ĐÔI NÉT VỀ THÁNH I-NHÃ LOYOLA – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 I-NHÃ CON NGƯỜI QUẢNG ĐẠI 

Trong cuộc tử thủ chống quân Pháp ở Pamplona, một mảnh đạn đại bác đã làm I-nhã gãy chân, và làm ngài dừng chân.  Biến cố ấy đã đổi hướng đi của ngài.  Đời I-nhã mở sang trang mới.  Phải được khuôn mặt của Đức Kitô thu hút, I-nhã mới dám bỏ và dám theo.  Bỏ những tham vọng của mình về chức tước, tiếng tăm.  Bỏ  giấc mơ chinh phục một tiểu thư quý phái.  Bỏ việc phụng sự cho một vị vua ở trần gian.  Bỏ lâu đài, gia đình và sự nghiệp….  Bỏ là điều kiện để theo.  Để bỏ, cần quảng đại.  Quảng đại là thái độ ta thường thiếu.  Chúng ta dè sẻn, tính toán khi sống cho Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Chúa quảng đại hơn mình.  Chúng ta còn có nhiều  nỗi sợ và tham vọng.  Thánh I-nhã đã định nghĩa quảng đại là: “Dâng trọn cả ý muốn và tự do của mình cho Chúa, để mặc Ngài sử dụng bản thân mình, cũng như mọi sự mình có theo ý Ngài”  (LT.5).  Chúng ta có nên thử một lần quảng đại với Chúa không?   

I-NHÃ, CON NGƯỜI SAY MÊ CHÚA GIÊSU 

Giêsu là vị thủ lãnh mới mà I-nhã khám phá được trong thời gian nằm trên giường bệnh, sau khi đọc sách về cuộc đời Đấng Cứu Thế.  I-nhã chỉ mong mau khỏi bệnh để đi Đất Thánh.  Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, I-nhã muốn ở lại và rao giảng trên nơi Đức Giêsu đã sống.  Một ơn lớn phải xin trong Linh thao Tuần hai, đó là ơn “Hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu, Đấng đã làm người vì tôi, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn” (LT. 104).   Tình yêu Chúa Giêsu đã chi phối cuộc đời I-nhã. Một tình yêu vừa rất riêng tư, tha thiết, vừa đầy tính hành động cụ thể.  Giêsu là một vị Vua mà I-nhã muốn hiến thân phục vụ, muốn chia sẻ với Ngài sứ mạng chinh phục thế giới.  Tình yêu đòi nên giống người mình yêu, chọn bị nghèo khó sỉ nhục, bị coi là ngu dại, để nên giống Đức Kitô, Đấng đã chịu như thế vì tôi.  Chúng ta hãy để cho Đức Kitô  thu hút mình và mời gọi mình làm bạn đường của Ngài.  Hãy cùng Ngài đồng cam cộng khổ để đưa cả thế giới này về cho Chúa Cha.   

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA TÌNH BẠN 

I-nhã không độc quyền yêu Chúa Giêsu Ngài muốn tất cả trở nên bạn với Chúa.  Chính vì thế, đi đâu ngài cũng có bạn.  Ngài có khả năng tìm được những người cùng chí hướng, và quy tụ họ lại thành một nhóm thân thương.  Ở Barcelona, Alcala, Salamanca, Paris, đâu đâu I-nhã cũng có những người bạn.  Có những nhóm bạn không bền, nhưng cũng có nhóm bạn đã đi vào lịch sử.  Ở Paris, I-nhã đã giúp sáu bạn sinh viên làm Linh thao, thuyết phục họ quyết tâm phục vụ Thiên Chúa, trong số đó có hai vị thánh Phanxicô Xavier và Phêrô Favre.  Dù quốc tịch, tuổi tác, tính  khí khác nhau nhưng họ có chung một lý tưởng, một ước mơ.  Ước mơ chịu chức linh mục để phục vụ con người.  Ước mơ đi Đất Thánh để giúp người Hồi trở lại.  Ước mơ đi Rôma để đặt mình dưới  quyền Đức Thánh Cha.  Ước mơ sống khó nghèo và khiết tịnh.  Hẳn I-nhã đã góp phần khơi lên những ước mơ, tiềm ẩn nơi những tâm hồn quảng đại.  Chúng ta cần xây dựng tình bạn trên nền Giêsu, cần mở rộng vòng tay đón những bạn mới.  Ước gì tình bạn làm bật dậy những ước mơ và làm cho ước mơ thành sự thật.   

I-NHÃ VÀ VIỆC HỌC 

Sau khi không được phép ở lại Đất Thánh, I-nhã thấy mình cần phải đi học một thời gian, để có khả năng giúp các linh hồn.  Như thế, việc tông đồ là lý do khiến ngài đi học trở lại.  Bằng cấp chỉ là phương tiện để phục vụ.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy I-nhã đi học ở tuổi 33, can đảm ngồi học chung với những chú nhỏ!  Trong thời gian học ở Alcala và Salamanca, I-nhã  lo dạy giáo lý và giảng Linh thao hơn là lo học.  Chính vì thế, ngài gặp rắc rối với giáo quyền, và việc học chẳng tiến bộ mấy.  Cuối cùng, I-nhã quyết định học tập nghiêm túc, kiếm tiền trợ cấp vào mùa hè để khỏi phải đi ăn xin.  Đến năm 44 tuổi, I-nhã mới tốt nghiệp Đại học.  Với mảnh bằng, ngài không còn bị làm khó dễ như xưa.  Mảnh bằng là giấy phép để tôi làm việc.  Kiến thức là chiếc cầu để tôi gặp gỡ tha nhân.  Ước gì tôi có khả năng đưa Chúa vào ngành chuyên môn, và đưa con người khoa học hôm nay đến với Chúa.   

