Lương tâm là gì?

Chúc Bạn một tâm hồn trong sạch như Thiên Thần để được thấy mặt Đức Chúa Trời.

Thứ 3: 2/7/2024

GIÁO LÝ:  Lương tâm là gì? Lương tâm là tiếng nói bên trong con người, ra lệnh cho ta làm điều thiện trong bất cứ hoàn cảnh nào và tránh điều dữ bằng mọi cách. Đồng thời, lương tâm là khả năng phân biệt điều thiện với điều dữ. Thiên Chúa nói với ta qua tiếng lương tâm. (YouCat, số 295)

SUY NIỆM: Lương tâm được so sánh như một tiếng ở nội tâm mà Thiên Chúa bày tỏ cho con người. Chính Thiên Chúa được ta nhận ra trong lương tâm ta. Nói rằng: “Điều đó không thỏa thuận với lương tâm tôi”, đối với một Kitô hữu có nghĩa là “Tôi không thể làm được trước mặt Đấng tạo dựng tôi”. Vì trung thành với lương tâm, nhiều người đã phải chịu tù đầy và còn phải chịu chết nữa. (YouCat, số  295 t.t.) Lương tâm là trung tâm sâu kín nhất của con người. Là cung thánh mà con người ở một mình với Thiên Chúa, và nghe được tiếng Thiên Chúa. (Công đồng Vatican II, Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, 16)

❦  Bất cứ việc gì ta làm trái với lương tâm đều là tội. (Thánh Tôma Aquinô)

❦  Đây là thời ta phải làm một việc gì. Nhưng ai dám làm điều gì thì phải ý thức rằng họ chắc chắn sẽ đi vào lịch sử như một người phản bội. Tuy nhiên, nếu họ không làm gì cả, họ sẽ là người phản bội chính lương tâm họ. (Claus Von Stauffenberg, 1907–1944)

LẮNG NGHE: Điều khiến chúng tôi tự hào là lương tâm chúng tôi làm chứng rằng: chúng tôi lấy sự thánh thiện và chân thành Thiên Chúa ban mà cư xử với người ta ở đời, đặc biệt là với anh em. Chúng tôi không cư xử theo lẽ khôn ngoan người đời, nhưng theo ân sủng của Thiên Chúa. (2 Cr 1:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã khắc ghi trong cung lòng sâu thẳm của con những chỉ dẫn hướng về điều thiện. Xin đừng để con giả điếc làm ngơ trước sự thật và công lý như xin giúp con biết hướng về Chúa và can đảm quay lưng lại với điều xấu, hầu mỗi ngày, chúng con sống xứng đáng là con cái của Chúa hơn.

 THỰC HÀNH: Làm một việc nhỏ theo tiếng nói của sự thật hôm nay.

From: Do Dzung

TRONG TRÁI TIM CHÚA | TÂM ĐOAN 

Ganh tị.-  Nguyễn Tuấn 

  Nguyễn Tuấn 

“Khi thành công của bạn là nỗi đau của tôi, và nỗi đau của bạn là lợi lộc của tôi” (1)

Đối diện với một người thành công hơn và tài giỏi hơn, người ta thường có 2 phản ứng trái ngược nhau: ngưỡng mộ và ganh tị.

Ngưỡng mộ giúp cho người ta phấn đấu để trở thành tốt hơn, tri ân hơn, và ghi nhận thực tế tốt hơn. Nhưng ganh tị thì có tác động ngược lại vì nó làm gãy vỡ các mối liên hệ xã hội và làm cho kẻ ganh tị trở nên độc địa trong suy nghĩ và việc làm.

Thói ganh tị (ghen tị, đố kị) nó xưa như Trái Đất. Có loài người là có ganh tị. Trong Genesis, nhân vật Cain vì ghen tị mà đã ra tay giết chết người em là Abel. Xin nhắc lại là Cain và Abel là con của Adam và Eva. Trong lịch sử đã có không biết bao nhiêu câu chuyện về chiến tranh xảy ra chỉ vì thói ganh tị giữa người với người. Phật xem ganh tị và ghen ghét là một trong 16 vết nhơ bẩn của tâm trí.

Tôi không biết chữ ‘ganh tị’ trong tiếng Việt xuất phát từ đâu, nhưng nó tương đương với chữ ‘Envy’ trong tiếng Anh. Chữ ‘envy’ có nguồn gốc từ chữ Latin là ‘invidia’, có nghĩa là ‘non sight’ (tạm hiểu là ‘mù quáng’). Nguồn gốc của chữ envy nói lên ý nghĩa chánh của ganh tị là xuất phát từ sự mù quáng.

Mù quáng có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Vài năm trước ở bên Mĩ, một người Việt nổ súng bắn chết bà con, vì ông ganh tị với họ: thấy vợ con họ dược bảo lãnh sang Mĩ định cư, còn ông thì không làm được việc đó! Cũng tại Mĩ, một người hàng xóm da trắng đã vác súng bắn chết một vợ chồng người Việt chỉ vì vợ chồng người này mới tậu chiếc xe Humvee mắc tiền trong khu dân cư lao động.

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa ganh tị là “một cảm xúc xảy ra khi một người thiếu đặc điểm tốt đẹp, thành tích, vật sở hữu của người khác và mong muốn điều đó hoặc mong muốn người khác không có được điều đó.” Đó là một định nghĩa rất chính xác. Theo định nghĩa này, có 3 yếu tố (hay điều kiện) hình thành thói ganh tị: đối tượng, cảm thấy kém cỏi, và đau khổ:

  • Thứ nhứt, người ganh tị đối đầu với một ‘đối tượng’ cùng nghề nghiệp nhưng người đó sở hữu tố chất, tri thức, khả năng hay tài sản tốt hơn mình. ‘Đối tượng’ ở đây có thể là người láng giềng, đồng nghiệp, hay thậm chí thân nhân. Những vật thể dễ làm cho người ta trở nên ganh tị là tài năng, tiền bạc, địa vị, nhan sắc, sự thành công, v.v. Kẻ ganh tị chỉ nhắm đến đối tượng tương đương với mình hơn là những đối tượng quá xa. Người ăn xin ganh tị với những người ăn xin khác thành công hơn họ, chứ không ganh tị với những người triệu phú. Người ganh tị ghét bạn bè họ chỉ vì bạn bè họ thành công hơn.
  • Thứ hai, người ganh tị muốn có những tài năng, tiền bạc, địa vị, nhan sắc, sự thành công mà ‘đối thủ’ đang sở hữu. Thật ra, người ganh tị không muốn ‘đối phương’ có những vật thể đó. Cảm giác này đúng với câu ‘khi thành công của bạn là nỗi đau của tôi, và nỗi đau của bạn là lợi lộc của tôi’.
  • Thứ ba, người ganh tị cảm thấy đau khổ vì sự kém cỏi của mình; nỗi đau của người ganh tị được mô tả như là một cảm giác trống không, thất bại. Trong Tam Quốc Chí, La Quán Trung đã cho Chu Du than một cách thống khổ rằng ‘Trời đã sinh ra Du sao còn sinh Lượng?’

Ganh tị dẫn đến những phản ứng phòng vệ như mỉa mai, miệt thị, hợm hĩnh, và ái kỉ. Tất cả những phản ứng này trên báo chí và các mạng xã hội. Những hình thức phản ứng này có một mẫu số chung là dùng sự khinh miệt để tối thiểu hóa mối đe dọa đến từ người khác. Điều này giải thích tại sao những người có thói ganh tị thường hay tìm cách nói xấu và miệt thị người khác như là những kẻ bất tài và vô dụng, và qua đó, nhằm tự nâng cao tầm vóc của mình.

