cha linh hướng và cha linh hướng ngài xác nhận ơn gọi của anh, chỉ còn phải có phép của Hầu tước, vì anh mới 15 tuổi.

3.     CHO TỚI CÙNG

Dù ông Hầu tước nhất định không chịu nghe anh nói chuyện về ơn kêu gọi, anh cứ ngày ngày đến nài nỉ cha. Hình như ông hơi xiêu lòng, nhưng vẫn không muốn để anh ra đi. Nhân dịp cha Phanxicô Gonzaga, Bề Trên Cả Dòng Phanxicô, là người trong gia đình, đang đi kinh lược tại Tây Ban Nha, ông xin ngài khảo sát trường hợp của Lu-y. Sau khi gặp và trao đổi cặn kẽ với ngài, cha Phanxico xác nhận anh được Chúa gọi. Nhưng, ông Hầu tước vẫn dùng dằng, một hôm Lu-y cùng với em là Lodolphô đi dạo một vòng qua đường phố Madrid. Trên đường về, khi đến học viện Dòng Tên, anh nhất định ở lại đó chứ không chịu về nữa, quyết định của anh làm cả nhà dòng cũng như đoàn tùy tùng đều hết sức bối rối. Hôm ấy, ông Hầu tước đang đau nên không thể đến bắt anh về được, ông sai người đến đưa anh về, nhưng anh cương quyết: “Trước sau thế nào tôi cũng vào ở đây, thay vì để ngày mai thì hôm nay đến cũng vậy!” Cha anh điên đầu vì chuyện này. Ông cho rằng anh làm mang tiếng cả dòng họ, nhắn anh muốn vào dòng thì phải vào một cách đàng hoàng hơn, được lời hứa ấy, anh chịu trở về cung điện lại. Ông Hầu tước thấy rằng ở Tây Ban Nha này rầy rà nhiều chuyện rắc rối quá, nên quyết định đưa cả gia đình về lại quê nhà. Ông hi vọng với thời gian và nhờ thay đổi nơi chốn, cả ý định của Lu-y cũng sẽ thay đổi thôi. Ông đâu ngờ rằng Lu-y đang áp dụng triệt để điều anh đã học được nơi ông. Chính anh nói: “Tôi đã học nơi cha tôi nguyên tắc này, là khi bắt tay vào việc gì, thì phải cố gắng hết sức làm cho tới cùng!”

Và đến Ý, Hầu tước sai Lu-y cùng với Rôdolphô đi thăm viếng một vòng các vị lãnh chúa và quan chức trong miền. Ngầm ý của ông là làm cho Lu-y quên đi vấn đề ơn kêu gọi. Nhưng Lu-y đã thay đổi phong thái. Anh đã mặc đơn giản còn để cho em ăn mặc rất sang trọng. Trong các buổi dạ hội tổ chức tiếp đón, anh từ chối khiêu vũ. Trái lại, anh luôn luôn chăm chú cầu nguyện, và gia tăng hãm mình đền tội. Khi đi hết một vòng về đến quê nhà, anh đã 17 tuổi. Hai năm trời đi đó đây càng làm cho anh thêm xác tín về ơn gọi. Ông Hầu tước một lần nữa vận động mọi người có thể thuyết phục Lu-y bỏ ơn gọi, hay ít là bỏ ý định vào Dòng Tên. Công tước, Giám mục, Hồng y đều được ông nhờ đến, nhưng Lu-y không một chút lay chuyển. Một hôm giận dữ, ông quở trách anh nặng lời, rồi đuổi anh đi, anh lẳng lặng ra lệnh cho đám tùy tùng dọn dẹp đồ đạc ra ở nhà nghỉ mát gần nhà dòng Phanxico cách cung điện chừng hai cây số, khi biết tin ấy Hầu tước cho người đi triệu anh về, anh thưa : “Con tưởng ba đuổi con thì con phải đi.” Bị la mắng, anh về phòng cầu nguyện và đánh tội, tha thiết xin Chúa can thiệp để theo được ơn gọi, Hầu tước được các người hầu cận dẫn đi xem những tận mắt những vết máu của thế tử. Quá xúc động ông cho biết ông đồng ý để Lu-y đi. Anh lập tức viết thư báo tin cho Cha Tổng Quyền, xin cho nhận anh vào Dòng. Đồng thời, các thủ tục giấy tờ nhường ngôi cung được soạn thảo. Nhưng khi mọi thứ đã xong đâu vào đấy, ông Hầu tước lại nói không bao giờ ông hứa cho phép anh vào Dòng Tên. Đau khổ, anh chỉ còn biết cầu nguyện. Bỗng một hôm, anh đường đột vào phòng Hầu tước và tuyên bố: “Con hoàn toàn tùy thuộc nơi ba, ba muốn làm sao thì làm, con đoan chắc là con được Chúa gọi vào Dòng Tên, ba không cho phép con đi là ba chống lại Chúa!” Nói xong, anh biến ngay khỏi phòng không chờ đợi câu trả lời. Trước thái độ ấy, Hầu tước không biết làm gì hơn là để cho nước mắt tự do chảy dàn dụa trên má. Ông khóc mãi. Cuối cùng, ông cho gọi Lu-y đến và nói: “Lu-y con, con làm ba đứt từng khúc ruột… ba đã đặt mọi hi vọng nơi con. Nhưng vì Chúa gọi con, thôi ba để con đi, ba chúc lành cho con!”.

Ngày 8.11.1585, thế tử Lu-y chính thức nhường ngôi cho em. Hôm sau, anh từ giã gia đình đi Roma, cùng đi với anh là cả một đoàn tùy tùng gồm: cha tuyên úy của gia đình, viên thái sư, một tu sĩ, những hầu cận… Trên đường, một người trong đoàn tùy tùng nói với anh: “Chắc công tử Rôdolphô thích lắm!” Anh trả lời: “Chắc chưa thích bằng tôi.”

4.     NHÀ CHÚA

Đến Roma, sau vài ngày nghỉ tại dinh Đức Thượng Phụ Giêrusalem là Scipio Gonzaga, anh vào Nhà Tập thánh Anrê ngày 15.11.1586. Trước khi từ giã đoàn người tháp tùng anh đến Roma, Lu-y còn gởi lời nhắc Hầu tước: “Chúa bảo hãy quên dân tộc và nhà cha người.” Nhận phòng ở Nhà Tập, anh tự nhủ đây là nơi mình được an nghỉ mãi mãi, vì chính mình đã chọn. Rồi anh quì gối, mắt rưng rưng, anh cảm tạ Chúa đã “đưa anh ra khỏi Ai Cập, và dẫn vào Đất Hứa – đất chảy sữa và mật.”