I-NHÃ, CON NGƯỜI YÊU MẾN HỘI THÁNH 

Hội Thánh thời I-nhã có nhiều vết nhơ.  Có những vị chủ chăn sa ngã nặng nề.  Nhiều linh mục, tu sĩ cũng sa sút và bất xứng.  Ông Luther đã đoạn tuyệt với Hội Thánh công giáo, sau khi phản đối việc bán ân xá một cách mạnh mẽ.  I-nhã không phải không thấy những lầm lỗi, nhưng ngài đã không chỉ trích Hội Thánh.  Ngài ở lại trong Hội Thánh để cải tổ, canh tân.  Dù đã có vị Giáo Hoàng mang nhiều khiếm khuyết, nhưng I-nhã vẫn coi Đức Giáo Hoàng là đại diện Đức Kitô, và chấp nhận được Người sai đi bất cứ đâu, để làm bất cứ việc gì xét thấy cần cho vinh danh Chúa và lợi ích cho con người hơn.  Chúng ta cần có lòng yêu mến Hội Thánh, Hãy bắt tay vào việc xây dựng Hội Thánh bằng những đóng góp nhỏ bẻ, vừa tầm của mình, để Hội Thánh đáp ứng được những nhu cầu thời đại, Hãy canh tân Hội Thánh từ bên trong bằng việc canh tân chính bản thân mình. 

 I-NHÃ, CON NGƯỜI BIẾT PHÂN ĐỊNH 

Lúc còn trên giường bệnh, I-nhã  đã có kinh nghiệm sau: Khi nghĩ đến chuyện trần tục, ngài cảm thấy vui thú, nhưng sau đó lại thấy buồn chán trống rỗng; còn khi nghĩ đến chuyện sống hết mình cho Chúa ngài cảm thấy niềm vui kéo dài.  Từ đó ngài khám phá ra tác động của Thiên Chúa và ma quỉ trong đời mình.  Lúc ở Manresa, I-nhã còn trải nghiệm nhiều thử thách khác: chán nản, khô khan, bối rối đến độ muốn tự tử.  Trong thời đi học, I-nhã cũng bị lôi cuốn bởi những tư tưởng đạo đức khiến ngài say mê đến nỗi không tập trung vào việc học được.  Dần dần ngài biết cách phân định để khám phá ra rằng đó không phải là tác động thực sự của Chúa.  Chúng ta rất muốn biết ý Chúa khi phải chọn lựa.  Có một vài tiêu chuẩn để chọn việc phải làm: nên chọn điều gì có ích lợi phổ quát hơn và lâu bền hơn, nên chọn chỗ nào có nhu cầu lớn hơn và khẩn cấp hơn, nên chọn chỗ nào có hy vọng sinh nhiều hoa trái hơn.  Ước gì chúng ta nhạy cảm với tác động của Chúa và không bị mắc mưu của ma quỉ xuất hiện dưới dạng thiên thần sáng láng.  

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA MAGIS ( HƠN NỮA) 

“Nhằm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa” đó là điều tâm niệm, là châm ngôn sống của I-nhã.  Tình yêu làm người ta say mê cái hơn nữa (magis).  I-nhã chẳng bao giờ chịu ngừng lại và mãn nguyện.  Hoàn cảnh đổi thay, con người cũng biến đổi.  Điều hôm nay là tốt nhất cho vinh danh Chúa thì ngày mai có thể lại không còn như vậy nữa.  Chính vì thế ta cứ phải suy nghĩ, tìm kiếm, cứ phải trăn trở, thích nghi…  Cái hơn nữa đưa ta đi vào một chuyển động.  Đó là khao khát khôn nguôi của I-nhã.  Làm sao để mọi người nhận biết Chúa, và nhận ra nhau là anh em?  Làm sao để vinh quang Thiên Chúa tràn lan trên mặt đất này.  Chúng ta đừng để mình rơi vào sự dễ dãi, và bằng lòng với cái tầm thường.  Làm sao để hôm nay của tôi hơn hôm qua và ngày mai hơn hôm nay? 

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Thánh Mácta (Martha)  – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình một ngày đầy nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ Chúa và tha nhân. Mừng quan thầy Mácta (Martha) đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Cầu nguyện cho nhau và cả thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 4: 29/7/2026.      (t3-25)

“Ðức Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc đáo này trong Phúc Âm của Thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Ðức Giêsu và Mácta, người em Maria, và người anh Lagiarô của ngài.

    Hiển nhiên, Ðức Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc Âm Luca 10:38-42, Gioan 11:1-53, và Gioan 12:1-9.

    Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của Thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Ðức Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. 

Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem ngài bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Ðức Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Ðức Giêsu can thiệp. 

Câu trả lời ôn tồn của Ðức Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Ðức Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Ðức Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta – thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Ðức Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Ðức Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.

    Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở trong vùng. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.

    Cuộc đối thoại của Mácta với Ðức Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Ðức Giêsu, tin vào sự phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Và sau đó Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại từ cõi chết.

     Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Phúc Âm đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Ðức Giêsu trở lại Bêtania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Lagiarô là người mà ai cũng biết khi được sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Ðức Giêsu. Về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Ngài không nổi bật, ngài không thi hành những việc có tính cách phô trương, ngài không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Ngài chỉ hầu hạ Ðức Giêsu.

    Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm không chèo không lái. Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp. 

Ladarô đã trở thành Giám mục tiên khởi Chúa thành này.

Riêng Martha, Ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon. 

Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người hầu hạ và đầu bếp. (Nguồn: Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

From: Do Dzung

*****

Chén đắng – Xuân Trường (Ý Vũ)

Mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện không quên cho thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 6: 24/7/2026.    (n26-24)

TIN MỪNG: Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả. (Luca 8:15) 

SUY NIỆM: Cây tốt sinh trái tốt. Cha mẹ hiền lành để đức cho con. Xem quả biết cây. Đức Maria là hoa quả của hai thánh Gioakim và thánh Anna. Tất cả những điều ấy muốn nói lên rằng Chúa luôn yêu thương những người biết tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Ngài. Đọc lại Kinh Thánh, ta không thấy Thánh Kinh thuật lại lai lịch, và cuộc sống của hai thánh Gioakim va Anna là song thân của Mẹ Maria. Nhưng các Thánh Truyền cho ta hiểu rõ rằng hai ông bà Gioakim và Anna luôn phó thác, cậy trông và tin tưởng vào Chúa. Hai ông bà đã già nua tuổi tác mà vẫn không có con, nhưng Thiên Chúa đã yêu thương, chấp nhận lời khẩn nguyện, cầu xin của hai ông bà và cho hai ông bà cưu mang, hạ sinh người con yêu quý là Maria. Đây là hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho ông bà Gioakim và Anna. Cái phúc mà song thân của mẹ Maria đã lãnh nhận từ Thiên Chúa biến đổi cả cuộc đời của hai ông bà như lời Tv 23, 5 đã viết: ”Các Ngài được Chúa ban phúc lành, và được Thiên Chúa cứu độ hằng xót thương”. Thiên chúa đã chúc phúc cho hai ông bà bằng tình yêu vĩnh cửu, tình yêu không bao giờ tàn lụi, phai mờ, tình yêu hiến trọn cho người khác. Vì luôn trung tín với Thiên Chúa, hai ông bà được Thiên Chúa yêu thương một cách đặc biệt và Maria là con hai ông bà đã được Thiên Chúa cất nhắc, để ý và tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chính nhờ phúc lành Hai ông bà lãnh nhận nơi Thiên Chúa, qua các Ngài, phúc lành ấy cũng được đổ xuống cho muôn dân, muôn nước và từng người. (Nguồn-mạng Mến Thánh Giá Cái Mơn, hạnh các Thánh)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa xin cho con cháu trong các gia đình luôn biết sống thảo hiếu với Chúa và ngoan hiền với Ông Bà Cha Mẹ.

 LẮNG NGHE: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mátthêu 5:4)

 THỰC HÀNH: Hôm nay Bạn hãy gọi điện thoại hỏi thăm Ông Bà Cha Mẹ và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các đấng còn sống cũng như qua đời nhé.

From: Do Dzung

*****

Một bài hát tuyệt vời: Hạt Giống Tình Yêu

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373) – Cha Vương

Chúc bình an đến Bạn và gia đình, hôm nay 23/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển (1303?-1373), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn thánh nữ làm quan thầy nhé.  Không quyên cầu Nguyện cho nhau và thế giới được an bình nhé 

Cha Vương

Thứ 5: 23/07/2026.     (t4-25)

Thánh Nữ Bridget nước Thụy Điển—từ lúc bảy tuổi trở đi, Thánh Bridget đã được thị kiến Ðức Kitô trên thánh giá. Các thị kiến ấy làm nền tảng cho đời sống của thánh nữ — luôn luôn chú trọng đến đức ái hơn là trông đợi các ơn huệ thiêng liêng.

     Thánh Bridget là một người trong hoàng gia Thụy Ðiển, được thừa hưởng sự đạo đức của cha mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã yêu quý sự thống khổ của Ðức Kitô. Khi mười bốn tuổi, vâng lời cha, ngài kết hôn với vua Thụy Ðiển là Magnus II và có tám người con (người con thứ là Thánh Catarina ở Thụy Ðiển). Sau khi nhà vua từ trần ngài sống một cuộc đời rất khổ hạnh.

     Trong thời gian hôn nhân, Thánh Bridget cố gắng ảnh hưởng tốt đến vua Magnus. Dù chưa hoàn toàn thay đổi, nhà vua cũng đã ban cho ngài đất đai và cơ sở để thiết lập một đan viện cho nam giới và nữ giới. Tổ chức này sau đó phát triển thành một tu hội, được gọi là Tu Hội Thánh Bridget the Order of the Most Holy Savior (Bridgettines) và được Đức Giáo Hoàng Urban V chuẩn nhận năm 1370 hiện vẫn còn.

     Vào Năm Thánh 1350, Thánh Bridget bất chấp bệnh dịch đang lan tràn khắp  u Châu, ngài thực hiện cuộc hành hương đến Rôma. Ngài không bao giờ trở về Thụy Ðiển và những năm ở Rôma thật không sung sướng chút nào vì bị chủ nợ săn đuổi và bị chống đối bởi sự thối nát trong Giáo Hội thời bấy giờ.