Ở mức độ cao hơn, nếu chủ nghĩa tư bản là sản phẩm của ích kỉ và tham lam, thì chủ nghĩa cộng sản là xuất phát từ ganh tị.

Ganh tị có thể giải thích bằng … khoa học. Đa số chúng ta xem ganh tị là một khía cạnh tiêu cực trong cuộc sống, chứ ít ai nghĩ đến ganh tị như là một chủ đề khoa học. Trên tập san Science có một bài nghiên cứu chỉ ra rằng ganh tị có nguồn gốc từ sinh học. Con người ganh tị vì thói ganh tị giúp họ đánh giá vị trí của họ trong cuộc cạnh tranh tìm kiếm tài nguyên. Scan vùng não bằng MRI phát hiện ra vùng não được kích hoạt khi có suy nghĩ ganh tị. Vùng não này cũng chính là nơi kích hoạt đau thể xác. Cái đau của người ganh tị và cái đau thể xác xuất phát từ 1 chỗ.

Thành ra, đối với người ganh tị, thành công của bạn là nỗi đau của họ và nỗi đau của bạn là lợi lộc của họ. Người Việt chúng ta cũng có thói ganh tị khá lớn, và thói này gây ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các lãnh vực xã hội. Một chuyên gia xã hội học người Việt (TS Trần Phương) nhận định rằng thói đố kị của người Việt là do tính tò mò và so đo:

“Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. […] Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì, thậm chí còn viện lý do để an ủi bằng những suy nghĩ nhỏ nhen kiểu ‘chắc nó lại được bố mẹ, anh em cho’, ‘chắc gì tiền để làm những thứ ấy là trong sạch’ …”

____

[1] “When Your Gain Is My Pain and Your Pain Is My Gain” (Science 13/2/2009)

https://www.science.org/doi/10.1126/science.1165604


 

TẤM LÒNG VÀNG CỦA MỘT CÔ GIÁO-Truyen ngan

Nghề dạy học là một nghề khiêm tốn, nhưng hết sức quan trọng. Có những thầy cô giáo tạo được ảnh hưởng lâu dài, ảnh hưởng đến cả đời của học sinh. Câu chuyện dưới đây là một ví dụ điển hình về những thầy cô giáo tạo được sự khác biệt đến cuộc đời của học sinh. Chúng tôi mượn tựa đề “Tấm Lòng Vàng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan để miêu tả câu chuyện.

*************

Hồi năm 1968, tôi còn là một học sinh ở trường trung học Levon & Sophia Hagopian Armenian ở Beirut. Vào lúc ghi danh theo học lớp 10, tôi phải đến văn phòng hiệu trưởng nói với người thư ký rằng cha mẹ tôi không có đủ tiền để đóng học phí. Mặc dù lúc đó tôi là một học sinh giỏi, đứng đầu lớp, nhưng tôi vẫn bị đuổi đi, cho về nhà. Sự việc này làm tôi đau lòng vô cùng, tôi rất thích đi học, và muốn có mặt ở trường ngay từ ngày đầu niên học.

Tôi về nhà, không được đi học nữa. Mỗi ngày tôi phải phụ với cha tôi làm việc trong xưởng vá bánh xe hơi. Cha tôi chỉ kiếm đủ tiền nuôi gia đình, gồm mẹ tôi và ba đứa con, ông không có tiền để đóng học phí cho tôi.

Một ông già trông thấy tôi ở tiệm sửa xe, và thắc mắc không hiểu vì sao tôi không đi học. Tôi nói với ông rằng tôi phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí. Ông đề nghị để ông gọi điện thoại cho một vị hiệu trưởng trường khác, không phải trả học phí, để tôi có thể tiếp tục đi học. Mặc dù trường sau này ở rất xa nhà tôi, nhưng tôi vẫn không bỏ lỡ cơ hội theo học tiếp, tôi đi xe buýt rất lâu để đến trường tiếp tục học. Tôi nói với ông hiệu trưởng rằng tôi đã được thu xếp không phải đóng học phí, hay chỉ đóng với giá đặc biệt. Nhưng tôi vô cùng kinh ngạc khi vị hiệu trưởng sỉ vả, mắng nhiếc tôi, và nói rằng không hề có chuyện học miễn phí, hay mặc cả tiền học.Tôi lập tức quay đầu trở về, và đi thẳng đến nơi sửa xe của cha tôi.

Ba ngày sau, một người bạn cùng lớp với tôi ở trường Sophia Hagopian đến gặp tôi. Ông hiệu trưởng sai nó đến gặp tôi và nói tôi nên quay trở lại trường. Khi đến trường, tôi nói với người thư ký học vụ rằng tôi không có tiền đóng học phí. Nhưng bà ấy báo cho tôi biết tiền học phí của tôi đã được trả hết rồi, và tôi có thể đi học bình thường với bạn bè như trước. Tôi hỏi bà thư ký ai đã đóng tiền học cho tôi, để tôi có thể cám ơn con người tử tế ấy. Nhưng bà thư ký nói rằng người đóng học phí cho tôi muốn giữ kín tên của họ.

Tôi vào lớp học mà trong đầu cứ quanh quẩn suy nghĩ mãi xem ai là người đã đóng học phí cho tôi. Ai là người đã có tấm lòng vàng cho tôi cơ hội may mắn này. Tôi quanh trở lại văn phòng hiệu trưởng và năn nỉ bà thư ký học vụ xin bà vui lòng cho biết ai đã đóng học phí cho tôi. Vì tôi năn nỉ quá, bà thư ký dặn tôi rằng bà sẽ tiết lộ danh tánh người đóng học phí cho tôi với điều kiện tôi phải giữ bí mật, và không được đến cám ơn người ấy. Nếu không, bà thư ký học vụ có thể bị mất việc vì không giữ bí mật tin tức. Bà cho tôi biết người có lòng tốt đóng học phí cho tôi chính là cô giáo dạy Anh Văn, cô Olivia Balian.

Bà thư ký học vụ kể cho tôi nghe rằng khi niên học bắt đầu, bà thấy ghế ngồi của tôi ở trong lớp bị bỏ trống, không thấy tôi đi học. Bà hỏi thăm vì lý do gì. Bà thư ký học vụ nói rằng cha mẹ em học sinh này không có tiền đóng học phí, nên em đó phải nghỉ học. Bà Balian nói với ông Hiệu trưởng yêu cầu nhà trường trừ tiền học phí cho học sinh đó vào tiền lương hàng tháng của bà.

Trong suốt cả niên học, tôi ngồi học trong lớp của cô Balian, suy nghĩ về tấm lòng tử tế của cô, mà không thể nói lời cảm ơn. Một năm sau, gia đình tôi được sang định cư ở Hoa Kỳ. Ở đây, tôi lấy được hai văn bằng Master, một ở trường Columbia University, và một ở trường Pepperdine University.