“Tôi là thanh sắt cong, phải vào Dòng để được uốn nắn lại cho thẳng.” Nhưng thật ra, khi vào Nhà Tập Lu-y là một con người chín chắn, có lẽ hơi quá nữa là khác. Nếp sống trong Dòng đã không giống như anh vẫn tưởng. Trước kia anh tự do làm theo lòng sốt sắng cá nhân, giờ đây mọi sự đều phải vào khuôn khổ. Anh không được cầu nguyện lâu giờ như trước kia nữa, trái lại phải nói chuyện gấp mười lần. Các việc hãm mình đền tội của anh đều phải giảm xuống cho có chừng mực. Thật là một thử thách lớn lao cho một ông hoàng trẻ quen ra lệnh và gần như không bao giờ phải theo một kỉ luật nào. Nhưng sẵn ý chí cương nghị, anh cương quyết giữ tỉ mỉ mọi điều trong chương trình huấn luyện, biết rằng đó là cách để “thanh sắt cong được uốn thẳng.”

 

Ngay từ Nhà Tập, anh đã học được thói quen tích cực xây dựng đời sống cộng đoàn. Dù sống nhiệm nhặt, nhưng anh vẫn vui tươi, anh thích đi trao đổi những câu chuyện thiêng liêng với các bạn. Theo lời chứng của nhiều người, sau khi nói chuyện với anh, người ta thấy lòng sốt sắng hơn cả giờ cầu nguyện. Nhưng anh thường để ý đặc biệt đến những người ít được để ý: những anh em ốm đau hay những anh em mới đến, những lần thăm hỏi, những câu chuyện trao đổi với anh đã làm cho nhiều người cảm thấy phấn khởi mãnh liệt trong đời sống thiêng liêng. Ở Nhà Tập thánh Anrê, cũng như ở học viện Roma sau này, anh rất thích trao đổi đơn sơ với các thầy trợ sĩ. Nhờ gương sáng và việc làm của anh, anh đã trở thành một nhân tố quan trọng kết hợp cả cộng đoàn huynh đệ trong Chúa Kitô.

Anh muốn thực sự quên hẳn địa vị của mình trong xã hội. Không gì làm anh đau khổ hơn là khen anh thuộc về một dòng họ vương giả. Trong nhà anh thích làm những công việc tầm thường, mà trước kia anh không bao giờ đụng tay đến. Anh rất thích làm các việc vệ sinh như lau nhà, quét màng nhện, rửa chén. Có lẽ trước kia anh đã được người khác làm cho hưởng, nay anh tập làm cho người khác hưởng, dù nhiều khi anh vụng về. Ra đường, anh không bao giờ chịu mặc áo dòng đẹp, mà gia đình đã may. Người ta không tài nào nhận ra giữa các tập sinh có ông hoàng. Một lần kia, vì không nhận ra anh một nhà quí phái tỏ ý thương hại ông hoàng con Gonzaga khi không đi đem chôn mình trong Dòng Tên. Anh bình thản trả lời: “Anh ấy chưa chết đâu, trái lại vẫn sống và sống hạnh phúc nữa.”

Nhờ vào trí thông minh, tính cần mẫn, óc tinh tế và vì đã được học khá nhiều từ trước, nên anh đã hoàn tất giáo trình triết lý và bắt đầu giáo trình thần học ngay khi chưa mãn Nhà Tập.

San Luis Gonzaga | San luis gonzaga, Santoral, San luis

Sau hai năm Nhà Tập, anh tuyên khấn và nhập học viện Roma. Anh sung sướng được chỉ định ở trong căn phòng nhỏ và xấu nhất nhà. Sau này, chính thánh Gioan Berchmans cũng cho là được một đặc ân khi dọn đến ở trong căn phòng ấy. Anh không muốn giữ gì trong phòng để dùng riêng. Đến nỗi ngoài cuốn Kinh Thánh, anh chỉ còn giữ bộ Tổng Luận Thần Học của thánh Tôma. Nhưng khi được bỏ cả bộ Tổng Luận vào tủ sách chung vì nhà thiếu sách, anh cũng rất vui lòng. Thế là anh chỉ còn giữ một cuốn Kinh Thánh.

Ham thích đọc Kinh Thánh, anh đặc biệt say mê cuộc tử nạn của Chúa. Hình như ngay từ nhỏ, anh đã có ý thức rất mạnh về tình trạng tội lỗi của con người, Trước mắt anh là cảnh sống vắng bóng Chúa nơi các triều đình. Chính dòng tộc Gonzaga cũng được biết đến nhiều vì những cuộc tranh chấp đẫm máu, những cuộc tàn sát ghê rợn. Tóm lại, anh thấy chỉ vì danh lợi, người ta dễ dàng đặt Chúa ra ngoài lề cuộc sống, hoặc biến Ngài thành một thứ đồ trang sức không hơn không kém. Vì thế, ngay từ nhỏ, hình ảnh cây thập giá đã ăn sâu vào tâm trí anh. Cầu nguyện, hãm mình, hi sinh, đánh tội… chưa đủ. Anh thấy phải đáp lại tình yêu thập giá bằng một tình yêu thập giá. Anh mơ ước chịu tử đạo, hay ít nữa, sống cực nhọc vì yêu Chúa. Để chuẩn bị ngày mai ấy, anh đã làm tất cả những gì phải làm và có thể làm được.

 

Nghĩ rằng sau này mình sẽ đi truyền giáo ở châu Á, anh tích cực chuẩn bị hành trang thừa sai. Anh xin phép đi dạy giáo lý cho trẻ em, nhưng Bề Trên từ chối vì tình trạng sức khỏe. Bù lại, anh được trao phó nhiệm vụ dạy giáo lý cho những người giúp việc trong học viện. Anh nhiệt thành với công việc, và thân thiết với từng người, làm cho ai nấy đều học được không những chỉ giáo lý, mà cả những gương sống động nữa. Nhiều anh em trong học viện nói anh làm như thể cả công cuộc cứu rỗi thế gian được tóm gọn trong việc dạy giáo lý cho nhóm người bình dị ấy.

Khi trong gia đình anh xảy ra một vài chuyện rắc rối, chính Cha Tổng Quyền đã sai anh đi làm việc hòa giải. Em anh và ông chú tranh nhau một tòa lâu đài, rồi chuyện hôn nhân gây tai tiếng của Rođôlphô. Anh đã thành công tốt đẹp không những vì lòng ngay thẳng, vì trí phán đoán mà còn vì gương mẫu đời sống bác ái và khiêm tốn.

San Luigi Gonzaga Reggio Emilia - thaqabia

5.     TÌNH YÊU CAO CẢ

Đầu năm 1591, cả nước Ý lâm nạn đói kém. Hậu quả của nạn đói là bệnh dịch lan tràn. Dân chúng khắp nơi đổ xô về Roma để tìm thầy chạy thuốc. Các nhà thương đều chật ních. Cảnh chết chóc làm cho cả kinh thành sống trong tình trạng kinh hoàng. Anh em Giêsu hữu ra sức góp phần xoa dịu vết đau thương. Hằng ngày người ta thấy họ trên các đường phố, đi lạc quyên giúp người đói, hay săn sóc những người bị bệnh dịch. Cha Tổng Quyền Aquavia đã cho thành lập thêm một nhà thương mới. Ngay từ những ngày đầu tiên mới phát hiện, đã có nhiều học viên đến xin Cha Viện Trưởng cho phép đi cứu trợ, trong số đó có anh Lu-y. Các anh đi đây đó khắp nơi trong thành phố thu góp quần áo, đồ ăn, đem về giúp người đói rét. Riêng Lu-y nhờ quen biết hàng quí tộc, đã xung phong ăn mặc lem luốc đến từng nhà sang trọng xin đồ cứu trợ. Cả đến gia đình anh cũng gởi vào giúp theo lời yêu cầu của anh. Khi gặp người bị bệnh các anh không ngại vác trên vai đưa về tận nhà thương săn sóc chu đáo.