     Chuyến hành hương sau cùng của ngài đến Ðất Thánh thì bị hỏng vì đắm tầu và cái chết của người con trai. Ngài qua đời ngày 23 tháng 7 năm 1373 tại Rome, nước Ý. Ngài được chôn cất tại tu viện Vadstena, Thụy Điển. Thánh nữ Bridget được Đức Giáo Hoàng Bonifacius IX tôn phong hiển thánh ngày 07 tháng 10 năm 1391 và đặt là quan thầy của Thụy Điển.

Lời Bàn: Các thị kiến của Thánh Bridget, thay vì cô lập ngài khỏi các sinh hoạt của thế gian, đã đưa ngài can dự vào nhiều vấn đề đương thời, dù đó là chính sách của hoàng gia hay của giáo triều Avignon. Ngài không thấy sự mâu thuẫn giữa các cảm nghiệm thần bí và các sinh hoạt trần tục, và cuộc đời ngài chứng minh rằng SỰ THÁNH THIỆN CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC GIỮA NƠI THƯƠNG TRƯỜNG.

Sau đây mời bạn suy niệm những câu nói của Thánh Bridget:

❦  Nếu Thiên Chúa chịu đựng những trận đòn và sự hành hạ, thì ta nhiều khi phải chịu đựng những lời nói và những sự nghịch lý. 

❦  “Tội lỗi của một người cho dù có nặng nề đến đâu đi nữa, nhưng nếu họ trở về với Mẹ với trọn con tim và quyết tâm sửa cải thực sự thì Mẹ lập tức sẵn lòng tiếp nhận họ, Mẹ sẽ không kể bao nhiêu tội lỗi họ  đã phạm trước, nhưng chỉ nhìn đến thiện chí và việc họ trở về mà thôi. Người ta xưng tụng Mẹ là Hiền Mẫu nhân lành, và thực sự lòng từ nhân của Con Mẹ đã làm cho Mẹ hết sức nhân lành; và chỉ có những ai có thể mà lại không chịu đến với lòng nhân lành mới thực sự là kẻ khốn nạn.” (Lời Mẹ phán với thánh nữ Bridget nước Thụy Điển)

From: Do Dzung

***********

NHÓM THIÊN CA | CHÚA YÊU CON NHIỀU | TINA NGỌC NỮ | SÁNG TÁC: TIẾN NGUYỄN | THIÊN CA GROUP

 Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

 Hôm nay 22/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1). Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh Nữ làm quan thầy nhé. Câu nguyện cho nhau và cả thế giới chấm dứt chiến tranh và thiên tai nhé

Cha Vương

Thứ 4: 22/7/2026.       (t3-25)

Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria Magdalen với ba người phụ nữ được Phúc Âm nói đến là:

– Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau (Lc 7,37-50)

– Maria ở Bethania, em của Mattha và Lazarius. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau (Gio 11,1;12,3)

– Maria ở Magdala (Magdala là một làng nhỏ bên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi trừ bảy quỷ (Lc 8,2) và đã có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết cùng với Mẹ Maria và Gioan. Cô dự vào việc mai táng Chúa, trở ra mộ Chúa hai hôm sau để xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo tin cho các tông đồ. Thì chỉ Maria Magdalen này được ghi trong niên lịch Phụng Vụ sau vụ cải tổ lịch Phụng Vụ Roma mới. 

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu đời giữa ba nhân vật nên Maria Magdalen mới được coi như là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán nước hoa và buôn găng tay.

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau như việc Maria Magdalen đã đến xứ Gaules (có từ thế kỷ thứ XI) người ta kính thánh tích của bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ thứ XIII có những cuộc hành hương lôi cuốn nhiều người đến Sainte Marie de la Mere, nơi mà người ta cho rằng Maria Magdalen đã đổ bộ với em là Lazarius cùng nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Saint Baume nơi có bọng đá mà người đã ở qua và tại Saint Maximin có phần mộ của người. 

    Tại Đông Phương, tương truyền rằng Maria Magdalen chết và được chôn ở Êphêsô. Năm 899, hoàng đế Leon VI đã chuyển thánh tích của người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc sùng kính đến Tây phương từ thế kỷ thứ X.

    Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc Âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Maria Magdalen này mới có tên trong lịch Phụng Vụ mới.

  (Nguồn: Người Tín Hữu, hạnh các Thánh)

    Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Câu chuyện của Maria thành Mácđala nhắc nhở tất cả chúng ta một sự thật hiện hữu”… “Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết”.

Hôm nay Bạn hãy xin cho được ơn hoán cải nhé. Xin thánh Maria Magdalen, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trở Về Với Cha – Phan Hùng – Thế Thông – Nguyễn Hồng Ân – Ca Đoàn Sao Mai

THÁNH MARIA MADALENA – Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

 Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

Các giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.
Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39). 

Đàng khác, cũng chính việc Thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỷ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói chuyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18). 

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13). 

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

 Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ, nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quý giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” vào buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople. 

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

From: Langthangchieutim


 

Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) – Cha Vương

Chúc một ngày bình yên trong Chúa, mời bạn noi gương các vị Thánh trong lịch phụng vụ để sống mạnh mẽ trong đức tin của mình nhé.

Cha Vương

Thư 2: 20/7/2026.     (n14-25)

Bạn có biết rằng có một thổ dân Hoa Kỳ được gọi là “Đóa huệ của bộ lạc Mohawks” – một cô gái thổ dân được rửa tội để làm Kitô hữu vào ngày lễ Phục Sinh và rước lễ lần đầu vào ngày lễ Giáng Sinh?

    Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) là trẻ mồ côi và lớn lên trong bộ tộc Mohawks, sống đời sống thổ dân gương mẫu. Nhưng khi 20 tuổi, cô gặp một linh mục truyền giáo nói với cô về Kitô giáo, và Kateri xin được rửa tội. Sau đó, các thổ dân khác tức giận với cô về điều cô đã làm và đối xử với cô như người ngoài bộ tộc.

    Lo sợ, Kateri quyết định rời bộ lạc Mohawks và cố tìm một làng thổ dân Công giáo mà cô đã biết đến. Cô quyết định ra đi một mình, băng qua vùng hoang dã Canada hai ngàn cây số để tìm ra ngôi làng! Cô sống bình yên ở đấy và là một giáo dân tốt, thánh thiện suốt cuộc đời còn lại. Vào năm 1980, cô được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong “chân phước Kateri”. 

Ngày 21/10/2012, Đức Bênêdictô XVI phong thánh cho Kateri như là nữ thánh người da đỏ đầu tiên.

    Bạn có sợ băng qua vùng hoang dã hai ngàn cây số một mình? Hầu hết mọi người đều sợ và có lẽ Kateri cũng thế, nhưng với ơn Chúa giúp sức, cô đã làm được điều mình phải làm. Lần tới, khi bạn phải làm điều gì đó mà bạn sợ thì hãy nghĩ đến Thánh Kateri, xin ngài cầu cùng Chúa giúp– và rồi bạn hãy làm điều bạn phải làm!   

    Thánh nhân nói: “Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Người là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Người sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế.”

Xin Thánh Kateri Tekakwitha, cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

**************

CÓ CHÚA CÙNG ĐI – Nguyễn Hồng Ân

Hình thức tử đạo của Thánh Bathôlômêô,

Thao Teresa

Đây là một trong những vụ tử đạo tàn bạo nhất trong lịch sử Kitô giáo. Bị bắt chỉ vì một lý do duy nhất: rao giảng Chúa Giêsu Kitô.

Bây giờ hãy tưởng tượng những kẻ hành quyết lột da khỏi cơ thể bạn trong khi bạn vẫn còn sống.

Đó là hình thức tử đạo của Thánh Bathôlômêô, một trong số Mười Hai Tông Đồ.

Nhưng ngay cả những tra tấn không thể tưởng tượng nổi cũng không thể khiến ngài chối bỏ Chúa Kitô.

Sau khi bị lột da sống, ngài bị chặt đầu, niêm phong chứng tá của ngài bằng chính máu của mình.

Đây là lý do tại sao nghệ thuật Kitô giáo thường miêu tả ngài cầm dao và mang theo chính da của mình, không phải để tôn vinh bạo lực, mà để nhắc nhở chúng ta về lòng can đảm phi thường của một người đàn ông đã yêu mến Chúa Kitô hơn cả mạng sống của chính mình.

Ngày nay, nhiều người trong chúng ta do dự khi nói về đức tin của mình vì sợ bị chế giễu, mất người theo dõi, hoặc bị không được ưa chuộng.

Thánh Bathôlômêô đã đối mặt với những điều tồi tệ hơn nhiều.

Cuộc đời ngài đặt ra cho chúng ta một câu hỏi đơn giản nhưng đầy thách thức:

Nếu các Tông Đồ sẵn sàng chết vì Chúa Kitô, thì chúng ta sẵn sàng chịu đựng điều gì vì Ngài?

Thánh Bathôlômêô, Tông Đồ và Vị Tử Đạo, xin cầu nguyện cho chúng con.

Nguồn Internet 


 

Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh.- Cha Vương 

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 15/7, Giáo hội mừng kính Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh. Mừng Bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương 

https://youtu.be/QabvEw53W2k

Thứ 4: 15/7/2026.      (t3-25)

Thánh Bonaventura sinh tại Bagnorea miền Toscane năm 1221. Ngài trải qua thời niên thiếu tại dòng thánh Phanxicô Khó Khăn thành Assise (1243). Dưới sự hướng dẫn của Alexandre de Hales, ngài theo học văn chương và cũng thâu lượm nhiều kiến thức khoa học. Bảy năm sau, ngài cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Commentaire sur les 4 livres des sentences” và nhiều sách có giá trị khác.

Ngài có lòng dịu hiền tột bậc, lòng khiêm nhường sâu xa và lòng mộ mến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Năm 35 tuổi, ngài được bầu làm Bề Trên của dòng Phanxicô (1257). Với trọng trách nặng nề này, ngài được mọi người biết đến, không những vì học thuyết và sự thánh thiện nhưng còn vì sự thông minh và khôn khéo của ngài nữa. Chính vì vậy, năm 1273, Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô X đặt ngài làm Hồng Y coi địa phận Albanô. Ngài đã viết nhiều tác phẩm thần học rất có giá trị và sau cùng ngài chết tại Lyon (1274), hưởng thọ 53 tuổi.

Ðức Giáo Hoàng Sixtô IV nâng ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1482 và Ðức Giáo Hoàng Sixtô V đặt ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1588, vì ngài là cột trụ chống đỡ Giáo Hội, lưu tâm đến vấn đề hiệp nhất Hy Lạp và La Mã, đồng thời duy trì và củng cố dòng Phanxicô được lớn mạnh, vững vàng.