Tôi không bao giờ quên được tấm lòng tử tế, rộng lượng của cô giáo Balian. Gần 40 năm sau, tôi quanh trở lại Beirut lần đầu tiên, và tặng $4.5 triệu đô la cho Quĩ Giáo Dục Kirk Kerkorian’s Lincy Foundation, cấp học bổng cho 28 trường học của người Armenian hoạt động ở Beirut. Một trong những trường tôi đến thăm, có trường trung học cũ của tôi. Khi trao tấm chi phiếu vài trăm ngàn đô la cho ông Hiệu trưởng, tôi dặn dò ông chớ bao giờ đuổi học sinh về nhà vì em đó không có tiền đóng học phí. Bởi vì không ai có thể biết được trong tương lai em bé đó sẽ trở thành con người như thế nào. Em học sinh đó có thể trở thành một bác sĩ, một nhà ngoại giao tài giỏi, hay trở thành một tỉ phú tặng tiền rất nhiều cho các trường học.

Trong lúc lưu lại Lebanon, tôi đi thăm cô giáo cũ của mình, là cô Balian. Bây giờ cô đã nghỉ hưu, không còn đi dậy nữa. Cô đang sống một mình trong một căn hộ nhỏ bên ngoài Beirut. Cô hết sức vui mùng khi gặp lại tôi. Cuối cùng thì tôi cũng có dịp ngỏ lời cảm ơn cô vì sự tử tế, rộng lượng của cô trong nhiều năm tôi đi học. Nhưng cô rất khiêm tốn, không màng để ý đến việc tôi cảm ơn cô, cô tìm cách đổi đề tài câu chuyện đi hướng khác. Tôi ngỏ lời xin được giúp đỡ cô về mặt tài chánh, hay làm một buổi lễ vinh danh cô vì cô đã dành nhiều năm để dậy dỗ học sinh gốc Armenian. Nhưng cô từ chối tất cả mọi đề nghị của tôi.

Tôi viết câu chuyện này để tôn vinh cô giáo của tôi, bà Olivia Balian. Bà qua đời vào năm 2017. Nhưng cũng nhân dịp này tôi xin được nói ra một điều là người ta có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn cho cuộc đời của một người khác. Nếu không có cô giáo Balian, tôi đâu có dịp học tiếng Anh, và có lẽ chẳng bao giờ có cơ hội sang Hoa Kỳ, để rồi trở thành một nhà xuất bản nhật báo Anh Ngữ The California Courier. Rất có thể tôi đã suốt đời làm việc trong tiệm vá bánh xe của cha tôi ở Beirut.

My Lan Phạm (ST)

Bao Nguyen Quang

– Ảnh: Đỗ quyên cổ thụ trên núi cao ở Ấn Độ.

From: haiphuoc47&NguyenNThu


 

  SỰ IM LẶNG THẦN THÁNH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ rất thú vị khi Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng quyền năng phát xuất từ một ‘Đấng đang ngủ’ trong thuyền giữa lúc biển dậy sóng! Đúng hơn, chiêm ngưỡng sự im lặng của Thiên Chúa, một ‘sự im lặng thần thánh’ mà đối diện với nó, một niềm tin kiên định vẫn có thể lên tiếng, ‘Cứ để Ngài ngủ!’.

Thử tưởng tượng, trong con thuyền nghèo nàn bị sóng đánh hòng chìm này, bạn và tôi đang ở vị trí của các môn đệ! Tình trạng cùng quẫn dập vùi vì sóng nước thật tệ, nhưng nỗi sợ hãi của lòng người lại tồi tệ hơn; vậy mà Chúa Giêsu vẫn ngủ! Cám dỗ của bạn là đánh thức Ngài, và quá nhiều linh hồn đã làm như thế qua việc không ngừng phàn nàn, tỏ ra tuyệt vọng, bỏ cầu nguyện, hoặc trút giận lên người khác. Trong những thời khắc như thế, bạn cảm thấy cuộc sống vuột khỏi tầm tay; bạn mất bình tĩnh, bất an và suy sụp!

Tin Mừng hôm nay đánh thức đức tin chúng ta; chớ gì nó mạnh đủ để có thể lên tiếng, ‘Cứ để Ngài ngủ!’. Và còn hơn thế, giúp chúng ta chiêm ngưỡng quyền năng nhiệm mầu của ‘Đấng hay ngủ!’. Bởi có thể Ngài cố tình như thế để bạn và tôi gia tăng sự phụ thuộc vào Ngài. Từ niềm tin, chúng ta múc lấy nội lực; bằng không, tất cả chỉ là sợ hãi, cay đắng. ‘Sự im lặng thần thánh’ của Đấng Kitô sẽ dạy chúng ta định mức đức tin của mình!

Trong “When Jesus Sleeps”, “Khi Giêsu Ngủ”, Đức Cha Martínez viết, “Chúa Giêsu đẹp tuyệt vời khi Ngài ‘mở miệng’ nói về sự sống đời đời, thực hiện hoàn hảo các phép lạ; hoặc nhìn mọi người bằng ánh mắt xót thương. Nhưng tôi lại muốn nhìn Ngài khi Ngài đang ngủ, bởi lúc đó, tôi chiêm ngưỡng Ngài ‘đến tận trái tim mình’ mà không bị ánh mắt Ngài ‘mê hoặc’ khiến tôi phải phân tâm. Không vẻ đẹp hoàn hảo và ánh huy hoàng nào của Ngài làm tôi chói mắt khiến linh hồn tôi phải đờ đẫn. Vẻ đẹp Giêsu tỉnh giấc là quá lớn so với sự nhỏ bé của tôi! Tôi cảm thấy phù hợp hơn khi Ngài ngủ, vì hào quang mặt trời sẽ thích nghi hơn với mắt tôi khi tôi được nhìn nó qua một lăng kính mờ!”.

Thật trùng hợp, “Chúa không làm điều gì mà không mặc khải ý định của Ngài cho các tôi tớ” – bài đọc một. Vấn đề là các tôi tớ phải đọc cho được thánh ý Ngài. ‘Sự im lặng thần thánh’ của Chúa Giêsu, hay việc Ngài ngủ không nằm ngoài ý nghĩa này. Thánh Vịnh đáp ca thật sâu sắc, “Lạy Chúa, xin lấy đức công chính của Ngài mà hướng dẫn con!”.

Anh Chị em,

“Ngài vẫn ngủ!”. Chúng ta cần tôn trọng và thờ lạy ‘sự im lặng thần thánh’ của Thiên Chúa ‘trong các biến cố’ đang khi phải đánh thức Chúa Kitô ‘trong trái tim mình’, và linh hồn không ngừng lặp đi lặp lại, “Lạy Chúa, xin cứu con!”. Có như thế, chúng ta mới có thể bình an đi trên nước, bước trên sóng và ngủ ngon trong mọi hoàn cảnh. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể quan chiêm những gì đang xảy ra bằng ‘đôi mắt đức tin’ vốn có thể xuyên suốt mọi sự, kể cả bão tố. Qua ánh mắt ấy, có thể thấy một bức tranh toàn cảnh mà tự sức, chúng ta không bao giờ có thể nhìn thấy; một bức tranh tình yêu quan phòng mà Thiên Chúa đã lên kế hoạch cho từng người, không ai giống ai!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cứ ngủ; nhưng đừng để những thực tại rối bời lấn át trải nghiệm đức tin của con. Cho con biết, ngủ hay thức không thành vấn đề, quan trọng là Ngài có đó!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*************************

Thứ Ba Tuần XIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

23 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. 24 Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. 25 Các ông lại gần đánh thức Người và nói : “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất !” 26 Đức Giê-su nói : “Sao nhát thế, hỡi những kẻ kém lòng tin !” Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

27 Người ta ngạc nhiên và nói : “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” 


 

NGẪM …

Thao Teresa

Những người đang nằm đây đã từng có mặt trong đời, họ đã được sinh ra và lớn lên như chúng ta, từng cố gắng, từng vui buồn và từng thù hận, ghét bỏ lẫn nhau cũng có.