21 junio San Luis Gonzaga, comienzo del solsticio de verano

Anh Lu-y hình như rất thích công việc nguy hiểm này. Anh dành lấy những người bị bệnh nặng nhất, và không từ khước một việc khó khăn hay ghê tởm nào. Khi bệnh dịch lan tràn mạnh hơn, hầu như tất cả học viện Roma trở thành một trung tâm cứu trợ. Nhưng chẳng bao lâu sau, các Bề Trên nhận thấy các học viên ngả như rạ: nhiều anh bị lây bệnh và vài anh đã chết. Cùng với nhiều học viên khác, anh Lu-y bị cấm đặt chân đến nhà thương. Nhưng muộn rồi. Dù theo lời năn nỉ của anh, Bề Trên đã cho phép anh đi giúp những người bệnh (bệnh nhẹ và không lây nhiễm) ở nhà thương Đức Mẹ An Ủi. Tuy vậy, anh vẫn ngã bệnh. Một hôm trên đường đến nhà thương, anh gặp một người nằm giữa đường, anh tới xốc người bệnh lên và cõng vào nhà thương. Trước khi ra về anh cũng săn sóc họ cẩn thận. Đến nhà, anh liệt giường luôn. Hôm ấy là ngày 3.3.1591. Chỉ mấy ngày sau, anh chịu các bí tích sau hết, anh Lu-y vui vẻ dù cả cộng đoàn đều rướm lệ. Nhưng vài ngày sau, có vẻ anh thoát nguy hiểm: cơn bệnh kéo dài thay vì giết bệnh nhân ngay lập tức.

Trong thời gian chữa trị, anh chịu đựng cơn đau hay đúng hơn, anh chờ đón cái chết với một đức tin mãnh liệt, một tinh thần siêu nhiên sáng ngời. Anh thường trao đổi chuyện thiêng liêng với những người thăm viếng. Cả đến cha linh hướng của anh là thánh Robertô Bellarminô, hay Hồng y thượng phụ Seipio Gonzaga cũng phải nhìn nhận chưa từng thấy một người vui lòng chấp nhận cái chết đến thế.

Sau 3 tháng rưỡi bị cơn bệnh hành hạ, đêm 20.8.1591, vào khoảng 11 giờ 15 phút, anh ôm chặt thánh giá trên ngực, miệng lặp đi lặp lại: “Tôi vui sướng ra đi, tôi vui sướng ra đi.” Và anh tắt thở, trên môi còn điểm một nụ cười tươi.

 

Trích trong Chư Thánh Dòng Tên


 

Thánh Antôn Padua (1195-1231)

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé, hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh An-tôn, mừng bổn mạng đến những ai nhận thánh Antôn làm quan thầy nhé.

Cha Vương 

Thứ 3: 13/06/2023

Thánh Antôn Padua (1195-1231) người Bồ Đào Nha và là tu sĩ Dòng Phanxicô. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có ở Lisboa, Bồ Đào Nha nhưng mất tại Padua, Ý. Với kiến thức chuyên sâu về Kinh Thánh, ông đã rao giảng mạnh mẽ về đức tin Kitô giáo cho người khác, chính vì thế, ông được phong thánh rất sớm sau khi qua đời và được Giáo hội Công giáo Rôma phong làm tiến sĩ Hội thánh vào ngày 16 tháng 1 năm 1946. Antôn là một người làm việc không biết mệt mỏi. Ông thường được nhiều người ta gán cho tên “Hòm Bia giao ước” hoặc “Cái búa của bọn lạc giáo”.  Người ta thường gọi thánh Antôn Padua là “ông thánh hay làm phép lạ”. Tuy ngay lúc sinh thời Ngài đã làm rất nhiều phép lạ, nhưng Ngài một mực hạ mình khiêm nhu. Chính sự khiêm nhượng cùng với lòng mến Chúa yêu Ðức Mẹ say mê và thương người tha thiết của Ngài đã làm nên nhiều phép lạ…

Tại thành Tulu, nước Pháp, thầy Antôn tranh luận với nhóm rối đạo về mầu nhiệm Chúa Giêsu ngự thật trong Thánh Thể. Sau khi nghe thầy trình bày những luận cứ vững vàng, thì một người rối đạo nói:

– “Đã hay lời Chúa Giêsu thì rõ ràng lắm, song nếu con mắt tôi không tỏ tường, thì tôi không tin”.

Thầy Antôn liền hỏi:

– Vậy anh muốn tôi làm phép lạ nào?

– Tôi có một con ngựa. Ngày thứ bốn tôi sẽ dắt ra đây cùng một bó cỏ non. Còn thầy, thầy sẽ đưa Thánh Thể ra trước mặt nó. Nếu nó bỏ cỏ không ăn mà quỳ lạy Thánh Thể, thì tôi sẽ tin có Chúa Giêsu ngự thật trong đó.

Thầy Antôn nhận cuộc, rồi quay về tu viện ăn chay, cầu nguyện ba ngày ba đêm. Đến ngày hẹn, từ sáng sớm, dân chúng đã tuôn đến đầy chợ. Ông chủ dắt ngựa đi trước, đầy tớ đội cỏ theo sau. Đồng thời, thầy Antôn cũng kiệu Mình Thánh Chúa đến và nói lớn: “Hỡi con vật vô tri, nhân danh Chúa Giêsu đã dựng nên mi, và đang ngự trước mặt mi, ta truyền cho mi phải quỳ gối thờ lạy Chúa, để thiên hạ biết rằng vạn vật trên trời, dưới đất phải thờ lạy Ngài”.

Đang khi thầy nói, thì đầy tớ vâng lời chủ vội đem sọt cỏ đặt ngay trước mõm ngựa, nhưng nó chẳng thèm để ý tới: chỉ vội vàng quỳ hai chân trước xuống thờ lạy Chúa; dù tên đầy tớ ra sức ấn cỏ vào mồm, nhưng ngựa vẫn không thèm ăn, cứ quỳ yên cho đến khi thầy Antôn kiệu Mình Thánh Chúa về mới đứng lên ăn. Phần người rối đạo nói trên cùng cả dòng họ thì đã trở lại đạo thật và sống đạo nên gương. Ông lại còn bỏ tiền của xây một đền thờ tôn kính thánh Phêrô tại thành Tulu, đến nay hãy còn.