 (Nguồn: Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt, Vietnamese Missionaries in Asia)

Sau đây là những câu nói của Thánh Bonaventura:

(1) Vinh quang và danh dự chỉ dâng lên Thiên Chúa.

(2) Tất cả của Mẹ là của con và tất cả của con là của Mẹ.

(3) Hỡi linh hồn các tín hữu, anh chị em muốn chứng tỏ tình yêu thật đối với người đã qua đời không? Anh chị em muốn gửi cho họ món quà trợ giúp quý nhất và chìa khoá mở cửa Thiên đàng không? Hãy năng rước lễ cho các linh hồn được an nghỉ.

(4) Nếu ta kính chào Mẹ bằng kinh Kính Mừng thì Mẹ sẽ đáp lại ta bằng muôn ơn phúc.

(5) Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới khác tốt đẹp hơn, nhưng không thể tạo dựng một người mẹ khác hoàn hảo hơn Mẹ Thiên Chúa được.

(6) Hạnh phúc cho những ai hiến dâng tâm hồn mình cho Mẹ! Hạnh phúc cho những ai hết tình phụng sự Mẹ!

(7) Ôi tình thương lạ lùng của Chúa! Muốn một ngày kia khỏi phải tuyên án tống giam chúng con vào ngục tuyệt vọng đời đời, Chúa đã ban Mẹ là Mẹ Chúa, là Chủ tối cao kho tàng ân sủng, làm Trạng sư bầu chữa chúng con.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 3 và 4.

From: Do Dzung

************

Chúa Yêu Con Nhiều

VỊ THÁNH 14 TUỔI VÀ LỜI TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ

Hội Thích Nghe Cha Lm. GB Phương Đình Toại – TGP Sài Gòn

VỊ THÁNH 14 TUỔI VÀ LỜI TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ

Nếu ai đó nghĩ rằng thế hệ trẻ ngày nay dễ lung lay trước những thử thách cuộc đời, thì câu chuyện về cậu bé José Sánchez del Río (thường gọi là Joselito) sẽ là một câu trả lời mạnh mẽ nhất về một đức tin kiên trung, không gì có thể đánh đổi.

Năm 1926, khi cuộc bách hại Giáo hội Công giáo nổ ra gay gắt tại Mexico, cậu bé José dù chưa đầy 14 tuổi đã khao khát được dấn thân để bảo vệ đức tin. Cậu nói với mẹ một câu nói để đời: “Mẹ ơi, chưa bao giờ cơ hội để chiếm lấy Thiên Đàng lại dễ dàng như lúc này, và con không muốn bỏ lỡ nó.”

Trong một trận chiến, vì nhường con ngựa duy nhất của mình cho vị tướng chỉ huy chạy thoát, José đã chấp nhận bị quân đội bắt giữ. Người ra lệnh bắt và xử lý cậu lại chính là người cha đỡ đầu của cậu. Người ta đã dùng mọi cách từ mua chuộc, dọa giẫm đến dùng những cực hình nặng nề nhất để ép cậu bé từ bỏ đạo, bởi họ không muốn ra tay với một đứa trẻ. Thế nhưng, cậu thiếu niên ấy vẫn một lòng sắt son với Chúa.

Đỉnh điểm là vào đêm định mệnh năm 1928, người ta đã lột phăng lớp da dưới lòng bàn chân của José, rồi ép cậu phải đi bộ trên con đường đá lởm chởm hướng ra nghĩa trang. Cứ mỗi bước đi rướm máu đầy đau đớn, những lính canh lại quát: “Nếu mày hét lên ‘Đả đảo Đức Kitô Vua’ thì mày sẽ được thả tự do!”. Nhưng đáp lại sự tàn nhẫn đó, cậu bé 14 tuổi chỉ dùng chút sức tàn cuối cùng để hô vang: “Vạn tuế Đức Kitô Vua! Vạn tuế Đức Mẹ Guadalupe!”

Trước giây phút ngã xuống, José đã dùng chính những giọt máu của mình vẽ một hình cây thánh giá lên mặt đất rồi gục đầu hôn kính. Cậu ra đi khi chưa tròn 15 tuổi, để lại một chứng tá đức tin hào hùng chấn động cả thế giới. Năm 2016, cậu đã chính thức được Giáo hội tôn phong lên hàng Hiển Thánh.

Hiện nay, hài cốt vẹn toàn của ngài đang được lưu giữ trang trọng tại quê nhà Mexico để các tín hữu đến kính viếng. Câu chuyện của vị thánh trẻ Joselito là lời nhắc nhở sâu sắc cho mỗi chúng ta hôm nay: Đừng để tuổi tác hay sự nhỏ bé làm giới hạn lòng mến yêu dành cho Chúa.

Thánh José Sánchez del Río, xin cầu cho chúng con! 


 

Mừng kính Thánh Tô-ma tông đồ – Cha Vương

Hôm nay 03/07 Giáo hội mừng kính Thánh Tô-ma tông đồ, ông Thánh Hồ nghi,  mừng lễ bổn mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy. Xin cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 03/07/2026.     (t5-25)

Thánh Thomas Tông Đồ được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế và quả cảm theo Phúc  m của Gioan. Ông có biệt danh là Didymô nghĩa là song sanh. Thomas đoán chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Jérusalem dịp lễ Vượt Qua “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người” (Gn 11, 6)

Thật tội nghiệp cho Thánh Tôma! Chỉ có một câu nói của ngài mà bị gán cho cái tên “Tôma Hồ Nghi” trong suốt 20 thế kỷ. Nhưng nếu ngài nghi ngờ thì ngài cũng đã tin. Lời ngài tuyên xưng đã trở thành một phát biểu đức tin trong Tân Ước: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” (x. Gioan 20:24-28), và lời ấy đã trở thành lời cầu nguyện được đọc cho đến tận thế. Cũng nhờ ngài mà Kitô Hữu chúng ta có được lời nhận định của Ðức Giêsu: “Anh tin là vì anh đã thấy Thầy. Phúc cho những người không thấy mà tin” (Gioan 20:29).