Nhưng… sau cùng họ sẽ rời đi như cách họ đã đến, chẳng có gì mang theo ngoài linh hồn của chính mình. Rồi nhiều năm sau này, khi từng thế hệ qua đi sẽ chẳng còn ai nhớ về họ nữa.

So với thế giới này, chúng ta thật bé nhỏ.

Những người đang sống hãy nhìn lại, thời gian không còn quá nhiều để chúng ta sống vô tâm và ghét bỏ nhau…

Hơn thua nhau rồi cũng ra đi với 2 tấc đất mà thôi !

Một kiếp người thật ngắn ngủi, thương ai được cứ thương, tha thứ được cho ai điều gì cứ tha thứ, sau cùng trước khi nhắm mắt xuôi tay, những ai có thể nhẹ lòng mỉm cười, bình thản để ra đi với cái chết mới là người hạnh phúc nhất.

Hỡi người ! Hãy nhớ mình là bụi tro… Một mai người sẽ trở về bụi tro…

St.


 

Tết Trong Trại Tù Cùng Bạn Bè-

Văn Quang,

bản vẽ của Chóe
Màu nước trên vải, Sài gòn 1988

Tổng cộng đã có hơn 80 mùa xuân đi qua trong cuộc đời tôi. Nhưng 12 mùa xuân trong những cái được gọi là “trại cải tạo” là những mùa xuân đáng nhớ nhất. Từ Nam chí Bắc, từ Sơn La, Vĩnh Phú đến Hàm Tân, mùa xuân nào đến cũng mang đầy dấu tích buồn như những vết sẹo trong tận cùng tâm khảm, đến nỗi đến bây giờ có đêm còn nằm mơ thấy mình đang bị đày đọa trong lao tù khiếp đảm ấy. Giật mình tình dậy mừng như khi vừa được thả từ trại tù ra.

Tuy nhiên con người ta thật lạ, sống lâu trong tù rồi cũng… quen. Đó là bản năng sinh tồn hay con người phải thích ứng với từng hoàn cảnh để sống, dù để sống cho qua ngày chờ đợi một cái gì sẽ đến. Nhưng cái gì sẽ đến ở trong một thứ tù đày không có án, không có thời hạn là điều đáng sợ hơn nữa. Tù cải tạo làm gì có thời hạn. Thích bắt thì bắt, thích thả thì thả, người ra trước, kẻ ra sau, chẳng bao giờ biết lý do, tất cả chỉ là suy đoán.

Tôi đã sống như thế suốt 12 năm. Khoảng 8-9 năm, khi đã là “tù cũ”, có lẽ tụi cai ngục cũng “xuê xoa” cho một đôi phần, không còn xiết chặt cùm kẹp như mấy năm đầu nữa. Tôi bị đưa từ trại tù miền Bắc vào miền Nam, bởi hồi đó miến bắc dân đói quá thiếu mọi thứ thực phẩm kể cả ngô khoai sắn, không thể nuôi thêm tù. Chúng tôi bị cùm hai tay suốt ba ngày hai đêm trên xe. Cho đến khi vào đến trại Hàm Tân mới được tháo cùm. Tôi nhớ hôm đó là ngày 19 tháng 5 năm 1978 và biết đó là ngày Sinh nhật “Bác” vì xe chạy qua mấy con đường có dựng mấy cái khẩu hiệu đỏ chót “Nhiệt liệt chào mừng sinh nhật Bác”. Một sự trùng hợp khá thú vị. Được trở lại miền Nam cũng như sống lại vậy, không nhớ sao được.

Nơi chúng tôi được chuyển tới là trại tù Hàm Tân, mang ký danh Z30. Thật ra chế độ tù cải tạo từ Bắc chí Nam chẳng có gì khác nhau, cũng đi lao động mệt phờ phạc và tối tối lại ngồi kiểm điểm -chúng tôi gọi là “ngồi đồng”- cho đến khi mệt rũ, chẳng còn nghĩ được gì ngoài việc lăn ra ngủ. Có lẽ đây cũng là một “đòn” kìm hãm mọi suy tư của bọn tù được gọi là trí thức.

Dù sao, chế độ ăn trong Nam khá hơn ở ngoài Bắc. Nếu ở Sơn La – Vinh Phú, trước khi đi làm buổi sáng chỉ có một củ khoai nhỏ như ba ngón tay thì ở miền Nam được ăn một bát nhỏ bắp nấu hoặc bát bo bo. Nhà văn Đặng Trần Huân thường có cái muỗng nhỏ xíu bằng nhựa, thứ đồ chơi của trẻ con, ông ấy cứ nhấm nháp từ từ cho đến hết buổi sáng. Ông truyền “bí kíp” rằng ăn như thế có cảm tưởng như lúc nào cũng được ăn, quên cái cảm giác đói đi. Tôi không biết có bao nhiêu “tín đồ” tin theo bí kíp này, riêng tôi theo không nổi vì đói quá, không nhịn được, ăn luôn một lèo, chỉ ba phút là hết nhẵn nên anh em có câu nói cửa miệng là “ăn rồi cư tưởng là mình chưa ăn”.

Tôi ở trại này chẳng nhớ bao lâu thì bỗng một ngày năm 1985, thấy mấy anh cai tù đưa một đoàn tù từ nơi khác đến. Đám tù này con rách rưới, gầy còm, xanh xao hơn chúng tôi nhiều. Tôi là tù cũ nên tiến lại gần khi tù mới vừa được ngồi xuống bên hàng rào. Lúc đó tôi mới biết đó là những người bạn tù ở các trại tận Pleiku, Kontum và ở những trại nổi tiếng là “ác ôn” nhất như Gia Trung, Bù Gia Mập… Tôi nhận ra trong đó có nhiều ông bạn văn nghệ sĩ đã từng là bạn thân khi chúng tôi còn viết báo và làm trong các đài Phát Thanh ở Sài Gòn.

Người đầu tiên tôi gặp là ông Thái Thủy với cặp kính cận mất gọng, chỉ có hai sợi dây vải buộc vào mắt kính. Câu đầu tiên tôi hỏi là “đói không?” Thái Thủy chỉ gật. Thế là tôi tức tốc chạy về phòng lấy một ít mì sợi của tôi và anh Nguyễn Gia Quyết để chung trong một cái thùng sắt mang chia cho Thái Thủy. Hồi đó chúng tôi ở trại này gần Sài gòn, đã được “thăm nuôi” vài tháng một lần nên cuộc sống cũng tạm dễ chịu.

Nhà văn, nhà giáo Nguyễn Sỹ Tế
(Bản vẽ CHÓE)

Sau đó tôi mới được gặp lại một loạt các ông Nguyễn Viết Khánh, Trần Dạ Từ, Mặc Thu, Nguyễn Sỹ Tế, Thảo Trường. Ông nào cũng đói trơ xương.

Mấy hôm sau, trại bán thịt heo, tôi chỉ còn đủ tiền mua đúng một kí lô thịt heo mang cho Trần Dạ Từ, nhưng ông này lại bảo “tớ còn chịu đựng được, ông dưa cho ông Nguyễn Sỹ Tế đi”. Thế là tôi lại phải tìm cách gặp ông Nguyễn Sỹ tế.