Lạy Chúa, vì lời cầu bầu của thánh Antôn, xin nâng đỡ chúng con, vì chúng con yếu đuối và bé mọn, trong cơn đau đớn phần hồn và xác,… (thinh lặng nói lên ý cầu xin) xin giúp chúng con trung thành với Chúa đến cùng. Lạy thánh Antôn hay làm phép lạ, cầu cho chúng con.  Lạy Thánh Antôn, xin cầu bầu cho chúng con.

From: Đỗ Dzũng

Theo Chúa -tinmung.net 

THÁNH ANTÔN PADUA, LINH MỤC – TIẾN SĨ HỘI THÁNH (1195 – 1231)

  1. CUỘC ĐỜI

Hôm nay Giáo hội cho chúng ta mừng lễ thánh Antôn Padua, một vị thánh rất gần gũi và quen thuộc với cuộc sống của chúng ta.  Ngài sinh năm 1195 có lẽ gần Lisbonne, với tên gọi là Fernandô.  Cha Ngài là hiệp sĩ và viên chức tại triều đình hoàng đế Alphongsô thứ II, vua nước Bồ Đào Nha.  Fernadô được gởi đi học trường nhà thờ Chánh tòa tại Lisbonne.  Nhưng vào tuổi 15, Ngài gia nhập dòng thánh Augustinô.

Sau hai năm tại nhà dòng, Ngài xin được chuyển về Coimbra vì bạn bè đến thăm quá đông.  Tu viện Coimbra có một trường dạy Thánh Kinh rất danh tiếng.  Tám năm trời Fernadô nỗ lực học hỏi và đã trở thành học giả sâu sắc về thần học và Kinh Thánh.

  1. Biến Cố Thay Đổi

Ngày kia với nhiệm vụ tiếp khách, Ngài săn sóc cho 5 tu sĩ Phanxicô đang trên đường tới Moroccô.  Về sau họ bị tàn sát dã man và thi hài họ được đưa về Coimbra để tổ chức quốc táng.  Fernadô mong ước hiến đời mình cho cánh đồng truyền giáo xa xăm.

Nôn nóng với ước vọng mới, Fernadô phải tiến một bước bất thường đầy đau khổ là rời bỏ dòng Augustinô để nhập dòng Phanxicô.  Nhà dòng đặt tên Ngài là Antôn và chấp thuận cho Ngài tới Moroccô.  Nhưng vinh dự tử đạo không được dành riêng cho Ngài.  Ngài ngã bệnh và phải trở về nhà, Trên đường về, con tàu bị bão thổi bạt tới Messina ở Sicily.  Thế là Antôn nhập đoàn với anh em Phanxicô nước Ý.  Có lẽ thánh nhân có mặt trong cuộc họp ở Assisi năm 1221, và gặp thánh Phanxicô ở đây.  Ít lâu sau Ngài được gởi tới viện tế bần ở Forli gần Emilia để làm những công việc hèn hạ.

  1. Biến cố 2

Dầu vậy một biến cố bất ngờ khiến người ta khám phá ra khả năng đặc biệt của thánh nhân.  Trong một lễ nghi phong chức ở Forli nhà giảng thuyết đặc biệt vắng mặt.  Không ai dám thay thế.  Cha Giám tỉnh truyền cho Antôn lên tòa giảng.  Antôn làm cho khán giả kinh ngạc.  Người ta thấy ngay trước được rằng: Ngài là một nhà giảng thuyết bậc nhất.  Hậu quả tức thời Ngài được chỉ định làm nhà giảng thuyết trong cả Italia.  Đây là một thời mà Giáo hội cần đến những nhà giảng thuyết hơn bao giờ hết để chống lại các lạc thuyết.

Kể từ đó nhà tế bần Forli không còn gặp lại Antôn nữa.  Ngài du hành không ngừng bước từ miền nam nước Ý tới miền Bắc nước Pháp, hiến trọn thời gian và năng lực cho việc giảng dạy.  Sự đáp ứng của dân chúng đã khích lệ Ngài nhiều, các nhà thờ không đủ chỗ cho người đến nghe.  Người ta phải làm bục cho Ngài đứng ngoài cửa.  Nhưng rồi đường phố và quảng trường chật hẹp quá và người ta lại phải mang bục ra khỏi thành phố tới những cánh đồng hay sườn đồi, nơi có thể dung nạp những 20, 30, 40 ngàn người đến nghe Ngài . Nghe tin Ngài đến đâu, thì nơi đó tiệm buôn đóng cửa, chợ hoãn phiên họp, tòa ngưng xử án.  Suốt đêm dân chúng từ khắp hướng đốt đuốc tụ về.  Dường như bất cứ ai một lần chịu ảnh hưởng của thánh Antôn thì không có gì chống lại được sự lôi cuốn bởi các bài giảng của Ngài.

  1. Và Ước Vọng

Ngài thường mạnh mẽ chống lại sự yếu đuối của hàng tu sĩ qua những tội nổi bật trong xã hội đương thời như: tính tham lam, nếp sống xa hoa, sự độc đoán của họ.  Đây là một giai thoại điển hình: khi Ngài được mời để giảng ở hội đồng họp tại Bourges, dưới sự chủ tọa của Tổng Giám mục Simon de Sully.  Với những lời mở đầu “Tibi loquor cornute” (Tôi xin thưa cùng Ngài đang mang mũ Giám mục trên đầu), thánh nhân tố giác vị Giám mục mới, làm mọi thính giả phải kinh ngạc.

Mùa Chay cuối cùng thánh Antôn giảng ở Padua.  Và người ta còn nhớ mãi về sau nhiệt tình mà thánh nhân đã khơi dậy.  Dân địa phương đã không thể nào tìm ra thức ăn lẫn chỗ ở cho đoàn người đông đảo kéo tới.  Nhưng sau mùa chay này, thánh nhân đã kiệt sức.  Ngài xin các bạn đồng hành đưa về nhà thờ Đức Maria ở Padua để khỏi làm phiền cho chủ nhà trọ.  Không nói được nữa.  Ngài dừng chân ở nhà dòng Đức Mẹ người nghèo ở Arcella.  Tại đây, người ta vực Ngài ngồi dậy và giúp Ngài thở.  Ngài bắt đầu hát Thánh Thi Tạ ơn và qua đời giữa tiếng ca ngày 13 tháng 6 năm 1231. (Internet)

  1. SỰ NGHIỆP

Cuộc đời của thánh Antôn là cuộc đời đẹp lòng Chúa.  Chính vì thế mà Chúa đã thưởng công cho ngài, cho ngài làm nhiều phép lạ.  Các phép lạ do lời ngài cầu thay nguyện giúp rất nhiều.  Các phép lạ nổi tiếng nhất được minh họa trên nhiều ảnh tượng: các bích họa, các phù điêu trên tường của Titien ở Padoua, các tác phẩm Perugin, của Corrège, Murillo, Donatello, Van Dyck… thánh Antôn được minh họa lần lượt bằng hình ảnh ngài cầm quyển sách, một ngọn lửa, một hoa huệ tươi nở, bồng Hài Nhi Giêsu, hay đang rao giảng cho các đàn cá..  Người ta cầu khẩn Antôn Padua để được tìm thấy các đồ vật bị lạc mất..  Bản thân tôi cũng đã nhiều lần cầu nguyện với ngài xin ngài giúp tôi tìm thấy những gì tôi đánh mất và đã được nhậm lời.