  Thánh Tôma cũng nổi tiếng vì sự can đảm của ngài. Có thể điều ngài nói là do bốc đồng—vì ngài cũng bỏ chạy như các tông đồ khác khi Ðức Giêsu bị bắt bớ— nhưng chắc chắn ngài đã không giả dối khi nói lên ý muốn cùng chết với Ðức Giêsu. Ðó là khi Ðức Giêsu đề nghị đến Bêtania sau khi Lagiarô từ trần. Vì Bêtania rất gần với Giêrusalem, điều đó có nghĩa phải đi bộ ngang qua phần đất của kẻ thù và rất có thể sẽ bị giết chết. Nhận biết sự kiện này, Thánh Tôma nói với các tông đồ khác, “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Thầy” (Gioan 11:16b).

  Thánh Tôma còn được nhắc đến khi Ðức Giêsu hiện ra sau Phục Sinh, tại Hồ Tibêria khi bắt được nhiều cá một cách lạ lùng. Truyền thống nói rằng, sau biến cố Hiện Xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông Ðồ đi rao giảng khắp nơi, và Thánh Tôma đã loan truyền Tin Mừng cho người Parthia, Medes  và Persia (Ba Tư); sau cùng ngài đến Ấn Ðộ, đem Ðức Tin cho dân chúng ở vùng ven biển Malaba, mà giáo đoàn đông đảo ấy tự nhận họ là “Kitô Hữu của Thánh Tôma” theo lễ điển Malabar còn làm chứng tá cho tương truyền ấy. Ngài đã chấm dứt cuộc đời qua sự đổ máu cho Thầy mình, đã bị đâm bằng giáo cho đến chết năm 72 ở nơi gọi là Calamine.

  Trong các hình của thánh nhân tay cầm một cây thước thợ nề mà theo tương truyền thánh nhân đã xây cung điện cho vua Guduphara ở Ấn Độ. Lễ kính thánh nhân ngày 03 tháng 7 là ngày chuyển dời thánh tích của thánh nhân về Edessa ở Mesopotamia.

 (Nguồn: “Điển Ngữ Các Thánh” của cố linh mục Hồng Phúc, CSsR)

❦  Trong ngày hôm nay hay mỗi khi Bạn cảm thấy mệt mỏi và bất lực về một vấn đề nào đó, mời Bạn, nếu có thể, hãy nhắm mắt lại và thốt lên lời tuyên xưng đức tin của Thánh Tô-ma: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Bạn có thể coi câu này như là lời chân thật từ đáy lòng của mình và lập đi lập lại nhiều lần để đón nhận sự bình an của Chúa.

From: Do Dzung

*********************************

Thánh Ca | Tôi Tin

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY – nhà báo Nguyễn Hồng Lam

Thao Teresa

 Bài viết của nhà báo Nguyễn Hồng Lam, không cùng tôn giáo.

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY

Tháng 7/1993, tốt nghiệp Đại học, tôi vào đời  bằng những chuyến đi qua lại dài ngày xuống miền Tây – vùng đất không quá xa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh nhưng trước đó tôi chưa có điều kiện biết nhiều.

Trên tất cả các chuyến xe đò tôi đi, ở tất cả các tuyến ngang dọc, tôi để ý thấy kính ngay trước mặt tài xế đều dán, treo hoặc gắn ảnh một vị  Linh mục cương nghị, khuôn mặt rất đàn ông với bộ râu chổi sể rất…mãnh liệt.

Đó là lần đầu tiên tôi biết đến Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị chủ chiên của giáo xứ – nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu đã mất từ gần nửa thế kỷ trước đó.

Điều kỳ lạ là, ngay cả những chủ xe, lái xe không tôn giáo hoặc theo các tôn giáo khác cũng đặt ảnh ông trang trọng trong xe mình. Đôi khi, ảnh Cha Diệp được thành kính đặt chung, ngang hàng với tượng Phật Bà Quan Âm, tượng ông Địa, tranh thánh Con mắt Thiên Quang Cao Đài…

Nói chung, người ta hiểu ngay, trong tín ngưỡng dân gian, di ảnh ông được xem như một tấm bùa hộ mệnh. Nhà xe, không phân biệt đức tin tôn giáo đều treo di ảnh ông như ký thác một niềm tin, mong ước an toàn cho những hành trình.

Nguyễn Lê Tùng, bạn đại học của tôi, đồng thời là chủ xe kiêm tài xế ở Rạch Giá khẳng định: “Linh lắm! Ảnh của Ngài được rước từ nhà thờ Tắc Sậy”.

Tôi tin. Nhìn ánh mắt ông trong ảnh, tôi thấy toát lên vẻ kiên định, cảm nhận được sự bao dung và ấm áp. Ai phúc đức với dân, được nhân dân tôn quý, tôi kính trọng và ngưỡng mộ người đó.