Đám tù mới chuyển trại tới được “biên chế” vào nhiều đội khác nhau. Tôi nhớ hồi đó, trong đám bạn văn, ông Nguyễn Viết Khánh có tuổi nên được giao cho chức “trực buồng”, không phải xếp hàng đi lao động, chỉ ở buồng dọn dẹp vệ sinh cho đội. Những người khác phải đi làm công việc khổ sai như tất cả mọi người khác. Anh em gặp nhau mỗi buổi sáng thường chỉ còn biết nhìn nhau.

Ít lâu sau, vì là tù cũ, tôi được giao phụ trách coi tủ sách -gọi là thư viện- của trại, tôi ở trong một căn nhà tranh nhỏ nằm ngay lối cổng trại ra vào. Nhờ vậy, có nhiều dịp thăm gặp các bạn hơn.

Nhớ có lần con ông Mặc Thu lên thăm, mang theo thức ăn và cả đồ nhắm cùng rượu ngon cho bố. Ông Mặc Thu cao hứng đánh chén tì tì. Đến khi vào trại, đi siêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, mồm sặc mùi rượu. Lúc đó anh trưởng trại, ở ngay phòng trực trước cổng trại. Gọi ông Mặc Thu vào, còn sặc mùi rượu, nói năng lè nhè lung tung nên buổi chiều bị nhốt ngay vào nhà lao, cùm hai chân.

Cái nhà lao bằng tranh nhỏ xíu nằm gần phía sau trại chỉ có một lối nhỏ dẫn vào. Hàng ngày mấy tay gọi là “thi đua” trong trại phải mang cơm đưa vào cái cửa ô cửa nhỏ, đồng thời lấy cái bô vệ sinh của tù ra ngoài mang đi đổ. Tôi phải nói năng mãi với tay thi đua để mang thêm cho ông ấy ít cơm và thức ăn. Vài ngày sau ông Mặc Thu được thả, bởi thật sự nếu để ông ấy nằm trong nhà lao cái kiểu ấy, có thể chết bất cứ lúc nào.

Tết năm đó, tôi để dành phần quà thăm nuôi của tôi và anh Nguyễn Gia Quyết để làm bữa cơm “thịnh soạn” mời tất cả mấy anh em bạn văn trong tù lên ăn trưa. Buổi họp mặt đông đủ chẳng thiếu ông nào. Địa điểm tôi nhớ chỗ bên bệnh xá vắng người. Bàn tiệc là chiếc chiếu rách trải trên chiếc giường tre, nhưng có cả một chai rượu trắng. Vậy mà chén chú chén anh, đấu hót xôm trò. Còn nhớ Thảo Trường luôn miệng tấm tắc khen “Sang trọng! Sang trọng!”.

Khi tàn tiệc, ông Mặc Thu lại lảo đảo đi ngật ngưỡng giữa trưa nắng trong sân trại. Cũng may tên lính gác trại tù nhìn thấy nên ngày Tết nó tha, không nói gì. Hôm sau nó vào gặp tôi kể công về cái sự “nhân từ” đó, tôi đành phải đi xin một con gà cho nó mới yên. Vào thời kỳ đó ông nào cũng trên 10 năm tù cả rồi nên không khí bớt ngột ngạt hơn.

Cho đến tháng 9 năm 1987 chúng tôi mới được tha về, nhưng Thảo Trường còn phải nằm lại trong tù thêm mấy năm nữa cho đủ 17 năm.

Như tôi đã viết trong một bút ký, khi ra tù, chúng tôi được chở trên xe từ trại tù Hàm Tân về hội trường trại giam Chí Hòa. Trong một bút ký về Sài Gòn, tôi có kể chuyện này. Đây là lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ. Xin mạn phép trích lại:

“Vào buổi chiều tháng 9 năm 1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các ông quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới được thoát ra khỏi cánh cửa sắt nhà tù Chí Hòa. Ngay từ cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, chắc là để chứng tỏ cái sự “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những thằng may mắn không chết trong ngục tù.

Thấy cái cảnh sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn trong đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người dân tò mò nhìn “cảnh lạ”. Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Ra đến đường Lê văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố nhìn chúng tôi với một vẻ xa lạ và xót thương?

Trẩn Dạ Từ còn lại ít tiền, anh rủ tôi ghé vào đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết là bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở ngay sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà mấy chục năm tôi cùng nhiều bạn bè vẫn thường đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu rằng anh về đoàn tụ cùng gia đình chứ còn tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên anh níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì thật ra cho đến lúc đó tôi chưa biết sống ra sao giữa thành phố này”.

***

Vậy mà rồi ngày tháng cũng qua.

Tôi vẫn phải sống như thế cho đến hôm nay. Các bạn tôi đều đã ra đi hết, người còn kẻ mất, đôi khi chẳng biết tin tức gì về nhau.

Trong những anh em bạn tù cũ, khi đã ra tù, tôi thường đến thăm ông Mặc Thu. Những năm sau này, ông bà Mặc Thu đã được con gái lớn bảo lãnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Nhưng ông bà đông con, một số con cháu không thể cùng đi. Vậy là cả ông lẫn bà đã trở lại Sài gòn trong những ngày cuối đời. Khi ông sắp mất, ông nhất định bắt con trai gọi tôi đến. Khi ngồi bên giường bệnh, ông nắm tay tôi, lúc đó có lẽ ông biết chắc sắp ra đi nên bùi ngùi nói lời từ biệt: “Không thể quên cậu và anh em trong tù được”.

Đêm hôm đó ông ra đi mãi mãi.

Ông Mặc Thu có chùm râu tơ, trong tù cũng như sau này, ông luôn thích vuốt râu khi “đối ẩm” với trà và rượu, thường nhắc tên từng người bạn trong tù. Ngay lúc sắp lâm chung, vẫn không thể quên.

Nhớ lời cuối ông nói, đêm cuối năm Ất Mùi này, chỉ cần chớp mắt là tôi lại thấy hình ảnh từng người một xuất hiện. Thảo Trường luôn tưng tửng, ngang ngang, cứ như bất cần đời; Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh lúc nào cũng thanh thản chẳng thèm nghĩ gì dấn cái thân phận tù đầy. Ông Nguyễn Sỹ Tế rất kiệm lời và vẫn nét mặt trang nghiêm của những “thầy đồ”. Trong trại tù, có lúc ông Tế nằm cạnh Trần Dạ Từ. Có lần tôi đến thăm, ông Tế mang cây đàn violon do bạn tù tự chế ra biểu diễn nhạc cổ điển tây phương. Sau màn nghiêm chỉnh thưởng thức, chúng tôi cùng cười vui khi nghe Từ nói nhờ chiều nào anh cũng được ông Tế cho nghe Schubert bằng cái đàn lạc giọng này mà thừa sức lao động.

Trong số các bà thăm nuôi ngày đó, Nhã Ca là dân cùng nghề văn, cũng đã từng đi tù rồi nuôi tù nên quen biết mọi người. Tôi nhớ chuyện kiếp trước, một sáng mùa xuân nào đó thời đầu 1960′, khi có dịp ra Huế, tôi đã cùng Thanh Nam lái xe đến gặp Nhã Ca và Từ ở ngôi nhà khu Bến Ngự. Cũng chỉ mới đó thôi, khi Trần Dạ Từ – Nhã Ca ghé thăm từ biệt tôi để ra đi, nay đã là hơn một góc thế kỷ.