Phép lạ người ta hay nhắc đến nhất.  Đó là phép lạ về Bí tích Thánh Thể tại Bourges.  Đây là phép lạ lừng danh nhất về một con lừa thờ lạy Bí tích cực trọng.  Hôm đó ngài gặp một người Do thái không tin phép Bí tích Mình Thánh.  Người này tỏ ra thách thức trước mặt thánh Antôn.

Thánh nhân nói:

– Nếu con lừa ông cưỡi mà quỳ xuống và thờ lạy Chúa ẩn mình dưới hình bánh thì ông có tin không?  Người Do thái nhận lời thách thức.  Hai ngày ông ta không cho lừa ăn gì.  Ông để nó nhịn đói.  Sau đó ông dẫn tới chỗ họp chợ, giữa một bên là lúa mạch và bên kia thánh Antôn kiệu Mình Thánh Chúa đi qua.  Con vật quên đi cơn đói của mình, quay sang thờ lạy Chúa.

Xin được kết thúc bằng một câu chuyện vui.

Một bà mẹ già đau răng.  Bà đã làm tuần chín ngày để kính thánh Antôn, vì người ta nói lằng: Thánh nhân “chuyên trách” về bệnh này.

Ngày cuối của tuần chín ngày, bà vẫn còn đau.  Lúc đó một vị linh mục đến thăm bà.

– Xin cha nói cho con hay, có phải con lầm không?  Có phải thánh Antôn chuyên trách bệnh đau răng không?

– Thưa bà, hãy nghe tôi: Đây là địa chỉ của một nha sĩ.  Hãy đi tìm bà ta và nói là tôi giới thiệu đến và bà ta sẽ làm không công cho bà.

– Trời đất ơi!  Một ông linh mục vô thần!

Kể ra cũng đau lòng – thánh Antôn tự nói – để nhậm lời cầu của bà, chính ta đã gởi đến cho bà vị linh mục này.

Không phải lúc nào Chúa cũng phải can thiệp một cách trực tiếp, nhưng Người có nhiều phương cách khác nhau để thể hiện ý muốn của Người!

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

From: Langthangchieutim

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Phim kể về cuộc đời thánh thiện từ nhỏ của Thánh Teresa Hài Đồng Giê Su

    • Cầu nguyện ơn hối cải cho kẻ cướp.
    • Ước ao gia nhập Dòng Kín từ lúc 15 tuổi.
    • Làm những việc nhỏ mọn bằng tình yêu lớn lao.
    • Những thử thách đức tin của thánh nữ.
    • Mưa Hoa Hồng.

Một linh mục bị Đức quốc xã giết sẽ được phong chân phước

Niềm Vui Tin Mừng

Một linh mục ở Ý, bị Đức quốc xã sát hại vì cứu người Do thái, sẽ được phong chân phước như một vị tử đạo.

Đó là cha Giuseppe Beotti, cha sở giáo xứ Sidolo thuộc tỉnh Parma, bắc Ý. Cha sinh ngày 02 tháng Tư năm 1912 trong một gia đình nông dân, thụ phong linh mục năm 1938, nổi bật về lòng bác ái cứu giúp người nghèo và dấn thân huấn luyện giới trẻ, và chăm chỉ cầu nguyện. Cha giúp đỡ mọi người, từ quân kháng chiến chống Đức, cho đến người Do thái, các binh sĩ và những người bị thương.

Trong thời quân Đức quốc xã chiếm nước Ý, cha bênh vực các giáo dân và bị bị xét xử, nhưng được trắng án.

Cha Giuseppe Beotti cũng đón nhận và cứu giúp các binh sĩ Ý trốn chạy, các tù nhân chiến tranh, những người bị bách hại, trong đó có hàng trăm người Do thái mà cha để ẩn náu trong những nhà tranh ở đồng quê, nhờ sự hỗ trợ của giáo dân. Cha không chạy trốn trước những cuộc càn quét và trả thù của quân Đức. Cha bị bắt và xử bắn, ngày 20 tháng Bảy năm 1944, tại Sidolo, lúc mới 32 tuổi.

Sắc lệnh nhìn nhận cuộc tử đạo của cha Beotti được Đức Thánh cha Phanxicô chấp thuận cho Bộ Phong thánh, ngày 20 tháng Năm vừa qua, cùng với các sắc lệnh nhìn nhận các nhân đức anh hùng của tám vị tôi tớ Chúa, trong đó có một linh mục người Cameroon bên Phi châu, là cha Simon Mpeke, người đã thành lập Liên hiệp Linh mục Chúa Giêsu Caritas tại Cameroon, do thánh Charles de Foucauld sáng lập.

Cha Mpeke sinh trưởng trong một gia đình ngoại giáo, nhưng trở lại Công giáo và trở thành linh mục năm 1935, nổi bật về đời sống thánh thiện, thăng tiến con người.

(Vatican News 20-5-2023)

G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA

 

Thánh Isidore. (St. Isidore of Madrid, 1070-1130)-Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Isidore. (St. Isidore of Madrid, 1070-1130)

PrayerGraphics.com » St. Isidore the Farmer

Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Xin thánh nhân chuyển cầu cho chúng con được sống thánh giữa đời.

Cha Vương

Thứ 2: 15/05/2023

Thánh Isidore là quan thầy của các nông dân và làng quê. Ðặc biệt, ngài là quan thầy của Madrid, Tây Ban Nha, và của Hội Nghị Ðời Sống Công Giáo Thôn Quê Hoa Kỳ.

Khi lớn tuổi, ngài làm công cho gia đình ông Gioan de Vergas, một địa chủ giầu có ở Madrid, và trung thành làm việc cho đến mãn đời. Isidore kết hôn với một thiếu nữ đạo đức và chính trực mà sau này bà được tuyên xưng là thánh Maria de la Cabeza. Hai người có được một con trai nhưng chẳng may cậu chết sớm. Cả hai ông bà tin rằng ý Chúa không muốn hai người có con, do đó họ quyết định sống khiết tịnh cho đến suốt đời.

Isidore là người đạo đức thâm trầm bẩm sinh. Ngài thức dậy từ sáng sớm để đi lễ và dành thời giờ trong những dịp lễ lớn để đi viếng các nhà thờ ở Madrid và vùng phụ cận. Trong khi làm việc, ngài luôn chuyện trò với Thiên Chúa. Khi bị các đồng nghiệp cho rằng ngài trốn tránh nhiệm vụ qua việc tham dự Thánh Lễ hằng ngày, lấy nhiều thời giờ để cầu nguyện, v.v…,

Isidore trả lời rằng ngài không còn lựa chọn nào khác hơn là tuân theo Ông Chủ tối cao. Truyền thuyết kể rằng, một sáng kia khi ông chủ đến cánh đồng để bắt quả tang Isidore trốn việc đi nhà thờ, ông thấy các thiên thần đang cầy cấy nơi khu ruộng của Isidore.