Hơn 30 năm nay, đi qua đi lại cung đường về Cà Mau, hễ thuận tiện là tôi lại ghé đến nhà thờ Tắc Sậy.

Tôi không phải giáo dân, cũng không mong cầu gì cả.

Tôi chỉ đến để chiêm ngưỡng một địa chỉ văn hóa, nơi một nhân cách cao cả từng sống và chết cho đức tin và sứ mệnh của mình; để tìm hiểu nhiều hơn về một con người từng sống và chết trong thanh thản với người dân xứ sở mình ngay giữa thời loạn lạc.

Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại An Giang, được truyền chức Linh mục năm 1924.

Ông nhận nhiệm sở tại giáo xứ Tắc Sậy (Bạc Liêu) từ tháng 03/1930, là linh mục thứ hai quản lý họ đạo này kể từ khi thiết lập nhà thờ Tắc Sậy vào năm 1925. 

Ông được người dân trong vùng nhớ đến bởi sự giản dị, ân cần, luôn sẵn lòng quan tâm đến người nghèo và khách lỡ đường, người gặp nạn cần cứu giúp, không phân biệt tôn giáo.

Ông tích cực trong việc phát chẩn, cứu đói; dành cả đất nhà thờ làm nghĩa trang an táng cho người nghèo không phải giáo dân.

Người Công giáo mang ơn ông vì những bài giảng giản dị dễ hiểu nhưng hùng hồn, thuyết phục.

Dưới sự phấn đấu và chủ trì của ông, nhà thờ Tắc Sậy đã được chuyển từ trong sâu ra ngoài mặt tiền quốc lộ, ngày một phát triển hơn, giúp đỡ được cho nhiều người hơn.

Cha Diệp đã mở rộng được 6 cộng đoàn Công giáo mới, lên tận xứ Đầu Sấu – Cần Thơ ngày nay.

Giai đoạn 1945 -1946, Nhật – Pháp và các giáo phái đánh nhau liên miên, biến khu vực Bạc Liêu – Cà Mau thành nơi tao loạn.

Nhiều  giáo dân trong khu vực phải tản cư.

Linh mục bề trên Trần Minh Ký ở Bạc Liêu đã viết thư kêu gọi Linh mục Trương Bửu Diệp tạm lánh, chờ  khi khu vực Tắc Sậy, Hộ Phòng ổn định sẽ quay trở lại.

Nhưng ông từ chối: “Tôi sống giữa đàn chiên, chết cũng giữa đàn chiên, tôi không đi đâu hết”. Bởi là mục tử, ông không bỏ rơi con chiên trong hoạn nạn.

Theo tư liệu của Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngày 12/03/1946, Linh mục Trương Bửu Diệp bị lính Nhật (đào ngũ) bắt đi cùng với hơn 70 giáo dân tại giáo xứ Tắc Sậy, dự định tập trung thiêu chết họ.

Ôn tồn, nhẫn nại nhưng cương quyết, Cha Diệp đã dùng mọi cách thuyết phục, đấu tranh với lũ bạo quyền để ngăn chặn tội ác thảm sát, cứu dân lành.

Vì thế, ông bị chúng chặt sát hại, ném xác xuống ao. Hung thủ đích thực đã ra tay đến nay vẫn chưa được xác định. 

Nhưng cũng nhờ đó, ngay trong đêm ấy, 70 giáo dân đã được thả về và tản cư an toàn!

Suốt tám thập kỷ sau ngày Linh mục Trương Bửu Diệp thọ nạn, nhiều giáo dân và người ngoài Công giáo đã tin rằng họ đã từng nhận được “phép lạ” từ việc cầu nguyện với ông.

Hình ông được treo trang trọng nhiều nơi như gửi gắm một ước nguyện an lành

Sau 80 năm, Linh mục Trương Bửu Diệp đã được Giáo hội Công giáo phong Chân phước (hay còn gọi là  Á thánh – Beatus) vào ngày 2/7/2026.

Đây là lần đầu tiên một lễ phong Chân phước được tổ chức tại Việt Nam.

Trước đó, vào năm 2012, ông đã được Tòa thánh Vatican tuyên phong Tôi tớ Chúa ( Servus Dei) và sau đó là Đấng Đáng kính (Venerabilis).

Với tuyên vị Chân phước (Beatus trong tiếng La tinh hoặc Beatification trong tiếng Anh), việc tôn kính, sùng kính và cầu nguyện công khai chỉ được phép diễn ra trong phạm vi địa phương, giáo phận, hoặc quốc gia của vị đó.

Cha Diệp được phong Chân Phước vì được Giáo hội công nhận tử vì đạo.

Nếu (và cần) có thêm một phép lạ được Giáo hội công nhận xảy ra sau khi đã được phong Chân phước, ông sẽ được phong Hiển thánh (Sanctus, Canonization).

Khi được tuyên phong bậc cao nhất này, việc tôn kính và mừng kính ngài sẽ trở thành bắt buộc hoặc phổ quát trong toàn thể Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới.

Xin chúc mừng Hồng ân Thiên Chúa đã tưới đến Cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Đại Hồng ân cũng đã ở rất gần, bởi từ lâu, trong lòng đông đảo người dân miền Tây, Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã sống trọn trong đức tin gắn với phép lạ.

Chưa được tuyên phong, Cha Diệp cũng đã hóa thánh giữa cộng đồng!

nhà báo Nguyễn Hồng Lam