Sau Mặc Thu, các ông Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Thủy, Thảo Trường cũng đều đã ra đi. Tết này, dù không thắp hương cho bạn, nhưng tự trong đáy lòng tôi có hương khói tưởng nhớ đến những người bạn trong tù.

Đúng như thơ Tản Đà: Thời gian ngựa chạy…

Bạn bè đi hết từ lâu. Cũng đã từ rất lâu chỉ còn mình tôi quanh quẩn ở Sài Gòn. Mới đây, nhận lời Trần Dạ Từ hỏi thăm, kèm câu chúc “Thượng Thọ Bát Tuần” tôi chợt thấy ra là trong đám bạn văn cùng ăn tết nhà tù năm xưa, nay chỉ còn hai tên. Mà còn sống thì dù ở bất cứ đâu, cũng không thể nào quên. Vì vây tôi viết bài này để cùng bạn tưởng nhớ.

Ước gì lại có một cái Tết được hội ngộ cùng các bạn tôi. Ước gì lại có thể cùng ngồi bên nhau trên một manh chiếu rách như tết năm nào, nhưng không phải trong trại tù mà là ở một khung trời tự do đầy nắng vàng. Chúng ta đâu cần gì hơn thế.

Sài Gòn một đêm cuối năm

Văn Quang

From: Tu-Phung

CUỘC ĐỜI ….- NAM GIANG TỬ

NAM GIANG TỬ

Cuộc đời пhư một dòпg sôпg, mãi tɾôi đi khôпg bɑo giờ tɾở lại – пhữпg lời пày giúp bạп sốпg ɑп yêп
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh.

Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc…

Cuộc đời con пgười quả khôпg Ԁễ Ԁàng, bao đắпg cay mặn пgọt, lúc vui buồn hợp taп, chúпg tɑ van ρhải sốпg tốt, tɾoпg пhữпg пăm còn lại củɑ cuộc đời, cần sốпg một cuộc sốпg theo cách mà mìпh muốп.
Ban đầu chúпg tɑ đến với thế giới пày là vì khôпg thể khôпg đếп. Cuối cùпg chúпg tɑ ɾời khỏi thế gian cũпg bởi vì khôпg thể khôпg đi. Quá tɾìпh ở giữɑ đó thì chúпg tɑ có thể sốпg tùy theo ý mình.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh.

Cách sốпg khác nhau, kết quả cũпg khác nhau…
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy tiền bạc làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất khổ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy con cái làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất mệt.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất đau lòng.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất ρhiền toái.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy khoan Ԁuпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất hạпh ρhúc.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy hài lòпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất vui vẻ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy cảm ân làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất thiện lương.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất đau lòng. Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất ρhiền toái. (Ảnh: Pexels).


Có câu пói: ‘Khi bạn пằm tɾên giườпg bệпh, bạn sẽ chẳпg còn sợ gì пữa!’… vì sao vậy?
Bởi lẽ khi đó chỉ có пgười khác sợ bạn: Bạn bè thân thích sợ bạn mượn tiền; Chɑ mẹ sợ bạn chữɑ khôпg khỏi; Bạn đời sợ bạn làm liên lụy đến họ; Lãпh đạo sợ bạn khôпg thể qυay lại côпg tác, vội vàпg tìm пgười thay; Bác sĩ sợ bạn khôпg đủ tiền tɾả viện ρhí…

Đến lúc đó, пóпg tíпh và kiêu пgạo sẽ hoàn toàn biến mất…

Do đó, пhất địпh ρhải chăm sóc tốt bản thâп, dù thứ gì đi пữɑ cũпg khôпg bằпg bản thân mình. Duy chỉ có thân thể là củɑ mình, thứ qυan tɾọпg пhất là tâm tíпh – đạo đức và sức khỏe.

Học cách chăm sóc bản thâп, yêu bản thâп, cuộc sốпg chân thực пhư vậy, hãy tɾân quý.

Khi bạn mệt thì sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Mệt thì đừпg làm пữa”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để chi tiêu không?

Khi bạn mắc bệ̣nh, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Uốпg thuốc đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ thuốc không?

Khi bạn пói điện thoại củɑ bạn tɾục tɾặc, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Hỏпg ɾồi thì muɑ cái mới đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ không?

Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?

Cuộc sốпg đều ρhải dựɑ vào mìпh пỗ lực, пếu khôпg cố gắпg thì chẳпg ɑi có thể cho mìпh cuộc sốпg mà mìпh moпg muốn cả.

Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?

Chỉ cần пghĩ thoáng thì sẽ hiểu ɾõ…

Trên thế gian пày bạn chíпh là bạn: Bạn đau đớn hay mệt mỏi thì chỉ mìпh bạn chịu đựng.

Có thể có пgười cảm thôпg với bạп, пhưпg cũпg có thay đổi được gì пhiều đâu. Cuối cùпg thu Ԁọn tàn cuộc vẫn là ρhải dựɑ vào chíпh mình.

Có пhữпg пgười bạn có thể kỳ vọng, пhưпg đừпg ỷ lại. Từпg giờ từпg ρhút khuyên ɾăn mình: hãy пỗ lực, hãy kiên cường!

Trời mưɑ thì đườпg tɾơп, mìпh tɾượt пgã thì tự mìпh bò dậy, đườпg ɑi пgười ấy ρhải tự đi, mệt hay khôпg thì tự mìпh biết.

Nước mắt ɑi пgười ấy tự lau, chẳпg пgười пào có thể thay thế được mình.
Chớ ôm  ấp dĩ vãпg mà khôпg muốn tiếp bước…

Khi một пgười coi thườпg bạn thì chớ đau lòng. Ai cũпg có cuộc đời ɾiêng, chẳпg ɑi có thể luôn luôn ở bên bạn được.

Ngượпg пhất là khôпg gì bằпg đánh giá mìпh quá cao tɾoпg lòпg пgười khác. Thực ɾɑ bạn biết ɾõ, khôпg gì ti tiện hơn tìпh cảm, khôпg gì lạпh lẽo hơn tìпh пgười.

Bạn cần hiểu ɾõ, пgười muốn đi thì khôпg thể giữ được; пgười giả пgủ thì khôпg thể đánh thức được; пgười khôпg thích bạn thì khôпg làm cảm  động được.

Mặt tɾời đứпg bóпg liền пgả về Tây; tɾăпg tɾòn liền chuyển saпg khuyết. Do đó có khiếm khuyết mới lâu dài, khôпg hoàn mỹ mới là пhân sinh.

Thực ɾɑ cảпh giới đẹp пhất là hoɑ пở chưɑ hết, tɾăпg vẫn chưɑ tɾòn…
Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc.

NAM GIANG TỬ

From: NguyenNThu

Bà Việt kiều Anh mang 215,000 bảng về Việt Nam, đối diện 10 năm tù

Ba’o Nguoi-Viet

July 1, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bà Nguyễn Thanh Huyền, Việt kiều Anh, vừa bị Viện Kiểm Sát Hà Nội ban hành cáo trạng truy tố về tội “vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới,” theo truyền thông Việt Nam hôm 1 Tháng Bảy.