Isidore còn nổi tiếng là thương người nghèo và cũng thường để ý đến việc chăm sóc loài vật.

Isidore từ trần ngày 15 tháng Năm 1130, và được phong thánh năm 1622, cùng với các Thánh I-nhã, Phanxicô Xaviê, Têrêsa và Philip Nêri.

Saint Isidore stock photo. Image of catholicism, interior - 115051924

Lời Bàn: Chúng ta có thể tìm thấy nhiều sự ứng dụng nơi vị lao công thánh thiện này: Công việc lao động có phẩm giá; sự thánh thiện không bắt nguồn từ địa vị xã hội; sự chiêm niệm không lệ thuộc vào học thức; đời sống thanh bạch là con đường dẫn đến sự thánh thiện và hạnh phúc. (Nguồn: GP Vĩnh Long)

Nguồn: Đỗ Dzũng

Nên Thánh Giữa Đời (Sáng tác: Sr. Têrêsa)- Xara Trần

Thánh Pancratiô (289 – 304)-Cha Vương

Một ngày trung tín trong việc nhỏ nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Pancratiô (289 – 304), vị tử đạo tí hon. Xin thánh nhân chuyển cầu cho chúng ta.

Cha Vương

Thứ 6: 12/05/2023

Oraciones A San Pancracio: Para Dinero, Trabajo, Ventas, Y Más

Chúng ta cần biết về một vị thánh tử đạo còn rất trẻ: Thánh Pancratiô. Ngài chết vào lúc mới 14 tuổi trong năm 304. Pancratiô là một thiếu niên rất đẹp trai và khỏe mạnh, luôn thắng các thiếu niên khác trong những trận đô vật. Một hôm Pancras thắng một thiếu niên ngoại đạo, người này rất tự phụ tự đắc. Để trả thù, hắn đi tố với hoàng đế rằng Pancras là người Công giáo. Thời đó, đạo Công giáo bị luật Rôma cấm đoàn.

Hoàng đế là bạn thân của cha Pancratiô (người cha này đã qua đời), nên muốn tha cho Pancratiô. Ông cố gắng làm mọi cách cho Pancratiô thay đổi ý . Hoàng đế nói:  Con chỉ cần dâng vài lời cầu nguyện với các thần của ta, và ta sẽ ban cho quyền bính trong đế quốc ta. Tuy Pancratiô sợ chết lắm, nhưng em không thể chối Chúa Giêsu. Pancratiô đáp lại: Nhờ phép rửa tội, tôi đã nên con Thiên Chúa. Tôi không bao giờ từ chối Chúa Giêsu, cho dù có được cả một đế quốc. Thế là Pancratiô đã bị xử tử hình.

Ngài đã tỏ ra can đảm biết bao khi bị điệu qua các đường phố như một một tên trọng tội. Ngài đã không hề kêu la khi quân lính đánh đòn, và không hề đổi ý khi nghe dân chúng chế nhạo. Trái lại, Pancratiô đã nghĩ đến Chúa Giêsu đang bị điệu qua các ngả đường Giêrusalem đến nơi Ngài bị đóng đinh. Trước khi Pancratiô bị một lưõi gươm chém đầu, Ngài đọc lời kinh này chứng tỏ sự bình an trong tâm hồn và sức mạnh Ngài có: “Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa về đau khổ con sắp lãnh nhận. Con chấp nhận đau khổ này với lòng hân hoan, vì biết rằng cái chết của con sẽ đưa con về Thiên Đàng để ở với Chúa mãi mãi. Lạy Chúa Giêsu, xin cứu những kẻ sắp giết con!”

Ngài được chôn trong một nghĩa địa mà sau này mang tên của ngài. Thánh Pancratius được nước Anh đặc biệt sùng kính vì Thánh Augustine ở Canterbury đã dâng hiến một nhà thờ ở đây cho Thánh Pancratius, và thánh tích của ngài được tặng cho vua xứ Northumberland.

London's Must-Visit Historical Churches

Lời Trích: “Chúng sẽ bắt bớ và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và nhà tù, và chúng sẽ điệu anh em đến trước mặt vua quan vì danh Thầy. Ðó là cơ hội để anh em làm chứng. Hãy nhớ rằng, đừng lo nghĩ cách bào chữa, vì chính Thầy sẽ cho anh em tài ăn nói khôn ngoan khiến tất cả các địch thủ không tài nào chống đối hay bắt bẻ được” (Lc 21,12-15). (Nguồn: HĐĐMVN)

Lạy Thánh Pancratiô, xin cầu bầu cho con biết luôn luôn kiên trì trong đức tin.

Nguồn: Đỗ Dzũng


 

Thánh Đamien (3 -1-1840 – 15 – 4 -1889)

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo Hội Hoa Kỳ mừng kính Thánh Đamien, vị anh hùng của người Hawaii. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương (cũng là Sinh Nhật của Cha)

Thứ 4: 10/05/2023

Cha Đamien của hòn đảo Molokai, Hawaii, tên là Joseph de Veuster sinh tại Tremelo, Bỉ vào ngày 3 tháng 1 năm 1840. Khi anh của ngài vào tu dòng Thánh Tâm, cha của Ngài chuẩn bị để Ngài nối nghiệp buôn bán của gia đình. Tuy nhiên, Ngài quyết định hiến thân mình cho Chúa. Năm 1859, Ngài vào tu tại một chủng viện ở Louvain và lấy tên là Đamien.

St. Damien of Moloka'i

Năm 1863, anh của Ngài được sai đi truyền đạo ở quần đảo Hawaii nhưng không may bị bệnh rất nặng. Đamien xin bề trên và được phép đi thay cho anh của mình.

Experiencing old Hawaii on Moloka'i | Molokai, Molokai hawaii, Hawaii ...

Ngài đến Honolulu vào ngày 19 tháng 3 năm 1864 và được phong chức linh mục vào ngày 21 tháng 5 năm 1864. Ngài được sai đến Big Island để bắt đầu công việc của một vị linh mục.

Father Damien of Molokai - Hawaii's First Saint - YouTube

Vào thời gian đó, chính quyền Hawaii quyết định ngăn chặn sự lây lan của bịnh cùi bằng cách trục xuất những người bị nghi ngờ là mắc bệnh cùi tới Kalaupapa trên hòn đảo Molokai – một nơi rất xa xôi và hẻo lánh được bao quanh với núi và biển. Những người bị bỏ rơi này xin được có một bậc tu trì đến để giúp đỡ họ về những nhu cầu tinh thần. Đức Cha Louis Maigret nói cho các cha nghe về vấn đề này và có vài cha xung phong đi trong vòng vài tháng. Cha Đamien là người đầu tiên ra đi vào ngày 10 tháng 5 năm 1873. Với lời xin của Ngài và của những người cùi ở Kalaupapa, Ngài đã ở lại Molokai.