Tờ Pháp Luật TP.HCM dẫn cáo trạng cho hay sáng 30 Tháng Mười Một năm ngoái, bà Huyền, 64 tuổi, quê phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, nhập cảnh từ Anh vào Việt Nam trên chuyến bay VN56, tại phi trường Nội Bài.

Phi trường quốc tế Nội Bài, nơi bà Nguyễn Thanh Huyền nhập cảnh vào Việt Nam. (Hình: VnEconomy)

Vừa vào đến nhà ga, bà Huyền lấy hành lý tại băng tải rồi đi vào cửa số 2 (luồng xanh, dành cho hàng hóa không phải khai báo Hải Quan Việt Nam) và cũng không khai báo với hải quan (đã đi qua vị trí khai báo thủ tục hải quan).

Theo quy trình, Đội Thủ Tục Hành Lý Nhập Cảng thuộc Chi Cục Hải Quan Cửa Khẩu Phi Trường Quốc Tế Nội Bài lấy toàn bộ hành lý của bà Huyền gồm ba vali hành lý ký gửi và ba túi vải xách tay không có thẻ hành lý đưa qua máy soi chiếu.

Trong lúc soi chiếu hành lý của Huyền, giới hữu trách phát hiện hình ảnh nhiều tệp giấy nghi là ngoại tệ nên đã yêu cầu Huyền vào phòng kiểm tra hải quan để kiểm tra thực tế.

Kết quả kiểm tra ghi nhận có gồm: 9,500 tờ mệnh giá 20 GBP (bảng Anh); 2,500 tờ mệnh giá 10 GBP, tổng cộng 215,000 GBP, gấp hơn 50 lần mức quy định.

Chi Cục Hải Quan Cửa Khẩu Nội Bài đã lập biên bản vi phạm đối với bà Huyền, bàn giao bà này cùng toàn bộ vật chứng thu giữ đến Công An Hà Nội.

Tại cơ quan điều tra, bà Huyền khai mình xuất cảnh sang Anh từ năm 1979, sau đó đến năm 1982 thì nhập quốc tịch Anh.

Từ đó đến nay, bà Huyền đã nhiều lần nhập cảnh về Việt Nam để thăm gia đình. Số tiền trên là tiền bà “kinh doanh mà có,” mang về Việt Nam đề mua nhà và mua hàng hóa xuất sang London bán tại siêu thị của mình.

Tuy nhiên khi làm thủ tục xuất cảnh tại Anh, bà Huyền không khai báo về việc mang theo số tiền trên và khi nhập cảnh vào Việt Nam cũng không khai báo với hải quan, trong khi bà Huyền cũng không có giấy phép chuyển tiền theo quy định.

Xác minh tại Bộ Tư Pháp, cơ quan điều tra cho hay bà Huyền “chưa thôi quốc tịch Việt Nam,” tức đang mang song tịch.

Số tiền 215,000 GBP bị thu giữ. (Hình minh họa: Pháp Luật TP.HCM)

Theo quy định của Việt Nam, cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng sổ thông hành mang trên $5,000 hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương phải khai báo hải quan cửa khẩu.

Theo Khoản 3, Điều 189 của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam về tội “vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” từ 1-3 tỷ đồng (từ $39,280 tới $117,840), bị cáo sẽ bị phạt tù từ 5-10 năm. (Tr.N)


 

Kính Thánh Thánh Juniperô Serra (Tây Ban Nha—1713, Mexico—1784)-Cha Vương

Ngày Thứ 2 tràn đầy sức mạnh và ân sủng của Chúa nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng Kính Thánh Thánh Juniperô Serra (Tây Ban Nha—1713, Mexico—1784). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 1/07/204

Miguel Jose Serra sinh ở đảo Majorca Tây Ban Nha, và lấy tên Junipero khi gia nhập Dòng Phanxicô. Ðược thụ phong linh mục năm 1737, ngài dạy triết thần ở Ðại Học Lulliana cho đến năm 1749 thì ngài chuyển sang công việc truyền giáo ở Tân Thế Giới và được gửi sang Mễ Tây Cơ.

Vào năm 1768, Cha Serra tiếp quản công cuộc truyền giáo của các linh mục dòng Tên (là những người đã bị chính quyền trục xuất cách sai lầm) trong tỉnh California Hạ và Thượng, lúc bấy giờ California là một tỉnh của Mễ Tây Cơ. Là một tông đồ hoạt động không biết mệt, Cha Serra trách nhiệm phần lớn cho việc thành lập và phát triển Giáo Hội ở vùng ven biển phía Tây của Hoa Kỳ khi phần đất này vẫn còn là khu vực truyền giáo.

Cuộc đời truyền giáo của Cha Junipero là một cuộc chiến chống với giá lạnh và đói khát, với các nhà lãnh đạo quân sự không có cảm tình và ngay cả bị nguy hiểm đến tính mạng vì những người da đỏ. Ðể duy trì tinh thần truyền giáo hăng say ấy, ngài cầu nguyện hàng đêm, có khi từ nửa đêm cho đến sáng.

Tổng cộng, ngài đã sáng lập hai mươi mốt trung tâm truyền giáo, và hoán cải hàng ngàn người da đỏ. Những người tân tòng không những được học biết đức tin, mà còn được dạy bảo cách trồng trọt, chăn nuôi cũng như thủ công nghệ.

Vì sự lao nhọc trong việc tông đồ, ngài từ trần ngày 28 tháng Tám 1784. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước năm 1988. Ngày 23 tháng Chín 2015, tại đền thánh Đền Thánh Quốc Gia Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong ngài là hiển thánh.

LỜI BÀN: Lời trung thực nhất để diễn tả về Thánh Junipero là sự nhiệt huyết. Tinh thần đó xuất phát từ sự cầu nguyện chân thành và ý chí bất khuất. Châm ngôn của ngài là “luôn luôn tiến bước, đừng bao giờ lùi”.

From: Do Dzung

Dâng Hiến Đời Con | Angelo Band 

“Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.”

Một ngày tươi vui trọn niềm tín thác vào Chúa nhé.

Cha Vương

CN: 30/6/2024

TIN MỪNG: Vì bà [bị băng huyết đã mười hai năm] tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. (Mc 5:28-29)

SUY NIỆM: Một người phụ nữ sau khi đã tiêu hết tiền của mình cho các bác sĩ mà không khỏi và một người cha sau khi đã làm hết những gì có thể để phục hồi lại sức khỏe cho con gái của ông nhưng tình trạng con gái mỗi ngày một nặng hơn. Hai trường hợp này, phải cho  là TUYỆT VỌNG, đã làm họ phải quay sang cầu xin Chúa giúp đỡ. Chúa không thắc mắc hoặc khiển trách rằng tại sao các con không đến với Thầy trước. Ngược lại, Ngài củng cố lại đức tin của họ qua việc chữa lành cho họ. Ngài đã ban cho họ những gì họ cần nhất trong lúc khốn quẫn đó. Tin vào Đức Kitô là điều kiện duy nhất để được cứu rỗi. Cũng chính do niềm tin này mà thiếu phụ mắc bệnh băng huyết đã được chữa lành. Cũng nhờ đức tin mà người con gái của một vị kỳ mục đã được sống lại. Điều này nhắc nhở bạn lời tuyên tuyên xưng mà bạn đọc lớn tiếng trong mỗi Thánh Lễ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh.” Bạn thấy không, chỉ một lời tự nhủ đơn sơ chân thành của người phụ nữ băng huyết: “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa” mà tức khắc bà cảm thấy trong mình được khỏi bệnh. Còn bạn thì sao? Mỗi khi được rước Mình và Máu Thánh Chúa vào lòng bạn cảm thấy thế nào? Có lẽ đức tin của bạn và mình vẫn còn kém cỏi quá hả.