Rebel with a Cause: Father Damien on Molokai - the low countries

Ngài đã mang những tia hy vọng tới chốn địa ngục đầy thất vọng này. Ngài đã trở thành nguồn an ủi và sự khuyến khích cho đàn chiên của ngài bằng cách trở thành vị bác sĩ cho linh hồn và thể xác của họ không kể sắc tộc và màu da. Ngài đã trở thành tiếng nói của những người câm và xây dựng một cộng đoàn nơi những người cùi tìm ra những lý do mới để sống. Một nơi không luật pháp đã trở thành một nơi thống trị bởi luật yêu thương.

Sau khi Ngài bị nhiễm bệnh cùi vào năm 1885, cha Đamien đã có thể cảm thông hoàn toàn với những bệnh nhân cùi. Ngài thường nói, “Chúng ta, những người cùi”. Cha Đamien trở thành một chứng nhân tình yêu của Chúa cho mọi người. Sức mạnh của Ngài đến từ Thánh Thể như chính Ngài đã viết: “Chính nơi chân bàn thờ là nơi chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh chúng ta cần khi bị bỏ rơi . . .” Chính nơi này Ngài đã tìm ra sức mạnh và sự khuyến khích để phục vụ anh chị em cùi. Vì những tia hy vọng và sự âm thầm phục vụ người là “vị truyền giáo hạnh phúc nhất trên thế gian”, và là một đầy tớ trung thành của Chúa và nhân loại.

A Catholic Mom in Hawaii: Feast of St. Damien of Molokai - Photos and ...

Cha Đamien đã qua đời ngày 15 tháng 4 năm 1889 sau 16 năm sống và phục vụ giữa những bệnh nhân cùi. Xác Ngài đã được chuyển về Bỉ năm 1936 nơi người được chốn cất trong nhà dòng Thánh Tâm tại Louvain. Ngài đã được biết đến khắp thế giới. Năm 1938, quá trình xin phong cho Ngài làm Á Thánh được giới thiệu tại Malines, Bỉ. Đức Giáo Hoàng Phaolô thứ VI đã kí nghị định “anh hùng của sự trinh tiết và thương yêu” vào ngày 7 tháng 7 năm 1977.

Qua Cha Đamien, Giáo Hội có một tâm gương cho những người tìm được ý nghĩa trong Kinh Thánh và cho những người mong ước đem Tin Mừng của Chúa đến cho người nghèo. Năm 1955, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Cha Đamien làm Á Thánh tại Burssels. Vào ngày 11 tháng 10 năm 2009, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI phong thánh cho Ngài. Ngày mừng kính thánh Đamien là ngày 10 tháng 5 hằng năm.

Statue Père Damien - ARTE GROSSÉ USA

Hai Phép lạ đã được Tòa Thánh công nhận là do lời cầu xin của Chân Phước Damien:

(1) Ngày 13 tháng sáu, 1992, ĐGH Gioan Phaolô II công nhận Phép lạ xẩy ra năm 1895 cho một Nữ tu người Pháp, tên là Simplicia Hue, nằm chờ chết vì bịnh ruột. Nhờ làm tuần 9 ngày cầu xin Cha Damien cứu chữa, nên qua một đêm, liền hết bịnh.

(2) Phép lạ thứ hai xẩy đến cho một phụ nữ người Hawai’i bị ung thư, tên là Audrey Toguchi. Năm 1997, bà được Bác sĩ Walter Chang cho biết: chứng ung thư tế bào đã lan khắp chân, và phổi. Không thể chữa lành được. Và hồ sơ bệnh trạng được lưu trữ tại ”Hawaii’i medical Journal, October 2000”.  Toà Thánh đã công nhận là hai phép lạ thật, và cần thiết để ĐGH Benêđitô XVI tuyên bố Chân Phươc Damien lên bậc Hiển Thánh.

Thánh Tông Đồ Philipphê và Giacôbê

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 3/5 Giáo Hội mừng kính trong thể 2 thánh Tông Đồ Philipphê và Giacôbê. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 03/05/2023

Thánh Philipphê là người xứ Bethsaida. Ông là một trong những người đầu tiên được Đức Giêsu kêu gọi. Chính ông đã mách cho Nathanael Tin mừng lớn lao này: “Đấng mà sách luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng ta đã gặp. Đó là ông Giêsu, người Nazareth”. Thấy bạn mình còn hoài nghi, ông đã giục: “Cứ đến mà xem”. Nathanael sau khi đã gặp Đức Giêsu và nghe Ngài nói thì đã tin. Philipphê đã xuất hiện nhiều lần trong Phúc âm: Lúc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; làm trung gian cho những người ngoại giáo muốn gặp Đức Giêsu. Philipphê cũng là người đã xin Đức Giêsu: “Lạy Ngài, xin chỉ cho chúng con thấy Cha, thế là đủ cho chúng con”. Người ta nghĩ rằng ông đã đem Tin mừng đến cho người Scythen sau ngày lễ Ngũ tuần và chết rất thọ ở Hiérapolis, tại Phrygie.

Còn thánh Giacôbê mà chúng ta mừng kính hôm nay là Giacôbê hậu, con ông Alphê. Gọi là Giacôbê hậu để phân biệt với Giacôbê tiền, là con của ông Dêbêđê. Phân biệt này không mang ý nghĩa gì khác ngoài việc tránh sự nhầm lẫn. Khoa Thánh Kinh còn nghi ngờ không biết có phải Giacôbê hậu này có phải là “anh em của Đức Giêsu” và là tác giả của lá thư Giacôbê hay không? Nhưng Phụng vụ Rôma lại có sự đồng hoá và xác nhận. Trước khi các Tông đồ tản mác mỗi người một nơi, thì họ chỉ định thánh Giacôbê làm Giám mục Giêrusalem. Ngài là linh hồn của cộng đoàn Giêrusalem. Vì ngài đã làm cho nhiều người trở lại với Đức Giêsu nên bị bản án ném đá. Ngài đã chịu tử đạo đang khi quỳ gối cầu nguyện cho tên lý hình đang kết thúc đời Ngài bằng một thanh sắt giáng xuống trên người, trong thời điểm mừng lễ Vượt Qua. (Theo “Tự điển các thánh”, trang 268-269 và trang 159).

Noi gương thánh Philipphê và thánh Giacôbê, bạn có thể trở thành tông đồ của Chúa qua lối sống hằng ngày của mình hôm nay bằng cách làm những việc nhỏ với một con tim chân thành, với một thái độ cởi mở. Đây là một minh chứng hùng hồn và cụ thể nhất cho đức tin của mình đó.

Xin thánh Philipphê và thánh Giacôbê, cầu cho chúng con.