LẮNG NGHE: Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có. (2 Cr 8:9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin tăng thêm niềm tin cho con, để trước những khó khăn và đau khổ của ngày hôm nay và ngày mai, con nhìn chúng mà không thất vọng, con mang vác mà không kêu ca, bởi vì con tin rằng Chúa luôn hiện diện bên con và cùng đồng hành với con.

 THỰC HÀNH: Đọc đi đọc lại câu này trong ngày: Lạy Chúa Giêsu con tin tưởng nơi Chúa! Lạy Chúa Giêsu con tín thác vào Chúa!

From: Do Dzung

Con Tín Thác Vào Chúa (Sáng tác: Lm. Mi Trầm) – Thể Hiện: JB. Thanh Hưng  

TRỞ NÊN MÔN ĐỆ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu!”.

Một nhà giảng thuyết nói với diễn viên Macready: “Tại sao ông xuất hiện trước đám đông đêm này qua đêm khác với những câu chuyện hư cấu và đám đông sẽ đến với ông bất cứ nơi nào ông đi; đang khi tôi rao giảng những lẽ thật thiết yếu, không thay đổi, lại không thu hút được bất kỳ đám đông nào?”. Macready trả lời, “Điều này khá đơn giản. Tôi trình bày câu chuyện hư cấu của mình như thể nó là sự thật; ngài trình bày sự thật của ngài như thể nó là hư cấu!” – G. Campbell Morgan.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy những gì có thể là “hư cấu” mà Chúa Giêsu cảnh báo những ai muốn ‘trở nên môn đệ’ của Ngài. Một kinh sư tuyên bố, “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo!”; Ngài trả lời, “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu!”.

Trước hết, hãy lưu ý, Chúa Giêsu không chấp nhận lời đề nghị làm môn đệ của ông cũng như không bác bỏ nó! Đúng hơn, Ngài chỉ đơn giản đưa ra một tiêu chí làm rõ những gì liên quan đến việc ‘trở nên môn đệ’ Ngài. Ông này nghĩ rằng, đi theo Chúa Giêsu, ông sẽ được một phần thưởng lớn. Ngài là người làm phép lạ, khá nổi tiếng và có tiềm năng trở thành một lãnh đạo vĩ đại. Vì vậy, ‘động lực nội tâm’ theo Ngài bất cứ nơi nào Ngài đi của ông là một động lực ‘đáng nghi ngờ’. Phải chăng ông muốn đi theo Ngài vì nghĩ rằng, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho ông theo cách trần tục?

Câu trả lời của Ngài có hai ý nghĩa. Trước hết, nó loại bỏ mọi quan niệm hư cấu có thể có của việc theo Ngài. Theo Ngài, ông phải chấp nhận nghèo khó, vô gia cư hơn là vinh hoa giàu có. Ngài muốn ông hiểu rõ Ngài đang chọn gì! Thứ hai, câu trả lời của Ngài hẳn là một lời mời nhưng chỉ dưới ánh sáng của sự ‘hiểu biết mới mẻ’ này. Ngài như đang muốn nói, “Được, hãy theo tôi! Nhưng cần nhận thức điều đó có nghĩa là gì? ‘Trở nên môn đệ’ của tôi sẽ không mang lại giàu có trần thế mà là sự nghèo khó cho ông!”.

Một số chọn theo Chúa vì đơn giản đây là cách họ được nuôi dạy; số khác vì điều đó khiến họ cảm thấy cuộc sống tốt đẹp hơn theo nhiều cách. Nhưng động cơ lý tưởng để theo Chúa là gì? Nó thật toàn diện, kiên định và rất đơn giản: tôi ‘trở nên môn đệ’ của Ngài vì Ngài là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế! Tình yêu ở dạng thuần khiết nhất khi tôi không yêu người khác vì những gì tôi nhận được từ nó. Tôi yêu họ vì họ xứng đáng với tình yêu của tôi. Và với Chúa Giêsu, Ngài xứng đáng với tình yêu và sự thờ phượng của chúng ta chỉ vì ‘Ngài là ai!’. Chúng ta không theo Ngài vì cái gọi là ‘lợi ích!’.

Anh Chị em,

“Con Người không có chỗ tựa đầu!”. Như vậy, ‘trở nên môn đệ’ Chúa Giêsu sẽ không thể được thực hiện vì những lý do ích kỷ. Nói “Có” với Ngài là nói “Có” với Thập Giá của Ngài! Hãy suy gẫm về chính cuộc đời của Ngài và suy gẫm xem bạn có sẵn sàng theo Ngài đến sự tận cùng của nghèo khó Thập Giá? Nếu bạn có thể lựa chọn đi theo Chúa Giêsu, ‘trở nên môn đệ’ Ngài là biết rõ mình đang nói “Có” với điều gì, thì kết quả cuối cùng sẽ là sự chia sẻ vinh quang vào cuộc sống phục sinh của Con Thiên Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, động lực theo Chúa của con có bị ‘hư cấu hoá’ không? Xin cho nó luôn thuần khiết, dứt khoát và vô vị lợi!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From:KimBang Nguyen

**************************

Thứ Hai Tuần XIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

18 Khi ấy, thấy xung quanh có đám đông, Đức Giê-su ra lệnh sang bờ bên kia. 19 Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng : “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo.” 20 Đức Giê-su trả lời : “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”

21 Một môn đệ khác thưa với Người : “Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.” 22 Nhưng Đức Giê-su bảo : “Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.” 


 

EM VỀ GIÊRUSALEM THIÊN QUỐC

Gieo Mầm Ơn Gọi

Mừng em nhé TÊRÊSA MỘNG ĐỘ

Niềm ước ao theo Chúa chỉ một điều:

“Được ở trong Nhà Chúa suốt đời con”,

Cho tình con với Chúa được vuông tròn.

 

Và đúng thế: em giã từ trần thế

Khi tuổi đời em vừa tròn bốn mươi.

Một con số rất đẹp, trong Lịch sử Cứu độ

Ấn dấu tình yêu Chúa hiệp hành dân Người.

 

TÊRÊSA MỘNG ĐỘ em ơi,

Cuộc xuất hành đức tin bao mong đợi,

Một “Trời Mới Đất Mới” đã mở ra,

Cho Trinh Nữ tiến vào nơi nhiệm lạ.

 

Đó chính là Giê-ru-sa-lem thiên Quốc,

Nơi không còn khóc lóc với than van,

Bao vết thương em đau đớn vô vàn,

Giờ biến thành triều thiên rực sáng lạn.

 

Em hạnh phúc sống Vượt Qua với Chúa.

Đấng Tình Quân – em khao khát gặp Ngài,

Mong cử hành hôn lễ nhiệm màu thay

Là em Khấn trọn đời dâng tiến Chúa.

 

Cùng với em, Hội dòng dâng muôn lời cảm tạ,

Chúa xót thương nhìn đến phận nữ tỳ,

Bông hoa nhỏ, Người mở tay ẵm lấy,

Đưa về Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc đẹp dường bao.

Sr. Teresa Nguyễn Thị Phượng, OP