From: Đỗ Dzũng

Mai Thảo, Thanh Sử – Hãy Theo Thầy

Thánh Giuse Thợ-Cha Vương

Tháng 5 rồi bạn ơi! Tháng 5 là tháng hoa dâng kính Đức Mẹ Maria. Giáo Hội dành riêng tháng này để đặc biệt kính mến Đức Maria. Những lúc gian nan nguy khốn cũng như khi được an bình hạnh phúc, bạn luôn biết chạy đến cùng Mẹ để được an ủi, vỗ về, che chở và dâng lời cảm tạ. Trong khi làm công việc hằng ngày, mời bạn dâng lên Mẹ hoa hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy cho bạn biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu họ vậy. Hôm nay cũng là ngày kính Thánh Giuse Thợ, xin Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con.

Cha Vương 

Thứ 2: 1/5/2023

Thánh Giuse Thợ: Hiển nhiên là để đối ứng với việc cử hành “Ngày Lao Ðộng” của Cộng Sản mà Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã thiết lập ngày lễ Thánh Giuse Thợ vào năm 1955. Nhưng sự liên hệ giữa Thánh Giuse và ý nghĩa lao động đã có từ lâu trong lịch sử.

Trong nỗ lực cần thiết để nói lên nhân tính của Ðức Giêsu trong đời sống thường nhật, ngay từ ban đầu Giáo Hội đã hãnh diện nhấn mạnh rằng Ðức Giêsu là một người thợ mộc, hiển nhiên là được cha nuôi của Ngài huấn luyện, một cách thành thạo và khó nhọc trong công việc ấy. Nhân loại giống Thiên Chúa không chỉ trong tư tưởng và lòng yêu thương, mà còn trong sự sáng tạo. Dù chúng ta chế tạo một cái bàn hay một vương cung thánh đường, chúng ta được mời gọi để phát sinh kết quả từ bàn tay và tâm trí chúng ta, nhất là trong việc xây đắp Nhiệm Thể Ðức Kitô.

LỜI BÀN: “Sau đó Thiên Chúa đưa người đàn ông vào sống trong vườn Eden, để cầy cấy và chăm sóc khu vườn” (Sáng Thế 2:15). Thiên Chúa Cha đã tạo dựng nên mọi sự và muốn con người tiếp tục công trình tạo dựng ấy. Con người có phẩm giá là qua công việc, qua sự nuôi nấng gia đình, qua sự tham dự vào đời sống sáng tạo của Thiên Chúa Cha. Thánh Giuse Thợ có thể giúp chúng ta tham dự một cách sâu xa vào mầu nhiệm tạo dựng ấy. Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã nhấn mạnh đến điều này khi nói, “Thần khí chan hòa trên bạn và mọi người phát xuất từ con tim của Ðấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Ðấng Cứu Ðộ trần gian, nhưng chắc chắn rằng, không người lao động nào được thấm nhuần thần khí ấy một cách trọn vẹn và sâu đậm cho bằng cha nuôi của Ðức Giêsu, là người sống với Ngài một cách mật thiết trong đời sống gia đình cũng như làm việc. Do đó, nếu bạn ao ước muốn đến gần Ðức Kitô, một lần nữa chúng tôi lập lại rằng, ‘Hãy đến cùng Thánh Giuse'” (xem Sáng Thế 41:44). (Nguồn: Người Tín Hữu online)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa tạo thành trời đất, Chúa đã muốn cho con người lao động để tiếp tục công trình của Chúa. Xin nhận lời thánh cả Giuse chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương người để lại là chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao phó hầu được hưởng niềm vui Chúa đã hứa cho tôi tớ trung thành. Chúng con cầu xin… (Lời nguyện nhập lễ)

From: Đỗ Dzũng

THÁNH GIUSE GƯƠNG LAO ĐỘNG (Imprimatur). Quỳnh An – ST Phong Trần 

Thánh Catarina ở Siena (1347 — 1380)- ngày 29/04

Thanhlinh.net

Trong cuộc đời ngắn ngủi, Thánh Catarina đặt trọng tâm vào việc hoàn toàn phó thác cho Ðức Kitô. Ðiều đáng khâm phục về thánh nữ là ngài coi việc phó thác cho Chúa như một mục đích phải đạt được qua thời gian.

Thánh Catarina, tên thật là Catarina Benincasa, sinh ở Siena và là người con út trong một gia đình có đến 23 người con. Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Nơi cô sinh trưởng rất gần San Domenico, trung tâm truyền giáo của Dòng Ða Minh, và khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina luyện tập tâm linh qua lối sống khắc khổ.

Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm.

Dần dà, người ta nhận thấy dường như Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần — giầu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng – bắt đầu tuốn đến với cô để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của cô, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận.

Vì sự hòa đồng với người đời một cách không sợ sệt cũng như lời nói bộc trực và uy quyền của một người hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, Catarina đã bị dị nghị và dèm pha. Nhưng mọi điều cáo buộc cô đã bị bác bỏ trong Tổng Công Hội Dòng Ða Minh năm 1374.

Cô có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên, cũng như vì ảnh hưởng sâu đậm đối với đức giáo hoàng. Cô làm việc không biết mệt trong cuộc thập tự chinh chống với người Thổ Nhĩ Kỳ và trong việc hòa giải thành phố Florence với đức giáo hoàng.

Cô thành công trong việc thuyết phục Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô XI trở về Rôma, nhưng không bao lâu đức giáo hoàng từ trần và Ðức Urbanô VI lên ngôi. Khi cuộc Ðại Ly Giáo bùng nổ, Ðức Urbanô VI mời Catarina đến Rôma, vì đức giáo hoàng cần sự hỗ trợ của cô. Năm 1378, cô đến Rôma và thường xuyên viết thư gửi các nhà lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội để bảo vệ cho quyền giáo hoàng của Ðức Urbanô. Hàng ngày, cô đi bộ đến Ðền Thánh Phêrô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.

Một vài tuần trước khi chết, cô đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, cô trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô dường như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của cô. Con thuyền xô cô ngã quỵ và người ta phải khiêng cô về nhà. Catarina hầu như bất toại cho đến khi từ trần, ngày 24 tháng Tư  1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi.

Cô được Ðức Giáo Hoàng Piô II phong thánh năm 1461, và được coi là một trong những vị thần nghiệm và văn sĩ linh đạo của Giáo Hội. Vào năm 1970, Ðức Phaolô VI tuyên xưng thánh nữ là Tiến Sĩ Hội Thánh. Thánh Catarina là người phụ nữ thứ hai (sau Thánh Têrêsa ở Avila) được vinh dự này.

Trong khi các thư của Thánh Catarina thường được coi là cửa ngõ để biết đến con người của ngài, nhưng người ta thường nhắc đến tác phẩm “Ðối Thoại” mà ngài chỉ coi đó là “cuốn sách của tôi,” gồm các lời giảng dạy của thánh nữ để lại cho các người mến mộ. Cha Raymond, vị linh hướng của thánh nữ cho biết tác phẩm này ghi lại những lời đối thoại với Thiên Chúa khi ngài ngất trí.

Trích từ NguoiTinHuu.com